56 Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ, MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI C
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ HƯƠNG DUNG
TéI Cè ý G¢Y TH¦¥NG TÝCH HOÆC G¢Y TæN H¹I SøC KHáE CñA NG¦êI KH¸C TRONG TR¹NG TH¸I TINH THÇN BÞ KÝCH §éNG M¹NH
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ HƯƠNG DUNG
TéI Cè ý G¢Y TH¦¥NG TÝCH HOÆC G¢Y TæN H¹I SøC KHáE CñA NG¦êI KH¸C TRONG TR¹NG TH¸I TINH THÇN BÞ KÝCH §éNG M¹NH
TRONG LUËT H×NH Sù VIÖT NAM
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS CHU THỊ TRANG VÂN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
NGƯỜI CAM ĐOAN
Đặng Thị Hương Dung
Trang 4TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 8 1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam 8 1.1.1 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 8 1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 12 1.2 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 17 1.2.1 Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi pháp
điển hóa Bộ luật hình sự năm 1985 17 1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985
đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 19
Trang 51.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
đến nay 21
Chương 2: QUY ĐỊNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH 24
2.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 24
2.1.1 Khách thể của tội phạm 25
2.1.2 Mặt khách quan của tội phạm 27
2.1.3 Mặt chủ quan của tội phạm 37
2.1.4 Chủ thể của tội phạm 40
2.2 Các trường hợp phạm tội cụ thể 42
2.2.1 Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% 42
2.2.2 Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 43
2.2.3 Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của một người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên 44
2.2.4 Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dẫn đến chết người 45
2.2.5 Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng 46
Trang 62.3 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với một số tội khác 48 2.3.1 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh (Điều 105) với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 104) 48 2.3.2 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng 50 2.3.3 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh với tội giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 54 2.3.4 Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh quy định tại Điều 105 Bộ luật hình sự với trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác được áp dụng tình tiết giảm nhẹ điểm đ khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự 56 Chương 3: THỰC TIỄN XÉT XỬ, MỘT SỐ GIẢI PHÁP TIẾP
TỤC HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH 59 3.1 Thực tiễn xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ở nước ta hiện nay 59
Trang 73.1.1 Đánh giá, phân tích tình hình xét xử tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong thời gian 2010-2014 59 3.1.2 Thực tiễn xét xử các vụ án cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 62 3.1.3 Một số tồn tại, bất cập trong thực tiễn áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và những nguyên nhân cơ bản 72 3.2 Hoàn thiện pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 76 3.2.1 Sự cần thiết và ý nghĩa của việc hoàn thiện các quy định của Bộ
luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 76 3.2.2 Những giải pháp tiếp tục hoàn thiện các quy định của Bộ luật
hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 79 3.3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
Bộ luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh 81 3.3.1 Tăng cường công tác giáo dục, đạo đức, lối sống, ý thức pháp luật 81 3.3.2 Củng cố và kiện toàn tổ chức hệ thống Tòa án nhân dân đáp ứng
yêu cầu xét xử 82 KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS: Bộ luật hình sự CTTP: Cấu thành tội phạm HĐXX: Hội đồng xét xử PVCĐ: Phòng vệ chính đáng TAND: Tòa án nhân dân TNHS: Trách nhiệm hình sự
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Số vụ án về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh/ Tổng số các vụ án hình sự 60 Bảng 3.2: Số vụ án đã xét xử/ tổng số vụ án phải giải quyết 61
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén và hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa tội phạm, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, góp phần duy trì trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đồng thời, pháp luật hình sự còn góp phần chống lại mọi hành vi phạm tội, giáo dục mọi người ý thức chấp hành và tuân theo pháp luật
Trong thời đại kinh tế thị trường với sự phát triển như vũ bão của khoa học - kỹ thuật, tình hình tội phạm trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng ngày càng diễn biến phức tạp
Các tội xâm phạm đến sức khỏe của người khác là một trong những nhóm tội được quy định sớm trong pháp luật hình sự ở nước ta Trong đó, các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong những năm trở lại đây đã và đang diễn biến hết sức phức tạp, ngày càng có nhiều chiều hướng gia tăng trong phạm vi cả nước Hậu quả mà các tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là rất lớn, có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người bị hại, ảnh hưởng tới tình hình trật tự, an ninh của xã hội;… Đặc biệt, trong mấy năm gần đây dưới sự ảnh hưởng nhiều của phim ảnh bạo lực và nhiều yếu tố khác tình hình các tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác ngày càng diễn biến phức tạp, người phạm tội ngày càng liều lĩnh, coi thường tính mạng con người cũng như coi thường pháp luật, sử dụng ngày càng nhiều hơn các loại vũ khí nóng, vũ khí nguy hiểm… Nhiều vụ cố ý gây thương tích có quy
mô tổ chức lớn, nhiều người tham gia, có tính chất xã hội đen Tuy nhiên, hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 11cũng có mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Có những hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có tình tiết làm giảm đi một cách đáng kể mức độ nguy hiểm cho xã hội, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trong những trường hợp đó
Bộ luật hình sự năm 1999 (đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật số 37/2009/QH12 ngày 19/6/2009) đã dành một chương quy định Các tội xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người – Chương XII, trong đó Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại Điều 105
