1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ Ở TỈNH HỊA BÌNH GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

113 18 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Giải Pháp Nâng Cao Chất Lượng Đội Ngũ Cán Bộ, Công Chức Cấp Xã Ở Tỉnh Hòa Bình Giai Đoạn 2015 - 2020
Tác giả Phạm Thị Tuyết
Người hướng dẫn TS. Nguyễn Thị Xuân Hương
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Kinh Tế Nông Nghiệp
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 918,36 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong thực thi công vụ ảnh hưởng lớn tới tính hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, việc củng cố sự p

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Xuân Hương

Hà Nội, 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này

là trung thực và chưa từng được sử dụng trong bất kỳ luận văn, luận án nào Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà nội, tháng 3 năm 2014

Tác giả

Phạm Thị Tuyết

Trang 4

Xin chân thành cảm ơn các đồng chí trong Ban Giám đốc và các cán bộ của các phòng, ban chuyên môn Sở Nội vụ tỉnh Hòa Bình đã cung cấp thông tin, tài liệu và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Tôi xin chân thành cảm ơn các đồng chí, đồng nghiệp tại thành phố Hòa Bình, huyện Cao Phong, huyện Đà Bắc đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi thu thập số liệu theo yêu cầu của đề tài

Mặc dù đã cố gắng nhưng do hạn chế về thời gian cũng như kinh nghiệm bản thân nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Tôi kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và bạn bè để khóa luận được hoàn thiện hơn

Hà Nội, tháng 3 năm 2014

Tác giả

Phạm Thị Tuyết

Trang 5

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục các từ viết tắt vi

Danh mục các bảng vii

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ 4

1.1 Những lý luận cơ bản về vai trò của cán bộ, công chức cấp xã 4

1.1.1 Tổng quan về cán bộ, công chức 4

1.1.2 Tổng quan về cán bộ, công chức cấp xã 7

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã hiện nay 12

1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã 12

1.2.2 Yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 16

1.2.3 Vai trò và tầm quan trọng của cán bộ, công chức cấp xã hiện nay 18

1.2.4 Nội dung công tác quản lý cán bộ công chức cấp xã 18

1.2.5 Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã (các địa phương trong nước) 24

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30

2.1 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu 30

2.1.1 Vị trí địa lý 30

2.1.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu thủy văn 30

2.1.3 Dân cư 33

Trang 6

2.1.4 Về phát triển kinh tế 34

2.1.5 Bảo đảm an sinh xã hội và các lĩnh vực khác 35

2 2 Phương pháp nghiên cứu 37

2.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, khảo sát 37

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 37

2.2.3 Phương pháp xử lý số liệu 38

2.2.4 Hệ thống chỉ tiêu sử dụng trong nghiên cứu đề tài 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41

3.1 Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Hoà Bình 41

3.1.1 Thực trạng số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức tỉnh Hoà Bình 41

3.1.2 Thực trạng số lượng và chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hoà Bình (2011-2013) 43

3.2 Thực trạng công tác quản lý cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hoà Bình 45

3.2.1 Công tác quy hoạch cán bộ 45

3.2.2 Công tác tuyển dụng 46

3.2.3 Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 48

3.2.4 Công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức 51

3.3 Đánh giá chung về chất lượng cán bộ, công chức cấp xã của tỉnh Hoà Bình (2011-2013) 54

3.3.1 Những ưu điểm 54

3.3.2 Những hạn chế 55

3.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại 57

3.4 Đánh giá mức độ hài lòng của người dân với đội ngũ cán bộ công chức cấp xã ở Hoà Bình 59

3.4.1 Kết quả kiểm định chất lượng thang đo 60

3.4.2 Kết qủa phân tích nhân tố khám phá 60

Trang 7

3 5 Phương hướng và giải pháp xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hoà Bình giai đoạn 2015 -2020 68

3.5.1 Phương hướng chung 68 3.5.2 Mục tiêu cụ thể 70 3.5.3 Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hòa Bình 71

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BHYT bảo hiểm y tế BHXH bảo hiểm xã hội CBCC Cán bộ, công chức HĐBT Hội đồng Bộ trưởng HĐND Hội đồng nhân dân NQ- TW Nghị quyết trung ương NĐ- CP Nghị định Chính phủ MTTQ Mặt trận tổ quốc XDCB Xây dựng cơ bản UBND Ủy ban nhân dân

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

1.1 Quy định hệ số lương đối với cán bộ chưa qua đào tạo nghiệp vụ, sơ cấp 10 1.2

Quy định hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo đối với cán bộ đã có trình độ

2.2

Chất lượng cán bộ công chức được đánh giá thông mức bằng lòng của

3.12 Ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrixa) 62

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là đơn vị hành chính cơ sở, là cấp chính quyền gần dân nhất và là nơi diễn ra mọi hoạt động kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội của các tầng lớp nhân dân

Bộ máy cấp xã có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị ở nước ta, là cầu nối chuyển tải và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến với quảng đại quần chúng nhân dân Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự

và an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền; đảm bảo cho các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống

Hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong thực thi công vụ ảnh hưởng lớn tới tính hiệu quả của các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, việc củng cố sự phát triển bền vững của xã hội, đảm bảo dân chủ và nâng cao đời sống nhân dân ở cơ sở Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:

“Cấp xã là cấp gần dân nhất, là nền tảng của hành chính Cấp xã làm được việc

thì mọi việc đều xong xuôi” [trích Hồ Chí Minh toàn tập (1995), Tập 5, NXB

Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 371]

Tuy nhiên, trên thực tế trình độ quản lý, chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn nhiều hạn chế, luôn rơi vào trạng thái lúng túng, ngỡ ngàng trước sự thay đổi và xu thế phát triển chung của thời đại, dẫn đến hiệu quả hoạt động của bộ máy cấp xã chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội trong thời kỳ mới

Với phương hướng là đổi mới và nâng cao chất lượng hệ thống chính trị cơ

sở ở xã, phường, thị trấn Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương

Đảng khóa IX đã xác định: Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng lực tổ chức

Trang 11

và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân, không tham nhũng, không ức hiếp dân; trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở Gần đây, tại hội nghị

lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương khoá X đã ban hành Nghị quyết số NQ/TW ngày 01/08/2007 về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy Nhà nước, trong đó có bộ máy cấp xã và nhân tố quyết định đó là đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

17-Nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước, nâng cao đời sống nhân

dân, tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ

cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2015-2020”

2 Mục tiêu nghiên cứu

+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2015-2020

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu về chất

lượng đội ngũ của cán bộ, công chức cấp xã tại tỉnh Hòa Bình (không bao gồm những người hoạt động không chuyên trách)

Trang 12

- Phạm vi nghiên cứu của đề tài:

+ Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã về chất lượng, số lượng, cơ cấu, mức độ đáp ứng yêu cầu và nhu cầu đào tạo đội ngũ này ở tỉnh Hoà Bình

+ Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu các hoạt động của cán bộ, công chức cấp xã trong phạm vi tỉnh Hòa Bình

+ Phạm vi về thời gian: Số liệu về các vấn đề liên quan được thu thập trong giai đoạn 2010 -2013

4 Nội dung nghiên cứu:

+ Những lý luận cơ bản về yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã hiện nay;

+ Phân tích, đánh giá thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hòa

Bình trong giai đoạn năm 2010-2013 (đánh giá về cơ cấu, chất lượng, số lượng,

mức độ hoàn thành nhiệm vụ thông qua phiếu đáng giá cán bộ công chức cuối

năm)

+ Đề xuất một số giải pháp chủ yếu góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã ở tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2015-2020

5 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1 Những cơ sở lý luận và thực tiễn về cán bộ, công chức cấp xã Chương 2 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Kết quả nghiên cứu

