Nghiên cứu ngôn ngữ tri nhận trong những năm gần đây đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau như: thành ngữ có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn ngôn ngữ
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHAN PHƯƠNG THANH
THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ LOÀI VẬT TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
TỪ LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
PHAN PHƯƠNG THANH
THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ LOÀI VẬT TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT
TỪ LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình của riêng tôi Các số liệu, kết quả được nêu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình khoa học nào
Tác giả luận án
Phan Phương Thanh
Trang 4Lời Cảm Ơn
Trân trọng cám ơn Phòng Sau đại học, Khoa Ngữ văn, Bộ môn Ngôn ngữ, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế với tư cách là đơn
vị đào tạo và tổ chức cho luận án này bảo vệ
Xin trân trọng bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc nhất đến
TS Liêu Linh Chuyên và TS Nguyễn Văn Lập là những người đã trực tiếp hướng dẫn chu đáo, tận tình, truyền đạt cho tôi nhiều kiến thức, kinh nghiệm trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận án
Xin cám ơn TS Nguyễn Thị Bạch Nhạn đã tận tình góp ý giúp đỡ động viên cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu
Xin mãi biết ơn các vị Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ đã tham gia giảng dạy, tham gia Hội đồng bảo vệ cấp cơ sở đã có những ý kiến đóng góp hết sức nhiệt tình và sâu sắc giúp tôi hoàn thành luận án Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình và bạn bè, những người luôn khuyến khích, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận án
Huế, tháng 1 năm 2019 Tác giả luận án Phan Phương Thanh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Ngữ liệu nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Đóng góp của luận án 8
8 Bố cục của luận án 9
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài 10
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ loài vật 10
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về thành ngữ 13
1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án 19
1.2.1 Những vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận 19
1.2.2 Những vấn đề lý thuyết về ẩn dụ tri nhận 22
1.2.3 Những vấn đề lý thuyết về thành ngữ 27
1.2.4 Quan niệm về nghĩa thành ngữ trong ngôn ngữ học tri nhận 34
1.3 Tiểu kết 36
Chương 2 THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ LOÀI VẬT TRONG TIẾNG HÁN TỪ LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 38
2.1 Những đặc điểm ngữ nghĩa liên quan đến điển mẫu trong thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán 38
2.1.1 Điển mẫu 38
2.1.2 Mô hình tỏa tia từ ngữ 39
2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán 45
2.2.1 Về cấu trúc ngữ nghĩa 45
Trang 62.3 Mô hình ẩn dụ tri nhận các thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán 58 2.3.1 Các miền ý niệm đích của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán 58 2.3.2 Sự ánh xạ từ miền nguồn loài vật (trong thành ngữ) đến các miền
đích trong tiếng Hán 61 2.4 Tiểu kết 76
Chương 3 THÀNH NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ LOÀI VẬT TRONG TIẾNG
VIỆT TỪ LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 78
3.1 Những đặc điểm ngữ nghĩa liên quan đến điển mẫu trong thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt 78 3.1.1 Điển mẫu 78 3.1.2 Mô hình tỏa tia từ ngữ 79 3.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt 85 3.2.1 Về cấu trúc ngữ nghĩa 85 3.2.2 Về nghĩa tri nhận văn hóa 93 3.3 Mô hình ẩn dụ tri nhận các thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt 96 3.3.1 Các miền ý niệm đích của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt 96 3.3.2 Sự ánh xạ từ miền nguồn loài vật (trong thành ngữ) đến các miền
đích trong tiếng Việt 99 3.4 Tiểu kết 114
Chương 4 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG VÀ DỊ BIỆT CỦA THÀNH
NGỮ CÓ YẾU TỐ CHỈ LOÀI VẬT TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT TỪ LÝ THUYẾT NGÔN NGỮ HỌC TRI NHẬN 116
4.1 Những tương đồng của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán
và tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận 116 4.1.1 Những tương đồng về đặc điểm ngữ nghĩa liên quan đến điển mẫu trong thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt 116 4.1.2 Những tương đồng về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt 117 4.1.3 Những tương đồng về mô hình ẩn dụ tri nhận các thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt 123
Trang 74.2 Những điểm dị biệt của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán
và tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận 127
4.2.1 Những dị biệt về đặc điểm ngữ nghĩa liên quan đến điển mẫu trong thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt 127
4.2.2 Những dị biệt về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt 127
4.2.3 Những dị biệt về mô hình ẩn dụ tri nhận các thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt 134
4.3 Tiểu kết 140
KẾT LUẬN 141
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 144
TÀI LIỆU THAM KHẢO 145 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Điển mẫu của nhóm từ ngữ “ loài vật” trong thành ngữ tiếng Hán 39Bảng 2.2 Điển mẫu của nhóm từ ngữ “bộ phận cơ thể loài vật” trong thành
ngữ tiếng Hán 42Bảng 2.3 Điển mẫu của nhóm từ ngữ “hoạt động của loài vật” trong thành ngữ
tiếng Hán 44Bảng 2.5 Thống kê thành ngữ có cấu trúc đối xứng gồm hai loài vật trong
tiếng Hán 46Bảng 2.6 Thống kê thành ngữ có cấu trúc đối xứng gồm một loài vật và vật
khác trong tiếng Hán 48Bảng 2.7 Thành ngữ cấu trúc phi đối xứng trong tiếng Hán 50Bảng 2.8 Thống kê thành ngữ phi đối xứng không có cấu trúc so sánh trong
tiếng Hán 51Bảng 2.9 Thống kê thành ngữ phi đối xứng có cấu trúc so sánh trong tiếng Hán 54Bảng 2.10 Mô hình ánh xạ từ miền nguồn loài vật (trong thành ngữ) đến các
miền đích trong tiếng Hán 62Bảng 3.1 Điển mẫu của nhóm từ ngữ “loài vật” trong thành ngữ tiếng Việt 79Bảng 3.2 Điển mẫu của nhóm từ ngữ “BPCT loài vật” trong thành ngữ tiếng Việt 82Bảng 3.3 Điển mẫu của nhóm từ ngữ “hoạt động của loài vật” trong thành ngữ
tiếng Việt 84Bảng 3.5 Thống kê thành ngữ có cấu trúc đối xứng gồm hai loài vật trong
tiếng Việt 86Bảng 3.6 Thống kê thành ngữ có cấu trúc đối xứng gồm một loài vật và vật
khác trong tiếng Việt 88Bảng 3.7 Thành ngữ cấu trúc phi đối xứng trong tiếng Việt 89Bảng 3.8 Thống kê thành ngữ phi đối xứng không có cấu trúc so sánh trong
tiếng Việt 89Bảng 3.9 Thống kê thành ngữ phi đối xứng có cấu trúc so sánh trong tiếng Việt 91Bảng 3.10 Mô hình ánh xạ từ miền nguồn loài vật (trong thành ngữ) đến các
miền đích trong tiếng Việt 100
Trang 10DANH MỤC SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1 Mô hình tỏa tia của “马” (NGỰA) 40
Sơ đồ 2.2 Mô hình tỏa tia của “虎” (HỔ) 40
Sơ đồ 2.3 Mô hình tỏa tia của “牛” (TRÂU) 41
Sơ đồ 2.4 Mô hình tỏa tia của “狗” (CHÓ) 42
Sơ đồ 2.5 Mô hình tỏa tia của “头” (ĐẦU) 43
Sơ đồ 2.6 Mô hình tỏa tia của “心” (TÂM) 43
Sơ đồ 2.7 Mô hình tỏa tia của “飞” (PHI) 44
Sơ đồ 2.8 Mô hình tỏa tia của “鸣” (MINH) 45
Sơ đồ 3.1 Mô hình tỏa tia của “CHÓ” 80
Sơ đồ 3.2 Mô hình tỏa tia của “TRÂU” 81
Sơ đồ 3.3 Mô hình tỏa tia của “GÀ” 81
Sơ đồ 3.4 Mô hình tỏa tia của “HỔ” 82
Sơ đồ 3.5 Mô hình tỏa tia của “ĐẦU” 83
Sơ đồ 3.6 Mô hình tỏa tia của “GAN” 83
Sơ đồ 3.7 Mô hình tỏa tia của “KÊU” 84
Sơ đồ 3.8 Mô hình tỏa tia của “CẮN” 85
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngôn ngữ là một phương tiện giao tiếp không thể thiếu trong xã hội loài người Nhưng trong rất nhiều tình huống giao tiếp, chúng ta lại không dùng những từ ngữ rõ ràng nhất, trực tiếp nhất để biểu đạt ý của mình, mà lại sử dụng một số hình thức diễn
đạt khác để thay thế, ví dụ: thành ngữ ―Ngựa xe như nước‖ để khắc hoạ một cảnh tượng phồn hoa và náo nhiệt; thành ngữ ―Khẩu phật tâm xà‖ để chỉ một số người
ngoài miệng ngon ngọt nhưng tâm địa rất độc ác, nham hiểm; hay để biểu thị từ một nơi xa xôi mang đến một món quà, tuy không có giá trị, nhưng đầy tình cảm chứa
chan chúng ta sử dụng thành ngữ ―Ngàn dặm tặng lông thiên nga‖ Cho đến nay
thành ngữ đã được mọi người ứng dụng một cách rộng rãi trong giao tiếp Thành ngữ
là một bộ phận quan trọng trong hệ thống từ vựng của mỗi ngôn ngữ Nó là một trong những đơn vị ngôn ngữ mang nghĩa ẩn dụ nhiều nhất và phong phú nhất Do đó, để tiến hành giao tiếp một cách thành thạo như người bản địa, người học cần đang giao tiếp phải hiểu và sử dụng đúng thành ngữ của ngôn ngữ
Những hình ảnh của thế giới tự nhiên, bao gồm thế giới động vật, thực vật và các hiện tượng tự nhiên chiếm một số lượng khá lớn trong hệ thống thành ngữ Hình ảnh phổ quát và riêng biệt trong thế giới tự nhiên khúc xạ qua tư duy mỗi dân tộc là khác nhau và để lại những dấu ấn văn hóa dân tộc khá rõ nét Thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật là những thành ngữ mà thông qua nó các con vật được thể hiện, được con người cảm nhận và khai thác để phục vụ cho những diễn đạt khác
