HĐGDNGLL thực chất là một bộ phận rất cơ bản, quan trọng của kế hoạch giáo dục trong trường THPT, đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học, là sự kết nối bổ sung, hỗ trợ cho hoạt
Trang 1- -
NGUYỄN VĂN TÁM
BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÍ THƯỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ BẮC NINH – BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 2- -
NGUYỄN VĂN TÁM
BIỆN PHÁP QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC
NGOÀI GIỜ LÊN LỚP CỦA HIỆU TRƯỞNG
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG LÍ THƯỜNG KIỆT
THÀNH PHỐ BẮC NINH – BẮC NINH
Chuyên nghành : Quản lí giáo dục
Mã số : 60.14.05 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn nghiên cứu khoa học:
TIẾN SĨ: NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THÁI NGUYÊN - 2011
Trang 3giám hiệu, các thày cô giáo của phòng Quản lí khoa học, Khoa quản lí giáo dục; Khoa tâm lí giáo dục; Thư viện trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên
đã giúp tôi trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Mai – Người đã tận tình, chu đáo hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo và chuyªn viên Sở Giáo dục và §ào tạo Bắc Ninh; Các đồng chí cán bộ quản lí; giáo viên; các bạn đồng nghiệp ở các trường THPT và những người thân đã nhiệt tình giúp
đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn còn nhiều thiếu sót và hạn chế, tôi rất mong được sự thông cảm, góp ý phê bình của các thầy
cô giáo và các bạn đồng nghiệp để công trình nghiên cứ tiếp theo của tôi được tốt hơn
Xin trân trọng cám ơn !
Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011
Tác giả
Nguyễn Văn Tám
Trang 4Viết đầy đủ viết tắt
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Quá trình tồn tại và phát triển của mỗi dân tộc cũng như của toàn thể nhân loại ngày càng khẳng định vai trò to lớn của giáo dục đối với kinh tế xã hội Giáo dục tác động đến toàn bộ cấu trúc, các bộ phận hợp thành của xã hội, do vậy Giáo dục là một động lực thúc đẩy sản xuất, thúc đẩy sự phát triển kinh tế
xã hội nhanh chóng và bền vững Ngày nay, xã hội loài người bước sang thời đại văn minh hậu Công nghiệp, cho nên con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội Chính vì lẽ đó, các quốc gia trên thế giới đều hướng tới sự phát triển con người Đó là những con người năng động, toàn diện, thích ứng cao với mọi yêu cầu, hoàn cảnh xã hội
Trong công cuộc đổi mới hiện nay của Đất nước, Đảng và nhà nước ta đã xác định “ Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, là con đường cơ bản để CNH-HĐH đất nước Nghị quyết hội nghị lần thứ II BCH TW Đảng khoá VIII cũng
đã chỉ rõ: “ Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của Giáo dục là nhằm xây dựng con người mới, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại ”[26] Theo tác giả Đặng Vũ Hoạt “ Nhân cách HS được hình thành theo hai con đường cơ bản: Con đường dạy học và con đường HĐGDNGLL” [14] Vì vậy, việc tổ chức HĐGDNGLL là một đòi hỏi tất yếu của quá trình giáo dục và không thể thiếu được trong quá trình giáo dục nhân cách cho HS HĐGDNGLL thực chất là một bộ phận rất cơ bản, quan trọng của kế hoạch giáo dục trong trường THPT, đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học, là sự kết nối bổ sung, hỗ trợ cho hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, giữa qúa trình dạy học và quá trình giáo dục, nhằm thực hiện
Trang 6nguyên lý giáo dục: “ Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội” [24] Đặc biệt là tạo ra môi trường thân thiện nhằm thúc đẩy học sinh hứng thú, sây mê học tập Nhận thức rõ tầm quan trọng của HĐGDNGLL trong việc giáo dục toàn diện HS, nên ngày 19/11/2002 Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 47/2002/QĐ - Bộ GD &ĐT quyết định chính thức đưa HĐGDNGLL vào kế hoạch dạy học và giáo dục ở các trường THCS và THPT được bắt đầu từ năm học 2006 - 2007 với số tiết và chủ đề qui định kèm theo cho từng khối lớp
Theo quyết định trên Sở GD& ĐT tỉnh Bắc Ninh đã triển khai thực hiện đưa HĐGDNGLL vào các trường THPT trên toàn tỉnh nói chung và trường THPT Lí Thường Kiệt nói riêng Tuy nhỉên trong quá trình thực hiện có một
bộ phận cán bộ quản lí, một số giáo viên và học sinh cũng như cha mẹ HS chưa nhận thức đúng đắn vai trò của HĐGDNGLL, những hoạt động này còn được coi là hoạt động phụ khoá, mất thời gian, ảnh hưởng đến các hoạt động học tập nên còn bị xem nhẹ, coi thường và bỏ qua Bên cạnh đó dù vẫn thực hiện theo quy định của chương trình song nhiều GVCN không mấy hứng thú, không chủ động, tự giác xây dựng các hoạt động giáo dục NGLL bởi công việc đòi hỏi mất nhiều thời gian, công sức trong khi chế độ thanh toán, đãi ngộ vẫn chưa được cải tiến, sửa đổi phù hợp; Bên cạnh đó, một số GVCN còn hạn chế về năng lực tổ chức chỉ đạo hoạt động cho HS, hơn nữa kinh phí tổ chức HĐGDNGLL cũng là một khó khăn đáng kể cho các trường THPT, nhà trường phải hoàn toàn tự túc vấn đề kinh phí, trong khi việc tổ chức HĐGDNGLL lại rất tốn kém Mặt khác, vẫn có nhiều HS không tự giác, tích cực tham gia vào các HĐGDNGL do giáo viên chủ nhiệm và nhà trường tổ chức
Trang 7Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi lựa chọn đề tài: “Biện pháp quản lí
HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt thành phố Bắc Ninh – Bắc Ninh”
trong thời kỳ mới
3 Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Hoạt động quản lý HĐGDNGLL
3.2 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lí HĐGDNGLL của Hiệu
trưởng một số trường THPT Tỉnh Bắc Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý HĐGDNGLL của một số trường THPT Tỉnh Bắc Ninh (thuộc địa bàn nghiên cứu) trong thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng khích lệ, song vẫn còn nhiều hạn chế nhất định cần khắc phục Nguyên nhân của thực trạng đó là do chưa có các biện pháp quản lý phù hợp Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý HĐGDNGLL của hiệu trưởng THPT một cách khoa học, phù hợp với điều kiện của nhà trường sẽ góp phần nâng cao hiệu quả HĐGDNGLL, đồng thời nâng cao hiệu quả giáo dục cho trường THPT Lí Thường Kiệt- Bắc Ninh cũng như các trường khác của tỉnh trong
các năm học tới
5 Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 85.1 Hệ thống hóa cơ sở lí luận của đề tài như lý luận về quản lý, biện pháp quản lý giáo dục, quản lí HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT
5.2 Nghiên cứu thực trạng biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông - Thành phố Bắc Ninh và Trường THPT Yên Phong số II - Huyện Yên Phong; Trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Thị xã Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh và nguyên nhân của thực trạng đó
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL của trường THPT
Lí Thường Kiệt - TP Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh
6 Phạm vi nghiên cứu và giới hạn của đề tài
6.1 Địa bàn nghiên cứu
Tính đến thời điểm này, tỉnh Bắc Ninh có 34 trường THPT trong đó có 23 trường Quốc lập; 11trường Dân lập (không kể các trung tâm GDTX) Trong điều kiện và thời gian có hạn, tôi chỉ khảo sát thực trạng quản lí hoạt động GDNGLL của Hiệu trưởng các trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông; Yên Phong số II; Nguyễn văn Cừ Từ đó, đề xuất biện pháp quản lí HĐGDNGLL của hiệu trưởng TrườngTHPT Lí Thương Kiệt - TP Bắc Ninh - Tỉnh Bác Ninh nhằm nâng cao hiệu quả và chất lượng trong việc quản lí HĐGDNGLL của nhà trường trong những năm học tiếp theo
6.2 Thời gian nghiên cứu khảo sát
Đề tài đi nghiên cứu, khảo sát thực trạng quản lí HĐGDNGLL của hiệu trưởng các trường THPT Lí Thường Kiệt; Lí Nhân Tông; Yên Phong số II; Nguyễn Văn Cừ qua cỏc năm học: 2008 - 2009: 2009 – 2010 và 2010 – 2011 nhằm có đánh giá sát thực về công tác chỉ đạo, quản lí HĐGDNGLL của nhà trường Đồng thời qua đây rút ra được những kinh nghiệm, bài học và biện
pháp quản lí tốt hơn cho trường mỡnh ở cỏc năm học tiếp theo
7 Phương pháp nghiên cứu
Trang 97.1.Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản, chỉ thị, nghị quyết, sách báo, luận văn
có nội dung liên quan dến đề tài nghiên cứu, để từ đó phân tích, tổng hợp và khái quát những vấn đề cơ bản làm cơ sở lí luận cho đề tài
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp này được sử dụng để điều tra thực trạng công tác quản lí HĐGDNGLL của Hiệu trưởng các trường THPT, nguyên nhân của thực trạng
đó
7.2.2 Phương pháp đàm thoại