Trang 13

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁN BỘ, CÔNG CHỨC CẤP XÃ

1.1 Những lý luận cơ bản về vai trò của cán bộ, công chức cấp xã

1.1.1 Tổng quan về cán bộ, công chức

1.1.1.1 Khái niệm về cán bộ, công chức

- Theo Từ điển tiếng Việt của Nhà xuất bản Đà Nẵng - Trung tâm Từ điển học 1998, Cán bộ có hai nghĩa: "1 Người làm công tác có nghiệp vụ chuyên môn trong cơ quan Nhà nước; 2 Người làm công tác có chức vụ trong một cơ quan, một tổ chức phân biệt với người thường không có chức vụ" [Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng, năm 1998]

Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Cán bộ là người đem chính sách của Đảng,

Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi hành, đồng thời đem tình hình dân chúng báo cáo cho Đảng, Chính phủ hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”

[Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Sự thật, Hà Nội 1995, t.5, tr.269]

- Công chức ở Việt Nam được hình thành và là tên gọi (danh từ) theo quy định của Sắc lệnh 76/SL, ngày 20/5/1950

Theo Nghị định 169/HĐBT ngày 25/5/1991 thì công chức được hiểu là:

"công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của Nhà nước ở Trung ương hay địa phương; ở trong nước hay ngoài nước; đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách Nhà nước cấp gọi là công chức Nhà nước"

Một khái niệm cán bộ, công chức mang tính pháp lý cao nhất là khái niệm trong Luật cán bộ, công chức năm 2008, có hiệu lực 01/01/2010 quy định rõ:

- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức

vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở cấp tỉnh, cấp huyện, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước

Trang 14

- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật

1.1.1.2 Vai trò và nhiệm vụ của cán bộ, công chức

Cán bộ, công chức có một vị trí, vai trò rất quan trọng, là chủ thể thực thi pháp luật để quản lý mọi mặt của đời sống, xã hội nhằm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ mà nhà nước đề ra; giữ gìn trật tự, kỷ cương xã hội, đấu tranh, ngăn chặn, phòng ngừa, xử lý các vi phạm pháp luật và tội phạm, bảo vệ các lợi ích của tầng lớp nhân dân lao động, điều hành các hoạt động kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước Đội ngũ cán bộ, công chức sẽ quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp

và hiệu lực quản lý nhà nước được thực hiện bởi số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, công chức, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ dẫn "Cán bộ nào thì phong trào ấy"

Với những vai trò quan trọng nêu trên, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã quy định cán bộ, công chức phải có trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ, nghĩa vụ cụ thể như sau:

* Nghĩa vụ của cán bộ, công chức đối với Đảng, Nhà nước và nhân dân:

- Trung thành với Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ

nghĩa Việt Nam; bảo vệ danh dự Tổ quốc và lợi ích quốc gia

Trang 15

- Tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân

- Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân

dân

- Chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và

pháp luật của Nhà nước

* Nghĩa vụ của cán bộ, công chức trong thi hành công vụ:

- Thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ,

quyền hạn được giao

- Có ý thức tổ chức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ

quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước

- Chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết

trong cơ quan, tổ chức, đơn vị

- Bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao

- Chấp hành quyết định của cấp trên Khi có căn cứ cho rằng quyết định đó

là trái pháp luật thì phải kịp thời báo cáo bằng văn bản với người ra quyết định;

trường hợp người ra quyết định vẫn quyết định việc thi hành thì phải có văn bản

và người thi hành phải chấp hành nhưng không chịu trách nhiệm về hậu quả của việc thi hành, đồng thời báo cáo cấp trên trực tiếp của người ra quyết định Người ra quyết định phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

* Đối với cán bộ, công chức là người đứng đầu đơn vị, địa phương thì ngoài

việc thực hiện các nghĩa vụ nêu trên còn phải thực hiện các nghĩa vụ cụ thể sau đây:

- Chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết

quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức;

Trang 16

- Tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống quan liêu, tham nhũng, thực

hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về việc để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

- Tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về dân chủ cơ sở, văn hóa

công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân;

- Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật, theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ

quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của cá nhân, tổ chức;

- Các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật

1.1.2 Tổng quan về cán bộ, công chức cấp xã

1.1.2.1 Khái niệm về cán bộ, công chức cấp xã

Cán bộ cấp xã là công dân Việt Nam, được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm

kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc

Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước Luật cán bộ, công chức đã phân biệt khái niệm rõ ràng về cán bộ, công chức nói chung và cán bộ, công chức cấp xã nói riêng

1.1.2.2 Vai trò và nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã

Cấp xã là một đơn vị cấp hành chính cuối cùng trong bốn cấp của hệ thống quản lý hành chính, là cấp thấp nhất theo sự phân cấp quản lý nhưng thấp nhất không đồng nghĩa với ít quan trọng nhất Do vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ xã là nhiệm vụ rất quan trọng Có thể đánh giá vị trí, vai trò của cán bộ cấp xã trên một số khía cạnh sau:

- Đội ngũ cán bộ xã là người giữ vai trò quyết định trong việc hiện thực hoá

sự lãnh đạo và quản lý của Đảng và Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế -

xã hội ở cơ sở

Trang 17

- Đội ngũ cán bộ xã là người giữ vai trò quyết định trong việc quán triệt, tổ chức thực hiện mọi quyết định của cấp uỷ cấp trên, cấp uỷ cùng cấp và mọi chủ trương, kế hoạch, sự chỉ đạo của chính quyền cấp trên, cũng như mọi chương trình, kế hoạch của chính quyền xã

- Cán bộ xã là cầu nối quan trọng nhất giữa Đảng, nhà nước với nhân dân

- Đội ngũ cán bộ xã giữ vai trò quyết định trong việc xây dựng và thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng ở cơ sở

Theo quy định tại Điều 62 – Luật cán bộ, công chức thì cán bộ, công chức

cấp xã đều phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, quyền quy định tại Luật này, quy

định khác của pháp luật có liên quan, điều lệ của tổ chức mà mình là thành viên

1.1.2.3 Một số quy định khác về cán bộ, công chức cấp xã

Trên cơ sở những quy định của Luật cán bộ, công chức ngày 22/10/2009, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với (cán bộ, công chức) CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 và thay thế Nghị định số 121/2003/NĐ-CP

* Về chức vụ, chức danh:

a) Cán bộ cấp xã có các chức vụ sau đây:

- Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

Trang 18

b) Công chức cấp xã có các chức danh sau đây:

- Trưởng Công an;

- Chỉ huy trưởng Quân sự;

và các yếu tố đặc thù)

Cụ thể:

- Xã loại 1: Công chức bố trí không quá 25 người;

- Xã loại 2: Công chức bố trí không quá 23 người;

- Xã loại 3: Công chức bố trí không quá 21 người

Số lượng cán bộ, công chức quy định trên bao gồm cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã

Về số lượng, những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, đối với cấp xã loại 1 được bố trí tối đa không quá 22 người, loại 2 không quá 20 người

và loại 3 không quá 19 người

* Về chế độ, chính sách

Trang 19

a) Đối với cán bộ:

- Xếp lương đối với cán bộ cấp xã, Nghị định 92/2009/NĐ-CP tách riêng mức lương đối với cán bộ đã tốt nghiệp trình độ đào tạo chuyên môn và cán bộ chưa qua đào tạo Theo quy định này, mức lương tối thiểu đối với cán bộ xã sẽ cao hơn trước (theo Nghị định cũ, hệ số lương từ 1,7 - 2,0), cụ thể:

+ Cán bộ có trình độ sơ cấp hoặc chưa đào tạo trình độ chuyên môn, nghiệp

vụ thực hiện xếp lương chức vụ theo hệ số lương bậc 1 từ 1,75 - 2,35 Nếu có thời gian hưởng lương bậc 1 là 5 năm, hoàn thành nhiệm vụ, không bị kỷ luật thì được xếp lương lên bậc 2 với hệ số lương từ 2,25 - 2,85 (tùy theo chức vụ đảm nhiệm)

