1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

NGHIÊN CỨU QUẢN LÝ, SỬ DỤNG VỈA HÈ TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP (TÓM TẮT BÁO CÁO NGHIỆM THU)

39 83 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Quản Lý, Sử Dụng Vỉa Hè Trên Địa Bàn Thành Phố Hồ Chí Minh: Thực Trạng Và Giải Pháp
Tác giả Ths. Nguyễn Mai Anh, Ts. Dư Phước Tân, KS. Đào Thị Hồng Hoa, Ths. Ks. Đỗ Diệp Gia Hợp, Ths. Vương Tịnh Mạch, Ths. Nguyễn Văn Quốc Thái, Ths. Trương Thanh Thảo, Ths. Nguyễn Thị Cẩm Vân, Ths. KTS. Lê Hồng Nhật, Ths. Trần Nhật Nguyên, Ths. Trịnh Thị Minh Châu, CN. Đoàn Diệp Thùy Dương, CN. Phan Đình Phước
Trường học Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Thể loại tóm tắt báo cáo nghiệm thu
Năm xuất bản 2017
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 39
Dung lượng 1,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 2. Mục tiêu nghiên cứu (5)
  • 3. Phương pháp nghiên cứu (6)
  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ (8)
    • 1.1 Các chức năng của vỉa hè (8)
    • 1.2 Những yếu tố tác động đến sử dụng vỉa hè (8)
    • 1.3 Cơ sở lý luận về giải pháp quản lý sử dụng vỉa hè (9)
  • CHƯƠNG 2. KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ (12)
    • 2.1 Kinh nghiệm quy hoạch (12)
    • 2.2 Kinh nghiệm tổ chức không gian vỉa hè dành cho người đi bộ (12)
    • 2.3 Kinh nghiệm quản lý vỉa hè tại một số quốc gia châu Á (15)
    • 2.4 Kinh nghiệm về Quản lý đậu xe trên đường phố (18)
  • CHƯƠNG 3. THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM (20)
    • 3.1 Thực trạng vỉa hè hiện nay tại TP.HCM (20)
    • 3.2 Thực trạng sử dụng vỉa hè (21)
    • 3.3 Thực trạng quản lý nhà nước về sử dụng vỉa hè hiện nay tại TP.HCM (22)
  • CHƯƠNG 4. CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM (26)
    • 4.1 Giải pháp 1 - Xác định các đoạn đường được phép sử dụng tạm thời ngoài mục đích giao thông (26)
    • 4.2 Giải pháp 2: Xác định không gian các hoạt động hàng rong (28)
    • 4.3 Giải pháp 3: Xác định không gian các hoạt động đậu xe có và không thu phí 24 (28)
    • 4.4 Giải pháp 4: Ban hành quy định về trưng bày hàng hóa, bàn ăn trên vỉa hè (0)
    • 4.5 giải pháp 5: Ban hành quy định về bán hàng rong (29)
    • 4.6 Giải pháp 6: Áp dụng mô hình hợp tác công tư trong quản lý đậu xe trên đường phố (30)
    • 4.7 Giải pháp 7: Xây dựng chính sách mới cho Đội Quản lý đô thị Quận – Huyện 26 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ (30)
    • 1. Kết luận (32)
    • 2. Kiến nghị (33)
  • Tài liệu tham khảo (35)

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu 1: Đánh giá thực trạng sử dụng và thực trạng quản lý sử dụng vỉa hè trên các tuyến đường thuộc địa bàn TP.HCM

Mục tiêu 2: Đề xuất giải pháp quản lý sử dụng vỉa hè hiệu quả tại TP.HCM

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 2

Phương pháp nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu ứng dụng này sử dụng phương pháp khảo sát thực tiễn và phân tích các văn bản quản lý nhà nước hiện hành để xác định những tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý vỉa hè Nhiều quốc gia và thành phố trên thế giới đã gặp phải những khó khăn tương tự như thành phố Hồ Chí Minh, do đó, kinh nghiệm từ các nơi này sẽ được phân tích để đánh giá khả năng áp dụng và thích nghi trong bối cảnh cụ thể của thành phố.

Phương pháp tổng hợp tài liệu được áp dụng để làm rõ thực trạng vỉa hè tại thành phố, đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm quản lý vỉa hè từ một số tỉnh thành Các tài liệu trong nước, bao gồm số liệu thống kê và báo cáo từ Sở Giao thông vận tải, Ban An toàn giao thông, và Ủy ban nhân dân quận/huyện, sẽ được sử dụng để đánh giá công tác đảm bảo trật tự lòng đường và vỉa hè.

Các tài liệu nước ngoài sẽ cung cấp thông tin quan trọng về các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng vỉa hè ngoài mục đích giao thông Ngoài ra, chúng còn chia sẻ kinh nghiệm quy hoạch, tổ chức không gian và quản lý vỉa hè từ các thành phố trên thế giới, đặc biệt là những thành phố châu Á có bối cảnh phát triển tương tự như TP.HCM.

3.2 Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi

Khảo sát vỉa hè được thực hiện nhằm thu thập thông tin chính xác về thực trạng sử dụng và quản lý vỉa hè từ những người sử dụng trực tiếp Nhóm khảo sát đã tiến hành phỏng vấn 407 người thuộc ba đối tượng: hộ kinh doanh buôn bán trưng bày hàng hóa, hàng rong cố định và hàng rong di động Khu vực khảo sát bao gồm Quận 1, Quận Gò Vấp, Quận Bình Tân và các điểm nóng như Chợ Thái Bình, Chợ An Đông, Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Nhi Đồng 1.

Nội dung khảo sát chính bao gồm:

Thông tin chi tiết về từng loại hình kinh doanh buôn bán bao gồm loại hàng hóa, mặt hàng cụ thể, thời gian hoạt động trong ngày, trang thiết bị sử dụng, và vị trí vỉa hè Các yếu tố cần xem xét gồm chiều dài, chiều rộng, chiều cao, diện tích vỉa hè sử dụng, cũng như diện tích chiếm chỗ của thiết bị kinh doanh Ngoài ra, mối quan hệ với chủ nhà mặt tiền và công trình mặt tiền, cũng như sự tương tác với khách hàng cũng rất quan trọng.

- Thông tin về các loại thuế, phí hiện nay người sử dụng vỉa hè đang chi trả

- Thông tin về tập huấn kỹ năng (phòng cháy chữa cháy, môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, …)

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 3

- Thông tin về quản lý vỉa hè của các cơ quan chức năng

- Thông tin về khả năng trả phí và ý kiến về các giải pháp quản lý vỉa hè bao gồm đăng ký sử dụng, phí và hình thức trả phí

3.3 Phương pháp khảo sát bằng phiếu quan sát

Phiếu quan sát tập trung nhằm xác định nhu cầu sử dụng vỉa hè theo thời gian trong ngày, là phương pháp nhanh chóng và chính xác Nghiên cứu đã thực hiện 684 phiếu khảo sát trên 57 tuyến đường thuộc 19 quận nội thành và khu vực phát triển, với mỗi tuyến dài khoảng 0,5km Tiêu chí lựa chọn tuyến đường được xác định cụ thể để đảm bảo tính đại diện của dữ liệu thu thập.

- Theo chiều rộng vỉa hè: Lựa chọn trong mỗi quận 3 tuyến đường, 2 tuyến có chiều rộng vỉa hè > 3m và 1 tuyến có chiều rộng vỉa hè < 3m

- Theo hiện trạng sử dụng: phần lớn công trình hai bên đường sử dụng vỉa hè vào mục đích ngoài giao thông

- Ưu tiên lựa chọn tuyến đường trọng điểm của thành phố

Khảo sát vỉa hè được thực hiện vào 3 thời điểm trong ngày, bao gồm buổi sáng (7h-9h), buổi chiều (12h-14h) và buổi tối (18h-20h), tại 2 bên đường vào một ngày trong tuần và một ngày cuối tuần.

