1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN VÀ SỬ DỤNG CÂY ĐẬU PHỘNG LÀM THỨC ĂN ĐỂ NUÔI BÕ ĐANG CHO SỮA Luận văn thạc sĩ

74 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM LƢỢC Nghiên cứu bảo quản và sử dụng cây đậu phộng làm thức ăn để nuôi bò đang cho sữa được thực hiện tại xã Mỹ Long Bắc - huyện Cầu Ngang - tỉnh Trà Vinh, nông trường Sông Hậu - thàn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

Năm học 2007 - 2008

NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN VÀ SỬ DỤNG

CÂY ĐẬU PHỘNG (Arachis hypogeae)

LÀM THỨC ĂN ĐỂ NUÔI BÕ

ĐANG CHO SỮA

A STUDY OF GROUNDNUT VINES

(Arachis hypogeae) PRESERVATION

FOR FEEDING LACTATING

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA NÔNG NGHIỆP & SHƯD

Năm học 2007 - 2008

NGHIÊN CỨU BẢO QUẢN VÀ SỬ DỤNG

CÂY ĐẬU PHỘNG (Arachis hypogeae)

LÀM THỨC ĂN ĐỂ NUÔI BÕ

ĐANG CHO SỮA

A STUDY OF GROUNDNUT VINES

(Arachis hypogeae) PRESERVATION

FOR FEEDING LACTATING

COWS

Nguyễn Bình Trường

Luận văn thạc sĩ Chuyên ngành chăn nuôi

60 - 62 – 40

Đã bảo vệ và được duyệt

Hiệu trưởng

Trưởng khoa Cán bộ hướng dẫn

Trang 3

LÝ LỊCH KHOA HỌC

I LÝ LỊCH SƠ LƯỢC:

Quê quán: Ấp 2 - Vĩnh Lộc - An Phú - An Giang Dân tộc: Kinh

Chức vụ, đơn vị công tác trước khi đi học tập, nghiên cứu: Nghiên cứu viên, bộ môn Chăn Nuôi - khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ

Chổ ở riêng hoặc địa chỉ liên lạc: 333 - Thoại Ngọc Hầu - thị trấn An Phú - An Phú - An Giang

Điện thoại cơ quan: Điện thoại nhà riêng: 098.3377424

II QUÁ TRÌNH ĐÀO TẠO

1 Trung học chuyên nghiệp:

2 Đại học:

Hệ đào tạo: tập trung Thời gian đào tạo từ 2000 đến 2005

Nơi học (trường, thành phố): Đại Học Cần Thơ

Ngành học: Chăn Nuôi - Thú Y

Tên đồ án, luận án hoặc môn thi tốt nghiệp: Đặc điểm sinh học các giống mía

và sự thay đổi dưỡng chất của thành phần ngọn mía trong điều kiện tồn trữ tự nhiên

Ngày và nơi bảo vệ đồ án, luận án hoặc thi tốt nghiệp: khoa Nông Nghiệp - trường Đại Học Cần Thơ

Người hướng dẫn: Ths Nguyễn Thị Tuyết Nhung

5 Trình độ ngoại ngữ:

Anh văn (tương đương C)

6 Học vị, học hàm, chức vụ kỹ thuật được chính thức cấp; số bằng, ngày và nơi cấp:

Trang 4

III QUÁ TRÌNH CÔNG TÁC CHUYÊN MÔN KỂ TỪ KHI TỐT NGHIỆP ĐẠI

HỌC:

4/2005 – 4/2008 Bộ môn Chăn Nuôi – khoa Nông

Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ

Nghiên cứu viên – phòng thí nhiệm E205

IV CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ:

XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN Ngày 29 tháng 03 năm 2008

Người khai ký tên

Nguyễn Bình Trường

Trang 5

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu, kết quả trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình luận văn nào trước đây

Tác giả luận văn

Nguyễn Bình Trường

Trang 6

CẢM TẠ

Cha mẹ là người đã cho con những thành công hôm nay và mãi mãi

Xin chân thành cảm ơn quí thầy cô trường Đại Học Cần Thơ đã truyền đạt cho em những kiến thức chuyên môn, các anh chị em nông Trường Sông Hậu đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện luận án này Xin ghi nhớ những kiến thức, kinh nghiệm quí báo của thầy Nguyễn Văn Thu và cô Nguyễn Thị Kim Đông đã hướng dẫn, định hướng và đào tạo để em có được kết quả của ngày hôm nay

Xin cảm ơn những người anh, người bạn và các em sinh viên đã học tập và nghiên cứu cùng tôi…

Em đang ghi

Trang 7

TÓM LƢỢC

Nghiên cứu bảo quản và sử dụng cây đậu phộng làm thức ăn để nuôi bò đang cho sữa được thực hiện tại xã Mỹ Long Bắc - huyện Cầu Ngang - tỉnh Trà Vinh, nông trường Sông Hậu - thành phố Cần Thơ và phòng E205 bộ môn Chăn Nuôi - khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - trường Đại Học Cần Thơ

Thí nghiệm 1 được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 7 nghiệm thức và 3 lần lặp lại Nghiệm thức cây đậu phộng tươi không xử lý hoá chất (KXL), xử lý hút chân không (HCK), xử lý 1%Urê (1%Ure), 2%Urê (2%Ure), 2% ammonium sulfate (2%SA), 4% mật đường (4%MĐ)

và 7% bột bắp (7%BB) Tất cả được ủ trong điều kiện hiếm khí bằng túi plastic kết quả cho thấy giá trị pH giữa các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê (P<0,05) theo thời gian bảo quản, pH thấp ở nghiệm thức 4%MĐ và 7%BB (4,33 và 4,29) và cao ở các nghiệm thức

xử lý urê (7,81 - 8,57) tại thời điểm 80 ngày OM giảm theo thời gian bảo quản và khác biệt

có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức Tương tự giá trị CP của nghiệm thức khác biệt có

ý nghĩa thống kê (P<0,05), với giá trị cao nhất ở nghiệm thức 2%SA (17,6% CP ở ngày 20 và 15% ở ngày 80) Giá trị CF, EE, NDF và ADF đều giảm theo thời gian bảo quản nhưng tốt hơn là nghiệm thức 2%SA, 4%MĐ và 7%BB Quan sát màu, ngửi mùi và cho trâu bò ăn thử thì nghiệm thức xử lý 2%SA cho kết quả tốt nhất

Thí nghiệm 2 được bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên trên 12 bò đang cho sữa tháng thứ 5, cho ăn

cỏ voi với cây đậu phộng tươi xử lý 2%SA Thí nghiệm tiến hành trong 2 tháng với nghiệm thức cỏ voi 100% (ĐP0), cỏ voi được thay thế 15% cây đậu phộng (ĐP15), thay thế 30% (ĐP30) và thay thế 45% (ĐP45) Ở mỗi nghiệm thức được bổ sung 4kg thức ăn hổn hợp và 5kg bã bia/ngày/bò Tổng lượng DM tiêu thụ giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê có giá trị từ 10,6 đến 11,5kgDM Trên chỉ tiêu sản lượng sữa giữa các nghiệm thức khác biệt không có ý nghĩa thống kê (P>0,05) từ 8,09 - 8,60 kg/con/ngày, chất béo của nghiệm thức ĐP45 là 3,53% cao hơn nghiệm thức ĐP0 là 3,4% và đã cải thiện đối với trước khi vào thí nghiệm là 3,33% Tỉ lệ tiêu hoá của DM, OM, CP, NDF và ADF giữa các nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê khi tăng lượng cây đậu phộng ủ trong khẩu phần Tương

tự lợi nhuận cũng được cải thiện khi tăng dần đậu phộng ủ trong khẩu phần từ ĐP0 đến ĐP45 (27.949 - 32.311 đồng/con/ngày)

Chúng tôi nhận thấy rằng bảo quản bằng cách ủ cây đậu phộng tươi với 2%SA là tốt nhất, mức độ thay thế 45% cây đậu phộng ủ cho cỏ trên bò đang cho sữa đã cải thiện được dưỡng chất ăn vào, tỉ lệ tiêu hoá, sản lượng sữa, chất lượng sữa và lợi nhuận Chúng ta nên nghiên cứu những mức độ thay thế cao hơn 45% cây đậu phộng trong khẩu phần ăn của bò đang cho sữa

Trang 8

ASBTRACT

A study of groundnut vines (arachis hypogeae) preservation for feeding lactating cows were carried out at northern My Long commune – Cau Ngang district – Tra Vinh province, SOHA farm of Can Tho city and the laboratory E 205 of Depatment of Animal Husbandry, Faculty

of Agriculture and Applied Biology, Can Tho University from January 2007 to November

2007

The first experiment was a complete randomize design groundnut vines preservation with 7 treatment and 3 replications The treatment were fresh groundnut (KXL), air tied fresh groundnut (HCK), fresh groundnut treated 1% urea (1%Ure), fresh groundnut treated 2% urea (2%Ure), fresh groundnut treated 2% ammonia sulfate (2%SA), fresh groundnut treated 4%molasses (4%MĐ) and fresh groundnut treated 7% maize meal (7%BB) The results of the first experiment showed that there were significantly different (P<0,05) for pH values among the treatments in different incubation times In general pH values were gradually reduced by increasing incubated times with hight values of urea treatments (7.81 – 8.57) and lower values for 4%MĐ and 7%BB treatment (4.33 - 4.29) at day 80 The OM were also reduced by increasing incubated time, however they were significantly different among the treatments and similar pattern for the OM value There were significantly differences (P<0.05) of CP content among the treatment with the hight value for the 2%SA treatment (17.6% at day 0 and 15% at day 80) The values of crude fiber, fat, neutral detergent fiber (NDF), acid detergent fiber (ADF) were reduced following the increasing incubated time with the better values of 2%SA, 4%MĐ and 7%BB When testing the color, smell and offering them to the buffaloes and cattle, the treatment of 2%SA was the best one

