Tính cấp thiết của đề tài Ý thức pháp luật là một trong những hình thái của ý thức xã hội bên cạnh ýthức chính trị, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ, ý thức đạo đức.v.v…Ý thức xã hội là t
Trang 1LĐTB&XH
: Giáo dục - đào tạo: Lao động thương binh và xã hội
Trang 2Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
Trong các loại hình của ý thức xã hội, luận văn tập trung nghiên cứu về ý thức pháp luật gắn với yêu cầu bồi dưỡng, nâng cao ý thức pháp luật của đối tượng là thanh niên ở thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay 4
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn 5
7 Kết cấu của luận văn 6
Chương 1 7
Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA Ý THỨC PHÁP LUẬT TRONG THANH NIÊN 7
1.1 Bản chất, cấu trúc, chức năng và sự hình thành của ý thức pháp luật 7
1.1.1 Bản chất, cấu trúc và chức năng của ý thức pháp luật 7
1.1.2 Sự hình thành của ý thức pháp luật 14
1.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật của thanh niên 22
1.2.1 Ảnh hưởng của thiết chế làng xã đến việc hình thành và phát triển ý thức pháp luật của thanh niên 24
Trang 3thức pháp luật của thanh niên 35
1.3 Vai trò của pháp luật và ý thức pháp luật đối với thanh niên 42
Chương 2 46
THỰC TRẠNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP BỒI DƯỠNG 46
Ý THỨC PHÁP LUẬT CHO THANH NIÊN 46
Ở THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG HIỆN NAY 46
2.1 Thực trạng ý thức pháp luật của thanh niên Thành Phố Đà Nẵng hiện nay 46
2.1.1 Điều kiện địa lý, kinh tế, văn hóa – xã hội và những đặc điểm chính của thanh niên thành phố Đà Nẵng hiện nay 46
2.1.2 Nhận thức về pháp luật và ý thức pháp luật của thanh niên Đà Nẵng 53
2.1.3 Việc chấp hành pháp luật của thanh niên thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay 71
2.2 Các giải pháp chủ yếu bồi dưỡng ý thức pháp luật cho thanh niên Thành phố Đà Nẵng giai đoạn hiện nay 80
2.2.1 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách đối với thanh, thiếu niên để tạo môi trường thuận lợi cho sự hình thành, phát triển ý thức pháp luật của thanh niên 81
2.2.2 Tăng cường giáo dục pháp luật, kết hợp giữa giáo dục pháp luật với giáo dục đạo đức và kỹ năng sống cho thanh niên 83
2.2.3 Phát huy vai trò của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh thành phố trong việc tổ chức phong trào thanh niên chấp hành pháp luật của Nhà nước 86
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ý thức pháp luật là một trong những hình thái của ý thức xã hội bên cạnh ýthức chính trị, ý thức khoa học, ý thức thẩm mỹ, ý thức đạo đức.v.v…Ý thức xã hội
là tổng thể những quan điểm, quan niệm, tư tưởng, hành vi thịnh hành trong xã hội vềpháp luật, là thái độ tình cảm, sự đánh giá của con người đối với pháp luật cũng nhưđối với hành vi pháp luật của các chủ thể trong xã hội.Ý thức pháp luật của mỗingười có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện pháp luật và bảo vệ pháp luật Do
đó, nâng cao ý thức pháp luật là trách nhiệm của toàn xã hội nói chung và tầng lớpthanh niên nói riêng
Sự nghiệp đổi mới, xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc
tế đang đặt ra cho chúng ta nhiều vận hội bên cạnh những thách thức Đảng và Nhànước rất coi trọng việc phát huy nguồn nhân lực và coi đây là yếu tố quyết định tớiviệc phát triển kinh tế - xã hội và đồng thời khẳng định vai trò tiềm năng to lớn củathanh niên trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tư (khóa VI) đã chỉ rõ:
Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, đất nước bước vào thế kỷ XXI
có vị trí xứng đáng trên cộng đồng thế giới hay không, phần lớn tùy thuộc vào lựclượng thanh niên, vào việc bồi dưỡng rèn luyện thế hệ thanh niên, công tác thanhniên là vấn đề sống còn của dân tộc, là một trong những nhân tố quyết định sự thànhbại của cách mạng [14]
Như vậy, thanh niên là lực lượng xã hội hùng hậu, có sức khỏe, có trình độhọc vấn, có tiềm năng sáng tạo, có khả năng tiếp cận và làm chủ nền khoa học hiệnđại Trong điều kiện hiện nay, việc bồi dưỡng, phát huy vai trò của thanh niên trong
sự nghiệp phát triển đất nước có ý nghĩa rất quan trọng Thanh niên là lực lượngquan trọng có sứ mệnh cùng với Đảng và nhân dân tiến hành thành công sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong
Trang 5những năm vừa qua, bên cạnh những chuyển biến tích cực, những điểm tiến bộ cơbản trong thanh niên thì trong thời điểm hiện nay, do ảnh hưởng từ những mặt tráicủa nền kinh tế thị trường cũng như xu thế toàn cầu hóa và nhất là do không nghiêmtúc trong rèn luyện phấn đấu mà một bộ phận thanh niên ở nước ta đang có nhữngbiểu hiện tiêu cực đáng lo ngại như phai nhạt lý tưởng, chạy theo lối sống buông thả,lười học tập và tu dưỡng đạo đức, thích hưởng thụ, ngại lao động, chuộng những sinhhoạt thiếu lành mạnh, nghiện ngập, thậm chí vi phạm pháp luật…Những hiện tượng
đó trước hết là nguy cơ đe dọa tương lai của chính bản thân họ, đồng thời cản trở sựphát triển theo hướng lành mạnh, tiến bộ, văn minh của xã hội
Đà Nẵng là một thành phố tương đối trẻ, và có một ví trí quan trọng của khuvực miền Trung và Tây Nguyên nói riêng Qua hơn 25 năm đổi mới và phát triển, ĐàNẵng đang từng ngày lột xác trở thành một thành phố công nghiệp và năng động bậcnhất cả nước Sự thay da đổi thịt đó không những được phản ánh qua sự lớn mạnhcủa các ngành kinh tế - xã hội mà còn qua điều kiện sống và trình độ nhận thức củangười dân, đặc biệt là thế hệ thanh niên của thành phố Là thế hệ công dân mới củathành phố và là chủ nhân tương lai của đất nước, thanh niên thành phố Đà Nẵng đang
có được những điều kiện thuận lợi để phấn đấu, rèn luyện, cống hiến trí tuệ và sứclực của mình cho sự nghiệp xây dựng và phát triển của thành phố, đồng thời họ cũngđứng trước những thử thách đòi hỏi phải có bản lĩnh, có tâm thế vững vàng và cóđược những hành trang cần thiết để đóng góp vào sự phát triển của thành phố và cảnước trong điều kiện đổi mới và của hội nhập quốc tế
Để định hướng cho tầng lớp thanh niên thành phố Đà Nẵng sống, học tập vàlàm việc theo Hiến pháp và pháp luật, giúp cho thanh niên xác định được rõ quyềnlợi và trách nhiệm của mình đối với xã hội, việc bồi dưỡng ý thức pháp luật chothanh niên trong giai đoạn hiện nay vừa có ý nghĩa cấp bách vừa mang tính chiến
lược lâu dài Chọn đề tài “Bồi dưỡng ý thức pháp luật cho thanh niên thành phố Đà
Nẵng trong giai đoạn hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ triết học, tác giả hy vọng
góp phần vào việc nâng cao ý thức pháp luật của thanh niên nói chung và thanh niênthành phố Đà Nẵng nói riêng
Trang 62 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Từ trước đến nay, ở nhiều góc độ khác nhau đã có nhiều công trình nghiêncứu về ý thức pháp luật và việc bồi dưỡng ý thức pháp luật cho các đối tượng khácnhau trong xã hội tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu và các phương pháp sử dụng
cụ thể Quan niệm về pháp luật và ý thức pháp luật được đề cập trong các tác phẩmkinh điển của Các Mác, Ph Ăngghen, V.I Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sách giáokhoa Triết học Mác - Lênin, giáo trình đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệpđược giảng dạy trong nhà trường Vấn đề ý thức pháp luật cũng được đề cập trongcác, luận án Tiến sĩ, luận văn Thạc sĩ như: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn vềgiáo dục pháp luật trong công cuộc đổi mới”(Đề tài khoa học cấp bộ năm 1995 của
Bộ tư pháp); “Cơ sở khoa học cho việc xây dựng ý thức pháp luật và lối sống theopháp luật” (Đề tài KX-07 của Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật thuộc Trungtâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia).v.v Trong các công trình này, tác giả đã
đề cập một số vấn đề rất cơ bản như: ý thức và lối sống theo pháp luật, thực trạnghiểu biết pháp luật và thái độ đối với pháp luật của các tầng lớp dân cư, giáo dụcpháp luật và những vấn đề đang đặt ra để nâng cao hiệu quả công tác giáo dục phápluật trong giai đoạn hiện nay
Luận án Tiến sĩ Triết học: “Ý thức pháp luật và giáo dục pháp luật ở ViệtNam” của Nguyễn Đình Lộc, 1977; “Ý thức pháp luật với việc xây dựng nền dân chủ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay” của Thạc sĩ Mai Thị Minh Ngọc, 1995;
“Nâng cao ý thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ hành chính nhà nước ở nước ta hiệnnay”- Luận án Tiến sĩ Luật học của Lê Đình Kiên, 1996; “Những đặc điểm của quátrình hình thành ý thức pháp luật ở Việt Nam hiện nay” của Đào Duy Tấn, năm 2000;
“Logic khách quan của quá trình hình thành và phát triển ý thức pháp luật ở ViệtNam”- Luận án Tiến sĩ Triết học của Nguyễn Thị Thúy Vân, 2000.v.v Các luận án,luận văn này có mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu khác nhau, nhưng nhìn chung, đềuxuất phát từ góc nhìn của khoa học pháp lý mà nêu ra những khái niệm cơ bản về ýthức pháp luật, giáo dục pháp luật
Trang 7Một số sách, báo, tạp chí đã được xuất bản có những bài viết liên quan đếnvấn đề này như: “Giáo dục pháp luật cho nhân dân”, của Nguyễn Ngọc Minh, Tạp chíCộng sản, số 10/ 1983; “Xây dựng lối sống theo pháp luật nhìn từ góc độ lịch sử vàtruyền thống”, của Vũ Minh Giang, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 3/ 1993; “Xâydựng lối sống theo pháp luật và vấn đề giáo dục pháp luật trong nhà trường”, Tạp chíDân chủ và Pháp luật, số 11/ 2001; “Thanh niên và lối sống của thanh niên Việt Namtrong quá trình đổi mới và hội nhập quốc tế”, của PGS.TS Phạm Hồng Tung, NXBChính trị quốc gia, 2011; “Pháp luật bảo vệ con người – nghiên cứu trường hợpngười chưa thành niên phạm tội”, Thạc sĩ Vũ Thị Thu Quyên, Học Viện Báo chítuyên truyền, Hà Nội, 2011.v.v Các bài viết này đã phần nào đánh giá được thựctrạng ý thức pháp luật của nhân dân và ý thức pháp luật của thanh, thiếu niên ViệtNam đồng thời ra những giải pháp nâng cao ý thức pháp luật như đưa các mô hìnhgiáo dục pháp luật vào nhà trường qua các bài học lý thuyết và thực hành, dựa trênnền tảng ý thức hệ truyền thống của người Việt Nam để khéo léo, linh hoạt trong việcđưa giáo dục ý thức pháp luật gần gũi hơn với đời sống xã hội.
Nhìn tổng thể, tuy đã có nhiều tác giả nghiên cứu và nhiều công trình đượccông bố liên quan đến đề tài Tuy nhiên, hầu như chưa có công trình nào đi sâu vàonghiên cứu vị trí, vai trò của ý thức pháp luật đối với thanh niên nhìn từ góc độ triếthọc, và việc bồi dưỡng ý thức pháp luật của thanh niên ở một địa phương cụ thể nhưthành phố Đà Nẵng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong các loại hình của ý thức xã hội, luận văn tập trung nghiên cứu về ý thứcpháp luật gắn với yêu cầu bồi dưỡng, nâng cao ý thức pháp luật của đối tượng làthanh niên ở thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích
Trang 8Trên cơ sở làm rõ vai trò nội dung, yêu cầu và ý nghĩa của việc bồi dưỡng ýthức pháp luật đối với thanh niên Việt Nam luận văn phân tích thực trạng và bướcđầu đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho thanh niên ởthành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay.
4.2 Nhiệm vụ
- Phân tích nội dung, cấu trúc, vai trò của ý thức pháp luật trong đời sống xãhội và yêu cầu của việc bồi dưỡng ý thức pháp luật cho tầng lớp thanh niên Việt Namhiện nay
- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc bồi dưỡng ý thức pháp luật cho thanhniên ở thành phố Đà Nẵng
- Đề xuất phương hướng và giải pháp nâng cao ý thức pháp luật cho thanhniên ở thành phố Đà Nẵng trong giai đoạn hiện nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận chủ yếu của luận văn là các quan điểm của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, vềthanh niên và công tác thanh niên Luật thanh niên 53/2005/QH11 Ngoài ra luận văncòn chú ý sử dụng các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan trực tiếpđến đề tài
Mác-5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận phổ biến của việc nghiên cứu là phươngpháp biện chứng duy vật của triết học Mác-Lênin
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp khác như: phương phápphân tích và tổng hợp, phương pháp logic và lịch sử, phương pháp khái quát hóa,điều tra khảo sát.v.v trong nghiên cứu và trình bày
6 Đóng góp về mặt khoa học của luận văn
Trang 9- Góp phần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của việc bồi dưỡng ý thức phápluật đối với thanh niên Việt Nam.