Bảng 1.1 Quy định hệ số lương đối với cán bộ chưa qua đào tạo

- Chủ tịch Hội đồng nhân dân

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân

2,15 2,65

3

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

- Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

1,95 2,45

4

- Bí thư Đoàn TN Cộng sản Hồ Chí Minh

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ

- Chủ tịch Hội Nông dân

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh

1,75 2,25

+ Cán bộ cấp xã đã được đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ từ trung cấp trở lên thực hiện xếp lương như công chức hành chính Ngoài ra, còn được hưởng phụ cấp chức vụ lãnh đạo so với mức lương tối thiểu chung từ 0,15 - 0,3 (tùy theo chức vụ):

Trang 20

Bảng 1.2 Quy định hệ số phụ cấp chức vụ lãnh đạo đối với cán bộ đã có

trình độ đào tạo nghiệp vụ

1 Bí thư đảng uỷ 0,30

2

- Phó Bí thư đảng uỷ

- Chủ tịch Hội đồng nhân dân

- Chủ tịch Ủy ban nhân dân

0,25

3

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc

- Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân

- Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân

0,20

4

- Bí thư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ

- Chủ tịch Hội Nông dân

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh

0,15

Bên cạnh đó cán bộ cấp xã còn được hưởng chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung theo quy định tại khoản 1, Điều 6, Nghị định 204/2004/NĐ-CP; hưởng phụ cấp theo loại đơn vị hành chính cấp xã tính theo % (cán bộ cấp xã loại 1 hưởng mức phụ cấp 10%; cán bộ cấp xã loại 2 hưởng mức phụ cấp 5%) trên mức lương hiện hưởng, cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có); hưởng phụ cấp kiêm nhiệm bằng 20% mức lương hiện hưởng cộng phụ cấp chức vụ lãnh đạo, phụ cấp thâm niên vượt khung và hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có)

Trường hợp cán bộ cấp xã là người đang hưởng chế độ hưu trí hoặc trợ cấp mất sức lao động, ngoài lương hưu hoặc trợ cấp mất sức lao động hiện hưởng, hàng tháng được hưởng 90% mức lương bậc 1 của chức danh hiện đảm nhiệm và không phải đóng BHXH, BHYT (trước đây, chỉ được hưởng 40% lương chức danh)

Trang 21

b) Đối với công chức:

Công chức cấp xã tốt nghiệp trình độ đào tạo từ sơ cấp trở lên phù hợp với chuyên môn của chức danh đảm nhiệm, thực hiện xếp lương như công chức hành chính và được thực hiện chế độ phụ cấp thâm niên vượt khung

Những người hiện đang đảm nhiệm chức danh công chức cấp xã chưa tốt nghiệp đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định thì hưởng lương bằng 1,18

so với mức lương tối thiểu chung (quy định cũ là 1,09)

1.2 Mục tiêu, nhiệm vụ và yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp

xã hiện nay

1.2.1 Mục tiêu, nhiệm vụ của cán bộ, công chức cấp xã

- Mục tiêu chung: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nhằm tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức đồng bộ, có số lượng, cơ cấu hợp lý, có phẩm chất chính trị đạo đức, lối sống tốt; có trình độ và năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ chính trị ở cơ sở trong từng giai đoạn cách mạng

- Mục tiêu cụ thể:

Một là: Tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có số lượng, cơ cấu hợp lý:

+ Tính hợp lý trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã biểu hiện

ở việc tinh giản biên chế một cách tối ưu, đảm bảo gọn nhẹ, hoạt động có chất lượng, trong đó mỗi cá nhân cán bộ, công chức phát huy được hết năng lực, sở trường của mình, có thể đảm đương tốt nhiệm vụ được giao, đảm bảo cho bộ máy hoạt động thông suốt và hiệu quả Tính hợp lý còn biểu hiện ở chỗ số lượng cán

bộ, công chức không qúa đông, nếu không sẽ gây dư thừa, lãng phí nguồn nhân lực, đồng thời cũng không quá ít, vì nó tạo ra sức ép lớn trong công việc, gây ra sự mệt mỏi, căng thẳng trong cán bộ, công chức

+ Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã sẽ tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có cơ cấu hợp lý, đó là sự cân đối giữa các thành phần dân tộc, giai cấp, nghề nghiệp, giới tính, độ tuổi; sự hợp lý đó sẽ tạo nên sức mạnh tổng

Trang 22

hợp, tính năng động, phối hợp nhịp nhàng, hài hòa và sự kế thừa, phát triển trong đội ngũ cán bộ, công chức; đặc biệt hiện nay với chủ trương của Đảng và Nhà nước là tăng tỷ lệ trẻ, tỷ lệ nữ trong đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã, thì công tác này sẽ biến chủ trương đó thành kết quả trong thực tế

Hai là: Tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống tốt:

+ Về phẩm chất chính trị: Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có lòng yêu nước sâu sắc, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, quyết tâm tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới Có bản lĩnh chính trị vững vàng, không dao động trước những khó khăn, thách thức và những biến động của tình hình thế giới và trong nước Có ý thức giữ vững và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước Kiên quyết đấu tranh chống các quan điểm lệch lạc, sai trái của các thế lực thù địch

+ Về phẩm chất đạo đức, lối sống:

Có đạo đức cách mạng thì cán bộ, công chức mới có khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, mới được nhân dân tin yêu và giúp đỡ, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Cũng như sông thì có nguồn, mới có nước, không có nguồn thì cạn; cây phải có gốc, không có gốc thì cây héo; người cách mạng phải

có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” Tuy nhiên, trong thời gian qua tình trạng suy thoái về đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ, công chức diễn ra nghiêm trọng, làm giảm sút lòng tin của nhân dân, Đảng ta đánh giá: “Đó là một nguy cơ lớn liên quan đến sự sống còn của Đảng, của chế độ’’ Vì vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức không thể không chú ý về đạo đức, lối sống Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có phẩm chất, đạo đức tốt phải đáp ứng được yêu cầu:

Trang 23

Có tinh thần trách nhiệm cao, gương mẫu, đi đầu trong công tác; xử lý hài hòa các lợi ích, đặt lợi ích của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết Liên hệ mật thiết với nhân dân, tôn trọng và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân Có lối sống trong sạch, lành mạnh, có kỷ cương, kỷ luật Không quan liêu, tham nhũng, lãng phí và kiên quyết đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực khác

Ba là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã còn tạo ra một đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ năng lực chuyên môn:

Cán bộ, công chức có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt mà không có năng lực thì trong quá trình thực hiện nhiệm vụ sẽ gặp rất nhiều khó khăn, thậm chí thất bại, như V.I.Lênin đã đề cập: “Chỉ dựa vào tinh thần xung kích, vào tinh thần phấn khởi và nhiệt tình không thôi, thì không thể làm được cái gì cả” và Lênin cũng cho rằng: “Lòng trung thành được kết hợp với năng lực hiểu biết về con người, về năng lực giải quyết những vấn đề tổ chức, thì chỉ có lòng trung thành

đó mới có thể rèn luyện ra những tổ chức lớn”

Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, bên cạnh những đòi hỏi về đạo đức cách mạng, Người còn chú trọng đến việc nâng cao trình độ năng lực đối với cán bộ, công chức, Người đã nói: “Năng lực của con người không phải hoàn toàn tự nhiên mà có, mà phần lớn do công tác, do luyện tập mà có” Như vậy, năng lực không phải là phẩm chất bẩm sinh, mà phải thông qua một quá trình rèn luyện, phấn đấu trong học tập, đặc biệt trong hoạt động thực tiễn

Vì vậy, bên cạnh những yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống thì xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải tạo ra được đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã có trình độ, năng lực tư duy lý luận và năng lực tổ chức thực tiễn, đó là:

+ Trình độ đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã về học vấn, chuyên môn nghiệp

vụ, lý luận chính trị và các kiến thức bổ trợ phải đáp ứng được tiêu chuẩn đặt ra đối với từng loại cán bộ, công chức cấp xã