Nghiên cứu ngôn ngữ tri nhận trong những năm gần đây đã có rất nhiều đề tài nghiên cứu với nhiều góc độ khác nhau như: thành ngữ có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, thành ngữ biểu thị tâm lý tình cảm từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận, ẩn dụ ý niệm trong thơ ca, ẩn dụ ý niệm thực vật,
ẩn dụ thời gian, ẩn dụ phạm trù lửa… Bên cạnh đó, những công trình nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận về thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật cũng chiếm một số lượng khá nhiều, chẳng hạn như: công trình nghiên cứu về thành ngữ có từ chỉ động vật là
12 con vật như: chó, mèo, gà…từ miền nguồn ĐỘNG VẬT đã được ánh xạ sang những miền đích trừu tượng, từ đó tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong
Trang 12Hiện nay nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận là hướng nghiên cứu đang được nhiều người quan tâm Trong đó có vấn đề liên quan đến quan niệm ý nghĩa thành ngữ của ngôn ngữ học tri nhận đã bổ sung, mở rộng cho những nghiên cứu về thành ngữ theo quan niệm truyền thống Đây cũng chính là lí do mà chúng tôi chọn đề tài
―Thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận‖ làm đề tài nghiên cứu của luận án
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của đề tài ―Thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán
và tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận‖ là làm sáng tỏ đặc điểm ngữ nghĩa
của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt dưới ánh sáng của
lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận Qua đó, góp phần xác định đặc điểm tri nhận, đặc trưng văn hóa dân tộc qua ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt Kết quả nghiên cứu của luận án có thể góp phần nâng cao chất lượng cho việc dạy học và nghiên cứu, cũng như xây dựng giáo trình dịch thuật thành ngữ được sử dụng trong văn bản, từ điển thành ngữ song ngữ Hán - Việt đặc biệt là thành ngữ
có yếu tố chỉ loài vật
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án xác định những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận về ngôn ngữ học tri nhận để làm cơ sở lý thuyết cho đề tài nghiên cứu của luận án
- Xác định các đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ thông qua các kiểu cấu trúc thành ngữ, qua đó chúng tôi phạm trù hóa ngữ nghĩa các thành ngữ này theo những phạm trù ngữ nghĩa
- Xác lập miền ý niệm đích từ việc phân tích ý nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt và phân tích cách thể hiện trong miền ý niệm nguồn
- Tìm hiểu sự pha trộn ý niệm của một số thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật để hiểu được quá trình tri nhận trong việc tạo ra ý nghĩa của thành ngữ
- Phân tích cơ chế ánh xạ ẩn dụ của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật qua đó tìm hiểu tính nghiệm thân và tính văn hóa cộng đồng dân tộc thể hiện trong tư duy ngôn ngữ qua thành ngữ
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Dựa vào cơ sở lý thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, chúng tôi tập trung nghiên cứu về một số vấn đề ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, trong đó nhấn mạnh về ẩn dụ tri nhận của các loài vật được sử dụng trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt, qua đó làm rõ sự chuyển di từ miền nguồn các thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật đến những miền đích trừu tượng trong hai ngôn ngữ này
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu ngữ nghĩa học tri nhận liên quan đến thành ngữ trên nguồn ngữ liệu thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt
5 Ngữ liệu nghiên cứu
Nhằm đáp ứng yêu cầu của luận án, chúng tôi đã sử dụng các nguồn ngữ liệu
có uy tín để tiến hành tổng hợp, thống kê và phân loại thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt, cụ thể như sau:
Trong tiếng Hán, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê thành ngữ có yếu tố
chỉ loài vật trong quyển ―汉语成语词典‖ (Từ điển thành ngữ tiếng Hán) xuất bản
năm 2002 của 宋永培 (Tống Vĩnh Bồi) chủ biên [85]
Trong tiếng Việt, chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê thành ngữ có yếu tố
chỉ loài vật trong quyển Từ điển thành ngữ Việt Nam (1993) của Nguyễn Như Ý
và phần lớn là chỉ chuyển dịch ý nghĩa bề sâu hoặc tìm thành ngữ tương đương, ví
dụ: ―放虎归山‖ (Ví việc làm vô cùng nguy hiểm, tạo điều kiện cho kẻ xấu có lợi
thế hoành hành) Cách chuyển dịch như vừa nêu trên sẽ giúp chúng tôi thuận tiện hơn trong việc tìm ra miền nguồn các ý niệm từ thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật đến miền đích là các ý niệm trừu tượng khác
Trang 146 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung sử dụng các phương pháp và thủ pháp cơ bản sau đây:
lí ngữ liệu trong hai ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Việt cụ thể như sau:
+ Thống kê nhóm từ ngữ bên trong cấu trúc của thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
Nhóm từ ngữ chỉ loài vật trong thành ngữ
Nhóm từ ngữ chỉ các BPCT của loài vật
Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động của loài vật
Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động của con người tác động đến loài vật
+ Thống kê các kiểu cấu trúc của thành ngữ tiếng Hán và tiếng Việt
Nhóm thành ngữ cấu trúc đối xứng
Nhóm thành ngữ cấu trúc phi đối xứng
a Thống kê nhóm từ ngữ và cấu trúc thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán
- Nhóm từ ngữ bên trong cấu trúc của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán
Trên cơ sở 10.364 đơn vị thành ngữ có trong quyển―汉语成语词典‖ (Từ điển thành ngữ tiếng Hán) do Tống Vĩnh Bồi (chủ biên), chúng tôi đã thu thập
được 683 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật Trong quá trình khảo sát nguồn ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy rằng thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật chiếm tỉ lệ 6.59% trong tổng số thành ngữ tiếng Hán và có rất nhiều biến thể của thành ngữ xuất hiện
trong thành ngữ tiếng Hán, cùng là một đơn vị thành ngữ như: ―厉兵秣马‖ (Lệ binh
mạt mã = Cho ngựa ăn no, mài sắc binh khí chuẩn bị tác chiến) nhưng lại xuất hiện
hai hoặc ba thành ngữ biến thể như: ―砺戈秣马‖ (Lệ qua mạt mã = Cho ngựa ăn no, mài sắc binh khí chuẩn bị tác chiến),―秣马厉兵‖ (Mạt mã lệ binh = Cho ngựa ăn no,
mài sắc binh khí chuẩn bị tác chiến), chính vì thế những biến thể thành ngữ như trình bày ở trên chúng tôi chỉ tính là một đơn vị thành ngữ
Trang 15+ Nhóm từ ngữ chỉ loài vật có trong thành ngữ tiếng Hán
Dựa vào kết quả thu được là 683 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, chúng tôi thống kê được 60 loài vật, trong đó có một số loài vật có tần số xuất hiện cao như:
马 (ngựa) chiếm tỉ lệ 19.98%, 虎 (hổ) chiếm tỉ lệ 13.71%, 牛 (trâu) chiếm tỉ lệ 7.12%, 狗 (chó) chiếm tỉ lệ 6.48% xuất hiện trong thành ngữ, chúng tôi dựa vào phân loại của từng loài vật xuất hiện trong thành ngữ, chia thành 7 nhóm loài vật như: nhóm thú hoang dã sống trên cạn chiếm tỉ lệ cao nhất 25.61%, tiếp đến là nhóm chim (trời) 23.17%, nhóm côn trùng (sâu bọ) có 19.51% và nhóm sinh vật sống dưới nước 14.63% chiếm tỉ lệ tương đương nhau, bên cạnh đó nhóm vật nuôi (gia súc, gia cầm) chiếm tỉ lệ khá thấp là 9.76%, cuối cùng chiếm số lượng thấp nhất là nhóm vật giả tưởng 6.10% và nhóm gặm nhấm 1.22%
+ Nhóm từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể loài vật được sử dụng trong thành ngữ tiếng Hán
Các BPCT loài vật được sử dụng khá nhiều trong thành ngữ tiếng Hán, qua thống kê cho thấy trong thành ngữ tiếng Hán với 683 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, có 20 từ ngữ chỉ BPCT loài vật với tần số xuất hiện là 120 lần trong thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, trong đó có những từ ngữ có tần số xuất hiện cao như: 头 (đầu) chiếm tỉ lệ 18.33%, 心 (tim) chiếm tỉ lệ 10.00%
+ Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động của loài vật được sử dụng trong thành ngữ tiếng Hán
Trong tổng số 683 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán, chúng tôi
đã thống kê được 18 động từ có tần số xuất hiện là 94 lần trong thành ngữ, trong đó
có những từ ngữ có tần số xuất hiện cao như: 飞 (phi) chiếm tỉ lệ 22.34%, 鸣 (minh) chiếm tỉ lệ 17.02%, 吠 (phệ) chiếm tỉ lệ 11.7%
+ Nhóm từ ngữ chỉ hoạt động của con người tác động đến loài vật trong thành ngữ tiếng Hán
Trong tổng số 683 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán, chúng tôi
đã thống kê được 14 động từ có tần số xuất hiện 31 lần, trong đó có những từ ngữ
có tần số xuất hiện cao như: 杀 (giết) chiếm tỉ lệ 22.93%, 骑 (cưỡi) chiếm tỉ lệ 22.58%, 打 (đánh) chiếm tỉ lệ 6.45%, 摸 (bắt) chiếm tỉ lệ 6.45%
Trang 16- Các kiểu cấu trúc thành ngữ được sử dụng trong thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán
Trong tổng số 683 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, dựa vào kết quả thu thập được chúng tôi đã chia thành hai nhóm cấu trúc của thành ngữ như sau:
+ Nhóm thành ngữ cấu trúc đối xứng
+ Nhóm thành ngữ cấu trúc phi đối xứng
b Thống kê nhóm từ ngữ và cấu trúc thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt
- Nhóm từ ngữ bên trong cấu trúc của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt
Dựa vào 8.000 đơn vị thành ngữ có trong quyển Từ điển thành ngữ tiếng Việt
do Nguyễn Như Ý chủ biên, chúng tôi đã thu thập 695 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật Trong quá trình khảo sát nguồn ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật chiếm tỉ lệ 8.69% trong tổng số thành ngữ tiếng Việt và chúng tôi cũng nhận thấy rằng có rất nhiều biến thể của thành ngữ xuất hiện trong thành ngữ, cùng là
một đơn vị thành ngữ như:―Bới đầu cá vạch đầu tôm‖ nhưng lại xuất hiện đến hai hoặc ba biến thể thành ngữ, chẳng hạn như: “Chặt đầu cá vá đầu tôm‖, ―Giật đầu cá
vá đầu tôm‖, ―Vặt đầu cá vá đầu tôm‖, vì vậy những biến thể của thành ngữ như trên
chúng tôi chỉ tính là một đơn vị thành ngữ
+ Nhóm từ ngữ chỉ loài vật có trong thành ngữ tiếng Việt
Dựa vào kết quả thu được là 695 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, chúng tôi thống kê được 60 loài vật, trong đó có một số loài vật có tần số xuất hiện cao như:
chó có tỉ lệ 9.88% cao nhất, tiếp đến là trâu chiếm tỉ lệ 7.74%, gà chiếm tỉ lệ 4.83%
và hổ chiếm tỉ lệ 4.71%… xuất hiện trong thành ngữ, chia thành 7 nhóm loài vật
như: nhóm chim (trời) chiếm tỉ lệ 28.00% cao nhất, nhóm thú hoang dã sống trên cạn chiếm tỉ lệ khá cao 22.00%, tiếp đến nhóm có tỉ lệ cao gần bằng nhau là nhóm sinh vật sống dưới nước với tỉ lệ 19.00% và nhóm côn trùng (sâu bọ) 18.00%, nhóm vật nuôi (gia súc, gia cầm) chiếm tỉ lệ 8.00% khá thấp, cuối cùng nhóm chiếm tỉ lệ thấp nhất là nhóm vật giả tưởng 3.00% và nhóm gặm nhấm 2.00%
+ Nhóm từ ngữ chỉ bộ phận cơ thể loài vật được sử dụng trong thành ngữ tiếng Việt
BPCT loài vật được sử dụng khá nhiều trong thành ngữ tiếng Việt, qua thống
kê cho thấy trong thành ngữ tiếng Việt với 695 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, có
Trang 1720 thành ngữ chứa tên gọi BPCT loài vật với tần số xuất hiện là 139 lần, trong đó có
những từ ngữ có tần số xuất hiện cao như: đầu chiếm tỉ lệ 20.14% cao nhất, tiếp đến
Trong tổng số 695 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt, chúng tôi
đã thống kê được 22 động từ chỉ hoạt động của con người tác động đến loài vật với
tần số xuất hiện 45 lần, trong đó có những từ ngữ có tần số xuất hiện cao như: cưỡi chiếm tỉ lệ 15.57%, bắt chiếm tỉ lệ 9.02%, đánh chiếm tỉ lệ 8.02%
- Các kiểu cấu trúc thành ngữ được sử dụng trong thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt
Dựa vào kết quả thu thập được 695 thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, chúng tôi đã chia thành hai nhóm cấu trúc trong thành ngữ, để cho việc tiến hành nghiên cứu được thuận lợi, chúng tôi đã tiến hành phân loại các nhóm cấu trúc trong thành ngữ như sau:
+ Nhóm thành ngữ cấu trúc đối xứng
+ Nhóm thành ngữ cấu trúc phi đối xứng
Từ việc thống kê các nhóm từ ngữ và các kiểu cấu trúc của thành ngữ, trên cơ
sở đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa thông qua đó sẽ tìm ra các miền đích từ miền nguồn loài vật được thể hiện trong thành ngữ
6.2 Phương pháp phân tích miêu tả
Từ kết quả thống kê thu thập có được trong các nhóm từ ngữ và các kiểu cấu trúc được sử dụng trong thành ngữ, chúng tôi sẽ nghiên cứu về đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt
+ Thông qua ý nghĩa của các thành ngữ chúng tôi sẽ xác định những nhóm
Trang 18+ Khám phá những cấu trúc ADTN thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt; sau đó tiến hành đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong các mô hình ẩn dụ tri nhận của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật
+ Mỗi nhóm kiểu cấu trúc của thành ngữ như trên đều mang những nghĩa biểu trưng khác nhau Do đó, chúng tôi có thể phạm trù hóa các thành ngữ theo ý nghĩa
mà nó có thể phản ánh (ví dụ: ngoại hình, tính cách, hoàn cảnh…) Trên cơ sở đó, chúng tôi tiến hành tuyển chọn những tương ứng ngữ nghĩa từ miền nguồn sang miền đích
- Thủ pháp tỏa tia: là khái quát sự phát triển ngữ nghĩa của một số từ được xem là điển mẫu được sử dụng trong thành ngữ Thành tố trung tâm là nghĩa gốc của từ, các nghĩa phái sinh là các nghĩa chuyển ẩn dụ có vai trò mở rộng nghĩa Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, chúng tôi chỉ miêu tả những điển mẫu có tần
số xuất hiện cao với sự chuyển nghĩa theo các lĩnh vực Các thành tố trong mỗi ý niệm sẽ được liệt kê lần lượt theo đặc tính xa dần nguyên gốc
- Thủ pháp miêu tả ngữ nghĩa: xác lập những mối quan hệ ngữ nghĩa của những thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật làm cơ sở thiết lập thành từng phạm trù + Khái quát thành các kiểu cấu trúc ngữ nghĩa bao gồm: thành ngữ sử dụng các BPCT của loài vật, thành ngữ có sử dụng các cặp loài vật sóng đôi, thành ngữ
có từ chỉ hoạt động của con người tác động đến loài vật, thành ngữ có sử dụng hoạt động của loài vật, thành ngữ có sử dụng loài vật với đối tượng khác, để khái quát thành các phạm trù với các công thức
6.3 Phương pháp đối chiếu
Để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong sự chuyển di ánh xạ từ miền nguồn các ý niệm của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật đến những miền đích trừu tượng của hai ngôn ngữ Hán, Việt Trên cơ sở đó, tìm ra những đặc trưng văn hóa -
tư duy dân tộc trong bức tranh ngôn ngữ về thế giới của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt
7 Đóng góp của luận án
Về ý nghĩa lý luận: Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ góp phần làm sáng tỏ
những vấn đề liên quan đến ngữ nghĩa học của thành ngữ theo quan niệm của ngôn ngữ học tri nhận trên nguồn ngữ liệu thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt
Trang 19Về ý nghĩa thực tiễn: Công trình nghiên cứu của luận án sẽ ứng dụng những
kết quả nghiên cứu của luận án có thể được ứng dụng trong công tác giảng dạy, công tác dịch thuật và xây dựng từ điển thành ngữ song ngữ Hán - Việt
8 Bố cục của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án gồm có
4 chương:
Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của đề tài
Trong chương này, luận án sẽ trình bày tổng quan các công trình nghiên cứu trong
và ngoài nước liên quan về từ ngữ chỉ loài vật, các công trình nghiên cứu về thành ngữ và thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật; cơ sở lý thuyết của đề tài luận án gồm có: những vấn đề lí thuyết về ngôn ngữ học tri nhận trong đó chú trọng về ngữ nghĩa học tri nhận liên quan đến ẩn dụ tri nhận, thành ngữ Chương này sẽ đặt nền móng lí thuyết cho việc triển khai các nội dung cụ thể ở những chương tiếp theo
Chương 2: Thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận Trong chương này, chúng tôi tiến hành xác định điển mẫu
của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, trên cơ sở đó sẽ xây dựng mô hình tỏa tia từ ngữ Từ mô hình tỏa tia của các nhóm từ ngữ, dựa vào đó chúng tôi sẽ nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Hán Với những kết quả nghiên cứu có được chúng tôi sẽ tiến hành xây dựng mô hình ẩn dụ tri nhận của thành ngữ có yếu
tố chỉ loài vật trong tiếng Hán
Chương 3: Thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận Cũng với cách thức tiến hành và mục đích nghiên cứu
như ở chương 2 Chúng tôi tiến hành xác định điển mẫu của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật, trên cơ sở đó sẽ xây dựng mô hình tỏa tia từ ngữ Từ mô hình tỏa tia của các nhóm từ ngữ, dựa vào đó chúng tôi sẽ nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt Với những kết quả nghiên cứu có được sẽ tiến hành xây
dựng mô hình ẩn dụ tri nhận của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Việt
Chương 4: Những điểm tương đồng và dị biệt của thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận
Từ kết quả có được ở chương 2 và chương 3, chúng tôi tiến hành phân tích, so sánh đối chiếu để tìm ra những nét tương đồng và dị biệt của thành ngữ có yếu tố chỉ
Trang 20Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài
1.1.1 Những công trình nghiên cứu về từ ngữ chỉ loài vật
a Những nghiên cứu ở nước ngoài
Thành quả nghiên cứu về trường từ vựng ngữ nghĩa động vật ở Trung Quốc,
trong đó có mười hai con giáp, phải nói đến bài ―汉语词义学‖ (Nghĩa học của từ vựng tiếng Hán) [86] của tác giả 苏新春 (Tô Tân Xuân) (1997) tập trung phân tích
về nguồn gốc của lớp từ chỉ đến động vật trong tiếng Hán, từ đó chỉ ra đặc điểm tư duy liên tưởng của người Trung Quốc qua sự liên hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa
Trong cuốn ―汉语词义系统研究‖ (Hệ thống ngữ nghĩa của từ tiếng Hán) [88] của
tác giả 王军 (Vương Quân) (2005), tác giả đã kết hợp lí luận với thực tiễn làm sáng
tỏ các vấn đề cơ bản của ngữ nghĩa học, trong đó có đề cập đến đặc trưng tâm lý, văn hóa dân tộc thể hiện qua ý nghĩa tượng trưng của từ chỉ động vật trong tiếng
