1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ CỦA NGƢỜI THÁI XÃ CHIỀNG NGẦN, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

156 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tình Hình Sử Dụng Ngôn Ngữ Của Người Thái Xã Chiềng Ngần, Thành Phố Sơn La, Tỉnh Sơn La
Tác giả Đinh Thị Tuyết Mai
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Hoàng Yến
Trường học Trường Đại Học Tây Bắc
Chuyên ngành Ngôn Ngữ Việt Nam
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2018
Thành phố Sơn La
Định dạng
Số trang 156
Dung lượng 2,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Lý do lựa chọn đề tài (12)
  • 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (13)
  • 3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu (0)
  • 4. Phương pháp nghiên cứu (14)
  • 5. Đóng góp của luận văn (15)
  • 6. Cấu trúc của luận văn (16)
  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN KHẢO SÁT (17)
    • 1.1. Một số tiền đề lí luận có liên quan (17)
      • 1.1.1. Khái niệm tiếng mẹ đẻ, song ngữ và đa ngữ (17)
      • 1.2.1. Người Thái ở Việt Nam (20)
      • 1.2.2. Tiếng Thái (21)
    • 1.3. Khái quát về địa bàn nghiên cứu (21)
      • 1.3.1. Một vài nét sơ lược về tỉnh Sơn La (21)
      • 1.3.2. Giới thiệu về thành phố Sơn La (25)
      • 1.3.3. Giới thiệu về xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La (28)
  • CHƯƠNG 2. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ VÀ TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI THÁI LÀ NỮ GIỚI Ở XÃ CHIỀNG NGẦN, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA (38)
    • 2.1. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về độ tuổi (38)
      • 2.1.1. Nhóm tuổi trên 50 (40)
      • 2.1.2. Nhóm tuổi từ 31 - 50 (42)
      • 2.1.3. Nhóm tuổi từ 16 - 30 (44)
      • 2.1.4. Nhóm tuổi từ 6 - 15 (45)
    • 2.2. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về trình độ văn hóa (48)
      • 2.2.1. Mù chữ (49)
      • 2.2.2. Nhóm người có trình độ từ lớp 1 đến lớp 5 (49)
      • 2.2.3. Nhóm người có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9 (50)
      • 2.2.4. Nhóm người có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12 (51)
      • 2.2.5. Nhóm người có trình độ trên lớp 12 (52)
    • 2.3. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về nghề nghiệp (54)
      • 2.3.1. Nông dân (54)
      • 2.3.3. Học sinh (56)
      • 2.3.4. Sinh viên (56)
    • 2.4. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về thái độ ngôn ngữ (57)
      • 2.4.1. Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng Việt (57)
      • 2.4.2. Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng dân tộc (60)
      • 2.4.3. Thái độ đối với những ngôn ngữ được sử dụng trong cộng đồng (67)
      • 2.4.4. Thái độ đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong trường học (68)
    • 2.5. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về môi trường (68)
      • 2.5.1. Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình (68)
      • 2.5.2. Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cộng đồng (71)
  • CHƯƠNG 3. TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ VÀ TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI THÁI LÀ NAM GIỚI Ở XÃ CHIỀNG NGẦN, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA (78)
    • 3.1. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nam giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về độ tuổi (78)
      • 3.1.1. Nhóm tuổi trên 50 (80)
      • 3.1.2. Nhóm tuổi từ 31 – 50 (82)
      • 3.1.3. Nhóm tuổi từ 16 – 30 (83)
      • 3.1.4. Nhóm tuổi từ 6-15 (85)
    • 3.2. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nam giới ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tình Sơn La dựa trên sự khác biệt về trình độ văn hóa (88)
      • 3.2.1. Mù chữ (88)
      • 3.2.2. Nhóm người có trình độ từ lớp 1 đến lớp 5 (89)
      • 3.2.3. Nhóm người có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9 (91)
      • 3.2.4. Nhóm người có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12 (92)
      • 3.2.5. Nhóm người có trình độ trên 12 (93)
    • 3.3. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nam giới ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về nghề nghiệp (94)
      • 3.3.1. Nông dân (95)
      • 3.3.2. Giáo viên, y tá, cán bộ, công chức (96)
      • 3.3.3. Học sinh (96)
    • 3.4. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nam giới ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về thái độ ngôn ngữ (97)
      • 3.4.1. Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng Việt (97)
      • 3.4.2. Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng dân tộc (100)
      • 3.4.3. Thái độ đối với những ngôn ngữ được sử dụng trong cộng đồng (108)
      • 3.4.4. Thái độ đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong trường học (109)
    • 3.5. Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nam giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về môi trường (109)
      • 3.5.1. Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình (109)
      • 3.5.2. Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cộng đồng (113)
  • KẾT LUẬN (119)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (121)
  • PHỤ LỤC (123)

Nội dung

Lý do lựa chọn đề tài

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số Các dân tộc thiểu số khác nhau sinh sống đan xen chủ yếu ở các vùng núi, tạo nên bức tranh đa dạng về địa bàn cư trú Mỗi dân tộc đều có nền văn hóa đặc sắc riêng, góp phần hình thành một Việt Nam đa ngôn ngữ, đa văn hóa nhưng vẫn thống nhất.

Dân tộc Thái, một trong 54 dân tộc của Việt Nam, đứng thứ ba về số dân, chủ yếu sinh sống ở vùng núi phía Tây Bắc như Thanh Hóa, Nghệ An, Sơn La và Điện Biên Người Thái, đặc biệt là người Thái Tây Bắc, sở hữu nền văn hóa độc đáo và lâu đời với những đặc trưng nổi bật như kiến trúc nhà ở, trang phục thổ cẩm, ẩm thực phong phú và phong tục tập quán riêng biệt Những yếu tố này đã góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa đa dạng của dân tộc Việt Nam.

Tiếng Thái là một ngôn ngữ cổ với hệ chữ viết riêng, nhưng hiện nay đang có nguy cơ mai một Nguyên nhân chủ yếu là do một bộ phận lớn, đặc biệt là giới trẻ, chọn sử dụng tiếng Việt thay vì tiếng Thái Hệ thống chữ viết của người Thái không phổ biến, dẫn đến việc rất ít người Thái biết đọc và viết tiếng Thái.

Ngôn ngữ và chữ viết đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn bản sắc và phát huy truyền thống văn hóa của các dân tộc, góp phần vào sự đa dạng văn hóa Việt Nam Trong bối cảnh hội nhập, sự tiếp biến văn hóa diễn ra nhanh chóng, ảnh hưởng đến các vùng dân tộc thiểu số và dẫn đến nguy cơ mai một ngôn ngữ Việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc hiện nay đang được giao cho thế hệ trẻ, tuy nhiên, thái độ và ý thức của họ đối với ngôn ngữ chưa đáp ứng được kỳ vọng Do đó, cần có một bức tranh tổng thể bắt đầu từ cấp xã, từ đó đề xuất các giải pháp tích cực gắn liền với chính sách ngôn ngữ của Đảng và chính quyền địa phương.

Chúng tôi đã chọn đề tài luận văn “Tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Thái xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La” nhằm mục đích khái quát tình hình sử dụng ngôn ngữ, bao gồm tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt, của người Thái tại khu vực này.

Phương pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng 3 phương pháp nghiên cứu chính sau:

- Phương pháp điều tra điền dã ngôn ngữ học xã hội

- Phương pháp thống kê, xử lí tư liệu

- Phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp

4.1 Phương pháp điều tra điền dã ngôn ngữ học xã hội

Phương pháp nghiên cứu bao gồm việc sử dụng phiếu khảo sát, phỏng vấn trực tiếp, ghi âm và chụp ảnh để thu thập thông tin về tình hình và khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ cũng như tiếng Việt của người Thái tại khu vực khảo sát.

4.2 Phương pháp thống kê, xử lí tư liệu

Phương pháp này nhằm định lượng các yếu tố liên quan đến việc sử dụng và khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ cũng như tiếng Việt của người Thái trong khu vực khảo sát.

Sau khi hoàn tất việc thu thập tài liệu, chúng tôi tiến hành phân tích dữ liệu dựa trên các tiêu chí như giới tính, độ tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thái độ ngôn ngữ và môi trường giao tiếp.

Chúng tôi phân loại độ tuổi thành bốn nhóm: từ 6 đến 15 tuổi, từ 16 đến 30 tuổi, từ 31 đến 50 tuổi và trên 50 tuổi Đối với trình độ văn hóa, các nhóm được chia tương ứng với các lớp trong chương trình phổ thông hiện nay, bao gồm nhóm mù chữ và nhóm có trình độ từ lớp 1 đến lớp.

5, nhóm có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9, nhóm có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12 và nhóm có trình độ trên 12

Với tiêu chí nghề nghiệp, chia thành các ngành nghề khác nhau như: Nông dân, Giáo viên, y tá, cán bộ, học sinh, sinh viên

Chúng tôi phân chia tiêu chí thái độ ngôn ngữ thành bốn nhóm chính: thái độ đối với tiếng Việt, thái độ đối với tiếng dân tộc, thái độ đối với các ngôn ngữ trong cộng đồng và thái độ về việc sử dụng ngôn ngữ trong trường học Đồng thời, tiêu chí về môi trường giao tiếp được chia thành giao tiếp trong gia đình và giao tiếp trong cộng đồng.

Qua việc phân loại các tiêu chí, bài viết chỉ ra sự khác biệt trong việc sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của các đối tượng trong khu vực khảo sát.

Cuối cùng, chúng tôi tiến hành xem xét các tiêu chí rồi lập bảng cho phù hợp, sau đó tính phần trăm của các con số thu được

4.3 Phương pháp so sánh và phân tích tổng hợp

Sau khi xử lý số liệu, chúng tôi tiến hành so sánh và phân tích theo từng tiêu chí để mô tả, nhận xét và lý giải tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái trong khu vực khảo sát.

