1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các nhà triết học cổ hy lạp là những nhà biện chứng bẩm sinh, còn arixtốt là bộ óc bách khoa toàn thư thời cổ hy lạp

26 934 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các nhà triết học cổ Hy Lạp là những nhà biện chứng bẩm sinh, còn Arixtốt là 'Bộ óc bách khoa toàn thư thời cổ Hy Lạp'
Người hướng dẫn TS Bùi Văn Mưa
Trường học Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Triết học
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 352,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý.. Phép biện chứng chất phác thời Hy Lạ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

CAO HỌC KHÓA K19

……… … ………

TIỂU LUẬN MÔN TRIẾT HỌC

Đề tài:

CÁC NHÀ TRIẾT HỌC CỔ HY LẠP LÀ NHỮNG

NHÀ BIỆN CHỨNG BẨN SINH, CÒN ARIXTỐT LÀ

“BỘ ÓC BÁCH KHOA TOÀN THƯ” THỜI CỔ HY LẠP

GVHD: TS Bùi Văn Mưa

SVTH: Thái Thị Hồng Minh

THÁNG 3 NĂM 2010

Trang 2

MỤC LỤC

MỤC LỤC 2

LỜI MỞ ĐẦU 4

Chương 1: SƠ LƯỢC TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI 1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm 5

1.1 Hoàn cảnh ra đời 5

1.2 Đặc điểm cơ bản 5

2 Các trường phái triết học tiêu biểu 5

2.1 Chủ nghĩa duy vật 5

2.2 Chủ nghĩa duy tâm 7

2.3 Chủ nghĩa nhị nguyên 7

Chương 2: CÁC NHÀ TRIẾT HỌC CỔ HY LẠP LÀ NHỮNG NHÀ BIỆN CHỨNG BẨM SINH 1 Biện chứng 9

2 Biện chứng thời Hy Lạp cổ đại 10

3 Các nhà triết học cố Hy Lạp là những nhà biện chứng bẩm sinh 10

3.1 Talét 11

3.2 Anaximăngđrơ 11

3.3 Hêraclít 11

3.4 Pácmênít 12

3.5 Dênông 12

3.6 Empêđôcơlơ 13

3.7 Đêmôcrít 13

3.8 Xôcrát và Platôn 13

3.9 Arixtốt 14

Chương 3: ARIXTỐT “BỘ ÓC BÁCH KHOA TOÀN THƯ” THỜI CỔ HY LẠP 1 Cuộc đời và sự nghiệp của Arixtốt 16

2 Các tác phẩm của Arixtốt 17

3 Vấn đề tồn tại – nhị nguyên luận “mô thức” – “vật chất” 17

4 Từ học thuyết bốn nguyên nhân đến vật lý học và vũ trụ luận đặc trưng 18

5 Lý luận nhận thức 19

6 Logic học 20

7 Sinh vật học 21

Trang 3

8 Tâm lý học 22

9 Quan niệm về đạo đức, về chính trị - xã hội 22

10 Những ảnh hưởng của đại hiền triết Arixtốt 24

LỜI KẾT 25

TÀI LIỆU THAM KHẢO 26

Trang 4

LỜI MỞ ĐẦU Nền triết học Hy Lạp cổ đại là khúc dạo đầu cho một bản nhạc giao hưởng, bản hợp xướng của triết học phương Tây, một giao đoạn khởi nguyên tiềm tàng của triết học nhân loại Như vậy để có một nền triết học Hy Lạp cổ đại vô cùng đồ sộ và sâu sắc chúng ta không thể không nhắc đến những nhà triết học Hy lạp cổ đại Họ là những con người có tố chất triết học bẩm sinh, là những nhà thiên tài trong các lĩnh vực như khoa học tự nhiên, xã hội…Ttiêu biểu nhất phải nói tới Arixtốt, ông được xem là “bách khoa toàn thư” vĩ đại nhất thời cổ Hy Lạp

Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại nghiên cứu phép biện chứng để nâng cao nghệ thuật hùng biện, bảo vệ quan điểm triết học của mình, để tìm ra chân lý Các nhà triết học Hy Lạp cổ đại là những nhà biện chứng bẩm sinh Phép biện chứng chất phác thời Hy Lạp cổ đại nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới nhưng bằng những trực kiến thiên tài, trực quan chất phác và cảm tính, mặc dù còn thiếu sự chứng minh bởi những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên

Những điều đó tôi sẽ làm sáng tỏ trong nội dung bài tiểu luận với đề tài:

“Các nhà triết học cổ Hy lạp là những nhà biện chứng bẩm sinh, còn Arixtốt là ”bộ óc bách khoa toàn thư” thời cổ Hy Lạp”

Mặc dù tôi đã cố gắng tìm tòi, học hỏi hết mình song kiến thức còn nhiều hạn chế nên tiểu luận này không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các quý thầy cô cùng các bạn để tôi có thể hoàn thiện thêm kiến thức

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

Chương 1:

SƠ LƯỢC TRIẾT HỌC HY LẠP CỔ ĐẠI

1 Hoàn cảnh ra đời và đặc điểm

Sự phát triển của Chế độ chiếm hữu nô lệ ở Hy Lạp đã mở rộng sự phân công xã hội, tách rời thủ công nghiệp khỏi nông nghiệp và tách rời lao động trí óc khỏi lao động chân tay Lao động trí óc được đề cao đã thúc đẩy hình thành một tầng lớp trí thức, họ đã sử dụng tư duy

lý luận để nghiên cứu thế giới và xây dựng nên một triết học và khoa học đồ sộ và sâu sắc

Triết học Hy Lạp cổ đại đã xây dựng nên phép biện chứng chất phác

Triết học Hy Lạp coi trọng vấn đề con người

2 Các trường phái triết học tiêu biểu

2.1 Chủ nghĩa duy vật

a Trường phái Milê:

Trường phái Milê do ba nhà triết học Ba nhà triết học Talét, Anaximăngđrơ và Anaximen xây dựng, nhằm làm sáng tỏ bản nguyên vật chất của thế giới Họ lần lượt coi bản nguyên của vạn vật trong thế giới là nước, apeiron (một thực thể vô định và vô hạn), không khí

Trang 6

Quan niệm duy vật của họ mộc mạc nhưng vô thần, chống lại thế giới quan thần thoại đương thời và chứa những yếu tố biện chứng chất phác

b Trường phái Hêraclít Hêraclít cho rằng bản nguyên của vũ trụ là lửa, lửa thông qua sự đấu tranh giữa các mặt đối lập mà sinh ra vạn vật

Hêraclít cho rằng bản tính thế giới là biện chứng: Vạn vật (cả linh hồn) chứa trong mình các mặt đối lập luôn đấu tranh với nhau

Nhận thức thế giới là phát hiện ra cái lôgốt, tính hài hòa – xung đột của những mặt đối lập tồn tại trong sự vật đa dạng bằng lý tính

c Trường phái Đa nguyên

Nus – linh hồn của thế giới, động lực làm các hạt giống nẩy nở, thay thế cho nhau Nus đưa thế giới thoát khỏi sự hỗn độn để đi vào quá trình biến hóa của mình và qua đó nó nhận thức bản thân thế giới

d Trường phái Nguyên tử của Đêmôcrít Đỉnh cao của triết học duy vật Hi Lạp cổ đại được thể hiện trong trường phái nguyên tử luận với các đại biểu Lơxíp, Đêmôcrít và Êpicua.Trong đó, Lơxíp là người đầu tiên nêu lên các quan niệm về nguyên tử, Đêmôcrít la người phát triển các quan niệm này thành một hệ thống chặt chẽ, còn Êpicua là người cũng cố và bảo vệ thuyết nguyên tử vào thời La Mã hóa

Thuyết nguyên tử: Theo Đêmôcrít vũ trụ được cấu thành bởi hai thực thể đầu tiên là nguyên tử và chân không; bản chất của thế giới là vật chất – nguyên tử luôn vận động theo quy luật nhân quả; vũ trụ vật chất là vô hạn và đa dạng, không được sáng tạo và không bị hủy diệt bởi các thế lực siêu nhiên…

Quan niệm về nhận thức: Theo Đêmôcrít, nhận thức cảm tính là tiền đề của nhận thức lý tính; muốn nắm bắt bản chất thế giới không thể không sử dụng nhân thức lý tính