Trang 24

+ Về năng lực tư duy lý luận: Đòi hỏi cán bộ, công chức cấp xã phải đáp ứng được yêu cầu phát hiện, nhận thức đúng đắn, nhanh nhạy các vấn đề thực tiễn ở

cơ sở dưới góc độ lý luận, quản lý Đồng thời, có những đề xuất, kiến nghị sắc bén, khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ở

cơ sở

+ Về năng lực tổ chức thực tiễn: Năng lực này là những hiểu biết, những kỹ năng và các phẩm chất tâm - sinh lý của chủ thế quản lý bảo đảm cho việc tổ chức thực tiễn đạt hiệu quả Như vậy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực tổ chức thực tiễn phải đảm bảo cho đội ngũ này đáp ứng những yếu tố sau:

* Phải có những hiểu biết: Đó là sự hiểu biết về chức năng, nhiệm vụ mà họ đang công tác; về chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; về con người, kinh tế - xã hội của địa phương; về khoa học quản lý

* Phải có những kỹ năng: Đó là kỹ năng cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước thành những quyết định phù hợp

Kỹ năng phổ biến và tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đến với quần chúng nhân dân Kỹ năng tổ chức thực hiện để biến những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trở thành hiện thực ở địa phương

* Phải có được các phẩm chất tâm - sinh lý:

 Trí tuệ mềm dẻo và linh hoạt: Giúp cho cán bộ, công chức có khả năng phân tích, xử lý các tình huống một cách chính xác, kịp thời và dễ thích nghi với những biến đổi của môi trường kinh tế - xã hội ở địa phương

 Khả năng quan sát: Giúp cán bộ, công chức có cài nhìn tổng quát, toàn diện, cụ thể, chi tiết về một vấn đề nào đó; giải quyết tốt các tình huống, mâu thuẫn nảy sinh, những mối quan hệ phức tạp trong công việc để đảm bảo sự hài hòa, thống nhất ở địa phương; đồng thời, giúp họ bố trí, sắp xếp cán bộ dưới quyền hợp lý, chọn đúng người, giao đúng việc, bảo đảm sự đoàn kết nhất trí trong nội bộ;

Trang 25

 Sáng tạo, năng động: giúp cán bộ, công chức có những sáng kiến trong công tác Đồng thời, sự sáng tạo, năng động thôi thúc đội ngũ cán bộ, công chức tìm ra những cách thức và biện pháp làm việc mới mang lại hiệu quả cao hơn;

 Tính quyết đoán: Giúp cán bộ, công chức cấp xã vượt qua những thử thách, khó khăn để thực hiện những mục tiêu do tập thể đặt ra Nhờ có phẩm chất này mà người cán bộ, công chức quyết tâm không chùn bước, dao động trước những khó khăn, trở ngại trên con đường tiến tới mục tiêu; họ sẽ làm cho nhân dân phục tùng và tập trung được sức mạnh của tập thể;

 Khả năng thuyết phục và lôi cuốn quần chúng: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng nhân dân, đòi hỏi đội ngũ cán bộ, công chức phải có khả năng này để huy động được sức mạnh của toàn dân vào việc thực hiện mục tiêu xây dựng và phát triển quê hương, đất nước

1.2.2 Yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã

Việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải được tiến hành trên các mặt một cách đồng bộ Đó là các lĩnh vực về trình độ văn hóa, trình độ nghiệp vụ chuyên môn, phẩm chất chính trị tư tưởng, đạo đức cách mạng, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, năng lực lãnh đạo quản lý, tổ chức và điều hành

Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã tỉnh Hòa Bình phải quán triệt quan điểm giai cấp công nhân của Đảng, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết dân tộc Đây là vấn đề có tính nguyên tắc

Đảng là đội quân tiên phong của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động

và toàn thể dân tộc Đảng phải xây dựng đội ngũ cán bộ theo quan điểm của giai cấp công nhân, phải thường xuyên giáo dục lập trường, quan điểm giai cấp công nhân cho đội ngũ cán bộ, đồng thời phải tăng cường bổ sung vào đội ngũ CBCC cấp xã những cán bộ xuất thân từ giai cấp công nhân

Thường xuyên quan tâm đến việc xây dựng tổ chức cơ sở Đảng cấp xã vững mạnh Vì tổ chức đảng là hạt nhân lãnh đạo chính trị ở cơ sở Ở đâu tổ chức đảng

Trang 26

vững mạnh thì ở đó các hoạt động của các cơ quan chính quyền, các tổ chức chính trị, xã hội phát huy tốt sức mạnh của mình Dưới sự lãnh đạo của tổ chức đảng, huy động được sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân tham gia tích cực các phong trào thi đua thực hiện mục tiêu kế hoạch phát triển kinh tế

- xã hội tại địa phương cơ sở

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã phải chú ý đến tính đồng bộ, toàn diện, nhưng đồng thời phải có trọng tâm, trọng điểm Trước hết là phải đồng bộ về chất lượng giữa cán bộ các tổ chức của Đảng, khối chính quyền, khối đoàn thể Cán bộ, công chức phải được trang bị kiến thức đồng bộ cả về chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và cả các kiến thức cơ bản khác làm điều kiện

“cần” của từng chức danh để thực hiện nhiệm vụ được giao đáp ưng yêu cầu tiêu chuẩn qui định

Trong thời kỳ cách mạng mới đội ngũ cán bộ, công chức cần thường xuyên bồi dưỡng về quan điểm, đường lối chính trị của Đảng theo chỉ đạo của cơ quan đảng cấp trên nhằm củng cố và nâng cao bản lĩnh chính trị của giai cấp công nhân, tư tưởng đạo đức cách mạng của Đảng, nâng cao trình độ học vấn, kiến thức chuyên môn, năng lực tổ chức, điều hành công việc Muốn làm được như vậy, yêu cầu người CBCC phải là người có văn hoá

Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã cần phải có sự phối hợp đồng bộ giữa các khâu của quá trình quản lý Bắt đầu từ việc xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ cán bộ công chức cấp xã của tỉnh trong 5 năm và kế hoạch thực hiện hàng năm Để hiện thực hóa quy họach và kế hoạch nêu trên trong thực tế, trước tiên cần có sự thống nhất về nhận thức cao, được quan triệt từ tỉnh đến cơ sở về phương hướng, kế hoạch này trong các tổ chức của Đảng, các tổ chức chính trị xã hội Từ đó ở các địa phương thực hiện một cách thống nhất từ khâu tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng gắn chặt chẽ với bố trí

sử dụng, thực hiện tốt chính sách, chế độ đối với toàn thể CBCC Quản lý chặt chẽ đội ngũ CBCC bằng cách giao việc, tổ chức kiểm tra định kỳ việc thực hiện

Trang 27

nhiệm vụ được giao Thực hiện sơ kết quý, 6 tháng và tổng kết cuối năm nhằm tuyên dương, khen thưởng những CBCC có thành tích suất sắc Đồng thời thi hành kỷ luật nghiêm đối với CBCC vi phạm nội quy cơ quan và vi phạm pháp luật Có như vậy mới bảo vệ được đội ngũ CBCC khỏi bị thoái hóa bởi những

mặt trái của cơ chế thị trường

1.2.3 Vai trò và tầm quan trọng của cán bộ, công chức cấp xã hiện nay

Công chức cấp xã có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong quá trình hoạt động quản lý hành chính nhà nước trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá,

xã hội, an ninh, quốc phòng, trật tự và an toàn xã hội ở địa phương theo quy định của pháp luật, đảm bảo thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đi vào cuộc sống

Hoạt động của đội ngũ công chức cấp xã trong quá trình thực thi công vụ ảnh hưởng lớn tới tính hiệu lực, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, đảm bảo sự phát triển bền vững ở địa phương

1.2.4 Nội dung công tác quản lý cán bộ công chức cấp xã

* Công tác quy hoạch:

Trong những năm gần đây, công tác quy hoạch cán bộ quản lý xã, phường, thị trấn được quan tâm, chú trọng thực hiện Căn cứ hướng dẫn của Ban Tổ chức Trung ương, Ban Tổ chức Tỉnh ủy, các huyện, thành ủy hướng dẫn, đôn đốc các

xã, phường, thị trấn trong tỉnh tiến hành xây dựng quy hoạch nhiệm kỳ 5 năm và

rà soát, bổ sung quy hoạch cán bộ cấp xã hàng năm

Năm 2012 - năm thứ hai của nhiệm kỳ đại hội đảng bộ tỉnh, các huyện, thành

ủy chỉ đạo cấp ủy cấp xã xây dựng quy hoạch cán bộ cho nhiệm kỳ 2015-2020

và các nhiệm kỳ tiếp theo Ban chấp hành đảng bộ xã có thẩm quyền xây dựng quy hoạch và báo cáo Ban thường vụ cấp ủy huyện phê duyệt: quy hoạch ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy cấp xã, các chức danh cán bộ diện ban thường

vụ cấp ủy huyện, thành phố quản lý như: bí thư, phó bí thư đảng ủy; chủ tịch,

Trang 28

phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã đồng thời quyết định quy hoạch các chức danh thuộc diện cấp ủy cấp xã quản lý như: cấp trưởng, cấp phó của các ban, ngành, MTTQ, công an, quân sự, đoàn thể cấp xã và các chức danh khác

* Quy trình xây dựng quy hoạch cán bộ cấp xã thực hiện như sau:

a) Chuẩn bị xây dựng quy hoạch

Trước khi thực hiện quy trình quy hoạch, Ban chấp hành đảng bộ xã tiến hành các công việc sau đây:

- Rà soát, đánh giá đội ngũ cán bộ và đánh giá cán bộ:

+ Rà soát đội ngũ cán bộ về chất lượng, số lượng, cơ cấu, nhất là cơ cấu ngành nghề, độ tuổi, cán bộ xuất thân từ công nhân, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc ít người

+ Đánh giá cán bộ diện Ban thường vụ cấp huyện, thành phố quản lý theo các nội dung (lấy từ kế hoạch rà soát quy hoạch cán bộ của Sở Nội vụ)

+ Trên cơ sở yêu cầu xây dựng quy hoạch và tiêu chuẩn cán bộ đưa vào quy hoạch tiến hành phân loại cán bộ theo chiều hướng phát triển: cán bộ có triển vọng đảm nhận chức vụ cao hơn; cán bộ tiếp tục giữ chức vụ đương nhiệm; cán

bộ cần đào tạo, bồi dưỡng thêm; cán bộ không đủ điều kiện giữ chức vụ hiện tại trong khóa tới (về độ tuổi, trình độ, năng lực, uy tín )

- Xác định phương án xây dựng cấp ủy cấp xã khóa tới và cụ thể hóa tiêu chuẩn cán bộ:

+ Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị xác định phương án xây dựng cấp ủy khóa tới, phù hợp với yêu cầu lãnh đạo nhiệm vụ xây dựng Đảng, phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của địa phương; phấn đấu giảm độ tuổi bình quân, tăng tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ dân tộc ít người

+ Căn cứ vào tiêu chuẩn chung của cán bộ, nhiệm vụ, đặc điểm của từng địa phương và tình hình đội ngũ cán bộ để xác định tiêu chuẩn cụ thể của từng chức danh, cơ cấu, số lượng đưa vào quy hoạch

Trang 29

+ Khuyến khích đảm bảo cơ cấu 3 độ tuổi trong quy hoạch, người được quy hoạch vào các chức danh bí thư, phó bí thư đảng ủy, chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã khi được bố trí vào các chức danh quy hoạch còn đủ tuổi công tác ít nhất trọn một nhiệm kỳ trở lên; người được quy hoạch vào các chức danh cấp trưởng, cấp phó của các ban, ngành, MTTQ, công an, quân sự, đoàn thể cấp xã và các chức danh khác phải đảm bảo khi được bố trí vào các chức danh quy hoạch còn đủ tuổi công tác ít nhất trọng 2 nhiệm kỳ trở lên Tuy nhiên, có thể vận dụng cho phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cơ sở

b) Các bước tiến hành quy hoạch

Ban chấp hành đảng bộ cấp xã rà soát, lập danh sách nhân sự có triển vọng

dự kiến đưa vào nguồn quy hoạch ban chấp hành, ban thường vụ cấp ủy cấp xã, các chức danh cán bộ diện ban thường vụ cấp ủy huyện, thành phố quản lý như:

bí thư, phó bí thư đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND cấp xã; các chức danh thuộc diện cấp ủy cấp xã quản lý như: cấp trưởng, cấp phó của các ban, ngành, MTTQ, công an, quân sự, đoàn thể cấp xã Các thông tin cơ bản gồm: họ và tên, ngày tháng năm sinh, năm vào Đảng, chức vụ, ngạch bậc công chức, đơn vị công tác, trình độ chuyên môn, trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học

Bước 1: Phát hiện, giới thiệu nguồn:

- Hội nghị cán bộ chủ chốt giới thiệu:

+ Thành phần: Tập thể Đảng ủy, toàn thể cán bộ, công chức cấp xã, bí thư chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở; trưởng thôn, bản, khu dân cư

+ Nội dung: Bỏ phiếu giới thiệu nguồn quy hoạch ban chấp hành, Ban thường vụ, bí thư, phó bí thư đảng ủy; chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên thường trực HĐND, UBND cấp xã; cấp trưởng, cấp phó của các ban, ngành, MTTQ, công an, quân sự, đoàn thể cấp xã

+ Trình tự:

Trang 30

 Ban chấp hành đảng bộ xã chủ trì, quán triệt mục đích, yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ cấu nguồn quy hoạch vào các chức danh

 Bộ phận giúp việc Ban chấp hành đảng bộ xã phát danh sách nhân sự có triển vọng, dự kiến nguồn đưa vào quy hoạch kèm theo thông tin về cán bộ Các đồng chí tham dự hội nghị có thể giới thiệu thêm nguồn quy hoạch ngoài danh sách đã được chuẩn bị

 Các đại biểu dành thời gian nghiên cứu, xem xét, viết phiếu, bỏ phiếu giới thiệu; Đảng ủy thu phiếu, kiểm phiếu

(2) Các đồng chí ủy viên ban chấp hành đảng bộ cấp xã phát hiện giới thiệu nguồn quy hoạch:

- Người thay thế cương vị mình (từ 2-3 người)

- Nguồn quy hoạch ban chấp hành, ban thường vụ và các chức danh cán bộ lãnh đạo

(3) Tổng hợp kết quả phát hiện, giới thiệu nguồn, thống nhất phương án và danh sách nhân sự dự kiến đưa vào ban chấp hành, ban thường vụ và các chức danh cán bộ quy hoạch

Bước 2: Tổ chức lấy ý kiến ban chấp hành đảng bộ

Hội nghị ban chấp hành đảng bộ cấp xã nghiên cứu các phương án quy hoạch

do ban thường vụ chuẩn bị, phân tích về chất lượng, cơ cấu đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, tham khảo các thông tin về cán bộ, tiêu chuẩn chức danh cán bộ, kết quả giới thiệu quy hoạch đối với nhân sự; trên cơ sở đó các ủy viên ban chấp hành ghi phiếu giới thiệu quy hoạch ban chấp hành, ban thường vụ và các chức danh cán bộ

Bước 3: Tổ chức hội nghị ban thường vụ thảo luận, quyết định quy hoạch

Trên cơ sở kết quả giới thiệu ở bước 1, bước 2, ban thường vụ cấp ủy xã thảo luận, phát hiện, giới thiệu bổ sung nguồn quy hoạch; lập danh sách và bỏ phiếu giới thiệu nguồn quy hoạch các chức danh: ủy viên ban chấp hành, ủy viên ban

