1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT

31 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 1,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài (5)
  • 2. Tình hình nghiên cứu đề tài (5)
  • 3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu (7)
  • 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (7)
  • 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu (8)
  • 6. Những đóng góp mới của đề tài (8)
  • 7. Kết cấu của đề tài (9)
  • Chương 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN (9)
    • 1.1. Khái quát về kinh doanh bất động sản (10)
      • 1.1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại bất động sản (10)
        • 1.1.1.1. Khái niệm bất động sản (10)
        • 1.1.1.2. Đặc điểm của bất động sản (10)
        • 1.1.1.3. Phân loại bất động sản (11)
      • 1.1.2. Khái niệm, đặc điểm và phân loại kinh doanh bất động sản (11)
        • 1.1.2.1. Khái niệm kinh doanh bất động sản (11)
        • 1.1.2.2. Đặc điểm của kinh doanh bất động sản (11)
        • 1.1.2.3. Phân loại kinh doanh bất động sản (12)
      • 1.1.3 Ý nghĩa của kinh doanh bất động sản (12)
    • 1.2. Khái quát pháp luật về kinh doanh bất động sản (12)
      • 1.2.1. Khái niệm, đặc điểm pháp luật về kinh doanh bất động sản (12)
      • 1.2.2. Khung pháp luật điều chỉnh về kinh doanh bất động sản (13)
      • 1.2.3. Các nguyên tắc pháp luật về kinh doanh bất động sản (13)
      • 1.2.4. Nội dung cơ bản của pháp luật về kinh doanh bất động sản (13)
  • Chương 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN (10)
    • 2.1. Thực trạng pháp luật về kinh doanh bất động sản (14)
      • 2.1.1. Quy định pháp luật về chủ thể kinh doanh bất động sản (14)
      • 2.1.2. Quy định pháp luật về bất động sản được đưa vào kinh doanh (15)
        • 2.1.2.1. Các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh (15)
        • 2.1.2.2. Công khai thông tin về bất động sản đưa vào kinh doanh (16)
      • 2.1.3. Quy định pháp luật về hợp đồng kinh doanh bất động sản (16)
        • 2.1.3.1. Các loại hợp đồng kinh doanh bất động sản, hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh bất động sản (16)
        • 2.1.3.2. Đối tượng được mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (16)
        • 2.1.3.3. Nội dung của hợp đồng kinh doanh bất động sản (16)
      • 2.1.4. Quy định pháp luật về đầu tư kinh doanh bất động sản (18)
        • 2.1.4.1. Quy định pháp luật về đầu tư phát triển nhà ở thương mại (18)
        • 2.1.4.2. Quy định pháp luật về đầu tư phát triển nhà ở xã hội (19)
      • 2.1.5. Quy định pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong kinh doanh bất động sản (20)
        • 2.1.5.1. Các loại hành vi vi phạm và hình thức xử phạt (20)
        • 2.1.5.2. Hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả (21)
        • 2.1.5.3. Thẩm quyền xử phạt (21)
      • 2.1.6. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản (21)
        • 2.1.6.1. Về quy định chủ thể kinh doanh bất động sản (21)
        • 2.1.6.2. Về loại bất động sản được đưa vào kinh doanh (21)
        • 2.1.6.3. Về hợp đồng trong kinh doanh bất động sản (21)
        • 2.1.6.4. Về đầu tư kinh doanh bất động sản (21)
        • 2.1.6.5. Về vi phạm và xử lý vi phạm trong kinh doanh bất động sản (21)
    • 2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế (22)
      • 2.2.1. Những kết quả đạt được (22)
        • 2.2.1.1. Đánh giá chung (22)
        • 2.2.1.2. Kết quả đạt được trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản (22)
      • 2.2.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế (22)
  • Chương 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN (14)
    • 3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bất động sản (24)
      • 3.1.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước (24)
      • 3.1.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn (24)
    • 3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bất động sản (25)
      • 3.2.1. Hoàn thiện pháp luật về chủ thể kinh doanh bất động sản (25)
      • 3.2.2. Hoàn thiện pháp luật về các nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh bất động sản (25)
      • 3.2.3. Hoàn thiện pháp luật về giao dịch kinh doanh bất động sản hình thành (25)
      • 3.2.4. Hoàn thiện pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong kinh doanh bất động sản (26)
    • 3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế (26)
      • 3.3.1. Giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Thừa Thiên Huế (26)
      • 3.3.2. Giải pháp đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản (27)

Nội dung

Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài

Kinh doanh bất động sản đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn vốn và ảnh hưởng sâu rộng đến đời sống xã hội Để nghiên cứu lĩnh vực này, ngoài Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, cần xem xét các quy định chuyên ngành như Luật Nhà ở, Luật Đất đai và Luật Xây dựng Tuy nhiên, những phát sinh trong thực tiễn liên quan đến bất động sản và kinh doanh bất động sản đã gây ra không ít khó khăn cho sự phát triển của cá nhân và doanh nghiệp.

Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 11/CT-TTg năm

Ngày 23 tháng 4 năm 2019, Chính phủ đã ban hành giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định và lành mạnh Các cơ quan, ban ngành được chỉ đạo tiếp tục giải quyết các vấn đề liên quan đến thị trường bất động sản, đồng thời hướng đến việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực này Một trong những yêu cầu quan trọng là tiếp tục hoàn thiện các quy định liên quan đến kinh doanh bất động sản.

Nghiên cứu về kinh doanh bất động sản tại Thừa Thiên Huế cho thấy hệ thống pháp luật hiện hành còn nhiều vướng mắc cần khắc phục để thúc đẩy phát triển Đặc biệt, khi tỉnh hướng tới việc trở thành thành phố trực thuộc trung ương, sẽ có sự gia tăng đầu tư và chuyển dịch cơ cấu nguồn vốn doanh nghiệp trong tương lai.

Tác giả đã chọn đề tài "Pháp luật về kinh doanh bất động sản qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế" cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.