Phương pháp khảo sát bằng phỏng vấn được thực hiện với đối tượng là các phụ trách Đội QLTTĐT, những người có trách nhiệm trực tiếp quản lý vỉa hè tại địa phương Mục tiêu là làm rõ những khó khăn và bất cập hiện tại trong công tác quản lý vỉa hè Các Đội QLTTĐT được phỏng vấn bao gồm Đội QLTTĐT Quận 3, 5 và Gò Vấp Thông tin chi tiết về các câu hỏi phỏng vấn có thể tham khảo trong Phụ lục 3.

Để quản lý hiệu quả vỉa hè, cần tham khảo ý kiến từ các chuyên gia thông qua hội thảo về quản lý sử dụng vỉa hè Các giải pháp đề xuất sẽ được đánh giá dựa trên việc chấm điểm từng phương án Đội ngũ chuyên gia tham gia đánh giá bao gồm đại diện từ Phòng Quản lý đô thị quận – huyện và các chuyên gia về quản lý cũng như quy hoạch đô thị.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 4

TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ

Các chức năng của vỉa hè

Vỉa hè có nhiều chức năng khác nhau, tạo thành nét sống động, nét đặc trưng cho thành phố:

- Chức năng đảm bảo an toàn giao thông cho người đi bộ

- Không gian bố trí hệ thống cây xanh, hạ tầng kỹ thuật đô thị

- Không gian sinh hoạt cộng đồng

- Kết nối với các không gian khác

- Không gian diễn ra các hoạt động kinh tế

Vỉa hè không chỉ đơn thuần là không gian dành cho người đi bộ và hệ thống hạ tầng kỹ thuật; nếu các chức năng khác bị coi nhẹ hoặc loại trừ, sẽ dẫn đến xung đột không cần thiết, vì những chức năng này vẫn tồn tại trong thực tế.

Những yếu tố tác động đến sử dụng vỉa hè

Các yếu tố tác động đến sử dụng vỉa hè bao gồm:

Yếu tố tự nhiên, đặc biệt là nhiệt độ, đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến sự tiện nghi của người dân khi sử dụng vỉa hè (Hui & Jie, 2004) Ngoài ra, gió và mưa cũng là những yếu tố tự nhiên có tác động lớn đến sự thoải mái của con người trong các không gian chuyển tiếp đô thị, bao gồm cả vỉa hè (Kray và cộng sự, 2013).

TP.HCM đã trải qua nhiều biến cố lịch sử ảnh hưởng đến tình trạng vỉa hè hiện nay Trước năm 1975, sự đô thị hóa diễn ra nhanh chóng, dẫn đến nhiều biến động trong kinh tế - xã hội, đặc biệt là sự gia tăng của dòng nhập cư Người dân nghèo phải sống chen chúc trong những căn nhà chật hẹp, và hạ tầng kém phát triển Ở các khu vực ngoại ô, vỉa hè không được chú trọng, trở thành nguồn thu nhập chính cho người lao động nghèo Từ năm 1975 đến nay, thành phố đối mặt với quy hoạch vỉa hè cũ của Pháp, không còn đáp ứng đủ nhu cầu dân số và phương tiện cá nhân ngày càng tăng, buộc vỉa hè phải linh động hơn (Phạm Sỹ Liêm, 2016) Kinh tế vỉa hè vẫn tiếp tục phát triển sau nhiều thập kỷ hình thành.

Yếu tố văn hóa xã hội đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người nông thôn Việt Nam, khi họ vẫn duy trì thói quen tụ họp ngay cả khi chuyển lên thành phố Theo P S.TS Nguyễn Văn Huy, việc sử dụng vỉa hè như không gian giao lưu, tương tự như gốc đa làng, cho thấy sự kết nối cộng đồng mạnh mẽ Hơn nữa, thói quen tiêu dùng hàng rong và các quán ăn trên vỉa hè cũng phản ánh nét văn hóa đặc trưng của người dân nơi đây.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 5 đặc trưng của người Việt, là nét văn hóa không thể tách rời với đời sống của họ (Kim,

Kinh tế có ảnh hưởng lớn đến sự tồn tại và phát triển của vỉa hè, đồng thời vỉa hè cũng tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế của cư dân đô thị Theo Annette Kim, năm 2014, TP HCM ghi nhận hơn 3.800 hoạt động vỉa hè tại 6 phường, với kết quả phỏng vấn 250 người bán hàng rong cho thấy có trên 150 hoạt động vỉa hè tập trung ở khu vực trung tâm thành phố.

Kinh tế vỉa hè tại Hồ Chí Minh, đặc biệt ở quận 1 và quận 5, đóng vai trò quan trọng trong an sinh xã hội, cung cấp 20% việc làm và lương thực cho thành phố (Kim, 2014) Nó không chỉ tạo ra hồn đô thị mà còn phản ánh đặc trưng kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương Điều này có ý nghĩa lớn đối với ngành du lịch, khi khách du lịch, đặc biệt là người nước ngoài, thường tìm kiếm những nét văn hóa độc đáo của thành phố mà họ thăm Kinh tế vỉa hè, với các dịch vụ và ẩm thực phong phú, đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của kinh tế du lịch.

Phương tiện giao thông đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày, đặc biệt tại các quốc gia như Việt Nam, nơi xe máy là phương tiện chủ yếu Tại TP.HCM, người dân dễ dàng dừng lại và leo lên vỉa hè, tạo điều kiện thuận lợi để tiếp cận các dịch vụ kinh tế vỉa hè Ngoài ra, vỉa hè ở TP.HCM còn được tận dụng để đậu xe gắn máy, với nhiều khu vực kinh doanh bãi đậu xe ngay trên vỉa hè.

Chính sách quản lý đô thị ở các nước đang phát triển chủ yếu tập trung vào việc kiểm soát hoạt động bán hàng rong trên vỉa hè Những chính sách này có thể dẫn đến tiêu cực, như lạm dụng quyền lực, yêu cầu hối lộ, bắt giữ và tịch thu hàng hóa, thậm chí bạo lực, nhưng cũng có những nỗ lực tích cực nhằm đưa hoạt động bán hàng vào trật tự Bên cạnh đó, việc cải thiện cơ sở hạ tầng và dịch vụ công đô thị, bao gồm cung cấp nước sạch, điện, xử lý rác thải và nhà vệ sinh, cũng là một phần quan trọng trong chính sách quản lý đô thị.

Các yếu tố này thay đổi giữa các thành phố và qua từng giai đoạn lịch sử, dẫn đến sự khác biệt rõ rệt và ảnh hưởng đến các hoạt động tích cực lẫn tiêu cực trên vỉa hè.

Cơ sở lý luận về giải pháp quản lý sử dụng vỉa hè

1.3.1 Giải pháp quy hoạch và tổ chức không gian

Cơ sở hạ tầng đóng vai trò quan trọng trong quy hoạch, nơi nhà quy hoạch thực hiện các điều chỉnh và sửa chữa về mặt vật lý và kỹ thuật Những thay đổi này không chỉ cải thiện cơ sở vật chất mà còn có thể dẫn đến những biến chuyển đáng kể trong hành vi và xã hội.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh khuyến khích các nhà quy hoạch tích hợp các mục tiêu nhằm bảo đảm sự đa dạng về văn hóa và sử dụng hiệu quả vỉa hè.

Theo nghiên cứu của Huỳnh Thế Du (2012), TP.HCM thể hiện sự phân bố nhà ở tích cực, không có sự phân hóa sâu sắc giữa các nhóm cư dân có điều kiện kinh tế - xã hội khác nhau Điều này tạo ra thuận lợi cho các nhà quy hoạch tại Việt Nam.