Hán Công trình ―汉语词汇的文化透视‖ (Góc nhìn văn hóa trong từ vựng tiếng Hán) [87] của tác giả 王国安、王小曼 (Vương Quốc An, Vương Tiểu Mạn) (2011)
đã chọn góc nghiên cứu lịch đại, thông qua khảo sát, miêu tả và phân tích lớp từ chỉ động vật, chỉ ra ý nghĩa văn hóa qua ngôn ngữ
Nghiên cứu về từ ngữ chỉ động vật từ góc độ đất nước học phải kể đến công
trình nhan đề ―汉英动物名称的国俗同义现‖ (Hiện tượng đồng nghĩa đất nước học trong tên gọi động vật Hán Anh) của đồng tác giả 王德春, 王建华 (Vương Đức Xuân và Vương Kiến Hoa) (1995) [91] Tiếp đó là công trình mang tên ―汉语动物
động vật trong tiếng Hán) [71] của tác giả 李月松 (Lí Nguyệt Tùng) (2008), tác giả
đã chỉ ra cơ sở định danh tên gọi động vật của từng loài Tác giả cho rằng, ngữ nghĩa của lớp từ chỉ động vật trong tiếng Hán phản ánh rõ nét đặc trưng tư duy, quan niệm luân lý truyền thống của người Trung Quốc
Ngoài ra, còn có một số luận án tiến sĩ chọn góc nghiên cứu này, trước hết
phải kể đến công trình ―中英动物词文化对比研究‖ (Nghiên cứu đối chiếu văn
Trang 21hóa từ ngữ chỉ động vật trong tiếng Hán và tiếng Anh) [65] của tác giả 郝丽 (Hách
Lệ) (2010) đã thu thập và thống kê từ ngữ chỉ động vật, cùng là một con vật nhưng giá trị ngữ nghĩa và văn hóa của hai ngôn ngữ này hoàn toàn khác nhau, chẳng hạn như: hình ảnh “con chó” trong tâm thức của người Anh và người Trung Quốc, chúng ta bắt gặp hiện tượng khác nhau về tình cảm đối với con vật này Trong tâm thức của người Trung Quốc “chó” có vị trí thấp hèn, là đối tượng bị khinh rẻ, coi thường Vì vậy, những từ ngữ liên quan đến “chó” trong tiếng Hán phần lớn là
những từ mang nghĩa xấu như: chó săn, chó ghẻ trong khi đó người Anh lại xem
“chó” như là thú cưng trong nhà, vì vậy những từ ngữ liên quan đến “chó” thường
mang nghĩa tích cực như: lucky dog, a gay dog… Kết quả nghiên cứu của tác giả đã
cho người đọc thấy được những điểm tương đồng và dị biệt về văn hóa thông qua các từ ngữ chỉ con vật được thể hiện trong hai ngôn ngữ tiếng Hán và tiếng Anh
Tiếp đến là công trình ―汉越生肖词语对比研究‖ (Nghiên cứu đối chiếu từ ngữ chỉ con giáp trong tiếng Hán và tiếng Việt) [56] của tác giả 裴氏恒娥 (Bùi Thị Hằng
Nga) (2015) là nghiên cứu sinh Việt Nam tại Trung Quốc, tác giả đã sử dụng phương pháp so sánh đối chiếu, thông qua khảo sát và phân tích, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt của lớp từ chỉ mười hai con giáp trong tiếng Hán và tiếng Việt qua ngữ liệu từ thành ngữ, tục ngữ, nhất là đặc điểm tri nhận của hai dân tộc về con giáp
Bên cạnh đó còn có một số công trình như: Luận văn thạc sĩ ―汉语动物成语
trong tiếng Hán) [63] của tác giả 董晓荣 (Đổng Hiểu Vinh) (2012) đã tiến hành
thống kê và phân loại thành ngữ có yếu tố chỉ động vật Trên cơ sở đó, tác giả đã chia các loài động vật thành sáu nhóm và sắp xếp theo thứ tự như sau: nhóm 12 con giáp, nhóm tứ linh, nhóm gia cầm, nhóm gia súc, nhóm loài vật dưới nước và nhóm côn trùng được thể hiện qua nghĩa biểu trưng của từng nhóm loài động vật trong thành ngữ tiếng Hán, qua đó có thể giúp người đọc thấy được đặc trưng văn hóa của người Trung Quốc
b Những nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngày càng nhiều học giả quan tâm đến trường từ vựng - ngữ
nghĩa chỉ động vật Trong công trình ―Tìm hiểu đặc trưng ngôn ngữ - văn hóa của
Trang 22nhóm từ chỉ động thực vật tiếng Việt (so sánh với tiếng Anh)‖ [35] của tác giả
Nguyễn Thanh Tùng (2003) đã nghiên cứu từ chỉ động thực vật trong tiếng Việt qua
từ điển giải thích và trong thành ngữ, tục ngữ, công trình tiến hành khảo sát cách dùng từ chỉ động thực vật với nghĩa đen và nghĩa bóng, mục đích để so sánh từ chỉ động thực vật tiếng Việt và tiếng Anh Thông qua việc nghiên cứu đối chiếu từ chỉ động thực vật trong tiếng Việt và tiếng Anh, tác giả đã tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt trong lối sống, lối suy nghĩ của hai cộng đồng Việt, Anh Tác giả đã vận dụng kết quả đạt được và đưa ra một số gợi ý xoay quanh việc giảng dạy và dịch thuật từ chỉ động thực vật trong từ điển giải thích và trong thành ngữ, tục ngữ
Công trình ―Tìm hiểu thế giới động vật dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa dân gian người Việt‖ [30] của tác giả Triều Nguyên (2007) đã tiến hành nghiên cứu về
ngôn ngữ và văn hóa người Việt Trong công trình có 100 động vật được nêu tên để lấy ý kiến phân loại và đánh giá theo thang điểm 50 nhân chứng của người Thừa Thiên Huế, với 19 tiêu chí như: sạch - bẩn, nhanh - chậm, chăm - lười, có lợi - có hại, đẹp - xấu… Tác giả đã giúp người đọc nắm được ý nghĩa vốn có trong tên gọi động vật của người Việt và từ đó nhận ra đặc điểm, bản sắc văn hóa dân tộc Tuy nhiên, với 50 nhân chứng là người Thừa Thiên Huế vẫn còn quá mỏng, hơn nữa 100 động vật được chọn đưa vào bảng điều tra chưa thể cho là đầy đủ và thấu đáo được
Bài báo―So sánh hàm nghĩa văn hóa các từ chỉ động vật trong tiếng Hán và tiếng Việt‖ [22] của tác giả Trịnh Thị Thanh Huệ (2007) đã chọn một số từ trong
lớp từ vựng tên gọi động vật thân thuộc trong tiếng Hán và tiếng Việt để phân tích,
so sánh, đối chiếu hàm nghĩa văn hoá của hai ngôn ngữ Hán và Việt Kết quả so sánh đối chiếu sẽ giúp cho người đọc thấy được sự tương đồng và dị biệt trong quan niệm về văn hóa của người Trung Quốc và người Việt Nam
Với bài ―Sự khác nhau về nội hàm văn hóa của hai từ Rồng (龙, Dragon) và
(2014) đã nghiên cứu những nét tương đồng và dị biệt trong cách tri nhận về Rồng
Anh Kết quả của bài nghiên cứu đã giúp cho người đọc thấy được cách tri nhận về
các con vật như: Rồng (龙, Dragon) và Chó (狗, Dog) của mỗi dân tộc mang những nghĩa biểu trưng khác nhau Việc so sánh đối chiếu từ Rồng (龙, Dragon) và Chó
Trang 23(狗, Dog) đã phần nào giúp cho người đọc hiểu được nội hàm văn hóa được ẩn sâu
bên trong lớp vỏ ngôn ngữ của mỗi dân tộc
Trong những năm gần đây có một số bài viết về con giáp trong ngôn ngữ - văn
hóa Trung Việt, như ―Chữ 羊 dương trong ngôn ngữ - văn hóa Việt Nam và Trung Hoa ‖ (2015) [11], ―Con gà trong ngôn ngữ Trung - Việt‖ (2017) [12], ― Chó trong ngôn ngữ và văn hóa Trung - Việt‖ (2018) [13] của tác giả Phạm Ngọc Hàm Trong
đó, tác giả đi từ tính chất biểu ý của chữ Hán, tiến hành khảo sát, phân tích, đối chiếu
về cấu trúc và ý nghĩa của các từ ngữ có chứa yếu tố chỉ con giáp, từ đó chỉ ra hàm ý văn hóa của các từ ngữ này cũng như đặc điểm tri nhận của người Trung Quốc và người Việt Nam về con dê, con gà, con chó nằm trong hệ thống mười hai con giáp Với những bài viết đã nêu trên, còn có nhiều đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ
đã cung cấp những kiến thức mang tính ứng dụng thực tế như: đề tài nghiên cứu
―Từ ngữ chỉ tên gọi các loài cá, tôm trong ca dao, tục ngữ Việt Nam‖ [21] của tác giả Nguyễn Thị Hoa Hiên (2010) đã tiếp tục đi sâu nghiên cứu từ ngữ chỉ tên gọi
các loài cá, tôm được dùng với nghĩa biểu vật trong ca dao, tục ngữ của người Việt Kết quả nghiên cứu đã giúp cho người đọc có thêm cái nhìn lí thú về hình ảnh con
cá, con tôm và hiểu rõ hơn về “cái biểu đạt”, phương tiện quan trọng tạo nên nghĩa
biểu trưng của tục ngữ, ca dao Bên cạnh đó, đề tài nghiên cứu ―Lớp từ ngữ chỉ động vật và thực vật trong đồng dao người Việt‖ [38] của tác giả Lê Thị Thuận
(2011) đã dành một số trang miêu tả đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của lớp từ ngữ chỉ động vật và thực vật trong đồng dao của người Việt Kết quả nghiên cứu của đề tài đã giúp chúng ta thấy được vai trò của việc sử dụng lớp từ ngữ này trong đồng dao và văn hóa của người Việt Nam
Tóm lại, những bài viết và các công trình được trình bày trên đây đã được các tác giả nghiên cứu với nhiều khía cạnh khác nhau như: trường từ vựng ngữ nghĩa động vật, từ ngữ chỉ động vật từ góc độ đất nước học, thế giới động vật dưới góc độ ngôn ngữ - văn hóa dân gian, ngữ nghĩa văn hóa các từ chỉ động vật Kết quả của các công trình và bài viết trên đã phần nào giúp cho người đọc có một cái nhìn lí thú
về văn hóa của các dân tộc thông qua ý nghĩa biểu trưng của các con vật
1.1.2 Những công trình nghiên cứu về thành ngữ
a Những nghiên cứu ở nước ngoài
Trang 24Luận văn thạc sĩ ―汉、越动物成语对比研究‖ (Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ
có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Hán và tiếng Việt) [92] của tác giả 韦氏水 (Vi Thị
Thủy) (2012) đã tiến hành thống kê tổng số thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Hán là 631 thành ngữ, tiếng Việt là 649 thành ngữ, trên cơ sở đó tác giả đã tiến hành thống kê phân loại nhóm loài vật, nhằm tìm hiểu nét biểu trưng của từng loài vật, và tìm
ra những điểm giống nhau và khác nhau về nền văn hóa Trung Quốc, Việt Nam
Trong đề tài luận văn thạc sĩ ―汉英成语中动物隐喻对比研究‖ (Nghiên cứu so sánh đối chiếu ẩn dụ yếu tố chỉ động vật trong thành ngữ tiếng Hán và tiếng Anh) [79]
của tác giả 潘蓉蓉 (Phan Dung Dung) (2014) đã chọn 12 con vật như: chó, mèo, lợn, trâu, ngựa, dê, chuột, thỏ, sói, gấu, vượn, cáo và đã chia thành hai nhóm loài vật là: loài vật nuôi và loài thú hoang dã Từ miền nguồn ĐỘNG VẬT đã được ánh xạ sang những miền đích trừu tượng, từ đó tiến hành so sánh đối chiếu để tìm ra những điểm tương đồng và dị biệt Kết quả nghiên cứu đã giúp chúng ta thấy được bức tranh về ngôn ngữ