Trang 31

thường vụ, bí thư, phó bí thư cấp ủy xã; chủ tịch, phó chủ tịch HĐND, UBND,

ủy viên thường trực HĐND cấp xã

Tại hội nghị này ban thường vụ cấp ủy xã có thể giới thiệu cán bộ có trong quy hoạch ở nơi khác vào quy hoạch ban chấp hành; ban thường vụ và các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý của địa phương mình Những người được trên 50% tổng số ủy viên ban thường vụ đương nhiệm giới thiệu được đưa vào danh sách quy hoạch

* Công tác tuyển dụng, bố trí , sử dụng

- Tuyển dụng cán bộ, công chức cấp xã

- Việc tổ chức bầu cử các chức vụ Chủ tịch, Phó Chủ tịch HĐND; Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND thực hiện theo quy định của Luật bầu cử đại biểu HĐND, Luật tổ chức HĐND và UBND Thời gian qua, các huyện, thành phố tổ chức tuyển dụng các chức danh công chức cấp xã thông qua hình thức, thi tuyển hoặc xét tuyển, để bổ sung, thay thế khi có chức danh công chức bị thiếu, khuyết do điều động, bổ nhiệm ở chức vụ cao hơn, thuyên chuyển hoặc thiếu hụt do cơ học Công tác xét tuyển được tiến hành công khai, minh bạch đúng quy trình, quy định

- Việc tuyển dụng công chức thực hiện theo quy định của Luật cán bộ, công chức năm 2008; Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn; Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn; và Quy chế tổ chức tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn của UBND tỉnh

* Bố trí, sử dụng cán bộ, công chức cấp xã

Việc sử dụng cán bộ, công chức cấp xã được thực hiện theo quy định của Nghị định 92/2009/NĐ-CP của Chính phủ gồm các chức danh sau:

- Các chức danh cán bộ

a) Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy;

b) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;

Trang 32

c) Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

d) Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

đ) Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

e) Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

g) Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phường, thị trấn có hoạt động nông, lâm, ngư, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam); h) Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam

- Các chức danh Công chức

a) Trưởng Công an;

b) Chỉ huy trưởng Quân sự;

g) Văn hóa – xã hội

*Số lượng cán bộ, công chức cấp xã được bố trí theo loại đơn vị hành chính cấp xã; cụ thể như sau:

a) Cấp xã loại 1: không quá 25 người;

b) Cấp xã loại 2: không quá 23 người;

b) Cấp xã loại 3: không quá 21 người;

Việc xếp loại đơn vị hành chính cấp xã thực hiện theo quy định tại Nghị định số 159/2005/NĐ-CP ngày 27 tháng 12 năm 2005 của Chính phủ về việc phân loại đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn

Số lượng cán bộ, công chức cấp xã quy định tại nghị định này bao gồm

cả cán bộ, công chức được luân chuyển, điều động, biệt phái về cấp xã

- Chế độ đãi ngộ: Thực hiện chế độ chính sách và các chế độ đãi ngộ khác theo nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính phủ về chức danh, số

Trang 33

lượng, một số chế độ chính sáchđối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách

1.2.5 Kinh nghiệm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã (các địa phương trong nước)

* Kinh nghiệm của tỉnh Thanh Hóa:

Để nâng cao chất lượng cán bộ, công chức cấp xã trong giai đoạn hiện nay, cần tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền cơ sở trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã mang tính chiến lược, kế hoạch “dài hơi”, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ hiện có, chú trọng tạo nguồn để bổ sung vào bộ máy cấp ủy, chính quyền cơ sở Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng cán bộ theo từng nhóm chức danh, làm cơ sở cho việc sắp xếp bố trí và xây dựng quy hoạch,

kế hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ theo quy hoạch và nhu cầu Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, bồi dưỡng, khuyến khích cán bộ, công chức tự học, tự đào tạo

để nâng cao trình độ, nhất là đối với cán bộ, công chức trẻ, có triển vọng Trẻ hóa đội ngũ cán bộ ở cơ sở, ưu tiên tuyển dụng công chức xã là người ở địa phương, con em dân tộc trên địa bàn có trình độ chuyên môn cao, tình nguyện về công tác tại địa phương Xây dựng kế hoạch luân chuyển, tăng cường cán bộ tỉnh, huyện về những cơ sở còn yếu kém hoặc có nhiều cán bộ chưa được đào tạo

về chuyên môn, nghiệp vụ để tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ này đi đào tạo Cần có chính sách, cơ chế cụ thể, đồng bộ trong việc tạo nguồn cán bộ cơ sở tại chỗ và thu hút cán bộ trẻ có trình độ bậc đại học chính quy, có chuyên ngành phù hợp về công tác ở vùng dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Nâng cao chất lượng và hiệu quả quản lý công tác đào tạo, bồi dưỡng, lựa chọn các trường, các trung tâm đào tạo bảo đảm về chất lượng Ưu tiên bố trí ngân sách cho công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã Bảo đảm nguồn kinh phí đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp xã theo phân cấp, đồng thời tranh thủ các nguồn ngân sách của Trung ương, các chương trình, dự án ở trong

và ngoài nước nhằm đáp ứng yêu cầu công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công

Trang 34

chức cấp xã trong thời điểm hiện tại và những năm về sau Chính quyền cấp xã

có vai trò hết sức quan trọng, là cánh tay nối dài của Trung ương và tỉnh tại cơ

sở, là nơi gần dân và sát dân nhất Chính quyền cấp xã là nơi trực tiếp đưa chủ trương, chính sách, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến với dân, đồng thời cũng là nơi trực tiếp lắng nghe những tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người dân đối với Đảng và Nhà nước

* Kinh nghiệm của tỉnh Tây Ninh:

Nhằm thực hiện đồng bộ các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chương trình hành động của trung ương, của tỉnh về đổi mới, nâng cao chất lượng hệ thống chính trị ở cơ sở nói chung và tập trung thực hiện nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã nói riêng, UBND tỉnh Tây Ninh đã chỉ đạo, triển khai những giải pháp sau:

- Tiến hành thống kê, rà soát, sắp xếp bố trí lại đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã theo tiêu chuẩn chức danh; công khai danh sách cán bộ, công chức cấp xã không đạt tiêu chuẩn và không đủ điều kiện để tiếp tục đào tạo UBND cấp huyện xem xét việc giải quyết chế độ theo quy định

- Kiên quyết thực hiện chế độ, chính sách tinh giản biên chế của Chính phủ, của tỉnh đối với cán bộ chuyên trách, công chức cấp xã không đạt chuẩn, sức khoẻ hạn chế, năng lực, trình độ yếu kém, dôi dư do sắp xếp…

- Công tác quy hoạch cán bộ hàng năm phải gắn với kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng và tuyển dụng cán bộ, công chức cấp xã; có điều chỉnh, bổ sung kịp thời cán bộ trong diện quy hoạch, đáp ứng nhu cầu bố trí cán bộ trong nhiệm kỳ và nhiệm kỳ kế tiếp, chuẩn bị nguồn cán bộ chủ chốt kế cận và thay thế số cán bộ, công chức không đạt chuẩn

- Thông báo công khai, rộng rãi việc tuyển dụng sinh viên tình nguyện, tạo nguồn, con cán bộ, diện chính sách được đào tạo trình độ từ trung cấp chuyên môn nghiệp vụ trở lên… để bổ sung các chức danh còn thiếu và thay thế số cán bộ, công chức không đạt tiêu chuẩn Ưu tiên tuyển chọn con cán bộ, diện chính sách, công

Trang 35

nhân, nông dân tốt tại địa phương đã tốt nghiệp trung học phổ thông có nguyện vọng vào làm việc tại xã để đào tạo xong bố trí ngay, phục vụ công tác lâu dài ở địa phương

- Tăng cường điều động, luân chuyển, biệt phái cán bộ, công chức cấp tỉnh, huyện, thị xã có năng lực, trình độ chuyên môn đến công tác có thời hạn hoặc lau dài tại cấp xã