Sử dụng phương pháp này nhằm thu thập một số thông tin qua cán bộ quản lí các cấp, các GVCN, cán bộ Đoàn, PHHS và HS…, để giúp cho việc phân tích thực trạng và lý giải nguyên nhân, đồng thời nhằm tăng thêm tính khách quan của các kết quả thu được bằng các phương pháp khác
7.2.3 Phương pháp quan sát
Chúng tôi tiến hành quan sát quá trình chỉ đạo của nhà trường; công tác tổ chức, công tác chuẩn bị của các GVCN, cán bộ Đoàn, đồng thời quan sát việc
tổ chức, thực hiện các HĐGDNGLL của họ nhằm thu thập thêm các cứ liệu
để làm rõ thực trạng các biện pháp quản lí HĐGDNGLL và nguyên nhân của
nó
7.2.4 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được sử dụng trong đề tài để thu thập ý kiến về kinh nghiệm quản lí của các chuyên gia để từ đó xây dựng, bổ sung và hoàn thiện các biện pháp quản lí HĐGDNGLL cho sát với thực tế, sát với đối tượng
7.3 Nhóm phương pháp xử lí thông tin và đánh giá
Sử dụng một số công thức toán học để xử lí số liệu khảo sát, thực nghiệm nhằm định lượng các kết quả nghiên cứu một cách chính xác hơn
Trang 108 Những đóng góp của đề tài
Phát hiện được thực trạng biện pháp quản lí HĐGDNGLL ở trường THPT Lí Thường Kiệt - TP Bắc Ninh; trường THPT Yên Phong số 2 - Huyện Yên Phong; trường THPT Nguyễn Văn Cừ - Huyện Từ Sơn; trường THPT Lí Nhân Tông - TP Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh
Đề xuất một số biện pháp quản lí nhằm nâng cao chất lượng quản lí HĐGDNGLL của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt - Bắc Ninh
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương:
Chương I Cơ sở lý luận về quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt, trường THPT Lí Nhân Tông, trường THPT Nguyễn Văn Cừ, trường THPT Yên phong số II tỉnh Bắc Ninh Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp của Hiệu trưởng trường THPT Lí Thường Kiệt thành phố Bắc Ninh – Bắc Ninh
Trang 11CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG
GIÁO DỤC NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Như chúng ta đã biết, mục tiêu cuối cùng của giáo dục là phát triển toàn diện nhân cách của người được giáo dục Muốn đạt được mục tiêu giáo dục nêu trên thì giáo dục không chỉ dừng lại ở các giờ học trên lớp mà phải mở rộng ra các HĐGDNGLL Không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học, nhà trường mà phải mở rộng ra xã hội Tham gia vào HĐGDNGLL, HS không chỉ là khách thể, mà còn là chủ thể của quá trình giáo dục Việc giáo dục không chỉ diễn ra trên lớp, trong nhà trường, mà còn phải thực hiện ở ngoài lớp, ngoài nhà trường theo phương thức kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội thông qua các hình thức như: Học tập, lao động, vui chơi giải trí, sinh hoạt ngoài trời, tham quan, diễn đàn câu lạc bộ Trong lịch sử, những nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kì lịch sử từ cổ đại đến hiện đại luôn thể hiện quan điểm giáo dục của mình: Học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình và xã hội Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên), một triết gia, một nhà giáo dục lỗi lạc của đất nước Trung Hoa cổ đại, Ông quan niệm học phải gắn với hành.Ông khẳng định: “ Đọc thuộc 300 thước kinh thư giỏi, giao cho việc hành chính không làm được, giao cho việc đi sứ không có khả năng đối đáp, học kiểu như vậy chẳng có ích gì ”
Thomas More (1478 - 1535), nhà giáo dục không tưởng người Đức đã đánh giá rất cao vai trò của lao động đối với con người và đối với xã hội, nên
Trang 12trong việc giáo dục con người cần thực hiện kết hợp giáo dục nhà trường với giáo dục ngoài nhà trường, giáo dục trong lao động và giáo dục xã hội [20] J.A.Cômenxki [10] (1592 - 1670) được coi là “ Ông tổ của nền sư phạm cận đại ” đã có nhiều đóng góp lớn lao cho nền giáo dục trên thế giới Trong thời gian làm cố vấn giáo dục tại Hungari, Ông đã rất coi trọng HĐGDNGLL đối với HS Ông cho HS tham gia biểu diễn sân khấu để giúp các em ghi nhớ sâu sắc những nội dung cần thiết Ông thấy rằng những chàng trai thường ngày so đo, rụt rè ngại giao tiếp, phát biểu trước đám đông nay ra trước công chúng với vẻ tự tin, xử sự điềm tĩnh, những con người mới mấy tuần lễ trước còn đọc câu ngắc ngứ bây giờ đã có thể nói một đoạn độc thoại dài mà không phạm lỗi hoặc giải thích những khái niệm hùng hồn đầy tính thuyết phục ở thời đó Cômenxki đã áp dụng phương pháp dạy học mới, đặc biệt là việc mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp, nhằm khơi dạy và phát huy những khả năng tiềm ẩn, nhằm rèn luyện nhân cách cho HS Ông đã chứng minh cho quan điểm giáo dục mới đầy thuyết phục này và khẳng định: “ Học tập không chỉ là lĩnh hội kiến thức trong sách vở, mà còn là lĩnh hội kiến thức từ bầu trời, mặt đất, từ cây sồi, cây dẻ ” [6; 93]
Pétxtalôzi (1746 - 1827) một nhà giáo dục lớn của Thuỵ sĩ và thế giới ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỷ XIX, với lòng nhân ái sâu sắc ông muốn cứu vớt trẻ em mồ côi, bất hạnh hay con nhà nghèo bằng con đường giáo dục thông qua thực nghiệm Đó là việc ông xây dựng ra những “ trại mớ ”, ở đây trẻ em vừa được học văn hoá, vừa được lao động ở ngoài lớp, ngoài trường học Ông cho rằng HĐGDNGLL không chỉ tạo ra của cải vật chất mà còn là con đường giáo dục toàn diện HS [22]
Robert Owen (1771 - 1858), một nhà giáo dục lớn, một nhà xã hội theo chủ nghĩa không tưởng đầu thế kỷ XIX muốn cải tạo xã hội bằng con đường giáo dục đi từ cuộc thực nghiệm giáo dục trong công xưởng của ông ở nước
Trang 13Anh Qua cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại này, ông đặt ra một phương thức giáo dục bất hủ là: “ Giáo dục kết hợp với lao động sản xuất ”, “ kết hợp giáo dục trong trường lớp với giáo dục trong lao động và hoạt động xã hội ” [22] C.Mac (1818 - 1883) và F.Anghen (1820 - 1895) là hai nhà triết học lón, xuất sắc của thế giới, là người sáng tạo ra học thuyết cách mạng XHCN và cũng
là ông tổ của nền giáo dục hiện đại Hai ông đã xác định mục đích của nền giáo dục XHCN là tạo ra “ con người phát triển toàn diện ”, với phương thức giáo dục
là “ giáo dục kết hợp với lao động sản xuất ” [22]
AX.Macarencô (1888 - 1939), nhà giáo dục Xô viết vĩ đại, người có công làm cuộc thực nghiệm giáo dục vĩ đại trong gần 20 năm trời ở “ trại lao động Goocki và Deczinxki ” nhằm cải tạo trẻ em hư, phạm pháp Macarencô đã gắn liền giáo dục với lao động, với sinh hoạt tập thể và hoạt động xã hội Nhiều em ở trại lao động này sau này đã trở thành các kĩ sư, các nhà khoa học giỏi và các anh hùng lực lượng vũ trang, anh hùng lao động [22]
Cairốp [5] nhà giáo dục học người Nga đã viết: “ Khi đặt kế hoạch công tác giảng dạy chung cho cả năm học mới, người Hiệu trưởng, xét kết quả hoạt động ngoài lớp năm học trước nhằm mục đích nâng cao thành tích của HS, củng cố kỷ luật và nâng cao chất lượng giảng dạy của nhà trường mà định nhiệm vụ hoạt động ngoài lớp cho năm học tới Trong kế hoạch công tác của nhà trường, có dành một mục riêng cho hoạt động ngoài lớp Mục đích đó gồm mấy yếu tố sau: xây dựng điều kiện và cơ sở vật chất cho hoạt động ngoài lớp năm tới, các hoạt động ngoài lớp của nhà trường và của lớp, phân phối lực lượng và định kỳ hạn cho kế hoạch Về kế hoạch tỉ mỉ, cụ thể, về cách tổ chức các hoạt động quần chúng đặc biệt hoặc các ngày nghỉ… thì người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo sẽ quyết định riêng và bổ sung cho
kế hoạch cả năm Những người phụ trách tổ chức và người chỉ đạo ấy chính là những người được uỷ nhiệm thi hành những điều khoản bổ sung kia”
Trang 14Như vậy, những nhà giáo dục tiêu biểu cho các thời kỳ lịch sử từ cổ đại đến hiện đại đã làm nổi bật tầm quan trọng của các HĐGDNGLL và đã chỉ ra một số biện pháp cần thiết cho nhà quản lý Vấn đề đặt ra ở đây là người Hiệu trưởng phải làm gì để tổ chức và quản lý chỉ đạo tốt các hoạt động này nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trong cơ sở của mình
1.1.2 Ở Việt Nam
Vào những năm 60 của thế kỉ trước, khi xây dựng chương trình giáo dục,
Bộ giáo dục đã xác định rõ: “Muốn thực hiện giáo dục và giáo dưỡng trong môn học đạt kết quả đầy đủ thì nhà trường cần tổ chức ngoại khoá cho các môn học Hoàn cảnh kháng chiến trước đây chưa cho phép chúng ta thực hiện đầy đủ công tác này cho nên trong chương trình cũng chưa ghi phần ngoại khoá Từ lúc hoà bình lập lại vấn đề này được nêu ra và được các địa phương thực hiện nhưng không đồng đều và không theo chủ đề thống nhất Trong chương trình mới, công tác ngoại khoá trở thành một phần quan trọng, khăng khít với chính khoá Công tác ngoại khoá không nên vì cái tên ngoại khoá của nó mà bị đặt vào vị trí quá ư thấp kém như một số trường vẫn làm như vậy Công tác ngoại khóa không hề mâu thuẫn gì với nội dung giáo dục, giáo dưỡng của nhà trường XHCN mà trái lại bổ sung và nâng cao chất lượng nội khoá lên một bước”[10]