Vỉa hè đóng vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, là nơi giao lưu của người dân địa phương, bao gồm cả những người sống và làm việc tại khu vực đó Tuy nhiên, các tương tác này có thể dẫn đến mâu thuẫn giữa các nhóm với mục đích sử dụng khác nhau Để giải quyết tranh chấp, nhà quy hoạch thường dựa vào các quy định về quyền sở hữu tài sản và sử dụng đất, nhưng điều này có thể dẫn đến sự thiên vị cho những chủ sở hữu tài sản hoặc những người có quyền lực trong xã hội.

Nhà quy hoạch nên lấy cảm hứng từ sự đa dạng và sôi nổi của hoạt động hàng rong trên vỉa hè thay vì cố gắng kiểm soát chúng Dự án MIT sLAB của Viện Kỹ thuật Massachusetts đã nghiên cứu và xây dựng bản đồ phân bố không gian và thời gian của các hoạt động này tại TP.HCM Hiện nay, một số tuyến chợ đêm và phố hàng rong thí điểm đã được triển khai Nhiệm vụ quan trọng của nhà quy hoạch là nhân rộng những mô hình thành công và tìm ra phương án kết hợp hàng rong vào vỉa hè, bởi việc có các khu chợ tập trung không thể là lý do để xóa bỏ hoàn toàn hàng rong.

Cấp độ này nhấn mạnh vai trò của vỉa hè như một điểm đến thu hút người dân cho các hoạt động mua sắm, giải trí và du lịch Tuy nhiên, chất lượng môi trường tự nhiên của khu vực cũng ảnh hưởng đến sự thu hút này, mà nhà quy hoạch không thể hoàn toàn kiểm soát Điều quan trọng mà nhà quy hoạch có thể thực hiện là duy trì sự cân bằng giữa quyền sở hữu đất tư nhân và công cộng đối với không gian vỉa hè và các khu vực liên quan.

1.3.2 Hợp thức hóa hàng rong

Nhiều quốc gia đã chuyển từ việc cấm sang cho phép hoạt động của hàng rong, cho thấy tầm quan trọng của việc hợp thức hóa hình thức buôn bán này Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc lồng ghép hàng rong vào quy hoạch đô thị và thành lập các tổ chức đại diện cho người bán hàng rong là những biện pháp cụ thể cần thiết để đảm bảo quyền lợi và phát triển bền vững cho ngành này.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 7

Hợp thức hóa hàng rong không chỉ nhằm tạo ra sự ổn định lâu dài cho công việc buôn bán, mà còn giúp xây dựng tiếng nói đại diện cho họ Điều này tạo cơ hội cải thiện hình ảnh của hàng rong trong mắt những người chưa ủng hộ, góp phần nâng cao nhận thức và sự chấp nhận của cộng đồng.

Vỉa hè không chỉ dành cho người đi bộ mà còn là không gian đa chức năng, góp phần tạo sức sống cho thành phố Sự phát triển của vỉa hè chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố lịch sử và xã hội, đòi hỏi các giải pháp quản lý linh hoạt từ quy hoạch đến tổ chức không gian Việc quản lý hiệu quả vỉa hè có thể cải thiện hình ảnh đô thị, tạo ra những điểm nhấn độc đáo và không gian sinh hoạt ngoài trời cho cộng đồng Các giải pháp quy hoạch cần được nghiên cứu kỹ lưỡng ở từng quy mô, từ khu vực đến toàn thành phố, nhằm đảm bảo nhu cầu thiết thực của người dân.

Hàng rong là một vấn đề quản lý phức tạp và là chủ đề chính trong nhiều nghiên cứu về vỉa hè tại các đô thị Các nghiên cứu này chủ yếu tìm kiếm giải pháp để hỗ trợ hàng rong và đưa hoạt động này vào khuôn khổ pháp lý của chính phủ Phần tiếp theo sẽ trình bày chi tiết các kinh nghiệm quản lý vỉa hè đã được áp dụng tại Hà Nội và một số thành phố khác ở châu Á.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 8

KINH NGHIỆM QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ

Kinh nghiệm quy hoạch

Các giải pháp quy hoạch cho thấy nỗ lực của các quốc gia và thành phố trong việc sắp xếp người bán hàng rong trên vỉa hè và không gian công cộng Một số tuyến đường thậm chí được giảm chức năng giao thông vào thời điểm ít xe để tạo điều kiện cho hàng rong TP.HCM có thể học hỏi từ các mô hình bố trí hàng rong tại những khu vực như chợ, trường học, và bệnh viện, với giải pháp chia sẻ không gian đặc biệt Không gian sắp xếp hàng rong nên được ưu tiên tại các khu vực công cộng của khu phố, đặc biệt là trên những con đường có lưu lượng giao thông thấp.

Singapore là một ví dụ đặc biệt trong khu vực Đông Nam Á khi giải quyết triệt để vấn đề hàng rong Từ những năm 1970, Singapore đã áp dụng giải pháp chia sẻ không gian, di dời người bán hàng rong đến các tuyến đường nhỏ hơn hoặc bãi đậu xe vào những giờ nhất định Tuy nhiên, nhiều người vẫn quay trở lại các tuyến đường chính để thu hút khách hàng, dẫn đến việc giải pháp này bị đánh giá là không hiệu quả Để khắc phục, Singapore đã xây dựng nhiều trung tâm hàng rong, nhiều trong số đó được cải tạo từ các chợ hiện có Chính sách nhập cư nghiêm ngặt của Singapore cũng góp phần vào việc kiểm soát tình hình, giúp thành phố này không gặp phải các vấn đề về nhập cư như nhiều nơi khác Việc tập trung người bán hàng rong tại các trung tâm này không chỉ giúp giải quyết vấn đề an toàn giao thông mà còn đảm bảo trật tự và cảnh quan đô thị.

Kinh nghiệm tổ chức không gian vỉa hè dành cho người đi bộ

2.2.1 Không gian dành cho người đi bộ

Khu vực dành cho người đi bộ cần đảm bảo an toàn và khả năng tiếp cận, với mặt vỉa hè bằng phẳng và chiều rộng theo quy định Chiều rộng vỉa hè ở các thành phố khác nhau phụ thuộc vào lưu lượng người đi bộ cũng như điều kiện kinh tế - xã hội và văn hóa đặc trưng của từng địa phương Việc thiết kế khu vực đi bộ rõ ràng và liên tục là rất quan trọng để đáp ứng nhu cầu của người dân.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 9

2.2.2 Đậu xe máy trên vỉa hè Đối với kích thước tối thiểu

1mx2m cho 1 chiếu xe máy, hai kiểu đậu xe là thẳng góc 90 o có chiều rộng

1 hàng đậu xe là 2m và chéo góc 45 o có chiều rộng 1 hàng đậu xe là 1,5m

Theo quy định hiện nay, để đảm bảo an toàn cho người đi bộ, vỉa hè cần có chiều rộng tối thiểu 1,5m Do đó, các tuyến đường phù hợp cho việc đậu xe tại TP.HCM cần có chiều rộng vỉa hè từ 3m trở lên.

Vị trí đậu xe có thể là trên vỉa hè hoặc dưới lòng đường như trường hợp của thành phố Đài Bắc, Đài Loan, Trung Quốc.

2.2.3 Không gian dành cho kinh doanh, buôn bán và hàng rong

Chiều rộng vỉa hè tối thiểu cho việc trưng bày hàng hóa hoặc bàn ăn/uống là 1m Theo khảo sát thực tế, nhiều cửa hàng hiện chỉ sử dụng 1m chiều rộng vỉa hè Cụ thể, thành phố Sydney quy định chiều rộng tối thiểu dành cho người đi bộ là 1,5m, trong khi phần dành cho bàn ăn hoặc trưng bày hàng hóa tối thiểu là 1m.