và cách tư duy của hai dân tộc trong cách người Hán và người Anh ý niệm hóa các từ ngữ chỉ động vật Tuy nhiên, công trình cũng chỉ mới đề cập đến 12 từ ngữ chỉ loài vật trên ngữ liệu là thành ngữ tiếng Hán và tiếng Anh
Cũng với hướng đi như vậy, với đề tài nghiên cứu ―汉语动物成语问题研究‖ (Nghiên cứu thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Hán) [64] của tác giả 房
培 (Phòng Bồi) (2007); đề tài nghiên cứu ―汉越动物成语比较研究‖ (Nghiên cứu
so sánh đối chiếu thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Hán và tiếng Việt) [81] của tác giả 阮氏青香 (Nguyễn Thị Thanh Hương) (2011); đề tài nghiên cứu
vật trong giảng dạy Hán ngữ đối ngoại) [97] của tác giả 赵钰 (Triệu Ngọc) (2012);
đề tài nghiên cứu ―汉语动物成语研究‖ (Nghiên cứu thành ngữ có yếu tố chỉ động vật trong tiếng Hán) [60] của tác giả 陈静 (Trần Tĩnh) (2016) …
- Nghiên cứu về thành ngữ ở góc độ ngôn ngữ học tri nhận có các công trình như sau:
Ở góc độ ngôn ngữ học tri nhận có một số bài viết như: bài ―汉、英成语的认
và tiếng Anh) [69] của tác giả 蒋澄生 (Tướng Trừng Sinh) (2006), tác giả đã vận
Trang 25dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận để tiến hành nghiên cứu đối chiếu thành ngữ tiếng Hán và thành ngữ tiếng Anh, mục đích là tìm ra những nét tương đồng và
khác biệt giữa hai ngôn ngữ này Bài viết ―汉语饮食成语隐喻研究——认知与文
tri nhận) [77] của tác giả 孟然妹(Mạnh Nhiên Muội) (2010), tác giả đã thống kê
hơn 1000 thành ngữ ẩm thực, và đã vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học văn hóa và ẩn
dụ tri nhận để tiến hành nghiên cứu và phân tích Mục đích của việc nghiên cứu thành ngữ ẩm thực là: vận dụng lí thuyết ẩn dụ tri nhận để tiến hành phân tích thành ngữ tiếng Hán, tìm hiểu khái niệm ẩn dụ; Trên cơ sở những phương thức biểu đạt ẩn
dụ về thành ngữ ẩm thực, từ đó giúp người đọc hiểu được văn hóa, quan niệm, phong tục tập quán của người Trung Quốc
Cũng ở góc độ này, với bài viết ―汉语眼睛成语的认知研究‖ (Nghiên cứu tri nhận thành ngữ có từ ―Mắt‖trong tiếng Hán) [94] của tác giả 尹桂英 (Y Quế Anh) (2015), tác giả sử dụng những thành ngữ có từ “mắt” trong tiếng Hán, để tiến hành
nghiên cứu về ẩn dụ và hoán dụ dưới góc nhìn tri nhận Về chức năng “mắt” nằm ở
vị trí trung tâm trong cảm quan, vì thế tính mấu chốt của “mắt” được ánh xạ sang
khái niệm khác nhau Thông qua thành ngữ như: ―掩目捕雀‖ (Bịt mắt bắt chim
công) nghĩa đen của thành ngữ này là “che con mắt để bắt chim công”, ý nghĩa quy ước của thành ngữ này là hành động một cách mù quáng không thể đạt được mục đích Như vậy, xem xét các thành ngữ có từ “mắt”, chúng ta có thể thấy được những nét đặc trưng văn hóa dân tộc thể hiện qua chúng, giúp chúng ta hiểu rõ thêm nền văn hóa và tâm hồn dân tộc
Bên cạnh đó, còn có một số công trình là luận văn thạc sĩ như: “成语的隐喻
Đình) (2010), kết hợp với hán ngữ đối ngoại thống kê được 308 thành ngữ, trình bày rõ các loại hình tạo nên hình thức thành ngữ và nguyên nhân ẩn dụ bên trong, nói rõ đặc trưng và kết cấu ngữ nghĩa của thành ngữ, phân tích cơ sở tri nhận của thành ngữ, từ đó thấy được đặc trưng văn hóa dân tộc trong ẩn dụ tri nhận về thành ngữ Với kết quả nghiên cứu được, để giúp cho người nước ngoài học tiếng Hán dưới góc nhìn ẩn dụ tri nhận Tác giả đã vận dụng lí thuyết ẩn dụ tri nhận vào việc
Trang 26quá trình tạo nên thành ngữ, đồng thời thúc đẩy nghiên cứu lí luận thành ngữ vào quá trình giảng dạy cho người nước ngoài
Tóm lại, các tác giả với các công trình tiêu biểu kể trên đã vận dụng lí thuyết ngôn ngữ học tri nhận vào nghiên cứu những phạm trù khác nhau được thể hiện qua thành ngữ
b Những nghiên cứu ở trong nước
- Nghiên cứu về thành ngữ ở góc độ truyền thống phải kể đến các công trình như sau:
Trong bài ―Các con vật và một số đặc trưng của chúng được cảm nhận từ góc độ dân gian và khai thác để đưa vào kho tàng thành ngữ tiếng Việt‖ [34] của tác giả Phan
Văn Quế (1995) đã cho rằng các sự vật, hiện tượng trong tự nhiên và các con vật là một
bộ phận của thế giới khách quan, chúng được con người cảm nhận, khai thác để định danh (ở cấp độ từ và thành ngữ) và phục vụ cho những diễn đạt khác (ở các cấp độ tổ chức thông báo lớn hơn) Trong bài viết này, tác giả chỉ trình bày hai khía cạnh chính là: những con vật nào thường xuất hiện trong thành ngữ và một số đặc điểm về nghĩa của thành ngữ mang tên các con vật Qua bài viết này chúng ta có thể thấy được rằng mỗi con vật xuất hiện trong thành ngữ mang những đặc trưng riêng biệt Cũng với hướng đi
như vậy, trong bài ―Hình ảnh con trâu trong thành ngữ tục ngữ và ca dao Việt Nam‖ [29] của tác giả Hà Quang Năng (1997) đã thống kê được 30 thành ngữ, hơn
60 tục ngữ và một số bài ca dao quen thuộc đề cập đến tên gọi con vật này Tác giả cho rằng những đặc điểm về hình dáng, kích thước, tính nết, thói quen giá trị sử
dụng… được dùng làm biểu trưng cho con người như: ―Khỏe như trâu‖, ―Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết‖, ―Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã‖… Đồng thời qua đó đã
phản ánh quan niệm, phong tục tập quán, hoàn cảnh sống, điều kiện lịch sử của đất nước và dân tộc Việt Nam trước đây
Bên cạnh đó, còn có một số bài viết như: ―Biểu trưng ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt (trên cứ liệu thành ngữ có yếu tố chỉ tên gọi động vật)‖ [26] của tác giả
Trịnh Cẩm Lan (2009) đã mượn những hình ảnh, thuộc tính… của các loài vật như: chó, chim, cá, hổ, voi… để thể hiện sự phê phán, chê bai kín đáo và ý nhị về con người Những giá trị biểu trưng ngữ nghĩa trong thành ngữ mới thực sự phản ánh chiều sâu
văn hóa Trong bài “Thế giới động vật trong thành ngữ tiếng Việt‖ [23] của tác giả Đỗ
Thị Thu Hương (2017) đã thống kê được 95 loài động vật xuất hiện trong thành ngữ
Trang 27tiếng Việt Tác giả dựa vào mối quan hệ gần gũi giữa con người và động vật đã chia 95 loài động vật như: trâu, bò, ve, cá, lươn, chào mào, diều hâu, voi, hổ… chia thành ba nhóm như: nhóm loài vật gần gũi với con người, nhóm loài động vật hoang dã, nhóm một số loài khác Tác giả cho rằng các loài vật được sử dụng làm chất liệu biểu trưng trong thành ngữ tiếng Việt rất phong phú, đa dạng, thuộc nhiều loại khác nhau Tất cả đã tạo nên một bức tranh rất đầy đủ về hệ thống động vật của đất nước Việt Nam
Ở Việt Nam những năm gần đây, nghiên cứu về ẩn dụ ý niệm cũng ngày càng được coi trọng Công trình có thành quả cao trong lĩnh vực này phải kể đến cuốn
―Khảo luận ẩn dụ tri nhận‖ [2] của tác giả Trần Văn Cơ Trong tác phẩm này, tác giả
đã tổng kết những quan điểm lý luận cơ bản về ẩn dụ ý niệm trình bày trong hai cuốn
sách kinh điển của G Lakoff và M.Johnson là Metaphors We Live By (1980) và Women, fire and the dangerous things: what categories Reaveal about the mind (1987)
Trên cơ sở đó, tác giả bàn về ý niệm và ẩn dụ ý niệm, hoạt động sáng tạo của ẩn
dụ ý niệm, kinh nghiệm luận, phương pháp luận của học thuyết về ẩn dụ ý niệm và phạm trù hóa thế giới, đều là những vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học tri nhận Phan Thế Hưng cũng có nhiều đóng góp về lĩnh vực nghiên cứu này Tác giả đã công bố một số bài viết phân tích tỉ mỉ quan niệm của Arstole và nhiều nhà ngôn ngữ học sau đó về ẩn dụ và đưa ra quan niệm về ẩn dụ có giá trị tham khảo cao Tác giả cho rằng “chúng ta không hiểu ẩn dụ bằng chuyển ẩn dụ thành phép so sánh Vì vậy, câu ẩn dụ là câu bao hàm xếp loại ”
Ngoài ra ngày càng có nhiều công trình nghiên cứu về thành ngữ ở góc độ ngôn
ngữ học tri nhận: công trình nghiên cứu về Thành ngữ tiếng Anh và thành ngữ tiếng Việt có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người dưới góc nhìn của ngôn ngữ học tri nhận [40] của tác giả Nguyễn Ngọc Vũ (2008), kết quả của công trình đã tìm ra được khá nhiều
điểm tương đồng và dị biệt trong cách tri nhận về vị trí, vai trò và chức năng của các
bộ phận cơ thể ở người Anh và người Việt, chẳng hạn như: KHUÔN MẶT LÀ DANH DỰ CỦA CON NGƯỜI, GIƯƠNG MŨI LÊN LÀ THỂ HIỆN NIỀM TỰ HÀO, ĐÔI TAY SẠCH HAY BẨN LÀ BIỂU HIỆN CỦA TÍNH CÁCH… Qua nghiên cứu và đối chiếu theo các ẩn dụ ý niệm và hoán dụ ý niệm cho chúng ta thấy được thành ngữ có đóng góp tích cực vào quá trình tạo nghĩa và hiểu được tri thức qui ước thì khả năng suy được nghĩa của thành ngữ đặc biệt là thành ngữ có yếu tố chỉ bộ phận cơ thể người là khá cao Điểm mạnh của luận án là đã đề xuất được một
Trang 28vài ứng dụng trong công tác giảng dạy tiếng Anh Tuy nhiên, luận án chỉ dừng lại ở nội dung là nghiên cứu thành ngữ có từ chỉ bộ phận cơ thể người trong tiếng Anh và tiếng Việt, mà chưa đi sâu vào nghiên cứu một số ngôn ngữ khác
Công trình Nghiên cứu thành ngữ biểu thị tâm lý tình cảm trong tiếng Anh và
tiếng Việt từ bình diện ngôn ngữ học tri nhận [39] của tác giả Trần Bá Tiến (2012)
đã chỉ ra cơ chế ngữ nghĩa của thành ngữ biểu thị tâm lý tình cảm xuất phát từ kinh nghiệm cơ thể trong sự tương tác với văn hóa và môi trường Yếu tố văn hóa và môi trường tạo nên những điểm giống nhau và khác nhau của người Anh và người Việt Chẳng hạn như: TỨC GIẬN LÀ NHIỆT, VUI LÀ HƯỚNG LÊN, BUỒN LÀ HƯỚNG XUỐNG, SỢ LÀ LẠNH, XẤU HỔ LÀ MUỐN LẨN TRỐN… Dựa trên những phát hiện về cơ chế nghĩa của thành ngữ và vận dụng những kết quả mới nhất trong ngôn ngữ học tri nhận, tác giả đã áp dụng những kết quả đạt được trong luận án để giảng dạy thành ngữ cho người nước ngoài