Đóng góp của luận văn

Luận văn sẽ đóng góp vào việc nghiên cứu hiện tượng đa ngữ trong cộng đồng dân tộc thiểu số, đặc biệt là tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La Nghiên cứu này sẽ xem xét các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến ngôn ngữ, từ đó cung cấp cái nhìn tổng quan về khả năng ngôn ngữ của người Thái trong bối cảnh hiện nay.

Khảo sát này sẽ hỗ trợ nghiên cứu về việc thực thi chính sách ngôn ngữ tại vùng dân tộc thiểu số, đồng thời cung cấp cái nhìn tổng quan về chính sách ngôn ngữ trong bối cảnh rộng hơn.

Nghiên cứu của chúng tôi đóng góp quan trọng vào việc tìm hiểu các ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại Việt Nam, đặc biệt là ngôn ngữ của người Thái ở xã.

Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, sẽ giúp lãnh đạo thành phố và tỉnh có cái nhìn đầy đủ về tình hình ngôn ngữ và chữ viết của các dân tộc thiểu số Điều này tạo điều kiện cho việc đánh giá khách quan và đề xuất chính sách, giải pháp phù hợp nhằm bảo tồn và phát huy tiếng nói, chữ viết của người Thái và các ngôn ngữ khác Qua đó, góp phần xây dựng chính sách ngôn ngữ cho vùng dân tộc thiểu số trên toàn quốc.

Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và một vài nét sơ lược về địa bàn khảo sát

Chương 2: Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La

Chương 3: Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nam giới ở xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ MỘT VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ ĐỊA BÀN KHẢO SÁT

Một số tiền đề lí luận có liên quan

1.1.1 Khái niệm tiếng mẹ đẻ, song ngữ và đa ngữ

1.1.1.1 Khái niệm tiếng mẹ đẻ

Khái niệm tiếng mẹ đẻ hiện được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau bởi các nhà ngôn ngữ học và dân tộc học Trong luận văn này, chúng tôi áp dụng định nghĩa của Nguyễn Văn Khang (1999) trong tác phẩm "Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản", theo đó tiếng mẹ đẻ được hiểu là ngôn ngữ của dân tộc mình, hay còn gọi là ngôn ngữ thứ nhất của mỗi cá nhân.

1.1.1.2 Khái niệm song ngữ và đa ngữ a Song ngữ: Theo Nguyễn Văn Khang (1999) trong “ Ngôn ngữ học xã hội -

Song ngữ, theo định nghĩa chung, là hiện tượng sử dụng hai hoặc nhiều ngôn ngữ của người song ngữ trong xã hội đa ngữ Người song ngữ có khả năng sử dụng thành thạo hai hoặc nhiều ngôn ngữ như nhau Trong bối cảnh lịch sử phát triển của nhân loại, xu hướng quốc tế hóa đã dẫn đến sự gia tăng đáng kể số người biết nhiều ngôn ngữ, hay còn gọi là đa ngữ Thuật ngữ này ngày càng được sử dụng rộng rãi Nguyễn Văn Khang trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản” nhấn mạnh rằng đa ngữ không chỉ là hiện tượng ngôn ngữ học mà còn liên quan đến các vấn đề chính trị - xã hội, đặc biệt ở các quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ.

Hiện tượng song ngữ và đa ngữ đang trở nên phổ biến trên toàn cầu Mặc dù hai khái niệm này tồn tại độc lập, nhưng cách gọi chúng thường được sử dụng thay thế cho nhau một cách dễ dàng.

1.1.1.3 Khái niệm thái độ ngôn ngữ và phương pháp xác định thái độ ngôn ngữ Các nhà ngôn ngữ học khi đề cập tới các nhân tố ảnh hưởng đến đa ngữ thường nhắc về thái độ ngôn ngữ của người sử dụng ngôn ngữ Có thể hiểu thái độ ngôn ngữ và phương pháp xác định thái độ ngôn ngữ một cách tổng quát như sau a Khái niệm thái độ ngôn ngữ

Thái độ ngôn ngữ là nhận thức hoặc quan điểm của một người về các ngôn ngữ khác nhau mà họ biết, có thể được đánh giá là tích cực hoặc tiêu cực Trong cộng đồng đa ngữ, thái độ ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn và sử dụng ngôn ngữ.

Thái độ ngôn ngữ không chỉ giúp hiểu rõ về hành vi ngôn ngữ của cá nhân và cộng đồng mà còn phản ánh quan điểm đối với các nhóm chủng tộc khác nhau Hơn nữa, thái độ này có tác động lớn đến việc học ngôn ngữ thứ hai, cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa cảm xúc và khả năng ngôn ngữ.

Thái độ ngôn ngữ được hình thành từ sự tác động tổng hợp của nhiều yếu tố xã hội như địa vị xã hội, bối cảnh văn hóa, và quan hệ xã hội Những yếu tố này bao gồm sự phát triển kinh tế, giáo dục, độ tuổi, giới tính, nghề nghiệp, và sự khác biệt giữa thành phố và nông thôn Thái độ ngôn ngữ không cố định mà thay đổi theo thời gian và trong từng cá nhân, chịu ảnh hưởng từ các yếu tố trên Nó đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn ngôn ngữ sử dụng của mỗi người, bao gồm cả việc lựa chọn giữa các ngôn ngữ khác nhau và các biến thể ngôn ngữ Sự lựa chọn này có thể dẫn đến việc duy trì ngôn ngữ hoặc chuyển đổi sang ngôn ngữ khác.

Theo Nguyễn Văn Khang (2012) trong tác phẩm “Ngôn ngữ học xã hội”, thái độ ngôn ngữ được phân loại thành ba loại chính: thái độ trung thành ngôn ngữ, thái độ kỳ thị ngôn ngữ và thái độ tự ti ngôn ngữ.

Thái độ trung thành ngôn ngữ thể hiện sự bảo vệ và hướng tới ngôn ngữ của dân tộc và quê hương Điều này xuất phát từ sự gắn bó giữa những người trong cộng đồng thông qua ngôn ngữ chung, bao gồm lịch sử, văn hóa và cách nhìn nhận thế giới Việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc tạo ra áp lực cộng đồng, khiến những ai không tuân thủ quy ước xã hội về ngôn ngữ thường bị thờ ơ và lãnh đạm Áp lực này còn thể hiện qua lòng tin kiên định, khi những người rời bỏ cộng đồng vẫn duy trì sự trung thành với ngôn ngữ của dân tộc mình.

Thái độ tự ti về ngôn ngữ là cảm giác mặc cảm khi giao tiếp bằng ngôn ngữ hoặc phương ngữ của dân tộc mình, đặc biệt khi so sánh với những ngôn ngữ có số lượng người sử dụng lớn hơn và có bề dày lịch sử Thái độ này thường dẫn đến hai cách hành xử khác nhau liên quan đến ngôn ngữ.

Việc từ bỏ ngôn ngữ hoặc phương ngữ của bản thân để chuyển sang một ngôn ngữ có uy tín cao hơn có thể giúp nâng cao vị thế xã hội Tuy nhiên, điều quan trọng là vẫn duy trì ngôn ngữ gốc và nỗ lực học tập để trở thành song ngữ hoặc song phương ngữ, từ đó biết cách sử dụng ngôn ngữ uy tín trong các tình huống giao tiếp phù hợp.

Thái độ kỳ thị ngôn ngữ thường gắn liền với cảm giác tự ti về ngôn ngữ Trong khi tự ti ngôn ngữ có thể dẫn đến cả những xu hướng tích cực và tiêu cực, kỳ thị ngôn ngữ lại thể hiện sự coi thường hoặc xem nhẹ ngôn ngữ và phương ngữ của cộng đồng khác, đồng thời quá đề cao ngôn ngữ hay phương ngữ của chính cộng đồng, dân tộc mình.

Thái độ ngôn ngữ là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu hiện tượng đa ngữ, ảnh hưởng đến việc người nói lựa chọn ngôn ngữ trong các tình huống giao tiếp khác nhau Nó cũng đóng vai trò quyết định trong việc xác định vị thế của từng ngôn ngữ trong cộng đồng đa ngữ.

1.1.1.4 Hệ quả của trạng thái đa ngữ xã hội

Theo các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học trạng thái đa ngữ xã hội thường dẫn đến một số hệ quả chính sau:

* Một là sự pha tạp ngôn ngữ

Sự pha tạp ngôn ngữ xuất hiện như một hệ quả tự nhiên của tiếp xúc ngôn ngữ, phản ánh sự ảnh hưởng của nhiều yếu tố xã hội như di dân, giáo dục song ngữ, và sự cộng cư giữa các dân tộc Tình hình này cho thấy mối quan hệ phức tạp giữa các ngôn ngữ, bao gồm loại hình và cội nguồn, trong bối cảnh chính trị, kinh tế và văn hóa hiện nay.

* Hai là vay mượn ngôn ngữ

Vay mượn ngôn ngữ là hiện tượng phổ biến, xảy ra do quá trình tiếp xúc ngôn ngữ, cả trực tiếp và gián tiếp Hiện tượng này thường xuất phát từ tình trạng "thiếu" trong ngôn ngữ, khi một ngôn ngữ tiếp nhận yếu tố từ ngôn ngữ xã hội khác.

* Ba là, hiện tượng trộn mã:

Sự trộn mã diễn ra khi người nghe hoặc người nói sợ người đối thoạii không hiểu hết ý nghĩa các phát ngôn của mình

* Bốn là hiện tượng chuyển mã

Chuyển mã là một hiện tượng sử dụng ngôn ngữ gắn với động cơ của người nói

1 2 Vài nét sơ lược về người Thái và tiếng Thái ở Việt Nam

Khái quát về địa bàn nghiên cứu

1.3.1 Một vài nét sơ lược về tỉnh Sơn La

1.3.1.1 Khái quát chung về địa lí, kinh tế, xã hội tỉnh Sơn La

Sơn La là tỉnh miền núi cao ở phía tây bắc Việt Nam, tọa lạc tại khu vực có tọa độ 20039'–22002' vĩ độ Bắc và 103011’–105002' kinh độ Đông Tỉnh cách thủ đô Hà Nội 320km qua Quốc lộ 6 và giáp ranh với các tỉnh Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình, Phú Thọ, Điện Biên và Thanh Hóa Đặc biệt, Sơn La có 250 km đường biên giới với Lào, bao gồm cửa khẩu quốc gia Lóng Sập và cửa khẩu Chiềng Khương.