Hình 2: Quy định về kích thước bố trí bàn ăn trên vỉa hè thành phố Sydney

Hình 1: Kích thước đậu xe máy điển hình

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 10

(nguồn: Hội đồng thành phố Sydney, 2013) Hình 3: Quy định về kích thước không gian trưng bày hàng hóa thành phố Sydney, Úc

(nguồn: Hội đồng thành phố Sydney, 2013)

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 11

Không gian vỉa hè tại các thành phố được sử dụng đa dạng cho nhiều hoạt động, nhưng ưu tiên hàng đầu vẫn là dành cho người đi bộ Ngoài ra, vỉa hè còn có thể được sử dụng để trưng bày hàng hóa, đặt bàn ăn/uống, để xe và hàng rong, miễn là các hoạt động này được sắp xếp gọn gàng và tuân thủ quy định Việc kẻ vạch là giải pháp đơn giản và tiết kiệm để phân định rõ ràng không gian sử dụng trên vỉa hè Nhiều thành phố cũng lựa chọn lát gạch màu hoặc loại gạch khác nhau để phân biệt các khu vực, tuy nhiên, giải pháp này khó điều chỉnh khi cần thay đổi Hạ nền vỉa hè, như ở Đài Bắc cho khu vực đậu xe máy, là một lựa chọn khả thi cho các khu dân cư mới tại TP.HCM, trong khi kẻ vạch vẫn là phương án tối ưu cho các vỉa hè hiện hữu Theo Nghị định 100/2013/NĐ-CP, quy định về chiều rộng lòng đường dành cho đậu xe tại Việt Nam cao hơn tiêu chuẩn của Đài Bắc, điều này cho thấy cần nghiên cứu giảm chiều rộng lòng đường để tăng không gian đậu xe, đặc biệt là tại TP.HCM nơi đang thiếu chỗ đậu xe cho xe đạp và xe máy.

Kinh nghiệm quản lý vỉa hè tại một số quốc gia châu Á

2.3.1 Quản lý người bán hàng rong tại Bangkok

Tại Bangkok, để bán hàng rong hợp pháp, người bán phải đăng ký với Cơ quan quản lý đô thị Bangkok (BMA) Những người đã đăng ký sẽ phải trả một khoản phí hàng tháng cho BMA nhằm hỗ trợ công tác làm sạch và bảo trì đường phố.

(300 Baht/tháng/1m 2 tương đương 200.000 đồng)

BMA đã được ủy quyền để chỉ định các khu vực bán hàng rong hợp pháp sau khi tham khảo ý kiến với đội cảnh sát giao thông địa phương Tại Bangkok, có hàng trăm khu vực bán hàng rong phân bổ trên 50 quận, nhưng nhiều người bán vẫn hoạt động trái phép tại các khu vực công cộng Để quản lý tình hình, BMA đã thông báo tăng cường hành động cưỡng chế đối với những người bán hàng rong không có giấy phép, đặc biệt tại bến xe buýt, đường băng và cầu vượt dành cho người đi bộ.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 12

BMA quy định giờ hoạt động kinh doanh bán hàng rong trong phạm vi được ủy quyền, với thời gian giao dịch khác nhau tùy theo từng khu vực Ở nhiều nơi, việc bán hàng trên đường phố chỉ được phép diễn ra sau giờ cao điểm.

Người bán hàng rong chỉ được phép hoạt động tại các khu vực được chỉ định, bao gồm cả dọc theo đường phố và trên các vùng đất trống hoặc trong khu phức hợp, tạo thành những chợ do nhà nước quản lý Tại Bangkok, chợ mua sắm rất phổ biến với cả người dân địa phương và du khách, với nhiều chợ nổi tiếng như chợ Bo Bae, chợ đêm Khaosan Road, chợ cuối tuần Chatuchak và chợ Bon Marche.

2.3.2 Quản lý người bán hàng rong tại Singapore

Theo Luật Sức khoẻ Môi trường Cộng đồng (Environmental Public Health

Act), người bán hàng rong hoạt động ở bất kỳ đâu (đường phố, chợ, trung tâm ẩm thực,

Những người bán hàng rong cần có giấy phép kinh doanh để thực hiện hoạt động buôn bán Giấy phép này được cấp bởi Cơ quan Môi trường Quốc gia (NEA).

Tại Singapore, việc bán hàng rong mà không có giấy phép từ NEA là vi phạm pháp luật, theo Mục 41A của Luật Sức khỏe Môi trường Cộng đồng Người vi phạm có thể bị phạt tới 5.000 đô la Singapore (hơn 82 triệu đồng) Nếu tái phạm, mức phạt có thể lên đến 10.000 đô la Singapore (164 triệu đồng) hoặc phạt tù không quá ba tháng, hoặc cả hai hình thức.

NEA chịu trách nhiệm quy định và quản lý các trung tâm bán lẻ (hawker center), với Phòng quản lý hàng rong đảm nhận việc xây dựng, thực hiện và quản lý chính sách cho người bán hàng rong Điều này bao gồm việc quản lý thuê và nâng cấp các trung tâm bán hàng Mỗi trung tâm bán lẻ có hiệp hội đại diện cho người bán hàng rong, và NEA duy trì đối thoại thường xuyên với các hiệp hội để giải quyết các vấn đề liên quan đến trung tâm.

2.3.3 Kinh nghiệm quản lý người bán hàng rong ở Đài Bắc, Đài Loan, Trung

Chính sách hàng rong tại Đài Bắc được quy định bởi Quy định quản trị hàng rong, điều chỉnh quy trình cấp phép và các điều kiện thu hồi giấy phép cho người bán hàng rong Văn bản này cũng xác định các cơ quan thực thi và quy định việc thành lập hiệp hội bán buôn ở các khu vực tạm thời, nhằm tạo điều kiện thuận lợi và tập trung quản lý hoạt động của người bán hàng rong.

Chính quyền Thành phố Đài Bắc nhận thức rằng việc xóa bỏ hàng rong là không khả thi, do đó, cần phải quản lý hoạt động này một cách hiệu quả Việc quản lý hàng rong phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã hợp tác với 13 hiệp hội buôn bán hàng rong, giao cho các hiệp hội này nhiệm vụ quản lý thay vì phải đối phó với từng người bán Để cải thiện tình hình, báo cáo năm 2011 khuyến nghị chính quyền thành phố Đài Bắc nên phân bổ lại các quầy hàng cho những người bán rong không có giấy phép tại các khu vực tạm thời Đồng thời, cần trao quyền cho các hiệp hội tự quản để họ có thể thực hiện hiệu quả chức năng giám sát và kiểm soát giữa các thành viên.

2.3.4 Kinh nghiệm quản lý người bán hàng rong ở Hong Kong, Trung Quốc

Từ những năm 1970, chính phủ đã cấp phép cho người bán hàng rong, yêu cầu họ phải hoạt động tại các chợ hàng rong hoặc chợ công cộng Tuy nhiên, việc sắp xếp lại người bán hàng rong vào các chợ thường gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc tìm kiếm vị trí đủ rộng để chứa họ Do đó, chính quyền đã áp dụng một cách tiếp cận thực tế hơn, cho phép kiểm soát và cải thiện dần tình hình trên đường phố bằng cách điều chỉnh và hợp pháp hóa một số người bán hàng rong, đồng thời cấp phát các mức phân bổ phù hợp cho họ.

Chính sách kiểm soát và các hoạt động cưỡng chế hàng rong trái phép đã giúp kiểm soát mức độ gia tăng của hàng rong Đồng thời, sự thay đổi trong thói quen mua sắm của người dân cùng với sự cạnh tranh gia tăng từ các cửa hàng bán lẻ đã dẫn đến sự giảm dần số lượng người bán hàng rong có giấy phép hành nghề.