Trong công trình Nghiên cứu thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Hán từ
góc độ ngôn ngữ học tri nhận (có liên hệ với tiếng Việt) [32] của tác giả Vi Trường
Phúc (2013) đã cung cấp bức tranh chung về thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm trong tiếng Hán và tiếng Việt, chẳng hạn như: tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ chỉ tâm lí tình cảm như: cấu trúc ngữ nghĩa, phương thức cấu tạo và biểu đạt nghĩa, nghĩa văn hóa… Từ đó, sẽ xây dựng các miền nguồn và cơ sở tri nhận cũng như cơ chế ánh xạ chúng vào các miền ý niệm tình cảm VUI, TỨC, BUỒN, SỢ Với những
mô hình ẩn dụ tình cảm trong thành ngữ đang xét như: TÌNH CẢM LÀ NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG KHÔNG GIAN, TÌNH CẢM LÀ NHỮNG THỰC THỂ HỮU TÌNH, TÌNH CẢM LÀ HOẠT ĐỘNG CỦA ĐỘNG THỰC VẬT… Tuy nhiên, ngữ liệu nghiên cứu của luận án cần tiếp tục mở rộng và tiến hành phân tích đối chiếu kĩ hơn quá trình ý niệm hóa và diễn đạt từng miền tâm lí tình cảm trong mỗi ngôn ngữ
Công trình Nghiên cứu đối chiếu thành ngữ có từ chỉ "Nước" và "Lửa" trong tiếng Việt và tiếng Anh từ lí thuyết ẩn dụ tri nhận [25] của tác giả Huỳnh Ngọc Mai
Kha (2015) tác giả đã vận dụng một số lý thuyết về ẩn dụ tri nhận để khảo sát và tìm ra đặc điểm tri nhận của hai đất nước Việt và Anh thông qua các thành ngữ có
từ chỉ Nước và Lửa trong ngôn ngữ của hai dân tộc, chẳng hạn như: CHIẾN TRANH, SỰ KHÔNG BÌNH YÊN LÀ LỬA, TÌNH YÊU TRAI GÁI LÀ LỬA, SỰ HỦY DIỆT MẤT HẾT HY VỌNG VÀ ẢO TƯỞNG LÀ LỬA… Trên cơ sở đó, tác
Trang 29giả đã phân tích, nghiên cứu để chỉ ra những nét tương đồng và khác biệt về ẩn dụ tri nhận trong thói quen sử dụng ngôn ngữ và tư duy được thể hiện qua các thành ngữ có từ chỉ “Nước”, “Lửa” và các hiện tượng có liên quan trong tiếng Việt và tiếng Anh
Công trình Ẩn dụ ý niệm cảm xúc trong thành ngữ tiếng Việt (So sánh với thành ngữ tiếng Anh) [33] của tác giả Trần Thế Phi (2016), luận án đã chỉ ra cơ chế
ngữ nghĩa của thành ngữ biểu thị cảm xúc như: VUI, BUỒN, GIẬN, SỢ, YÊU trong tiếng Việt và tiếng Anh xuất phát từ kinh nghiệm cơ thể trong sự tương tác với văn hóa và môi trường dẫn đến sự tương đồng và khác biệt ở các ngôn ngữ Tác giả đã lựa chọn khảo sát các miền nguồn như: VẬT CHỨA, PHƯƠNG HƯỚNG, LỰC TÁC ĐỘNG, MÀU SẮC, NHIỆT ĐỘ và một số miền nguồn đặc trưng của từng loại cảm xúc Qua đó, giúp cho người đọc thấy được bức tranh ngôn ngữ của hai dân tộc Anh, Việt
Nhìn nhận một cách tổng quát, các công trình kể trên đã được các tác giả vận dụng lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận để ứng dụng vào những phạm trù khác nhau Thông qua đó, các tác giả không chỉ coi thành ngữ như là hiện tượng từ ngữ hay văn hóa, mà còn coi thành ngữ như là sản phẩm của hệ thống ý niệm Luận án Trần
Bá Tiến, Vi Trường Phúc, Trần Thế Phi chọn một phạm trù liên quan đến tâm lí tình cảm: VUI, BUỒN, TỨC, SỢ Các công trình này lấy ngay miền đích tâm lí tình cảm để xác lập, còn công trình nghiên cứu của chúng tôi là lấy miền nguồn là loài vật bên trong thành ngữ để thấy được giá trị ẩn dụ sẽ có những miền đích nào Chúng tôi kế thừa các công trình đi trước vì trong miền đích có miền tâm lí tình cảm chúng tôi có kế thừa một số vấn đề lý thuyết Nghiên cứu ngôn ngữ học tri nhận là vấn đề quan trọng nhất nhằm phản ánh những điểm tương đồng và khác biệt
về đặc trưng tư duy, ngôn ngữ và văn hóa của hai dân tộc
1.2 Cơ sở lý thuyết của luận án
1.2.1 Những vấn đề lý thuyết về ngôn ngữ học tri nhận
1.2.1.1 Phạm trù (category) và phạm trù hóa (categorization)
Phạm trù là khái niệm chung nhất phản ánh những thuộc tính và những quan hệ
cơ bản và phổ biến của các hiện tượng của nhận thức Các phạm trù tri nhận có một cấu trúc nội tại phức tạp, bao gồm các điển mẫu, các thí dụ đạt và thí dụ tồi và có ranh giới
mờ Các phạm trù tri nhận được gọi tên bởi các từ và các từ này cung cấp cho ta thông
Trang 30tin về các thuộc tính đặc trưng cho các phạm trù đó Việc áp dụng phương pháp điển mẫu trong việc nhận định các cấp độ phạm trù hóa, trong đó cấp độ cơ sở được xem là trung tâm để nghiên cứu các dạng khác nhau của hoạt động tri nhận đã thu được những thành công nhất định Bản chất của chúng được thể hiện ở chỗ:
1 Các phạm trù không biểu hiện sự phân chia võ đoán các sự vật và hiện tượng của thế giới khách quan; chúng phải được cơ sở trên những khả năng tri nhận của não
bộ con người
2 Các phạm trù tri nhận như màu sắc, hình dáng cũng như các sinh vật và các
sự vật cụ thể đều liên đới với các điển dạng nổi trội về mặt ý niệm vốn là một bộ phận trọng yếu để tạo thành các phạm trù
3 Ranh giới của các phạm trù là ranh giới mờ tức là các phạm trù lân cận không được tách bạch rõ ràng mà chúng lẫn vào nhau
4 Nằm giữa các điển dạng và các ranh giới, các phạm trù tri nhận gồm có các thành viên được đánh giá theo một thang độ về tính điển hình và được xếp hạng từ ví
dụ đạt đến ví dụ tồi
[37, tr.151] Ngôn ngữ học tri nhận đặc biệt quan tâm đến vấn đề phạm trù hóa Mục đích của quá trình phạm trù hóa là tập hợp các hiện tượng giống nhau về các mặt nào đó
để tạo thành những lớp lớn hơn Như vậy, chúng ta có thể hiểu rằng phạm trù hóa là quá trình con người tri nhận về thế giới xung quanh và phân loại chúng thành những phạm trù cơ bản Phạm trù hóa là quan niệm rất quan trọng trong quá trình miêu tả hoạt động nhận thức của con người, nó liên quan đến tất cả những năng lực và hệ thống tri nhận trong bộ máy tri nhận của nó, đối với những thao tác được diễn ra trong quá trình tư duy của con người
1.2.1.2 Tính nghiệm thân (embodiment)
Quan niệm nghiệm thân của ngôn ngữ học được đưa ra trên cơ sở của triết học nghiệm thân Với sự phát triển của khoa học tri nhận, những chứng cứ khoa học đồng tình với quan điểm của thuyết tiến hóa, khi cho rằng, tâm trí hoạt động và phát triển nhờ những khả năng thân thể và tâm trí cơ bản mang tính nghiệm thân Nguyên lí cốt lõi của khoa học tri nhận là “Dĩ nhân vi trung”, có nghĩa là lấy con người làm trung tâm Từ một số thành tựu trong ngành ngôn ngữ học tri nhận, Lakoff (1987) đã hình thành trải nghiệm luận hay hiện thực trải nghiệm luận, tác giả cho rằng: “Trong khi
Trang 31khách quan luận cho rằng nghĩa độc lập với bản chất và trải nghiệm của tư duy con người, hiện thực trải nghiệm luận lại quan niệm nghĩa theo hướng nghiệm thân; có nghĩa là theo các khả năng sinh học và các trải nghiệm mang tính vật lí và xã hội của con người trong môi trường” [48, tr.266-267]
Nghiệm thân được các nhà ngôn ngữ học tri nhận xây dựng nên trên quan điểm cho rằng những trải nghiệm là cơ sở cho sự phát triển ngữ nghĩa trong ngôn ngữ G Lakoff (1988) cho rằng: “Những cấu trúc dùng để kết nối hệ thống ý niệm của chúng ta nảy sinh từ những trải nghiệm thân thể và được hiểu theo những cách trải nghiệm thân thể; hơn nữa, bản chất cốt lõi của hệ thống ý niệm của chúng ta bắt nguồn trực tiếp từ tri giác, sự vận động của thân thể cùng sự trải nghiệm về những đặc trưng thể chất và xã hội” [49, tr.14]
Lakoff và Johnson (1999) trong công trình ―Philosophy in the flesh‖ đã đưa
ra quan niệm về thuật ngữ tính nghiệm thân (embodiment) như sau: “Ý niệm của con người không phải chỉ là một phản ánh của thực tại bên ngoài mà chúng còn được tạo thành hình dạng quan trọng bởi cơ thể và bộ não của chúng ta, đặc biệt là bởi hệ thống thần kinh của chúng ta” [51, tr.22], tính tương tác trong quá trình trải nghiệm của con người được bắt nguồn trong bối cảnh văn hóa xã hội cụ thể, bị ảnh hưởng bởi một chế ước văn hóa cụ thể Vì vậy khi xem xét kinh nghiệm trải nghiệm của con người là phải xem xét cả kinh nghiệm của cá thể và kinh nghiệm cộng đồng của người nói ngôn ngữ Có thể hiểu nghiệm thân là quá trình trải nghiệm mang tính tương tác giữa các cá thể với thế giới bên ngoài, cùng với hệ giá trị văn hóa của
xã hội mà con người đang sống để hình thành nên những mô hình tri nhận, trên cơ
sở đó sẽ tiến hành xây dựng nên các cấu trúc ý niệm và ngôn ngữ
Như vậy, nghiệm thân được hiểu là sự trải nghiệm của cơ thể con người tạo nên sự tri nhận khác biệt của con người về thế giới xung quanh, các ý nghĩa được tạo nên và quyết định phương thức con người hiểu biết thế giới Tóm lại, cơ sở tri nhận của con người phải được hiểu thông qua tính nghiệm thân
1.2.1.3 Điển mẫu (prototype)
Điển mẫu (prototype) liên quan trực tiếp tới vấn đề quy loại phạm trù, lý thuyết điển mẫu (prototype) ra đời như một cách giải quyết những tồn tại không thể
khắc phục trong lý thuyết phạm trù cổ điển của Aristotle Trong phạm vi ngữ nghĩa
học tri nhận, thuyết điển mẫu (prototype) khởi đầu từ giữa thập niên 1970, cùng với
Trang 32nghiên cứu ngôn ngữ học tâm lý của Eleanor Rosch về cấu trúc nội tại của các phạm trù Công trình này đã đánh dấu một thời kỳ mới về việc nghiên cứu nghĩa của từ Một ý niệm là một lược đồ trong nhận thức của con người thông qua điển mẫu với những đặc điểm tiêu biểu tùy theo mỗi phạm trù và khi gặp một sự vật mới