- Phân tích, đánh giá thực trạng của việc bồi dưỡng, giáo dục ý thức pháp luậtcủa thanh niên và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức pháp luật của thanhniên thành phố Đà Nẵng hiện nay
- Luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho các cấp ủy Đảng,chính quyền và các đoàn thể chính trị xã hội mà trực tiếp là Đoàn thanh niên Cộngsản Hồ Chí Minh, Hội thanh niên…Trong việc bồi dưỡng, giáo dục thanh niên Chosinh viên trong các trường đại học, cao đẳng quan tâm đến vấn đề trên
7 Kết cấu của luận văn
- Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm haichương, 5 tiết
Chương 1: Ý thức pháp luật và sự hình thành, phát triển của ý thức pháp luật
trong thanh niên
Chương 2: Thực trạng ý thức pháp luật của thanh niên ở thành phố Đà Nẵng
hiện nay
Trang 10Chương 1
Ý THỨC PHÁP LUẬT VÀ SỰ HÌNH THÀNH, PHÁT TRIỂN CỦA Ý THỨC
PHÁP LUẬT TRONG THANH NIÊN
1.1 Bản chất, cấu trúc, chức năng và sự hình thành của ý thức pháp luật 1.1.1 Bản chất, cấu trúc và chức năng của ý thức pháp luật
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, Pháp luật cùng với Nhà nước, làhai hiện tượng lịch sử cơ bản của đời sống chính trị - xã hội, cùng xuất hiện, tồn tại,phát triển và sẽ tiêu vong khi nhân loại tiến đến chủ nghĩa cộng sản Pháp luật là hệthống các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước banhành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện phápmang tính cưỡng chế của Nhà nước
Mỗi hình thái kinh tế - xã hội đều có một kiểu Nhà nước và một kiểu pháp luậttương ứng Lịch sử xã hội loài người đã có các kiểu pháp luật chủ nô, pháp luật phongkiến, pháp luật tư sản và pháp luật xã hội chủ nghĩa Pháp luật, như Mác – Ăng ghenphân tích, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, có Nhà nước; bảnchất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của Nhà nước Tuy nhiên, pháp luật cũngmang tính xã hội, bởi vì ở mức độ nhất định, nó phải thể hiện và bảo đảm những yêucầu chung của xã hội về văn hóa, phúc lợi, môi trường sống… Về mặt này, pháp luật xãhội chủ nghĩa có sự thống nhất giữa tính giai cấp và tính xã hội
Pháp luật còn là một bộ phận quan trọng của cấu trúc thượng tầng xã hội Nó
do cơ sở hạ tầng quyết định, nhưng có tác động trở lại đối với cơ sở hạ tầng Nếupháp luật phản ánh đúng đắn các quy luật vận động và phát triển của xã hội, nhất làcác quy luật kinh tế thì pháp luật sẽ có tác động tích cực đối với phát triển kinh tế -
xã hội Ngược lại, pháp luật sẽ kìm hãm sự phát triển đó
Theo Lênin, “một đạo luật là một biện pháp chính trị” Trong lịch sử, bất cứgiai cấp cầm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện chính trị của
Trang 11giai cấp mình Như vậy, pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung, trực tiếpchính trị của giai cấp cầm quyền, là một công cụ sắc bén thể hiện quyền lực của Nhànước thực hiện những yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị của nó.
Ý thức pháp luật là một bộ phận của ý thức xã hội Các phạm trù ý thức phápluật, ý thức xã hội, ý thức chính trị có quan hệ chặt chẽ với nhau
Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Nó là hình thức cao của
sự phản ánh thực tại khách quan, mà chỉ con người mới có Theo Lênin: Ý thức củacon người được xem là cơ năng của cái “khối vật chất đặc biệt phức tạp mà người tagọi là bộ óc con người” Tác động của ý thức xã hội đối với con người là vô cùng tolớn Nó không những là kim chỉ nam cho hoạt động thực tiễn mà còn là động lực củathực tiễn Sự thành công hay thất bại của thực tiễn, tác động tích cực hay tiêu cực của
ý thức đối với sự phát triển của tự nhiên, xã hội chủ yếu phụ thuộc vào vai trò chỉ đạocủa ý thức mà biểu hiện thực tiễn là vai trò của khoa học văn hoá và tư tưởng
Nếu ví tồn tại xã hội như một cơ thể sống, thì có thể nói rằng ý thức xã hộichính là linh hồn của cơ thể sống đó Nói như vậy có nghĩa ý thức xã hội là mặt tinhthần của đời sống xã hội, bao gồm toàn bộ những quan điểm, tư tưởng cùng nhữngtình cảm, tâm trạng của những cộng đồng xã hội, nảy sinh từ tồn tại xã hội và phảnánh tồn tại xã hội trong những giai đoạn phát triển nhất định
Là mặt tinh thần của đời sống xã hội, ý thức xã hội bao gồm nhiều cấp độkhác nhau như: ý thức xã hội thông thường (phản ánh sinh động, trực tiếp nhiều mặtcuộc sống hàng ngày của con người, thường xuyên chi phối cuộc sống); ý thức lýluận (những tư tưởng quan điểm đã được hệ thống hóa thành các học thuyết xã hội,được trình bày dưới dạng những khái niệm, phạm trù, quy luật có khả năng phản ánhhiện thực khách quan một cách sâu sắc, khái quát, vạch ra các mối liên hệ bản chấtcủa các sự vật hiện tượng); tâm lý xã hội (toàn bộ tình cảm, ước muốn, tâm trạng, tậpquán của con người, của một bộ phận hay của toàn xã hội hình thành dưới ảnhhưởng trực tiếp của đời sống hàng ngày của họ và phản ánh đời sống đó); hệ tư tưởng(bộ phận của ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội một cách gián tiếp, tự giác, kháiquát hóa thành những quan điểm tư tưởng (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo)
Trang 12Ý thức xã hội phản ánh tồn tại xã hội, hình thành và phát triển cùng với sựhình thành và phát triển của tồn tại xã hội Mỗi khi tồn tại xã hội, nhất là phương thứcsản xuất biến đổi thì những tư tưởng và lý luận xã hội, những quan điểm về chính trị,pháp luật, triết học, đạo đức, nghệ thuật v.v sớm muộn cũng thay đổi theo.Ý thức
xã hội là do tồn tại xã hội quyết định, nhưng chủ nghĩa duy vật lịch sử không xem ýthức xã hội như một yếu tố thụ động, trái lại còn nhấn mạnh vai trò tích cực của ýthức đối với đời sống kinh tế xã hội cũng là nhấn mạnh tính tính độc lập tương đối vàtác động trở lại tồn tại xã hội của ý thức xã hội
Trong xã hội có giai cấp, ý thức xã hội mang tính giai cấp rõ rệt, mỗi giai cấpđều có tâm lý và hệ tư tưởng riêng của giai cấp đó Ý thức chiếm địa vị thống trị trong xãhội là ý thức của giai cấp thống trị Trong lịch sử, ý thức của các giai cấp bóc lột thốngtrị (chủ nô, địa chủ phong kiến, tư sản) chỉ có nội dung tiến bộ khi lợi ích của các giaicấp ấy còn phù hợp với lợi ích của đông đảo quần chúng nhân dân, và trở thành phảnđộng khi lợi ích của họ mâu thuẫn gay gắt với lợi ích của quần chúng Trong thời đạingày nay, ý thức của giai cấp vô sản, chủ nghĩa Mác - Lênin, là ý thức cách mạng và tiến
bộ nhất vì phù hợp với tiến trình tất yếu của lịch sử nhân loại
Từ lâu, đã có nhiều nhà triết học, luật học, xã hội học v.v đứng trên lậptrường chuyên môn của mình mà có những góc độ nghiên cứu khác nhau về kháiniệm ý thức pháp luật (YTPL)
Có quan niệm cho rằng: YTPL là một hình thái ý thức xã hội, biểu thị mốiquan hệ của con người đối với pháp luật [10, tr.147] Đây là quan niệm mang tínhkhái quát cao, nhưng lại quá chung, chưa phản ánh được kết cấu, nguồn gốc và nộidung của YTPL
Lại có những quan niệm thường chỉ đề cập và nhấn mạnh mặt này hay mặtkhác của ý thức pháp luật Một số quan niệm khác chỉ nhấn mạnh cơ cấu của YTPL,như cho rằng: “YTPL là tổng hợp những tư tưởng, quan điểm pháp luật và tâm lýpháp luật Hay nói cụ thể hơn, là tổng hợp những nhận thức, những hiểu biết quanđiểm pháp lý, những tình cảm pháp luật, cùng với sự tôn trọng và thói quen chấphành nghiêm chỉnh pháp luật” [27, tr.235] Về mặt bản chất giai cấp, có tác giả chorằng: “YTPL XHCN là tổng hòa những quan điểm, quan niệm, tình cảm về mặt phápluật thể hiện thái độ của giai cấp công nhân và của nhân dân lao động do giai cấp
Trang 13công nhân lãnh đạo, đối với pháp luật, đối với những yêu cầu khác của pháp luật, đốivới các quyền và nghĩa vụ của công dân” [39, tr.196] Một số quan điểm khác lại thuhẹp cơ cấu của ý thức pháp luật mà không đề cập đến tâm lý pháp luật như: “YTPL làtổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm và quan niệm thịnh hành trong xãhội, thể hiện mối quan hệ thông qua sự hiểu biết của con người đối với pháp luật hiệnhành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợppháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người cũng như trong hoạtđộng của các cơ quan Nhà nước và tổ chức xã hội” [9, tr.229] Cũng có quan niệm đềcập tới YTPL một cách đầy đủ hơn, khi nêu lên được cả tính chất, cơ cấu và nội dungcủa YTPL: “YTPL – một hình thái ý thức xã hội, là tổng thể những quan điểm, quanniệm, học thuyết pháp lý, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) thểhiện thái độ của họ đối với pháp luật hiện hành, trật tự pháp luật, sự đánh giá về tínhcông bằng hay không công bằng, đúng đắn hay không đúng đắn của pháp luật hiệnhành, pháp luật đã qua và pháp luật trong tương lai, về hành vi hợp pháp, hành vikhông hợp pháp của cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức” [19, tr 290] Một quanniệm khác lại cho rằng ý thức pháp luật thể hiện ý thức của chủ thể pháp luật, chẳnghạn: “ ý thức pháp luật là trình độ hiểu biết của các tầng lớp nhân dân về pháp luật ýthức pháp luật còn là thái độ đối với pháp luật ý thức tôn trọng hay coi thường phápluật, đó là thái độ đối với hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm” [26, tr.19] Quanniệm này chưa hoàn chỉnh bởi vì nó chưa đề cập đến yếu tố giáo dục, văn hóa phápluật cũng như chức năng quản lý xã hội của Nhà nước thông qua pháp luật Quá nhấnmạnh khía cạnh ngăn ngừa, răn đe trong việc thực hiện pháp luật sẽ gây tâm lý thụđộng bởi sự áp đặt của văn bản pháp luật, nó không thể hiện tính nhân đạo, ưu việtcủa pháp luật xã hội chủ nghĩa.
Như vậy, có thể nói do mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu, ý thứcpháp luật được xem xét trên những khía cạnh khác nhau nên nó cũng được hiểu theonhiều cách cách khác nhau Đứng từ góc độ nghiên cứu triết học, trên cơ sở tổng hợpcác yếu tố hợp lý của các quan niệm trên, có thể rút ra định nghĩa YTPL như sau:
YTPL là một hình thái ý thức xã hội độc lập tương đối so với các hình thái ý thức xã hội khác, phản ánh một cách trực tiếp đời sống pháp luật, hình thành những khái
Trang 14niệm, quan điểm, tư tưởng, tình cảm của con người (cá nhân, giai cấp, tầng lớp) đối với pháp luật, thể hiện sự hiểu biết, thái độ và sự đánh giá về pháp luật hiện hành, pháp luật trong quá khứ và pháp luật cần phải có, về quyền và nghĩa vụ của con người trong xã hội, về hành vi hợp pháp hay không hợp pháp của cá nhân, các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội.