Tác giả Nguyễn Lê Đắc với công trình nghiên cứu: “Cơ sở tâm lý học của công tác giáo dục HS ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư”[8] đã khẳng định quan điểm nhóm là chủ thể của hoạt động, tập thể cơ sở là chủ thể của quá trình giáo dục” Nó vạch ra vai trò của chủ thể của hoạt động ngoài giờ lên lớp trên địa bàn dân cư đối với sự phát triển tâm lý HS Từ đó khẳng định sự cần thiết phải có một cơ chế tổ chức để thực hiện tốt lĩnh vực giáo dục này Tác giả Phạm Lăng [19] khi tìm hiểu HĐGDNGLL ở trường Trung học Chu Văn An Hà nội đã xác định nhiều hình thức HĐGDNGLL và nhấn mạnh:
Trang 15“ Nếu tổ chức hoạt động này một cách khoa học sẽ không làm giảm đi chất lượng các môn học mà ngược lại số HS đạt danh hiệu tiên tiến sẽ tăng Số giờ xếp loại trung bình, yếu, số HS cá biệt giảm đáng kể”
Tác giả Nguyễn Văn Thiềm nhà giáo ưu tú, nguyên Hiệu trưởng Trường THCS Nguyễn Thị Định trong bài: “ Mấy biện pháp giáo dục HS ngoài giờ lên lớp theo địa bàn dân cư ” [38] đã cho rằng: chất lượng giáo dục HS ở nhà trường giảm sút có nguyên nhân do việc giáo dục HS ngoài giờ lên lớp bị buông lỏng; sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong giáo dục HS bị coi nhẹ, bởi vậy phải gắn hoạt động giáo dục của nhà trường với địa bàn dân cư Ông khẳng định, nhờ sự phối hợp các lực lượng giáo dục ở địa bàn dân cư mà chất lượng giáo dục, chất lượng học tập của HS trường THCS Nguyễn Thị Định được nâng lên
Tác giả Phạm Hoàng Gia trong công trình nghiên cứu: “ Tổ chức hoạt động ngoài giờ lên lớp cho HS lớp 6 " [9] bằng cách tác động đến cha mẹ HS, các lực lượng giáo dục về định hướng giá trị và coi trọng hơn nữa kết quả học tập cho thấy: Khi tổ chức hoạt động học tập, nếu lồng ghép được ý nghĩa tập thể thì nhân cách HS sẽ được phát triển tốt hơn
Tác giả Đinh Xuân Huy với công trình nghiên cứu: “ Các biện pháp quản
lý HĐGDNGLL của người Hiệu trưởng, trong trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh Lai Châu”[15] đã khẳng định vai trò quan trọng của tổ chức các HĐGDNGLL đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường phổ thông dân tộc nội trú đồng thời xây dựng được một số biện pháp quản lý HĐGDNGLL của người Hiệu trưởng trong trường phổ thông dân tộc nội trú góp phần thúc đẩy HĐGDNGLL ở trường phổ thông dân tộc nội trú phát triển, nhằm hình thành ở HS những năng lực phẩm chất tốt của người cán bộ dân tộc trong tương lai
Trang 16Tác giả Đỗ Nguyên Hạnh trong công trình nghiên cứu: “ Một vài hình thức giáo dục HS ngoài giờ lên lớp có hiệu quả” [12] đã xuất phát từ đặc điểm HS ham thích hoạt động ngoài giờ lên lớp nên nhà trường cần tổ chức các hoạt động phù hợp với sở thích của các em, phù hợp với trình độ, đáp ứng nhu cầu nguyện vọng của các em Các hình thức hoạt động: Bình thơ, trưng bầy tranh ảnh, đóng kịch, tiếp súc với người thực việc thực, tham quan sẽ có tác dụng tốt đối với viêc củng cố, bổ sung kiến thức trên lớp, giáo dục tình cảm, truyền thống và ý thức tập thể; cộng đồng của HS
Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục ở nước ta, lần đầu tiên HĐGDNGLL được chính thức đưa vào trong chương trình giáo dục của nhà trường phổ thông với yêu cầu thực hiện bắt buộc thống nhất trong toàn quốc đối với khối PTCS là từ năm học: 2003-2004, khối THPT là từ năm học 2006- 2007 Tác giả Hà Nhật Thăng trong cuốn “Thực hành tổ chức hoạt động giáo dục” [37] đã đề cập đến sự cần thiết về mục tiêu, nội dung, một số nguyên tắc
tổ chức hoạt động giáo dục và phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục của GVCN lớp
Ngoài ra còn có một số tác giả như Đỗ văn Lợi, Lê thị Mỹ Phương… đã có nghiên cứu về các khía cạnh của HĐGDNGLL, có một số tác giả nghiên cứu
về công tác quản lý các HĐGDNGLL ở các trường Tiểu học, THCS hoặc các trường dân tộc nội trú Tuy nhiên, việc nghiên cứu biện pháp quản lý HĐGDNGLL của Hiệu trưởng ở trường THPT còn ít được nghiên cứu vì HĐGDNGLL mới được coi là môn học bắt buộc quy định trong kế hoạch giáo dục ở trường THPT từ năm học 2006-2007, hơn nữa chưa có công trình nghiên cứu về vấn đề này tại trường THPT Lí Thường Kiệt - Bắc Ninh
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Khái niệm quản lý và biện pháp quản lý
1.2.1.1 Khái niệm quản lí
Trang 17Quản lý là một hiện tượng có tính lịch sử, nó là một hiện tượng xã hội xuất hiện từ rất sớm Bởi thông qua quản lí mà mọi hoạt độnga của con người trong lĩnh vực kinh tế, xã hội đi vào nền nếp và mang lại hiệu quả nhất định Theo quan niệm của C Mác: Bất cứ lao động nào của xã hội hay cộng đồng ở một quy mô tương đối lớn đều cần một chừng mực nhất định của hoạt động quản lý Quản lý là sự xác lập tương hợp giữa công việc cá thể nhằm hoàn thành chức năng chung, xuất hiện trong sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất khác với sự vận động đối với các bộ phận riêng lẻ của nó
Quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực: Các nhà luật học nghiên cứu những quy luật quản lý nhà nước, các nhà xã hội học thiên về nghiên cứu hoạt động quản lý về các mối quan hệ giữa các giai cấp, tầng lớp
xã hội, dân tộc, quốc gia Các nhà tâm lý học nghiên cứu tâm lý giữa người lãnh đạo và người thực hiện, giữa cấp trên với cấp dưới… vì vậy, có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, chẳng hạn:
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ Quản lý là tác động có mục đích, có
kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến” [39]
Theo tác giả Mai Văn Bưu: “ Quản lý là công tác phối hợp xã hội của các lao động, của những người cộng sự khác cùng trong một tổ chức ” [5]
Theo tác giả Nguyễn Văn Lê: “ Quản lý là một hệ thống tác động khoa học nghệ thuật vào từng thành tố của hệ thống bằng phương pháp thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đề ra của hệ thống và cho từng thành tố của hệ thống [22]
Theo tác giả Trần Kiểm: “ Quản lí một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người- thành viên của hệ nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt tới mục đích dự kiến ”[17]
Trang 18Theo tác giả Nguyễn Bá Sơn: “ Quản lí là sự tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động”[31]
Theo tác giả Nguyễn Kỳ, Bùi Trọng Tuấn: “ Quản lý là việc bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống
và môi trường, là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới ”
* Từ những định nghĩa nêu trên ta thấy:
Quản lý là quá trình tác động, có định hướng có tổ chức, của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua cơ chế quản lý, nhằm sử dụng có hiệu quả cao nhất các nguồn lực trong điều kiện môi trường biến động để hệ thống ổn định, phát triển đạt được những mục tiêu đã định
1.2.1.2 Khái niệm biện pháp quản lý
Theo từ điển tiếng Việt: “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn
đề cụ thể” Như vậy, biện pháp quản lý là cách làm cụ thể được chủ thể sử dụng trên cơ sở phương pháp đã được xác định Tính hiệu quả của quản lý
một phần quan trọng phụ thuộc vào việc lựa chọn đúng đắn và áp dụng linh hoạt các biện pháp quản lý Thực tế cho thấy, các đối tượng quản lý phức tạp, đòi hỏi những biện pháp quản lý cũng rất đa dạng và linh hoạt Các biện pháp quản lý có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống các biện pháp Các biện pháp này sẽ giúp cho người quản lý thực hiện tốt các biện pháp quản lý của mình mang lại kết quả tối ưu cho bộ máy [42]
1.2.2 Khái niệm quản lý giáo dục và quản lý trường học
1.2.2.1 Khái niệm quản lý giáo dục
Thực tế khái niệm “Quản lý giáo dục”, được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp trên cơ sở xem xét phạm vi hoạt động của từ “giáo dục”, “Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa rộng nhất khi “Giáo dục” được coi là hoạt động diễn
Trang 19ra ở ngoài xã hội Còn khi “Giáo dục” được diễn ra trong ngành giáo dục (Từ
Bộ giáo dục - Đào tạo đến cơ sở trường học) hay các trung tâm kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp thì “ Quản lý giáo dục” được hiểu theo nghĩa hẹp là quản
lý một hệ thống giáo dục, quản lý nhà trường, để hiểu một cách chính xác hơn