Tình hình nghiên cứu đề tài

Giáo trình, sách chuyên khảo

Đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu và sách chuyên khảo liên quan đến đề tài này, bao gồm: "Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự 2015" của PGS.TS Đỗ Văn Đại, "Pháp luật Kinh doanh bất động sản" của Lưu Quốc Thái, và "Đăng ký bất động sản - Những vấn đề lý luận và thực tiễn" của Nguyễn Minh Tuấn Ngoài ra, tác phẩm "Quản lý nhà nước đối với thị trường bất động sản ở Việt Nam" của Bùi Văn Huyền và Đinh Thị Nga cũng đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này.

Các công trình nghiên cứu về thị trường bất động sản tại Việt Nam, như "Chính sách phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam" (Đinh Văn Ân, 2011) và "Pháp luật về tạo dựng đẳng cấp và thương hiệu môi giới bất động sản ở Việt Nam" (PGS.TS Doãn Thị Hồng Nhung, 2010), chủ yếu được biên soạn trước khi Luật Kinh doanh bất động sản 2014 ra đời Mặc dù chưa cập nhật các quy định pháp luật hiện hành, những tài liệu này vẫn cung cấp kiến thức lý luận pháp luật khái quát, là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu pháp luật về kinh doanh bất động sản.

Những đề tài nghiên cứu cấp độ luận văn thạc sỹ, luận án tiến sỹ liên quan đến đề tài có thể kể đến như:

Luận án “Pháp luật về kinh doanh bất động sản ở Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn” của tác giả Vũ Anh, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội năm 2012, nghiên cứu Luật Kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản liên quan, nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho pháp luật trong lĩnh vực này Tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật, tuy nhiên, nghiên cứu vẫn chưa thể dự đoán hết những vấn đề phát sinh trong thực tiễn đến nay.

Luận văn "Pháp luật về hợp đồng kinh doanh bất động sản ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Thị Xuân, năm 2014, tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, phân tích các quy định liên quan đến hợp đồng kinh doanh bất động sản Tuy nhiên, nghiên cứu này không đề cập đến các khía cạnh khác của pháp luật kinh doanh bất động sản như chủ thể kinh doanh, loại hình bất động sản, hoạt động đầu tư và dịch vụ bất động sản Luận văn chủ yếu tập trung vào Luật Kinh doanh bất động sản 2006 và các văn bản hướng dẫn thực hiện.

Các công trình nghiên cứu và bài viết trên các tạp chí chuyên ngành luật liên quan đến pháp luật kinh doanh bất động sản đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển kiến thức và hiểu biết về lĩnh vực này.

Nguyễn Thị Hồng Nhung đã đề cập đến sự phát triển của pháp luật về kinh doanh bất động sản trong tương lai trong bài viết của mình trên Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử Bài viết này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc hoàn thiện khung pháp lý để thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản Ngoài ra, Đoàn Thị Ngọc Hải cũng đã nêu rõ các loại hình kinh doanh bất động sản và những thách thức mà ngành này phải đối mặt Những thông tin này rất cần thiết để các nhà đầu tư và doanh nghiệp có thể đưa ra quyết định chính xác trong bối cảnh thị trường hiện nay.

Việt Nam”, Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp, đăng ngày 21/11/2019; https://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID%14, truy cập ngày 15/6/2020

Dự án tại đèo Hải Vân đã chính thức dừng lại, và các bên liên quan đã đồng ý chấp nhận bồi thường Thông tin này được đưa ra bởi Nguyễn Linh và Hồng Quý trong bài viết đăng trên Tuổi trẻ online vào ngày 27/11/2014 và cập nhật lần cuối vào ngày 15/05/2020.

Thực tiễn giải quyết tranh chấp về bất động sản đang gia tăng, cho thấy tính phức tạp và khó khăn trong việc áp dụng pháp luật Hệ thống pháp luật về bất động sản hiện tại còn nhiều hạn chế, ảnh hưởng đến hiệu quả giải quyết tranh chấp Cần thống nhất quy định pháp luật về bất động sản và ban hành Luật đăng ký bất động sản để cải thiện tình hình Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn chậm, dẫn đến giao dịch ngầm Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận và đảm bảo tính chính xác của thông tin bất động sản là điều cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân.

Nghiên cứu về quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản đã được thực hiện ở nhiều khía cạnh, nhưng hầu hết các công trình hiện có đều đã cũ và thiếu cập nhật so với các quy định hiện hành, đặc biệt sau Bộ luật Dân sự 2015 Mặc dù có một số nghiên cứu toàn diện về pháp luật kinh doanh bất động sản tại Việt Nam, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế Do đó, học viên đã chọn đề tài “Pháp luật về kinh doanh bất động sản qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế” cho luận văn thạc sĩ, nhằm kế thừa và phát huy những kết quả nghiên cứu trước đó.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, bài viết áp dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời dựa trên đường lối và chính sách phát triển kinh tế của Đảng Cộng sản Việt Nam.

5.2 Phương pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp phân tích và tổng hợp được áp dụng để làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến kinh doanh bất động sản, đồng thời chỉ ra những sự rườm rà và chồng chéo trong các quy định pháp luật hiện hành Phương pháp này sẽ được sử dụng xuyên suốt trong luận văn.

Phương pháp thống kê được áp dụng để tổng hợp các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực kinh doanh bất động sản tại Việt Nam Phương pháp này chủ yếu được triển khai trong chương 1 và chương 2 của bài viết.

Phương pháp so sánh quy định về kinh doanh bất động sản trong hệ thống pháp luật Việt Nam được áp dụng nhằm đưa ra kiến nghị phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam, đặc biệt là tỉnh Thừa Thiên Huế Phương pháp này chủ yếu được triển khai trong chương 3 của bài viết.

Hệ thống các phương pháp nghiên cứu trong luận văn được áp dụng linh hoạt, kết hợp đa dạng tùy theo nội dung và vấn đề nghiên cứu Việc sử dụng đồng thời các phương pháp nghiên cứu giúp tạo ra sự liên kết chặt chẽ, tránh tình trạng áp dụng rời rạc và tách biệt, từ đó nâng cao tính hiệu quả của nghiên cứu thực tiễn.