Định nghĩa trên chỉ rõ bản chất của YTPL với tính cách là một hình thái ýthức xã hội có nguồn gốc trực tiếp là đời sống pháp luật, một lĩnh vực độc lập tươngđối trong đời sống xã hội, đồng thời cũng vạch rõ cơ cấu và nội dung của YTPL
Là một hình thái ý thức xã hội, YTPL phản ánh sâu sắc đời sống pháp luật,trước hết là sự phản ánh quá trình nhận thức về pháp luật, ý thức chấp hành pháp luậtcủa nhân dân và việc điều chỉnh hành vi của họ nhằm duy trì trật tự kỷ cương xã hộitheo pháp luật của Nhà nước
Tùy từng góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể xem kết cấu YTPL gồm nhữngthành tố nhất định Căn cứ vào tính chất, nội dung của sự phản ánh hình thành YTPL,thì có thể chia YTPL thành: hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật Nói đến hệ tưtưởng pháp luật là nói đến bản chất của pháp luật, nó thể hiện ý chí của giai cấpthống trị trong xã hội có phân chia giai cấp Hệ tư tưởng pháp luật đó là hệ thống cácquan điểm, tư tưởng của con người, phản ánh một cách sâu sắc đời sống pháp luậttheo ý chí của một giai cấp nhất định, nó được thể hiện thông qua hệ thống các phạmtrù, khái niệm, nguyên tắc Hệ tư tưởng pháp luật là hệ thống các vấn đề mang tínhbản chất của pháp luật và quan hệ pháp luật, nó được khái quát ở tầm lý luận Hệ tưtưởng pháp luật bao gồm tổng thể các tư tưởng, quan điểm, học thuyết về pháp luật,
là kết quả của sự phản ánh tri giác, có mục đích, có tổ chức của hoạt động tư duy, chonên sự phản ánh này rất sâu sắc, là cơ sở hình thành lý luận, học thuyết về nhà nước
và pháp luật của một giai cấp nhất định.Tâm lý pháp luật là sự phản ánh tâm trạng,cảm xúc, thái độ, tình cảm của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý.Tâm lý pháp luật được hình thành một cách tự phát, dưới dạng tình cảm, tâm trạng,thái độ, cảm xúc của con người đối với pháp luật Sự tồn tại của tâm lý pháp luậtthường gắn với trạng thái tâm lý của con người, là sự phản ánh trực tiếp, những
“cung bậc” tình cảm của con người đối với các hiện tượng pháp lý cụ thể Tâm lý
Trang 15pháp luật là một bộ phận của YTPL, so với hệ tư tưởng thì nó phong phú hơn, có tínhbền vững hơn, ít biến đổi và gắn bó chặt chẽ với thói quen, truyền thống, tập quáncủa con người, của cộng đồng xã hội Tâm lý pháp luật đó là việc thể hiện hành vi vàthái độ đối với pháp luật hiện hành và việc chấp hành các quy định của pháp luật, đó
là thái độ đồng tình hay phản đối, thờ ơ hay trân trọng, xem thường hay tôn trọngpháp luật Thông qua thái độ ấy mà con người thể hiện thái độ, niềm tin, thực hiệnhành vi ứng xử trước pháp luật của Nhà nước
Một khía cạnh khác là giữa tâm lý pháp luật và hệ tư tưởng pháp luật có mốiquan hệ khăng khít với nhau Tâm lý pháp luật ra đời và phản ánh thái độ của conngười trước pháp luật một cách tự phát, chưa hoàn chỉnh và chịu sự chi phối của hệ
tư tưởng pháp luật Ngược lại, sự phát triển của hệ tư tưởng pháp luật cũng chịu ảnhhưởng của tâm lý pháp luật Tâm lý pháp luật và hệ tưởng pháp luật là hai trình độphản ánh đời sống pháp luật nhưng có mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhautrong sự hình thành YTPL; sự đan xen và mức độ tác động qua lại giữa hệ tư tưởngpháp luật và tâm lý pháp luật lại còn tùy thuộc vào điều kiện kinh tế, chính trị xã hộicủa mỗi quốc gia, dân tộc Vì vậy, để khắc phục tình trạng đó, bên cạnh việc đổi mới,hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật, việc kiểm tra giám sát thực hiện pháp luậtcần phải tăng cường công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân
Căn cứ vào mức độ phản ánh và trình độ nhận thức, có thể chia YTPL thành:YTPL thông thường và YTPL khoa học YTPL thông thường nảy sinh một cách trựctiếp, tự phát từ hoạt động giao tiếp thường ngày với các sự kiện và hiện tượng phápluật Nó mang tính cảm xúc tâm lý và kinh nghiệm tình cảm, nên thiếu sâu sắc vàkhông ổn định, nhưng do phản ánh trực tiếp, nên nó phản ánh đầy đủ hơn đặc điểmcủa hoàn cảnh với tất cả các chi tiết và sắc thái của nó YTPL khoa học được thể hiệndưới dạng những lý luận, quan điểm về bản chất của pháp luật, về sự tác động qua lạigiữa chính sách pháp luật với các hiện tượng xã hội khác, về vai trò và giá trị xã hộicủa pháp luật.v.v
Khác với YTPL thông thường, YTPL khoa học phản ánh một cách sâu sắc, ổnđịnh và có hệ thống các hiện tượng pháp luật thông qua nghiên cứu và tổng hợp cáckiến thức pháp luật
Trang 16Dựa trên đối tượng phản ánh, có thể chia YTPL thành: YTPL cá nhân, YTPLcủa nhóm và YTPL xã hội YTPL cá nhân là những tư tưởng và tâm lý pháp luật củamột con người cụ thể Do sự khác biệt về điều kiện sống, hoàn cảnh gia đình, môitrường giáo dục, trình độ học vấn, kinh nghiệm sống của cá nhân người nên YTPL củamỗi cá nhân cũng có những biểu hiện khác nhau.
YTPL của nhóm phản ánh những đặc điểm của từng nhóm xã hội tương ứng.Trong xã hội thường có nhiều nhóm khác nhau, do điều kiện sống, nhu cầu lợi íchriêng của mỗi nhóm mà mỗi cá nhân trong nhóm có những nhận thức, suy nghĩ, tìnhcảm, thái độ của họ đối với pháp luật có nhiều điểm tương đồng với nhau
YTPL xã hội là tổng thể những tư tưởng và tâm lý pháp luật phản ánh đờisống pháp luật của một xã hội YTPL xã hội xuất phát từ YTPL cá nhân nhưng khôngđơn thuần là sự cộng hưởng theo cấp số nhân của YTPL cá nhân mà là một hệ thốnghoàn chỉnh hình thành từ sự tác động lẫn nhau giữa YTPL cá nhân với cá nhân, cánhân với tập thể v.v Và chịu sự chi phối bởi YTPL của giai cấp thống trị trong xãhội
YTPL có ba chức năng chính đó là: nhận thức, mô hình hóa và điều chỉnh.Nếu như chức năng nhận thức của YTPL là sự phản ánh tích cực và sáng tạo đời sốngpháp luật vào bộ óc con người, thông qua khối vật chất đặc biệt đó mà hình thành nênYTPL Đó là các hiện tượng pháp luật được lặp đi lặp lại trong đời sống xã hội mà từ
đó con người có được những thông tin, hiểu biết về việc tổ chức các quan hệ xã hộibằng phương tiện pháp luật, hình thành nên những khái niệm, quan điểm, tư tưởngniềm tin của con người đối với pháp luật thì mặt khác, chức năng mô hình hóa củaYTPL lại góp phần vào việc hoạch định chính sách pháp luật, xây dựng pháp luậttheo những ý tưởng, mô hình, dự án định sẵn.Việc hình thành YTPL đã mang lại chocon người những tri thức, nhận thức sâu sắc về bản chất và hiện tượng pháp luật từ
đó con người có thể khái quát, hình dung được những quy luật vận động cũng như xuhướng phát triển của nó để hình thành mô hình hành vi nhất định phù hợp với yêucầu của pháp luật Mặt khác, nếu tri thức pháp luật giúp cho con người xác định đượccách thức hành vi phù hợp với yêu cầu của hệ thống pháp luật hiện hành thì tình cảmpháp luật lại là động lực thúc đẩy con người hoạt động phù hợp với cách thức đã định
Trang 17ra Cũng có nghĩa là, chính YTPL đã giúp cho chủ thể (cá nhân, tập thể, tổ chức xãhội) tự điều chỉnh hành vi của mình, hướng hoạt động của mình sao cho phù hợp vớipháp luật Như vậy, sức mạnh điều chỉnh của YTPL là sức mạnh tiềm ẩn trong nộitâm của con người Đó là sức mạnh của lý trí, tình cảm có trong con người YTPLkhông chỉ điều chỉnh hành vi của con người mà còn giúp cho con người điều chỉnh cảhoạt động xây dựng pháp luật, thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật và đấu tranhchống vi phạm pháp luật.
Tóm lại, ba chức năng chính của YTPL đều có sự tác động qua lại, liên hệchặt chẽ với nhau trong một thể thống nhất chúng cùng thể hiện bản chất chung củaYTPL đó là sự phản ánh tích cực, sáng tạo đời sống pháp luật thông qua hoạt động xãhội của con người
1.1.2 Sự hình thành của ý thức pháp luật
Trong tiến trình phát triển của xã hội loài người, khi nhà nước có giai cấp xuấthiện thì pháp luật, đời sống pháp luật và YTPL cũng ra đời theo YTPL là sự phảnánh đời sống pháp luật, nhưng không có nghĩa là có đời sống pháp luật rồi mới cóYTPL, mà YTPL hình thành đồng thời trong sự thống nhất với pháp luật và đời sốngpháp luật Như vậy, xét dưới góc độ là một hình thái ý thức xã hội, YTPL hình thành
và phát triển luôn gắn với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội nhất định và do đócũng gắn liền với sự hình thành pháp luật và đời sống pháp luật Khi các hình thái xãhội biến đổi kéo theo pháp luật và đời sống pháp luật thay đổi và đồng thời YTPLcũng vận động, phát triển qua các chế độ khác nhau
YTPL ra đời muộn hơn so với các hình thái ý thức xã hội khác, như: ý thức thẩm
mỹ, ý thức khoa học, ý thức đạo đức, ý thức tôn giáo v v Kể từ khi con người biết chếtạo ra công cụ sản xuất bằng kim loại và đặc biệt hơn là khi công cụ bằng sắt ra đời thìkhả năng lao động tạo ra của cải vật chất của con người càng phát triển mạnh mẽ Lúcnày, lực lượng sản xuất phát triển, thúc đẩy sự phân công lao động theo hướng chuyênmôn hóa, nhỏ lẻ hơn và nhờ đó mà năng suất lao động tăng lên không những đáp ứngđược nhu cầu của bản thân mà còn tạo ra sản phẩm dư thừa, từ đó nảy sinh tư tưởng tưhữu đối với sản phẩm dư thừa đó và chế độ tư hữu ra đời, xã hội lúc này xuất hiện kẻgiàu và người nghèo đối kháng nhau về lợi ích Những người giàu, có chức quyền, có vị
Trang 18trí trong xã hội chiếm đoạt nhiều của cải nhất trở thành giai cấp thống trị, họ tìm mọicách để đảm bảo trật tự xã hội có lợi cho mình, từ đó tư tưởng của Nhà nước và phápluật cùng với những thiết chế đảm bảo cho những tư tưởng đó ra đời Như vậy, có thểthấy rằng, YTPL không những ra đời và phát triển cùng với sự phát triển của Nhà nước
và pháp luật mà còn là sản phẩm bởi sự đấu tranh của những giai cấp và tầng lớp đạidiện cho lợi ích khác nhau trong xã hội Những tư tưởng về Nhà nước và pháp luật baogiờ cũng được giai cấp thống trị và bị trị sử dụng như là sơ sở lý luận về mặt đạo đức,pháp lý bảo vệ cho thiết chế xã hội của mình hoặc tạo ra những tiền đề lý luận cho cáccuộc đấu tranh chống lại Nhà nước và pháp luật Như đã nói, trong xã hội có giai cấp đốikháng, YTPL của giai cấp thống trị là YTPL chính thống: “ những tư tưởng thống trị củamột thời đại bao giờ cũng chỉ là những tư tưởng của giai cấp thống trị” [4, tr.86] Nhưvậy, YTPL cũng phụ thuộc vào mục đích, lợi ích của giai cấp thống trị đang nắm nótrong tay, những tư tưởng pháp luật đó sẽ thúc đẩy Nhà nước và pháp luật phát triển, duytrì được một xã hội trật tự do họ định ra và sẽ được xã hội đồng tình, ủng hộ nếu như họđại diện cho một phương thức sản xuất tiến bộ và những tư tưởng pháp luật đó phù hợpvới YTPL của các tầng lớp trong xã hội Mặt khác, YTPL của giai cấp thống trị sẽ cảntrở sự phát triển của xã hội, của Nhà nước, sẽ đối kháng với YTPL của đại đa số tầng lớptrong xã hội nếu như giai cấp thống trị trở nên bảo thủ, lạc hậu, phản động thì sớmmuộn, giai cấp thống trị đó cùng với tư tưởng pháp luật của mình cũng sẽ bị thay thế bởinhững giai cấp mới với tư tưởng pháp luật tiến bộ hơn, phù hợp với điều kiện phát triểnkinh tế xã hội, đại diện cho nguyện vọng của hầu hết các tầng lớp nhân dân Vì vậy, xéttrong toàn bộ tiến trình phát triển của lịch sử loài người, YTPL ngày càng được bồi đắp,hoàn thiện qua các hình thái xã hội khác nhau