Người sở hữu giấy phép bán hàng rong phải có mặt trực tiếp tại quầy hàng khi hoạt động, nhưng có thể sử dụng trợ lý và cần đăng ký với cơ quan quản lý Trong trường hợp vắng mặt do bệnh tật hoặc ra ngoài Hong Kong, họ có thể nộp đơn chỉ định một người phó để điều hành gian hàng trong thời gian vắng mặt.

Các thành phố đều công nhận sự tồn tại của hàng rong như một phần của đô thị Điều quan trọng là đảm bảo rằng các hoạt động này tuân thủ luật pháp và quy định của nhà nước TP.HCM có thể tham khảo các giải pháp chung để quản lý hàng rong hiệu quả hơn.

- Cấp giấy phép cho người bán hàng rong

- Quy hoạch các khu vực bán hàng rong

- Xây dựng các chợ/trung tâm bán hàng rong

- Quy định thời gian hoạt động của hàng rong trên đường phố hoặc trong các khu vực chỉ định

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 14

- Xác định chỉ tiêu diện tích cho quầy hàng rong

- Kiểm soát, tập huấn về vệ sinh môi trường, an toàn vệ sinh thực phẩm, phòng cháy chữa cháy

Theo khảo sát, đa số người bán hàng rong là nữ, và các chính sách đề xuất sẽ tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho phụ nữ, giúp họ ổn định cuộc sống và công việc Điều này cũng góp phần tạo điều kiện bình đẳng cho nữ giới, cho phép họ phát huy khả năng và thực hiện những nguyện vọng cá nhân.

Kinh nghiệm về Quản lý đậu xe trên đường phố

Quản lý đậu xe trên đường phố, bao gồm đậu xe dưới lòng đường và trên vỉa hè, là giải pháp tạm thời khi không gian đậu xe trong thành phố không đủ Theo Barbara J Chance (2009), có hai mô hình quản lý đậu xe chính: mô hình quản lý trực tiếp của cơ quan nhà nước, phổ biến ở Mỹ, và mô hình hợp tác công tư tại Châu Âu Dù áp dụng mô hình nào, đậu xe trên đường phố vẫn là dịch vụ công do nhà nước quản lý Paul Barter (2016) cho rằng bãi đậu xe nên do tư nhân quản lý, trong khi đậu xe trên đường phố cần sự chỉ đạo từ nhà nước, với các thủ tục chặt chẽ để quyết định sự tham gia của tư nhân và cơ chế giám sát hợp đồng.

Trong bối cảnh hiện tại của TP.HCM, mô hình hợp tác công tư (PPP) được xem là giải pháp hợp lý cho việc quản lý đậu xe máy Lý do chính cho việc áp dụng mô hình này là do các cơ quan nhà nước thường gặp khó khăn trong việc quản lý hiệu quả bãi đậu xe, đặc biệt là với các hệ thống công nghệ cao, khi mà năng lực quản lý của chính quyền địa phương còn hạn chế.

2) Lợi thế kinh tế nhờ quy mô (Economies of scale) Các công ty có hoạt động trong lĩnh vực quản lý bãi đỗ xe cung cấp cùng một dịch vụ chuyên môn ở nhiều khu vực khác nhau có thể có chi phí thấp hơn; 3) Lợi thế quản lý nguồn nhân lực Các đơn vị thuộc khu vực tư nhân có thể linh hoạt hơn cơ quan nhà nước để triển khai nhân viên một cách hiệu quả; 4) Lợi ích của việc cạnh tranh giữa các nhà cung cấp các dịch vụ và công nghệ bãi đậu xe khác nhau đem lại hiệu quả, miễn là quá trình đấu thầu cạnh tranh và minh bạch Thực tế đã có nhiều bãi đậu xe trên đường phố được giao cho các đơn vị công quản lý như các công ty dịch vụ công ích, công ty thanh niên xung phong,

… Mô hình này cần nhân rộng trong thời gian tới khi các quận – huyện hoàn tất lập quy hoạch các bãi đậu xe trên đường phố

Chương 2 trình bày kinh nghiệm trong và ngoài nước về các giải pháp quản lý nhà nước về sử dụng vỉa hè Các thành phố đều có các chính sách tổng hợp liên quan đến quy hoạch các hoạt động trên đường phố ở quy mô khu vực hoặc toàn thành phố tạo thành một hệ thống các không gian cùng chức năng hỗ trợ lẫn nhau, tổ chức không

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã đề xuất 15 gian hàng trên vỉa hè nhằm đảm bảo việc sử dụng không gian này một cách đa chức năng Các giải pháp quản lý đặc biệt cho hàng rong cũng được đưa ra để cải thiện tình hình.

Không gian vỉa hè được sử dụng đa dạng cho nhiều hoạt động, nhưng ưu tiên hàng đầu vẫn là dành cho người đi bộ Ngoài ra, phần vỉa hè còn có thể dùng để trưng bày hàng hóa, bàn ăn/uống, để xe, và hàng rong, với yêu cầu các hoạt động phải được sắp xếp gọn gàng và tuân thủ quy định Để phân định không gian rõ ràng, nhiều thành phố sử dụng giải pháp kẻ vạch, giúp người sử dụng biết được phần vỉa hè nào được phép và không được phép sử dụng Một số thành phố còn chọn lát gạch màu hoặc loại gạch khác nhau để phân biệt không gian, tuy nhiên, giải pháp này khó điều chỉnh khi cần thay đổi Một phương án khác là hạ nền vỉa hè, như ở Đài Bắc với các khu vực dành cho đậu xe máy Giải pháp lát gạch và hạ cốt nền có thể áp dụng cho các khu dân cư mới tại TP.HCM, trong khi kẻ vạch vẫn là lựa chọn tối ưu cho các vỉa hè khu đô thị hiện hữu.

Quản lý hàng rong tại các thành phố hiện nay được công nhận là một phần không thể thiếu, với các giải pháp nhằm đảm bảo hoạt động này tuân thủ luật pháp Tại TP.HCM, các biện pháp như cấp giấy phép cho người bán hàng rong, quy hoạch khu vực bán hàng, xây dựng chợ/trung tâm, quy định thời gian hoạt động, xác định diện tích cho quầy hàng và kiểm soát vệ sinh an toàn thực phẩm đang được áp dụng Khảo sát cho thấy phần lớn người bán hàng rong là nữ, và những chính sách này không chỉ tạo thêm việc làm cho phụ nữ mà còn giúp họ ổn định cuộc sống, đồng thời thúc đẩy bình đẳng giới và phát huy khả năng của họ.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 16

THỰC TRẠNG SỬ DỤNG VÀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

Thực trạng vỉa hè hiện nay tại TP.HCM

Thành phố hiện có 4.869 tuyến đường rộng từ 5,0m trở lên, tổng chiều dài đạt 4.044km, được quản lý bởi Sở Giao thông vận tải và Ủy ban nhân dân các quận, huyện.

Hiện trạng lòng đường tại thành phố ghi nhận tổng cộng 4.869 tuyến đường, trong đó có 3.631 tuyến đường có bề rộng lòng đường nhỏ hơn 7,5m, chiếm 57,59% với tổng chiều dài 2.328km Ngược lại, 1.238 tuyến đường có bề rộng từ 7,5m trở lên, chiếm 42,41% với chiều dài 1.716km Theo Quyết định số 74/2008/QĐ-UBND ngày 23/10/2008 của Ủy ban nhân dân Thành phố về quản lý và sử dụng lòng đường, vỉa hè, có 42,41% chiều dài các tuyến đường đủ điều kiện xem xét cho phép đậu xe dưới lòng đường.