Tỉnh Sơn La, với 11 huyện và 1 thành phố, có diện tích tự nhiên 14.055 km², chiếm 4,27% diện tích cả nước Dân số tỉnh Sơn La năm 2012 là 1.134.300 người, với mật độ 80 người/km² Tỉnh có 12 dân tộc anh em sinh sống, trong đó dân tộc Thái chiếm 54%, dân tộc Kinh 18% và các dân tộc khác như Mường, Dao, Khơ Mú, Xinh Mun, Kháng, La Ha, Lào, Tày và Hoa Địa hình Sơn La bị chia cắt mạnh, tạo ra nhiều tiểu vùng khí hậu, giúp phát triển nền sản xuất nông - lâm nghiệp phong phú Cao nguyên Mộc Châu, với độ cao trung bình 1.050 m, có khí hậu cận ôn đới, thích hợp cho cây chè, cây ăn quả và chăn nuôi bò sữa Cao nguyên Nà Sản, cao 800 m, thuận lợi cho trồng mía, cà phê, dâu tằm, xoài, nhãn và dứa Vùng dọc sông Đà thích hợp cho cây rừng nhiệt đới quanh năm.

Sơn La có khí hậu nhiệt đới gió mùa vùng núi, với mùa đông lạnh khô và mùa hè nóng ẩm, mưa nhiều Khí hậu tại đây được chia thành hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,4°C, với tháng cao nhất đạt 27°C và tháng thấp nhất là 16°C Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.200 đến 1.600 mm, trong khi độ ẩm không khí trung bình đạt 81%.

Tỉnh Sơn La có tổng diện tích tự nhiên là 1.405.500 ha, trong đó 702.800 ha đất đang được sử dụng, chiếm 51% tổng diện tích Diện tích đất chưa sử dụng và các nguồn nước như sông, suối vẫn còn rất lớn, lên tới 702.700 ha, tương đương 49% diện tích tự nhiên Sau khi công trình thuỷ điện Sơn La hoàn thành, tỉnh này đã có thêm khoảng 25.000 ha mặt nước hồ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng và khai thác thuỷ sản, cũng như cải thiện giao thông đường thuỷ và phát triển du lịch.

Diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh Sơn La chiếm 73% tổng diện tích tự nhiên, với 357.000 ha rừng, trong đó có 25.650 ha rừng trồng Tỉnh sở hữu nhiều loại động, thực vật quý hiếm và 4 khu rừng đặc dụng bảo tồn thiên nhiên, tạo điều kiện cho nghiên cứu khoa học và phát triển du lịch sinh thái Độ che phủ rừng đạt khoảng 37% vào năm 2003, với trữ lượng gỗ lên tới 87,053 triệu m3 Ngoài ra, Sơn La còn có trên 50 mỏ khoáng sản, bao gồm niken, đồng, và các khoáng sản quý khác như vàng và thuỷ ngân, mở ra cơ hội phát triển công nghiệp khai khoáng Tỉnh cũng có nguồn tài nguyên đá vôi, đất sét, và cao lanh chất lượng cao, hỗ trợ cho ngành sản xuất vật liệu xây dựng như xi măng và gạch không nung Tuy nhiên, các điểm mỏ và khoáng sản vẫn chưa được khảo sát và đánh giá đầy đủ.

Sơn La, nằm ở vị trí đầu nguồn của sông Đà và sông Mã, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ vùng đồng bằng Bắc Bộ và hai công trình thủy điện lớn nhất Việt Nam Ngoài ra, Sơn La còn sở hữu tiềm năng phát triển rừng nguyên liệu với diện tích trên 20 vạn ha, cung cấp nguồn nguyên liệu quý giá cho ngành chế biến lâm sản và sản xuất giấy, bột giấy.

Sơn La, với điều kiện thiên nhiên ưu đãi, sở hữu tiềm năng phát triển nông, lâm nghiệp hàng hóa quy mô lớn, đặc biệt là chè đặc sản chất lượng cao tại cao nguyên Mộc Châu và Nà Sản Tỉnh này cũng có lợi thế trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, với đàn bò sữa đã được thuần hóa hơn 40 năm, đang phát triển mạnh mẽ Các nhà khoa học đánh giá Sơn La là một trong những địa bàn lý tưởng để phát triển bò sữa và bò thịt chất lượng cao.

Sơn La không chỉ có tiềm năng phát triển cây công nghiệp và cây ăn quả, mà còn sở hữu nhiều lợi thế trong việc phát triển các loại cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao như dâu, tằm, cà phê, rau sạch, hoa, cây cảnh, cùng với chăn nuôi gia súc, gia cầm và thú quý hiếm quy mô công nghiệp Mỗi năm, tỉnh thu hoạch từ 180.000 đến 200.000 tấn ngô và đậu tương, cung cấp nguồn nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi.

Sản phẩm nông – lâm nghiệp tại Sơn La có tiềm năng phát triển lớn, tạo điều kiện cho việc hình thành các cơ sở công nghiệp chế biến như chế biến chè, sữa, cà phê, tơ tằm, thịt, giấy và thức ăn gia súc Điều này không chỉ giúp Sơn La tham gia vào thị trường trong nước mà còn mở ra cơ hội xuất khẩu.

Công trình thuỷ điện Sơn La mở ra cơ hội mới cho tỉnh Sơn La trong việc hội nhập kinh tế thị trường, đồng thời thúc đẩy sự hình thành và phát triển hệ thống dịch vụ phục vụ cho quá trình thi công xây dựng thuỷ điện cũng như tạo ra thị trường cho các khu vực tái định cư.

Sơn La, theo quy hoạch của Tổng cục Du lịch Việt Nam, nằm trong tuyến du lịch Tây Bắc và là cửa ngõ kết nối với các tỉnh phía Bắc Lào Với thiên nhiên đa dạng và cao nguyên Mộc Châu, Sơn La không chỉ là cầu nối giữa Tây Bắc và Hà Nội mà còn sở hữu tiểu khí hậu cận ôn đới cùng cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp Những điểm đến hấp dẫn như di tích lịch sử Nhà tù Sơn La, Hang Bia Quế Lâm Ngự, khu công trình thủy điện Sơn La và vùng hồ sông Đà, cùng với sự đa dạng văn hóa của 12 dân tộc sinh sống tại đây, tạo ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch.

Sơn La nổi bật với văn hóa đa dạng của 12 dân tộc anh em, thể hiện qua các lễ hội đặc sắc như lễ hội mợi, lễ kéo si, lễ hội hoa ban, cùng với những trò chơi dân gian phong phú như đua thuyền, tung còn, và bắn nỏ Ngoài ra, các điệu múa truyền thống như múa xòe, múa khèn cũng góp phần làm phong phú thêm đời sống văn hóa nơi đây Đặc biệt, ẩm thực Sơn La gây ấn tượng với những món đặc sản độc đáo như Nậm Pịa, gà mọ, và bê chao, mang đến trải nghiệm ẩm thực phong phú cho du khách.

1.3.1.2 Giới thiệu chung về Giáo dục và Đào tạo tỉnh Sơn La

Trong năm học 2016-2017, tỉnh Sơn La đã mở rộng hệ thống giáo dục với 849 cơ sở đào tạo và hơn 335 nghìn học sinh, trong đó học sinh dân tộc chiếm 83% Đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đã nâng cao trình độ chuyên môn lên 24.272 người Cơ sở vật chất được cải thiện với 13.494 phòng học, trong đó 56% là phòng kiên cố Chất lượng giáo dục được nâng cao, tỷ lệ học sinh yếu kém giảm, với 8 học sinh lớp 12 đạt giải Quốc gia và 384 học sinh THCS Kỳ thi THPT quốc gia năm 2017 đạt tỷ lệ đỗ tốt nghiệp 97,6% Giáo dục dân tộc và vùng khó khăn được chú trọng, với 231 trường tổ chức nấu ăn cho hơn 30.392 học sinh bán trú Chất lượng giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi được duy trì, 50% huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học mức độ 2, và 100% huyện, thành phố duy trì chuẩn phổ cập tiểu học và THCS.

1.3.2 Giới thiệu về thành phố Sơn La

1.3.2.1 Khái quát chung về địa lý, kinh tế, xã hội thành phố Sơn La

Thành phố Sơn La, tọa lạc tại miền núi phía Tây Bắc Việt Nam, có tọa độ địa lý từ 21°15' đến 21°30' vĩ độ Bắc và 103°45' đến 104°00' độ kinh Đông.

Về hành chính, Thành phố Sơn La có vị trí trung tâm Tỉnh với ranh giới hành chính được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Thuận Châu;

- Phía Nam giáp huyện Mai Sơn;

- Phía Đông giáp huyện Mường La và Mai Sơn;

- Phía Tây giáp huyện Thuận Châu

Tổng diện tích đất tự nhiên của thành phố là: 323,515 km2, trong đó:

+ Khu vực nội thành có tổng diện tích đất tự nhiên là 67,48 km2, gồm 7 phường: Chiềng An, Chiềng Lề, Tô Hiêu, Quyết Thắng, Quyết Tâm, Chiềng Cơi, Chiềng Sinh

+ Khu vực ngoại thành có tổng diện tích đất tự nhiên là 256,035 km2, gồm 05 xã: Chiềng Đen, Chiềng Cọ, Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La

Thành phố Sơn La là đơn vị hành chính nhỏ nhất trong 12 huyện và thành phố của tỉnh Sơn La, với diện tích chỉ chiếm 2,29% tổng diện tích toàn tỉnh, theo số liệu thống kê đất đai tính đến ngày 31/12/2015.

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ VÀ TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI THÁI LÀ NỮ GIỚI Ở XÃ CHIỀNG NGẦN, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về độ tuổi

xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về độ tuổi

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 230 nữ giới tại xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, nhằm đánh giá khả năng sử dụng tiếng Thái và tiếng Việt theo độ tuổi Các đối tượng được chia thành bốn nhóm tuổi: từ 6 - 15 tuổi, từ 16 - 30 tuổi, từ 31 - 50 tuổi và trên 50 tuổi.