The second experiment was a complete randomize design with twelve lactating cows at 5 months of lactation fed Pennisetum purpureum and 2%SA gruondnut silage The experiment period was two months Treatments were 100% natural Pennisetum purpureum (ĐP0), 15% silage replacing Pennisetum purpureum (ĐP15), 30% silage replacing Pennisetum purpureum (ĐP30) and 45% silage replacing Pennisetum purpureum (ĐP45) Each diet was suppled 4 kg concentrat and 5 kg brewery waste per day The results showed that total DM intake was not significatly different with the values from 10.6 to 11.5 kgDM Among the treatments milk yield and composition were not significantly different with the values over 8kg and 3.40% respectively The digestibility of DM, OM, CP, NDF, ADF were sinificantly improved by increasing groundnut vines in diets Similarly the benefits were also improved

by the gradual increase of groundnut vines in diets

The conclusion was that 2%SA groundnut vine silage was the better one as compare to others for conservation Replacing up to 45% grass by groundnut vine in the lactating cow was improved nutrient intake, digestibility and profits from milk yield and fat Increasing the replacement of grasses by groundnut vines more than 45% in lactating cow diets should be

Trang 9

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa Lời cam đoan ii

Cảm tạ iii

Tóm lược iv

Abstract v

Mục lục vi

Danh sách chữ viết tắt viii

Danh sách hình & biểu đồ ix

Danh sách bảng x

Chương 1 GIỚI THIỆU 1

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU 2

2.1 Cây đậu phộng 2

2.1.1 Nguồn gốc và giá trị sử dụng cây đậu phộng 2

2.1.2 Tình hình phát triển cây đậu phộng trên thế giới và trong nước 3

2.2 Ủ chua thức ăn gia súc 4

2.2.1 Lợi ích của việc ủ chua 4

2.2.2 Nguyên lý ủ chua 4

2.2.3 Nhận định về cơ chất bổ sung vào mẻ ủ 6

2.2.4 Mất mát chất dinh dưỡng trong quá trình ủ chua 6

2.3 Dạ dày kép và vi sinh vật dạ cỏ gia súc nhai lại 7

2.3.1 Đặc điểm dạ dày kép 7

2.3.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ 8

2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại 11

2.4.1 Nhu cầu năng lượng 11

2.4.2 Nhu cầu chất đạm 13

2.4.3 Nhu cầu chất khô 14

2.5 Giá trị dinh dưỡng của sữa 14

2.6 Phương pháp tiêu hoá in vivo 16

2.7 Sơ lược các loại thức ăn trên bò sữa tại nông trường Sông Hậu 16

2.7.1 Cỏ voi 16

2.7.2 Bã bia 17

2.7.3 Thức ăn tinh 18

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN & PHƯƠNG PHÁP 19

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 19

3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20

3.2.1 Thí nghiệm 1: Nghiên cứu bảo quản và đánh giá chất lượng cây đậu phộng làm thức ăn gia súc nhai lại 20 3.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của cây đậu phộng xử lý 2% SA

Trang 10

trên năng suất và chất lượng sữa bò 22

3.3 Phương pháp phân tích 27

3.4 Phương pháp xử lý số liệu 27

3.5 Năng suất, chất lượng sữa và thể trọng bò trước thí nghiệm 28

Chương 4 KẾT QUẢ THẢO LUẬN 29

4.1 Thí nghiệm 1 29

4.1.1 Sự thay đổi pH của cây đậu phộng thí nghiệm 29

4.1.2 Sự thay đổi vật chất khô của cây đậu phộng thí nghiệm 31

4.1.3 Sự thay đổi chất hữu cơ của cây đậu phộng thí nghiệm 32

4.1.4 Sự thay đổi đạm thô của cây đậu phộng thí nghiệm 33

4.1.5 Sự thay đổi xơ thô của cây đậu phộng thí nghiệm 34

4.1.6 Sự thay đổi béo thô của cây đậu phông thí nghiệm 35

4.1.7 Sự thay đổi xơ trung tính của cây đậu phộng thí nghiệm 36

4.1.8 Sự thay đổi xơ acid của cây đậu phộng thí nghiệm 37

4.1.9 Sự thay đổi khoáng tổng số của cây đậu phộng thí nghiệm 38

4.1.10 Sự thay đổi màu của cây đậu phộng thí nghiệm 39

4.1.11 Sự thay đổi mùi của cây đậu phộng thí nghiệm 40

4.2 Thí nghiệm 2 41

4.2.1 Thành phần hoá học của thức ăn dùng trong thí nghiệm 41

4.2.2 Thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ của bò ở các nghiệm thức 42

4.2.3 Năng suất và chất lượng sữa cuối thí nghiệm 2 43

4.2.4 Sự chuyển hoá thức ăn, chi phí cho 1 kg sữa và hiệu quả kinh tế 43

4.2.5 Khả năng tiêu hoá khẩu phần thức ăn của bò ở các nghiệm thức ăn 44

Chương 5 KẾT LUẬN 46

Chương 6 ĐỀ NGHỊ 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO 48

PHỤ CHƯƠNG 52

Trang 11

DANH SÁCH CHỮ VIẾT TẮT

DM: (dry matter) vật chất khô

OM: (organic matter) vật chất hữu cơ

CP: (crude protein) đạm thô

CF: (crude fiber) xơ thô

EE: (ether extract) béo thô

NDF: (neutral detergent fiber) xơ trung tính

ADF: (acid detergent fiber) xơ acid

NFE: (nitrogen free extractives) chiết chất không đạm

Ash: (total ash) khoáng tổng số

Trang 12

DANH SÁCH HÌNH & BIỂU ĐỒ

Trang

Hình 1: Cây đậu phộng 2

Hình 2: Sơ đồ dạ dày kép của bò 7

Hình 3 Ruộng đậu phộng của nông dân 19

Hình 4: Mẫu đậu phộng xử lý 2%SA tại thời điểm 40 ngày ở thí nghiệm 1 21

Hình 5: Đánh giá khả năng tiếp nhận cây đậu phộng ủ 2%SA trên bò sữa ở thí nghiệm 1 21

Hình 6: Ủ đậu phộng chuẩn bị cho thí nghiệm 2 22

Hình 7: Mẫu đậu phộng và phân SA ở thí nghiệm 2 22

Hình 8: Bố trí thí nghiệm 2 23

Hình 9: Đậu phộng ủ dự trử dùng trong thí nghiệm 2 24

Hình 10: Mẫu đậu phộng ủ sử dụng cho bò sữa ở thí nghiệm 2 25

Hình 11: Bò thí nghiệm đang ăn đậu phộng ủ 2%SA ở thí nghiệm 2 25

Hình 12: Cỏ voi được cắt ngắn trước khi cho ăn 26

Hình 13: Bò được vắt sữa hai lần trong ngày 26

Biểu đồ 1: Biến đổi giá trị pH theo thời gian bảo quản ở các nghiệm thức xử lý 30

Trang 13

DANH SÁCH BẢNG

Trang Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu phộng trên thế giới và

một số nước Châu Á năm 1990 và 2000 3

Bảng 2: Tổng hợp thành phần dưỡng chất cây đậu phộng tươi và khô 3

Bảng 3: Thành phần hoá học của sữa bò 15

Bảng 4: Thành phần của sữa gia súc 15

Bảng 5: Thành phần dinh dưỡng (%DM) cỏ voi 17

Bảng 6: Thành phần dinh dưỡng (%DM) bã bia 18

Bảng 7: Thành phần dinh dưỡng (%DM) thức ăn hổn hợp 18

Bảng 8: Năng suất, chất lượng sữa và thể trọng bò trước thí nghiệm 28

Bảng 9: Sự thay đổi chỉ tiêu pH của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 29

Bảng 10: Sự thay đổi chỉ tiêu DM (%) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 31

Bảng 11: Sự thay đổi chỉ tiêu OM (%DM) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 32

Bảng 12: Sự thay đổi chỉ tiêu CP (%DM) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 33

Bảng 13: Sự thay đổi chỉ tiêu CF (%DM) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 34

Bảng 14: Sự thay đổi chỉ tiêu EE (%DM) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 35

Bảng 15: Sự thay đổi chỉ tiêu NDF (%DM) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 36

Bảng 16: Sự thay đổi chỉ tiêu ADF (%DM) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 37

Bảng 17: Sự thay đổi chỉ tiêu khoáng tổng số (%DM) của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 38

Bảng 18: Sự thay đổi chỉ tiêu màu của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 39

Bảng 19: Sự thay đổi chỉ tiêu mùi của các nghiệm thức qua thời điểm xử lý 40

Bảng 20: Thành phần hoá học thức ăn trong thí nghiệm 41

Bảng 21: Thức ăn và dưỡng chất tiêu thụ/con/ngày của bò ở các nghiệm thức 42

Bảng 22: Năng suất và chất lượng sữa bò ở các nghiệm thức cuối thí nghiệm 43

Bảng 23: Sự chuyển hoá thức ăn, chi phí cho 1 kg sữa và hiệu quả kinh tế 43

Bảng 24: Tỉ lệ tiêu hoá khẩu phần (%DM) của bò ở các nghiệm thức 44

Trang 14

Chương 1 GIỚI THIỆU

Khó khăn chủ yếu đối với chăn nuôi gia súc nhai lại ở các nước đang phát triển là khan hiếm về số lượng và kém chất lượng của thức ăn Cần cung cấp đủ thức ăn có chất lượng để nuôi sống và duy trì khả năng tăng trưởng của vật nuôi là một thách thức lớn đối với các nhà nghiên cứu Bên cạnh thói quen cổ điển dự trữ rơm hay một

số loại thức ăn kém chất lượng khác làm thức ăn cho gia súc trong mùa khô, mùa lủ sẽ không đạt hiệu quả tốt Do vậy cần phải tận dụng phụ phẩm cây trồng đang được trồng rộng rãi và có giá trị dinh dưỡng cao hơn rơm như cây đậu phộng, dây dưa hấu… làm thức ăn gia súc

Theo nguồn tư liệu từ Sở Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Trà Vinh (2001) hiện có hơn 14.000 ha đất giồng cát, cây đậu phộng phù hợp và phát triển mạnh trên đất giồng cát vì đây là vùng sinh thái rất đặc biệt và độc đáo của Đồng

Bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL) Trang Tửng et al (2004) nhận xét rằng đất giồng cát

dễ thoát nước nên không bị ngập úng trong mùa mưa, có tầng canh tác thích hợp cho

bộ rễ cây trồng cạn và cây lấy củ phát triển, đó là cây đậu phộng Năng suất thân lá

cây đậu phộng khoảng 6,8 tấn/ha (Bùi Chính et al., 1995) Ngoài tác dụng che phủ đất

nó còn là loại cây thức ăn giàu tiềm năng, thân lá vẫn còn xanh sau thu hoạch trái nhưng thu hoạch khá tập trung vào đầu mùa mưa, ẩm thấp nên dễ bị hư hỏng và nếu phơi khô thì cần diện tích lớn và tổn thất dưỡng chất

Những hộ nuôi bò bắt đầu tận dụng cây đậu phộng sau thu hoạch theo thời vụ tập trung với số lượng lớn làm thức ăn cho bò hoặc dự trữ bằng hình thức phơi khô, chất đống và một số nơi được đốt trên đồng Cây đậu phộng được sử dụng hạn chế và bảo quản một cách thô sơ, theo thời gian sẽ làm giảm dưỡng chất của thực liệu khi cung cấp cho gia súc Xuất phát từ nhu cầu bảo quản và dự trữ thức ăn xanh để sử dụng vào mùa khô khan hiếm thức ăn bằng phương pháp ủ chua vì có thể tận dụng rộng rãi các loại thực liệu và quan trọng hơn là có hiệu quả kinh tế Do đó chúng tôi thực hiện đề

tài: “Nghiên cứu bảo quản và sử dụng cây đậu phộng (Arachis hypogeae) làm

thức ăn để nuôi bò đang cho sữa” Mục tiêu đề tài:

+ Lựa chọn được phương pháp tối ưu bảo quản cây đậu phộng để làm thức ăn gia súc

nhai lại

+ Xác định tỉ lệ thay thế của cây đậu phộng ủ cho cỏ tự nhiên trên bò đang cho sữa + Khuyến cáo áp dụng trong thực tiễn sản xuất nhằm giúp người chăn nuôi giảm chi

Trang 15

Chương 2 LƯỢC KHẢO TÀI LIỆU

2.1 Cây đậu phộng

2.1.1 Nguồn gốc và giá trị sử dụng cây đậu phộng

Cây đậu phộng có nguồn gốc từ Nam Mỹ, sau đó được mang đến Châu Âu, Châu Phi, Châu Á rồi Trung Mỹ và Bắc Mỹ Ở nước ta, đậu phộng được trồng từ lúc nào thì chưa rõ, loại cây này thích hợp với khí hậu nhiệt đới và cận nhiệt đới Đậu phộng

thuộc họ Leguminoseae, họ phụ Papilionaceae, giống Arachis Loài trồng trọt có tên khoa học Arachis hypogeae, là loại cây hàng niên

Hình 1: Cây đậu phộng

Nguồn: www.google.com

Hầu hết các bộ phận cây đậu phộng đều có giá trị sử dụng: hạt là nguồn chế biến thực phẩm có giá trị kinh tế quan trọng, sản phẩm chế biến chính của hạt là ép lấy dầu Bánh dầu đậu phộng là thành phần bổ sung chất đạm và chất béo cũng như các khoáng vi lượng trong chế biến nước chấm, là thành phần không thể thiếu đối với công nghệ chế biến thức ăn gia súc Thân và lá sau khi thu hoạch có thể dùng làm thức

ăn cho gia súc như trâu, bò, dê…(Nguyễn Bảo Vệ et al., 2005)

Trang 16

2.1.2 Tình hình phát triển cây đậu phộng trên thế giới và trong nước

Trên Thế giới: đậu phộng được trồng trên 100 quốc gia, tổng diện tích canh tác cây đậu phộng đến năm 2000 gần 24 triệu ha Châu Á là khu vực trồng nhiều đậu phộng nhất, chiếm 65% diện tích của thế giới, trong đó nhiều nhất ở Ấn Độ, Trung Quốc, Thái Lan… và Việt Nam

Tổng sản lượng đậu phộng trên thế giới khoảng 35 triệu tấn vào năm 2000, năng suất trung bình còn rất thấp khoảng 1 tấn/ha Trong các nước đang phát triển thì Trung Quốc là nước có năng suất đậu phộng cao nhất, trung bình trên 3 tấn/ha Hiện nay có nhiều nước tập trung cho phát triển loại cây trồng này: Trung Quốc, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, Myanma, Braxin, Nigieria

Bảng 1: Diện tích, năng suất và sản lượng đậu phộng trên thế giới và một số nước Châu Á năm

1990 và 2000

Quốc gia

1990 19.759

2000 23.821

1990 1.175

2000 1.449

1990 23.260

2000 34.507 Châu Á 12.953 13.352 1.246 1.760 16.139 23.501 Trung Quốc 2.491 4.527 2.187 3.329 6.433 15.067

Nguồn: Nguyễn Bảo Vệ et al (2005)

Trong nước: nước ta có hai vùng trồng đậu phộng lớn nhất đó là Bắc Trung Bộ (74.000 ha) và miền Đông Nam Bộ (42.000 ha) Ở ĐBSCL, đậu phộng trồng nhiều trên vùng sinh thái rất độc đáo là đất giồng cát, loại đất phù sa trẻ nhưng có thành phần cơ giới tơi xốp nhờ nhiều cát, có địa hình cao và thoát nước tốt, nên đậu phộng trồng ở đây đạt năng suất rất cao (có nơi trên 5 tấn/ha), điều nữa là trồng tập trung và

trồng được cả mùa nắng lẫn mùa mưa (Nguyễn Bảo Vệ et al., 2005)

Bảng 2: Tổng hợp thành phần dưỡng chất cây đậu phộng tươi và khô

Bùi Chính et al (1995) Tươi 22,5 88,1 - 25.8 -

Viện Chăn Nuôi (1995) Tươi 22,5 94,0 14,1 27,7 2.289

Nguyễn Thạc Hoà et al (2004) Tươi 26,5 89,1 14,2 29,0 -

Đinh Văn Cải et al (2003) Tươi 22,3 92,2 11,4 39,5 2.043

Viện Chăn Nuôi (1995) Khô 90,1 89,1 11,4 30,3 1.791

Trang 17

2.2 Ủ chua thức ăn gia súc

2.2.1 Lợi ích của việc ủ chua

Ít bị tổn thương dưỡng chất Thức ăn ủ đúng phương pháp trung bình chỉ tổn thất dưỡng chất < 10%, hao hụt protein không đáng kể Thức ăn có tỉ lệ tiêu hóa tương đối cao, tuy có một số chất dễ hòa tan bị mất đi nhưng những chất khó tiêu hóa như cellulose thì sau quá trình ủ được phân giải thành đường đơn nên gia súc dễ tiêu hóa

và hấp thu

Có thể dự trữ trong một thời gian dài mà không bị biến chất

Rất ít bị phụ thuộc vào điều kiện thời tiết

Có thể tận dụng được rộng rãi nguyên liệu làm thức ăn, một số loại thức ăn khi để nguyên hoặc phơi khô thì gia súc không thích hoặc ít ăn nhưng nếu đem ủ chua sẽ mềm hơn, có mùi thơm ngon nên gia súc thích ăn hơn

Có thể góp phần loại trừ được sâu bệnh và hạt cỏ dại, tránh được sự phát triển của nấm độc

Có lợi về mặt kinh tế

Bên cạnh những ưu điểm cũng có một số nhược điểm là hàm lượng vitamin D trong

cỏ ủ chua ít hơn so với cỏ phơi khô và không thể sử dụng thức ăn ủ chua quá nhiều vào khẩu phần do chúng có nhiều acid hữu cơ và nha bào (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 1999)

2.2.2 Nguyên lý ủ chua

Nguyễn Thị Hồng Nhân (2005) mô tả qui trình ủ chua gồm 3 giai đoạn: hô hấp hiếu khí, hô hấp yếm khí và lên men vi sinh vật

* Giai đoạn hô hấp hiếu khí

Đây là giai đoạn tự phát nhiệt của sinh khối Khi cắt cỏ xanh đem về ủ thì tế bào thực vật còn sống tiếp tục hô hấp bình thường và sản sinh ra nhiệt lượng

C6H12O6 + 6 O2 6 CO2 + 6 H2O + 2822 KJ

Thêm vào đó có sự hô hấp hiếu khí của các vi sinh vật và tác dụng lên men của thức