Trang 7

2.2 Chủ nghĩa duy tâm

a Trường phái Pitago:

Pitago là người sáng lập Trường phái này xem con số là bản nguyên của thế giới

Linh hồn bất tử tồn tại độc lập với thể xác và chịu sự chi phối bởi luật luân hồi Mục đích của cuộc sống là giải thoát linh hồn khỏi thể xác

Nhận thức là chức năng của linh hồn, bằng chime nghiệm tâm linh, qua sự mach bảo của thần linh mà chân lý xuất hiện

Trường phái pitago đã đặt nền móng cho trào lưu duy tâm thời cổ Hy Lạp

b Trường phái Êle:

Trường phái này do Xênôphan thành lập theo tinh thần duy vật, nhưng sau đó được Pácmêníc phát triển theo tinh thần duy lý ngã về khuynh hướng duy tâm và được Dênông nhiệt thành bảo vệ

Theo Xênôphan: đất là cơ sở của vạn vật; muốn nhận thức được bản chất của sự vật phải dựa vào tư duy, lý tính

Theo Pácmêníc: tồn tại là bản chất chung của vạn vật; tồn tại là một phạm trù triết học mang tính khái quát cao, và chỉ nhận thức bởi tư duy – lý tính.trong thế giới, vạn vật biến đổi nhưng bản thân sự tồn tại nói chung là bất biến, đồng nhất với chính nó

Dênông đã xây dựng những apôri để đào sâu tư duy lý luận và chứng minh tồn tại là đồng nhất, duy nhất và bất biến còn tính phức tạp, đa dạng và vận động của thế giới là không có thực

c Trường phái Duy tâm khách quan:

Trường phái duy tâm khách quan được Xôcrát đặt nền móng và học trò Platông hoàn thiện Nó thể hiện lập trường chính trị của tầng lớp chủ nô bảo thủ chống lại nền dân chủ Aten

và hệ thống triết học duy vật của trường phái nguyên tử luận

Tư tưởng biện chứng được thể hiện trong tư tưởng của Xôcrát Ông trình bày quan điểm của mình bằng lời nói, dưới hình thức hội thoại và trạnh luận theo phương pháp đặc biệt gồm bốn bước: mỉa mai, đỡ đẻ, quy nạp, xác định

Phương pháp biện chứng của Xôcrát được Platông tiếp tục phát triển, Platông đã xây dựng chủ nghĩa duy tâm khách quan với nội dung chính là thuyết ý niệm với giá trị bên trong là phép biện chứng của khái niệm, và nhiều tư tưởng sâu sắc khác về đạo đức – chính trị - xã hội

2.3 Chủ nghĩa nhị nguyên

Sự do dự giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm đã đưa Arixtốt đến với chủ nghĩa nhị nguyên Và từ chủ nghĩa nhị nguyên ông đã rơi vào chủ nghĩa duy tâm khi đưa ra thuyết

Trang 8

nguyên nhân thay cho thuyết ý niệm của Platông để bàn về các vấn đề siêu hình Tuy nhiên, khi bàn về vật lý học, ông lại bộc lộ rõ quan điểm duy vật của mình

Do hạn chế của lịch sử và bản thân Arixtốt là nhà tư tưởng của giai cấp chủ nô quý tộc, nên về mặt triết học ông do dự giữa chủ nghĩa duy tâm và chủ nghĩa duy vật; về mặt chính trị ông chỉ bảo vệ lợi ích của tầng lớp chủ nô trung lưu của chính mình nhưng Arixtốt là một con người “khổng lồ” về tư tưởng, ông đã mở ra một chân trời mênh mông cho khoa học phương Tây phát triển và lý trí Hy Lạp nẩy nở

Trang 9

a Phép biện chứng chất phác

Thời cổ đại, do trình độ tư duy phát triển chưa cao, khoa học chưa phát triển, nên các nhà triết học chỉ dựa trên những quan sát trực tiếp, mang tính trực quan, cảm tính để khái quát bức tranh chung của thế giới Phép biện chứng chất phác thể hiện rõ rệt trong “thuyết Âm - Dương”,

“thuyết Ngũ - hành” của triết học Trung hoa cổ đại, trong các hệ thống triết học của các nhà triết học Hy lạp cổ đại và triết học Ấn độ cổ đại Giá trị của phép biện chứng chất phác thể hiện