Bảng 2.1 : Các nhóm tuổi của nữ giới là người Thái ở xã Chiềng Ngần Độ tuổi 6-15 tuổi 16-30 tuổi 31-50 tuổi trên 50 tuổi

Bảng 2.2 Khả năng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt theo độ tuổi của nữ giới là người Thái ở xã Chiềng Ngần Độ tuổi 6-15 tuổi 16-30 tuổi 31-50 tuổi Trên 50 tuổi

Nghe hiểu và nói được

Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được

Nghe hiểu và nói được

Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được

Nghe hiểu và nói được

Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được

Nghe hiểu và nói được

Không nghe hiểu và nói được Đọc viết được

2.1.1 Nhóm tuổi trên 50 Ở nhóm tuổi này, chúng tôi khảo sát được 41 người (chiếm 17,8%) trong tổng số 230 người là nữ giới Trong số 41 người trên 50 tuổi, chúng tôi khảo sát được 07 người trên 70 tuổi sử dụng 100% tiếng Thái (trường hợp Cà Thị Cáy (bản

Tại bản Nà Lo, các bà như Quàng Thị Pâng, Tòng Thị Uôn, Lò Thị Dom, Quàng Thị Ùa, và Cà Thị Ùa hoàn toàn nói tiếng Thái Họ có thể nghe và hiểu một số từ tiếng Việt nhưng không thể giao tiếp bằng tiếng Việt do không được đi học và không biết chữ Quốc ngữ Việc này dễ hiểu trong bối cảnh văn hóa nơi mọi người trong bản đều sử dụng tiếng Thái làm ngôn ngữ chung.

Trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã tiếp xúc với 07 người sử dụng hoàn toàn tiếng Thái để giao tiếp, không sử dụng tiếng Việt, mặc dù họ có thể hiểu một số từ Để thực hiện cuộc điều tra, chúng tôi đã nhờ một thầy giáo dạy tiểu học người Thái phiên dịch Điều này cho thấy họ giao tiếp thuần Thái trong mọi hoàn cảnh Tiếng Thái của họ không bị pha trộn với tiếng Việt nhờ vào quá trình tích lũy và sử dụng lâu dài từ khi còn trẻ Hiện tại, khi đã cao tuổi, họ chủ yếu ở nhà và giao tiếp với con cái và bà con trong bản bằng tiếng Thái Việc sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp hàng ngày đã trở thành thói quen không thể bỏ được, dẫn đến việc ngôn ngữ của họ vẫn giữ được sự thuần khiết.

Bà Cà Thị Cáy, 76 tuổi, sống tại bản Nà Lo, chỉ hiểu một số từ tiếng Việt cơ bản và hoàn toàn không nói được tiếng Việt, trong khi sử dụng tiếng Thái 100% Trong quá trình phỏng vấn, chúng tôi phải có phiên dịch để giao tiếp với bà Bà chia sẻ rằng tiếng Thái được bố mẹ dạy từ khi còn nhỏ và bà đã sử dụng ngôn ngữ này để giao tiếp với cả người Thái và người Kinh cho đến nay.

Học tiếng Thái không quá khó, chỉ cần sống và giao tiếp với người Thái, bạn sẽ tự nhiên biết nói.

Ngoài 7 người trên còn lại 34 người trong nhóm được khảo sát sử dụng cả tiếng Thái và tiếng Việt khi trả lời câu hỏi của chúng tôi Tuy nhiên, họ sử dụng tiếng Thái nhiều hơn trong khi nói chuyện Có nhiều người khi chúng tôi phỏng vấn, chúng tôi nói tiếng Việt nhưng họ vẫn nói tiếng Thái Có thể họ cho rằng là cô giáo ở Sơn La lâu rồi phải biết tiếng Thái Như vậy, tiếng mẹ đẻ đối với những người này vẫn thường trực và được sử dụng thường xuyên hơn Qua khảo sát, đa số ý kiến đều cho rằng việc sử dụng tiếng Việt chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, ở những nơi không phải bản của mình hoặc vào công sở, trường học

Kết quả khảo sát chỉ ra rằng 17,7% phụ nữ trong độ tuổi này không biết đọc và viết tiếng Việt, trong khi họ lại có khả năng sử dụng tiếng Thái rất thành thạo.

Người dân có khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ một cách thành thạo từ khi còn nhỏ đến khi già, tạo thành thói quen giao tiếp hàng ngày bằng tiếng Thái Thói quen này không chỉ quý giá mà còn góp phần bảo tồn ngôn ngữ qua nhiều thế hệ Tuy nhiên, một thực tế đáng lưu ý là hầu hết chỉ thành thạo ngôn ngữ nói, trong khi khả năng đọc viết chữ Thái lại rất hạn chế Trong số 41 người khảo sát, chỉ có 2 người (4,9%) biết đọc viết chữ Thái, đó là bà Lò Thị Piềng và bà Cà Thị Ném.

Năm 1954, Ty Giáo dục khu tự trị Thái - Mèo đã đưa chữ Thái vào chương trình giảng dạy, giúp các bà có cơ hội học tập trong khoảng 1 đến 2 năm, từ đó họ có thể đọc và viết được một ít.

Phụ nữ Thái ở độ tuổi này thường gặp khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Việt, ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp xã hội của họ Họ không chỉ không thể giao tiếp bằng văn bản mà còn gặp trở ngại trong việc dạy dỗ con cháu, nắm bắt kiến thức khoa học kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất nông nghiệp Điều này dẫn đến sự phụ thuộc nhiều vào nam giới và vị thế của họ trong xã hội bị coi nhẹ.

Tổng số 230 người là nữ giới được khảo sát thì có 91 người ở độ tuổi từ 31 -

Trong nhóm tuổi dưới 50, 50% (chiếm 39,6%) là nữ giới và tất cả đều sử dụng thành thạo cả tiếng Thái và tiếng Việt trong giao tiếp Điểm chung với nhóm tuổi trên 50 là tần suất sử dụng tiếng Thái của họ rất cao, cho thấy tiếng Thái được sử dụng phổ biến trong mọi hoàn cảnh giao tiếp.

Chị Cà Thị Cương, hội viên chi hội phụ nữ bản Nà Lo, cho biết rằng người Thái thường sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày Chị chia sẻ rằng việc nói tiếng Việt chỉ xảy ra khi họ trò chuyện với những người không biết tiếng Thái Điều này cho thấy sự quan trọng của việc duy trì ngôn ngữ mẹ đẻ trong cộng đồng, đồng thời cũng phản ánh cách thức giao tiếp giữa các dân tộc khác nhau.

Phụ nữ ở độ tuổi này thường đã có con cái trưởng thành, dẫn đến việc tiếng Việt chỉ được sử dụng trong giao tiếp với cháu nhỏ và khi dạy con học Trong giao tiếp hàng ngày với những người cùng dân tộc, họ chủ yếu sử dụng tiếng Thái để chia sẻ những câu chuyện về cuộc sống Tiếng Việt được dùng khi giao tiếp với những người khác dân tộc không biết tiếng Thái, cũng như một số ít bạn trẻ người Thái không nói được tiếng Thái.

Mặc dù nữ giới ở độ tuổi này thành thạo tiếng Thái, chỉ có 6,6% trong số 91 người được khảo sát biết đọc và viết chữ Thái cổ truyền được dạy từ bố mẹ Những người này có kiến thức hạn chế về chữ Thái, điển hình như bà Quàng Thị Hoài (bản Ca Láp), bà Lò Thị Nga (bản Nà Ngùa), bà Cà Thị Linh (bản Muông), bà Cà Thị Điệp (bản Phường), bà Lò Thị Vân (bản Ỏ) và bà Lò Thị Thoa (bản Khoang).

Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về trình độ văn hóa

Để nghiên cứu tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt ở nữ giới, chúng tôi phân chia thành 5 nhóm trình độ dựa trên các lớp trong chương trình phổ thông hiện nay.

- Nhóm đã và đang có trình độ từ lớp 1 đến lớp 5

- Nhóm đã và đang có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9

- Nhóm đã và đang có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12

- Nhóm có trình độ trên 12

Bảng 2.3 Trình độ văn hóa của nữ giới là người Thái ở xã Chiềng Ngần

Trình độ Số lƣợng Tỉ lệ % Ghi chú

Mù chữ 18 7,8 % Độ tuổi từ 31-50 và trên 50 tuổi

Trong tổng số 230 người là nữ giới được khảo sát có 212 người (chiếm 92,2

Trong một khảo sát, có 92,2% người tham gia có trình độ học vấn từ lớp 1 trở lên, trong khi đó 7,8% còn lại là 18 người mù chữ Dựa trên những số liệu này, chúng tôi sẽ phân tích tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của từng nhóm người.

Tình trạng mù chữ xảy ra chủ yếu với những người trong nhóm tuổi trên 50

Trong một cuộc khảo sát, có 18 người từ nhóm tuổi 31 đến 50, trong đó 7 người thuộc độ tuổi 31-50, không biết chữ, bao gồm cả chữ Quốc ngữ và chữ Thái, do nhiều lý do khách quan và chủ quan khác nhau.

Khảo sát 18 người mù chữ, tất cả đều sử dụng thành thạo tiếng Thái Trong số này, 7 người trên 70 tuổi hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng Thái do không biết sử dụng tiếng Việt.

Trong nhóm còn lại gồm 11 người, khả năng giao tiếp bằng cả tiếng Việt và tiếng Thái rất cao, với 95% thời gian sử dụng tiếng Thái hàng ngày Mặc dù tuổi tác đã cao và không có điều kiện mở rộng giao tiếp, tiếng Thái vẫn được xem là lựa chọn tốt nhất và cần được duy trì Điều này cho thấy, dù khả năng tiếng Việt có hạn chế, nhóm người này sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn và lưu giữ tiếng Thái hiện nay.