Hiện trạng vỉa hè cho thấy trong tổng số 4.869 tuyến đường, có 2.598 tuyến đường không có vỉa hè, chiếm 51,3% với chiều dài 2.074,64km Trong khi đó, 2.271 tuyến đường có vỉa hè, chiếm 48,7% với tổng chiều dài 1.969,36km Trong số các tuyến đường có vỉa hè, chỉ 772 tuyến đường có chiều rộng từ 3m trở lên, chiếm 27,47% và 1.499 tuyến đường còn lại có vỉa hè rộng nhỏ hơn 3m, chiếm 72,53%.

Hơn 50% tuyến đường trong thành phố không có vỉa hè, dẫn đến tình trạng dừng đậu xe trên lòng đường Trong số các tuyến đường có vỉa hè, chỉ khoảng 27,47% chiều dài vỉa hè được phép sử dụng tạm thời ngoài mục đích giao thông theo Quyết định số 74.

Mật độ dân số và mật độ đường giao thông giữa các quận, huyện trong thành phố có sự khác biệt rõ rệt Các quận như Quận 3, 4, 8, 10, 11, Phú Nhuận, Bình Thạnh, và Gò Vấp có mật độ dân số cao nhưng mật độ đường thấp, dẫn đến mức độ phức tạp trong việc sử dụng vỉa hè gia tăng Ngược lại, các quận có lượng khách vãng lai lớn như Quận 1 và Quận 5 cũng ghi nhận mức độ phức tạp cao Trong khi đó, Quận 2 và 5 huyện ngoại thành sở hữu mật độ đường cao nhưng mật độ dân số thấp, với mức độ phức tạp trong sử dụng vỉa hè thường thấp hơn và chỉ tập trung ở một số khu vực nhất định.

Hiện trạng đường và vỉa hè tại thành phố có sự phân bố không đồng đều giữa các quận, huyện Các quận nội thành, đặc biệt là Quận 1 và Quận 5, có mật độ đường cao, trong khi các huyện ngoại thành như Nhà Bè và Cần Giờ lại có mật độ đường thấp hơn.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 17

Thực trạng sử dụng vỉa hè

* Về đối tượng sử dụng vỉa hè:

Trong ba nhóm sử dụng vỉa hè, bao gồm cửa hàng, hàng rong di động và hàng rong cố định, nữ giới chiếm ưu thế hơn nam giới Do đó, các chính sách cho phép hoạt động kinh tế trên vỉa hè không chỉ tạo cơ hội việc làm cho phụ nữ mà còn thúc đẩy bình đẳng giới, phù hợp với tiêu chí của một xã hội dân chủ, công bằng và văn minh.

- Người trên 35 tuổi bán hàng rong cố định và di động chiếm tỷ lệ cao (gần

Các chương trình đào tạo và chuyển đổi nghề nghiệp cho người bán hàng rong chỉ có thể giúp một số ít trong tổng số 20 người còn lại, do đó cần có các giải pháp tổng thể khác để quản lý hiệu quả nhóm này Theo khảo sát, người bán hàng rong là đối tượng khó quản lý nhất.

Tỷ lệ người nhập cư và tạm trú ngắn hạn tại Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các nhóm đối tượng, với 14,6% là chủ cửa hàng, 27,7% là hàng rong cố định và 46,7% là hàng rong di động Sự phân bố này chỉ ra rằng việc sử dụng vỉa hè ở thành phố có mối liên hệ trực tiếp với tình hình nhập cư, đồng thời phản ánh nhiều vấn đề khác như việc làm, thu nhập và chính sách phát triển ở nông thôn.

* Về thực trạng sử dụng vỉa hè

- 92% cửa hàng khảo sát bằng phiếu hỏi sử dụng vỉa hè để đậu xe máy cho khách hàng

- Phần lớn xe 2 bánh đậu ở vị trí sát công trình, tỷ lệ lên đến 90% - 94% số lượng xe đậu trên vỉa hè

Khoảng 21% - 26% cửa hàng trưng bày hàng hóa trên vỉa hè, với sự khác biệt rõ rệt giữa các đoạn đường Đáng chú ý, phần lớn cửa hàng, khoảng 63%, chiếm dụng 1m chiều rộng vỉa hè, trong khi khoảng 24% cửa hàng sử dụng chiều rộng từ 1m đến 1,5m.

Số lượng cửa hàng ăn uống tăng cao vào buổi tối, với sự thay đổi đáng kể trong ngày Các số liệu cho thấy sự phân bố của quán ăn trên từng đoạn đường khác nhau Bàn 4 chỗ và 2 chỗ là loại bàn được sử dụng phổ biến nhất Trung bình, có đến 28% cửa hàng ăn uống sử dụng bếp nấu trên vỉa hè, đặc biệt tỷ lệ này đạt cao nhất vào buổi tối.

Trung bình cứ 38m đường lại có một hàng rong, trong đó 69% là hàng rong bán đồ ăn và uống Tỷ lệ hàng rong ăn uống cao nhất vào buổi sáng và buổi tối, trong khi buổi chiều có ít hàng hơn Các mặt hàng khác không có nhiều biến đổi trong tuần, ngoại trừ hàng thời trang thường tăng cao vào buổi tối và cả ngày cuối tuần Đặc biệt, hàng rong sử dụng bếp và bàn ghế trên vỉa hè tăng cao vào buổi tối, với 43% vào ngày thường và 48% vào cuối tuần Hầu hết hàng rong đều được đặt gần các công trình, chiếm khoảng 69%.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 18

Trong khảo sát về 4 loại hình sử dụng vỉa hè, đậu xe tự quản trước nhà và cửa hàng trưng bày hàng hóa có tỷ lệ tuân thủ vạch kẻ tốt nhất, trong khi cửa hàng ăn uống có tỷ lệ tuân thủ thấp hơn Hàng rong ghi nhận tỷ lệ tuân thủ thấp nhất Đặc biệt vào buổi tối, nhất là tối cuối tuần, tỷ lệ tuân thủ của tất cả các loại hình đều giảm, với cửa hàng ăn uống và hàng rong bị ảnh hưởng nhiều nhất.

* Về ý kiến của các đối tượng sử dụng đối với đăng ký và thu phí sử dụng vỉa hè:

Gần 48% chủ cửa hàng đồng ý đăng ký sử dụng vỉa hè, trong khi những người không đồng ý cho rằng họ có quyền sử dụng vỉa hè trước nhà mà không cần đăng ký Đáng chú ý, 61 hàng rong cố định và 36 hàng rong di động đã đồng ý đăng ký sử dụng vỉa hè, cho thấy nhiều người bán hàng rong cố định mong muốn ổn định việc kinh doanh thông qua việc đăng ký với chính quyền địa phương.

- Mức sẵn sàng chi trả của người sử dụng vỉa hè:

+ Mức phí khảo sát chia làm 3 loại: < 50.000 đồng/m2/tháng, 50.000 – 100.000 đồng/m2/tháng và > 100.000 đồng/m2/tháng

Mức phí trên 100.000 đồng/m2/tháng chỉ chiếm 2,6% đối với cửa hàng và 6,5% đối với hàng rong, trong khi mức phí dưới 50.000 đồng/m2/tháng có tỷ lệ cao hơn so với mức phí từ 50.000 đến 100.000 đồng/m2/tháng, nhưng không đáng kể Đặc biệt, hàng rong cố định có mức sẵn sàng chi trả trên 50.000 đồng/m2/tháng (50%) cao hơn so với cửa hàng kinh doanh (47%).