Trong thực tiễn xét xử tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, không ít Tòa án còn gặp những vướng mắc, lúng túng và có không ít trường hợp áp dụng còn chưa thống nhất các quy định của BLHS trong hoạt động xét
xử Do đó, việc tiếp tục nghiên cứu các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và thực tiễn áp dụng để làm sáng tỏ về mặt khoa học và đưa ra giải pháp hoàn thiện pháp luật
và những giải pháp nâng cao hiệu quả của việc áp dụng những quy định đó không chỉ có ý nghĩa lý luận và thực tiễn mà còn là lý do luận chứng cho sự
cần thiết để chúng tôi lựa chọn đề tài "Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn
hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam” làm luận văn thạc sĩ luật học
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Cùng với sự phát triển của pháp luật hình sự nói chung trong thời kỳ đổi mới, các quy định của BLHS về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh cũng ngày càng được củng cố và hoàn thiện
Trang 12Sau khi BLHS năm 1985 được ban hành, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được đề cập trong các giáo trình, sách pháp lý, đề tài nghiên cứu như Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 1997; Giáo trình luật hình sự Việt Nam, tập II của Trường Đại học Luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 1998; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự của Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1987
(tái bản năm 1992,1997); đề tài khoa học cấp Bộ “Một số vấn đề lý luận và
thực tiễn phục vụ xây dựng Bộ luật hình sự (sửa đổi)”, mã số 95-98-107/ĐT
của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, nghiệm thu năm 1998
Sau khi BLHS năm 1999 được ban hành, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được đề cập trong nhiều công trình như: Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người của TS Trần Văn Luyện, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự Việt Nam của Trường Đại học luật Hà Nội, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2000; Giáo trình luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm) của Khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội, Nxb Đại học quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2002; Bình luận khoa học
Bộ luật hình sự năm 1999 (Phần các tội phạm) của TS Phùng Thế Vắc, TS Trần Văn Luyện, LS Th.S Phạm Thanh Bình, TS Nguyễn Đức Mai, Th.S Nguyễn Sĩ Đại, Th.S Nguyễn Mai Bộ, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2001; Bình luận khoa học Bộ luật hình sự, Phần các tội phạm, tập I (Bình luận chuyên sâu) của Th.s Đinh Văn Quế, Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 2002, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), của Lê Cảm (chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2003;
Các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến tội cố ý gây thương
Trang 13tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh ở khía cạnh tổng quát, đặt tội này trong tổng thể các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người Bên cạnh
đó những vấn đề thực tiễn cùng những giải pháp kiến nghị dừng lại ở mức độ khá chung chung và chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện và
có hệ thống về loại tội này
3 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Mục đích của luận văn là nghiên cứu các quy định của pháp luật về tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dưới khía cạnh lập pháp hình sự và thực tiễn trong công tác xét xử trên phạm vi cả nước, từ đó luận văn đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam, cũng như đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả trong thực tiễn xét xử
4 Tính mới và những đóng góp của đề tài
Kết quả nghiên cứu của luận văn có ý nghĩa quan trọng về phương diện
lý luận và thực tiễn, vì đây là công trình nghiên cứu đầu tiên và có hệ thống ở cấp độ một luận văn thạc sĩ luật học về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong đó giải quyết nhiều vấn đề quan trọng về lý luận và thực tiễn liên quan tới cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam Những điểm mới cơ bản của luận văn là:
- Tổng hợp các quan điểm khoa học về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh để xây dựng nên khái niệm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
Trang 14cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, bảo đảm tính chính xác, khoa học, đồng thời chỉ ra các đặc điểm cơ bản của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong mối tương quan so sánh với một
số chế định tội danh khác;
- Nghiên cứu, đánh giá làm sáng tỏ bức tranh về tình hình xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, từ đó đưa ra được những tồn tại, hạn chế của thực tiễn xét xử, cũng như những nguyên nhân cơ bản của các tồn tại, hạn chế
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận văn đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật thực định và nâng cao hiệu quả xét xử tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp hiện nay ở Việt Nam
Bên cạnh đó, luận văn sẽ là một tài liệu tham khảo cần thiết và bổ ích dành cho không chỉ các nhà lập pháp, mà còn cho các nhà nghiên cứu, các cán
bộ giảng dạy pháp luật, các nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên thuộc chuyên ngành Tư pháp hình sự tại các cơ sở đào tạo luật Kết quả nghiên cứu của luận văn còn phục vụ cho việc trang bị những kiến thức chuyên sâu cho các cán bộ thực tiễn đang công tác tại các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và cơ quan Thi hành án trong quá trình giải quyết vụ án hình sự được khách quan, có căn cứ và đúng pháp luật
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định trong Bộ luật hình
sự hiện hành dưới tên gọi là Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trang 15(Điều 105 Bộ Luật hình sự) Do vậy, tuy tên đề tài là Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam nhưng xuyên suốt nội dung của luận văn, tác giả đã sử dụng cụm từ: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” theo như đúng quy định trong BLHS năm 1999 để nghiên cứu
Trên cơ sở đó, tác giả xác định đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định trong BLHS năm 1999
Luận văn đã nghiên cứu và giải quyết những vấn đề xung quanh chế định tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam
mà cụ thể là trong BLHS năm 1999, kết hợp với việc nghiên cứu đánh giá tình hình thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân các cấp và những nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế để kiến nghị những giải pháp hoàn thiện luật thực định và nâng cao hiệu quả trong thực tiễn xét xử loại tội phạm này