2.2.2 Nhóm người có trình độ từ lớp 1 đến lớp 5

Trong số 230 nữ giới được khảo sát, có 92 người (chiếm 40%) có trình độ học vấn từ lớp 1 đến lớp 5 Mặc dù ở các độ tuổi khác nhau, nhưng họ đều có trình độ Tiểu học, do đó được xếp vào cùng một nhóm Điều này dẫn đến sự khác biệt trong cách sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt trong giao tiếp hàng ngày của họ.

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát 30 học sinh người dân tộc Thái tại xã Chiềng Ngần, những em đang theo học tại các trường như Trường Tiểu học và THCS Chiềng Ngần A, Trường Tiểu học và THCS Chiềng Ngần B, Trường Tiểu học Quyết Thắng và Trường Tiểu học Chiềng Sinh Xã Chiềng Ngần có bản Dửn và Tiểu khu 1 giáp ranh với thành phố Sơn La.

Kết quả khảo sát cho thấy trong số 30 học sinh người Thái, chỉ có 6 học sinh ở bản Dửn và tiểu khu 1 nghe được một số từ tiếng Thái nhưng không nói được, trong khi 24 học sinh ở các bản khác như Phường, Ka Láp, Nà Lo nói cả tiếng Thái và tiếng Việt rất tốt Tần suất sử dụng hai ngôn ngữ này tương đương nhau; các em nói tiếng Việt với thầy cô trong giờ học và sử dụng tiếng Thái khi chơi với nhau Những người có trình độ tương đương tiểu học sử dụng tiếng Thái tốt hơn và duy trì tiếng mẹ đẻ khi giao tiếp trong gia đình, trong khi tiếng Việt chủ yếu được sử dụng trong các tình huống bên ngoài như ở nơi công cộng hoặc cơ quan nhà nước Phụ nữ trong nhóm này thường ở nhà làm nương và nuôi dạy con cái, do đó, tiếng mẹ đẻ vẫn là ngôn ngữ chính trong giao tiếp (chiếm 85%), chỉ sử dụng tiếng Việt khi dạy dỗ con cháu.

2.2.3 Nhóm người có trình độ từ lớp 6 đến lớp 9

Chúng tôi đã khảo sát 92 người trong nhóm tuổi từ lớp 6 đến lớp 9, trong đó 40% có trình độ học vấn không cao Từ 65 học sinh đang trong độ tuổi đi học, 63 em sử dụng tiếng mẹ đẻ tốt, mặc dù có 2 em chỉ nghe bập bõm và không nói được tiếng Việt Các em giao tiếp chủ yếu bằng tiếng Thái trong gia đình và cộng đồng, nhưng cũng sử dụng tiếng Việt ở mức độ thấp Nhìn chung, khả năng nói tiếng Thái của các em khá tốt, tuy nhiên 100% không biết chữ Thái, cho thấy ý thức dân tộc của các em đã hình thành rõ ràng.

Trong số 27 người, tất cả đều có trình độ tương đương bậc THCS So với những người có trình độ thấp hơn, cách sử dụng tiếng mẹ đẻ của họ không có điểm gì nổi bật.

Người dân vẫn duy trì việc sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp gia đình và thôn bản với những người cùng dân tộc hoặc những người khác biết tiếng Thái Họ chỉ sử dụng tiếng Việt khi giao tiếp với những người không biết tiếng Thái, như trong các tình huống mua bán ngoài chợ, khi đến bệnh viện, hoặc khi nói chuyện với thầy cô giáo Phụ nữ ở trình độ này thường ít tham gia vào công việc ngoài xã hội, chủ yếu chăm lo gia đình, do đó việc sử dụng tiếng mẹ đẻ là cần thiết Khả năng nghe hiểu và giao tiếp bằng tiếng Thái của họ rất tốt, trong khi tiếng Việt chỉ đạt mức trung bình Tần suất sử dụng tiếng Thái chiếm 70%, trong khi tiếng Việt chỉ 30% trong giao tiếp hàng ngày.

2.2.4 Nhóm người có trình độ từ lớp 10 đến lớp 12

Chúng tôi đã khảo sát 20 nữ giới từ lớp 10 đến lớp 12 ở xã Chiềng Ngần, chiếm 8,7% trong tổng số 230 người được điều tra Trong số đó, 12 người đang học tại trường THPT Chiềng Sinh, thành phố Sơn La, với khả năng song ngữ Thái - Việt rất tốt Hai học sinh không nói được tiếng Thái, trong khi 10 học sinh còn lại duy trì việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp gia đình và với đồng tộc Tuy nhiên, trong môi trường học tập và giao tiếp xã hội, các em chủ yếu sử dụng tiếng Việt, với tần suất lên đến 90%, còn tiếng Thái chỉ chiếm 10% Đặc biệt, trong các tình huống giao tiếp hành chính, các em hoàn toàn sử dụng tiếng Việt.

Ngoài 12 học sinh đã được đề cập ở trên còn lại 08 người được chúng tôi khảo sát có trình độ tương đương với bậc THPT, đa số những người này là những người trẻ ở độ tuổi 15 – 30 Vì thế mà những người này có môi trường giao tiếp rộng, và có những đối tượng giao tiếp khác nhau Cũng giống như những người ở các nhóm trình độ khác, họ cũng sử dụng tiếng Thái khi giao tiếp trong gia đình, thôn bản, với những người đồng tộc Khả năng sử dụng tiếng Thái rất thành thạo Môi trường giao tiếp bên ngoài đòi hỏi họ phải sử dụng tiếng Việt thường xuyên, vì vậy mà tần suất sử dụng tiếng Thái giảm hẳn so với những người khác Phần lớn thời gian của họ là làm việc bên ngoài, tiếp xúc với nhiều người và có những tình huống giao tiếp khác nhau nên đòi hỏi họ phải sử dụng tiếng Việt Việc sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp gia đình sẽ ít hơn so với những người không tham gia vào các công việc ngoài xã hội Bởi vậy tần suất sử dụng tiếng Việt chiếm tỉ lệ cao (90%), còn tiếng Thái chiếm tỉ lệ thấp hơn hẳn các nhóm trình độ khác (chiếm 10%) trong giao tiếp Việc giao tiếp hành chính của họ cũng sử dụng 100% là tiếng Việt

2.2.5 Nhóm người có trình độ trên lớp 12

Trong một cuộc khảo sát tại xã Chiềng Ngần, có 08 người (3,5%) trong tổng số 230 nữ giới được điều tra có trình độ CĐ-ĐH, trong đó 05 người có bằng sư phạm và 03 người đang theo học tại các trường TC, CĐ, ĐH Đáng chú ý, 07/08 người khảo sát đều thành thạo trong việc nghe hiểu và sử dụng tiếng Thái, ngoại trừ Lò Thị Tuyền (tiểu khu 1) chỉ nghe và hiểu một số từ tiếng Thái mà không nói được Mặc dù có trình độ văn hóa cao và thường xuyên tiếp xúc với tiếng Việt trong công việc, 05 người có bằng sư phạm vẫn duy trì việc sử dụng tiếng Thái trong giao tiếp với gia đình và cộng đồng, tuy nhiên tần suất sử dụng ít hơn so với những người khác.

Trong số 03 người đang theo học tại các trường TC, CĐ, ĐH, chỉ có 02 người nói được tiếng Thái, nhưng do học tập xa nhà, họ chỉ sử dụng tiếng mẹ đẻ trong gia đình và cộng đồng đồng tộc Hai người này có khả năng sử dụng tiếng Thái tốt, tuy nhiên, môi trường học tập mở rộng khiến tần suất sử dụng tiếng mẹ đẻ giảm đi Họ chủ yếu giao tiếp bằng tiếng Việt, chiếm 95% thời gian, trong khi tiếng Thái chỉ được sử dụng hiếm hoi, chiếm 5%.

Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về nghề nghiệp

Bảng 2.4 Khả năng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới theo nghề nghiệp ở xã Chiềng Ngần

Khả năng sử dụng tiếng Thái Khả năng sử dụng tiếng Việt

Nghe hiểu và nói được

Không Nghe hiểu và nói được Đọc Viết được

Nghe hiểu và nói được

Không Nghe hiểu và nói được Đọc Viết được

0 (0%) Dựa trên bảng số liệu về nghề nghiệp chúng tôi phân tích sự khác biệt cụ thể như sau

Trong một cuộc khảo sát với 150 người, có 18 người không thể giao tiếp bằng tiếng Việt qua văn bản, trong khi 132 người chỉ có khả năng đọc - hiểu văn bản tiếng Việt.

Nông nghiệp là nghề chính của người Thái, chủ yếu bao gồm trồng lúa, ngô, hoa màu, và chăn nuôi gia súc, gia cầm Một số hộ còn tham gia vào kinh doanh nhỏ lẻ Phụ nữ trong cộng đồng này chủ yếu ở nhà để nuôi dạy con cái và đảm đương công việc gia đình, do đó họ không tham gia nhiều vào các hoạt động xã hội, dẫn đến môi trường giao tiếp hạn chế.

Chị Quàng Thị Hoa, đến từ Bản Nà Lo, chia sẻ rằng chị có hai con đang theo học tiểu học Khi đến trường đón con, chị thường giao tiếp với cô giáo bằng tiếng Việt, trong khi vẫn sử dụng tiếng Thái dân tộc trong gia đình.

Những người làm nông nghiệp, đặc biệt là phụ nữ, sử dụng tiếng mẹ đẻ hàng ngày, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc Thái Việc sử dụng tiếng mẹ đẻ liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác giúp duy trì văn hóa và bản sắc dân tộc Tuy nhiên, phụ nữ nông nghiệp gặp khó khăn trong giao tiếp bằng tiếng Việt, đặc biệt là ở văn bản, dẫn đến việc họ thường phụ thuộc vào chồng và có vị thế yếu hơn trong gia đình.