Khu vực Quận 1 có tỷ lệ chọn mức phí 50.000 – 100.000 đồng/m²/tháng cao hơn so với các khu vực khác Trong khi đó, Gò Vấp lại có nhiều cửa hàng và hàng rong chọn mức phí dưới 50.000 đồng/m²/tháng Mặc dù Bình Tân là quận nội thành phát triển và có vị trí xa hơn Gò Vấp, nhưng tỷ lệ chọn mức phí 50.000 – 100.000 đồng/m²/tháng tại đây lại cao hơn, đặc biệt là đối với hàng rong cố định Điều này cho thấy giả thuyết về sự thay đổi mức phí theo vị trí so với trung tâm thành phố không hoàn toàn đúng với dữ liệu khảo sát.

Thực trạng quản lý nhà nước về sử dụng vỉa hè hiện nay tại TP.HCM

3.3.1 Các văn bản pháp lý về quản lý sử dụng vỉa hè

Từ năm 1990, Nhà nước đã chú trọng đến việc quản lý đô thị bằng cách ban hành các văn bản pháp lý, trong đó có Nghị định số 36-CP năm 1995 về trật tự an toàn giao thông Nghị định này xác định vỉa hè là một phần của công trình giao thông và yêu cầu Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh đảm bảo vỉa hè cho người đi bộ, đồng thời cho phép quy định sử dụng một phần vỉa hè để kinh doanh mà không ảnh hưởng đến an toàn giao thông Để triển khai Nghị định, Uỷ ban nhân dân thành phố đã ban hành các chỉ thị, trong đó chỉ đạo việc quản lý vỉa hè rộng từ 2,5m trở lên cho các quận, huyện.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đã quy định 19 chức năng kiểm tra, bao gồm việc sơn vạch phân biệt khu vực dành riêng cho người đi bộ, khu vực cho người buôn bán nhỏ, chỗ giữ xe 2 bánh, sửa xe 2 bánh và khu vực tạm để xe của khách vào các cửa hàng Tuy nhiên, các hoạt động này không được chiếm hết vỉa hè dành cho người đi bộ.

Luật giao thông đường bộ năm 2001 quy định rằng lòng đường và hè phố chỉ được sử dụng cho mục đích giao thông, trừ trường hợp đặc biệt do Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh cho phép, nhưng không được ảnh hưởng đến trật tự và an toàn giao thông Nghị định số 14/2003/NĐ-CP đã cho phép Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể việc sử dụng tạm thời hè phố, cấm cho thuê hè phố và lòng đường để kinh doanh dưới mọi hình thức Trong thời gian đầu thực hiện Luật, mức xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 15/2003/NĐ-CP khá thấp, không đủ răn đe, dẫn đến việc Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phải thông qua Nghị quyết số 40/2003/NQ-HĐ để tăng cường biện pháp xử phạt, từ đó Uỷ ban nhân dân thành phố ban hành Quyết định số 106/2003/QĐ-UB áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm an toàn giao thông.

Luật giao thông đường bộ năm 2008 kế thừa quy định tại khoản 1 Điều 34 của Luật giao thông đường bộ năm 2001 Việc hướng dẫn thực hiện quy định sử dụng tạm thời một phần lòng đường và hè phố cho mục đích khác được điều chỉnh bởi Thông tư của Bộ Xây dựng, và đến năm 2013, Nghị định số 100/2013/NĐ-CP đã được ban hành.

Chính phủ đã quy định rõ ràng các trường hợp cho phép sử dụng tạm thời một phần lòng đường và hè phố Tại Thành phố Hồ Chí Minh, Quy định về quản lý và sử dụng lòng đường, vỉa hè được ban hành theo Quyết định số 74/2008/QĐ-UBND ngày 23/10/2008 của Uỷ ban nhân dân Thành phố, nhằm đảm bảo trật tự và an toàn giao thông.

Hồ Chí Minh hiện chưa có văn bản chính thức quy định về phí sử dụng lề đường và phí sử dụng tạm thời lòng đường, hè phố, mặc dù Thành phố đang chỉ đạo các cơ quan liên quan soạn thảo văn bản thay thế Quyết định số 74/2008/QĐ-UBND Chính sách của Nhà nước về việc sử dụng lòng đường và vỉa hè cơ bản ổn định, tuy nhiên, danh mục các tuyến đường cho phép sử dụng ngoài mục đích giao thông đang thay đổi nhanh chóng, gây ảnh hưởng tiêu cực đến trật tự an toàn giao thông và sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Hồ Chí Minh.

3.3.2 Công tác quản lý nhà nước về sử dụng vỉa hè

Cơ quan nhà nước có trách nhiệm quản lý và sử dụng vỉa hè tại TP.HCM là các Đội Quản lý trật tự đô thị quận - huyện Hiện nay, các hình thức quản lý bao gồm kiểm tra và xử lý vi phạm.

Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện 20 đợt kiểm tra vi phạm, đồng thời tuyên truyền và vận động Mỗi đợt kiểm tra có sự tham gia của nhiều đơn vị khác dưới sự chỉ đạo của UBND cấp quận – huyện.

Theo số liệu khảo sát từ bảng quan sát, tỷ lệ cửa hàng tuân thủ vạch kẻ đạt mức cao, cho thấy hiệu quả tích cực từ các đợt kiểm tra thường xuyên gần đây Tuy nhiên, sau mỗi đợt kiểm tra, tình trạng vỉa hè bị tái lấn chiếm vẫn diễn ra.

Theo Quyết định số 74/2008/QĐ-UBND, phần lớn các tuyến đường được kẻ vạch phân chia không gian có chiều rộng ≥3m, nhưng một số quận huyện lại cho phép kẻ vạch trên các tuyến đường có vỉa hè rộng 2,5m Quyết định số 669/QĐ-UBND quy định chỉ có 13 tuyến đường thuộc Quận 5 và Quận 6 được phép kinh doanh dịch vụ, buôn bán hàng hóa Tuy nhiên, do nhu cầu của người dân, một số quận vẫn cho phép hoạt động buôn bán trên các tuyến đường có vỉa hè rộng trong phạm vi giới hạn bởi vạch kẻ Chủ trương này nhằm tạo điều kiện cho người dân mưu sinh, giải quyết việc làm và góp phần phát triển kinh tế, đồng thời vẫn đảm bảo lối đi cho người đi bộ.

Khảo sát cho thấy chỉ một tỷ lệ nhỏ người sử dụng (1,2% cửa hàng và 2% hàng rong cố định) biết trước thời điểm kiểm tra từ Đội quản lý trật tự đô thị Ngoài ra, 1,9% cửa hàng và 3% hàng rong cố định đã thừa nhận trả tiền cho đội này Đặc biệt, một số người bán hàng rong phải trả phí sử dụng vỉa hè cao hơn do họ phải thuê vỉa hè từ chủ nhà mặt tiền.

Các Đội Quản lý Thị trường Đặc biệt hiện đang đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là về nhân sự, khi lực lượng hiện tại không đủ để đảm bảo công tác quản lý hiệu quả trên địa bàn Ngoài ra, chế độ lương dành cho cộng tác viên cũng cần được cải thiện để thu hút và giữ chân nhân tài.

Mức thu nhập 2 triệu đồng/tháng không đủ để đáp ứng nhu cầu sống, dẫn đến những tiêu cực trong công tác quản lý Việc xử lý các đối tượng sử dụng vỉa hè, đặc biệt là hàng rong, gặp khó khăn do họ thường tạm lánh khi có lực lượng chức năng, rồi lại quay lại lấn chiếm Hành động mạnh tay có thể gây ra phản kháng và tấn công lực lượng thực thi công vụ Quy trình xử lý vi phạm theo luật hiện nay khá phức tạp và nhiều quận huyện thiếu cơ sở vật chất để thực hiện việc tạm giữ phương tiện vi phạm Giám sát và xử lý vi phạm chủ yếu phụ thuộc vào lực lượng công an, vì khi có sự hiện diện của họ, người vi phạm ít có khả năng chống đối Thực trạng này yêu cầu Thành phố cần có chính sách mới để hỗ trợ các Đội QLTTĐT, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý trong thời gian tới.