về: “Quản lý giáo dục”, ta xem xét những quan niệm sau đây:
“ Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường, làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, giáo dục theo đường lối và nguyên tắc giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam bằng cách đó đạt được mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới ” [19]
Tác giả Phạm Viết Vượng cho rằng: “ Mục đích cuối cùng của quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh sáng tạo, năng động tự chủ biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân, gia đình và xã hội” [45]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “ QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lí, nhằm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế
hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu, tiến lên trạng thái mới về chất ” [30]
Từ các khái niệm trên chúng ta có thể hiểu khái quát như sau:
Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống giáo dục, nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo sự phát triển mở rộng cả về chất lượng và số lượng để đạt tới mục tiêu giáo dục
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao, vì cần tập trung giải quyết tốt các vấn
đề xã hội để phục vụ công tác giáo dục Ngoài ra, quản lý giáo dục còn được
Trang 20xem như quản lý một hệ thống giáo dục gồm tập hợp các cơ sở giáo dục như trường học, các trung tâm kỹ thuật - hướng nghiệp dạy nghề mà đối tượng quản
lý là đội ngũ giáo viên, HS cơ sở vật chất kỹ thuật các phương tiện, trang thiết
bị phục vụ cho giảng dạy và học tập
1.2.2.2 Khái niệm quản lý trường học
Quản lý trường học là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp
và tổ chức các hoạt động của giáo viên, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường
Có nhiều cấp quản lý trường học trong hệ thống giáo dục: Cấp cao nhất là BGD&ĐT, nơi quản lý nhà trường bằng các biện pháp vĩ mô Có hai cấp trung gian quản lý trường học là sở GD&ĐT ở cấp tỉnh và các phòng giáo dục ở cấp quận, huyện Cấp quản lý quan trọng, trực tiếp của hoạt động giáo dục là bộ phận quản lý trong các nhà trường
Mục đích của quản lý nhà trường là đưa nhà trường từ trạng thái đã và đang
có, tiến lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực và đưa các nguồn lực đó vào phục vụ cho việc tăng cường chất lượng giáo dục
Công tác quản lý nhà trường bao gồm các nội dung:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công nhân viên và tập thể HS thực hiện tốt các nhiệm vụ kế hoạch trong chương trình công tác của nhà trường Giáo dục HS phấn đấu, học tập tu dưỡng để trở thành những công dân tốt
- Chỉ đạo tốt các hoạt động chuyên môn theo chương trình của BGD&ĐT làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm túc và các phương pháp giáo dục luôn được cải tiến, chất lượng dạy và học ngày càng được nâng cao Biện pháp quản lý là theo dõi sát sao mọi công việc, kiểm tra kịp thời, thanh tra để uốn nắn những lệch lạc, thiếu xót
Trang 21- Quản lý tốt việc học tập của HS theo quy chế của Bộ GD&ĐT Quản lý
HS bao hàm cả quản lý thời gian và chất lượng học tập, quản lý tinh thần, thái
độ và phương pháp học tập
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị của nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS Quản lý tốt cơ sở vật chất nhà trường không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tốt giá trị, khả năng cho dạy học và giáo dục, đồng thời phải làm sao để có thể thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới và có giá trị
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước và của ngành giáo dục Đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm thiết bị phục vụ các hoạt động giáo dục và dạy học
- Quản lý nhà trường cũng có nghĩa là chăm lo đến đời sống vật chất và tinh thần của tập thể giáo viên, công nhân viên Cần tạo một phong trào thi đua phấn đấu liên tục trong nhà trường
- Quản lí nhà trường còn phải làm tốt công tác thi đua khen thưởng đối với giáo viên và học sinh
- Quản lí nhà trường còn phải làm tốt công tác kiểm tra, kết hợp thanh tra của các cấp nhằm đánh giá kịp thời các bộ môn văn hóa của học sinh; chất lượng giảng dạy của giáo viên; chất lượng giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh
1.2.3 Hoạt động giáo dục và hoạt động GDNGLL; Quản lý hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
1.2.3.1 Hoạt động giáo dục
Hoạt động giáo dục là những hoạt động do cá nhân hoặc tổ chức xã hội
tiến hành theo kế hoạch, chương trình, điều hành và chịu trách nhiệm hướng tới các mục đích giáo dục về: Trí tuệ; Thể chất; Đạo đức; Thẩm mĩ và các
Trang 22hành vi xã hội Các chủ thể của hoạt động giáo dục phải chịu trách nhiệm về hoạt động giáo dục Chủ thể giáo dục chính là các nhà giáo dục, GVvà các chủ thể có liên quan khác như: Cha mẹ HS, các tổ chức giáo dục xã hội và các cơ
sở giáo dục Hoạt động giáo dục là sự vận hành các yếu tố của giáo dục đã được nhận thức và kiểm soát Hoạt động giáo dục cơ bản của xã hội được thực
hiện bởi nhà trường và trong nhà trường
Các hoạt động giáo dục trong nhà trường được phân làm hai bộ phận chủ yếu sau:
- Các hoạt động trong hệ thống các môn học và các lĩnh vực học tập, giáo dục trên lớp
- Các hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hoá như: giáo dục thể chất, đạo đức, thẩm mỹ, dân số, môi trường, pháp luật Những hoạt động này được thực hiện trong và ngoài các môn học và chiụ sự quản lí, chi phối chính của nhà trường và GV
Các hoạt động giáo dục tạo môi trường cho hoạt động học của người học qua đó người học được học tập, giáo dục và trưởng thành Khi tham gia các hoạt động giáo dục, người học tiến hành các hoạt động của mình theo những nguyên tắc mục tiêu, chuẩn mực và giá trị chung, như vậy HS được giáo dục theo những tiêu chí chung và diễn ra ở cấp độ cá nhân
Như vậy hoạt động giáo dục muốn có hiệu quả phải được tổ chức phù hợp với tâm lý lứa tuổi của HS đồng thời tạo điều kiện thuận lợi nhất cho học sinh tham gia
Cơ cấu các hoạt động giáo dục trong nhà trường cần được xác định theo mục tiêu giáo dục, nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch
sử nhất định Các hoạt động giáo dục tạo môi trường cho hoạt của HS và chính những hoạt động của HS quyết định sự phát triển nhân cách của mỗi cá nhân
1.2.3.2 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Trang 23HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường nói chung, trường THPT nói riêng Đó là nhứng hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hoá ở trên lớp, đựợc tổ chức trong nhà trường, ngoài xã hội HĐGDNGLL là sự tiếp nối dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực hành tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần hình thành và phát triển nhân cách cho các em
Mục tiêu: HĐGDNGLL tạo điều kiện và môi trường để HS phát huy vai trò chủ thể tính tích cức chủ động của các em trong quá trình học tập, rèn luyện toàn diện, HĐGDNGLL vừa củng cố bổ sung mở rộng kiến thức đã học, vừa phát triển các kỹ năng của các lực lượng giáo dục, góp phần quan trọng, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường phổ thông, đặt HS (lứa tuổi thanh niên, vị thành niên) trước những vấn đề, thách thức của thời đại, của xã hội, cũng như những khó khăn thách thức của thực tiễn mà các em phải được chuẩn bị hành trang để gánh vác trách nhiệm đối với chính bản thân, gia đình và đất nước (chủ nhân của đất nước trong tương lai)
Với vị trí và vai trò như vậy, HĐGDNGLL thực sự là một bộ phận hữu
cơ không thể thiếu của hệ thống hoạt động giáo dục ở trường THPT Tổ chức
có hiệu quả HĐGDNGLL ở trường THPT sẽ gắn liền nhà trường với đời sống
xã hội, góp phần phát huy vai trò của giáo dục vào quá trình hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thanh niên HS trong sự nghiệp CNH-HĐH đất nước
Theo giáo sư Đặng Vũ Hoạt: “ Hoạt động giáo dục giáo dục ngoài giờ lên lớp là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động, thực tiễn của HS về khoa học, kỹ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân văn, văn hoá nghệ thuật, thẩm mỹ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, để giúp các em hình thành và phát triển nhân cách” [21]
Trang 24Trong chương trình THCS về HĐGDNGLL các tác giả đưa ra khái niệm: “ HĐGDNGLL là hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trong lớp,
là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo lên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động của HS.”
Trong chương trình THPT các tác giả đưa ra khái niệm: “ HĐGDNGLL
là một bộ phận của quá trình giáo dục ở trường phổ thông Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các môn học trên lớp, là sự tiếp nối bổ sung,
hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo lên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phằn hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở HS ”
Như vậy: HĐGDNGLL là sự tiếp nối, bổ sung, hỗ trợ hoạt động dạy học trên lớp, là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, tạo nên sự thống nhất giữa nhận thức và hành động, góp phần hình thành tình cảm, niềm tin ở HS
1.2.3.3 Quản lí hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Quản lí HĐGDNGLL là một bộ phận của quản lí trường học, bao gồm
hàng loạt những hoạt động tiến hành khai thác, lựa chọn tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tác động của BGH và tập thể sư phạm, của lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường theo kế hoạch chủ động và chương trình giáo dục để tác động đến tập thể GV và HS trong khuôn khổ thời gian ngoài giờ học trên lớp nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả giáo dục cần thiết Nó được tiến hành xen kẽ hoặc nối tiếp chương trình dạy học trong phạm vi nhà trường hoặc trong đời sống xã hội, do nhà trường quản lí, diễn ra trong suốt năm học và cả ba tháng hè
Công tác quản lí HĐGDNGLL bao gồm các nội dung:
- Tổ chức đội ngũ các thầy giáo, cô giáo, đội ngũ cán bộ công nhân viên
và tập thể HS và các lực lượng giáo dục khác để thực hiện tốt các nhiệm vụ trong chương trình, kế hoạch HĐGDNGLL của nhà trường Giáo dục HS tích
Trang 25cực tham gia HĐGDNGLL, nhằm giúp các em rèn luyện, tu dưỡng để trở thành những công dân tốt
- Chỉ đạo tốt các HĐGDNGLL theo chương trình quy định của BGD và
ĐT làm sao để chương trình được thực hiện nghiêm túc và các phương pháp
tổ chức hoạt động luôn được cải tiến, chất lượng tổ chức các hoạt động ngày càng được nâng cao Biện pháp quản lý là theo dõi, kiểm tra sát sao mọi công việc, kịp thời phát hiện những lệch lạc, thiếu sót để điều chỉnh, uốn nắn
- Quản lý tốt việc tham gia hoạt động của học của HS theo quy chế của
Bộ GD&ĐT Quản lý HS bao hàm cả quản lí thời gian và chất lượng hoạt động, quản lý tinh thần, thái độ, ý thức của HS khi tham gia hoạt động
- Quản lý toàn bộ cơ sở vật chất và thiết bị của nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc tổ chức các HĐGDNGLL cho HS Quản lý tốt cơ sở vật chất nhà trường không đơn thuần chỉ là bảo quản tốt, mà phải phát huy tối đa các điều kiện cơ sở vật chất sẵn có của nhà trường để phục vụ cho việc tổ chức HĐGDNGLL đạt hiệu quả, đồng thời phải thường xuyên bổ sung thêm những thiết bị mới và có giá trị nhằm đáp ứng yêu cầu HĐGDNGLL cho HS
- Quản lý nguồn tài chính hiện có của nhà trường theo đúng nguyên tắc quản lý tài chính của nhà nước và của ngành giáo dục Đồng thời biết động viên, thu hút các nguồn tài chính khác nhằm xây dựng cơ sở vật chất, mua
sắm thiết bị phục vụ các HĐGDNGLL
1.3 Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp ở trường Trung học phổ thông
1.3.1 Vị trí, vai trò của HĐGDNGLL ở trường THPT
1.3.1.1 Vị trí của HĐGDNGLL ở trường THPT
HĐGDNGLL là môn học bắt buộc được qui định trong kế hoạch giáo dục
ở trường THPT nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục đề ra HĐGDNGLL được quy định thực hiện vào tiết sinh hoạt dưới cờ đầu tuần,
Trang 26tiết sinh hoạt lớp cuối tuần và 4 tiết hoạt động trong một tháng nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục Trung học
HĐGDNGLL là một bộ phận hữu cơ của quá trình giáo dục Quá trình giáo dục và quá trình dạy học là những bộ phận của quá trình sư phạm toàn diện, thống nhất Trong quá trình dạy học, ngoài việc truyền thụ cho HS những tri thức khoa học một cách có hệ thống, còn phải mang lại hiệu quả giáo dục, tức là giáo dục nhân cách cho HS thông qua nội dung các môn học
và tạo điều kiện cho toàn bộ quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao
Trong quá trình giáo dục, ngoài việc hình thành cho HS thái độ đúng đắn, các hành vi và thói quen tốt, các kĩ năng hoạt động và ứng xử trong các mối quan hệ xã hội về chính trị, đạo đức và pháp luật,… còn phải tạo cơ sở để các
em bổ sung và hoàn thiện các tri thức đã học trên lớp
Do đó, quá trình giáo dục không chỉ được thực hiện thông qua các hoạt động trên lớp mà còn thông qua các HĐGDNGLL
HĐGDNGLL có vị trí rất quan trọng trong quá trình giáo dục Đối với lứa tuổi HS THPT, quá trình giáo dục có nhiều thú vị nhưng cũng không ít khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có sự tác động khéo léo, kịp thời, đúng đắn, hấp dẫn lôi cuốn các em vào các hoạt động nhằm phát huy tính tự lập, tính sáng tạo, tinh thần trách nhiệm đối với tập thể, ý thức tổ chức, kỷ luật Vì vậy,
có thể nói, HĐGDNGLL đối với lứa tuổi này có vị trí then chốt trong quá trình giáo dục nhằm định hướng và điều chỉnh quá trình giáo dục đạt hiệu quả cao
Như chúng ta đã biết, HS THPT ngày nay có những bước phát triển nhảy vọt về thể chất, tinh thần và sự am hiểu Các em mạnh dạn hơn, suy nghĩ táo bạo hơn, có những nhu cầu mới hơn, đặc biệt là nhu cầu về hoạt động Mặc dù hoạt động học tập là hoạt động chủ đạo, song nội dung và tính chất hoạt động học tập ở lứa tuổi này khác rất nhiều so với lứa tuổi trước Nó đòi hỏi ở các em
Trang 27tính năng động, sáng tạo và độc lập cao hơn, tư duy lôgic nhiều hơn Những yêu cầu đó vừa phải được thực hiện trong học tập, vừa phải được cụ thể hoá trong các hoạt động tập thể, đây là một trong những đặc điểm rõ nét của HS THPT Cho nên, khi tổ chức các HĐGDNGLL với những hình thức đa dạng
do HS quản lý và điều khiển có vị trí rất quan trọng ở lứa tuổi này Đây là những hoạt động không thể thiếu có tác dụng thiết thực đến việc hình thành và phát triển nhân cách các em Trong thực tế có một số HS sống thu mình, chỉ chăm chú vào việc học tập ngại giao tiếp và chia sẻ với bạn bè ,thày cô giáo Thông qua HĐGDNGLL Giáo viên chủ nhiệm giao nhiệm vụ , tạo điều kiện để các em được bộc lộ, thể hiện năng lực của mình
Tóm lại, HĐGDNGLL thực sự là một bộ phận hữu cơ của hệ thống hoạt động giáo dục ở trường THPT Nếu tổ chức có hiệu quả, HĐGDNGLL sẽ giúp gắn liền nhà trường với đời sống xã hội, góp phần phát huy vai trò của các lực lượng giáo dục trong quá trình hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS trong bước đường lập thân lập nghiệp; sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
1.3.1.2 Vai trò của HĐGDNGLL ở trường THPT
HĐGDNGLL là một bộ phận của quá trình giáo dục trong nhà trường THPT, được tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, có chương trình, có nội dung, phương pháp và phương tiện đặc biệt HĐGDNGLL có vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục toàn diện nhân cách HS theo mục tiêu giáo dục
đề ra, điều đó được thể hiện ở chỗ:
- HĐGDNGLL Củng cố, mở rộng, khơi sâu năng lực nhận thức của HS
về các bộ môn văn hoá, khoa học: Họat động dạy học trên lớp được tiến hành theo chương trình, kế hoạch dạy học do Bộ GD&ĐT quy định Trong điều kiện thời gian hạn chế, việc mở rộng, khắc sâu kiến thức cho HS gặp nhiều khó khăn Chính HĐGDNGLL là sự tiếp nối hoạt động dạy học trên lớp, với
Trang 28nhiều hoạt động phong phú, đa dạng, diễn ra trên một bình diện rộng là con đường gắn lý thuyết với thực tiễn, nhờ đó HS có điều kiện vận dụng, kiểm nghiệm tri thức vào cuộc sống, giúp HS củng cố, khắc sâu tri thức đã học, mở rộng vốn hiểu biết, hình thành kĩ năng kĩ xảo (kĩ năng giao tiếp, kĩ năng thích ứng, kĩ năng hoà nhập, kĩ năng hoạt động, kĩ năng phân tích và phán đoán…, kích thích sự phát triển tư duy, trí tuệ trực tiếp rèn luyện phẩm chất, nhân cách, tài năng, thiên hướng cá nhân, hình thành các mối quan hệ giữa con người với đời sống xã hội với thiên nhiên và môi trường sống
- HĐGDNGLL là một hoạt động giáo dục xã hội đặc biệt của nhà trường đưa HS đi vào cuộc sống thực, có tác dụng mạnh mẽ sâu sắc đến đời sống tình cảm và suy nghĩ, làm giàu thêm nhân cách của các em trong cuộc sống Đồng thời thực hiện được các nhiệm vụ giáo dục đa dạng (giáo dục ý thức, giáo dục thái độ tình cảm, giáo dục kĩ năng, hành vi, thói quen)
- HĐGDNGLL nó là con đường phát triển toàn diện cho thế hệ trẻ, là điều kiện tốt nhất để HS phát huy vai trò chủ thể tính tích cực, chủ động trong quá trình học tập, rèn luyện, tạo nên sự thống nhất giữa ý thức và hành động góp phần hình thành tình cảm, niềm tin đúng đắn ở HS
- HĐGDNGLL là việc tổ chức giáo dục thông qua hoạt động thực tiễn của HS về khoa học kĩ thuật, lao động công ích, hoạt động xã hội, hoạt động nhân đạo, văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, vui chơi giải trí, để giúp các
em phát triển, hoàn thiện đạo đức, năng lực, sở trường, thiên hướng cá nhân
Vì thế, nó tạo nên sự thống nhất nhằm “hiện thực hoá” mục tiêu của cấp học
- HĐGDNGLL tạo điều kiện để HS hoà nhập vào cuộc sống xã hội Khi tham gia các HĐGDNGLL, các em được hoà mình vào sự hoạt động của đất nước, cảm nhận được nhịp đập của đời sống phong phú, sôi động của xã hội,
và hình thành quan niệm sống tốt đẹp “ Mình vì mọi người - Mọi ngừơì vìmình.” Chính HĐGDNGLL ở trường phổ thông đã đặt HS lứa tuổi đầu thanh
Trang 29niên và thanh niên trước những vấn đề của thời đại, của xã hội cũng như những thách thức của thực tiễn mà các em phải tiếp cận, phải đối mặt Vì vậy, các em phải được chuẩn bị hành trang để gánh vác trách nhiệm chủ nhân tương lai của đất nước
1.3.2 Nội dung của chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT
Chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT gồm nhiều nội dung hoạt động dưới sự chỉ đạo của Ban giám hiệu và vai trò cố vấn của bí thư đoàn trường, của đội ngũ GVCN nhằm khuyến khích HS các lớp chủ động tổ chức thực hiện HĐGDNGLL có nội dung rất phong phú, ở bậc THPT thì HĐGDNGLL tập trung vào 6 vấn đề lớn sau đây:
- Lẽ sống của thanh niên trong giai đoạn CNH -HĐH đất nước
- Tình bạn, tình yêu, hôn nhân và hạnh phúc gia đình
- Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ tổ quốc
- Truyền thống dân tộc và truyền thống cách mạng, bảo vệ di sản văn hoá
- Thanh niên với vấn đề lập thân, lập nghiệp
- Những vấn đề có tính toàn cầu hoá như: Bảo vệ môi trường, dân số và phát triển bền vững, sức khoẻ sinh sản vị thành niên, phòng ngừa và đẩy lùi các
tệ nạn xã hội, các bệnh tật hiểm nghèo, hoà bình; hợp tác giữa các dân tộc Ngoài ra, những vấn đề khác của xã hội như giáo dục phòng chống tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, giáo dục luật lệ an toàn giao thông cũng được lồng ghép tích hợp vào nội dung hoạt động của những chủ đề thích hợp để tổ chức hoạt động cho HS theo qui mô lớp hoặc khối lớp Nhà trường, bí thư đoàn trường và GVCN cần phối hợp các hoạt động này trong mỗi tháng để HĐGDNGLL vừa đáp ứng được các yêu cầu giáo dục của nhà trường, của xã hội, đồng thời thực sự góp phần vào công tác giáo dục toàn diện HS
Hiện nay tốc độ phát triển khoa học kỹ thuật tăng lên theo cấp số nhân, đặc biệt là công nghệ thông tin ( mạng Internet ), trong khi đó sách giáo khoa,
Trang 30tài liệu không thể cập nhập một cách thường xuyên nên việc mở rộng kiến thức phù hợp với lứa tuổi sẽ làm cho HS hào hứng, có tác dụng bổ trợ kịp thời cho giờ học trên lớp và giáo dục tư tưởng, đạo đức, kỹ năng sống Tư duy của
HS THPT đã phát triển ở mức độ cao, các em có khả năng thu nhập thông tin
từ nhiều nguồn tin khác nhau để làm giàu kiến thức cho bản thân HĐGDNGLL nếu khơi dậy, đánh thức nhu cầu ham học hỏi, tự tìm tòi kiến thức và luôn khám phá cái mới của lứa tuổi HS THPT thì nội dung kiến thức
sẽ được mở rộng phong phú, cập nhật Ngoài việc cập nhật nội dung phải đảm bảo đến thực tiễn học tập, rèn luyện hàng ngày của HS từng khối lớp và nhà trường phải đảm bảo cân đối kiến thức chuyên môn, kiến thức văn hoá phù hợp với lứa tuổi bám sát từng chủ đề trên các mặt của thực tiễn xã hội, có như vậy HĐGDNGLL mới đáp ứng mục tiêu của từng hoạt động và mục tiêu chung của giáo dục Nếu nội dung nghèo nàn, đơn điệu không phù hợp với lứa tuổi HS THPT sẽ khó thu hút được các em HS tham gia hoạt động, kết quả hoạt động sẽ hạn chế
1.3.3 Đặc điểm của chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT
1.3.3.1 HĐGDNGLL ở trường THPT được cấu trúc theo chủ đề của mỗi tháng và chủ đề hoạt động hè
Ở trường THCS, mỗi chủ điểm giáo dục của chương trình HĐGDNGLL gắn với một ngày kỷ niệm hoặc sự kiện lớn trong tháng, các mức độ nội dung hoạt động chủ yếu gắn với nhà trường, dịa phương, xây dựng và phát huy truyền thống nhà trường, quê hương, rèn luyện bản thân, từng bước tiếp cận với xã hội, phù hợp với lứa tuổi HS THCS
Khác với THCS, chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT là hệ thống cấu trúc đồng tâm của chương trình toàn cấp học Về cơ bản cấu trúc của chương trình lớp 10, 11, 12 là giống nhau Đó là cấu trúc theo các chủ đề hoạt động Mỗi chủ đề hoạt động phản ánh một nội dung giáo dục cần phải có đối
Trang 31với HS THPT Trong năm học có 9 chủ đề hoạt động giáo dục tương ứng với 9 tháng trong năm học, mỗi tháng một chủ đề, đồng thời để dảm bảo tính khép kín của quy trình giáo dục thì chủ đề hoạt động thứ 10 là chủ đề hoạt động hè Các chủ đề hoạt động tuy không lấy ngày kỷ niệm trong tháng làm trụ cột chính nhưng vẫn mang tính kế thừa, có đổi mới cho phù hợp với lứa tuổi HS THPT Chẳng hạn: Chủ điểm tháng 11 ở trường THCS là “ Tôn sư trọng đạo ” mục tiêu của chủ điểm này là giáo dục tình cảm thầy trò, lòng biết ơn sâu sắc Thầy,
Cô giáo, khả năng giao tiếp, ứng xử có văn hoá đối với thầy cô Vấn đề này được
kế thừa trong chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT với chủ đề “ Thanh niên với truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo” Mục tiêu của chủ điểm này
là khắc sâu nhận thức về vai trò và công ơn của người Thầy giáo trong sự nghiệp trồng người, trong sự phồn vinh và phát triển đất nước, biết giữ gìn và phát huy truyền thống tôn sư trọng đạo, truyền thống hiếu học của dân tộc
Chủ điểm tháng 12 ở trường THCS là “uống nước nhớ nguồn” nhằm giáo dục cho HS truyền thống cách mạng của dân tộc và anh bộ đội cụ Hồ Vấn đề này được kế thừa trong chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT với chủ
đề “Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” nhằm làm cho HS hiểu rõ trách nhiệm của thanh niên, HS trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, tích cực chủ động và sẵn sàng tham gia các hoạt động xây dựng và bảo
vệ tổ quốc do nhà trường và địa phương tổ chức tin tưởng vào đường lối xây dựng và bảo vệ tổ quốc do Đảng và Nhà nước vạch ra Với các hoạt động như: Tổ chức diễn đàn thanh niên “ Vai trò của thanh niên trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc ”; Tìm hiểu các hoạt động xây dựng nền quốc phòng toàn dân; Tổ chức kỷ niệm ngày quốc phòng toàn dân, nghe nói chuyện chuyên đề về anh bộ đội Cụ Hồ, nhằm giáo dục cho thanh niên HS trách nhiệm đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc, nhận thức đúng đắn về nền quốc phòng toàn dân, sẵn sàng tham gia các hoạt động và bảo vệ tổ quốc
Trang 321.3.3.2 Mức độ, yêu cầu của HĐGDNGLL được nâng cao hơn so với yêu cầu ở bậc THCS
Chúng ta đã biết, giáo dục là một quá trình nhận thức, hoạt động và phát triển Chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT là một chương trình đồng tâm, tịnh tiến Do đó mức độ về yêu cầu đối với nội dung hoạt động giáo dục của các lớp cũng được phát triển từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, tổng hợp hơn, khái quát hơn Điều đó tạo nên sự đa dạng, phong phú, hấp dẫn của hoạt động, phù hợp và có hiệu quả với đối tượng giáo dục là HS THPT Trên tinh thần đó, mức độ yêu cầu nội dung của HĐGDNGLL ở lớp 11 được nâng cao hơn so với lớp 10, lớp 12 lại được nâng cao hơn so với lớp 11, ví dụ: Cùng chủ đề tháng 9 “ Thanh niên với việc học tập, rèn luyện vì sự nghiệp CNH- HĐH đất nước ” thì ở các khối lớp khác nhau sẽ thực hiện với mức độ khác nhau, chẳng hạn:
ở lớp 10 thực hiện chủ đề trên bằng cách “thảo luận về vai trò, vị trí của người thanh niên HS trong giai đoạn mới”, HS khối 11, “ Thi hùng biện về trách nhiệm của thanh niên HS trong giai đoạn CNH - HĐH đất nước” Còn ở khối 12 HS, “ Thảo luận kế hoạch học tập và rèn luyện của năm học cuối cùng ở phổ thông” Hay chủ đề tháng 10 “Thanh niên với tình bạn, tình yêu
và gia đình”, HS khối 10 với hoạt động “ Thi hỏi đáp về tình bạn, tình yêu và gia đình”, HS khối 11 tổ chức “ Diễn đàn thanh niên về vẻ đẹp trong tình bạn
và tình yêu”, còn HS khối 12 “ Tìm hiểu luật hôn nhân và gia đình”
Chủ đề tháng 11, nội dung hoạt động ở lớp 10: “ Giao lưu với những HS tiêu biểu của trường”; “ Những dòng xúc cảm về Thầy Cô ” HS ở khối 11 “ Giao lưu với các Thầy cô giáo của lớp”; “ Thảo luận về phát huy truyền thống hiếu học và tôn sư trọng đạo”, còn HS khối 12, “ Thi sáng tác về thầy, cô giáo
về mái trường” Rõ ràng cùng một chủ đề nhưng hoạt động ở lớp 11 có yêu cầu cao hơn so với lớp 10, còn ở khối 12 lại cao hơn, sâu hơn khối 11
Trang 331.3.3.3 Nội dung các chủ đề HĐGDNGLL rất phong phú, đa dạng, đề cập đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, của đất nước và những vấn đề liên quan đến thế giới
Các chủ đề HĐGDNGLL đề cập tới vấn đề tình bạn, tình yêu; quan hệ thầy trò, tôn sư trọng đạo; tư vấn tâm lý lứa tuổi; bản sắc văn hoá dân tộc; vấn
đề hướng nghiệp, vấn đề dân số, môi trường, các tệ nạn xã hội Ngoài ra còn
có các chủ đề “Hoà bình hữu nghị”; “ tìm hiểu về liên hợp quốc” ; “ước mơ lý tưởng, hoài bão của thanh niên, trong sự nghiệp CNH- HĐH đất nước”
Tất cả các nội dung trên đều được tiến hành thông qua các hoạt động cụ thể, phong phú đa dạng Các hoạt động này phù hợp với đặc điểm tâm sinh
lý, hứng thú, nguyện vọng của thanh niên HS THPT
Nội dung của các chủ đề hoạt động đều nhấn mạnh đến việc giáo dục ý thức trách nhiệm của người công dân đối với bản thân, gia đình và xã hội Các hoạt động của chương trình HĐGDNGLL đều nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, độc lập, tự giác sáng tạo của thanh niên HS từ nhận thức đến hành động trong việc lựa chọn ngành nghề, lập thân lập nghiệp cũng như lựa chọn các giá trị đúng đắn, qua đó biết tự điều chỉnh để vươn tới hoàn thiện bản thân
1.3.3.4 Hình thức tổ chức HĐGDNGLL
Hình thức tổ chức HĐGDNGLL có ý nghĩa quan trọng đến hiệu quả của hoạt động: Thu hút được nhiều HS tham gia một cách nhiệt tình và có hiệu quả đa dạng và linh hoạt, tuỳ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh khác nhau của từng địa phương, từng trường, khối lớp cụ thể mà GV có thể lựa chọn, thiết kế
và tổ chức các hoạt động một cách sáng tạo, phù hợp và có hiệu quả Có rất nhiều hình thức tổ chức HĐGDNGLL như: Tổ chức ngoại khoá bộ môn; tổ chức câu lạc bộ ca hát; tổ chức hội thi: HS thanh lịch; thi đất học Kinh Bắc, thi hùng biện; đường lên đỉnh núi Ôlympia, thi hiểu biết môn học, trí tuệ học đường Các hoạt động tham quan, nghe kể chuyện lịch sử, nói chuyện thời
Trang 34sự, tham gia làm báo tường; tập san Song đối với HS THPT phần lớn thời gian là giành cho nhiệm vụ học văn hoá, thời gian dành cho HĐGDNGLL bị hạn chế Theo kế họạch HĐGDNGLL được thực hiện trung bình mỗi tuần 3 tiết (Tiết sinh hoạt dưói cờ đầu tuần, tiết sinh hoạt lớp cuối tuần và 4 tiết hoạt động trong 1 tháng) nên mỗi chủ đề cần lựa chọn hình thức tổ chức thích hợp với quy mô cấp lớp, cấp trường với thời gian hợp lý Có thể đan xen các hình thức tổ chức theo các chủ đề
Ví dụ, cùng một chủ đề: “Thanh niên với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc” có thể có các hình thức:
- Thi hùng biện: “Thanh niên với đất nước ở đầu thế kỷ 21”
- Tổ chức thảo luận: “ Nhiệm vụ bảo vệ tổ quốc và hoạt động của thanh niên chúng ta”
- Nghe nói chuyện chuyên đề “Anh bộ đội Cụ Hồ”
- Tổ chức ngày quốc phòng toàn dân
- Thi tìm hiểu về luật nghĩa vụ quân sự
Thời gian tổ chức các hình thức hoạt động cũng phải hợp lý: Có thể một năm tổ chức thi: “Đất học Kinh Bắc”, thi “ Hiểu biết môn học”, thi “ HS thanh lịch” thi “Chiếc nón kỳ diệu” một lần; Tổ chức mít tinh kỷ niệm những ngày lễ lớn làm theo quy mô cấp trường hai đến ba lần như: Kỉ niệm ngày nhà giao Việt Nam 20/11 ; Ngày thành lập đoàn 26/3… Nếu nội dung hoạt động, hình thức tổ chức đơn điệu hoặc lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ bị nhàm chán và không gây hứng thú cho HS thì kết quả HĐGDNGLL sẽ không đạt hiệu quả như mong muốn
Thời gian tổ chức chương trình HĐGDNGLL phải đảm bảo cân đối, phù hợp với các hoạt động chung của nhà trường, nếu thời lượng quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến thời gian và kết quả học tập các môn văn hoá; ngược lại, nếu tổ chức quá ít sẽ khó có thể đạt được kết quả như mục tiêu của chường trình đề
Trang 35ra, như vậy sẽ ảnh hươỏng đến việc hình thành phẩm chất, năng lực và kỹ năng cần thiết cho HS
1.4 Quản lý các HĐGDNGLL ở trường THPT
1.4.1 Quản lí việc xây dựng và thực hiện kế hoạch HĐGDNGLL
Xây dựng kế hoạch, chính là sắp xếp một cách hợp lí, khoa học những công việc cụ thể nào đó cần phải thực hiện trong một thời gian nhất định với những con người vật chất cụ thể kèm theo Kế hoạch HĐGDNGLL, đó là trình tự những nội dung hoạt động, các hình thức tổ chức hoạt động được bố trí xắp xếp theo thứ tự thời gian của năm học Kế hoạch rất cần trong hoạt động, nó làm cho công tác của nhà giáo dục có sự định hướng rõ ràng và có mục đích, mục tiêu cân nhắc cụ thể Kế hoạch sẽ giúp nhà giáo dục không bị lôi cuốn vào những công việc vụn vặt, làm cho nhà quản lí chủ động hơn, tự tin hơn trong công tác của mình Lập kế hoạch tổ chức HĐGDNGLL phải nắm chắc ba vấn đề quan trọng là “ làm cái gì ”, “ làm như thế nào ? ”, “ ai làm ? ”
Quản lí việc xây dựng và thực hiện kế hoạch HĐGDNGLL bao gồm:
- Quản lí việc xây dựng kế hoạch hoạt động tuần, tháng, năm của GVCN và cán bộ Đoàn (Các nội dung cụ thể, hình thức tổ chức hoạt động, những công việc chuẩn bị cho hoạt động như thế nào, thời gian tiến hành cho hoạt động)
- Quản lí việc xây dựng và thực hiện HĐGDNGLL bắt buộc, hoạt động tự chọn
- Quản lí việc xây dựng, triển khai kế hoạch HĐGDNGLL và việc bồi dưỡng kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ Đoàn, GVCN
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch phối hợp giữa GVCN và GVBM trong việc tổ chức HĐGDNGLL
- Quản lí việc xây dựng kế hoạch về CSVC và các điều kiện khác phục vụ cho HĐGDNGLL( Bàn ghế, tăng âm , loa đài , biểu ngữ )
- Quản lí việc xây dựng và thực hiện kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả HĐGDNGLL
Trang 36- Quản lí việc xây dựng và thực hiện kế hoạch phối kết hợp giữa các lưc
lượng trong và ngoài nhà trường tham gia tổ chức HĐGDNGLL
- Quản lí về việc xây dựng tiêu chí thi đua giữa các khối lớp và giải thưởng
trong quá trình thực hiện
1.4.2 Quản lý đội ngũ GVCN thực hiện HĐGDNGLL ở các lớp
Trong thực tế hiện nay ở trường THPT không có GV chuyên trách đảm nhiệm việc tổ chức các HĐGDNGLL như ở THCS Người phụ trách HĐGDNGLL là Hiệu trưởng hoặc Phó hiệu trưởng GVCN là người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức HĐGDNGLL ở lớp mình chủ nhiệm, chịu trách nhiệm thiết kế tổ chức HĐGDNGLL theo chủ điểm hàng tháng Quản lý đội ngũ GVCN thực hiện HĐGDNGLL ở các lớp bao gồm các công việc cụ thể sau:
- Quản lý việc thực hiện kế hoạch cho từng tuần, tháng, học kỳ và cho
cả năm học, kế hoạch xây dựng đội ngũ cán bộ lớp làm nòng cốt cho việc tổ chức HĐGDNGLL của lớp,
- Kiểm tra, đôn đốc việc chuẩn bị của GVCN theo chủ đề hoạt động từng tháng và các hoạt động tự chọn, việc triển khai HĐGDNGLL trong các giờ sinh hoạt và tiết chào cờ đầu tuần
- Quản lí việc phối kết hợp giữa GVCN lớp và các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường
- Quản lí việc đánh giá HS, việc rút kinh nghiệm tổ chức các HĐGDNGLL sau mỗi chủ đề hoạt động
- Quản lý việc chuẩn bị theo các chủ đề HĐGDNGLL của từng tháng gồm có hai phần: phần bắt buộc và phần tự chọn
Chủ đề bắt buộc
* Phần bắt buộc mỗi tháng có một chủ đề hoạt động cụ thể như sau:
STT Tháng Chủ đề hoạt động
Trang 371 9 Thanh niên học tập, rèn luyện vì sự nghiệp CNH - HĐH đất nước
Hiệu trưởng với vai trò là người điều hành chính HĐGDNGLL của nhà trường phải nắm vững nôị dung chương trình HĐGDNGLL ở trường THPT, các chủ đề hoạt động của từng tháng trong năm học, chỉ đạo tổ chức cho GVCN thực hiện nghiêm túc Đồng thời Hiệu trưởng còn đóng vai trò cố vấn cho GVCN trong việc lựa chọn nội dung, hình thức, cách thức thiết kế, tổ chức HĐGDNGLL cho HS Việc chuẩn bị chu đáo của GVCN đặc biệt là trong việc thiết kế hoạt động có ý nghĩa quyết định tới chất lượng triển khai các HĐGDNGLL theo chủ đề hoạt động hàng tháng
Các hoạt động tự chọn được bố trí trong chương trình làm cho HĐGDNGLL ở trường thêm phong phú về hình thức tổ chức, tạo điều kiện cho GVCN các lớp và nhà trường phát huy tính sáng tạo, tính địa phương, chọn các loại hình và hình thức tổ chức phù hợp với sở thích, năng lực của
HS, phù hợp với điều kiện hoàn cảnh của địa phương, của nhà trường để gây hứng thú học tập cho HS Các hoạt động này có thể là các câu lạc bộ về khoa học tư nhiên, khoa học xã hội, các câu lạc bộ về văn nghệ thể thao, các hoạt động thăm quan, dã ngoại
Trang 38Trong việc xây dựng kế hoạch tuần, kế hoạch tháng Hiệu trưởng chỉ đạo GVCN và yêu cầu GVCN phải đưa các hoạt động này vào và coi đó là một nhiệm vụ cần phải làm Đồng thời yêu cầu các GVCN phải thực hiện nghiêm chỉnh các nội dung đã được xây dựng trong kế hoạch Kết quả HĐGDNGLL
ở các lớp như : Các giờ GDNGLL có được thực hiện hay không? mức độ thực hiện như thế nào; kết quả ra sao? Tất cả những điều này Hiệu trưởng cũng phải nắm được trên cơ sở đó xử lý và ra các quyết định điều chỉnh một cách kịp thời nhằm đạt được các mục tiêu đề ra, và lấy đó là một trong những thông số để đánh giá xếp loại công tác chủ nhiệm của giáo viên
* Quản lý việc triển khai HĐGDNGLL của GVCN
Dưới góc độ quản lý, người Hiệu trưởng phải thực hiện chức năng kiểm tra Khi thực hiện chức năng kiểm tra Hiệu trưởng cần phải thực hiện đầy đủ các hình thức kiểm tra khác nhau như : kiểm tra đột xuất, kiểm tra định kỳ kết hợp với kiểm tra thường xuyên để thu thập được các thông tin một cách kịp thời và chính xác và khách quan về các HĐGDNGLL diễn ra ở các lớp như thế nào? vai trò của GVCN trong hoạt động này ra sao? hình thức, nội dung, thời gian thực hiện có đúng theo quy định không? tỷ lệ HS tham gia là bao nhiêu? việc tổ chức điều khiển của đội ngũ cán bộ lớp như thế nào? phong trào tự quản ra sao? Việc tổ chức có phát huy được tính tích cực, chủ động của HS hay không hay vẫn mang tính áp đặt của giáo viên và diễn ra một chiều
* Quản lý việc đánh giá kết quả của HS
Sau mỗi chủ đề hoạt động hay sau mỗi đợt sinh hoạt chuyên đề GVCN phải đánh giá kết quả hoạt động của HS ở các mức độ khía cạnh khác nhau: Đánh giá về mức độ nhận thức các vấn đề cuả nội dung hoạt động; đánh giá
về ý thức trách nhiệm trong quá trình tham gia các hoạt động; đánh giá về hiệu quả đóng góp của từng HS vào việc tổ chức các hoạt động Kết quả đánh
Trang 39giá là một căn cứ quan trọng để xếp loại hạnh kiểm của HS hàng tháng, ở mỗi học kỳ và cả năm học Để việc đánh giá được khách quan và chính xác Hiệu trưởng chỉ đạo và yêu cầu GVCN các khối lớp phải đưa ra được thang chuẩn
để đánh giá và sử dụng nhiều hình thức đánh giá: Đánh giá qua bài viết thu hoạch của HS, qua quan sát hoạt động của HS, qua toạ đàm trao đổi Hiệu trưởng cũng yêu cầu GVCN phải thực hiện tốt quy trình đánh giá: HS tự đánh giá theo những tiêu chí của hoạt động; Tập thể lớp đánh giá và cuối cùng là GVCN đánh giá Trước khi đánh giá từng cá nhân HS GVCN tiến hành rút kinh nghiệm về những hoạt động của lớp và phải đánh giá một cách toàn diện, tránh thiên vị, định kiến, thiếu quan điểm động và phát triển
* Quản lý việc phối hợp giữa GVCN và tổ chức Đoàn Thanh niên
Hoạt động đoàn của nhà trường là một bộ phận hữu cơ của quá trình sư phạm, phương hướng nhiệm vụ công tác của Đoàn là động viên, giúp đỡ, tạo điều kiện cho các đoàn viên thanh niên HS thực hiện tốt nhiệm vụ học tập, tu dưỡng rèn luyện đạo đức, tư cách tác phong của người công dân tương lai Ngoài ra tổ chức Đoàn Thanh niên còn có một nhiệm vụ quan trọng là tổ chức cách hoạt động giáo dục sinh hoạt tập thể, vui chơi giải trí để có thể mở rộng, khắc sâu kiến thức và tăng cường kĩ năng giao tiếp Như vậy nếu GVCN phối hợp tốt với tổ chức Đoàn trong việc tổ chức HĐGDNGLL thì hiệu quả cuả hoạt động này sẽ được nâng cao
Để quản lý việc phối hợp giữa GVCN và cán bộ Đoàn Hiệu trưởng yêu cầu GVCN phải xây dựng kế hoạch phối kết hợp tổ chức HĐGDNGLL ngay
từ đầu năm học GVCN phối kết hợp với ban chấp hành Đoàn trường trong việc xây dựng nội dung, chương trình, lựa chọn cách thức tổ chức hoạt động mang lại hiệu quả, trong việc thiết kế các hoạt động, trong việc tập huấn kỹ năng nghiệp vụ tổ chức HĐGDNGLL; Trong các buổi chào cờ đầu tuần, trong các cuộc thi cấp trường như thi “ Sân chơi trí tuệ”; thi văn nghệ; thi
Trang 40hùng biện; hoặc trong các hoạt động xã hội như : Chăm sóc di tích lịch sử văn hoá; nghĩa trang liệt sĩ; từ thiện; tham gia lao động cộng sản Trong việc phối hợp đó cần phân định rõ trách nhiệm: Đoàn trường làm gì, GVCN làm gì? cách thức tiến hành ra sao ?
Đối với chi đoàn HS trong lớp chủ nhiệm, ngay từ đầu năm học Hiệu trưởng cũng cần chỉ đạo và yêu cầu các GVCN phải có kế hoạch xây dựng ban chấp hành chi đoàn các lớp và giúp đỡ các chi đoàn xây dựng kế hoạch hoạt động, bồi dưỡng cán bộ nòng cốt; cố vấn cho họ tổ chức các hoạt động giáo dục GVCN
có thể gợi ý, định hướng tạo điều kiện để ban chấp hành chi đoàn trao đổi với ban cán sự lớp tổ chức các HĐGDNGLL Nếu tổ chức Đoàn trong lớp học là một tổ chức vững mạnh GVCN có thể giao cho họ tổ chức các hoạt động này Tuy nhiên GVCN không được khoán trắng cho tổ chức Đoàn trong việc tổ chức HĐGDNGLL vì đây là nhiệm vụ của GVCN GVCN hoàn toàn chịu trách nhiệm trược nhà trường về chất lượng tổ chức HĐGDNGLL ở lớp mình phụ trách Các hoạt động của Đoàn và HĐGDNGLL có sự thống nhất với nhau song chúng không phải là một bởi hoạt động Đoàn là do tổ chức Đoàn phát động còn nội dung HĐGDNGLL là nội dung chính khoá được xem như là một môn học bắt buộc đối với HS và người chỉ đạo trong lớp học đó chính là GVCN
* Quản lý việc phối hợp giữa GVCN và GVBM trong việc tổ chức các HĐGDNGLL
GVBM là những người trực tiếp giảng dạy một môn học nào đó ở các lớp, có kiến thức sâu rộng về môn học mà mình trực tiếp giảng dạy, và có thể
có những hiểu biết sâu sắc những vấn đề có liên quan đến một nội dung HĐGDNGLL nào đó Do vậy họ có khả năng làm cố vấn, tham mưu cho các HĐGDNGLL như: Thi hiểu biết các môn học, thi “ Đất học Kinh Bắc ”, “ Rung chuông vàng”, tổ chức các hội thảo, câu lạc bộ… Kết quả giáo dục của một lớp phụ thuộc một phần vào năng lực, phẩm chất của GVCN, GVBM Vì