Theo nghiên cứu của các nhà lý luận về lịch sử các học thuyết chính trị vàpháp luật thì YTPL ra đời vào thời kỳ chế độ cộng sản nguyên thủy tan rã và xất hiệnchế độ chiếm hữu nô lệ cùng với nhà nước và pháp luật của nó Ở Ai Cập cổ đại, đốivới giai cấp thống trị, sức mạnh của pháp luật được ví như sức mạnh của thần linh,
mà các vị hoàng đế lại tự xem mình là con của các vị thần linh, nên pháp luật lạichính là công cụ quan trọng để khống chế “sự bạo loạn” của nhà vua đối với đámđông dân chúng Chẳng hạn, theo quan niệm của người Ai Cập thì Ram-ses II (triều
Trang 19đại thứ XIX) là con thần Among được ban sức mạnh để trị những kẻ bạo nghịch.Chính vì vậy, hầu hết các tư tưởng pháp luật và các quy phạm pháp luật được ápdụng ở Ai Cập cổ đại đều mang tính chất như là những phương tiện hữu hiệu nhất đểrăn dạy dân chúng không được phép xâm hại tài sản của những người giàu có; vì
“công lý thuộc về kẻ tuân thủ di huấn tổ tiên Cần phải liêm chính vì phải chịu tráchnhiệm trước thần linh” Đối với tầng lớp bị trị, tư tưởng pháp luật được coi như công
lý của cuộc sống Họ đã mơ ước tới một xã hội mà “pháp luật phải công minh vàthống nhất với tất cả” (“ Lời giáo huấn cho Merica”), một xã hội mà “công lý sẽ chàođón, sự giả dối sẽ vĩnh viễn mất đi” (“ Lời thoại Ne-phéc-ti”) Tư tưởng pháp luậtnày cũng được hình thành ở các quốc gia La Mã và Hy Lạp cổ đại Như vậy, nhữngquan niệm tư tưởng pháp luật của thời kỳ này nhằm luận chứng cho trật tự chế độ nô
lệ, bảo vệ, củng cố cho quyển tư hữu của chủ nô đối với tư liệu sản xuất và nô lệcùng với tình trạng vô quyền của người nô lệ Ở thời kỳ tiếp sau, cùng với sự pháttriển của xã hội, nền dân chủ chủ nô phát triển và được khẳng định Đây là thời kỳ nở
rộ các tư tưởng chính trị pháp lý Pháp luật được quan niệm thuộc bản thân lý tínhcủa mỗi người Với cách nhìn biện chứng, nếu gạt bỏ những hạn chế về mặt lịch sử,cần thấy rằng, các nhà tư tưởng Hy Lạp, La Mã cổ đại đã đặt những viên gạch đầutiên thúc đẩy sự phát triển học thuyết về Nhà nước và pháp luật Ngày nay, khinghiên cứu về Nhà nước pháp quyền, về phương thức tổ chức quyền lực Nhà nước,không thể không quay lại tìm hiểu, suy ngẫm những tư tưởng quý báu vẫn cònnguyên giá trị của Platon, Aristote, Democris.v.v
Sau khi chế độ chiếm hữu nô lệ La Mã sụp đổ, vào thế kỷ V-VII ở Tây Âu đãxuất hiện các Nhà nước, chế độ phong kiến dần hình thành, và cùng với sự thay đổi
đó, tư tưởng pháp luật phong kiến được hình thành từ nền tảng vững chắc của giáo lý
và thần quyền được bổ sung bởi sự kế thừa những quan điểm của thời kỳ cổ đại Vớisức mạnh kinh tế và chính trị của mình, nhà thờ đóng vai trò thống soái trong hệ tưtưởng của xã hội phong kiến Giáo hội can thiệp sâu vào đời sống chính trị, xã hội,pháp luật và công bố đặc quyền, đặc lợi của các lãnh chúa phong kiến, sự áp bức bóclột trong xã hội là do “ Chúa đã an bài” Tư tưởng pháp luật phong kiến bảo vệ mộtcách triệt để chế độ đẳng cấp đặc quyền phong kiến, với những hình phạt man rợ đối
Trang 20với những hành vi xâm phạm trật tự xã hội lúc bấy giờ Nhận xét về tư tưởng thờitrung cổ, P Ăngghen viết: “Trong tay bọn giáo sĩ, chính trị và luật học, cũng như tất
cả các ngành khoa học khác, vẫn chỉ là những ngành của khoa học thần học và nhữngnguyên lý thống trị thần học cũng được áp dụng cho chính trị và luật học Kinh thánhcũng có hiệu lực trước mọi tòa án như là pháp luật, khoa học luật học trong một thờigian dài vẫn còn đặt dưới sự giám hộ của thần học ”[30, tr.30]
Cho đến thế kỷ XVI, khi xã hội phong kiến cùng với hệ tư tưởng của nó suytàn, hệ tư tưởng mới xuất hiện Trong cuộc đấu tranh chống nền quân chủ chuyênchế, giới quý tộc và nhà thờ, các nhà tư tưởng tư sản muốn vứt bỏ vòng hào quangthiêng liêng bao trùm lên chế độ phong kiến, tách các vấn đề Nhà nước và phápquyền ra khỏi tôn giáo Khuynh hướng này được thể hiện rõ nét trong học thuyết tưsản về pháp lý tự nhiên Những quan điểm duy lý về pháp luật của giai cấp tư sản nảysinh mà thể hiện cụ thể là quan niệm về tự do,bình đẳng, tư hữu gắn liền với quyền tựnhiên theo đó mỗi người có quyền ngang với người khác, không phụ thuộc vào đẳngcấp hay giai tầng trong xã hội Từ đó, hình thành nên pháp quyền hình thức, khẳngđịnh sự bình đẳng pháp lý của tất cả mọi người trong xã hội, thế nhưng thực tế đờisống và đặc điểm của giai cấp xã hội lại làm cho những khái niệm trên chỉ là lýthuyết, là ảo tưởng về sự bình đẳng, công bằng Sự phát triển và bành trướng mạnh
mẽ của nền kinh tế tư bản tư nhân và sự cạnh tranh khốc liệt đã thủ tiêu những hìnhthức kinh doanh nhỏ, cuốn họ vào những hệ thống, những tập đoàn kinh tế lớn đangtrong cơn khát tìm kiếm lợi nhuận cho mình và quyền sở hữu của đa số bị loại bỏ Domất quyền về kinh tế nên người lao động mất luôn quyền của mình trên vũ đài chínhtrị, sự đối kháng về quyền lợi giữa một bên là Nhà nước tư sản và một bên là cá nhân
và tầng lớp trong xã hội ngày một sâu sắc Ngay trong YTPL của giai cấp tư sản lúc
này đã hình thành hai khuynh hướng đối nghịch: một là : mong muốn thay đổi pháp quyền hiện hành theo hướng đảm bảo hơn cho tự do cá nhân; hai là: đề cao duy nhất
một hệ thống pháp lý của Nhà Nước mà trong đó chỉ có quyền do Nhà nước quy định
là hiện thực (luật thực định), còn quyền hiển nhiên (luật tự nhiên) của cá nhân thìkhông cần phải quan tâm Mỗi giai cấp trong xã hội đều có ý thức hệ riêng của mình
và đó chính là tiếng nói, là tâm tư, nguyện vọng cho lợi ích của giai cấp đó Giai cấp
Trang 21vô sản ra đời cũng không nằm ngoài quy luật đó, trong quá trình đấu tranh họ đã hìnhthành nên YTPL của riêng mình mà đại biểu ưu tú nhất của nó đó chính là C.Mác vàPh.Ăngghen Ban đầu, YTPL của giai cấp vô sản chỉ được biểu hiện qua các yêu cầu,yêu sách dưới dạng cương lĩnh của Đảng của giai cấp công nhân thể hiện thái độ phêphán pháp luật tư sản, qua quá trình thực tiễn đấu tranh nó dần trở thành các họcthuyết trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ về luật pháp trong lịch
sử mà đặc biệt là YTPL tư sản Mặt khác, học thuyết này đã khắc phục được nhữngmặt hạn chế của tư sản bằng cách tạo nên một cuộc cải cách về sở hữu tư liệu sảnxuất, mang quyền định đoạt về tư liệu sản xuất trao tay cho đại đa số, đây là một tiền
đề để hiện thực hóa quyền tự do, dân chủ và bình đẳng trong xã hội Những tư tưởngpháp luật ấy cùng với ý thức chính trị tạo nên cơ sở lý luận sắc bén cho cuộc cáchmạng vô sản đấu tranh xóa bỏ CNTB, xây dựng CNXH Do còn hạn chế về mặt lịch
sử và nhận thức, nên mặc dù YTPL của giai cấp vô sản đã trở thành ý thức hệ thốngtrị sau khi chính quyền đã thuộc về nhân dân nhưng giai đoạn đầu vẫn phải chọn lọcnhững tư tưởng pháp luật cũ không đi ngược lại lợi ích của giai cấp vô sản và nhândân lao động để áp dụng cho hệ thống pháp luật của mình Sau khi cách mạng vô sảnthành công, cùng với sự ra đời của nhà nước và pháp luật XHCN thì YTPL XHCNmới dần dần kiện toàn, phản ánh đầy đủ đời sống pháp luật XHCN, loại bỏ dần dầnnhững ảnh hưởng của các hình thái YTPL khác
Như vậy, thông qua lý luận cũng như thực tiễn lịch sử đã chứng minh sự rađời, hình thành YTPL không phải là sự ngẫu nhiên mà là một hiện tượng mang tínhquy luật YTPL chỉ hình thành trên tiền đề kinh tế, xã hội phát triển ở một trình độnhất định khi xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp và sự đối kháng lợi ích của các giaicấp khác nhau trong xã hội và nhu cầu điều chỉnh các quan hệ xã hội thông qua Nhànước và pháp luật
Xét dưới góc độ YTPL cá nhân, YTPL được hình thành và phát triển bằng nhiềucon đường khác nhau mà có thể tóm lược lại thông qua ba hình thức:
Thứ nhất, thông qua hoạt động nhận thức: Trong quá trình sống, dưới sự tác
động đa chiều của đời sống xã hội, nhu cầu nhận thức trở nên quá đỗi cần thiết chomỗi cá nhân, trong đó có nhu cầu nhận thức pháp luật Do đó, mỗi người phải tìm
Trang 22cách thỏa mãn nhu cầu nhận thức đó bằng cách tự tìm hiểu pháp luật cộng thêm sựtác động của GDPL từ phía nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội thông qua cácphương tiện thông tin đại chúng, mà con người được trang bị, bồi dưỡng về tư tưởngpháp luật và tâm lý pháp luật.
Thứ hai, thông qua con đường hoạt động giao tiếp, được hình thành trong quá
trình hoạt động xã hội và tiếp xúc hàng ngày của mỗi người trong cộng đồng Bằngnhiều hình thức phong phú, đa dạng, YTPL đi vào nhận thức của mỗi người một cách
tự nhiên theo con đường giao tiếp cá nhân với cá nhân hoặc là cá nhân với nhómngười.v.v… Qua con đường đơn giản và không mang một quy chuẩn nhất định, kiếnthức pháp luật qua quan hệ giao tiếp mà chủ yếu là thông qua truyền miệng thườngkhông đầy đủ và hệ thống có khi còn bị sai lệch, bị “tam sao thất bản” tùy vào suynghĩ và chủ ý của mỗi người Đa phần những kiến thức pháp luật dưới dạng nàythường được bổ sung thông qua những mối quan hệ của con người, có thể là nhữngngười thân thiết như bạn bè, đồng nghiệp, đồng hương hoặc cũng có thể thông quanhững con đường chính thức mà xã hội biết đến và có thể kiểm tra như trường lớp,chi đoàn, hội thanh niên.v.v…Nhưng phải khẳng định rằng, truyền miệng qua quan
hệ giao tiếp là hết sức quan trọng và là con đường nhanh nhất trong việc tuyên truyềnđường lối, phổ biến chính sách pháp luật Nhà nước
Thứ ba, thông qua con đường hoạt động thực tiễn Nếu như thông qua hoạt
động nhận thức, con người được trang bị những kiến thức lý luận về Nhà nước vàpháp luật thì thông qua hoạt động thực tiễn giúp cho con người hiểu biết cụ thể vềcách thức vận hành của bộ máy pháp luật Nhà nước, áp dụng vào cuộc sống và làmsâu sắc thêm vốn tri thức pháp luật từ con đường nhận thức, bổ sung những gì cònkhiếm khuyết cũng như củng cố tình cảm, thái độ đúng đắn của cá nhân đối với phápluật Hoạt động thực tiễn ở đây đó chính là đời sống pháp luật, các văn bản, các quyphạm pháp luật, các tình huống pháp luật được trải rộng qua nhiều lĩnh vực như kinh
tế, chính trị, xã hội cho đến hoạt động văn hóa, nghệ thuật.v.v
Trong các lĩnh vực hoạt động thực tiễn thì quản lý nhà nước và quản lý xã hội
có ý nghĩa giáo dục pháp luật rất mạnh mẽ, nhất là hoạt động xây dựng pháp luật, ápdụng pháp luật và bảo vệ pháp luật Việc lôi cuốn nhân dân vào hoạt động này là một
Trang 23trong những con đường cơ bản để hình thành tri thức và bồi dưỡng tình cảm phápluật cho mọi người Có thể thấy rằng, giữa các hoạt động này có mối quan hệ biệnchứng, tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau để hình thành nên YTPL cá nhân Nếunhư hoạt động nhận thức là nền tảng quan trọng để con người tiếp cận với tri thứcmột cách có hệ thống và bước đầu hình thành nên tình cảm pháp luật thì hoạt độngthực tiễn lại đưa những tri thức mà con người tiếp thu được đặt vào môi trường phápluật và đời sống pháp luật, giúp cho con người tiếp cận với pháp luật và làm sâu sắcthêm tri thức Đồng thời, khi cả hai hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn càngđược phát triển thì kéo theo hoạt động giao tiếp càng được mở rộng hơn, phong phúhơn.Hoạt động giao tiếp càng phát triển thì hoạt động nhận thức và hoạt động thựctiễn ngày càng kiện toàn, tri thức pháp luật cũng luôn luôn được bổ sung thông quanhiều luồng thông tin khác nhau.