Những đóng góp mới của đề tài

Luận văn là một nghiên cứu khoa học sâu sắc và có hệ thống về pháp luật kinh doanh bất động sản, với những đóng góp mới nổi bật thể hiện qua các nội dung chính.

Luận văn đã làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật kinh doanh bất động sản, bao gồm khái niệm kinh doanh bất động sản, các đặc điểm đặc trưng của pháp luật này, và cơ sở khoa học cho việc xây dựng pháp luật liên quan Đồng thời, luận văn cũng chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản Những vấn đề lý luận này sẽ là nền tảng để tiếp cận các quy định pháp luật hiện hành và định hướng cho việc kiến nghị hoàn thiện pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.

Bài luận văn này phân tích và đánh giá toàn diện thực trạng quy định pháp luật về kinh doanh bất động sản tại Việt Nam, đặc biệt là ở tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm gần đây Nó chỉ ra những hạn chế và bất cập trong các quy định pháp luật, cũng như những tồn tại và vướng mắc trong thực tiễn thực hiện kinh doanh bất động sản tại địa phương.

Bài luận văn đề xuất sửa đổi, bổ sung một số quy định của Luật Kinh doanh bất động sản nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh vực này tại Việt Nam Những kiến nghị này không chỉ bảo đảm quyền kinh doanh của người dân mà còn nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bất động sản trong thực tiễn Được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn, các kiến nghị này phù hợp với đường lối cải cách tư pháp của Đảng và hỗ trợ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đồng thời đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam.

Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN

Khái quát về kinh doanh bất động sản

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại bất động sản

1.1.1.1 Khái niệm bất động sản

Tài sản là yếu tố cốt lõi trong mối quan hệ xã hội và pháp luật, nhưng khái niệm về tài sản vẫn chưa được tổng hợp rõ ràng Theo pháp luật hiện hành, tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản, được phân chia thành bất động sản và động sản Cả hai loại tài sản này có thể bao gồm tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai, theo Điều 105 BLDS 2015 Như vậy, bất động sản được xác định là một loại tài sản quan trọng.

Phân loại tài sản thành “bất động sản” và “động sản” có nguồn gốc từ Luật cổ La Mã, trong đó bất động sản không chỉ bao gồm đất đai và tài nguyên dưới lòng đất mà còn là tất cả sản phẩm do con người tạo ra trên mảnh đất đó Bất động sản bao gồm các công trình xây dựng, cây trồng và những yếu tố liên quan đến đất đai, cùng với các vật thể trên bề mặt đất và các bộ phận cấu thành lãnh thổ.

Khái niệm bất động sản rất đa dạng và cần được quy định cụ thể theo pháp luật của từng quốc gia, với những tài sản được công nhận là bất động sản ở nước này nhưng không ở nước khác Tại Việt Nam, các quy định về bất động sản vẫn còn mở và chưa có danh mục cụ thể cho các tài sản này Chủ yếu, bất động sản liên quan đến đất đai và các tài sản gắn liền với đất, bao gồm nhà ở, công trình xây dựng, cây lâu năm và cây rừng.

1.1.1.2 Đặc điểm của bất động sản

Bất động sản có thể được xác định qua nhiều quan điểm khác nhau, trong đó các nhà kinh tế phân chia thành hai nhóm đặc điểm chính: vật lý và kinh tế Nhóm vật lý bao gồm các tính chất như tính cố định, lâu bền, độc đáo, và tính thích ứng Trong khi đó, nhóm kinh tế tập trung vào giá trị lớn và tính thanh khoản kém của bất động sản Một số ý kiến cho rằng đặc điểm cơ bản chỉ gồm tính bất động, không đồng nhất, khan hiếm, và bền vững Ngoài ra, còn có quan điểm cho rằng bất động sản có tới chín đặc điểm, trong đó nổi bật là tính cố định về vị trí và giá trị.

1 Bùi Văn Huyền, Đinh Thị Nga, Quản lý nhà nước đội với thị trường bất động sản ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 12-15

2 Đinh Văn Ân (Chủ biên), Chính sách phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia -

Bất động sản có những đặc điểm quan trọng như khả năng sinh lời và chịu tác động từ các yếu tố tự nhiên Nó cũng cần tính toán đến công năng và dự đoán nhu cầu phát sinh, đồng thời phải đảm bảo tuổi thọ kinh tế và vật lý Sự khan hiếm do diện tích đất đai có giới hạn làm tăng giá trị của bất động sản, biến nó thành tài sản có giá trị lớn so với thu nhập của cư dân Cuối cùng, giao dịch bất động sản thường kéo dài, dễ gặp biến động và có sự tách biệt giữa hàng hóa và giao dịch.

Bất động sản có nhiều đặc điểm khác nhau, bao gồm nhóm đặc điểm vật lý và nhóm đặc điểm kinh tế Việc xác định những đặc điểm cơ bản này rất quan trọng để thiết kế và xây dựng thể chế thị trường bất động sản, nhằm khai thác và sử dụng hiệu quả tài sản Các đặc điểm này có ảnh hưởng lớn đến việc hoàn thiện thể chế thị trường bất động sản.

Bất động sản có tính bất động, không thể di dời

Bất động sản có tính không đồng nhất về giá

Bất động sản có tính khan hiếm

Bất động sản có tính thanh khoản kém

1.1.1.3 Phân loại bất động sản

Bất động sản có đầu tư xây dựng bao gồm các loại hình như bất động sản nhà ở, bất động sản nhà xưởng và công trình thương mại - dịch vụ, bất động sản hạ tầng (bao gồm hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội), cũng như bất động sản dùng làm trụ sở làm việc.

1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại kinh doanh bất động sản

1.1.2.1 Khái niệm kinh doanh bất động sản

Kinh doanh là khái niệm cốt lõi trong pháp luật kinh tế, liên quan chặt chẽ đến các chủ thể kinh doanh Trong nền kinh tế hàng hóa đa dạng theo cơ chế thị trường tại Việt Nam, kinh doanh được hiểu đơn giản là hành động nhằm mục đích kiếm lợi nhuận thông qua các hoạt động như sản xuất, buôn bán và cung cấp dịch vụ.