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy hoạch của Nhà nước đối với hoạt động quản lý hành chính của cấp xã và các hoạt động công vụ của cán bộ, công chức cấp xã, nhất là những lĩnh vực về quản lý hành chính có liên quan trực tiếp tới người dân

- Tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở nhằm phát huy quyền làm chủ của cán bộ, công chức trong đơn vị và vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu của đơn vị, trách nhiệm công vụ, quy tắc ứng xử, đạo đức nghề nghiệp của từng cán bộ, công chức trong hoạt động quản lý hành chính ở địa phương

- Đầu tư nâng cấp trụ sở làm việc của UBND cấp xã, các cơ sở đào tạo trong tỉnh, bảo đảm đáp ứng đủ nơi làm việc, đủ nơi đào tạo, bồi dưỡng và thực hiện cung cấp đồng bộ các phương tiện, thiết bị cơ bản phục vụ công việc như: máy

vi tính, máy photocopy, máy in… từng bước đưa công nghệ thông tin vào công tác quản lý ở cơ sở

- Tổ chức triển khai và thực hiện đồng bộ, triệt để các giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng và tạo nguồn cán bộ giai đoạn 2006-2010 và định hướng đến năm

2020 theo Nghị quyết Tỉnh uỷ đề ra

- Áp dụng các hình thức đào tạo, bồi dưỡng dài hạn, ngắn hạn, định kỳ cho cán bộ chủ chốt, công chức chuyên môn để cập nhật những chính sách mới, kiến thức, kinh nghiệm công tác, giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ

* Kinh nghiệm của tỉnh Hưng Yên:

Tính đến tháng 2.2012, số cán bộ cấp xã của tỉnh Hưng Yên có 1.684 người, trong đó số đạt chuẩn theo quy định tại Quyết định 04/2004/QĐ-BNV, ngày 16-

Trang 36

01-2004 của Bộ Nội vụ chiếm 72,4%, công chức cấp xã có 1.419 người Đến tháng 5.2012, tổng số cán bộ không chuyên trách cấp xã có 3.223 người, thôn, khu phố 9.845 người, bảo vệ dân phố của các phường thuộc thành phố Hưng Yên 116 người Thực hiện chính sách đối với cán bộ cơ sở là nội dung quan trọng trong xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở, tác động trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị cơ sở, tác động đến tâm tư, nhiệt tình, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ Tỉnh Hưng Yên đã kiến nghị với Trung ương về chính sách đối với đội ngũ cán bộ không chuyên trách, về phụ cấp với bí thư, phó bí thư chi bộ thôn, khu phố, đồng thời quy định mức phụ cấp hàng tháng đối với cán bộ hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn, thôn, khu phố, mức hỗ trợ sinh hoạt phí với trưởng ban công tác mặt trận, phó bí thư chi

bộ, trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội và kinh phí hoạt động cho MTTQ và các đoàn thể chính trị - xã hội ở thôn, khu phố Các huyện, thành phố tập trung giải quyết những tồn tại về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức theo đúng quy định; thẩm định, thống nhất với Sở Nội vụ và ra quyết định xếp lương cho 753 cán bộ cấp xã có trình độ chuyên môn trung cấp trở lên vào ngạch công chức Nhằm bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cơ sở, tỉnh thực hiện

đề án thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về làm công chức dự bị tại

xã, phường, thị trấn Tính đến hết năm 2010, toàn tỉnh đã tuyển dụng và phân công công tác được 106 sinh viên Những người đã nhận công tác nhìn chung phát huy được năng lực, trình độ chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm, làm tốt nhiệm vụ được giao Hiện nay, tỉnh đang tiếp tục thực hiện giai đoạn 2 của đề án với nhiều chế độ ưu đãi hơn giai đoạn 1 như nâng mức trợ cấp thu hút một lần và mức trợ cấp sinh hoạt phí ngoài lương hiện hưởng trong 12 tháng kể từ ngày nhận công tác Cùng với quan tâm chế độ, chế sách, các cấp ủy đảng luôn quan tâm đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ cơ sở Từ năm 2002 đến nay, toàn tỉnh

đã mở 73 lớp trung cấp lý luận chính trị, trung cấp quản lý hành chính và các lớp nghiệp vụ chuyên ngành khác thu hút gần 6.800 học viên, trong đó học viên cơ

sở xã, phường, thị trấn chiếm 65% Toàn tỉnh mở hơn 2.900 lớp bồi dưỡng

Trang 37

nghiệp vụ công tác đảng, chính quyền và đoàn thể cơ sở cho gần 164 nghìn lượt cán bộ Công tác đào tạo, bồi dưỡng đã trang bị kiến thức, nâng cao nhận thức và năng lực công tác của đội ngũ cán bộ cơ sở Đến nay cơ bản các chức danh công chức xã đã đạt chuẩn về trình độ theo quy định của Bộ Nội vụ (chiếm 91%) Những việc làm trên giúp đội ngũ cán bộ, công chức, cán bộ không chuyên trách ở cơ sở có sự trưởng thành, bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, nghiệp vụ được nâng lên, kịp thời nắm bắt chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, tham mưu có hiệu quả trong lãnh đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền cơ sở, MTTQ và các đoàn thể nhân dân Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng được nâng cao Hoạt động của chính quyền, MTTQ, các đoàn thể chính trị - xã hội có nhiều chuyển biến Đó là yếu tố cơ bản bảo đảm cho kinh tế, xã hội phát triển, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện

Tuy nhiên, công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, chất lượng cán bộ cơ sở còn

có mặt chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Một số địa phương chưa thực sự chú trọng cán bộ trẻ, cán bộ nữ nên đội ngũ cán bộ kế cận hẫng hụt, cán bộ nữ chỉ đếm trên đầu ngón tay Khảo sát ở nhiều xã cho thấy tuổi đời cán bộ bình quân cao Những cán bộ này tuy có nhiều kinh nghiệm nhưng thiếu kiến thức chuyên môn, lý luận và nghiệp vụ quản lý Chế độ, chính sách, nhất là chế độ lương và phụ cấp với cán bộ còn có bất cập nên chưa thực sự khuyến khích, động viên cán

bộ nhiệt tình công tác, cũng vì thế mà có sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng về nhận công tác ở địa phương nhưng chỉ làm tạm thời, khi xin được việc khác, họ sẵn sàng rời bỏ…

Cán bộ ở một số vùng nông thôn vừa yếu, vừa thiếu, đó là một thực tế Năng lực, trình độ hạn chế, chưa ngang tầm nhiệm vụ được giao song lại ngại học tập, rèn luyện, có tư tưởng dựa dẫm vào tập thể, ỷ lại vào cấp trên, ngại va chạm khi phải giải quyết những việc khó khăn, phức tạp nảy sinh tại cơ sở Theo tổng hợp, vẫn còn một bộ phận cán bộ chuyên trách và công chức chuyên môn chưa qua đào tạo về lý luận và trình độ chuyên môn Hiện vẫn còn hơn 27% số cán bộ cấp

xã chưa đạt chuẩn Cán bộ đoàn thể ở chi hội, tổ hội đa số chưa được đào tạo nên

Trang 38

việc lĩnh hội, triển khai công việc được giao gặp lúng túng Chưa kể việc lãnh đạo, quản lý các lĩnh vực nhạy cảm như đất đai, thu chi ngân sách còn “quá sức” đối với một số người Hệ lụy thể hiện ở sức ỳ của bộ máy, các phong trào ở địa phương không phát triển mạnh Một số cán bộ, đảng viên vi phạm trong quản lý đất đai, tài chính làm giảm lòng tin của nhân dân