Xét dưới góc độ kết quả của sự phản ánh,YTPL còn chịu sự quy định và tácđộng thống nhất của cả điều kiện khách quan lẫn nhân tố chủ quan Điều kiện kháchquan ở đây chính là toàn bộ cơ sở kinh tế, văn hóa, xã hội của bản thân hệ thống phápluật hiện hành, thực tiễn pháp luật và đời sống pháp luật phong phú, đa dạng, sinhđộng và phức tạp Nhân tố chủ quan là những định hướng có tổ chức, có chủ định củaĐảng, Nhà nước và các tổ chức xã hội đóng vai trò là trọng tâm, chủ thể Nếu nhưđiều kiện khách quan đưa ra những mục tiêu, phương hướng, cách thức để tiến hànhtác động tới nhân tố chủ quan nhằm nâng cao YTPL, quy định tính chất và mức độphát triển của YTPL trong một giai đoạn lịch sử nhất định, quy định điều kiện vậtchất, khả năng của chủ thể tác động đến YTPL thì nhân tố chủ quan đóng vai trò tolớn trong quá trình biến đổi những khả năng khách quan trở thành hiện thực trongquá trình hình thành và phát triển YTPL
Xét đến cùng, bên cạnh việc thừa nhận vai trò quyết định của những điều kiệnkhách quan, thì cũng phải nhận thấy vai trò sáng tạo, tích cực, chủ động của nhân tốchủ quan đối với quá trình hình thành YTPL Nếu như không có những điều kiệnkhách quan cần thiết thì bất kỳ mọi cố gắng của nhân tố chủ quan cũng không thể đạtđược kết quả, cũng như khi đã có điều kiện khách quan chín muồi thì nhân tố chủquan lại có tính quyết định trong việc biến những khả năng đang có thành hiện thực
Trang 24Bởi vì, những khả năng khách quan không thể thực hiện được nếu không thông quanhững nhân tố chủ quan mà ở đây cụ thể là con người Các Mác đã nói rằng: “Conngười vốn là sản phẩm của hoàn cảnh và giáo dục Và do đó con người biến đổi làsản phẩm của những hoàn cảnh khác nhau và của một nền giáo dục đã thay đổi” [7,tr.20] Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng khẳng định: “Hiền, dữ đâu phải là tínhsẵn, phần nhiều do giáo dục mà nên”[19, tr.383] Cần phải thấy rằng, sự tác động củacác điểu kiện khách quan mang tính chất tự phát, là nhân tố ảnh hưởng, còn sự tácđộng của những nhân tố chủ quan là sự tác động định hướng Nhân tố ảnh hưởng cóthể được hình thành từ cách này hay cách khác nhưng nhân tố tác động định hướngluôn tự phát, có ý thức và có chủ định rõ ràng Do đó, giữa hai nhân tố này luôn cómối quan hệ tương trợ lẫn nhau, nếu như nhân tố ảnh hưởng thuận với nhân tố tácđộng mà cụ thể là khi ảnh hưởng của các điều kiện khách quan phù hợp với hoạtđộng giáo dục thì chất lượng hiệu quả của giáo dục YTPL sẽ tăng lên rõ rệt và ngượclại nếu nhân tố ảnh hưởng đối nghịch với nhân tố tác động thì hiệu quả của việc giáodục sẽ bị trì trệ, giảm sút Cho nên, việc điều chỉnh đối với các điều kiện khách quanbất lợi và điều chỉnh cách thức, mô hình giáo dục đã lạc hậu so với các điều kiệnkhách quan là việc cần thiết để nâng cao hiệu quả giáo dục YTPL cho nhân dân.
Thực tiễn đã chứng minh rằng, nếu coi nhẹ nhân tố chủ quan, hạ thấp vai tròcủa giáo dục pháp luật thì các nhân tố tiêu cực như tội phạm tham nhũng, hối lộ sẽsinh sôi và phát triển ngay trong đội ngũ thi hành và bảo vệ pháp luật từ đó làm mấtniềm tinh của nhân dân, gây ra sự hoài nghi, làm phản tác dụng của giáo dục Ngượclại, nếu biết định hướng chúng trong các hoạt động thực tiễn pháp luật phù hợp thì sẽlàm giảm bớt tác động của tiêu cực, bài trừ được những tồn đọng trong các nhân tốkhách quan Như vậy, để nâng cao YTPL thì việc quan trọng đầu tiên là phải tiếnhành GDPL bởi vì GDPL là con đường trực tiếp, con đường ngắn nhất và gần nhưhiệu quả nhất để trang bị tri thức pháp luật một cách đầy đủ và hệ thống nhất GiữaGDPL và YTPL luôn có một mối quan hệ mật thiết với nhau bởi lẽ GDPL là mộtnhân tố chủ quan và đóng vai trò chủ đạo trong quá trình hình thành YTPL, đây cóthể xem là mối quan hệ giữa mục đích và phương tiện khi mà GDPL là phương tiện
để hướng tới mục đích duy nhất là hình thành YTPL Chất lượng GDPL càng cao,
Trang 25tính hiệu quả càng lớn thìYTPL của cá nhân và xã hội càng phát triển và YTPL đượcnâng cao sẽ tạo điều kiện thuận lợi để phát huy tính hiệu quả của công tác GDPL.
Tóm lại, có thể nói rằng, con đường hình thành và phát triển YTPL của conngười mang tính khách quan Nhưng mọi tri thức pháp luật đều được thẩm thấu thôngqua lăng kính chủ quan của cá nhân mỗi người Lĩnh hội pháp luật như thế nào, trướchết phụ thuộc vào môi trường tiếp xúc với pháp luật, khả năng nhận thức, tâm lý xãhội, các yếu tố lợi ích, động cơ và các giá trị xã hội sẽ chi phối thái độ của con ngườivới pháp luật
1.2 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến việc hình thành, phát triển ý thức pháp luật của thanh niên
Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, vấn đề thanh niên đãđược tất cả các quốc gia trong các thời đại nhìn nhận là một vấn đề có tầm quan trọngđặc biệt Thanh niên là một khái niệm có thể được hiểu và định nghĩa theo nhiềucách Tùy thuộc vào nội dung tiếp cận, góc độ nhìn nhận hoặc cấp độ đánh giá màngười ta đưa ra các định nghĩa khác nhau về thanh niên.Trong kho tàng tri thức củaloài người đã lưu giữ lại nhiều tư tưởng, quan điểm, các công trình nghiên cứu khácnhau của các nhà khoa học, nhà sư phạm, các danh nhân văn hóa về thanh niên Đểnhìn nhận đánh giá thanh niên một cách tương đối toàn diện, có thể bao hàm đượccác nội dung, quan điểm đã có, phạm vi đề tài này thanh niên được hiểu là một nhómnhân khẩu xã hội đặc thù có độ tuổi từ 15 tuổi đến trên dưới 30 tuổi, gắn với mọi giaicấp, mọi tầng lớp xã hội và có mặt trên mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội
Ở Việt Nam có một thời gian khá dài tuổi thanh niên được hiểu gần như đồngnhất với tuổi đoàn viên (15 đến 28 tuổi) Ngày nay do điều kiện kinh tế, chính trị, xãhội phát triển, thời gian học tập, đào tạo cơ bản của tuổi trẻ dài thêm, cùng với nhiềuđặc điểm khác mà chúng ta cho thanh niên là những người trong độ tuổi từ 16 đến 30.Tuy nhiên cần phải phân biệt rõ tuổi đoàn viên và tuổi thanh niên Theo điều lệ Đoànthì Đoàn Thanh niên cộng sản Việt Nam là một tổ chức chính trị xã hội, là cơ quanngôn luận của thanh niên bao gồm những thanh niên ưu tú trong độ tuổi 15 đến 30 Hết tuổi đoàn viên theo quy định, người đoàn viên đó vẫn có thể tự nguyện tiếp tục
Trang 26sinh hoạt trong tổ chức Đoàn hoặc tham gia vào Hội liên hiệp thanh niên và các hoạtđộng khác của Đoàn và phong trào thanh niên đến 35 tuổi.
Đứng ở góc nhìn của triết học, tâm lý học, xã hội học Thanh niên và vị thànhniên được xem là một “mốc son” quan trọng của cuộc đời mỗi con người đánh dấubước chuyển biến từ tuổi ấu thơ, tuổi thiếu niên sang tuổi trưởng thành Ở tuổi này,con người phát triển nhanh về thể chất, tâm lý, sinh lý Đó là tuổi bắt đầu trưởngthành về nhân cách, đạo đức và văn hóa, là độ tuổi khẳng định tính sáng tạo, nuôidưỡng mơ ước, hoài bão, khát vọng của tuổi trẻ, có ý chí vươn lên, sống sôi nổi trongquan hệ tình bạn, tình yêu Tuổi thanh niên là tuổi đến với lý tưởng, với khao khát,hoài bão cháy bỏng được mang sức trẻ, lòng nhiệt huyết và trí tuệ của mình cốnghiến cho xã hội, đất nước Lịch sử đã chứng minh rằng, mỗi khi xã hội trải qua nhữngbiến động, qua những cuộc cách mạng thì vai trò, tính xung kích của thanh niên đượcđặt lên hàng đầu Thanh niên là lực lượng tiên phong dám thay đổi cái cũ và đươngđầu với những thử thách mới với một ý chí tự lực tự cường mạnh mẽ Trong bất cứhoàn cảnh nào, thời đại nào, thanh niên Việt Nam vẫn là người phản ánh và thể hiện
rõ nhất hình ảnh của dân tộc Việt Nam với những đức tính lao động cần cù, thôngminh, sáng tạo, giàu lòng nhân ái, tự tôn và tự hào về truyền thống con rồng cháutiên Vì vậy, mọi cơ chế, chính sách, đầu tư cho thanh niên cũng chính là đầu tư choviệc giữ gìn và nâng cao những giá trị chuẩn mực tốt đẹp của người Việt Nam trongmột thế giới hội nhập, hợp tác, phát triển nhưng cũng đầy biến động khôn lường
Thanh niên chính là bộ mặt, là thước đo cho sự phát triển của một xã hội, mộtquốc gia Với vị thế mà mình đang có, lực lượng thanh niên đã, đang và ngày càng rasức cống hiến sức lực, tài năng và trí tuệ của mình cho đất nước Vấn đề YTPL củathanh niên là một điểm trọng yếu trong số những chính sách và động thái tích cực củaNhà nước quan tâm tới đối tượng này Việc tìm hiểu, nghiên cứu về các yếu tố tácđộng lên quá trình hình thành và phát triển YTPL của thanh niên đang rất được quantâm, trong quá trình nghiên cứu có thể thấy nổi bật lên những nhân tố ảnh hưởng chủyếu sau đây
Trang 271.2.1 Ảnh hưởng của thiết chế làng xã đến việc hình thành và phát triển
ý thức pháp luật của thanh niên
Việt Nam nằm trong vùng văn minh nông nghiệp lúa nước, do đó phần lớndân cư đều là nông dân sinh sống quần tụ với nhau trong một mô hình khép kín gọi làlàng, xã Từ thời xa xưa, làng xã là đơn vị hành chính cơ sở của quốc gia Trải quacác thời kỳ, làng xã luôn luôn đóng vai trò quan trọng trong sinh hoạt cộng đồng, đây
là trung tâm của mọi sinh hoạt dân chúng, nơi diễn ra các hoạt động kinh tế, văn hóa,
xã hội Do đó, làng xã là “cái nôi” hình thành ý thức, lối sống, tâm lý của cộng đồngcũng như tác động mạnh mẽ đến quá trình hình thành YTPL của người dân nói chung
và thanh niên nói riêng Cho nên, khi tìm hiểu quá trình hình thành và phát triểnYTPL của thanh niên trong giai đoạn hiện nay thì việc xem xét đến sự tác động củađặc điểm kinh tế, cấu trúc, thiết chế làng xã trong lịch sử là một việc cần thiết
Thứ nhất, làng xã ở Việt Nam nói chung là một cộng đồng khép kín dựa trên
cơ sở là quan hệ dòng tộc, họ hàng, nên quan hệ giữa các cá nhân rất khăng khít, gắn
bó Cùng với chế độ công hữu về ruộng đất và hình thức sản xuất tự cung tự cấp, các
hộ nông dân hầu như đều thu mình trong vỏ bọc của lệ làng một cách thụ động, ýthức cá nhân không được phát triển Đây là rào cản rất lớn cho việc tiếp nhận phápluật, hình thành YTPL và lối sống theo pháp luật
Xét về mặt lịch sử, làng xã ở Việt Nam là những làng lâu đời, được hình thànhtrên nền tảng là một xã hội công xã thị tộc cổ xưa Ở đó, yếu tố huyết thống dòng họrất được coi trọng, dân gian còn gọi là “ba họ chín đời” Vì vậy, làng xã Việt Namnói chung và trong đó có miền trung mang đậm tính kết dính, có bề dày hội tụ truyềnthống Mối liên kết chặt chẽ giữa người với người chủ yếu là tình nghĩa họ hàng, anh
em, giữa các chi, các nhánh của nhiều dòng họ khác nhau và can thiệp sâu vào đờisống của cá nhân, gia đình, làng xã