lạ thì con người thường đem ra để so sánh vật đó với điển mẫu có sẵn trong tâm trí của mình Như vậy, điển mẫu (prototype) là khái niệm gắn với phạm trù tri nhận và
sự phạm trù hóa Thành viên điển mẫu là thành viên điển hình, ở vị trí trung tâm của phạm trù Đó là thí dụ tốt nhất, điển hình nhất được thụ đắc đầu tiên trong ngôn ngữ trong đó trẻ em là đối tượng tiêu biểu
Theo F.Ungerer và H.J.Schmid: “thành viên điển mẫu của các phạm trù tri nhận
có số lượng lớn nhất các thuộc tính chung với các thành viên khác của phạm trù và có
số lượng nhỏ nhất các thuộc tính cùng xảy ra với các thành viên của phạm trù bên cạnh Điều đó có nghĩa là trong phạm vi của các thuộc tính, các thành viên điển mẫu khác biệt tối đa với các thành viên điển mẫu của các phạm trù khác.” [1, tr.233] Điển mẫu nên được xem như một biểu trưng của tri nhận, thường liên hệ đến một từ cụ thể và được dùng để xếp loại Do vậy, nghĩa của một từ cụ thể không xuất phát từ một điển mẫu cụ thể, mà từ biểu trưng của điển mẫu đó trong tâm trí của chúng ta Nếu xem thuyết điển mẫu là cấu trúc chìm của cấu trúc điển mẫu, chúng ta
có thể cho rằng thuyết điển mẫu chủ yếu là vấn đề phạm trù hóa nói chung và ngôn ngữ nói riêng Khi xét ngữ nghĩa của thành ngữ chúng ta thấy hiệu ứng điển mẫu
càng rõ nét Ví dụ trong câu: Tính ông ấy như Tào Tháo hàm chứa chỉ phẩm chất điển
mẫu của Tào Tháo là tính đa nghi, mặc dù trong thực tế, ngoài tính đa nghi Tào Tháo còn là một vị tướng tài ba
1.2.2 Những vấn đề lý thuyết về ẩn dụ tri nhận
1.2.2.1 Khái niệm về ẩn dụ tri nhận (cognitive metaphor)
Kế thừa các tư tưởng của Aristote, Richards, M.Black với các quan điểm so
sánh, thay thế và tương tác, Lakoff và Johnson (1980) với tác phẩm Metaphor We live by (Chúng ta sống trong ẩn dụ) đã khẳng định sự hiện diện của ẩn dụ ở mọi lúc
mọi nơi, trong ngôn ngữ, văn hóa và tư duy dân tộc Hai tác giả này lần đầu tiên đã giới thiệu thành công cho các nhà ngôn ngữ học trên thế giới một quan điểm mới về
lí thuyết ẩn dụ được gọi là ẩn dụ tri nhận (conceptual metaphor) (hay còn gọi là ẩn
dụ ý niệm) Các tác giả cho rằng, ADTN là phương thức của tư duy, là các ánh xạ
Trang 33có tính chất hệ thống giữa hai miền ý niệm: miền nguồn và miền đích Trong đó, miền nguồn là một phạm trù trải nghiệm được ánh xạ vào miền đích Thông thường, miền nguồn sẽ cụ thể hơn còn miền đích sẽ trừu tượng hơn, chẳng hạn như: THỜI
GIAN LÀ TIỀN BẠC (TIME IS MONEY), TRANH LUẬN LÀ CHIẾN TRANH (ARGUMENT IS WAR), TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH (LOVE IS A JOURNEY)… Các tác giả nhận định rằng, bản chất của ẩn dụ là việc hiểu và trải nghiệm một loại sự vật, hiện tượng này thông qua một loại sự vật, hiện tượng khác Lakoff và Johnson đã miêu tả ẩn dụ là một cơ chế giúp chúng ta tương tác và cảm nhận về thế giới xung quanh mình Lý thuyết này làm cho danh tiếng Lakoff vượt ra ngoài phạm vi thuần túy ngôn ngữ học, là một báo hiệu cho thấy có một sự thay đổi lớn trong nghiên cứu về ngôn ngữ trong mối liên hệ với các ngành khoa
học khác Năm 1987, trong tác phẩm Women, Fire and Dangerous Things (Đàn
bà, lửa và những thứ nguy hiểm) Lakoff cho rằng, chúng ta nhận thức thế giới
không chỉ thông qua những sự vật riêng lẻ mà còn thông qua những phạm trù của các sự vật, chúng ta có khuynh hướng quy một thực thể về những phạm trù đó
Năm 1997, với công trình Metaphor in Cognitive Linguistics (Ẩn dụ trong ngôn ngữ học tri nhận) hai tác giả Gibbs và Centner đã đưa ra các cách đánh giá để xác
định tại sao một số ẩn dụ này lại tốt hơn ẩn dụ khác, phục vụ cho mục đích nhận thức Thông qua những phân tích có hệ thống về những biểu thức ngôn ngữ khác nhau, các tác giả đã chỉ ra cách ẩn dụ hình thành ý niệm hóa về những ý niệm trừu tượng của con người như thế nào
1.2.2.2 Bản chất và cấu trúc của ẩn dụ tri nhận
Vào năm 1992, trong bài viết The contemporary theory of metaphor (Lý thuyết hiện đại về ẩn dụ), Lakoff đã tổng kết những luận điểm quan trọng về bản chất của
ẩn dụ tri nhận như sau:
a Bản chất của ẩn dụ tri nhận
+ Ẩn dụ là cơ chế chủ yếu mà qua đó chúng ta hiểu được các ý niệm trừu tượng + Đa phần mọi vấn đề, từ điều bình thường nhất đến lý thuyết khoa học thâm thúy nhất, chỉ có thể được hiểu thông qua ẩn dụ
+ Bản chất của ẩn dụ về cơ bản là ý niệm, chứ không phải là ngôn ngữ
+ Ẩn dụ ngôn ngữ chỉ là một biểu hiện bề mặt của ẩn dụ ý niệm
Trang 34+ Mặc dù phần lớn hệ thống ý niệm của chúng ta (mang tính) ẩn dụ, một phần đáng kể của hệ thống này là phi ẩn dụ Sự hiểu biết ẩn dụ được căn cứ vào sự hiểu biết phi ẩn dụ
+ Ẩn dụ cho phép chúng ta hiểu một vấn đề tương đối trừu tượng hoặc vốn không
có cấu trúc dưới dạng một vấn đề cụ thể hơn, hoặc ít nhất là có cấu trúc cao hơn
b Cấu trúc của ẩn dụ tri nhận
+ Ẩn dụ là sự chiếu xạ giữa các miền ý niệm
+ Những chiếu xạ đó không đối xứng và cục bộ
+ Mỗi chiếu xạ là một tập hợp cố định các tương đương bản thể giữa các thực
thể trong một miền nguồn và các thực thể trong một miền đích
+ Khi các tương đồng được kích hoạt, các chiếu xạ có thể phóng chiếu mô
hình miền nguồn lên mô hình miền đích
+ Chiếu xạ ẩn dụ tuân theo nguyên lý bất biến: những cấu trúc lược đồ hình
ảnh của miền nguồn được phóng chiếu lên miền đích theo cách phù hợp với cấu trúc
cố hữu của miền đích
+ Các chiếu xạ có nguồn cội ở thân xác, kinh nghiệm hàng ngày và tri thức của chúng ta
+ Một hệ thống ý niệm có thể chứa hàng ngàn chiếu xạ, tạo nên một tiểu hệ thống cấu trúc chặt chẽ trong hệ thống ý niệm
+ Có hai loại chiếu xạ: chiếu xạ ý niệm và chiếu xạ hình ảnh; cả hai đều tuân theo nguyên lý bất biến
[37, tr.108 - 109]
1.2.2.3 Phân loại ẩn dụ tri nhận
Theo George Lakoff và Mark Johnson (1980), ADTN có 3 loại sau đây:
a Ẩn dụ cấu trúc (structural metaphor):
Ẩn dụ cấu trúc là loại ẩn dụ khi nghĩa của một khái niệm này được hiểu thông qua một khái niệm khác Nói cách khác, ẩn dụ cấu trúc là hiện tượng cấu trúc lại ý niệm ở miền ĐÍCH về mặt nghĩa sau khi nhận được những tri thức mới do ý niệm ở miền NGUỒN ánh xạ lên
Ví dụ: TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH cho phép chúng ta hiểu rằng ý niệm
nguồn CUỘC HÀNH TRÌNH với các nét đặc trưng như: con đường (dài, gập ghềnh), quãng đường (gần, xa), ngã rẽ (ngã ba, ngã tư), các phương tiện đi lại (tàu, thuyền, xe cộ,…), đích đến,…, được đem gán cho ý niệm đích TÌNH YÊU Do đó, TÌNH YÊU lúc
Trang 35này cũng có những nét đặc trưng đó Sau đây là mô hình ánh xạ ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ
CUỘC HÀNH TRÌNH (phỏng theo Lakoff, 1993)
Sơ đồ 1.1.Sơ đồ ánh xạ ẩn dụ TÌNH YÊU LÀ CUỘC HÀNH TRÌNH
[18, tr.16]
b Ẩn dụ định hướng (orientational metaphor):
Ẩn dụ định hướng là tổ chức cả một hệ thống ý niệm trong mối tương quan với
nhau, trong đó có nhiều ẩn dụ liên quan đến việc định hướng không gian như: lên -
xuống, cao - thấp, trong - ngoài, trước - sau, trên - dưới, nông - sâu
Ví dụ: Định hướng lên - xuống
HẠNH PHÖC LÀ HƯỚNG LÊN CAO, BUỒN LÀ HƯỚNG XUỐNG THẤP
- Thi xong, người tôi cứ lâng lâng [28, tr.94]
- Gặp cô ấy, tôi cảm thấy bay bổng trên chín tầng mây [28, tr.94]
- Mỗi lần nó hỏi tiền là bố mẹ lại nặng mặt [28, tr.94]
- Nó không thể cất được cảm giác nặng nề mỗi lần nghĩ đến chuyện xin việc
[28, tr.94]
Ẩn dụ định hướng khác với ẩn dụ cấu trúc ở chỗ nó là một loại ẩn dụ ý niệm
khi không có sự xếp đặt lại về mặt cấu trúc một ý niệm này trong thuật ngữ của một
ý niệm khác, nhưng có tồn tại tổ chức của cả một hệ thống ý niệm theo mẫu của một
hệ thống ý niệm nào đó khác
c Ẩn dụ bản thể (ontological metaphor):
Ẩn dụ bản thể là tình trạng bản thể dẫn đến các phạm trù chung của các khái
niệm đích trừu tượng Hay chúng ta thường diễn đạt trải nghiệm của chúng ta dưới
dạng sự vật, chất liệu, vật chứa
Ví dụ: - Tôi không dính líu vào cuộc cãi vã này [28, tr.92]
Trang 361.2.2.4 Sơ đồ tỏa tia
Khái niệm tỏa tia là trọng tâm của ngữ nghĩa học tri nhận Chủ trương của NNHTN đối với việc nghiên cứu ngôn ngữ là nên tuân theo sự nghiệm thân, nhận thức và ý niệm hóa của con người về thế giới Các nhà ngôn ngữ học rất quan tâm nghiên cứu đến hiện tượng đa nghĩa của từ Sơ đồ tỏa tia của ý niệm là sự khái quát biến chuyển ý nghĩa của một đơn vị ngôn ngữ dựa trên sự phân biệt của các thành tố nghĩa và mối liên hệ giữa ý nghĩa của nguyên mẫu, ý nghĩa chính và các nghĩa phái sinh
Taylor (2003) và Lakoff (1992) cho rằng, nghĩa của từ thuộc phạm trù ngữ nghĩa Các nghĩa không giống nhau của một từ sẽ tương ứng với các thành viên không giống nhau của phạm trù Lý thuyết của Taylor chỉ dừng lại trên chuỗi ngữ nghĩa tuyến tính đối với việc phân tích mở rộng từ đa nghĩa Còn theo lý thuyết của Lakoff thì chỉ ra rằng nghĩa có tính nghĩa gốc cao sẽ gần với nghĩa gốc trung tâm, nghĩa có tính nghĩa gốc thấp sẽ xa với nghĩa gốc trung tâm
Sơ đồ 1.2 Mô hình tỏa tia của “TRÂU”
Trong sơ đồ tỏa tia trên mỗi đặc trưng được minh họa bằng một điểm mốc và được thể hiện bằng một dấu chấm tròn, các mũi tên có vai trò liên kết các điểm mốc thể hiện các mối quan hệ giữa các nghĩa thành viên
1.2.2.5 Mô hình tri nhận
Theo lý thuyết của Lakoff, mô hình tri nhận là phương thức tri nhận được hình thành trên cơ sở các tác động tương hỗ giữa con người với thế giới bên ngoài, tạo thành các phương thức tổ chức và biểu đạt kinh nghiệm của con người, vì vậy Lakoff gọi đây là mô hình tri nhận ý tưởng hóa Dựa vào lập luận của Lakoff (1987)
ta có ba kiểu mô hình tri nhận thường gặp trong quá trình ý niệm hóa, đó là:
Trang 37- Mô hình cấu trúc mệnh đề: cấu trúc tri thức về quan hệ giữa ý niệm với ý niệm được biểu hiện bằng mô hình mệnh đề
- Mô hình sơ đồ hình ảnh: mọi sơ đồ hình ảnh đều liên quan đến cấu trúc không gian, vì vậy mọi kiến thức có liên quan đến quan hệ không gian, sự chuyển dịch, hình dạng đều được lưu giữ bằng loại mô hình này
- Mô hình ẩn dụ: một mệnh đề hay một sơ đồ hình ảnh hình thành một mô hình ẩn dụ dựa trên cấu tạo tương ứng của một phóng chiếu từ vùng tri nhận này lên vùng tri nhận khác Mô hình ẩn dụ được dùng để ý niệm hóa, giải thích và suy luận
về các sự vật trừu tượng
[96, tr.122]
Mô hình tri nhận giúp chúng ta lí giải các hiện tượng ngữ nghĩa và các ý niệm,
có ý niệm được giải thích trực tiếp nhưng có những ý niệm phức tạp cần sử dụng mối quan hệ giữa chúng với các ý niệm trực tiếp mà ẩn dụ là điển hình
1.2.3 Những vấn đề lý thuyết về thành ngữ
1.2.3.1 Quan niệm về thành ngữ
1.2.3.1.1 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Việt
Chúng ta có thể tìm thấy khá nhiều quan niệm về thành ngữ tiếng Việt được các nhà nghiên cứu trình bày trong các sách nghiên cứu cũng như trong tạp chí ngôn ngữ Về cơ bản, các khái niệm đều có nội dung chính, nêu rõ đặc điểm của thành ngữ là những cụm từ cố định Có thể nêu ra một số quan niệm như sau:
Tác giả Nguyễn Như Ý (1999) trong quyển ―Đại từ điển Tiếng Việt‖ đã cho rằng: ―Thành ngữ là tập hợp từ cố định quen dùng có ý nghĩa định danh gọi tên sự vật, thường không thể suy ra từ nghĩa của từng yếu tố cấu tạo thành và được lưu truyền trong dân gian và văn chương‖ [42, tr.1530]
Tác giả Hoàng Phê (2002) trong quyển ―Từ điển tiếng Việt‖ lại quan niệm
về thành ngữ:―Thành ngữ là một tập hợp từ cố định đã quen dùng, mà nghĩa thường không được giải thích được một cách đơn giản bằng nghĩa các từ tạo nên nó‖ [31, tr.915]
Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (2003) trong quyển ―Từ vựng học‖ đã chỉ rõ:
―Thành ngữ là những cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm‖ [8, tr.77]
Trang 38Trong khi đó, tác giả Hoàng Văn Hành (2004) trong quyển Thành ngữ học tiếng Việt đã định nghĩa thành ngữ: ―Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững về hình thái - cấu trúc, hoàn chỉnh và bóng bẩy về ý nghĩa được sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ‖ [10, tr.27]
Tác giả Mai Ngọc Chừ (Chủ biên) (2007) trong quyển Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt đã định nghĩa thành ngữ: ―Cụm từ cố định, hoàn chỉnh về cấu trúc và ý nghĩa Nghĩa của chúng có tính hình tượng hoặc/ và gợi cảm‖ [6, tr.157]
Các quan niệm về thành ngữ của các tác giả nêu trên mặc dù có đôi chỗ chưa thống nhất nhưng là những ý kiến quý báu để nhận diện thành ngữ Những quan niệm đó đều làm sáng tỏ đặc điểm của thành ngữ: thành ngữ là những cụm từ cố định có kết cấu ổn định, chặt chẽ, bất biến không thể tách rời nhau và là đơn vị có sẵn trong kho từ vựng tiếng Việt Mỗi thành ngữ có một ý nghĩa nhất định, hoàn chỉnh dùng để gọi tên sự vật, trạng thái, tính chất, hành động
Vì mục đích của đề tài “Thành ngữ có yếu tố chỉ loài vật trong tiếng Hán và tiếng Việt từ lý thuyết ngôn ngữ học tri nhận” để tiện cho việc nghiên cứu và khảo
sát chúng tôi dựa vào ba tiêu chí sau:
1 Hình thức: thành ngữ thể hiện là một cụm từ cố định (tương đương với từ)
2 Nội dung: thành ngữ diễn đạt một khái niệm
3 Chức năng: thành ngữ có chức năng định danh dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất, hành động và có tính hình tượng
Tuy nhiên, một số đặc điểm của thành ngữ cũng có trong các đơn vị ngôn ngữ khác như: quán ngữ, tục ngữ Do đó, cần phải có sự phân biệt thành ngữ với những đơn vị ngôn ngữ này
Phân biệt thành ngữ với quán ngữ: tác giả Đỗ Hữu Châu (2007) trong cuốn Giáo trình từ vựng học tiếng Việt đã viết: ―Quán ngữ là các ngữ cố định phần lớn không có từ trung tâm, không có kết cấu Chúng là những công thức nói lặp đi lặp lại với những từ ngữ tương đối cố định, không có tác dụng định danh cũng không có tác dụng sắc thái hóa sự vật, hoạt động, tính chất, trạng thái mà chủ yếu là để đưa đẩy, liên kết, để chuyển ý, để thể hiện hành động nói khác nhau và nhất là đảm nhiệm chức năng rào đón‖ [4, tr.80] Quán ngữ là một tổ hợp từ cố định, ví dụ như: nói khí
vô phép, nói trộm vía, chẳng có lí do gì, tóm lại, đáng chú ý là… được sản sinh trong
quá trình giao tiếp, vì thế nó có thể mang theo tất cả những đặc điểm được thể hiện
Trang 39trong giao tiếp và chịu sự chế định từ các yếu tố lời nói Như vậy, sự khác biệt lớn nhất giữa thành ngữ và quán ngữ là ở chỗ, quán ngữ không có chức năng định danh dùng để gọi tên sự vật, hiện tượng… mà chỉ cách nói, cách diễn đạt nhằm mục đích đưa đẩy hoặc gây sự chú ý trong tình huống giao tiếp
mối quan hệ chằng chéo qua lại, nhiều khi phức tạp nên khó có sự phân biệt rạch ròi giữa chúng Đó cũng là nguyên nhân vì sao vẫn chưa có sự thống nhất ý kiến giữa các nhà nghiên cứu về vấn đề này Đối với việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ căn
cứ trên ba phương diện Về mặt hình thức, thành ngữ là một cụm từ cố định (tương đương với từ), còn tục ngữ là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng
Về mặt nội dung, thành ngữ diễn đạt một khái niệm, còn nội dung ý nghĩa của tục ngữ là gần với một thông báo hoàn chỉnh Về mặt chức năng, thành ngữ có chức năng định danh, còn chức năng của tục ngữ là chức năng thông báo
Tóm lại, với những phân tích trên, ranh giới giữa thành ngữ với các đơn vị ngôn ngữ khác như: quán ngữ, tục ngữ là khá rõ ràng Vì mục đích nghiên cứu của
đề tài, chúng tôi khảo sát những từ điển thành ngữ tiếng Việt có uy tín và được nhiều người chấp nhận để làm ngữ liệu nghiên cứu cho đề tài luận án
1.2.3.1.2 Quan niệm về thành ngữ trong tiếng Hán
Trong khi đó người Trung Quốc lại quan niệm về thành ngữ như sau:
Tác giả 陆尔奎 (Lục Nhĩ Khuê) và 方毅等 (Phương Nghị Đẳng) (1915)
trong quyển ―辞源‖ (Từ Nguyên) đã quan niệm: ―Thành ngữ là cổ ngữ, phàm những gì lưu hành trong xã hội, dẫn đến biểu thị ý nghĩa của mình đều là thành ngữ‖ [74, tr.653]
Tác giả 胡育受 (Hồ Dục Thụ) (1939) trong quyển ―现代汉语‖ (Tiếng Hán hiện đại) cho rằng: ―Thành ngữ là một loại từ tổ nhất định, tính chất của nó gần với quán ngữ, thường được sử dụng như một đơn vị với ý nghĩa hoàn chỉnh, nhưng so với quán ngữ thì thành ngữ có tính cố định hơn Thông thường thì thành ngữ có kết cấu chặt chẽ, không thể tùy ý thay đổi các thành phần khác, cũng không như quán ngữ có thể tách rời hoặc chen vào một số thành phần khác‖ [68, tr.175]
Trang 40Tác giả 巢峰 (Sào Phong) (1979) trong quyển―辞海‖ (Từ Hải) định nghĩa thành ngữ là: ―Thành ngữ thuộc một loại của thục ngữ, là những từ cố định hoặc đoản cú có kết cấu ngắn gọn, ý nghĩa súc tích, lâu nay được xã hội quen dùng‖ [57, tr.690]
Tác giả 倪宝元 (Nghê Bảo Nguyên) và 姚鹏慈 (Diêu Bằng Từ) (1990) trong
quyển ―成语九章‖ (Thành ngữ cửu chương) lại quan niệm rằng: ―Thành ngữ là những từ tổ cố định, được mọi người lâu nay quen dùng, có ý nghĩa hoàn chỉnh, kết cấu ổn định, hình thức ngắn gọn, được sử dụng như một chỉnh thể‖ [78, tr.6]
Tác giả 吕叔湘 (Lã Thúc Tương) và 丁声树 (Đinh Thanh Thụ) (2005) trong
quyển ―现代汉语词典‖ (Từ điển Hán ngữ hiện đại) định nghĩa thành ngữ là:―Thành ngữ là những tổ từ hay đoản cú cố định, hình thức ngắn gọn, ý nghĩa sâu sắc, mà được mọi người lâu nay quen dùng Thành ngữ tiếng Hán phần lớn là bốn âm tiết và thường có nguồn gốc xuất xứ‖ [75, tr.236]
Với những quan niệm của các tác giả vừa nêu trên, chúng tôi có thể tập hợp những đặc điểm của thành ngữ tiếng Hán như sau:
1 Hình thức: thành ngữ thể hiện là một đoản ngữ (hoặc gọi là từ tổ, cụm từ cố định) được sử dụng với tư cách tương đương với từ
2 Nội dung: thành ngữ biểu đạt một khái niệm, có tính chất miêu tả
3 Kết cấu: chặt chẽ, không thể tùy ý thay đổi các thành phần khác, phần lớn là bốn âm tiết và thường có nguồn gốc xuất xứ
Vì một số đặc điểm của thành ngữ cũng có trong các đơn vị ngôn ngữ khác như: quán dụng ngữ, tục ngữ Do đó, cần phải có sự phân biệt thành ngữ với những đơn vị ngôn ngữ này
Phân biệt thành ngữ với quán dụng ngữ: việc phân biệt thành ngữ với quán
dụng ngữ chủ yếu dựa vào ba tiêu chí Về hình thức: thành ngữ thể hiện một là cụm
từ cố định được sử dụng tương đương với từ, còn quán dụng ngữ có thể tách rời hoặc chen một số thành phần khác vào Về nội dung: thành ngữ biểu đạt một ý niệm
và hoàn chỉnh về mặt ngữ nghĩa, còn quán dụng ngữ thì hầu như phải thông qua con đường ẩn dụ để có được ý nghĩa Về kết cấu: thành ngữ phần lớn là bốn âm tiết và thường có nguồn gốc xuất xứ, còn quán dụng ngữ chủ yếu là ba âm tiết thường có tính chất khẩu ngữ, phương ngữ