Luận văn nghiên cứu thực tiễn xét xử tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trên phạm vi cả nước trong giai đoạn 05 năm từ năm
2010 đến 2014
Tác giả qua tìm hiểu tình hình nghiên cứu chung có thể tự nhận thấy rằng, có thể với công trình này có lẽ là lần đầu tiên vấn đề tội phạm cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được triển khai trên quy mô của một luận văn thạc sĩ
Do vậy, việc tìm ra hướng phát triển còn gặp nhiều khó khăn cũng như việc tiếp cận các nguồn tài liệu có thể Tác giả hy vọng rằng trong quá trình nghiên cứu sẽ tìm ra được một lối đi phù hợp
Trang 166 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng Nhà nước pháp quyền, về chính sách hình sự, về vấn đề cải cách tư pháp được thể hiện trong các Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X và các Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 26/5/2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 của Bộ Chính trị
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp cụ thể và đặc thù của khoa học luật hình sự như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp so sánh, đối chiếu; phương pháp diễn dịch; phương pháp quy nạp; phương pháp thống kê, điều tra xã hội học để tổng hợp các tri thức khoa học luật hình sự và luận chứng các vấn đề tương ứng được nghiên cứu trong luận văn
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn được kết cấu bởi 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam
Chương 2: Quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong Bộ luật hình sự hiện hành
Chương 3: Thực tiễn xét xử, một số giải pháp tiếp tục hoàn thiện và
nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của Bộ luật hình
sự hiện hành về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trang 17Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1 Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong luật hình sự Việt Nam
1.1.1 Khái niệm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là một trường hợp đặc biệt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đặc biệt làm giảm tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó là phạm tội trong “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” Vì vậy, để hiểu rõ khái niệm của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thì trước hết chúng ta phải làm rõ được khái niệm “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” và khái niệm “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh”
1.1.1.1 Khái niệm gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Sức khỏe là tài sản vô giá của mỗi con người Có nhiều cách hiểu khác nhau về sức khỏe Theo cách hiểu thông thường, sức khỏe được hiểu là tình trạng không có bệnh tật hoặc không có thương tật Quan điểm khác lại cho rằng:
“Sức khỏe của con người là tình trạng sức lực của con người đang sống trong
điều kiện bình thường, cho nên sức khỏe thực ra là trạng thái tâm lý, sự hoạt động hài hòa trong cơ thể tạo nên khả năng chống lại bệnh tật” [13, tr 206, 207]
Trang 18Còn theo giải thích của Từ điển Bách khoa Việt Nam:
Sức khỏe của con người là trạng thái đầy đủ về thể chất, tâm thần mà không chỉ có nghĩa là không có bệnh hay thương tật; cho phép mỗi người thích ứng nhanh chóng với các biến đổi của môi trường, giữ được lâu dài khả năng lao động và lao động có hiệu quả [10, tr.835]
Xâm phạm sức khỏe con người được hiểu là thông qua sự tác động làm cho người đó mất đi một phần hay toàn bộ sức lực có sẵn của chính người đó làm họ khó khăn trong cử động, hoạt động so với trước khi họ bị hành vi xâm hại tác động tới Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi cố ý xâm hại đến sức khỏe của con người, đến quyền được bảo vệ về sức khoẻ của con người Trong đó, hành vi gây thương tích cho người khác được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người, làm cho con người có những thương tích nhất định như: vết bỏng, mất đi một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể như mất bàn tay, cánh tay, bàn chân, để lại trạng thái bất thường Còn hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì được hiểu là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi không còn nguyên vẹn như trước mặc dù không để lại dấu vết trên thân thể họ hoặc làm mất chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó
Như vậy, có thể hiểu “gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác” là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người khác làm cho người đó mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực vốn có của họ
1.1.1.2 Khái niệm trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Có nhiều quan điểm khác nhau về trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Quan điểm thứ nhất cho rằng, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là
Trang 19tình trạng ý thức bị hạn chế ở mức độ cao do không chế ngự được tình cảm dẫn đến sự hạn chế đáng kể khả năng kiểm soát và điều khiển hành vi, nhưng vẫn còn khả năng điều khiển hành vi của mình Quan điểm thứ hai cho rằng, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trạng thái của một người chưa mất hoàn toàn khả năng nhận thức, nhưng đã mất khả năng tự chủ - khả năng kiềm chế
và điều khiển hành vi của mình Còn quan điểm thứ ba thì cho rằng, tình trạng tinh thần bị kích động mạnh là tình trạng (tâm lý) không hoàn toàn tự chủ, tự kiềm chế được hành vi của mình
Theo tìm hiểu và nghiên cứu, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ nhất và thứ ba, không đồng tình với quan điểm thứ hai Bởi lẽ, một người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh dù chịu sự tác động mạnh mẽ
về mặt tâm lý nhưng khả năng nhận thức vẫn còn, nghĩa là khả năng kiềm chế
và điều khiển hành vi của họ vẫn còn Còn nếu theo quan điểm thứ hai thì, nếu khả năng kiềm chế và điều khiển hành vi của họ mất, có thể coi họ là một trong những trường hợp không có năng lực trách nhiệm hình sự Khoản 1 Điều 13
của BLHS năm 1999 quy định: “1 Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã
hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự, ” [26] Người phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích
động mạnh có nguyên nhân khách quan là xuất phát từ người bị hại Như vậy,
có thể coi việc họ mất khả năng tự chủ và điều khiển hành vi là nguyên nhân ngoài ý muốn của họ Nếu xem họ mất khả năng tự chủ và điều khiển hành vi,
họ sẽ không chịu trách nhiệm hình sự về hành vi nguy hiểm của mình theo quy
định của Khoản 1 Điều 13 của BLHS năm 1999