Kinh nghiệm và thực tiễn cho thấy để nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động đội ngũ cán bộ cơ sở, trước hết cần nâng cao chất lượng cấp ủy viên gắn với xây dựng đội ngũ cán bộ chủ chốt, đẩy mạnh thực hiện chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa cán bộ, công chức cơ sở; khuyến khích thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về công tác tại xã; chú trọng công tác kết nạp đảng viên, tạo điều kiện để các tổ chức đoàn thể, nhất là đoàn thanh niên giới thiệu quần chúng ưu tú để bồi dưỡng, kết nạp đảng Các địa phương coi trọng bồi dưỡng lý luận chính trị, quản lý nhà nước, quản lý kinh tế, công tác vận động quần chúng cho cán bộ cơ sở, thường xuyên bồi dưỡng nâng cao năng lực cho trưởng thôn, trưởng khu phố; quan tâm quy hoạch tạo nguồn cấp ủy viên, phấn đấu đảng ủy viên cấp xã nhiệm kỳ 2015 - 2020 có cơ cấu tuổi trẻ, cán bộ nữ đạt

tỷ lệ theo quy định của Trung ương Mặt khác, để “tăng lực” cho cơ sở, khắc phục tình trạng cục bộ, khép kín trong công tác cán bộ ở một số cơ sở, cần đẩy mạnh luân chuyển, điều động các cán bộ trong diện quy hoạch lãnh đạo chủ chốt, trưởng, phó các ngành, đoàn thể của huyện giữ các chức danh chủ chốt của xã

Trang 39

Chương 2 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2 Đặc điểm cơ bản của địa bàn nghiên cứu

2.2.1 Vị trí địa lý

Hòa Bình là tỉnh miền núi phía Bắc, nằm ở vị trí cửa ngõ của vùng Tây Bắc, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 76km theo đường quốc lộ 6, là khu vực đối trọng phía Tây của Thủ đô Hà Nội, có vị trí quan trọng trong chiến lược phòng thủ khu vực và cả nước Phía Đông giáp với thành phố Hà Nội, phía Bắc giáp tỉnh Phú Thọ, phía Tây giáp tỉnh Sơn La và tỉnh Thanh Hóa, phía Đông Nam giáp tỉnh Hà Nam và tỉnh Ninh Bình

Hòa Bình có mạng lưới giao thông đường bộ và đường thủy tương đối phát triển so với các tỉnh trong vùng, trong đó có các tuyến đường quốc gia quan trọng đi qua tỉnh như: Đường Hồ Chí Minh, Quốc lộ 6… mạng lưới giao thông được phân bố khá đều khắp, kết nối tỉnh Hòa Bình với các tỉnh trong khu vực và các địa phương trong tỉnh khá thuận lợi

Hòa Bình có nguồn lực về thủy điện rất lớn, hồ Hòa Bình có tác dụng quan trọng trong việc điều tiết nước cho hệ thống sông Hồng và vùng đồng bằng Bắc bộ

2.2.2 Điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, khí hậu thủy văn

400, địa hình hiểm trở, đi lại gặp nhiều khó khăn, diện tích 212.740 ha, chiếm 44,8% diện tích toàn vùng

Trang 40

- Phía Đông Nam (vùng thấp): Thuộc hệ thủy sông Đà, sông Bôi, sông Bưởi, sông Bùi, gồm các huyện Kỳ Sơn, Tân Lạc, Kim Bôi, Lương Sơn, Yên Thủy, Lạc Sơn, thành phố Hòa Bình Địa hình gồm các dải núi thấp, ít bị chia cắt, độ đốc trung bình từ 20 - 250, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 100 - 200m, đi lại thuận lợi, diện tích 262.202 ha, chiến 55,2% diện tích toàn tỉnh

b) Khí hậu:

Hòa Bình nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, độ ẩm trung bình 60%, cao nhất tới 90% vào tháng 8, tháng 9 Do khí hậu nhiệt đới gió mùa nên khí hậu được chia làm 2 mùa rõ rệt trong năm:

- Mùa mưa: Kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 trong năm, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ trung bình 240C, cao nhất 38-390C vào tháng 6 và tháng 7, lượng mưa trung bình từ 1.700 - 1.800 mm (trên 90% tổng lượng mưa cả năm)

- Mùa khô: Kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, thời tiết lạnh, ít mưa, nhiệt độ trung bình 15, 160C, thấp nhất 50C vào tháng 01 và tháng

12, ở vùng núi cao có nơi nhiệt độ xuống dưới 20C, lượng mưa từ 100 - 200 mm (chiếm 10% lượng mưa cả năm)

Khí hậu Hòa Bình nhìn chung tương đối phức tạp, mưa nắng thất thường tạo

ra các tiểu vùng khí hậu khác nhau trên địa bàn tỉnh, gây ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất nông nghiệp

c) Tài nguyên thiên nhiên:

- Tài nguyên đất: Theo thông kê, tính đến ngày 01/01/2013, diện tích đất tự nhiên của tỉnh Hòa Bình là 4.595,2 km2, trong đó đất nông nghiệp là 307.986,6

ha, chiếm 67%; đất phi nông nghiệp là 55.846,6%, chiếm 12,2%; đất chưa sử dụng là 95.691,2% chiếm 20,8% Đất đai Hòa Bình có độ màu mỡ cao thích hợp với nhiều loại cây trồng Với hàng trăm ngàn ha đất gồm các lô đất liền khoảnh

có thể sử dụng vào các mục đích khác nhau, đất là trồng rừng, trồng cây công nghiệp để phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm sản và phát triển công

Ngày đăng: 20/06/2021, 23:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
20. UBND tỉnh Hoà Bình (2013), Báo cáo tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Hòa Bình năm 2013. Quốc hội (1996), Pháp lệnh về nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của HĐND và UBND mỗi cấp năm 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Hòa Bình năm 2013." Quốc hội (1996)
Tác giả: UBND tỉnh Hoà Bình (2013), Báo cáo tình hình phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Hòa Bình năm 2013. Quốc hội
Năm: 1996
25. Trang Web: http://www.chinhphu.vn; http://www.hanhchinh.com.vn; http://www.hoabinh.gov.vn; http://vi.wikipedia.org Link
1. Bộ Nội vụ (2012), Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Bộ Nội vụ về việc hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn Khác
2. Ban chấp hành TW Đảng (2007), Nghị quyết 17/2007/NQ-TW hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành TW Đảng khoá X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý hành chính nhà nước Khác
3. Chính phủ (2003), Nghị định 121/2003/NĐ-CP về chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
4. Chính phủ (2005), Nghị định 159/2005/NĐ-CP về phân loại đơn vị hành chính cấp xã Khác
5. Chính phủ (2006), Quyết định số 144/2006/QĐ-TTg ngày 20/6/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2000 vào hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước Khác
6. Chính phủ (2007), Nghị quyết 53/2007/NQ-CP về chương trình hành động của Chính phủ thực hiện NQ 17/2007/NQ-TW Khác
7. Chính phủ (2009), Nghị định 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với CBCC ở xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã Khác
9. Chính phủ (2011), Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn Khác
10. Chính phủ (2003), Nghị định 114/2003/ NĐ- CP về cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn Khác
11. Đảng bộ tỉnh Hoà Bình (2012), Kết luận số 45-KL/TU ngày 24/5/2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ Tỉnh Hòa Bình về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 26/3/2007 của Tỉnh ủy về công tác tổ chức, cán bộ Khác
12. Đảng bộ tỉnh Hoà Bình (2012), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Hòa Bình khóa X Khác
16. UBND tỉnh Hoà Bình (2011), Nghị quyết 04-NQ/TU ngày 23/12/2011 của Tỉnh Ủy Hòa Bình về phát triển nhân lực tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2011- 2015, định hướng đến năm 2020 Khác
18. UBND tỉnh Hoà Bình (2012), Kế hoạch phát triển Kinh tế - Xã hội tỉnh Hòa Bình đến 2020 Khác
19. UBND tỉnh Hoà Bình (2014), Quyết định số 02/2014/QĐ-UBND ngày 09/01/2014 của Ủy ban nhân dân tỉnh về việc ban hành quy chế tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn Khác
21. Quốc hội (2003), Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 Khác
22. Quốc hội (2003), Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 (sửa đổi năm 2003) Khác
24. Sở Nội vụ Hoà Bình, Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao năm 2010, 2011, 2012 và năm 2013 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w