ăn cũng sinh ra nhiệt, làm nhiệt độ của sinh khối ủ tăng cao Quá trình này xảy ra tương đối mạnh và kéo dài trong 5 - 6 h

đầu sau khi ủ Nếu hố ủ không được nén chặt

Trang 18

thì không khí còn sót lại nhiều, làm quá trình hô hấp hiếu khí càng mạnh và càng kéo dài, thức ăn ủ càng nóng lên làm tổn thất nhiều chất hữu cơ mà chủ yếu là carbohydrat Hơn nữa, sinh khối ủ ở nhiệt độ > 40oC thì protein và các acid amin sẽ phản ứng với đường tạo thành các phức hợp bền vững mà gia súc không thể tiêu hóa được Vì vậy, để hạn chế giai đoạn này cần phải loại trừ không khí trong khối ủ càng nhiều càng tốt

*Giai đoạn hô hấp yếm khí

Lượng oxy trong sinh khối ủ giảm dần hình thành điều kiện cho sự hô hấp yếm khí của tế bào thực vật và sự lên men yếm khí, tiếp tục phân giải đường để tạo ra các chất hữu cơ như acid lactic

C6H12O6 2 C2H5OH + 2 CO2 + 105 KJ

C2H5OH + O2 CH3COOH + H2O

Những sản phẩm này tích lũy dần trong tế bào và cuối cùng làm tế bào bị chết, các enzyme đặc biệt là enzyme phân giải protein tiếp tục hoạt động mạnh, ước tính có khoảng 30 - 40 % protein thực vật bị phân giải thành các acid amin và amid Đồng thời, có thể có hoạt động phân hủy protein của các vi khuẩn gây thối, nếu có điều kiện thích hợp Như vậy, muốn ủ chua tốt phải rút ngắn cả giai đoạn này bằng cách tạo điều kiện cho vi khuẩn lactic phát triển thuận lợi để sản sinh ra nhiều acid lactic, nhằm sớm đạt pH từ 4,2 trở xuống ức chế hoạt động lên men thối

* Giai đoạn lên men vi sinh vật song song với các biến đổi vừa kể trên còn có quá trình hoạt động mạnh mẽ của các vi khuẩn có trong sinh khối, chủ yếu là các vi khuẩn lactic, acetic, butyric và các loại vi khuẩn gây thối khác

Như vậy, trong quá trình lên men hỗn hợp các acid lactic, acetic, butyric được sản sinh ra và muốn ủ chua được tốt phải tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn acid lactic hoạt động mạnh mẽ, tích luỹ nhiều acid lactic Ngược lại, sự tích lũy nhiều acid butyric cùng các sản phẩm lên men thối khác sẽ làm cho phẩm chất của thức ăn ủ bị kém đi, đồng thời dưỡng chất của sinh khối ủ cũng bị hao hụt nhiều hơn

Ví dụ:

1kg đường mất 160 kcal Acid lactic

mất 930 kcal Acid butyric

Trang 19

Như vậy, nhiệt độ cao và pH thấp thích hợp cho vi khuẩn lactic, nhưng tiêu diệt được các loại vi khuẩn khác, đặc biệt là vi khuẩn gây thối, đó là hai yếu tố môi trường ta cần lưu ý để mẻ ủ đạt kết quả khả quan Muốn sinh khối ủ đạt nhiệt độ cao thì hàm lượng nước của nó phải được khống chế vừa phải, hoặc bằng cách làm héo, hoặc trộn chung với thực liệu khác Có thể tạo pH thấp ngay khi ủ bằng cách dùng thêm hỗn hợp acid vô cơ

2.2.3 Nhận định về cơ chất bổ sung vào mẻ ủ

Nhận định của Trần Thị Dân (2005) là thức ăn ủ được tạo từ sự lên men một loại cây trồng, cỏ hoặc phụ phẩm nông nghiệp chứa nhiều nước (thường lớn hơn 50%) Ở Châu Âu, thức ăn thường ủ là cỏ gồm cỏ hoà bản và cỏ họ đậu Thức ăn ủ tốt có giá trị dinh dưỡng cao nếu cây trồng được thu hoạch đúng giai đoạn trưởng thành để giảm tối thiểu hoạt động của enzym thực vật và vi sinh vật không mong muốn (những vi sinh vật hiện diện tự nhiên trên thực vật), và thúc đẩy vi khuẩn sinh lactic chiếm ưu thế Chất phụ gia giúp cải thiện thức ăn ủ bằng cách thúc đẩy vi khuẩn sinh lactic phát triển mạnh trong giai đoạn lên men

Theo Mc Donald (1981) nhận định các cơ chất thêm vào mẻ ủ nhằm tăng chất lượng sản phẩm ủ có thể chia thành 4 nhóm: Nhóm thứ nhất khuyến khích sự hoạt động của

vi khuẩn lactic, phổ biến nhất là thêm carbohydrate như mật đường, ngũ cốc, khoai

mì, khoai tây, tấm, cám Nhóm thứ hai có liên hệ với sự điều khiển lên men bằng cách khống chế vi sinh vật sinh trưởng, thường là acid formic, acid acetic, acid benzoic, formaldehyde và ngay cả chất kháng sinh cũng được thấy sử dụng trong mẻ

ủ Nhóm thứ ba là khống chế sự hư thối nhiễm từ không khí như các chất được dùng thường là acid propionic, acid sorbic và ammonia Nhóm thứ tư nhằm cải thiện giá trị dinh dưỡng của mẽ ủ như là khoáng và urê

2.2.4 Mất mát chất dinh dưỡng trong quá trình ủ chua

Sự mất mát chất dinh dưỡng có thể do 3 nguyên nhân gây ra, đó là sự rơi vãi cây cỏ trong quá trình thu hoạch, vận chuyển; sự mất mát năng lượng do quá trình hô hấp của thực vật (oxy hoá) và quá trình lên men, ngoài ra còn sự mất mát chất dinh dưỡng khi dằm nén đống ủ bằng máy kéo, một lượng dịch thực vật nhất định cũng bị mất mát Nếu quá trình thu hoạch, thái nhỏ và ủ chua được tiến hành trong cùng một ngày thì

sự mất mát năng lượng do thực vật hô hấp là không đáng kể Cây cỏ sau khi thu hoạch

bị phơi héo ngoài đồng, sự hao hụt về vật chất khô xảy ra Khi cây cỏ bị phơi héo trong 5 ngày sự hao hụt vật chất khô lên đến 6% và phơi héo 8 ngày sẽ lên tới 10% Chất dinh dưỡng bị mất là hydratcacbon dễ hoà tan và protein Ngoài ra hoạt động của các enzym trong cây cỏ và vi sinh vật, khi có mặt oxy chúng sẽ phân hủy đường hình

Trang 20

thành CO2 và nước Nếu đống ủ được che phủ chậm, nguyên liệu ủ vẫn tiếp xúc với không khí thì quá trình oxy hoá và sự phân hủy của vi sinh vật có thể làm cho nguyên liệu bị thối và mất đáng kể chất dinh dưỡng

Sự mất mát năng lượng do quá trình lên men của vi khuẩn lactic là tương đối thấp (thấp hơn 5%), trong khi đó quá trình lên men của clostridia tạo thành CO2, hydro và amoniac thường làm mất vật chất khô của thức ăn ủ cao hơn quá trình lên men của vi khuẩn lên men lactic

Sự mất mát dịch cây cỏ khi bị dầm nén phụ thuộc vào tỷ lệ nước trong cây cỏ Nếu cây cỏ có tỷ lệ nước càng cao, khi dầm nén dịch thực vật càng bị mất mát nhiều Nếu đống ủ chưa kịp che phủ mà gặp mưa, sự mất mát dịch thực vật do bị rửa trôi càng lớn hơn nhiều Mặt khác còn làm tăng tỷ lệ nước trong đống ủ tạo điều kiện cho clostridia phát triển rất dễ làm cho đống ủ bị thối hoặc kém chất lượng

Tuy nhiên nếu quá trình ủ chua được tiến hành nhanh chóng trong 1 - 2 ngày và theo đúng quy trình kỹ thuật thì quá trình mất mát chất dinh dưỡng là không đáng kể (Bùi

Đức Lũng et al., 1995) Trong điều kiện hộ gia đình có thể tận dụng lao động nhàn rỗi

thực hiện công việc này để giải quyết nguồn thức ăn cho gia súc

2.3 Dạ dày kép và vi sinh vật dạ cỏ gia súc nhai lại

2.3.1 Đặc điểm dạ dày kép

Khác với ngựa, lợn, chó và người, bò sữa thuộc loài nhai lại Dạ dày của bò bao gồm

4 túi: dạ cỏ, dạ tổ ong, dạ lá sách và dạ múi khế Ba túi đầu được gọi chung là dạ dày trước (không có tuyến tiêu hóa), còn dạ mưới khế là dạ dày thực (có tuyến tiêu hóa giống như ở các loài động vật dạ dày đơn) Dạ cỏ có dung tích rất lớn (khoảng 100 -

150 lít), chiếm tới 80% dung tích của toàn bộ dạ dày

Hình 2: Sơ đồ dạ dày kép của bò

Nguồn: Phùng Quốc Quảng et al (2003)

Trang 21

Dạ cỏ không tiết dịch tiêu hóa và acid chlohydric mà ở đây diễn ra quá trình tiêu hoá nhờ lên men vi sinh vật Người ta ví dạ cỏ như một thùng lên men lớn Những vi sinh vật sống trong dạ cỏ là những vi sinh vật có lợi, không gây độc hại cho gia súc Chúng được cảm nhiễm từ bên ngoài vào (qua thức ăn, nước uống và truyền từ gia súc trưởng thành sang bê con) Vi sinh vật dạ cỏ sinh sôi, nẩy nở và phát triển mạnh Vi sinh vật sống và phát triển mạnh trong dạ cỏ là nhờ tại đây có các điều kiện thích hợp như + Nhiệt độ luôn được duy trì ổn định ở 38 - 420C

+ pH ổn định (pH = 6,0 - 7,1) nhờ nước bọt tiết xuống liên tục, trung hoà các acid béo

do lên men tạo ra, đồng thời các acid này được hấp thu liên tục qua vách dạ cỏ

+ Môi trường yếm khí (hàm lượng oxy dưới 1%)

+ Dạ cỏ vận động yếu, thức ăn được đưa vào liên tục và dừng lại lâu, làm cho vi sinh

vật có điều kiện tốt để khai thác và sử dụng (Phùng Quốc Quảng et al., 2003)

2.3.2 Hệ vi sinh vật dạ cỏ

Hệ vi sinh vật dạ cỏ gồm có 3 nhóm chính: vi khuẩn (Bacteria), động vật nguyên sinh (Protozoa) và nấm (Fungi)

*Vi khuẩn (Bacteria)

Vi khuẩn xuất hiện trong dạ cỏ loài nhai lại trong lứa tuổi còn non, cho dù chúng được nuôi tách biệt hay cùng với mẹ chúng Thông thường vi khuẩn chiếm số lượng lớn nhất trong vi sinh vật dạ cỏ và là tác nhân chính trong quá trình tiêu hoá xơ Tổng số

vi khuẩn trong dạ cỏ thường là 109

- 1011 tế bào/gam chất chứa dạ cỏ Trong dạ cỏ vi khuẩn ở thể tự do chiếm khoảng 30%, số còn lại bám vào các mẫu thức ăn, trú ngụ ở các nếp gấp biểu mô và bám vào protozoa Người ta phát hiện trong dạ cỏ có trên 200 loài vi khuẩn Sự phân loại vi khuẩn dạ cỏ có thể được tiến hành dựa vào cơ chất mà

vi khuẩn sử dụng hay sản phẩm lên men cuối cùng của chúng Sau đây là một số nhóm vi khuẩn dạ cỏ chính:

+ Vi khuẩn phân giải xenluloza: có số lượng rất lớn trong dạ cỏ của những gia súc sử dụng khẩu phần giàu xenluloza Những loài vi khuẩn phân giải xenluloza quan trọng

nhất là: Bacteroides succinogenes, Butyrivibrio fibrisolvens,Ruminococus

flavefaciens, Ruminococcus albus, Cillobacterium cellulosolvens

+ Vi khuẩn phân giải hemixenluloza: hemixenluloza khác xenluloza là chứa cả đường pentoza và hexoza, ngoài ra còn chứa acid uronic Những vi khuẩn có khả năng phân giải xenluloza thì cũng có khả năng sử dụng hemixenluloza Tuy nhiên không phải tất

Trang 22

cả các loài sử dụng được hemixenluloza đều có khả năng phân giải xenluloza Một số

loài sử dụng hemixenluloza là Butyrivibrio fibrisolvens, Lachnospira multiparus và

Bacteroides ruminicola Các loài vi khuẩn phân giải hemixenluloza cũng như vi

khuẩn phân giải xenluloza đều bị ức chế bởi pH thấp

+ Vi khuẩn phân giải tinh bột: trong dinh dưỡng hydratcacbon của loài nhai lại, tinh bột đứng vị trí thứ 2 sau xenluloza Phần lớn tinh bột theo thức ăn vào dạ cỏ, được phân giải nhờ sự hoạt động của vi sinh vật Tinh bột được phân giải bởi nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ, trong đó có những vi khuẩn phân giải xenluloza Những loài vi khuẩn

phân giải tinh bột quan trọng là Bacteriodes amylophilus, Succinimonas amylolytica,

Butyrivibrio fibrisolbvens, Bacteroides ruminantium, Selenomnas ruminantium và Streptococcus bovis

+ Vi khuẩn phân giải đường: Hầu hết các vi khuẩn sử dụng được các loại polysacarit nói trên thì cũng sử dụng được đường disacarit và đường monosacarit Xenlobioza cũng có thể là nguồn năng lượng cung cấp cho nhóm vi khuẩn này vì chúng có men β-

glucosidaza có thể thuỷ phân xenlobioza Các vi khuẩn thuộc loài Lachnospira

multiparus, Selenomonas ruminantium…đều có khả năng sử dụng tốt hydratcacbon

hoà tan

+ Vi khuẩn sử dụng các acid hữu cơ: hầu hết các vi khuẩn đều có khả năng sử dụng acid lactic mặt dù lượng acid này trong dạ cỏ thường không đáng kể trừ trong những trường hợp đặc biệt Một số có thể sử dụng acid succinic, malic, fumaric, formic hay

axetic Những loài sử dụng acid lactic là Veillonella gazogenes, Veillonella

alacalescens, Peptostreptococcus elsdenii, Propioni bacterium và Selenomonas lactilytica

+ Vi khuẩn phân giải protein: trong số những loài vi khuẩn phân giải protein và sinh amoniac thì Peptostreptococus và Clostridium có khả năng lớn nhất Sự phân giải protein thành acid amin và amoniac trong dạ cỏ có ý nghĩa quan trọng Amoniac cần cho các loài vi khuẩn dạ cỏ để tổng hợp nên sinh khối protein của bản thân chúng, đồng thời một số vi khuẩn đòi hỏi hay được kích thích bởi acid amin, peptit và isoaxit

có nguồn gốc từ valin, lơxin và isolơxin Như vậy, cần phải có một lượng proptein được phân giải trong dạ cỏ để đáp ứng nhu cầu này của vi sinh vật dạ cỏ

+ Vi khuẩn tạo mêtan: nhóm vi khuẩn này rất khó nuôi cấy trong ống nghiệm, cho nên những thông tin về những vi sinh vật này còn hạn chế Đây là những vi khuẩn sử dụng các phụ phẩm của quá trình lên men là hydro và cacbonic để tổng hợp nên khí mêtan Khí mêtan được giải phóng ra khỏi dạ cỏ qua con đường ợ hơi Các loài vi khuẩn của

Trang 23

+ Vi khuẩn tổng hợp vitamin: nhiều loài vi khuẩn dạ cỏ có khả năng tổng hợp các vitamin nhóm B và vitamin nhóm K

*Động vật nguyên sinh (Protozoa)

Protozoa xuất hiện trong dạ cỏ khi gia súc bắt đầu ăn thức ăn thực vật thô Sau khi đẻ

và trong thời gian bú sữa dạ dày trước không có protozoa Protozoa không thích ứng với môi trường bên ngoài và bị chết nhanh Trong dạ cỏ protozoa có số lượng khoảng

105 - 106 tế bào/gam chất chứa dạ cỏ Có khoảng 120 loài protozoa trong dạ cỏ Mỗi loài gia súc có loài protozoa khác nhau

Protozoa trong dạ cỏ thuộc lớp Ciliata có 2 lớp phụ là Entodineomorphidia và Holotrica Phần lớn động vật nguyên sinh dạ cỏ thuộc nhóm Holotrica với đặc điểm là

ở đường xoắn gần miệng có tiêm mao, còn tất cả chỗ khác của cơ thể có rất ít tiêm mao

Protozoa có một số tác dụng như sau

+ Tiêu hoá tinh bột và đường: tuy có một vài loài protozoa có khả năng phân giải xenluloza nhưng cơ chất chính vẫn là đường và tinh bột, vì thế mà khi gia súc ăn khẩu phần nhiều bột đường thì số lượng protozoa tăng lên

+ Tích lũy polysacarit: protozoa có khả năng nuốt tinh bột ngay sau khi ăn và dự trữ dưới dạng amylopectin Polysacarit này có thể được phân giải về sau hoặc không bị lên men ở dạ cỏ mà được phân giải thành đường đơn và được hấp thu ở ruột Điều này không những quan trọng đối với protozoa mà còn có ý nghĩa dinh dưỡng cho gia súc nhai lại nhờ hiệu ứng đệm chống phân giải đường quá nhanh làm giảm pH đột ngột, đồng thời cung cấp năng lượng từ từ hơn cho nhu cầu bản thân vi sinh vật dạ cỏ trong những thời gian xa bữa ăn

+ Bảo tồn mạch nối đôi của các acid béo không no: các acid béo không no mạch dài quan trọng đối với gia súc (linoleic, nilolenic) được protozoa nuốt và đưa xuống phần sau của đường tiêu hoá để cung cấp trực tiếp cho vật chủ, nếu không các acid béo này

sẽ bị làm no hoá bởi vi khuẩn dạ cỏ Tuy nhiên gần đây nhiều ý kiến cho rằng protozoa trong dạ cỏ có một số tác hại nhất định

+ Protozoa không có khả năng sử dụng NH3 như vi khuẩn: nguồn nitơ đáp ứng nhu cầu của chúng là những mảnh protein thức ăn và vi khuẩn Nhiều nghiên cứu cho thấy protozoa không thể xây dựng protein bản thân từ amid được Khi mật độ protozoa trong dạ cỏ cao thì một tỉ lệ lớn vi khuẩn bị protozoa thực bào Mỗi protozoa có thể thực bào 600 - 700 vi khuẩn trong 1 giờ ở mật độ vi khuẩn 109/ml dịch dạ cỏ Do có

Trang 24

hiện tượng này mà protozoa làm giảm hiệu quả sử dụng protein nói chung Protozoa góp phần làm tăng nồng độ amoniac trong dạ cỏ do sự phân giải protein của chúng + Protozoa không tổng hợp được vitamin mà sử dụng vitamin từ thức ăn hay do vi khuẩn tạo nên làm giảm rất nhiều vitamin cho vật chủ

Chức năng của nấm trong dạ cỏ là:

+ Mọc chồi phá vỡ cấu trúc thành tế bào thực vật, làm giảm độ bền chặt của cấu trúc này, góp phần làm tăng sự phá vỡ các mảnh thức ăn trong quá trình nhai lại Sự phá

vỡ này tạo điều kiện cho vi khuẩn và men của chúng bám vào cấu trúc tế bào và tiếp tục quá trình phân giải xenluloza

+ Mặt khác, nấm cũng tiết ra các loại men tiêu hoá xơ Phức hợp men tiêu hoá xơ của nấm dễ hoà tan hơn men của vi khuẩn Chính vì thế nấm có khả năng tấn công các tiểu phần thức ăn cứng hơn và lên men chúng với tốc độ nhanh hơn so với vi khuẩn

Như vậy, sự có mặt của nấm giúp làm tăng tốc độ tiêu hoá xơ Điều này đặc biệt có ý

nghĩa đối với việc tiêu hoá thức ăn xơ thô bị lignin hoá (Phùng Quốc Quảng et al.,

2003)

2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của gia súc nhai lại

2.4.1 Nhu cầu năng lượng

Không dễ dàng tách riêng các nhu cầu về năng lượng và protein, điều này sẽ được giải thích tỉ mỉ hơn khi vấn đề nhu cầu protein được thảo luận

*Nhu cầu duy trì

+ Gia súc cần năng lượng để duy trì các chức năng của cơ thể, điều hoà nhiệt độ và sản xuất Khái niệm nhu cầu năng lượng duy trì thường được dùng để biểu thị mức dinh dưỡng Ví dụ, bò sữa ở đỉnh của chu kỳ sữa có thể tiêu thụ một lượng năng lượng gấp 3 - 4 lần nhu cầu duy trì

Trang 25

+ Nếu cho gia súc ăn thấp hơn nhu cầu duy trì chúng sẽ sử dụng mỡ của cơ thể, đây là quá trình không kinh tế Năng lượng dự trữ cũng giống như thức ăn dự trữ và nếu gia súc không có mỡ dự trữ để sử dụng gia súc sẽ chết nếu không được cho ăn Điều này

có vẻ khá logic, nhưng tăng và giảm khối lượng thường gặp hơn là tăng khối lượng liên tục do tính mùa vụ trong cung cấp thức ăn chăn nuôi ở nhiều nước Khi gia súc ăn khẩu phẩn không đủ năng lượng để đáp ứng nhu cầu duy trì của chúng thì thường thiếu protein, kết quả gia súc bị giảm khối lượng nhanh chóng Bổ sung protein trong giai đoạn mức dinh dưỡng thấp sẽ có thể có giá trị lớn ở một số vùng vì sẽ ngăn ngừa một phần việc gia súc sụt cân quá nhiều Bổ sung protein cũng sẽ rất hiệu quả khi chuẩn bị bán gia súc ra các thị trường bò sống, ở đó gia súc quá béo bị đánh xuống loại chất lượng thấp hơn, giá rẻ hơn Các gia súc quá béo có thể không bán, đưa trở về trại và cho ăn khẩu phần cở sở là rơm cùng với một lượng nhỏ protein không bị phân giải ở dạ cỏ như bột cá, làm như vậy sẽ tránh được sự giảm khối lượng thịt xẻ và thậm chí gia súc còn tăng trọng, trong khi đó lại giảm được lượng mỡ để phù hợp với yêu cầu của khách hàng

+ Ở một phương diện khác, điều quan trọng là phải tránh để gia súc quá béo, khi bán

ra không được thị trường chấp nhận Có thể giảm béo mà không làm giảm thịt tinh thông qua việc cho ăn các thức ăn năng lượng thấp như rơm cùng với một lượng nhỏ protein không bị vi sinh vật dạ cỏ phân giải, ví dụ bột cá

+ Nhu cầu cho sinh trưởng phụ thuộc vào các thành phần của mô tế bào Mô thịt chứa khoảng 80% nước và nước thì không chứa năng lượng, đã có rất nhiều tài liệu xuất bản khác nhau về nhu cầu dinh dưỡng cho gia súc nhai lại và có thể dễ dàng tìm thấy nhu cầu năng lượng cho sinh trưởng trong các tài liệu này Trong thực tế, năng lượng tiêu tốn để tích luỹ mỡ trong mô thịt cao hơn rất nhiều năng lượng tiêu tốn để tích luỹ

mỡ trong các mô mỡ Kết quả là năng lượng cần cho một đơn vị năng lượng tăng lên trong cơ thể thay đổi phụ thuộc vào tỷ lệ mỡ và protein trong cơ thể Mặt khác, nhu cầu năng lượng cho tăng trọng tăng lên trong khi tăng trọng có nhiều mỡ vì mỡ chứa rất ít nước và nhiều năng lượng hơn protein

+ Thực tế mật độ năng lượng trên một đơn vị khối lượng cơ thể có thể biến đổi đến 8 lần Trong thực hành, thuật ngữ chuyển hoá thức ăn thường được dùng - tiêu tốn thức

ăn Đây là số lượng thức ăn hoặc chất khô cần cho một đơn vị tăng trọng ở gia súc và phải được tính toán cẩn thận Tiêu tốn thức ăn đạt thấp nhất đối với gia súc tăng các

mô thịt - cừu non, bê và bò đực và cao nhất đối với gia súc tích mỡ Khi mức nuôi dưỡng cao, lượng ngũ cốc cần cho 1 kg tăng trọng rất biến động, từ 2 kg đối với gia súc non và trên 10 kg đối với gia súc lớn tuổi hơn đang tích lũy mỡ trong các mô mỡ Tuy nhiên, nếu gia súc chỉ duy trì khối lượng thì thuật ngữ tiêu tốn thức ăn sẽ là vô nghĩa Bởi vậy, tiêu tốn thức ăn phụ thuộc vào mức độ nuôi dưỡng Nuôi dưỡng ở

Trang 26

mức càng cao thì tỷ lệ thức ăn sử dụng cho duy trì càng thấp và tiêu tốn thức ăn càng thấp

Sẽ có ý nghĩa hơn nếu chúng ta so sánh hiệu quả sử dụng thức ăn của các loại thức ăn khác nhau, ví dụ ngũ cốc trên cùng loại gia súc Ví dụ, tiêu tốn thức ăn ở bê hoặc cừu khi cho ăn kiều mạch, lúa mì, ngô, lúa miến giúp chúng ta biết đuợc thức ăn nào thì hiệu quả cho bê, thức ăn nào thì hiệu quả cho cừu

*Tiết sữa

+ Lưu ý rằng nhu cầu năng lượng cho tiết sữa ở bò cái phức tạp hơn so với nhu cầu này cho sinh trưởng Phần lớn bò cái không thay đổi khi ăn nhiều thức ăn và có 3 loại nhu cầu năng lượng: duy trì, sản suất sữa và tăng trọng Sinh trưởng có thể dương (tăng trọng) hoặc âm (giảm khối lượng) Phức tạp hơn nữa là bò cái ở cuối thời kỳ tiết sữa phải cung cấp năng lượng để nuôi thai Do đó không ngạc nhiên là hiện có nhiều giá trị về nhu cầu năng lượng cho gia súc tiết sữa

+ Các nhu cầu dinh dưỡng chỉ có thể được xác định trong buồng trao đổi chất, ở đây

có thể đo được tổng lượng nhiệt sản suất ra Như đã thảo luận trước đây, trong giai đoạn đầu kỳ tiết sữa, mỡ được huy động từ cơ thể, đây là quá trình tự nhiên và không nên thất vọng Nhưng để sử dụng mỡ, cần nhiều protein từ thức ăn Một điều phức tạp khác nữa là việc giảm khối lượng chưa chắc là dấu hiệu mất năng lượng

+ So sánh với các quá trình khác như tăng trọng, tiết sữa thường rất hiệu quả Vì thành phần của sữa rất biến động đặc biệt là mỡ sữa, nhu cầu năng lượng cho tiết sữa thường được tính trên cơ sở hiệu chỉnh về sữa có tỷ lệ mỡ 4% Việc làm này đơn giản là qui đổi về sữa có tỷ lệ mỡ tiêu chuẩn Nếu mỡ sữa cao hơn 4% thì qui đổi về sữa có mỡ tiêu chuẩn sẽ cao hơn sữa thực tế và ngược lại

+ Cuối thời kỳ tiết sữa cần cho gia súc ăn nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu nuôi thai và thông thường thức ăn ăn vào được gia súc tích lũy dưới dạng mỡ của cơ thể (Viện Nghiên Cứu Rowett, 2007)

2.4.2 Nhu cầu chất đạm

Sinh khối của các mô thịt ở cơ thể gia súc: các cơ, các tổ chức, ruột - gồm chủ yếu protein và nước Lông và tóc lại gồm chủ yếu là protein Gia súc không thể tự tổng hợp được một số các đơn vị cấu trúc nên protein trong cơ thể, các đơn vị cấu trúc này thường được gọi là các axit amin không thay thế Tuy nhiên, để tăng thành phần protein trong cơ thể, gia súc cần phải được cung cấp protein Động vật trên thế giới

Trang 27

các chất đơn giản như ammonia và urê để tổng hợp nên tế bào cơ thể của mình Thực

tế chúng có thể sử dụng bất cứ hợp chất nào có thể phân huỷ thành ammonia - thậm chí cả nước tiểu Protein vi sinh vật cung cấp cho vật chủ phần lớn nhu cầu protein Vì thế để đạt hiệu quả, không cần thiết phải cho gia súc nhai lại ăn bất cứ loại protein nào

vì vi sinh vật có thể sản xuất ra chúng Mỡ cơ thể là phần cần thiết trong thức ăn, chúng được dự trữ và có thể được sử dụng khi năng lượng trong khẩu phần không đáp ứng đủ nhu cầu cần thiết Mỡ không cung cấp protein (Viện Nghiên Cứu Rowett, 2007)

2.4.3 Nhu cầu chất khô

Chất khô nói lên một phần giá trị của khẩu phần Nếu cho ăn thành phần có chứa ít chất khô thì khó thoả mãn nhu cầu dinh dưỡng của con vật, nhất là năng lượng để đạt năng suất cao Nếu cho ăn khẩu phần chứa nhiều chất khô như khi cho ăn nhiều rơm

và phụ phẩm nhiều xơ thì giá trị năng lượng thấp cũng ảnh hưởng đến khả năng tiêu hoá và hấp thu các chất dinh dưỡng Sự cân bằng chất đạm, đường trong khẩu phần thức ăn bảo đảm sự phát triển của vi sinh vật, nhất là loại phân giải xơ sẽ làm cho tiêu hoá xơ cao hơn Khẩu phần có tỉ lệ xơ quá cao làm giảm tỉ lệ tiêu hoá và giảm sự đồng hoá các chất dinh dưỡng khác Ngược lại tỉ lệ xơ quá thấp (dưới 13%) sẽ dẫn đến rối

loạn tiêu hoá ở bò (Lê Hồng Mận et al., 2001)

2.5 Giá trị dinh dưỡng của sữa

Sự cho sữa là một chức năng của loài động vật có vú Cấu trúc căn bản của nhũ tuyến

và những giai đoạn phát triển của nó cùng với quá trình sản xuất sữa ra ngoài, có một vai trò quan trọng trong năng suất cho sữa của gia súc (Nguyễn Văn Thu, 2004) Sữa

là sản phẩm toàn vẹn của việc vắt sữa hoàn chỉnh và không ngừng của một gia súc cái cho sữa trong trạng thái sức khoẻ tốt và không bị mệt mỏi Sữa cần được thu nhận một cách vệ sinh và không chứa sữa non (loại sữa vắt ra 5 ngày trước và 5 ngày sau khi đẻ) Thành phần hoá học của sữa có thể thay đổi trong những phạm vi nhất định tuỳ theo đặc tính của từng giống bò và điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng Đới với sữa tươi, các thành phần hoá học chính thường có các giá trị biến động trong những giá trị nhất định

Trang 28

Bảng 3: Thành phần hoá học của sữa bò

Nguồn: Phùng Quốc Quảng (2002)

Nhưng trong tài liệu tập huấn của Nguyễn Bá Mùi et al (2003) trình bày về nguồn

gốc của thành phần sữa gia súc như sau:

Bảng 4: Thành phần của sữa gia súc

Loài gia

súc

Chất rắn không phải bơ (%)

Protein (%)

Lactose (%)

Mỡ (bơ) (%)

Ca (%)

P (%)

Nguồn: Nguyễn Bá Mùi et al (2003)

+ Sinh tổng hợp protein của sữa: protein của sữa có nhiều axit amin không thay thế

hơn các loại thức ăn thông thường 95% N sữa là protein và 5 % N phi protein: urê, creatin, NH3 Protein sữa có 3 dạng chủ yếu: cazein, globulin, albumin (78%) Cazein

và globulin được hình thành từ những axit amin trong máu, thông qua sự tổng hợp của

tế bào tuyến vú, albumin khuyếch thẩm trực tiếp từ máu

+ Đường sữa: Trong sữa có một ít đường glucose và galactose, nhưng chủ yếu vẫn là

đường lacto Trong tế bào tuyến vú có enzym chuyển glocose thành galactose, hai loại này kết hợp với nhau tạo thành đường lacto Đường glucose có từ máu, vào tế bào tuyến vú, sau đó vào sữa

+ Tổng hợp mỡ sữa: Mỡ sữa là hỗn hợp của những triglyxerit, gồm 50% là axit béo

mạch ngắn gồm (C4 - C14), còn lại là acid béo mạch dài Ở loài không nhai lại mỡ sữa được hình thành từ glucose, ở loài nhai lại mỡ sữa được hình thành từ axetat và β hydroxybuterat nhưng phải nhờ glucose kích thích Thành phần mỡ sữa đặc trưng: butyric (C H COOH), caproic (C H COOH), palmitic (C H COOH), oleic

Trang 29

+ Chất khoáng trong sữa: Trong sữa có hơn 30 nguyên tố khoáng Các chất khoáng

lấy từ máu thông qua hoạt động của tế bào tuyến vú Trong những chất khoáng này thì thành phần khoáng trong máu và sữa khác nhau: hàm lượng Ca trong sữa cao hơn hàm lượng Ca trong máu 13 lần, hàm lượng P trong sữa cao hơn hàm lượng P trong máu

10 lần, hàm lượng K trong sữa cao hơn hàm lượng K trong máu 5 lần, hàm lượng Na trong sữa bằng 1/7 hàm lượng Na trong máu, hàm lượng Cl trong sữa bằng 1/3 hàm lượng Cl trong máu

+ Vitamin: Vitamin trong sữa được hình thành từ vitamin có trong máu, thông qua

hoạt động của tế bào tuyến vú

2.6 Phương pháp tiêu hoá in vivo

Thí nghiệm xác định tỉ lệ tiêu hóa đầu tiên là trên in vivo, đã được thực hiện tại trạm

thí nghiệm Weede của trường Đại Học Goettingen của nước Đức trước năm 1860 Sau

đó nhiều thí nghiệm về tiêu hóa được thực hiện trên toàn thế giới Qui trình và cách

tính toán trong ước lượng tỉ lệ tiêu hóa in vivo được trình bài bởi nhiều tác giả nhưng

nó được mô tả chung nhất trong tài liệu của Mc Donald et al (2002) Kỹ thuật in vivo

được áp dụng rộng rãi hiện nay là thu gom toàn bộ lượng thức ăn gia súc ăn vào và phân thải ra hoặc sử dụng chất chỉ thị trộn vào thức ăn cho gia súc ăn sau đó xác định

nồng độ chất chỉ thị trong phân sẽ tính được tỉ lệ tiêu hóa Sử dụng kỹ thuật in vivo có

chất chỉ thị đôi khi cũng gặp khó khăn do sự xác định nồng độ chất chỉ thị đòi hỏi phải

có dụng cụ và hóa chất có giá khá cao Kỹ thuật thu gom toàn bộ lượng thức ăn cho ăn

và phân thải ra thì đòi hỏi phải có nhiều công lao động Nhìn chung việc xác định tỉ lệ

tiêu hóa bằng phương pháp in vivo đòi hỏi phải có chi phí nuôi dưỡng gia súc trong

thời gian dài, nhiều công lao động và mất thời gian (Danh Mô, 2003), nhưng phương pháp này cho mức tỉ lệ tiêu hoá biểu kiến chính xác, dễ dàng thực hiện trong điều kiện

kỹ thuật phòng thí nghiệm chưa thật đầy đủ và áp dụng rộng rãi (Nguyễn Văn Thu, 2004)

2.7 Sơ lược các loại thức ăn trên bò sữa tại nông trường Sông Hậu

2.7.1 Cỏ voi (Pennisetum purpureum)

Trại chăn nuôi bò sữa Nông Trường Sông Hậu nay là Công Ty Cổ Phần Thuỷ Sản Sông Hậu Được thành lập năm 1998, xây dựng trên vùng đất cao ráo thuộc địa phận huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ trước đây, nay thuộc huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần thơ, là một địa điểm giao thông thuận lợi cho việc chăn nuôi Cỏ voi được trồng phổ biến ở các hộ chăn nuôi bò sữa gia đình để thu cắt Trồng thâm canh có đủ nước tưới vào mùa khô và đủ lượng phân hữu cơ đặc biệt là nước thải từ chăn nuôi, cỏ cho năng xuất rất cao (200 - 300) tấn/ha/năm Khoảng cách giữa hai lần thu cắt của cỏ voi là 35 - 40

Trang 30

ngày là hợp lý Thu cắt ở tuổi này chất lượng cỏ tốt hơn và năng suất cỏ trên 1 ha/năm cũng cao hơn Nguyễn Thiện (2003) trình bày rằng cỏ voi có nguồn gốc ở Nam Phi, phân bố rộng rãi ở các nước nhiệt đới trên thế giới Ở Việt Nam cỏ voi còn có tên gọi khác là cỏ Huế vì lần đầu tiên lấy giống ở đây đưa ra Bắc, cho đến nay giống cỏ này

đã được trồng ở nhiều nơi và là một trong những giống cỏ cho năng suất chất xanh cao nhất trong điều kiện thâm canh ở Việt Nam Cỏ voi chịu khô hạn và nhiệt độ thích hợp nhất cho hoạt động sinh trưởng 25 – 400C Thảm cỏ được thu hoạch khi đạt 70 – 80 ngày tuổi, năng suất khoảng 100 – 300 tấn/ha/năm và nếu sử dụng tốt cho năng suất cao trong 10 năm liền Cỏ voi dùng làm thức ăn xanh cho bò tại chuồng và sử dụng ủ chua làm thức ăn dự trữ cho mùa khô

Bảng 5: Thành phần dinh dưỡng (%DM) cỏ voi

Nguyễn Nhựt Xuân Dung et al (2006) 12,4 90,1 8,52 74,1 37,8

Đinh Văn Cải et al (2004) 13,7 89,3 12,0 66,0 37,9

Nguyễn Thị Hồng Nhân et al (2006) 14,2 89,0 8,20 - -

2.7.2 Bã bia

Bã bia là sản phẩm tách ra sau khi lên men bia Phần nước được sử dụng làm bia, phần

bã tươi còn chứa các chất dinh dưỡng, các chất men và xác vi sinh vật Bã bia tươi là loại thức ăn nhiều nước, có mùi thơm và ngon Hàm lượng khoáng, vitamin (chủ yếu

là vitamin nhóm B) và đặc biệt là hàm lượng đạm trong bã bia cao Do đó bã bia có thể được coi là loại thức ăn bổ sung đạm Hơn nữa, thành phần xơ trong bã bia rất dễ tiêu nên có tác dụng kích thích vi sinh vật phân giải xơ trong dạ cỏ phát triển Vì thế

nó có thể dùng bổ sung cho khẩu phần cơ sở là rơm rạ cho kết quả rất tốt Ngoài ra bã bia còn chứa các sản phẩm lên men có tác dụng kích thích tính ngon miệng và kích thích tiết sữa rất tốt Chính vì thế bã bia được sử dụng rộng rãi trong chăn nuôi bò sữa (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Tuy nhiên, theo Phùng Quốc Quảng (2002) lượng bã bia trong khẩu phần bò sữa cần tính toán làm sao có thể thay thế không quá ½ lượng thức ăn tinh (cứ 4,5 kg bã bia có giá trị tương đương 1 kg thức ăn tinh) và không nên cho ăn trên 15 kg/con/ngày Cho

ăn nhiều bã bia (ví dụ trên 25 kg/con/ngày) sẽ làm giảm tỉ lệ tiêu hoá chất xơ, các chất chứa nitơ và kéo theo sự giảm chất lượng sữa Tốt nhất là trộn bã bia và cho ăn cùng thức ăn tinh, chia làm nhiều bữa trong một ngày; Thành phần và giá trị dinh dưỡng của bã bia phụ thuộc vào tỷ lệ nước, nguồn gốc sản xuất và thời gian bảo quản Bã bia ướt dễ bị phân giải làm mất dinh dưỡng và tăng dộ chua, cho nên người ta thường chỉ cho gia súc ăn trong vòng 48 giờ Để kéo dài thời gian bảo quản người ta thường thêm

Trang 31

10% nước) để thuận tiện cho bảo quản và sử dụng Thành phần hóa học của bã bia khô như sau: vật chất khô: 92,5 – 93%, protein thô: 23,5 – 27%, lipit: 6,2 – 6,5%, xơ thô: 14 – 15,5%, dẫn suất không đạm: 41 – 43% và khoáng: 3,7 – 4% (Nguyễn Xuân Trạch, 2004)

Bảng 6: Thành phần dinh dưỡng (%DM) bã bia

Nguyễn Văn Thu (2006) 23,6 95,7 25,4 71,4 38,6

Đinh Văn Cải et al (2004) 21,6 95,9 31.3 68,4 23,1 Nguyễn Thanh Giang (2005) 18,0 98,1 24,1 37,2 22,9

2.7.3 Thức ăn tinh

Là loại thức ăn có khối lượng nhỏ nhưng hàm lượng chất dinh dưỡng trong 1kg thức

ăn lớn Hàm lượng chất xơ thấp hơn 18% Nhóm thức ăn này bao gồm các hạt ngũ cốc

và bột của chúng (ngô, mì, gạo…), bột và khô dầu đậu tương, đậu phộng…Các loại hạt cây bộ đậu và các loại thức ăn tinh hỗn hợp được sản xuất công nghiệp Đặc điểm của thức ăn tinh là hàm lượng nước và xơ đều thấp, chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng như đạm, đường, béo, các chất khoáng và vitamin Tỷ lệ tiêu hoá các dưỡng chất khá cao Thông thường thức ăn tinh được sử dụng để hoàn thiện các khẩu phần thức

ăn thô cho bò sữa Mặc dù thức ăn tinh có hàm lượng dưỡng chất cao nhưng nhưng không thể sử dụng một mình để nuôi gia súc phải kết hợp với thức ăn thô Bởi vì gia súc cần thức ăn thô để đảm bảo quá trình tiêu hoá diễn ra bình thường (Phùng Quốc Quảng, 2002)

Bảng 7: Thành phần dinh dưỡng (%DM) thức ăn hổn hợp

Trang 32

Chương 3 PHƯƠNG TIỆN & PHƯƠNG PHÁP

3.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

+ Địa điểm: Mỹ Long Bắc - Cầu Ngang - Trà Vinh

Nông Trường Sông Hậu - thành phố Cần Thơ

Phòng thí nghiệm E205 Bộ Môn Chăn Nuôi – Khoa Nông Nghiệp & Sinh Học Ứng Dụng - Trường Đại Học Cần Thơ

Hình 3 Ruộng đậu phộng của nông dân

+ Thời gian nghiên cứu: từ tháng 01/2007 đến 10/2007

Trang 33

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 7 nghiệm thức (NT) và

3 lần lặp lại Thời điểm theo dõi: 0, 10, 20, 40 và 80 ngày sau khi xử lý Thí nghiệm thực hiện bằng cách cắt ngắn cây đậu phộng khoảng 2 – 3 cm, xử lý và bổ sung thêm các chất trên trạng thái tươi theo các nghiệm thức như sau

NT 1: Cây đậu phộng tươi không xử lý hoá chất (KXL)

NT 2: Cây đậu phộng tươi được xử lý hút chân không (HCK)

NT 3: Cây đậu phộng tươi được xử lý 1%Urê (1%Urê)

NT 4: Cây đậu phộng tươi được xử lý 2%Urê (2%Urê)

NT 5: Cây đậu phộng tươi được xử lý 2% ammonium sulfate (2%SA)

NT 6: Cây đậu phộng tươi được xử lý 4% mật đường (4%MĐ)

NT 7: Cây đậu phộng tươi được xử lý 7% bột bắp (7%BB)

Tất cả được ủ trong túi plastics có trọng lượng 1 kg trong điều kiện hiếm khí Các chỉ tiêu theo dõi:

+ Mỗi mẫu cây đậu phộng xử lý phân tích: pH, DM, OM, CP, CF, NDF, ADF, EE và Ash

+ Đánh giá cảm quan màu, mùi và cho ăn thử trên bò ở các nghiệm thức

Sau khi kết thúc thí nghiệm 1 đánh giá cây đậu phộng được bảo quản theo phương pháp nào là tối ưu trên dưỡng chất, biện pháp xử lý đó được áp dụng vào thí nghiệm 2

Trang 34

Hình 4: Mẫu đậu phộng xử lý 2%SA tại thời điểm 40 ngày ở thí nghiệm 1

Hình 5: Đánh giá khả năng tiếp nhận cây đậu phộng ủ 2%SA trên bò sữa ở thí nghiệm

Trang 35

3.2.2 Thí nghiệm 2: Ảnh hưởng của cây đậu phộng ủ với 2%SA trên năng suất và chất lượng sữa bò

Mục đích: Lựa chọn tỷ lệ thay thế của cây đậu phộng cho cỏ tự nhiên trên bò đang cho sữa ở mức độ thích hợp

Hình 6: Ủ đậu phộng chuẩn bị cho thí nghiệm 2

Hình 7: Mẫu đậu phộng và phân SA ở thí nghiệm 2

Trang 36

Thí nghiệm được bố trí theo thể thức hoàn toàn ngẫu nhiên với 4 nghiệm thức (NT) tương ứng với 4 khẩu phần và 3 lần lặp lại, mỗi lần lặp lại tương ứng với 1 bò đang cho sữa Bốn nghiệm thức gồm

+ Cỏ tự nhiên 100% (ĐP0)

+ Cỏ tự nhiên được thay thế 15% (DM) cây đậu phộng xử lý (ĐP15)

+ Cỏ tự nhiên được thay thế 30% (DM) cây đậu phộng xử lý (ĐP30)

+ Cỏ tự nhiên được thay thế 45% (DM) cây đậu phộng xử lý (ĐP45)

Thức ăn hổn hợp và bã bia cho ăn đều nhau ở các khẩu phần lần lượt là 4 và 5 kg

Ở các nghiệm thức thay thế cây đậu phộng xử lý, sau khi cho ăn hết cây đậu phộng ủ mới cho ăn cỏ Lượng đậu phộng cho ăn 2 lần/ngày và cỏ cũng tương tự

Hình 8: Bố trí thí nghiệm 2

Trang 37

Hình 9: Đậu phộng ủ dự trử dùng trong thí nghiệm 2

* Các chỉ tiêu theo dõi:

+ Các thực liệu trước và trong thí nghiệm được phân tích các thành phần dưỡng chất như DM, OM, CP, NDF, ADF và Ash Theo dõi năng suất và thành phần hoá học của sữa

+ Lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày

+ Năng suất sữa/con/ngày

+ Thành phần dưỡng chất sữa (DM, OM, EE, Ash)

+ Tỉ lệ tiêu hoá in vivo (DM, OM, CP, NDF, ADF)

+ Tiêu tốn thức ăn/kg sữa

+ Hiệu quả kinh tế

Ngày đăng: 21/06/2021, 01:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w