Trong thực tế, chỉ có thể xảy ra trường hợp một người vẫn còn khả năng nhận thức mà mất khả năng tự kiềm chế và điều khiển hành vi của mình do cơ chế sinh học hoặc một bệnh nào đó làm tổn hại bộ phận điều khiển hành vi của não bộ Những tác động tâm lý dù có mạnh mẽ đến đâu
Trang 20cũng không thể làm cho một người mất khả năng tự chủ và điều khiển hành
vi của mình
Người bị kích động mạnh về tinh thần là người không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình như lúc bình thường, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức, khả năng tự chủ - khả năng kiềm chế và điều khiển hành vi
bị hạn chế ở mức độ cao; trạng thái này chỉ xảy ra trong chốc lát, sau đó tinh thần của họ trở lại bình thường như trước Có thể lý giải vì sao trong trường hợp bình thường họ không phạm tội mà trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh họ phạm tội thông qua mức độ nhận thức của họ trong lúc này Bình thường, họ nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm, nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội và nhận thức được điều đó là sai, trái pháp luật, phải gánh lấy trách nhiệm pháp lý nên họ kiềm chế hành vi của mình Tuy nhiên, trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, mức độ nhận thức của họ giảm đi đáng kể Họ vẫn có thể nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội ở mức độ nào đó, nhận thức một cách khái quát về hậu quả mà họ không quan tâm đến, không nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật cũng như không nhận thức được sẽ phải gánh lấy hậu quả pháp lý từ hành vi của mình Thực tế đó làm giảm đi đáng kể khả năng tự chủ và điều khiển hành vi của mình (chứ không phải mất hẳn khả năng đó) và kết quả là hành vi phạm tội xảy ra
Tóm lại, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể hiểu một cách khái quát là tình trạng không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức; khả năng tự chủ và tự điều khiển hành vi bị hạn chế ở mức độ cao
Giống như các tội phạm khác, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh phải thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm mà theo PGS.TSKH Lê Cảm,
Trang 21phải thể hiện ba bình diện với năm đặc điểm (dấu hiệu) của nó là: a, bình diện khách quan: tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội; b, bình diện pháp lý: tội phạm là hành vi trái pháp luật hình sự; c, bình diện chủ quan: tội phạm là hành vi do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện một cách có lỗi [15, tr.105]
Từ tất cả những phân tích trên, có thể tổng quát khái niệm về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của người khác làm cho người đó mất đi một phần hoặc toàn bộ sức lực vốn có của họ một cách trái pháp luật hình sự do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu TNHS thực hiện với lỗi cố ý trong trạng thái không còn nhận thức đầy đủ về hành vi của mình nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức, khả năng tự chủ và điều khiển hành vi bị hạn chế ở mức
độ cao do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc người thân thích của người đó
1.1.2 Ý nghĩa của việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh lần đầu tiên được quy định trong Bộ luật Hình sự năm 1999 của nước ta, có ý nghĩa về mặt lập pháp hình sự hết sức to lớn Nó đánh dấu sự trưởng thành về kỹ thuật lập pháp hình sự của nước ta trong lĩnh vực bảo vệ quyền con người nói chung, bảo
vệ sức khỏe của con người nói riêng Việc chính thức ghi nhận về mặt pháp
lý hình sự tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành là một biểu hiện cụ thể của việc tôn trọng và bảo vệ quyền con người được ghi nhận tại Hiến pháp năm 2013:
Trang 22Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm [30, Điều 20]
Việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh tại Điều 105 thuộc chương II của Bộ luật hình sự năm 1999 có những ý nghĩa sau đây:
Thứ nhất, hạn chế việc lợi dụng việc quy định các tình tiết giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự nhằm xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách tùy tiện, trái pháp luật
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là trường hợp đặc biệt của tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác tuy nhiên, nó
có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt làm giảm tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, đó là thực hiện trong “trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” Việc quy định cụ thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong pháp luật hình
sự thể hiện quyết tâm bảo vệ sức khỏe của con người kể cả trong các trường hợp nạn nhân là người có lỗi trước làm cho người phạm tội bị kích động mạnh về tinh thần dẫn đến có các hành vi phạm tội Bởi lẽ, trong các trường hợp này, người phạm tội vẫn có lỗi, và khi có lỗi thì họ dù nặng hay nhẹ họ vẫn phải chịu TNHS về phần lỗi đó của mình nếu dấu hiệu khác thỏa mãn cấu thành tội phạm được quy định trong luật Điều này góp phần tích cực làm hạn chế việc lợi dụng sự có lỗi trước của nạn nhân để có những hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách tùy tiện, trái pháp luật
Trang 23Thứ hai, tạo cơ sở pháp lý cho cuộc đấu tranh phòng, chống các hành vi
xâm phạm đến sức khỏe của người khác
Đạo luật hình sự giữ một vai trò hết sức quan trọng trong đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng, bởi vì chỉ văn bản này mới quy định hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là tội phạm và hình phạt có thể áp dụng đối với người đã gây ra hành vi
đó Việc Nhà nước quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và hình phạt được áp dụng đối với người phạm tội là nhân danh ý chí của nhân dân, là
sự thể hiện thái độ của nhân dân (thông qua Nhà nước đối với tội phạm) Quy phạm pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh vừa có tính chất cấm chỉ, vừa có tính chất bắt buộc Quy phạm này, một mặt cấm người ta không được thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh bằng sự răn đe áp dụng hình phạt đối với người phạm tội Mặt khác, quy phạm pháp luật hình sự này cũng buộc các cơ quan có trách nhiệm khi phát hiện có dấu hiệu của tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, thì phải điều tra, truy tố, xét xử một cách nghiêm minh, buộc người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự
Thứ ba, thể hiện sự quan tâm của nhà nước ta đối với việc bảo vệ và
phát triển quyền con người nói chung, sức khỏe của con người nói riêng
Con người là nhân tố quan trọng không thể thiếu trong xã hội, con người với bàn tay lao động và trí óc sáng tạo đã xây dựng và phát triển một xã hội ngày càng tươi đẹp Vì thế bảo vệ con người tạo dựng một xã hội trong