Làng ở đây đóng chức năng phân chia ruộng đất cho các thành viên cũng nhưgiữ vai trò quyết định hay điều chỉnh, quản lý việc sử dụng nước của mọi thành viêntrong cộng đồng Điều này được hiện thực hóa thông qua một hệ thống bộ máy hànhchính cai trị chặt chẽ, bao gồm ba cơ quan: cơ quan nghị quyết, cơ quan chấp hành,
Trang 28và cơ quan trị an Thời nhà Lê thì Hội đồng kỳ hào là cơ quan nghị quyết, có Hươngtrưởng (sau gọi là tiên chỉ) đứng đầu Hương mục nhận trách nhiệm trông coi tài sảncông tư của xã Trị an, tự vệ thì giao cho Trùm trưởng (sau gọi là tuần đinh) Hươngmục và trùm trưởng cũng là thành viên của hội đồng kỳ hào Hội đồng kỳ hào thường
là các hương hào danh tiếng có phẩm hàm, học thức, hoặc là hưu quan trong xã, điềukiện vào hội đồng không có quy chuẩn nhất định mà tùy theo hương ước của làng Cólàng xét ngôi thứ trong hội đồng theo “thiên tước" tức là ai cao tuổi nhất thì là tiênchỉ Các việc cấp xã gồm quyết định chi thu các ngạch thuế đinh, tiền cheo, tiền vạcùng những việc tế tự Hội đồng kỳ hào còn có quyền xét xử những vụ hình luật nhỏ.Chấp hành là xã trưởng do dân bầu ra để thi hành những nghị quyết của hội đồng kỳ hàocùng là đại biểu của xã khi liên lạc với triều đình như các quan từ cấp huyện trở lên khiNhà nước thu thuế, mộ lính, hay bắt dân làm tạp dịch
Với sự bao trùm của hệ thống cai trị này, rất khó để cho người dân có thể hìnhthành ý thức tự chủ, tự do và quan hệ bình đẳng trong xã hội, ý thức cá nhân chỉ xếp
ở hàng thứ yếu so với ý thức cộng đồng, hương ước và lệ làng, cùng với chế độ cônghữu về đất đai và nền sản xuất hàng hóa chậm phát triển thì đây cũng chính là một trởngại trong việc tiếp nhận pháp luật, hình thành thái độ tình cảm của mỗi người đốivới pháp luật Ý thức cộng đồng phát triển, chiếm thế thượng phong nhưng không cónghĩa ý thức cá nhân hoàn toàn bị vùi lấp, bởi lẽ sâu thẳm trong nhận thức của mỗingười vẫn hình thành một ý chí, khao khát vươn lên, thoát khỏi cảnh bất công vàgánh nặng xiềng xích của bộ máy cai trị quá đỗi cồng kềnh và bảo thủ trên nền tảng
là đức tính yêu thương đùm bọc lẫn nhau giữa quan hệ họ hàng, láng giềng trongtừng thôn, xóm
Tóm lại, cộng đồng làng xã Việt Nam nói chung và miền trung nói riêng đượcgắn kết chặt chẽ với nhau bởi tông pháp, lệ làng, hương ước Làng, xã được xem làmột cộng đồng khép kín mà ở đó sự liên kết giữa các thành viên vô cùng chặt chẽ,chất tự do, độ tự chủ cũng như nhân cách cá nhân không có điều kiện để tồn tại Do
đó, định hướng nhân cách theo ý thức cá nhân và ứng xử trong cộng đồng luôn đượcbảo đảm phải phù hợp với quy tắc, luật lệ đã được áp đặt sẵn
Trang 29Chúng ta biết rằng ý thức cá nhân, nhân cách cá thể là tiền đề của tự do và dânchủ, là cách để đấu tranh bảo bệ quyền lợi và lợi ích của mình Và chỉ trên cơ sở mỗicông dân, ý thức được đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình thì lối sống theo pháp luậtmới thực sự trở thành tự giác Nếu như cá nhân bị phụ thuộc vào cộng đồng, buộcphải ẩn mình vào cộng đồng, không nhận ra vai trò cá thể thì đó là hành động hùatheo đám đông Theo tác giả Trần Đình Hượu, thì: “có nhân cách độc lập mới có conngười tự trọng Có tự trọng mới hình thành con người đáng giá để có quan hệ vớingười khác, với đất nước, với nhân loại” [17, tr.616 ].
Như vậy, “cái tôi” cá nhân được xem là một khái niệm mang tính xa vời đốivới người dân sinh sống trong từng đơn vị làng, xã phong kiến Đến thời kỳ Phápthuộc, với chính sách đô hộ và vơ vét tài nguyên để phục vụ mục đích làm giàu chochính quốc, nhân dân ta lại gồng mình sống với cảnh “một cổ, hai tròng” khi ViệtNam biến thành xã hội thuộc địa nửa phong kiến Trong một xã hội rối loạn và phứctạp như vậy, “cái tôi” của người dân càng được chôn sâu dưới đáy của bất công và ápbức Do đó, lối sống và tư duy thụ động, an phận với hoàn cảnh, nép mình vào vớiquy tắc của lệ làng truyền thống và chế độ bảo hộ nửa vời của thực dân Pháp cùngvới chính quyền tay sai đã trở thành đặc tính chung của người Việt lúc bấy giờ Đâyđược xem là rảo cản lớn nhất để hình thành nên YTPL và lối sống theo pháp luậttrong các giai đoạn chuyển tiếp của xã hội sau này
Thứ hai, làng xã Việt Nam luôn trải qua một bề dày lịch sử của sự biến động về
kinh tế, chính trị dẫn tới sự phân hóa và phân cực cao, hình thành sự thích nghi của conngười với hoàn cảnh và sự nhạy cảm với các định chế pháp luật Như đã nói, làng xãViệt vốn được hình thành từ sự tan rã của công xã nông thôn, trải qua bao đời trị vì củacác triều đại phong kiến và sự đô hộ của các thế lực xâm lăng bên ngoài cộng với chínhsách chia để trị, lấy giai cấp địa chủ, cường hào làm chỗ dựa cho mình, bên cạnh đó vàothế kỷ XVII – XVIII xã hội Việt Nam có nhiều sự biến động khi hình thành mầm mốngcủa tiểu thương và sản xuất hàng hóa, mậu dịch phát triển Nông thôn Việt Nam lúc đódiễn ra sự phân hóa mạnh mẽ, ruộng đất tập trung hầu hết vào tay quan lại, địa chủ,cường hào, đa số nông dân trắng tay phải bán sức lao động của mình trên các thửa ruộngkhoán của địa chủ để lấy tiền công nuôi sống bản thân
Trang 30Đến thời kỳ Pháp thuộc, với âm mưu vơ vét và khai thác thuộc địa, thực dânPháp chủ trương hình thành tầng lớp đại địa chủ, càng đẩy nông dân thành kẻ trắngtay, bị bóc lột tàn bạo làm cho sự phân cực đó càng gay gắt Do đó, với sự thay đổi về
bộ máy cai trị này thực ra chỉ là một hình thức “rượu cũ bình mới”, thực dân Phápdựa trên cơ sở chính quyền phong kiến cũ để áp đặt một cách khôn khéo cách thứcbóc lột của mình
Đến giai đoạn miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và trước thời kỳ trước đổi mới,hầu hết ruộng đất và các hình thức sản xuất vật chất đều được mô hình hợp tác xã và tậpđoàn sản xuất thâu tóm, thì sự phân hóa mới được ngăn chặn Song, sự phân hóa vẫn diễn
ra dưới hình thức biến dạng, bởi đặc quyền, đặc lợi và “kinh tế ngầm”, “kinh tế tự do”phát triển vượt khỏi các chế định pháp luật, đặc biệt là ở miền Nam
Như vậy, sự phân hóa, phân cực sâu sắc làm cho cơ cấu giai cấp trong xã hội
ít nhiều cũng biến đổi, những biến động đó làm cho người Việt trở nên thích nghi caovới hoàn cảnh, nhưng lại bị bó hẹp trong lối tư duy cũ kỹ của lệ làng cho nên lạimang nặng tâm lý thụ động, phụ thuộc vào vào những chính sách áp đặt mà chínhquyền đại phương đưa ra, điều đó đã trở thành một “ bức tường rào” ngăn cản, tácđộng tiêu cực tới đến việc nhận thức pháp luật và hình thành tình cảm thái độ củangười dân đối với pháp luật
Thứ ba, bộ máy quản lý làng xã được duy trì bởi một cơ cấu tự quản, điều chỉnh
quan hệ cộng đồng làng xã thông qua hương ước Vì vậy, người dân tiếp cận với phápluật phải qua khâu trung gian là làng xã Khác với làng xã ở đồng bằng sông Cửu Longđược hình thành khá muộn thông qua chính sách khai phá của chúa Nguyễn từ thế kỷXVII mang đặc tính ít chất kết dính, lỏng lẻo, các thiết chế ít ràng buộc, không có tính cốkết chặt chẽ thì làng ở Bắc và Trung bộ lại là một xã hội truyền thống với nhiều quan hệchồng chéo ràng buộc, ứng với nó là hệ thống các thiết chế tạo ra một cộng đồng bềnvững và chặt chẽ Thiết chế được nói ở đây chính là phe, giáp, họ hàng can thiệp sâu vàođời sống của cá nhân, gia đình và làng xã, vai trò tự chủ của gia đình hầu như không còn
mà bị chi phối bởi hương ước và lệ làng
Có thể so sánh rằng, làng xã Việt thời kỳ phong kiến được ví như lãnh địa ở Châu
Âu thời kỳ trung cổ, khi mà mỗi lãnh địa được cai quản bởi một lãnh chúa và hoạt độngtheo mô hình vòng tròn tự cung, tự cấp, các luật lệ trong lãnh địa được quy định bởi
Trang 31chính lãnh chúa của lãnh địa đó Thì làng xã Việt cũng tương tự như vậy với quan hệ gầnnhư là tự quản, tự trị, yếu tố lãnh đạo của chính quyền Trung ương tỏ ra yếu ớt, hầu hếtmỗi làng đều lập nên một hương ước khác nhau và coi đó là nguyên tắc chung cho mọithành viên trong làng, bởi vậy mới có câu nói truyền miệng trong dân gian: “phép vuathua lệ làng” chính là nói đến đặc điểm này.
Như phần trước đã đề cập, bộ máy quản lý làng xã bao gồm hai bộ phận chính
là kỳ mục và kỳ dịch Kỳ mục còn gọi là hội đồng kỳ mục, là cơ quan chỉ có chứcnăng nêu kiến nghị Kỳ dịch là bộ phận hành chính của xã, là cơ quan trung gian giữa
xã và chính quyền cấp trên, đại diện cho pháp luật của nhà nước Trung ương, gồm cótiên chỉ, thứ chỉ Với cơ cấu tổ chức trên thì hội đồng kỳ mục thường không có thếlực mạnh và phải dựa vào kỳ dịch Hội đồng kỳ mục trong một chừng mực nhất địnhchỉ có vai trò quản lý về tín ngưỡng, còn lại tất cả các hoạt động chính trị, xã hội đềurơi vào tay kỳ dịch, cho nên hầu như vai trò của bộ phận kỳ dịch luôn chiếm thế độctôn, có quyền hành rât lớn, nhiều khi quyết định không cần phải thông qua hội đồng
kỳ mục Hình thức này được duy trì xuyên suốt trong cả thời kỳ Pháp thuộc và kếtthúc vào thời kỳ thiết lập thể chế nhà nước dân chủ mới Sau đó, làng xã Việt lại chịu
sự tác động mạnh mẽ của hợp tác xã và tập đoàn sản xuất khi hầu hết ruộng đất vàcác hình thức sản xuất vật chất đều được đưa và các mô hình mang nặng tính tập thể,cùng làm, cùng hưởng hay khoán sản phẩm v.v
Như vậy, làng xã Việt Nam nói chung và miền Trung nói riêng được quản lýchủ yếu bằng lệ làng, hương ước Đây cũng chính là sợi dây kết nối giữa các thànhviên với cộng đồng Pháp luật của Nhà nước để đến với người dân phải thông quakhâu trung gian đó là làng xã, vì vậy, những chính sách, thay đổi của pháp luật đênvới người dân thường rất muộn, điều này có tác động tiêu cực đến sự nhận thức, tìnhcảm, thái độ của họ đối với pháp luật, làm chậm quá trình hình thành ý thức sốngtheo pháp luật
Trong giai đoạn hiện nay, khi xã hội Việt Nam đã có nhiều biến đổi theo hướnghiện đại và văn minh Với hệ thống chính trị và cơ chế vận hành Nhà nước khoa học,hiệu quả, vai trò độc quyền của bộ máy cai trị làng xã cũng như vai trò của hương ước,
lệ làng ngày càng lùi vào dĩ vãng Trên hình thức, các giá trị của nó bị xóa bỏ hoàn toàn,
Trang 32người dân nói chung và thanh niên nói riêng được tự do thể hiện “cái tôi”, tự do thể hiệnnhững tâm tư, nguyện vọng và nhu cầu pháp luật trong đời sống của mình Tuy nhiên donhiều yếu tố chủ quan và khách quan mà tư tưởng lệ làng vẫn ăn sâu trong tiềm thức củathanh niên Việt Nam, đặc biệt là bộ phận thanh niên sống ở nông thôn Do đó, vai trò củaviệc giáo dục, phổ biến pháp luật hết sức quan trọng trong việc cải tạo nhận thức củathanh niên, định hướng cho thanh niên cách thức để đến gần hơn với pháp luật, đưa phápluật vào chính cuộc sống của họ.