Khảo sát sử dụng vỉa hè tập trung vào các hoạt động như để xe tự quản và kinh doanh trên vỉa hè, bao gồm hàng rong di động, hàng rong cố định và cửa hàng trưng bày Vỉa hè, với vai trò là không gian công cộng, còn phục vụ cho nhiều đối tượng khác nhau, không chỉ riêng người đi bộ.

Vỉa hè của Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là không gian công cộng mà còn là nơi giao lưu, trò chuyện và là sân chơi lý tưởng cho trẻ em và thanh thiếu niên Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh 21 đang tích cực thúc đẩy các hoạt động nhằm nâng cao giá trị sử dụng của những không gian này.

CÁC GIẢI PHÁP QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ SỬ DỤNG VỈA HÈ TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

Ngày đăng: 21/06/2021, 01:03

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chung Hai (2016). Quy hoạch Sài Gòn trước 1975 như thế nào?. Báo Tuổi trẻ 2. Khánh Phương. (2017). Nhìn ra thế giới: Quản lý vỉa hè thế nào? Báo Xây dựng 3. Hoà Nguyễn. (2017). Tranh cãi quyền được sử dụng vỉa hè của những nhà mặt đường. Báo Dân Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch Sài Gòn trước 1975 như thế nào?." Báo Tuổi trẻ 2. Khánh Phương. (2017). "Nhìn ra thế giới: Quản lý vỉa hè thế nào?" Báo Xây dựng 3. Hoà Nguyễn. (2017). "Tranh cãi quyền được sử dụng vỉa hè của những nhà mặt đường
Tác giả: Chung Hai (2016). Quy hoạch Sài Gòn trước 1975 như thế nào?. Báo Tuổi trẻ 2. Khánh Phương. (2017). Nhìn ra thế giới: Quản lý vỉa hè thế nào? Báo Xây dựng 3. Hoà Nguyễn
Năm: 2017
6. Lê Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Minh Huy (2013). Vỉa hè – Không gian đa năng của Đà Nẵng. Kiến trúc Việt Nam. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỉa hè – Không gian đa năng của Đà Nẵng. Kiến trúc Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Thu Hà và Nguyễn Thị Minh Huy
Năm: 2013
8. Lê Xuân Thái và Lê Văn Hoa (2015). Quy hoạch cây xanh cho các tuyến đường bộ hướng tới phát triển đô thị xanh bền vững. Tạp chí Môi trường Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch cây xanh cho các tuyến đường bộ hướng tới phát triển đô thị xanh bền vững
Tác giả: Lê Xuân Thái và Lê Văn Hoa
Năm: 2015
9. Linh Anh. (2017). Giữ hay bỏ văn hóa vỉa hè? Báo Kinh tế và đô thị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giữ hay bỏ văn hóa vỉa hè
Tác giả: Linh Anh
Năm: 2017
10. Minh Quân. (2017). TPHCM: Lập các “phố hàng rong” và giúp dân chuyển đổi nghề. Báo Người lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: TPHCM: Lập các “phố hàng rong” và giúp dân chuyển đổi nghề
Tác giả: Minh Quân
Năm: 2017
11. Nguyễn Đỗ Dũng và Đỗ Như Quỳnh. (2014). Vỉa hè Sài Gòn trong mắt giáo sử người Mỹ. Báo Tuổi trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vỉa hè Sài Gòn trong mắt giáo sử người Mỹ
Tác giả: Nguyễn Đỗ Dũng và Đỗ Như Quỳnh
Năm: 2014
12. Nguyễn Minh Hoà. (2012). Đô Thị Học-Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn. TP.HCM: Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đô Thị Học-Những vấn đề lý thuyết và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Minh Hoà
Năm: 2012
14. Nguyễn Thông. (2017). Hàng rong làm sao ngồi một chỗ. Báo Motthegioi.vn 15. Phạm Sỹ Liêm (2016). Quản lý hè phố theo chức năng. Tạp chí Kiến trúc Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàng rong làm sao ngồi một chỗ. "Báo Motthegioi.vn 15. Phạm Sỹ Liêm (2016). "Quản lý hè phố theo chức năng
Tác giả: Nguyễn Thông. (2017). Hàng rong làm sao ngồi một chỗ. Báo Motthegioi.vn 15. Phạm Sỹ Liêm
Năm: 2016
1. Baldwin, P. C. (1999). Domesticating the Street: The Reform of Public Space in Hartford, 1850–1930. Ohio State University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Domesticating the Street: The Reform of Public Space in Hartford
Tác giả: Baldwin, P. C
Năm: 1999
3. Blumenberg, E. &amp; Ehrenfeucht, R., 2008. Civil liberties and the regulation of public space: the case of sidewalks in Las Vegas. Environment and Planning A, 40(2), pp.303–322 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Civil liberties and the regulation of public space: the case of sidewalks in Las Vegas
4. Bhowmik, S. (2012). Street vendors in the global urban economy. Taylor &amp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Street vendors in the global urban economy
Tác giả: Bhowmik, S
Năm: 2012
5. Bolos, C. C. (2009). Transitional space in architecture. University of Utah Sách, tạp chí
Tiêu đề: Transitional space in architecture
Tác giả: Bolos, C. C
Năm: 2009
6. Bostic, R.W. et al., 2016. Contesting the Streets: Vending and Public Space in Global Cities. Cityscape: A Journal of Policy Development and Research, 18(1), pp.3–10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ontesting the Streets: Vending and Public Space in Global Cities
7. Carr, S. et al., 1992. Public Space, New York: Cambridge University Press 8. City of Toronto. (2014). Outdoor Cafe Guidelines Sách, tạp chí
Tiêu đề: Public Space", New York: Cambridge University Press 8. City of Toronto. (2014)
Tác giả: Carr, S. et al., 1992. Public Space, New York: Cambridge University Press 8. City of Toronto
Năm: 2014
13. Crocker, D. A. (2008). Ethics of Global Development: Agency, Capability, and Deliberative Democracy. New York: Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ethics of Global Development: Agency, Capability, and Deliberative Democracy
Tác giả: Crocker, D. A
Năm: 2008
14. Dalwadi, S., 2010. Integrating street vendors in city planning: the case of Vadodara. In S. K. Bhowmik, ed. Street Vendors in the Global Urban Economy. New Delhi, London: Routledge, pp. 87–119 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Integrating street vendors in city planning: the case of Vadodara." In S. K. Bhowmik, ed. "Street Vendors in the Global Urban Economy
15. De Souza, M. L. (2010). Which right to which city? In defence of political- strategic clarity. Interface Sách, tạp chí
Tiêu đề: Which right to which city
Tác giả: De Souza, M. L
Năm: 2010
16. Ehrenfeucht, R. &amp; Loukaitou-Sideris, A., 2010. Planning Urban Sidewalks: Infrastructure, Daily Life and Destinations. Journal of Urban Design, 15(4), pp.459–471 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Planning Urban Sidewalks: "Infrastructure, Daily Life and Destinations
17. Eidse, N., Turner, S., &amp; Oswin, N. (2016). Contesting Street Spaces in a Socialist City: Itinerant Vending-Scapes and the Everyday Politics of Mobility in Hanoi, Vietnam. Annals of the American Association of Geographers, 106(2), 340–349 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Contesting Street Spaces in a Socialist City: Itinerant Vending-Scapes and the Everyday Politics of Mobility in Hanoi, Vietnam
Tác giả: Eidse, N., Turner, S., &amp; Oswin, N
Năm: 2016
18. Fernandes, E., 2007. Constructing the „right to the city‟ in Brazil. Social and Legal Studies, 16(2), pp.201–219 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Constructing the „right to the city‟ in Brazil

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w