1.1.2.2 Đặc điểm của kinh doanh bất động sản

Bất động sản có những đặc điểm nổi bật như tính cục bộ và khu vực, tính lâu dài và tính ảnh hưởng lẫn nhau, tạo nên sự khác biệt trong hoạt động kinh doanh so với các lĩnh vực khác Những yếu tố này không chỉ định hình cách thức giao dịch mà còn ảnh hưởng đến giá trị và tiềm năng phát triển của tài sản.

Thứ nhất, đối tượng của kinh doanh bất động sản là bất động sản, loại tài sản có giá trị cao

Thứ hai, kinh doanh bất động sản mang tính cục bộ và khu vực

Thứ ba, kinh doanh bất động sản là hoạt động lâu dài

Thứ tư, kinh doanh bất động sản chịu ảnh hưởng lẫn nhau

Trong cuốn sách "Pháp luật về tạo dựng đẳng cấp và thương hiệu môi giới bất động sản ở Việt Nam" do Doãn Thị Hồng Nhung làm chủ biên, xuất bản bởi Nxb Lao động và Xã hội vào năm 2010, trang 24-26, tác giả phân tích vai trò của pháp luật trong việc xây dựng thương hiệu và đẳng cấp cho các môi giới bất động sản tại Việt Nam Nội dung cuốn sách cung cấp cái nhìn sâu sắc về các quy định pháp lý cần thiết để nâng cao uy tín và chất lượng dịch vụ của ngành môi giới bất động sản.

4 Trường ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh (2017), Giáo trình Pháp luật về chủ thể kinh doanh, NXB Hồng Đức

1.1.2.3 Phân loại kinh doanh bất động sản

Việc phân loại hành vi kinh doanh bất động sản có thể dựa trên đối tượng bất động sản được đưa vào kinh doanh hoặc bản chất của hành vi kinh doanh hàng hóa bất động sản, từ đó chia thành các loại khác nhau.

Dựa trên loại bất động sản được đưa vào kinh doanh, có thể chia thành hai loại chính: kinh doanh bất động sản có sẵn và kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai.

Kinh doanh bất động sản bao gồm việc mua bán nhà ở, công trình xây dựng và các loại đất được phép chuyển nhượng quyền sử dụng theo quy định của luật đất đai.

Kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai liên quan đến việc giao dịch các nhà công trình đang trong quá trình xây dựng và chưa được nghiệm thu để đưa vào sử dụng.

Dựa trên bản chất của hành vi kinh doanh, bất động sản có thể được phân loại thành hai loại chính: kinh doanh hàng hóa bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản.

- Kinh doanh hàng hóa bất động sản

- Kinh doanh dịch vụ bất động sản

1.1.3 Ý nghĩa của kinh doanh bất động sản

THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN

Thực trạng pháp luật về kinh doanh bất động sản

2.1.1 Quy định pháp luật về chủ thể kinh doanh bất động sản

*Về loại chủ thể kinh doanh bất động sản

Theo Điều 10 và Điều 11 của Luật Kinh doanh bất động sản 2014, các chủ thể kinh doanh bất động sản bao gồm tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Ngoài ra, pháp luật cũng công nhận hộ gia đình là một chủ thể kinh doanh bất động sản trong một số trường hợp cụ thể.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 10 Luật KDBĐS 2014 và khoản 1 Điều 5 Nghị định 76/2015/NĐ-CP, cơ cấu chủ thể trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản được thiết lập tương tự như cơ cấu chủ thể sử dụng đất theo Luật Đất đai 2013 Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 không công nhận "người Việt Nam định cư ở nước ngoài" là một chủ thể kinh doanh.

*Về điều kiện kinh doanh hàng hóa bất động sản

Thứ nhất, thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã;

Thứ hai, có vốn pháp định không ít hơn 20 tỷ đồng

*Đối với các chủ thể là chủ đầu tư dự án BĐS còn phải đáp ứng thêm các điều kiện sau:

Thứ nhất , có năng lực tài chính để bảo đảm việc sử dụng đất theo tiến độ của dự án đầu tư

Thứ hai , ký quỹ để đảm bảo thực hiện dự án:

Mức ký quỹ để đảm bảo thực hiện dự án dao động từ 1% đến 3% vốn đầu tư, tùy thuộc vào quy mô, tính chất và tiến độ của từng dự án cụ thể Theo Điều 27 Nghị định 118/2015/NĐ-CP, mức ký quỹ được xác định dựa trên tỷ lệ phần trăm vốn đầu tư quy định trong quyết định chủ trương đầu tư hoặc Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư Cụ thể, đối với phần vốn đầu tư lên đến 300 tỷ đồng, mức ký quỹ là 3%; từ 300 tỷ đến 1.000 tỷ đồng, mức ký quỹ là 2%; và đối với phần vốn trên 1.000 tỷ đồng, mức ký quỹ là 1%.

Phạm vi kinh doanh hàng hóa bất động sản được quy định khác nhau tùy thuộc vào loại chủ thể Cụ thể, bao gồm việc mua nhà và công trình xây dựng để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua, cũng như việc thuê nhà và công trình xây dựng để cho thuê lại.

5 Hộ gia đình có thể là chủ thể đầu tư nhà ở xã hội; đầu tư dự án bất động sản để kinh doanh có vốn đầu tư dưới

20 tỷ (không tính giá trị quyền sử dụng đất)

Theo Điều 3 Luật Đầu tư 2014 và Điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014, các hình thức đầu tư xây dựng liên quan đến đất đai được quy định như sau: Đối với đất do Nhà nước giao, có thể xây dựng nhà ở để bán, cho thuê hoặc cho thuê mua, cũng như chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật Đối với đất thuê từ Nhà nước, có thể đầu tư xây dựng nhà ở cho thuê và các công trình khác Đối với đất được công nhận quyền sử dụng, có thể đầu tư xây dựng để bán hoặc cho thuê Ngoài ra, việc đầu tư xây dựng cũng được phép trên đất nhận chuyển nhượng từ tổ chức, cá nhân, và đất thuê từ các đối tượng này, miễn là tuân thủ đúng mục đích sử dụng đất Cuối cùng, có thể nhận chuyển nhượng hoặc thuê quyền sử dụng đất để xây dựng hạ tầng kỹ thuật cho việc chuyển nhượng hoặc cho thuê đất đã có hạ tầng.