1.2.2 Ảnh hưởng của tính đa dạng về sắc tộc và tín ngưỡng đến việc hình thành và phát triển ý thức pháp luật của thanh niên
Là một đất nước có bề dày văn hóa truyền thống, lại nằm trong vùng đượcxem là cái nôi văn minh của loài người Do đó, ở Việt Nam hình thành nhiều cộngđồng sắc tộc rất phong phú và đa dạng.Cả nước hiện có 54 sắc tộc anh em Trong số
54 sắc tộc, có những tộc người vốn sinh ra và phát triển trên mảnh đất Việt Namngay từ thuở ban đầu, có những tộc người từ nơi khác lần lượt di cư đến nước ta ViệtNam cũng là quốc gia có đặc tính đa tín ngưỡng, đa tôn giáo, mỗi tôn giáo được gắnliền với nhiều tộc người khác nhau trải dài trên toàn bộ lãnh thổ Tuy sống phân bốrải rác nhưngcác tộc người vẫn coi nhau như anh em một nhà, quý trọng, thương yêuđùm bọc lẫn nhau, chung sức xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cả khi thuận lợi cũng nhưlúc khó khăn Tính đa dạng về sắc tộc và tôn giáo này cũng là một đặc điểm quantrọng tác động đến quá trình hình thành YTPL
Thứ nhất, tính tự trị tương đối của từng tộc người và những yếu tố khách quan
là rào cản làm giảm đi sự hòa hợp giữa các sắc tộc ở Việt Nam, đồng thời cũng lànhân tố cản trở sự hình thành và phát triển YTPL
Nằm trong vùng vành đai nhiệt đới, lãnh thổ Việt Nam là nơi đổ về biển củahàng trăm con sông lớn nhỏ, chia cắt đất đai, địa hình thành những vùng đồi núi hiểmtrở, tạo ra sự phân cách rất lớn giữa các vùng miền Với số lượng đông đảo 54 sắc tộcphân bố lâu đời ở những địa bàn khác nhau, cộng với tập quán riêng biệt của mình.Các tộc người thiểu số, ngoài người Kinh ra thì đa phần đều chọn cư ngụ trên nhữngvùng cao nguyên hiểm trở, ít khi có sự liên kết, giao lưu với các tộc người khác,chính đặc điểm địa hình làm cho mỗi tộc người được xem là một cộng đồng khép
Trang 33kín, mang nặng tính cát cứ Ở đó, dưới hình thức là các buôn, làng, bản, phum, sóc,các cộng đồng này tự đặt ra cho mình một mô hình cai trị theo chế độ phụ hệ hoặcmẫu hệ mà tương ứng với nó sẽ là những tù trưởng, giàng, già làng v.v Nhữngngười này được được cộng đồng tôn vinh , đại diện cho bản, làng và có vai trò hếtsức quan trọng trong việc điều hành cũng như chi phối các hoạt động văn hóa, xã hội,kinh tế của bản, làng đó Với vị trí độc tôn của mình, những già làng vạch ra nhiềuluật lệ riêng phù hợp với lợi ích của bản thân và cộng đồng, bắt buộc cộng đồng phảilấy đó làm nguyên tắc chung cho lối sống của mình Những luật lệ đó có thể là nhữngquy tắc truyền thống từ các đời cha ông để lại thông qua những bộ sử thi, cũng có thể
là những quy tắc mới phù hợp với hoàn cảnh thực tại thông qua những cuộc họp củahội đồng bô lão trong bản, làng Người dân trong bản phải sống trong chừng mựcnhững nguyên tắc đó và nếu phạm tội thì sẽ bị xử phạt theo nhiều cách khác nhau Do
đó, tính tự giác và nhận thức cá nhân của họ bị lu mờ nhường chỗ cho ý thức cộngđồng, họ sống thụ động, an phận và cam chịu với những luật lệ hà khắc đó từ đời nàyqua đời khác Điều này cũng lý giải cho lối tư duy lạc hậu và kém nhạy bén đối với
sự thay đổi bên ngoài, tác động không nhỏ tới việc hình thành YTPL Hơn nữa, tâm
lý sắc tộc chiếm vị trí quan trọng trong suy nghĩ của người dân tộc thiểu số (tư tưởngsắc tộc, bản vị, sắc tộc địa phương), một mặt có những yếu tố tích cực củng cố ýthức tự hào dân tộc, nhưng nó cũng mang những yếu tố tiêu cực khi nó trở thành ýthức cục bộ, bảo vệ lợi ích bản vị của một bộ phận mà ảnh hưởng đến lợi ích của cáctộc người khác và ngăn cản sự đoàn kết giữa các sắc tộc Đặc biệt những phong tụctập quán riêng của từng dòng họ, hoặc từng tộc ngưởi, các luật tục còn có ảnh hưởnglớn đến đời sống đồng bào tộc người thiểu số, trong đó vẫn còn những hủ tục nặng
nề, lạc hậu Các luật tục, quy ước bên cạnh những mặt tích cực như được người dân
tự giác thực hiện, gắn bó gần gũi với cuộc sống hàng ngày của đồng bào, được người
dân tự giác xây dựng và thực hiện Song, nó cũng chứa đựng một số mặt hạn chế
nhất định như có những quy định của luật tục, quy ước lại trái với quy định của phápluật Đồng bào vẫn cứ hành xử theo thói quen của bộ tộc mình, của cộng đồng dân cưmình sinh sống mà vô tình không biết rằng mình đang vi phạm pháp luật Về sau, khi
Trang 34vai trò của Nhà nước đã tác động sâu đến mọi vùng miền lãnh thổ, khoảng cách giữacác tộc người được kéo gần lại, sự giao lưu, tìm hiểu lẫn nhau của các sắc tộc, cùngvới quá trình chống giặc ngoại xâm vô hình chung đã tạo nên một tinh thần yêu nước,không chịu khuất phục trước đàn áp bất công, chuộng bình đẳng bác ái và yêuthương, đùm bọc lẫn nhau đã trở thành tính cách chung của các sắc tộc trong dân tộcViệt Nam.
Thời kỳ phong kiến, với chính sách cực đoan, thậm chí phản động của triềuđình nhà Nguyễn, của bọn thực dân, đế quốc đã làm nảy sinh xu hướng phân ly giữacác sắc tộc Sự chia rẽ này chỉ là tạm thời xuất hiện ở các tầng lớp bên trên còn nhândân lao động của các tộc người vẫn gìn giữ mối quan hệ đoàn kết gắn bó với nhau thểhiện truyền thống “khoan dung” dân tộc của dân tộc Việt Nam “Vào thế kỷ XIX, vuaMinh Mạng thi hành chế độ pháp luật hà khắc và chính sách dân tộc cực đoan, tiếnhành đàn áp các dân tộc một cách tàn bạo, nhất là đối với người Khơ me ở miềnNam, điều này đã làm cho mối quan hệ giữa hai dân tộc bị đầu độc, làm nảy sinh mâuthuẫn giữa các dân tộc”[21, tr.49]
Đến thời kỳ thống trị của thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, cùng với chính sách
“chia để trị”, bằng những thủ đoạn thâm độc về chính trị, kinh tế, các thế lực thù địchmuốn phá hoại sự đoàn kết giữa các sắc tộc, kích động hận thù sắc tộc, làm tăng thêmmâu thuẫn và nảy sinh xu hướng phân ly giữa các tộc người Các tộc người thiểu sốnhư Thái, Mường, Dao, Khơme, Chăm.v.v rất nhạy cảm với chính sách của nhà cầmquyền, khi họ cảm thấy tổn thương, có tộc người biểu hiện rõ thái độ phán ứng quyếtliệt và cũng có tộc người có xu hướng “co cụm lại”, sống khép kín, họ đề cao và duy trìtinh thần bảo thủ và đóng kín, hạn chế mặt giao tiếp trong sinh hoạt chung cũng nhưgiao tiếp bên ngoài
Như vậy, mâu thuẫn và tình trạng phân ly giữa các sắc tộc tuy chỉ là tạm thờinhưng phần nào cũng làm tăng thêm những sự khác biệt về lối sống, phong tục tậpquán, văn hóa, trình độ phát triển trình độ xã hội Hậu quả là làm cho mỗi tộc ngườiđóng khung trong truyền thống, phong tục, tập quán của riêng mình, thậm chí thờ ơ,lãnh đạm với pháp luật chung, làm hạn chế nhận thức cũng như tình cảm, thái độ đốivới pháp luật
Trang 35Trong những năm qua, dưới ánh sáng dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa và
sự tác động tích cực của nền kinh tế thị trường, khoảng cách giữa các vùng miền dầnđược thu hẹp, nhu cầu giao lưu, học hỏi giữa các sắc tộc thông qua các hoạt động vănhóa và thương mại ngày càng được tăng lên, nảy sinh nhu cầu hiểu biết pháp luật.Việc giáo dục YTPL và xây dựng lối sống theo pháp luật cho họ là việc làm cấpbách, và để làm được điều đó cần cương quyết đấu tranh chống lại các phong tục, tậpquán lạc hậu đã ăn sâu bám rễ trong nhận thức người dân đồng thời phải vạch ra nộidung và phương pháp giáo dục pháp luật thật phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh từngvùng miền, đặc tính của từng tộc người, trong đó nhấn mạnh đến vai trò chủ thể củagiới chức sắc trong các tôn giáo
Thứ hai, Việt Nam nói chung và các tỉnh miền Trung nói riêng là vùng đất có
sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng gắn liền với nhiều sắc tộc Đặc điểm này có sự tácđộng ít nhiều tới sự hình thành và phát triển của YTPL
Ở Việt Nam, hầu hết các sắc tộc đều hình thành cho mình những tín ngưỡngriêng lớn nhỏ tùy vào quy mô và tập quán của từng tộc người, có thể là tín ngưỡngthờ cúng tổ tiên của người Kinh, hoặc là tín ngưỡng Tempo của các tộc người thiểu
số thờ các vị thần thiên nhiên như sấm chớp, mưa, đất mẹ hay các con vật mà họ cho
là đấng thiêng liêng như rắn, bò, chim.v.v Nhưng đa phần các tôn giáo lớn còn tồntại đến ngày nay đều có nguồn gốc ban đầu từ yếu tố ngoại lai Các tôn giáo này dễdàng đi sâu vào đời sống các tộc người vì họ tìm được tiếng nói chung giữa tâm tưtình cảm, nhu cầu tinh thần của mình trong các giáo lý tôn giáo đó Có thể kể đến nhưPhật giáo, được du nhập vào Việt Nam cách đây khoảng 200 năm và nhanh chóng cóđược lượng tín đồ lớn nhất, có thời kỳ Phật giáo trở thành quốc giáo cho toàn bộ cácsắc tộc trên cả nước Phật giáo Đại thừa được nhiều người thừa nhận là tôn giáochính của người Kinh, người Hoa và một số tộc người thiểu số sinh sống ở các vùngmiền núi phía bắc và miền trung như Tày, Nùng, Thái, Mường Phật giáo Đại thừatại Việt Nam có ba tông phái chính là Thiền tông, Tịnh độ tông và Mật tông Trongthực tế Phật giáo đại thừa ở Việt Nam tồn tại hòa hợp với Đạo giáo, Khổng giáo vàcác tín ngưỡng bản địa như tục thờ cúng tổ tiên, thờ thánh Mẫu.v.v…Trong khi đóPhật giáo tiểu thừa lại được coi là tôn giáo chính của người Khơme ở miền Nam Bên
Trang 36cạnh Phật giáo thì Thiên chúa giáo, Tin lành cũng là những tôn giáo được du nhậpvào Việt Nam và một số tôn giáo bản địa khác như Cao Đài, Hòa Hảo, Tứ Ân ThiếuNghĩa.v.v… Thiên chúa giáo lần đầu tới Việt Nam vào thời Lê Mạt (TK XVI) bởinhững nhà truyền giáo Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, đầu tiên tôn giáo này được lantruyền trong cộng dồng dân tộc các tỉnh ven biển Thái Bình, Ninh Bình, ThanhHóa.v.v… Sau đó lan tới vùng châu thổ sông Hồng và tiến sâu vào các vùng miềnphía nam Đặc biệt, Thiên chúa giáo có sức sống mãnh liệt đối với các vùng dân tộc ítngười ở Tây nguyên như Bana, Êđê, Giarai.v.v…Đạo Cao Đài và Hòa Hảo là hai tôngiáo được phát sinh trong nội địa trên cơ sở tiếp nhận và phát triển các tư tưởng, giáođiều của Phật giáo, Lão giáo và Thiên chúa giáo với mục đích hướng con người đếnvới lối sống lương thiện, hòa đồng, không sát sinh và yêu quý vạn vật Đây là những
tư tưởng tôn giáo rất gần với tâm lý, môi trường sống và tính cách của người ViệtNam Có thể nói, tôn giáo là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tính ngưỡngcủa người dân Việt Nam từ xưa đến nay Tôn giáo đã có vai trò nhất định trong quátrình tồn tại và phát triển của nông thôn và nông dân các vùng miền đặc biệt là miềnTrung Nó là một trong những chất keo kết dính cộng đồng bởi những đức tinh, nghithức và thiết chế tổ chức tồn tại như một yếu tố văn hóa của nền văn hóa cộng đồng.Đặc biệt nó hình thành cơ chế tự giám sát đối với hành vi cá nhân mà trên phươngdiện đạo đức xã hội là một sự bổ sung những gì mà pháp luật dù có chi tiết mấy cũngkhông thể can thiệp hết được mặc dù nó mang nặng tính tôn giáo và còn nhiều hạnchế Chính vì vậy, tôn giáo có ảnh hưởng nhất định đến đời sống pháp luật của ngườidân
Mặt tích cực, những tư tưởng trong giáo lý của các tôn giáo đều có nhữngđiểm tương đồng với lý luận XHCN Đó là mặt giá trị đạo đức, giá trị nhân văn, vănhóa của tôn giáo, đáp ứng được nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Dướichủ nghĩa xã hội, tôn giáo cũng có khả năng tự biến đổi để thích nghi theo xu hướng
"đồng hành với dân tộc" sống "tốt đời, đẹp đạo", "sống phúc âm giữa lòng dân tộc" Nhà nước không ngừng nâng cao địa vị, tính tích cực xã hội của những người có đạobằng cách tạo điều kiện để họ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động thực tiễn.Trên cơ sở đó, Nhà nước xã hội chủ nghĩa làm cho người có đạo hiểu rằng, niềm tinh
Trang 37tôn giáo chân chính không đối lập với chủ nghĩa nhân đạo xã hội chủ nghĩa, và chủnghĩa xã hội đang hiện thực hoá lý tưởng của chủ nghĩa nhân đạo trong cuộc sốngcủa mỗi người dân Đó cũng là một trong những giá trị của pháp luật, điều này khiếncho những người có đức tinh tôn giáo dễ dàng chấp nhận pháp luật Tuy còn nhữnghạn chế nhất định (tư tưởng thủ tiêu đấu tranh của Phật giáo, quan niệm về sự phụthuộc của con chiên vào chúa của Thiên Chúa Giáo…) các tôn giáo, thông qua giớiluật của mình mà hướng nhân dân đến với lối sống thiện tâm, thật thà, tránh dối trá,coi trọng kỷ cương luật lệ, chuộng tự do, hạnh phúc, chống áp bức bóc lột và bấtcông xã hội Về thực chất, đó là những nguyên tắc đạo đức được hình thành từ nhữngyêu cầu của cuộc sống mà các tôn giáo nắm bắt được và vận dụng vào thực hiện mụcđích của mình [28, tr.231] Ở đây, pháp luật có điểm tương đồng, vì pháp luật cũngnhư quy phạm đạo đức đều có mục đích điều chỉnh hành vi của con người Điều đócũng khẳng định rằng khi “đạo gắn liền với đời” nó sẽ là một trong những yếu tốthuận lợi để xây dựng một cộng đồng xã hội trật tự kỷ cương, chấp hành nghiêmchỉnh pháp luật, từ đó mà nhận thức pháp luật và tình cảm thái độ đối với pháp luậtcủa người dân từng bước được nâng cao.