ở ý nghĩa vô thần, chống lại những quan điểm tôn giáo Song phép biện chứng này thiếu những căn cứ khoa học nên đã bị phép siêu hình xuất hiện từ nửa cuối thế kỉ XV thay thế

b Phép biện chứng duy tâm khách quan

Phép biện chứng duy tâm xuất hiện trong triết học cổ điển Đức cuối thế kỉ XVIII, nửa đầu thế kỉ XIX Thời kì này, khoa học đã đạt được những thành tựu xuất sắc trên nhiều lĩnh vực khác nhau Những thành tựu khoa học đó là cơ sở để đi tới những khái quát mới về nội dung phép biện chứng

Đại diện tiêu biểu cho phép biện chứng duy tâm là Hêghen Ông là người đầu tiên xây dựng hoàn chỉnh phép biện chứng duy tâm với một hệ thống khái niệm, phạm trù và quy luật cơ bản Tính chất duy tâm trong phép biện chứng của Hêghen thể hiện ở chỗ : Ông coi “ý niệm tuyệt đối” là cái có trước, và trong quá trình vận động phát triển, “ý niệm tuyệt đối” tha hóa thành giới tự nhiên và xã hội; cuối cùng lại trở về với chính mình trong tinh thần tuyệt đối Sai lầm của phép biện chứng duy tâm khách quan của Hêghen là ở chỗ ông cho rằng biện chứng của ý niệm sản sinh ra biện chứng của sự vật Đó là phép biện chứng duy tâm khách quan, thiếu triệt để, thiếu khoa học

Trang 10

và phép biện chứng duy vật, về sau được V.I.Lênin phát triển vào đầu thế kỉ XX, đem lại cho phép biện chứng một hình thức mới về chất Đó là phép biện chứng duy vật

Phép biện chứng duy vật là sự thống nhất hữu cơ giữa thế giới quan duy vật và phương pháp luận biện chứng Chính vì vậy, nó đã khắc phục được những hạn chế của phép biện chứng chất phác thời cổ đại và những thiếu sót của phép biện chứng duy tâm khách quan thời cận đại

Nó đã khái quát đúng đắn những quy luật cơ bản chung nhất của sự vận động và phát triển của thế giới Phép biện chứng duy vật trở thành một khoa học

Phép biện chứng duy vật được xây dựng trên cơ sở một hệ thống những nguyên lý, những phạm trù cơ bản, những quy luật phổ biến phản ánh đúng đắn hiện thực Trong hệ thống đó, nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển là hai nguyên lý khái quát nhất

Vì thế Ph.Ăngghen đã định nghĩa: “phép biện chứng chẳng qua chỉ là môn khoa học về những quy luật phổ biến của sự vận động và sự phát triển của tự nhiên, của xã hội loài người và của tư duy”

2 Biện chứng thời Hy Lạp cổ đại

Vào thời kì cổ đại Hy Lạp: thuật ngữ “Biện chứng” được dùng để chỉ nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý Những yếu tố của quan điểm biện chứng – tức là quan điểm coi toàn

bộ thế giới, từ cái nhỏ đến cái lớn, từ sự vật đến những sự phản ánh của chúng ở trong đầu óc con người đều ở trong quá trình vĩnh viễn vận động, biến hóa, sinh thành và tiêu vong, chứ không phải là một tập hợp gồm những sự vật vốn có sẵn và hoàn toàn bất biến

Những tư tưởng biện chứng về căn bản vẫn còn mang tính chất ngây thơ, chất phác Phép biện chứng chất phác thời Hy Lạp cổ đại nhận thức đúng về tính biện chứng của thế giới những bằng trực kiến thiên tài, trực quan chất phác, ngây thơ và cảm tính, mặc dù còn thiếu sự chứng minh bởi những thành tựu phát triển của khoa học tự nhiên