2.3.2 Giáo viên, cán bộ, công chức

Những giáo viên này có khả năng sử dụng tiếng Thái thành thạo nhưng chủ yếu giao tiếp bằng tiếng Việt trong môi trường làm việc và cuộc sống hàng ngày Họ dành phần lớn thời gian ở trường và khi về nhà, việc dạy con cái cũng diễn ra bằng tiếng Việt Mặc dù tiếng Thái vẫn được sử dụng trong giao tiếp gia đình, nhưng việc nuôi dạy con cái chủ yếu bằng tiếng Việt dẫn đến việc trẻ em dần không còn khả năng nói tiếng Thái tốt.

Cô giáo Lò Thị Liên tại trường tiểu học- THCS Chiềng Ngần B chia sẻ rằng, trong quá trình giảng dạy ở trường và hỗ trợ con học bài tại nhà, cô hoàn toàn sử dụng tiếng Việt Do thời gian ở trường chiếm ưu thế và việc kèm con học bài vào buổi tối, tần suất sử dụng tiếng Việt của cô cao hơn so với tiếng Thái.

Theo điều tra, 05 phụ nữ này sử dụng tiếng Việt với tần suất cao (95%) trong giao tiếp, trong khi tiếng Thái chỉ chiếm 5% Họ hoàn toàn sử dụng tiếng Việt (100%) trong các tình huống giao tiếp hành chính.

Với 04 người làm hành chính, họ đều có khả năng sử dụng tiếng Thái thành thạo Do yêu cầu công việc ngoài xã hội đòi hỏi người phụ nữ phải giao tiếp nhiều

Việc lựa chọn ngôn ngữ phù hợp để giao tiếp trong từng hoàn cảnh và với từng đối tượng là rất linh hoạt Theo khảo sát của chúng tôi, bốn phụ nữ này sử dụng tiếng Việt với tần suất cao (90%), trong khi tiếng Thái chỉ chiếm 10% Trong công việc giao tiếp hành chính, họ sử dụng song song cả hai thứ tiếng.

Các em có thể sử dụng tiếng mẹ đẻ song song với tiếng Việt, nhưng thời gian học tập tại trường và ở nhà khiến tần suất sử dụng tiếng Việt cao hơn Khả năng nghe hiểu và nói tiếng Thái của các em khá tốt, nhưng do còn nhỏ và mới bắt đầu làm quen với tiếng Việt, gia đình chú trọng cho các em học tiếng Việt nhiều hơn.

Trong số học sinh, có 85,3% có khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ, nhưng việc sử dụng chưa thực sự hiệu quả, trong khi 14,7% học sinh người Thái lại không nói được tiếng Thái Điều này ảnh hưởng lớn đến việc bảo tồn ngôn ngữ dân tộc trong thế hệ trẻ Khi lớp người già, những người gìn giữ tiếng mẹ đẻ, dần mất đi, thế hệ trẻ không còn thói quen sử dụng tiếng mẹ đẻ trong giao tiếp hàng ngày, dẫn đến nguy cơ tiếng Thái bị mai một và có thể biến mất trong tương lai.

Theo điều tra, 68 em học sinh cho thấy tần suất sử dụng tiếng Thái đã giảm đáng kể, chỉ chiếm 25%, trong khi tiếng Việt chiếm ưu thế với 75% trong giao tiếp Đặc biệt, giao tiếp bằng tiếng Việt dưới hình thức văn bản đạt 100% trong toàn bộ quá trình giao tiếp của các em.

Có 03 người là nữ giới đang theo học tại các trường TC, CĐ, ĐH Chỉ có 02 người là có khả năng sử dụng tiếng Thái thành thạo, 01 người hoàn toàn không nói được tiếng Thái Không giống với đối tượng là học sinh, những người này phải học tập và sinh sống xa nhà, vì vậy mà cuộc sống tách biệt hẳn với cộng đồng người Thái Do điều kiện học tập xa nhà như vậy nên những người này có rất ít cơ hội để sử dụng tiếng mẹ đẻ của minh Tiếng Thái chỉ được họ sử dụng khi về nhà giao tiếp với mọi người trong gia đình và vớí bạn học là người Thái Nhưng tần suất sử dụng cũng rất ít Học tập và sinh sống xa nhà như vậy môi trường giao tiếp của họ cũng được mở rộng với nhiều đối tượng giao tiếp khác nhau, nên ngôn ngữ sử dụng khi giao tiếp vẫn là tiếng

Tiếng Việt đóng vai trò quan trọng trong đời sống của người Thái, đặc biệt khi họ sống xa quê hương Việc giao tiếp bằng tiếng Việt trở nên cần thiết để duy trì kết nối với cộng đồng và thích nghi với môi trường đa dạng dân tộc mới.

Quàng Thị Hoa, sinh năm 2000 và là sinh viên Trường Văn hóa nghệ thuật Hà Nội, cho biết rằng trong lớp học của em chỉ có một mình em là người dân tộc Thái, còn lại đều là người dân tộc Kinh Do đó, em không sử dụng tiếng Thái để giao tiếp với các bạn trong lớp Tuy nhiên, khi gọi điện cho bố mẹ hoặc nói chuyện với những người cùng dân tộc, em sử dụng tiếng Thái.

Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về thái độ ngôn ngữ

2.4.1 Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng Việt

2.4.1.1 Thái độ ngôn ngữ đối với mục đích học tiếng Việt

Khi khảo sát thái độ ngôn ngữ của người dân xã Chiềng Ngần, chúng tôi nhận thấy sự cần thiết của việc học tiếng Việt Câu hỏi khảo sát được đặt ra là: “Bạn thấy việc học tiếng Việt có cần thiết không?” và kết quả cho thấy 100% người được hỏi cho rằng việc học tiếng Việt là rất cần thiết.

Việc học tiếng Việt có nhiều mục đích khác nhau, và trong khảo sát, chúng tôi đã đưa ra bốn lựa chọn cho người dân nhằm trả lời câu hỏi: “Học tiếng Việt để làm gì?” Những mục đích này giúp người học xác định rõ ràng động lực và lợi ích khi học ngôn ngữ này.

(1) Để giao tiếp trong cuộc sống

(2) Để học hành lên cao

(3) Để giao tiếp và phục vụ cuộc sống

Kết quả được thể hiện trong bảng sau (bảng 2.6)

Bảng 2.5 Thái độ đối với mục đích học tiếng Việt

(1) Để giao tiếp trong cuộc sống

(2) Để học hành lên cao

(3) Để giao tiếp và phục vụ cuộc sống…

Cả ba lý do Tổng

Kết quả ở bảng trên cho thấy đối với mục đích của việc học tiếng Việt thái độ giữa các đối tượng khảo sát có sự khác biệt

Nghiên cứu cho thấy, đa số người trẻ tuổi như học sinh, sinh viên, giáo viên và nhân viên hành chính chọn học tiếng Việt để nâng cao trình độ học vấn và giao tiếp trong cuộc sống Trong khi đó, nhiều người dân ở nhóm tuổi cao, nông dân và có trình độ học vấn thấp chỉ xem việc học tiếng Việt là cần thiết cho giao tiếp hàng ngày.

Trình độ cao và cơ hội giao lưu giúp người dân nâng cao nhận thức về vai trò của tiếng Việt trong cuộc sống Hầu hết mọi người đều hiểu rằng thông thạo tiếng Việt không chỉ cải thiện khả năng giao tiếp của người dân tộc thiểu số mà còn mở ra cơ hội học tập và nâng cao chất lượng cuộc sống.

2.4.2.2 Thái độ đối với lý do sử dụng tiếng Việt

Chúng tôi tiến hành khảo sát để hiểu rõ thái độ của người dân đối với tiếng Việt, đặc biệt là lý do họ chọn sử dụng ngôn ngữ này.

Với câu hỏi “Bạn nói tiếng Việt vì ” (câu 3 - Phiếu khảo sát) với 4 câu trả lời chúng tôi đưa ra cho người dân lựa chọn là:

(1) Vì người cùng giao tiếp không biết tiếng mẹ đẻ của bạn

(2) Để giao tiếp với người khác dân tộc

Bảng 2.6 Thái độ đối với lý do nói tiếng Việt

Vì người cùng giao tiếp không biết tiếng mẹ đẻ của bạn

(2) Để giao tiếp với người khác dân tộc

Kết quả ở bảng 2.6 cho phép rút ra một số nhận xét sau:

Người dân trên 50 tuổi thường thích sử dụng tiếng mẹ đẻ, trong khi nhóm tuổi từ 6 đến 50 ưu tiên nói tiếng Việt khi giao tiếp với các dân tộc khác Tỉ lệ này cho thấy sự quan trọng của ngôn ngữ trong việc kết nối văn hóa và giao tiếp giữa các nhóm dân tộc.

Nghiên cứu cho thấy học sinh, sinh viên và những người làm nghề hành chính, giáo viên có xu hướng giao tiếp bằng tiếng Việt với người thuộc dân tộc khác, trong khi nông dân lại ưu tiên giao tiếp với những người không biết tiếng mẹ đẻ của họ.

2.4.2 Thái độ ngôn ngữ đối với tiếng mẹ đẻ

2.4.2.1 Thái độ đối với việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ a Câu hỏi đầu tiên đặt ra là “Bạn có thích học chữ viết tiếng mẹ đẻ mình không?” (câu 4 - Phiếu khảo sát) với 3 câu trả lời gợi ý là:

Kết quả (được phân chia theo các phạm vi xã hội) cho thấy như sau (Bảng 2.8a):

Bảng 2.7a Thái độ đối với việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ 1

Bảng 2.7a chỉ ra rằng đa số người dân có thái độ tích cực đối với việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ, đặc biệt là trong cộng đồng người Thái Mặc dù có một số ít người ở trình độ Tiểu học và THCS không bày tỏ ý kiến hoặc không thích học chữ viết, nhưng điều này chủ yếu do nhận thức còn hạn chế Nhìn chung, người Thái thể hiện sự nhận thức cao về tầm quan trọng của việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ, điều này phản ánh thực tế rằng họ đã có chữ viết riêng từ lâu.