Thực tế cho thấy, việc tôn giáo đã đi sâu vào đời sống tâm linh của người dân,len lỏi đến từng thôn xóm, làng , bản cũng sẽ là cơ hội cho những thế lực chính trịphản động trong và ngoài nước lợi dụng sự nhẹ dạ, cả tinh cộng với nhận thức cònnhiều hạn chế để dụ dỗ, kích động người dân chống phá Nhà nước, gây chia rẽ khốiđại đoàn kết dân tộc, chống lại đường lối, chủ trương, chính sách pháp luật của Đảng
và Nhà nước Điển hình như những vụ việc kích động giáo dân biểu tình, tuyêntruyền, rải tờ rơi nói xấu chế độ XHCN, các tổ chức chính trị phản động ở nướcngoài như Tin lành Đề ga, Quỹ người Thượng, Liên minh Việt Nam tự do đã xúi dụcnhân dân trong nước bạo động thành lập nên khu tự trị Tây Nguyên và Tây Bắc cũngnhư rất nhiều hình thức chống đối Nhà nước và chế độ XHCN trong những năm gầnđây làm ảnh hưởng đến trật tự, kỷ cương của xã hội, làm chia rẽ khối đoàn kết dântộc Mặt khác, bên cạnh sự hòa hợp chung trong mục đích hướng con người đến vớigiá trị nhân bản thì giữa tôn giáo và pháp luật đều có những điểm đi ngược lại với
Trang 38nhau trong giới luật và trong lý luận làm cho một số tín đồ của các tôn giáo khó khăntrong việc thực hiện pháp luật, vi phạm pháp chế dẫn đến hạn chế về YTPL, ví dụnhư: quy định về độ tuổi kết hôn, về quy định hôn nhân, thừa kế tài sản, về quyềnbình đẳng giới, quyền sinh sản.v.v
Do đó, lấy mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ công bằng, văn minh làmđiểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với sự nghiệp chung là việc làm cầnthiết Mọi công dân không phân biệt tín ngưỡng, tôn giáo đều có quyền và nghĩa vụ xâydựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác vận động quần chúng các tôn giáo phải động viênđồng bào nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốcthông qua việc thực hiện tốt các chính sách kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng, sống tốtđời, đẹp đạo, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm lợi ích vật chất vàtinh thần của nhân dân nói chung, trong đó có đồng bào tôn giáo
Như vậy, tôn giáo là một vấn đề nhạy cảm về chính trị, đòi hỏi phải có sự lãnhđạo quản lý chặt chẽ của Đảng và Nhà nước Đứng ở góc độ GDPL, việc bồi dưỡngYTPL đòi hỏi, một mặt, phải kiên trì đấu tranh, giáo dục, thuyết phục, khắc phục mặthạn chế có ảnh hưởng đến việc nâng cao YTPL, mặt khác, phải có nội dung, hìnhthức giáo dục pháp luật thích hợp để nâng cao hiệu quả tuyên truyền phổ biến YTPL.Những đặc điểm về tôn giáo đã được phân tích ở trên, không những đã ảnh hưởngđến sự hình thành và phát triển YTPL của người Việt Nam nói chung và thanh niênnói riêng trong quá khứ mà sự tác động của nó vẫn còn đến ngày nay, mặc dù cáchthức, quy mô có sự thay đổi ít nhiều theo thời gian Vì vậy, trong quá trình bồi dưỡngYTPL, phải chú ý đến những đặc điểm trên cùng với sự biến đổi của nó để có nhữngphương hướng giải pháp phù hợp, đúng đắn
1.2.3 Ảnh hưởng của tính cách người Việt truyền thống đến việc hình thành và phát triển ý thức pháp luật của thanh niên
Dân tộc Việt Nam, trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, đã hìnhthành nên một tính cách đặc trưng riêng và khắc sâu trong tiềm thức của bao thế hệngười Việt xuyên suốt chiều dài lịch sử đất nước Việt Nam là một quốc gia nằmtrong vùng Đông Nam Á, nơi mà những giá trị tinh thần, tâm linh, truyền thống rất
Trang 39được coi trọng Chính vì vậy, ảnh hưởng của các yếu tố đó chi phối mạnh mẽ lên ýthức của cộng đồng Tuy nhiên, vì điều kiện lịch sử hình thành khác nhau nên bêncạnh những đặc điểm chung đó vẫn có những nét riêng biệt.
Là một quốc gia mà nông dân chiếm phần lớn, người Việt nói chung, cónguồn gốc xuất thân trực tiếp hoặc gián tiếp là những nông dân lao động sống trongnhững làng xã lâu đời theo mô hình khép kín, tự cung tự cấp Cái mà người Việttruyền thống quan tâm không phải là pháp luật mà là tục lệ, hương ước, bởi lẽ, sự tácđộng và những quy định pháp luật của Nhà nước đến với người dân không bằng mộtcách trực diện mà là thông qua trung gian đó là bộ máy cai trị làng xã, pháp luật chỉtác động tới tầng lớp quan viên Sự tác động của pháp luật Nhà nước tới với nông dânchủ yếu là trong những vấn đề cơ bản phục vụ cho lợi ích của Nhà nước là kinh tế vàchính trị, mà cụ thể là các quy định về thuế, phu dịch và binh lính Cho nên, sốngtrong hoàn cảnh như vậy, con người ở làng xã truyền thống là con người nhỏ bé,được bao bọc sau lũy tre làng, là thân phận “con sâu, cái kiến” luôn luôn trong hoàncảnh bị chà đạp, áp bức, con người của những gánh nặng lệ làng, pháp gia đè nặngtrên lưng, cái riêng bị lu mờ so với cái chung Lối sống, lối ứng xử của mọi người bị
lệ thuộc chặt chẽ vào cộng đồng với những giáo điều nghiêm ngặt, phải đi theo mộtkhuôn mẫu cứng nhắc đã được định sẵn đó là cha từ, con hiếu, người bề trên thì ban
ơn cho kẻ bên dưới và kẻ bên dưới thì chịu ơn và phục tùng, dựng vợ, gả chồng đềuphải theo mai mối, môn đăng hộ đối, thân phận người phụ nữ bị rẻ rúng đến mức bầncùng khi họ không được sống theo bản năng, theo cái tôi của riêng họ, việc làm ăn,
bổ nhiệm vị trí đều phải được sự đồng ý và xem xét của dòng họ, tất cả những hànhđộng chống đối hay sai phạm đều được trừng trị nghiêm ngặt bằng luật lệ hà khắc dotừng làng, xã, từng dòng tộc đặt ra.v.v Cho nên, tâm nguyện của người dân chỉmong muốn có cuộc sống yên ổn để làm ăn chứ không mong tiến bộ , phát triển Ai
lo phận người nấy, không dám vượt ra ngoài giới hạn của mình Đó là con ngườichưa có ý thức mạnh mẽ đấu tranh cho tự do, cho nhân quyền, công bằng dân chủ.Các yếu tố trên đã làm cho người Việt lệ thuộc đối với làng xã Hệ quả tất yếu của nó
là tuy rằng tinh thần cộng đồng mạnh, tính trọng thể diện , sự tinh tế và chất dân chủ
Trang 40trong tính cách văn hóa nhưng mặt trái của nó là sự coi nhẹ vai trò cá nhân (vì thếthiếu tính cạnh tranh), thói đố kị, ganh ghét, dựa dẫm, thói cào bằng, óc địa phương.
Người Việt truyền thống thường mong muốn hướng đến một môi trường sốngnhẹ nhàng, yên ả Biểu hiện của nó có thể tìm thấy trong bất cứ lĩnh vực nào củanhận thức, lối sống xã hội Chẳng hạn như trong cư xử hàng ngày, người Việt luônsống có lý, có tình nhưng vẫn thiên về tình hơn, khi cần cân nhắc giữa tình với lý thìtình được đặt cao hơn lý: “Một bồ cái lý không bằng một tí cái tình”; đưa nhau trếntrước cửa quan thì bên ngoài là lý bên trong là tình.v.v Những mặt trái này vô hìnhkìm hãm sự phát triển kinh tế - xã hội thời hiện đại Lối tư duy như vậy có thể bảotoàn sự ổn định của quốc gia chứ chưa thể tạo nên một đất nước giàu mạnh và pháttriển, chưa thể tạo nên một nền văn minh lớn; chỉ có thể hướng tư duy người Việtthiên về khám phá và cải tạo thế giới bên cạnh gìn giữ những giá trị tích cực của vănhóa thì mới có thể tạo nên một dân tộc giàu mạnh, văn minh
Mặt khác, sự du nhập và cách tiếp cận cởi mở của người Việt đối với Phậtgiáo, Nho giáo và Đạo giáo ở Trung Quốc từ khá sớm đã dần dần đưa các tôn giáonày lên vị trí độc tôn và nhiều triều đại phong kiến lấy đó làm quốc giáo, đặc biệt làNho giáo Điều này đồng nghĩa với việc người Việt phải sống trong các thiết chế luân
lý mới với nhiều sự tác động đa chiều làm cho cuộc sống và bản tính của người dân
có sự thay đổi, với lý luận về các phạm trù Nhân – Lễ - Nghĩa – Trí – Tín, các đứctính Hiếu – Trung – Kính, các quy phạm trong quan hệ Vua – tôi, cha – con, vợ -chồng, đối với người phụ nữ thì có khuôn phép của Tam tòng – Tứ đức do ảnh hưởngcủa Tống Nho… Tất cả được quy lại thành hệ thống quy tắc, chuẩn mực cho mọisinh hoạt chính trị và an sinh xã hội Con người chỉ chú trọng việc sống làm sao đểđừng phạm vào các quy tắc đó một cách thụ động Họ quên mất giá trị bản thân vàtiếng nói cá nhân của mình cũng cần được quan tâm Đối với họ, nhận thức chungcủa xã hội cũng chính là nhận thức riêng của cá nhân Tuy nhiên, Nho giáo du nhậpvào Việt Nam lại có một chút biến thể về tư tưởng so với Nho giáo Trung Quốc.Trong các bậc thang giá trị tinh thần, Việt Nam đề cao chữ Nhân, kết hợp chặt chẽNhân với Nghĩa, Nhân với Đức, bất nhân bất nghĩa đồng nghĩa với thất đức Nguyễn