3 Các nhà triết học cố Hy Lạp là những nhà biện chứng bẩm sinh

Triết học Hy Lạp cổ đại phát triển vào thế kỷ thứ VI trước CN Cơ sở kinh tế của nền triết học đó là quyền sở hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và người nô lệ Khoa học lúc đó chưa phân ngành, các nhà triết học đồng thời là nhà toán học, vật lý học, thiên văn học, Nhìn chung, triết học Hy Lạp cổ đại mang tính chất duy vật tự phát và biện chứng sơ khai Đời sống chính trị của Hy Lạp bấy giờ sôi động, những quan hệ thương mại với nhiều nước khác nhau trên Địa Trung Hải, sự tiếp xúc với điều kiện sinh hoạt và những tri thức muôn vẻ của nhân dân các nước ấy, sự quan sát các hiện tượng tự nhiên một cách trực tiếp như một khối duy nhất và lòng mong muốn giải thích chúng một cách khoa học đã góp phần quy định và làm phát triển thế giới quan duy vật và biện chứng sơ khai của Hy Lạp cổ đại Chính hoàn cảnh Hy Lạp lúc bấy giờ đã sản sinh ra những nhà triết học có khả năng biện chứng bẩm sinh, chúng ta có thể

Trang 11

tìm hiểu điều này thông qua một số đại diện tiêu biểu sau đây:

3.1 Talét

Thành tựu nổi bật của Talét là quan niệm triết học duy vật và biện chứng tự phát Ông chủ trương giải thích giới tự nhiên không phải bằng tín điều mà bằng sự kiện quan sát Từ chỗ nhân thấy mọi hạt giống, thức ăn, bản than của mọi sinh vật đều ẩm ướt… mà nguồn gốc của các vật thể ẩm ướt chính là nước, hơn nữa đại lục nổi lên trên đại dương mà ông kết luận rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế giới Mọi vật đều sinh ra từ nước

và khi phân huỷ lại biến thành nước Theo Talét, vật chất tồn tại vĩnh viễn, còn mọi vật do nó sinh ra thì biến đổi không ngừng, sinh ra và chết đi Toàn bộ thế giới là một chỉnh thể thống nhất, trong đó mọi vật biến đổi không ngừng mà nền tảng là nước Tuy nhiên, các quan điểm triết học duy vật của Talét mới chỉ dừng lại ở mức độ mộc mạc, thô sơ, cảm tính Ông chưa thoát khỏi ảnh hưởng của quan niệm thần thoại và tôn giáo nguyên thuỷ khi ông cho rằng thế giới đầy rẫy những vị thần linh

3.2 Anaximăngđrơ

Ông là người Hy Lạp đầu tiên nghiên cứu nghiêm túc vấn đề phát sinh và phát triển của các loài động vật Theo ông, động vật phát sinh dưới nước và sau nhiều năm biến hoá thì một số giống loài dần thích nghi với đời sống trên cạn, phát triển và hoàn thiện dần; con người hình thành từ sự biến hoá của cá Phỏng đoán của ông còn chưa có căn cứ khoa học song đã manh nha thể hiện yếu tố biện chứng về sự phát triển của các giống loài động vật Khi giải quyết vấn

đề bản thể luận triết học, Anaximăngđrơ cho rằng cơ sở hình thành vạn vật trong vũ trụ là từ một dạng vật chất đơn nhất, vô định hình, vô hạn và tồn tại vĩnh viễn mà người ta không thể trực quan thấy được Nếu so với Talét thì Anaximăngđrơ có bước tiến xa hơn trong sự khái quát trừu tượng về phạm trù vặt chất

3.3 Hêraclít

Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác-Lênin, Hêraclít là người sáng lập ra phép biện chứng, hơn nữa, ông là người xây dựng phép biện chứng trên lập trường duy vật Phép biện chứng của Hêraclít chưa được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm khoa học như sau này, nhưng hầu như các luận điểm cốt lõi của phép biện chứng đã được ông đề cập dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và những phát biểu mang tính chất triết lý sâu sắc Các

tư tưởng biện chứng của ông thể hiện trên các điểm chủ yếu sau:

Thứ nhất, quan niệm về vận động vĩnh viễn của vật chất Theo Hêraclít, không có sự

vật, hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối mà trái lại tất cả đều trong trạng thái biến đổi

và chuyển hoá thành cái khác và ngược lại

Trang 12

tượng Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của những mặt đối lập trong

sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về sự trao đổi của những mặt đối lập, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập

Thứ ba, theo Hêraclít, sự vận động và phát triển không ngừng của thế giới do quy luật

khách quan (logos) quy định Logos khách quan là trật tự khách quan của mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ, học thuyết, lời nói, suy nghĩ của con người Logos chủ quan phải phù hợp với logos khách quan

Lý luận nhận thức của Hêraclít còn mang tính chất duy vật và biện chứng sơ khai, nhưng

về cơ bản là đúng đắn Ở thời cổ đại, xét trong nhiều hệ thống triết học khác không có tư tưởng biện chứng nào sâu sắc như vậy Heraclít đã đưa triết học duy vật cổ đại tiến lên một bước mới với những quan điểm duy vật và những yếu tố biện chứng Học thuyết của ông đã được nhiều nhà triết học cận đại, hiện đại kế thừa và phát triển sau này Mác và Ăngghen đã đánh giá một cách đúng đắn giá trị triết học của Hêraclít, coi ông là đại biểu xuất sắc của phép biện chứng Hy Lạp cổ đại Tuy nhiên, Mác và Ăngghen cũng vạch rõ những hạn chế, sai lầm của Hêraclít về mặt chính trị Đó là tính chất phản dân chủ, thù địch với nhân dân và ông chủ trương dùng chính quyền để dập tắt nhanh chóng phong trào dân chủ

tư duy và tồn tại và mang tính chất siêu hình vì ông cho rằng tồn tại là bất biến

Trang 13

3.6 Empêđôcơlơ

Empêđôcơlơ cho rằng nguồn gốc vận động của mọi sự vật là do sự tác động của hai lực đối lập là Tình yêu và Căm thù Quan điểm này là một bước thụt lùi so với Hêraclít, bởi vì triết học Hêraclít giải thích nguồn gốc vận động của vật chất là do sự xung đột của những mặt đối lập nội tại của sự vật tuy nhiên, Empêđôcơlơ cũng có một số phỏng đoán thiên tài về sự tiến hoá của giới hữu cơ Sự giải thích này của ông tuy còn ngây thơ nhưng đã manh nha hình thành

tư tưởng biện chứng về quá trình tiến hoá của sinh vật theo con đường từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp

số thế giới vĩnh viễn phát sinh, phát triển và bị tiêu diệt Quan điểm của Đêmôcrít về vận động gắn liền với vật chất là một phỏng đoán có giá trị đặc biệt Theo ông, vận động của nguyên tử là vĩnh viễn, và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận động của nguyên tử ở bản thân nguyên

tử, ở động lực tự thân, tự nó Tuy nhiên ông đã không lý giải được nguồn gốc của vận động Dựa trên học thuyết nguyên tử, Đêmôcrít đã đi tới quan điểm quyết định luận Đó là thừa nhận

sự ràng buộc theo luật nhân quả, tính tất nhiên và khách quan của các hiện tượng tự nhiên Đây

là một quan điểm có giá trị của Đêmôcrít đóng góp cho nền triết học Hy Lạp cổ đại Về mặt bản thể luận, Đêmôcrít đã có công đưa lý luận nhận thức duy vật lên một bước mới Khác với nhiều nhà triết học trước đó, phủ nhận vai trò của nhận thức cảm tính, tuyệt đối hoá vai trò của nhận thức lý tính, Đêmôcrít đã chia nhận thức thành hai dạng là nhận thức cảm tính và nhận thức chân lý Mặc dù triết học của Đêmôcrít còn mang tính chất thô sơ, chất phác song những đóng góp của ông về các tư tưởng biện chứng và thế giới quan duy vật là rất đáng ghi nhận

3.8 Xôcrát và Platôn

Xôcrát và Platôn là hai đại diện tiêu biểu của hệ thống triết học duy tâm Hy Lạp cổ đại Triết học Xôcrát có đóng góp quan trọng vào việc tạo ra bước tiến mới trong sự phát triển triết học Hy Lạp cổ đại Nếu các nhà triết học trước Xôcrát chủ yếu bàn về vấn đề khởi nguyên thế giới, về nhận thức luận thì Xôcrát là người đầu tiên đưa đề tài con người trở thành chủ đề trọng tâm nghiên cứu của triết học phương Tây Theo Xôcrát, ý thức về sự vật của những người trong

Ngày đăng: 14/12/2013, 15:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w