2.1.2 Quy định pháp luật về bất động sản được đưa vào kinh doanh 2.1.2.1 Các loại bất động sản được đưa vào kinh doanh

Theo Điều 5 Luật KDBĐS 2014, các loại BĐS đưa vào kinh doanh theo quy định của Luật này bao gồm:

(i) Nhà, công trình xây dựng có sẵn của các tổ chức, cá nhân;

(ii) Nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai của các tổ chức, cá nhân;

(iii) Nhà, công trình xây dựng là tài sản công được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép đưa vào kinh doanh;

Các loại đất được phép chuyển nhượng, cho thuê, hoặc cho thuê lại quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai sẽ được phép kinh doanh quyền sử dụng đất.

Quy định về kinh doanh nhà và công trình xây dựng phân loại dựa trên tình trạng "tồn tại" thành hai nhóm: nhà và công trình xây dựng có sẵn, cùng với nhà và công trình xây dựng hình thành trong tương lai.

Quy định về nhà ở đưa vào kinh doanh Theo khoản 1 Điều 3 Luật Nhà ở

2014 thì “Nhà ở là công trình xây dựng với mục đích để ở và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của hộ gia đình, cá nhân”

Kinh doanh quyền sử dụng đất là một hình thức kinh doanh bất động sản, trong đó quyền sử dụng đất được coi là tài sản Để thực hiện kinh doanh này, cần có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, không có tranh chấp về quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án, và phải nằm trong thời hạn sử dụng đất.

Thứ nhất, kinh doanh quyền sử dụng đất trong dự án nhà ở

Thứ hai, kinh doanh quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế

Quy định riêng về kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai yêu cầu các điều kiện nhất định để đảm bảo tính hợp pháp và an toàn cho các giao dịch Để bất động sản hình thành trong tương lai được đưa vào kinh doanh, cần phải đáp ứng các tiêu chí cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng và thúc đẩy sự phát triển bền vững của thị trường bất động sản.

Thứ nhất, dự án bất động sản phải các có giấy tờ sau:

Thứ hai, điều kiện về thủ tục

Thứ ba, điều kiện về bảo lãnh trong bán, cho thuê mua nhà ở hình thành trong tương lai

2.1.2.2 Công khai thông tin về bất động sản đưa vào kinh doanh

Thứ nhất, về địa điểm, phương tiện công khai:

Thứ hai, về nội dung thông tin công khai, gồm:

2.1.3 Quy định pháp luật về hợp đồng kinh doanh bất động sản

2.1.3.1 Các loại hợp đồng kinh doanh bất động sản, hình thức và thời điểm có hiệu lực của hợp đồng kinh doanh bất động sản

*Các loại hợp đồng kinh doanh bất động sản

Theo quy định tại Khoản 2 Điều 17 Luật Kinh doanh bất động sản 2014, hợp đồng kinh doanh bất động sản phải được lập thành văn bản Các loại hợp đồng này bao gồm nhiều hình thức khác nhau.

- Hợp đồng mua bán nhà, công trình xây dựng;

- Hợp đồng cho thuê nhà, công trình xây dựng;

- Hợp đồng thuê mua nhà, công trình xây dựng;

- Hợp đồng chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất;

- Hợp đồng chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ dự án bất động sản

Vấn đề công chứng, chứng thực hợp đồng kinh doanh bất động sản Thứ nhất, công chứng, chứng thực bắt buộc

Thứ hai, công chứng, chứng thực tự nguyện

Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng trong kinh doanh bất động sản

2.1.3.2 Đối tượng được mua, nhận chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản

Theo Điều 14 Luật KDBĐS 2014, các đối tượng có quyền mua, nhận chuyển nhượng, thuê và thuê mua bất động sản từ doanh nghiệp kinh doanh bất động sản tại Việt Nam bao gồm cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

2.1.3.3 Nội dung của hợp đồng kinh doanh bất động sản

Các loại hợp đồng kinh doanh bất động sản đã được quy định theo mẫu trong Phụ lục kèm theo Nghị định 76/2015/NĐ-CP Những hợp đồng mẫu này chỉ mang tính tham khảo cho các bên trong quá trình thương thảo và ký kết, không bắt buộc phải tuân theo nguyên bản Các bên có quyền thỏa thuận sửa đổi, bổ sung các điều khoản, nhưng hợp đồng ký kết cần đảm bảo đầy đủ nội dung chính theo quy định tại Điều 18, Điều 47 và Điều 53 của Luật KDBĐS Nội dung cụ thể trong hợp đồng do các bên thỏa thuận phải tuân thủ theo quy định pháp luật tại Điều 7 Nghị định 76/2015/NĐ-CP.

*Hợp đồng mua bán nhà, công trình xây dựng

Nguyên tắc mua bán nhà và công trình xây dựng là những yêu cầu cơ bản trong hoạt động kinh doanh bất động sản Việc tuân thủ các nguyên tắc này đảm bảo sự minh bạch và hợp pháp trong giao dịch, giúp bảo vệ quyền lợi của cả bên mua và bên bán.

*Hợp đồng cho thuê nhà, công trình xây dựng

Theo Điều 25 Luật KDBĐS 2014, nguyên tắc cho thuê nhà và công trình xây dựng yêu cầu các tài sản cho thuê phải đảm bảo chất lượng, an toàn, vệ sinh môi trường, cùng với các dịch vụ cần thiết để vận hành và sử dụng bình thường theo công năng, thiết kế và các thỏa thuận trong hợp đồng.

*Hợp đồng cho thuê mua nhà, công trình xây dựng

Theo Khoản 1 Điều 3 Luật KDBĐS, thuê mua nhà và công trình xây dựng là thỏa thuận giữa bên thuê mua và bên cho thuê mua, trong đó bên thuê mua thanh toán một khoản tiền trước để sử dụng tài sản Số tiền còn lại sẽ được tính thành tiền thuê, và khi bên thuê mua thanh toán đủ số tiền, họ sẽ trở thành chủ sở hữu của nhà hoặc công trình xây dựng đó.

Nguyên tắc cho thuê mua nhà, công trình xây dựng Theo Điều 31 Luật

KDBĐS 2014 thì việc cho thuê mua nhà, công trình xây dựng phải đảm bảo các nguyên tắc:

GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH BẤT ĐỘNG SẢN

Định hướng hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bất động sản

Nước ta đang trong quá trình phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ, đòi hỏi hệ thống pháp luật phải được cải cách phù hợp Sự chuyển đổi từ nền nông nghiệp lạc hậu sang kinh tế hàng hoá và dịch vụ đã làm tăng sự chú ý đến các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh Do đó, cần thiết phải đổi mới và hoàn thiện các quy định pháp luật, đồng thời nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật để đáp ứng yêu cầu phát triển.

3.1.1 Định hướng hoàn thiện pháp luật phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm 2011 – 2020, được thông qua tại Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam khoá XI vào tháng 01/2011, đã tạo nền tảng quan trọng cho việc hoàn thiện thể chế và thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản Chiến lược này khẳng định chủ trương phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả quản lý trong lĩnh vực bất động sản.

Phát triển thị trường bất động sản một cách lành mạnh và bền vững là mục tiêu quan trọng, nhằm ngăn chặn tình trạng đầu cơ và hoàn thiện cơ chế vận hành của các sàn giao dịch bất động sản Đến nay, một phần của chiến lược đã được hoàn thành, nhưng cần tiếp tục xây dựng và hoàn thiện để đưa vào kế hoạch cho 10 năm tới Gần đây, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành chỉ thị số 11/CT-TTg vào ngày 23 tháng 4.

Năm 2019, Chính phủ đã đề ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển ổn định và lành mạnh, giao Bộ Xây dựng hoàn thành dự án Luật sửa đổi, bổ sung các Luật liên quan như Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, và Luật Kinh doanh bất động sản để trình các cấp có thẩm quyền Đồng thời, cần bổ sung chính sách hỗ trợ về nhà ở cho cán bộ, công chức, viên chức nhà nước gặp khó khăn, và khắc phục các tồn tại, bất cập trong lĩnh vực này Ngoài ra, việc ban hành sửa đổi, bổ sung quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng cho các loại hình nhà ở như chung cư, căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, và officetel cũng rất cần thiết Cuối cùng, cần thiết lập quy chế quản lý và vận hành cho các công trình officetel để đảm bảo tính hiệu quả và bền vững.

3.1.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật phù hợp với yêu cầu thực tiễn

Hiện nay, thị trường bất động sản Việt Nam đang phát triển một cách riêng lẻ, do đó cần có sự thống nhất và đồng bộ trong hệ thống pháp luật để điều chỉnh các vấn đề liên quan Việc ban hành một luật sửa đổi là cần thiết để đảm bảo tính tương thích và phát triển bền vững cho thị trường này.

10 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật,

Thủ tướng đã chỉ thị các giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển lành mạnh của thị trường bất động sản Mặc dù nhiều luật đã được sửa đổi để tháo gỡ vướng mắc, sự thiếu thống nhất trong quá trình soạn thảo luật vẫn tồn tại Các cơ quan xây dựng luật thường bảo vệ quan điểm riêng, không chú trọng đến sự đồng bộ của hệ thống pháp luật, dẫn đến tình trạng chồng chéo và bất cập trong việc thực thi.

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bất động sản

Để xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh doanh bất động sản, cần thực hiện các giải pháp căn cơ và thực chất, thông qua việc rà soát các quy định hiện hành và giải quyết những vướng mắc hiện tại Các nhóm giải pháp này cần được phân tích dựa trên cơ sở khoa học để đảm bảo tính hiệu quả và khả thi.

3.2.1 Hoàn thiện pháp luật về chủ thể kinh doanh bất động sản

Về quyền sở hữu bất động sản

Một yếu tố quan trọng hàng đầu trong kinh doanh bất động sản là khả năng chuyển nhượng và chuyển quyền sở hữu của đối tượng bất động sản Vấn đề này liên quan đến các quy định pháp lý và là điều kiện cần thiết để đảm bảo việc kinh doanh bất động sản tuân thủ đúng luật pháp.

Điều kiện vốn đối với doanh nghiệp kinh doanh bất động sản hiện nay yêu cầu mức vốn pháp định tối thiểu là 20 tỷ đồng, điều này được cho là quá cao đối với các doanh nghiệp nhỏ nhưng hoạt động thường xuyên Do đó, cần xem xét điều chỉnh mức vốn pháp định để phù hợp hơn với thực tế của thị trường.

3.2.2 Hoàn thiện pháp luật về các nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh bất động sản

*Pháp luật về trung thực trong hoạt động kinh doanh bất động sản

Một trong những nguyên tắc quan trọng của Bộ luật Dân sự 2015 là yêu cầu các bên tham gia quan hệ dân sự phải đảm bảo tính thiện chí và trung thực Nếu một bên không tuân thủ nguyên tắc này, giao dịch có thể bị vô hiệu và bên đó sẽ phải chịu trách nhiệm Tuy nhiên, việc chứng minh thiện chí và trung thực chỉ nên được thực hiện khi có sự kiện pháp lý phát sinh, vì nếu chờ đến lúc đó thì có thể đã quá muộn Do đó, việc thu thập chứng cứ để xác minh yếu tố thiện chí và trung thực là cần thiết nhằm tránh những rủi ro không đáng có.

* Quy định pháp luật về công khai, minh bạch trong hoạt động kinh doanh bất động sản

Tăng cường hoạt động đấu thầu và đấu giá trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản là cần thiết để đảm bảo giá trị của bất động sản phản ánh đúng giá thị trường Các dự án đầu tư và đấu thầu quyền sử dụng đất cần được thực hiện một cách minh bạch, góp phần nâng cao tính cạnh tranh và hiệu quả trong quản lý tài sản.

3.2.3 Hoàn thiện pháp luật về giao dịch kinh doanh bất động sản hình thành trong tương lai

Hiện nay, sự không bình đẳng trong quyền và nghĩa vụ giữa doanh nghiệp kinh doanh bất động sản và khách hàng vẫn tồn tại, gây thiệt hại cho lợi ích của khách hàng và ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường kinh doanh Để khắc phục tình trạng này, cần tăng cường kiểm tra và kiểm soát từ các cơ quan có thẩm quyền đối với các chủ thể kinh doanh, điều kiện giao dịch và hàng hóa bất động sản Đồng thời, cần chú trọng đến việc cải thiện các hợp đồng mẫu mà nhà đầu tư ký kết với khách hàng, và đặc biệt là tăng cường cung cấp thông tin cho khách hàng khi tham gia giao dịch.

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về vi phạm và xử lý vi phạm trong kinh doanh bất động sản

Trong thời gian gần đây, tình trạng vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản đã gia tăng đáng báo động, cho thấy các chế tài xử lý hiện tại chưa đủ mạnh để răn đe Các hình thức xử phạt chủ yếu vẫn là xử phạt hành chính với mức phạt tương đối thấp so với thiệt hại kinh tế mà các hành vi vi phạm gây ra Đặc biệt, từ năm 2019, đã có những quyết định khởi tố liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản, đánh dấu bước tiến trong việc tăng cường quản lý và xử lý vi phạm trong lĩnh vực này.

"Đại gia bất động sản" đã thu hút sự chú ý của dư luận xã hội khi quyết định khởi tố được đưa ra, vì hành vi vi phạm đã diễn ra trong thời gian dài và gây hậu quả nghiêm trọng cho nhiều nhà đầu tư Do đó, cần phải hoàn thiện pháp luật liên quan đến vi phạm và xử lý vi phạm, bao gồm việc tăng mức xử phạt đối với người vi phạm Bên cạnh đó, cần xem xét trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về kinh doanh bất động sản tại địa phương và xây dựng các chế tài hình sự phù hợp với các vi phạm trong lĩnh vực này.

Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế

3.3.1 Giải pháp đối với các cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Cần tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến thị trường bất động sản để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đồng thời tháo gỡ khó khăn và tạo điều kiện thông thoáng cho thị trường Điều này sẽ giúp thúc đẩy sự phát triển ổn định, bền vững và lành mạnh của thị trường bất động sản.

Để nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước đối với thị trường bất động sản, cần công khai các thủ tục dịch vụ công liên quan đến đăng ký, xác lập quyền sở hữu, chuyển nhượng, mua bán bất động sản, sao lục hồ sơ, giao đất và cho thuê đất Đồng thời, cần công bố công khai thông tin về các dự án bất động sản đang thế chấp ngân hàng, các dự án không thực hiện bảo lãnh, chưa nộp tiền sử dụng đất, chậm tiến độ, chưa nghiệm thu chất lượng công trình và phòng cháy chữa cháy, cũng như tình trạng của các chủ đầu tư chậm trễ trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người dân.

Trong năm 2019, nhiều đại gia trong lĩnh vực bất động sản đã bị khởi tố, bắt giam và truy nã, cho thấy sự nghiêm khắc của pháp luật đối với các hành vi vi phạm Những sự kiện này đã tạo ra một làn sóng chú ý lớn trong xã hội và giới đầu tư, phản ánh những biến động trong ngành BĐS Việt Nam Các nhà đầu tư cần thận trọng và nắm rõ tình hình pháp lý để tránh rủi ro trong tương lai.

Công tác quy hoạch bao gồm lập quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành, đô thị và nông thôn, nhằm đảm bảo thị trường bất động sản phát triển theo quy hoạch và kế hoạch, khắc phục tình trạng phát triển đô thị và bất động sản một cách tự phát.

3.3.2 Giải pháp đối với các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản

Một là, cần tăng cường năng lực về vốn và hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bất động sản;

Hai là, để huy động được nguồn vốn khác ngoài nguồn tín dụng từ ngân hàng, các doanh nghiệp bất động sản cần thực hiện các giải pháp

Các doanh nghiệp bất động sản cần tuân thủ nghiêm ngặt quy hoạch xây dựng đã được phê duyệt và các quy định của Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Nhà ở, Luật Xây dựng và Luật Đất đai để đảm bảo hoạt động kinh doanh hợp pháp và hiệu quả.

Chương 3 trình bày các quan điểm định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật kinh doanh bất động sản, phù hợp với đường lối và chính sách của Đảng, Nhà nước cũng như yêu cầu thực tiễn Các giải pháp được đưa ra dựa trên việc phân tích những vấn đề tồn tại trong quy định pháp luật hiện hành và tìm cách giải quyết các vướng mắc trong thực tiễn.

Chương này đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về kinh doanh bất động sản tại tỉnh Thừa Thiên Huế, tập trung vào vai trò của các cơ quan quản lý Nhà nước Đồng thời, nhấn mạnh yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh bất động sản cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định pháp luật hiện hành để đảm bảo hoạt động hiệu quả và bền vững.

Pháp luật về kinh doanh bất động sản đóng vai trò quan trọng trong hệ thống pháp luật Việt Nam, với các quy định từ luật chung đến luật chuyên ngành nhằm điều chỉnh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực này Việc xây dựng hệ thống pháp luật này tạo hành lang pháp lý, đảm bảo môi trường kinh doanh cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển thị trường bất động sản Nghiên cứu tại tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, cùng với tác động của thực tiễn đối với quy định pháp luật là rất cần thiết Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường yêu cầu hệ thống pháp luật phải được điều chỉnh để tạo cơ hội cho các chủ thể tham gia, đồng thời làm nền tảng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, đòi hỏi pháp luật kinh doanh bất động sản cần hoàn thiện để thích ứng với thực trạng hiện nay.

Nghiên cứu thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên Huế đã đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần vào sự phát triển chung của đất nước, đồng thời hoàn thiện hệ thống pháp luật trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Quốc hội (2013), Hiến pháp, Hà Nội

2 Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Hà Nội

3 Quốc hội (2014), Luật doanh nghiệp, Hà Nội

4 Quốc hội (2013), Luật đất đai, Hà Nội

5 Quốc hội (2014), Luật đầu tư, Hà Nội

6 Quốc hội (2014), Luật đầu tư công, Hà Nội

7 Quốc hội (2006), Luật kinh doanh bất động sản, Hà Nội

8 Quốc hội (2014), Luật kinh doanh bất động sản, Hà Nội

9 Quốc hội (2014), Luật nhà ở, Hà Nội

10 Quốc hội (2014), Luật xây dựng, Hà Nội

11 Quốc hội (2017), Luật quản lý, sử dụng tài sản công, Hà Nội

12 Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản

13 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013

14 Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng

15 Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng

16 Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở

17 Nghị định 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định thủ tục lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội

18 Nghị định 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở xã hội, quản lý sử dụng nhà và công sở

19 Thông tư 19/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Luật Nhà ở

20 Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày 08/01/2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 20/2015/TT- BKHĐT ngày 01 tháng 12 năm 2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp

21 Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo lãnh ngân hàng

22 Thông tư 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng

23 Thông tư số 11/2015/TT-BXD ngày 30/12/2015 của Bộ Xây dựng quy định việc cấp chứng chỉ hành nghề môi giới bất động sản; hướng dẫn việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức hành nghề môi giới bất động sản, điều hành sàn giao dịch bất động sản; việc thành lập và tổ chức hoạt dộng của sản giao dịch bất động sản

24 Công văn 4800 /BTP-BTTP ngày 21/11/2014 về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất

25 Công văn 4233/BTP-BTTP ngày 16/11/2015 về hướng dẫn thẩm quyền về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở

26 Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở

27 Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền trung

II TÀI LIỆU THAM KHẢO

28 Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011

29 Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb.Công an nhân dân

30 Nguyễn Quỳnh Hoa (2014), “Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản tại Việt Nam trong tiến trình đổi mới kinh tế”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập (số 12), tr.36-44

31 Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr 425, 426

32 Đỗ Văn Đại, Bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật Dân sự

33 Nguyễn Minh Tuấn, Đăng ký bất động sản - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 110

34 Lưu Quốc Thái, Pháp luật Kinh doanh bất động sản, Nxb Lao động,

35 Bùi Văn Huyền, Đinh Thị Nga, Quản lý nhà nước đội với thị trường bất động sản ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 12-15

36 Đinh Văn Ân (Chủ biên), Chính sách phát triển thị trường bất động sản ở Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2011, tr 22-23

37 Doãn Thị Hồng Nhung (Chủ biên), Pháp luật về tạo dựng đẳng cấp và thương hiệu môi giới bất động sản ở Việt Nam, Nxb Lao động và Xã hội, Hà Nội, 2010, tr.24-26

Ngày đăng: 20/06/2021, 23:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
30. Nguyễn Quỳnh Hoa (2014), “Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản tại Việt Nam trong tiến trình đổi mới kinh tế”, Tạp chí Phát triển và Hội nhập (số 12), tr.36-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành và phát triển thị trường bất động sản tại Việt Nam trong tiến trình đổi mới kinh tế
Tác giả: Nguyễn Quỳnh Hoa
Năm: 2014
3. Quốc hội (2014), Luật doanh nghiệp, Hà Nội 4. Quốc hội (2013), Luật đất đai, Hà Nội Khác
11. Quốc hội (2017), Luật quản lý, sử dụng tài sản công, Hà Nội Khác
12. Nghị định 76/2015/NĐ-CP ngày 10/9/2015 của Chính phủ về quy định chi tiết một số điều của Luật Kinh doanh bất động sản Khác
13. Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013 Khác
14. Nghị định 46/2015/NĐ-CP ngày 12/5/2015 của Chính phủ về quản lý chất lượng và bảo trì công trình xây dựng Khác
15. Nghị định 59/2015/NĐ-CP ngày 18/6/2015 của Chính phủ về quản lý dự án đầu tư xây dựng Khác
16. Nghị định số 99/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà ở Khác
17. Nghị định 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ quy định thủ tục lựa chọn chủ đầu tư dự án xây dựng nhà ở xã hội Khác
19. Thông tư 19/2016/TT-BXD ngày 30/6/2016 của Bộ Xây dựng hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Luật Nhà ở Khác
20. Thông tư số 02/2019/TT-BKHĐT ngày 08/01/2019 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của thông tư số 20/2015/TT- BKHĐT ngày 01 tháng 12 năm 2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp Khác
21. Thông tư 07/2015/TT-NHNN ngày 25/6/2015 của Ngân hàng Nhà nước quy định về bảo lãnh ngân hàng Khác
22. Thông tư 03/2016/TT-BXD ngày 10/3/2016 của Bộ Xây dựng quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng Khác
24. Công văn 4800 /BTP-BTTP ngày 21/11/2014 về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện quyền của người sử dụng đất Khác
25. Công văn 4233/BTP-BTTP ngày 16/11/2015 về hướng dẫn thẩm quyền về công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất, nhà ở Khác
26. Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở Khác
27. Quyết định số 48/2014/QĐ-TTg ngày 28/8/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền trung.II. TÀI LIỆU THAM KHẢO Khác
28. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia – Sự thật, Hà Nội, 2011 Khác
29. Nguyễn Văn Cừ, Trần Thị Huệ (2017), Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự Việt Nam, Nxb.Công an nhân dân Khác
31. Viện Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp, Bình luận khoa học Bộ luật dân sự năm 2005, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 425, 426 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w