Trang 24sạch và lành mạnh cho sự phát triển của con người là nhiệm vụ quan trọng của mỗi đất nước, đặc biệt là ở các đất nước hiện đại vấn đề con người càng được quan tâm hơn bao giờ hết Xã hội ngày càng phát triển thì việc bảo vệ con người và các lợi ích của con người càng được chú trọng
Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước Nhà nước
ta khẳng định, con người là trung tâm của các chính sách kinh tế- xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ nhân phẩm, danh dự của con người nói riêng, là nhân tố quan trọng cho sự phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Việc pháp luật hình sự hiện hành quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh về quyền con người trong hệ thống pháp luật Việt Nam chứng tỏ, mọi chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm phấn đấu cho mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vi con người và cho con người
Thứ tư, bảo vệ sức khỏe của con người góp phần tích cực vào việc phát
triển kinh tế, giữ gìn trật tự, an toàn xã hội
Việc pháp luật hình sự hiện hành quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh góp phần quan trọng trong việc bảo vệ sức khỏe của con người đồng thời góp phần tích cực vào sự phát triển kinh tế đất nước, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, giữ gìn an ninh trật tự, an toàn xã hội
Tuy nhiên, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan
có thẩm quyền phải áp dụng đúng đắn những quy định của pháp luật hình sự
về tội phạm nói chung, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng trong
Trang 25hoạt động điều tra, truy tố, xét xử Việc áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh một cách tùy tiện, không đúng pháp luật, bị coi là những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, bởi
nó không những xâm hại hoạt động đúng đắn của các cơ quan bảo vệ pháp luật, mà còn làm giảm sút lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước Do vậy, việc quy định một cách chặt chẽ tội
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong pháp luật hình sự và việc áp dụng đúng đắn nó trong thực tiễn, thể hiện sự tôn trọng quyền con người của Nhà nước ta, bảo đảm sự giám sát của nhân dân, xã hội trong hoạt động điều tra truy tố, xét xử nói chung và điều tra, truy tố, xét xử tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng
Việc quy định tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong pháp luật hình sự hiện hành, ngoài ý nghĩa về mặt lập pháp hình sự, con có ý nghĩa nâng cao nhận thức của nhân dân nói chung, cán bộ các cơ quan bảo vệ pháp luật nói riêng về sự cần thiết phải bảo vệ sự khỏe của con người
Mặt khác, việc quy định cụ thể về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh trong pháp luật hình sự còn giúp các cơ quan bảo vệ pháp luật nắm vững nội dung, bản chất pháp lý, từ đó áp dụng đúng đắn quy phạm pháp luật hình sự này, góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh phòng, chống tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh động viên quần chúng nhân dân tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh phòng, chống tội này
Trang 261.2 Khái quát lịch sử pháp luật hình sự Việt Nam về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
1.2.1 Giai đoạn từ cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự năm 1985
Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời Cùng với việc ra đời nhà nước, nhân dân ta vừa phải xây dựng củng cố chính quyền, vừa phải tiến hành cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược Nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của Đảng và nhà nước ta trong giai đoạn này là xây dựng và củng cố chính quyền, đấu tranh chống thù trong giặc ngoài Đây cũng là giai đoạn đánh dấu bước phát triển quan trọng của pháp luật hình sự Việt Nam
Nhiệm vụ nổi bật của pháp luật hình sự ở thời kỳ này là phục vụ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân tộc đi đến thắng lợi, trừng trị bọn việt gian phản động làm tay sai cho thực dân Pháp, bảo vệ chính quyền non trẻ, bảo vệ các quan hệ xã hội mới được thiết lập và duy trì Trong điều kiện như vậy, nhà nước đã kịp thời ban hành một số văn bản pháp luật phục vụ cho những nhiệm vụ cấp bách Sắc lệnh số 47/SL quy định tạm thời về việc sử dụng luật lệ cũ hiện hành ở Việt Nam Theo nội dung của sắc lệnh, khi xét xử, Tòa án xét xử theo Luật hình cũ mà thực dân Phong kiến đề ra nhưng không được trái với nguyên tắc độc lập của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Do vậy, ở giai đoạn 1945-1954, việc xét xử các tội phạm nói chung vẫn dựa theo luật hình cũ để xét xử Đó là Bộ hình luật Bắc Kỳ năm 1923, Bộ hình luật Nam Kỳ năm 1912 và Bộ Hình luật Trung Kỳ năm 1933
Năm 1954 với chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy trấn động địa cầu, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân ta hoàn toàn thắng lợi Cách mạnh Việt Nam chuyển sang một giai đoạn mới, đất nước
Trang 27bị chia cắt làm hai miền Miền Bắc hoàn toàn giải phóng tiến hành xây dựng chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai
Do điều kiện kinh tế văn hóa xã hội ở miền Bắc đã có nhiều biến đổi về căn bản so với trước đó nên toàn bộ hệ thống pháp luật của chế độ cũ không được áp dụng nữa Ngày 19/01/1955 Thủ tưởng Chính phủ đã ban hành Thông Tư số 442/TTg về việc trừng trị một số tội trên cơ sở tổng kết việc áp dụng luật lệ cũ và án lệ Nội dung của Thông tư yêu cầu khi xét xử các tội phạm nói chung phải theo đường lối chính sách của Đảng Thông tư này có hướng dẫn về tội cố ý gây thương tích tuy nhiên chưa đề cập đến trường hợp
cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Năm 1976, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, để kịp thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam đã ban hành Sắc luật số 03/SL ngày
15 tháng 3 năm 1976 quy định về tội phạm và hình phạt (sau tháng 12/1976 văn bản này được áp dụng cho các nước và được sử dụng cho đến khi BLHS năm 1985 ra đời và có hiệu lực) Tại Điều 5 của Sắc luật này có quy định các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong
đó có tội cố ý gây thương tích Tuy nhiên Sắc luật này cũng chỉ dừng lại ở việc nêu tội danh chứ chưa phân biệt cụ thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Để nhận thức Sắc luật được đúng đắn và để việc áp dụng được thống nhất, ngày 15/04/1976 Bộ tư pháp ban hành Thông tư số 03/BTP-TT hướng dẫn thi hành Sắc luật số 03-SL/1976 trong đó hướng dẫn cụ thể tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Theo Thông tư này,