Nhiều người không thích học chữ Thái cho rằng việc học một loại chữ Quốc ngữ đã rất mệt mỏi Tuy nhiên, những người có trình độ học vấn cao lại có tỷ lệ cao hơn trong việc thích học chữ viết tiếng mẹ đẻ Điều này cho thấy trình độ học vấn có ảnh hưởng rõ rệt đến ý thức của người dân về việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ Chúng tôi cũng đã đặt ra câu hỏi khảo sát về thái độ của người dân đối với tiếng mẹ đẻ: “Người dân tộc có cần học chữ viết tiếng mẹ đẻ không?” với bốn gợi ý trả lời.

(2) Học cũng được, không học cũng được

Kết quả khảo sát được thể hiện trong bảng 2.8b:

Bảng 2.7b Thái độ đối với việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ 2

(2) Học cũng được, không học cũng được

Theo bảng 2.7b, tỉ lệ người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ là rất cao, cho thấy ý thức mạnh mẽ trong việc bảo tồn và phát huy giá trị của chữ viết tiếng mẹ đẻ trong cộng đồng.

Về độ tuổi và nghề nghiệp, tỉ lệ người trẻ, những người trong nhóm học sinh

Sinh viên, giáo viên, cán bộ, công chức và người lớn tuổi đều nhận thức được tầm quan trọng của việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ Mặc dù có một số ít người không có ý kiến hoặc không quan tâm, nhưng đa số những người đã được học đều thể hiện sự yêu thích với ngôn ngữ của mình Điều này cho thấy một tín hiệu tích cực cho việc tiếp tục phát triển và tăng cường công tác dạy chữ viết tiếng mẹ đẻ, đặc biệt là cho cộng đồng dân tộc thiểu số.

Trong một cuộc phỏng vấn sâu với nhóm người cho rằng việc học chữ viết tiếng mẹ đẻ không cần thiết, nhiều người cho rằng việc biết hay không biết chữ viết này không ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của họ Họ chỉ cần biết chữ quốc ngữ vì mọi văn bản pháp lý cần thiết đều được viết bằng chữ quốc ngữ Quan điểm này cho thấy nhiều người vẫn chưa nhận thức rõ vai trò của chữ viết trong việc bảo tồn văn hóa, mà chủ yếu chỉ tập trung vào việc sử dụng chữ viết tiếng mẹ đẻ.

2.4.2.2 Thái độ đối với lý do sử dụng tiếng mẹ đẻ Để tìm hiểu lý do sử dụng tiếng mẹ chúng tôi đưa ra câu hỏi:“Bạn nói tiếng mẹ đẻ vì ” (Câu 6 - Phiếu khảo sát), đưa ra 4 phương án gợi ý để người dân trả lời là:

(1) Một cách tự nhiên, vì không biết ngôn ngữ nào khác

(2) Để giao tiếp với người cùng dân tộc

Kết quả khảo sát như sau:

Bảng 2.8 Thái độ đối với lý do sử dụng tiếng mẹ đẻ Thái độ Đối tƣợng

(1) Một cách tự nhiên, vì không biết ngôn ngữ nào khác

(2) Để giao tiếp với người cùng dân tộc

Kết quả nghiên cứu cho thấy ngôn ngữ dân tộc đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp giữa những người cùng dân tộc, với tỷ lệ lựa chọn phương án này cao Chúng tôi nhận thấy không có sự chênh lệch đáng kể giữa các nhóm đối tượng về giới tính, tuổi tác, trình độ và nghề nghiệp Đặc biệt, những người ưa chuộng sử dụng tiếng mẹ đẻ chủ yếu thuộc nhóm tuổi trên 50 và từ 6-30.

Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái là nữ giới xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về môi trường

xã Chiềng Ngần, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La dựa trên sự khác biệt về môi trường giao tiếp

Tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của người Thái nữ được phân tích trong mục 2.4, cho thấy rằng việc giao tiếp bằng ngôn ngữ trong các tình huống khác nhau là yếu tố quan trọng để xác định đặc điểm trạng thái song ngữ của họ.

2.5.1 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình Đối với phạm vi giao tiếp gia đình, chúng tôi đưa ra 10 tình huống giao tiếp cụ thể:

* Những tình huống đại diện tùy thuộc vào đối tượng giao tiếp:

(1) Ngôn ngữ thường dùng khi nói với ông, bà

(2) Ngôn ngữ thường dừng khi nói với cha, mẹ

(3) Ngôn ngữ thường dùng khi nói với vợ/ chồng

(4) Ngôn ngữ thường dừng khi nói với anh, chị, em ruột

(5) Ngôn ngữ thường dùng khi nói với con, cháu

* Những tình huống chung khi nói chuyện với người thân trong những ngữ cảnh cụ thể:

* Ngôn ngữ nói với người thân khi ăn cơm:

(1) Ngôn ngữ nói với người thân khi thực hiện các nghi lễ

(2) Ngôn ngữ nói với người thân khi trao đổi các vấn đề mang tính chính trị, hành chính

(3) Ngôn ngữ nói với người thân khi tranh luận, cãi nhau

(4) Ngôn ngữ sử dụng khi tức giận với con cái

2.5.1.1 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình theo từng đối tượng giao tiếp

Kết quả khảo sát về tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình theo từng đối tượng giao tiếp được trình bày cụ thể trong bảng 2.14:

Bảng 2.14 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình của người dân theo đối tượng giao tiếp

TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ

4 Nói với anh, chị em ruột

Kết quả từ bảng 2.14 cho thấy rằng trong giao tiếp gia đình, phụ nữ Thái ở Chiềng Ngần ưu tiên sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ khi giao tiếp với người lớn tuổi hơn như ông bà, cha mẹ, cũng như với những người ngang hàng như vợ chồng, anh chị em.

2.5.1.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ khi giao tiếp với người thân trong gia đình theo ngữ cảnh giao tiếp

Kết quả khảo sát về việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp với người thân trong gia đình được thể hiện rõ ràng trong bảng 2.15.

Bảng 2.15 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp gia đình của người dân

TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %

2 Khi thực hiện các nghi lễ

3 Khi trao đổi chính trị, các vấn đề thời sự, học hành

4 Khi tranh luận, cãi nhau

5 Khi tức giận với con cái

Trong các tình huống giao tiếp với người thân, tỷ lệ người dân sử dụng tiếng mẹ đẻ thường vượt quá 60% Đặc biệt, trong các nghi lễ, người dân hoàn toàn sử dụng ngôn ngữ của dân tộc mình.

Trong giao tiếp gia đình, người dân thường sử dụng cả tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ, đặc biệt khi thảo luận về các vấn đề chính luận hoặc việc học tập của con cái.

Có 30% cho biết họ dùng cả hai ngôn ngữ trong tình huống này

Trong các tình huống giao tiếp hàng ngày như tranh luận hay cãi nhau với con cái, người dân thường ưu tiên sử dụng ngôn ngữ dân tộc của mình Trong các nghi lễ gia đình, mọi người đều dùng tiếng mẹ đẻ Qua phỏng vấn sâu, người dân cho rằng việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc mang lại sự thuận tiện và hiệu quả hơn so với tiếng Việt Đặc biệt, khi tức giận, họ thường phản ứng bằng tiếng mẹ đẻ như một phản xạ tự nhiên.

2.5.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp cộng đồng

Luận văn phân chia thành 20 tình huống giao tiếp khác nhau và kết quả sẽ được trình bày và phân tích cụ thể như sau:

2.5.2.1 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ khi thực hiện các hoạt động ở cộng đồng Để khảo sát tình hình sử dụng ngôn ngữ của người dân khi thực hiện các hoạt động tại cộng đồng thì chúng tôi đề xuất 4 tình huống tiêu biểu (trên cơ sở tham khảo những công trình đi trước):

(1) Khi hát hò, kể chuyện

(3) Trong nghi lễ, cưới hỏi, tang ma

Kết quả được trình bày trong bảng 2.16:

Bảng 2.16 Tình hình sử dụng ngôn ngữ khi thực hiện các hoạt động ở cộng đồng

TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %

1 Khi hát hò, kể chuyện

3 Trong nghi lễ, cưới hỏi, tang ma

Dữ liệu từ bảng 2.16 cho thấy rằng trong các hoạt động cộng đồng, người dân tộc thiểu số ưu tiên sử dụng tiếng mẹ đẻ Như đã đề cập ở phần 2.5.1, trong các hoạt động cúng bái, người dân hoàn toàn sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình Kết quả này một lần nữa khẳng định rằng tiếng mẹ đẻ được người dân lựa chọn với tỷ lệ 100%.

Bà Cà Thị Xum, Chủ tịch hội chữ thập đỏ, cho biết rằng hàng ngày, khi làm việc và dạy con học, bà sử dụng tiếng Việt Tuy nhiên, trong các hoạt động cộng đồng như đi đình, đi đám hay thăm hỏi, bà hoàn toàn giao tiếp bằng tiếng Thái Đối với các hoạt động văn hóa nghệ thuật như hát hò và kể chuyện, tiếng Việt chỉ chiếm 10%, trong khi hai ngôn ngữ được sử dụng đồng thời chiếm 24%.

Trong ghi chép, chỉ có hai người sử dụng chữ Thái phiên âm, trong khi phần lớn ghi chép bằng chữ quốc ngữ Điều này chứng tỏ rằng tiếng Việt chiếm ưu thế vượt trội trong lĩnh vực viết so với các ngôn ngữ dân tộc khác, đặc biệt là chữ Thái.

Vai trò của ngôn ngữ dân tộc trong các hoạt động cộng đồng là rất quan trọng Người Thái xã Chiềng Ngần đang sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình trong bối cảnh hòa nhập với tiếng Việt.