Trang 28trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được coi là phạm tội ít nghiêm trọng và là một tình tiết giảm nhẹ đặc biệt của tội cố ý gây thương
tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Tóm lại, trước khi BLHS năm 1985 chưa ra đời thì việc quy định các tội phạm nói chung và trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nói riêng ở các văn bản quy dưới luật nên giá trị pháp lý của những văn bản đó chưa cao đồng thời các quy định còn quá chung chung, không cụ thể rõ ràng dẫn đến việc áp dụng khó thống nhất, việc xét xử gặp nhiều vướng mắc và do vậy cũng ảnh hưởng phần nào đến chất lượng xét xử cũng như hiệu quả của công tác đấu tranh phòng chống loại tội phạm này
1.2.2 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1985 đến trước khi pháp điển hóa Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999
Với sự quan tâm của nhà nước, quá trình pháp điển hóa ở Việt Nam được đẩy mạnh trong giai đoạn 1982-1986 mà đỉnh cao của nó là sự ra đời của một bộ luật thống nhất, duy nhất xác định tội phạm và hình phạt- Bộ luật Hình sự năm 1985 Có thể nói, BLHS năm 1985 là sự kết tinh thành tựu 40 năm hoạt động lập pháp của chính quyền cách mạng, là bản tổng kết sâu sắc thực hiện phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ở nước ta từ năm 1945 đến thời điểm bộ luật được ban hành Trong bộ luật này, các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm được quy định tại chương II với những chế tài hết sức nghiêm khắc
Nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi bổ sung 4 lần vào các năm 1989, 1991,
1992 và 1997 Tại lần sửa đổi bổ sung thứ nhất năm 1989, Điều 109 quy định
về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đã
Trang 29được bổ sung thêm trường hợp phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh và phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng vào khoản 4 của điều luật, như sau:
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:
a, Gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác;
b, Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân;
c, Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;
d, Gây thương tích cho nhiều người hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của nhiều người
3 Phạm tội gây cố tật nặng, dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ năm năm đến hai mươi năm
4 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định ở điểm a khoản 2 hoặc ở khoản 3 Điều này mà do bị kích động mạnh vi hành
vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân hoặc trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng thì bị cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm [23] Như vậy, ở giai đoạn này, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh mới chỉ
được quy định như một trường hợp phạm tội có tình tiết giảm nhẹ đặc biệt của
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Trang 301.2.3 Giai đoạn từ khi ban hành Bộ luật hình sự Việt Nam năm 1999 đến nay
Kế thừa và phát triển những nguyên tắc, chế định pháp luật hình sự của Nhà nước ta, nhất là BLHS năm 1985, cũng như những bài học trong hoạt động tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong những thập kỷ qua dự kiến những diễn biến mới của tình hình tội phạm, ngày 21/12/1999 Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 6 đã thông qua BLHS năm 1999
So với BLHS năm 1985, BLHS năm 1999 đã có những thay đổi cơ bản mang tính tương đối toàn diện thể hiện sự phát triển mới của Luật hình sự Việt Nam Có rất nhiều điều luật được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, trong đó, “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” được tách ra từ khoản 4 điều 109 của BLHS năm 1985 quy định thành một tội danh độc lập tại Điều 105 BLHS năm 1999 với nội dung:
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:
a) Đối với nhiều người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác [26]
So với BLHS năm 1985 thì quy định về “tội cố ý gây thương tích hoặc
Trang 31gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” tại Điều 105 BLHS năm 1999 có những điểm mới:
Thứ nhất, BLHS năm 1999 đã tách trường hợp cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh ra khỏi tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và quy định thành một tội danh độc lập với các khung hình phạt riêng
Thứ hai, trên cơ sở quy định thành một tội danh độc lập, BLHS năm
1999 tiếp tục phân hóa trách nhiệm hình sự các trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần
bị kích động mạnh có các mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau Nếu như trước đây BLHS năm 1985 quy định trường hợp “cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” chỉ có một khung hình phạt là bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến hai năm thì trong BLHS năm 1999 với tư cách là một tội danh độc lập “tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh” quy định hai khung hình phạt là: khung cơ bản có hình phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm còn khung tăng nặng đối với nhiều người, hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm
Thứ ba, nếu như khoản Khoản 4 Điều 109 BLHS năm 1985 chỉ quy
định "bị kích động mạnh vì hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân", chứ chưa quy định "hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc người thân tích của người đó" như khoản 1 Điều 105
Trang 32BLHS năm 1999 Mặt khác, BLHS năm 1999 quy định rõ tỷ lệ thương tật là
từ 31% trở lên thì người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong tình trạng tinh thần bị kích động mạnh mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự còn khoản 4 Điều 109 BLHS năm 1985 chỉ quy định gây thương tích nặng Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ của nạn nhân có tỷ lệ thương tật 31% trở lên được coi là thương tích nặng Trường hợp nạn nhân có tỷ lệ thương tật dưới 31% thì người thực hiện hành
vi không bị truy cứu trách nhiệm hình sự
Như vậy, nhìn vào lịch sử lập pháp của tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, chúng ta nhận thấy sự phát triển, hoàn thiện trong kỹ thuật lập pháp của các nhà làm luật Với các quy định tại Điều 105 BLHS năm 1999, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh đã được quy định một cách rõ ràng, chi tiết và sát với thực tiễn tội phạm diễn ra Điều này vừa đảm bảo tính được tính chặt chẽ, tính pháp chế xã hội chủ nghĩa vừa là cơ sở cho việc áp dụng pháp luật được minh bạch, thuận lợi và chính xác
Trang 33Chương 2
QUY ĐỊNH VỀ TỘI CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO SỨC KHỎE CỦA NGƯỜI KHÁC TRONG
TRẠNG THÁI TINH THẦN BỊ KÍCH ĐỘNG MẠNH
TRONG BỘ LUẬT HÌNH SỰ HIỆN HÀNH
2.1 Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Trong khoa học luật hình sự Việt Nam, cấu thành tội phạm là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc thù cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Việc nghiên cứu dấu hiệu pháp lý của tội phạm cụ thể đóng vai trò quan trọng, nó giúp chúng ta phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác Để từ đó chúng ta mới đưa ra được kết luận chính xác về tội phạm như tội đó thuộc loại tội phạm nào? Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội đó ra sao? Người thực hiện hành vi tội phạm đó có phải chịu TNHS hay không? Tất
cả những điều đó sẽ giúp chúng ta trong việc định tội đối với tội phạm cụ thể
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh được quy định tại điều 105 BLHS năm 1999 như sau:
1 Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh do hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với người đó hoặc đối với người thân thích của người đó, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm
2 Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm:
Trang 34a) Đối với nhiều người;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác [26]
Tội này là trường hợp đặc biệt của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác Do vậy, tội này có những dấu hiệu pháp
lý chung của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác đồng thời cũng có những dấu hiệu pháp lý riêng
2.1.1 Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo
vệ và bị tội phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại Theo luật hình sự Việt Nam, những quan hệ xã hội được coi là khách thể bảo
vệ của luật hình sự là những quan hệ xã hội đã được xác định trong khoản 1 điều 8 của BLHS 1999, bao gồm:
Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, những lĩnh vực khác trật tự pháp luật xã hội chủ nghiã, tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền và lợi ích hợp pháp khác của công dân, vi phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa [26]
Đồng thời, mỗi một tội phạm đều gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho một trong những khách thể nhất định Khách thể của tội phạm là một căn
cứ quan trọng để đánh giá mức độ, tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội
Điều 105 BLHS năm 1999 quy định về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Việc quy định điều luật này nhằm mục đích bảo vệ sức khỏe cho
Trang 35mọi công dân Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là hành vi xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của con người, đến quyền được tôn trọng và bảo vệ
về sức khỏe của con người Như vậy, khách thể của tội này là quyền được tôn trọng và bảo vệ về sức khỏe của con người Đây là một trong những khách thể quan trọng được luật hình sự bảo vệ
Cũng như tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, đối tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là chủ thể của quan hệ xã hội Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan Tuy nhiên, đối tượng tác động của hai loại tội phạm này có điểm khác nhau Nếu như đối tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể là bất kỳ ai thì đối tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh chỉ có thể là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng xâm hại tới người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội Ví dụ: A đang ngồi chơi uống nước bên nhà hàng xóm thì thấy con gái chạy sang gọi “bố ơi, mẹ bị chú B đánh vỡ đầu rồi” A chạy về thấy người vợ đầy máu, liền chạy vào nhà vác dao ra chém B,
C can ngăn cũng bị A chém vào tay B bị tổn hại sức khỏe 32 % còn C bị tổn hại sức khỏe 12% Trong ví dụ này, chỉ có B là người đã có hành vi trái pháp luật nghiệm trọng đến người thân thích của A (vợ của A) làm cho tinh thần của A bị kích động mạnh dẫn đến hành vi phạm tội (chém B) nên chỉ B là đối tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh còn C là đối tượng tác động của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
Trang 36của người khác Có thể nói, việc xác định đúng khách thể và đối tượng của tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định tội danh, xử lý tội phạm phù hợp với mức độ phạm tội
2.1.2 Mặt khách quan của tội phạm
Bất cứ tội phạm nào khi xảy ra đều có những biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài mà còn thì con người có thể nhận biết được Đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả, các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành
vi phạm tội Tổng hợp những biểu hiện trên đây tạo thành mặt khách quan của tội phạm Như vậy, mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, gồm các biểu hiện diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan như hành vi nguy hiểm cho xã hội, hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan
hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả nguy hiểm cho xã hội Ngoài ra, còn có các điều kiện bên ngoài của việc thực hiện hành vi phạm tội như công cụ, phương tiện, thủ đoạn, thời gian, địa điểm phạm tội, Những dấu hiệu này không được quy định là dấu hiệu bắt buộc trong mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh nhưng việc xác định nó có ý nghĩa trong việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội
* Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Hành vi khách quan của tội phạm là xử sự của con người gây ra hoặc
đe doạ gây ra thiệt hại cho xã hội, hành vi phạm tội chỉ có thể được biểu hiện qua hai hình thức đó là hành động hoặc không hành động Theo quy định của BLHS năm 1999, hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh gồm các loại hành vi sau: hành vi gây thương tích cho người khác và
Trang 37hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh
Hành vi gây thương tích cho người khác là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người, làm cho con người có những thương tích nhất định như: vết bỏng, mất đi một hoặc một số bộ phận trên cơ thể như mất bàn tay, cánh tay, bàn chân, Hành vi này có thể dùng chân tay hoặc công cụ phương tiện trực tiếp tác động vào cơ thể con người như dao, súng, gậy, kiếm, mã tấu, bằng nhiều hình thức khác nhau như đâm, bắn, chém, đấm đá Ngoài ra, hành vi này còn được thực hiện gián tiếp thông qua các hình thức dùng súc vật như chó, thú dữ hoặc ép người khác tự gây thương tích cho chính mình
Hành vi gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi dùng sức mạnh vật chất tác động lên thân thể của con người làm cho sức khỏe của nạn nhân yếu đi không còn nguyên vẹn như trước mặc dù không để lại dấu vết trên thân thể họ hoặc làm mất chức năng hoạt động của một bộ phận cơ thể của nạn nhân làm giảm chức năng hoạt động của bộ phận đó, ví dụ như cho uống thuốc độc gây ra suy kiệt sức khỏe lâu dài
Hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh Đặc điểm này vừa phản ánh tính nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội đồng thời cũng là đặc điểm cho phép chúng ta phân biệt tội này với các tội khác mà trước hết là tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
Như đã nêu trong phần 1.1.2, trạng thái tinh thần bị kích động mạnh có thể hiểu là tình trạng người phạm tội không còn nhận thức đầy đủ về hành vi
Trang 38của mình, nhưng chưa mất hẳn khả năng nhận thức; khả năng tự chủ và tự điều khiển hành vi bị hạn chế ở mức độ cao Trạng thái tinh thần này của họ chỉ xẩy ra trong chốc lát Người phạm tội khi thực hiện tội phạm trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh thường xuất hiện cơn bùng phát về tinh thần, thường biểu hiện các trạng thái tâm lý như: quá lo sợ, quá hốt hoảng, quá kinh hãi, quá căm tức và quá phẫn nộ Nguyên nhân dẫn tới trạng thái tâm lý này xuất phát từ những hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân, dưới đây, chúng tôi xin phân tích một số hành vi chủ yếu để thấy rõ biểu hiện tâm
lý của người phạm tội khi có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng của nạn nhân đối với họ hoặc người thân thích của họ:
- Hành vi sỉ nhục hay vu khống người khác: Đây là dạng hành vi xúc phạm tới nhân phẩm, danh dự của người khác, tác động mạnh tới trạng thái tâm lý của của người phạm tội Ví dụ, trường hợp A và B là bạn của nhau, A
vu khống cho rằng B lấy cắp tiền của A, B đã nhiều lần đính chính là B không làm điều đó nhưng A vẫn một mực nghi ngờ và đi nói với nhiều người khác
và B cũng đã nhắc nhở A nhiều lần Một lần, B đang đi chơi với bạn gái thì A nói bóng gió rằng B là thằng ăn trộm, ai yêu B thì khổ, quá tức giận, B liền nhặt đá ném vào mắt A làm A bị mù một bên mắt Như vậy, hành vi vu khống của A đã tác động vào tâm lý của B, đỉnh điểm là khi B đi với người yêu làm cho B cảm thấy bị xúc phạm, căm phẫn dẫn tới hành vi ném đá vào A
- Hành vi dùng bạo lực một cách thô bạo với người khác: Đây là dạng hành vi xâm phạm vào tính mạng, sức khoẻ người khác một cách trái pháp luật Ví dụ, A đang trên đường đi làm về, bỗng B từ ngõ hẻm chạy ra chặn đường rồi đấm A túi bụi sau đó mới nhận ra là đã nhầm lẫn A với một đối tượng khác Do bị đánh đau nên mặc dù B đã xin lỗi (vì đã nhận nhầm người) nhưng A vẫn vô cùng tức giận rút dao chém nhiều nhát vào người
B, làm B bị tổn hại sức khỏe 34 %
- Những mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình: Trong thực
Trang 39tế, có rất nhiều vụ cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh xuất phát từ mâu thuẫn gia đình, chồng hoặc vợ ngoại tình, chồng đánh đập vợ, đánh đập con cái, người vợ không làm tròn trách nhiệm làm mẹ, làm vợ…
Ví dụ: Anh A và chị H lấy nhau sinh được ba đứa con gái Do bị bạn bè chê bai rằng anh không có con trai, anh A sinh ra chán nản, rượu chè, cờ bạc
A thường xuyên đay nghiến, chửi bới đánh đập vợ con và có quan hệ bất chính với hết cô gái này đến cô gái khác, bất chấp sự khuyên bảo của bà con,
họ hàng Sau mỗi lần đi uống rượu say, A đều tìm lý do đánh vợ nên đã làm cho chị H bị dồn nén, ức chế về tinh thần Một hôm, khoảng 2h sáng A về nhà
và đòi chị H đưa tiền để A đi chơi bạc tiếp, chị H nói không còn tiền, A liền tát chị H hai cái Chị H tức quá, không kiềm chế được hành vi đã lấy then chốt cửa bằng sắt vụt bừa vào A làm A bị gãy tay tỷ lệ thương tật 32%
- Hành vi xâm phạm tới tài sản của người khác như đốt cháy, cướp giật, đập phá Đây là hành vi xâm phạm tới tài sản của người phạm tội của nạn nhân, tài sản ở đây thường là tài sản có giá trị lớn về vật chất hoặc tình thần
Ví dụ, do mâu thuẫn trong quan hệ hàng xóm láng giềng nên một lần, nhân lúc thấy xe ô tô của A dựng ngoài sân mà không có người nên B đã lấy một thanh sắt đập vào kính, vào gương và cốp xe của A, A đi chơi bên nhà C về thì thấy ô tô của mình bị vỡ kính, vỡ gương và méo mó trong khi B tay cầm thanh sắt đứng cạnh đó đang cười hả hê, nên thấy vậy A tức quá nhảy vào đánh B làm cho B thương tật 57 % Hành vi phá hoại tài sản có giá trị lớn của
B đã làm cho A tức giận và có hành động nhảy vào đánh B
Trường hợp người phạm tội có bị kích động về tinh thần nhưng chưa đến mức khả năng tự chủ và tự điều khiển hành vi bị hạn chế ở mức độ cao thì không gọi là tinh thần bị kích động mạnh, không thuộc trường hợp cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái
Trang 40tinh thần bị kích động mạnh, đối với trường hợp này người phạm tội chỉ được giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm đ, khoản 1, Điều 46 BLHS
Trên thực tế việc xác định một người có bị kích động mạnh về tinh thần hay không là một vấn đề phức tạp, cho đến nay các nhà làm luật cũng chưa đưa ra được một công thức hay tiêu chí, chuẩn mực cụ thể áp dụng cho mọi trường hợp Bởi trạng thái tâm lý của mỗi người là khác nhau, cùng một sự việc nhưng người này xử sự khác người kia, có người bị kích động mạnh về tinh thần nhưng có người lại không bị kích động mạnh Ví dụ: Cùng một sự việc là thấy vợ có quan hệ bất chính với người khác, anh A lao tới đánh tình nhân của vợ, anh B đệ đơn ly hôn
Chính vì vậy, việc đánh giá trạng thái tinh thần bị kích động mạnh hay chỉ là bị kích động nhưng chưa tới mức mạnh cần được xem xét gắn liền với từng vụ việc cụ thể và trên cơ sở đánh giá nhưng vấn đề sau: điều kiện, hoàn cảnh xảy ra vụ việc, các tình tiết của vụ án, nhân thân người phạm tội, quá trình diễn biến của sự việc, nghề nghiệp, trình độ văn hóa, hoạt động xã hội, điều kiện sống, tính tình, bệnh tật, hoàn cảnh gia đình, quan hệ giữa người phạm tội với nạn nhân, biểu hiện phản ứng của chủ thể khi sự việc xảy ra, sự mãnh liệt, cường độ, sức mạnh của hành vi, [13]
Nạn nhân của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh là người có hành vi trái pháp luật nghiêm trọng đối với người phạm tội hoặc người thân thích của người phạm tội Hành vi trái pháp luật của nạn nhân có thể là hành
vi vi phạm Luật hình sự, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của người phạm tội hoặc đối với người thân thích của họ như xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe nhân phẩm, danh dự con người nhưng cũng có một số trường hợp hành vi xâm phạm đến tài sản như hủy hoại tài sản, cướp tài sản Tuy nhiên hành vi trái pháp luật của nạn nhân cũng có thể không phải