2.5.2.2 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ khi đến nhà người khác và khi có khách đến nhà

Với tình huống khi đến nhà người khác và khi có khách đến nhà thì chúng tôi phân chia thành 6 tình huống nhỏ tùy vào đối tượng giao tiếp:

(1) Đến nhà người cùng dân tộc

(2) Đến nhà người dân tộc khác

(3) Đến nhà người dân tộc Kinh

(4) Nói với khách đến nhà là người cùng dân tộc

(5) Nói với khách đến nhà là người khác dân tộc

(6) Nói với khách đến nhà là người dân tộc Kinh

Và kết quả được trình bày trong bảng 2.17:

Bảng 2.17: Tình hình sử dụng ngôn ngữ khi đến nhà người khác và khi có khách đến nhà

TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %

1 Đến nhà người cùng dân tộc

2 Đến nhà người khác dân tộc

3 Đến nhà người dân tộc Kinh

4 Nói với khách đến nhà là người cùng dân tộc

5 Nói với khách đến nhà là người khác dân tộc

6 Nói với khách đến nhà là người dân tộc Kinh

Kết quả từ bảng 2.17 cho thấy rằng khi có khách đến nhà cùng dân tộc, người dân ưu tiên sử dụng tiếng mẹ đẻ của mình rất cao Tuy nhiên, khi tiếp đón khách từ dân tộc khác, người Thái lại chọn sử dụng tiếng Việt Những con số này phù hợp với các khảo sát trước đó về khả năng ngôn ngữ.

2.5.2.3 Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong các hoàn cảnh giao tiếp nơi công cộng, hành chính, nơi làm việc, học tập

Trong môi trường giao tiếp công cộng như chợ, bưu điện và trạm y tế, cũng như trong giao tiếp hành chính và tại nơi làm việc, học tập, có thể phân chia thành 10 tình huống nhỏ dựa trên đối tượng giao tiếp.

(1) Giao tiếp với người gặp lần đầu mà không biết dân tộc của họ

(2) Giao tiếp nơi công cộng với người cùng dân tộc

(3) Giao tiếp nơi công cộng với người khác dân tộc

(4) Giao tiếp nơi công cộng với người dân tộc Kinh

(5) Giao tiếp hành chính với người cùng dân tộc

(6) Giao tiếp hành chính với người khác dân tộc

(7) Giao tiếp hành chính với người dân tộc Kinh

(8) Giao tiếp nơi làm việc với người cùng dân tộc

(9) Giao tiếp nơi làm việc với người khác dân tộc

(10) Giao tiếp nơi làm việc với người dân tộc Kinh

Kết quả được trình bày trong bảng 2.18, 2.19 và 2.20:

Bảng 2.18: Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nơi cộng đồng

TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %

1 Người gặp lần đầu mà không biết dân tộc của họ

2 Giao tiếp nơi công cộng với người cùng dân tộc

3 Giao tiếp nơi công cộng với người khác dân tộc

4 Giao tiếp nơi công cộng với người dân tộc Kinh

Bảng 2.19 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp hành chính

TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %

1 Giao tiếp hành chính với người cùng dân tộc

2 Giao tiếp hành chính với người khác dân tộc

3 Giao tiếp hành chính với người dân tộc Kinh

Bảng 2.20 Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp nơi làm việc, học tập

TT Hoàn cảnh Ngôn ngữ Tổng Tỉ lệ %

1 Giao tiếp nơi làm việc với người cùng dân tộc

2 Giao tiếp nơi làm việc với người khác dân tộc

3 Giao tiếp nơi làm với việc người dân tộc Kinh

Kết quả trình bày ở 3 bảng trên cho phép rút ra nhận xét sau:

Người dân tộc thiểu số thường ưu tiên sử dụng tiếng mẹ đẻ khi giao tiếp với những người cùng dân tộc ở nơi công cộng Tuy nhiên, trong các tình huống giao tiếp hành chính và nơi làm việc, họ có xu hướng sử dụng tiếng Việt, đặc biệt khi tương tác với người Kinh hoặc các dân tộc khác Điều này cho thấy rằng việc lựa chọn ngôn ngữ của họ bị ảnh hưởng bởi môi trường giao tiếp và đối tượng tham gia Trong khi những người cùng dân tộc thường sử dụng tiếng mẹ đẻ, một bộ phận lớp trẻ không thể nói tiếng Thái nên không thể giao tiếp bằng tiếng mẹ đẻ của họ Do đó, thành phần dân tộc của người tham gia giao tiếp đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định ngôn ngữ được sử dụng.

Trong chương 2, chúng tôi xem xét các yếu tố như lứa tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, môi trường giao tiếp và thái độ ngôn ngữ để phân tích tình hình sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng Việt của phụ nữ người Thái Qua đó, chúng tôi rút ra một số nhận xét khái quát về sự đa dạng trong cách sử dụng ngôn ngữ của nhóm đối tượng này.

TÌNH HÌNH SỬ DỤNG TIẾNG MẸ ĐẺ VÀ TIẾNG VIỆT CỦA NGƯỜI THÁI LÀ NAM GIỚI Ở XÃ CHIỀNG NGẦN, THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA

Ngày đăng: 20/06/2021, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Tòng Kim Ân (1993), “Chữ dân tộc cần được phố biến và sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội của các dân tộc ở Việt Nam”, trong N h ữ n g v ấ n đề c h ín h sá c h n g ô n n gữ V i ệ t Nam , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 62-77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ dân tộc cần được phố biến và sử dụng rộng rãi trong đời sống xã hội của các dân tộc ở Việt Nam”, trong "N h ữ n g v ấ n đề c h ín h sá c h n g ô n n gữ V i ệ t Nam
Tác giả: Tòng Kim Ân
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
2. Nguyễn Trọng Báu (2005), “Chữ viết các dân tộc thiếu số ở Việt Nam”, T ạ p c h í D â n tộ c v à t hờ i đ ại , số 76, tr. 2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chữ viết các dân tộc thiếu số ở Việt Nam”, "T ạ p c h í D â n tộ c v à t hờ i đ ại
Tác giả: Nguyễn Trọng Báu
Năm: 2005
3.Phan Hữu Dật (1998), M ộ t s ố v ấ n đ ề v ề d â n t ộ c h ọ c V iệ t N a m , Nxb Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: M ộ t s ố v ấ n đ ề v ề d â n t ộ c h ọ c V iệ t N a m
Tác giả: Phan Hữu Dật
Nhà XB: Nxb Đại học quốc gia Hà Nội
Năm: 1998
4.Khổng Diễn (1995), D â n số v à d ân số t ộc ng ư ờ i ở V iệ t Na m , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: D â n số v à d ân số t ộc ng ư ờ i ở V iệ t Na m
Tác giả: Khổng Diễn
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1995
5.Trần Trí Dõi (2016), N h ữ ng v ấ n đề c hí n h s ác h n gô n n gữ v ù n g dâ n t ộ c t hi ể u s ố Vi ệ t N a m , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: N h ữ ng v ấ n đề c hí n h s ác h n gô n n gữ v ù n g dâ n t ộ c t hi ể u s ố Vi ệ t N a m
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
6.Trần Trí Dõi (2016), N g ô n n g ữ c á c d â n t ộ c t h i ể u s ố ở V i ệ t N a m , Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: N g ô n n g ữ c á c d â n t ộ c t h i ể u s ố ở V i ệ t N a m
Tác giả: Trần Trí Dõi
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2016
7.Nguyễn Văn Khang (2012), N g ô n n gữ họ c x ã h ộ i - N h ữ ng v ấn đề c ơ b ả n , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: N g ô n n gữ họ c x ã h ộ i - N h ữ ng v ấn đề c ơ b ả n
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2012
8.Nguyễn Văn Khang (2001), “Khảo sát tình hình sử dụng ngôn ngữ tại một số trường phổ thông ở vùng dân tộc thiểu số tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”, trong B á o c á o k ế t qu ả đ i ề u t ra th u ộc Chư ơ ng tr ì nh đ i ề u tr a c á c n g ôn n g ữ ở V iệ t N a m Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình sử dụng ngôn ngữ tại một số trường phổ thông ở vùng dân tộc thiểu số tại huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình”, trong
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2001
9.Nguyễn Văn Khang (2003), “Vị thế của tiếng Việt đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Từ chủ trương, chính sách đến thực tế”, T ạ p c h í N gôn n g ữ , số 11, tr. 21-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vị thế của tiếng Việt đối với ngôn ngữ các dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Từ chủ trương, chính sách đến thực tế”, "T ạ p c h í N gôn n g ữ
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Năm: 2003
10.Nguyễn Văn Khang (2012), Ngôn ngữ học xã hội, Nxb Giáo dục- Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: Nxb Giáo dục- Việt Nam
Năm: 2012
11.Hoàng Văn Ma (1975), “Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số của Việt Nam hiện nay”, T ạ p c h í N gô n n g ữ , số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số của Việt Nam hiện nay”, "T ạ p c h í N gô n n g ữ
Tác giả: Hoàng Văn Ma
Năm: 1975
12. Hoàng Phê (Chủ biên) (2002), T ừ đ iể n t i ế n g V i ệ t , Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học Sách, tạp chí
Tiêu đề: T ừ đ iể n t i ế n g V i ệ t
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Đà Nẵng – Trung tâm Từ điển học
Năm: 2002
13. Đoàn Thiện Thuật (1993), “vấn đề chữ viết cho các dân tộc ít người ở Việt Nam”, trong N h ữ n g v ấ n đề c hí n h s ác h n gô n ng ữ ở Vi ệ t Na m , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr. 251 -263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: vấn đề chữ viết cho các dân tộc ít người ở Việt Nam”, trong "N h ữ n g v ấ n đề c hí n h s ác h n gô n ng ữ ở Vi ệ t Na m
Tác giả: Đoàn Thiện Thuật
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
15.Viện ngôn ngữ học (1993), N h ữ n g v ấ n đ ề c h ín h s ác h n gôn n g ữ ở V iệ t N a m , Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: N h ữ n g v ấ n đ ề c h ín h s ác h n gôn n g ữ ở V iệ t N a m
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1993
16.Nguyễn Như Ý (1993), Những vấn đề đời sống các dân tộc thiểu số, trong Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam, N x b K h o a h ọ c X ã h ộ i , H à N ộ i , tr . 2 5 - 5 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề đời sống các dân tộc thiểu số, trong Những vấn đề chính sách ngôn ngữ ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Năm: 1993
17.Nguyễn Như Ý (2002), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
14.Văn kiện đại hội Đảng bộ xã Chiềng Ngần,thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La năm 2016 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm