Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa thật sự hoàn thiện cộng với việc nhà nước chưatuyên truyền phổ biến rộng rãi các kiến thức về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp và người tiêu
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
KHOA THƯƠNG MẠI
MÔN ĐẦU TƯ QUỐC TẾ
Chuyên đề 6:
BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Ở
VIỆT NAM
Giảng viên hướng dẫn: GS TS Võ Thanh Thu
Nhóm thực hiện: 1 Nguyễn Phan Anh
Trang 2Lớp: Thương mại – K20 MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 3
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ I Sở hữu trí tuệ là gì? 5
1.1 Khái niệm 5
1.2 Quá trình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ 5
1.2.1 Bản quyền và văn hóa 5
1.2.2 Bằng sáng chế và sự đổi mới 6
1.2.3 Nhãn hiệu và bảo vệ người tiêu dùng 7
1.2.4 Sở hữu trí tuệ và xã hội 8
II Bảo hộ sỡ hữu trí tuệ là gì? Vì sao phải bảo hộ SHTT? 8
2.1 Khái niệm 8
2.2 Vì sao phải bảo hộ sở hữu trí tuệ? 9
2.3 Tác động của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các nước đang phát triển 10
2.3.1 Lợi ích của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 10
2.3.2 Mặt trái của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 10
II Vai trò của bảo hộ sở hữu trí tuệ 10
3.1 Đối với hoạt động thương mại 10
3.2 Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ: 11
3.3 Vai trò của hệ thống SHTT đối với phát triển kinh tế 11
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM I Quá trình hình thành các quy định về quyền SHTT và Luật SHTT của Việt Nam 15
II Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005 15
III Các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt nam đã ký kết 25
3.1 Sơ lược các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ Việt Nam tham gia 25
3.2 Hiệp định Thương Mại Việt- Mỹ 27
3.3 Hiệp định TRIPs 28
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG BẢO HỘ QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM – CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO THỰC THI BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM I Thực trạng bảo hộ sở hữu trí tuệ tại Việt Nam 33
1.1 Các số liệu về thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam 33
1.2 Thực trang việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam 44
1.3 Thành tựu và hạn chế 45
1.3.1 Thành tựu 45
1.3.2 Hạn chế: 46
II Một số giải pháp nâng cao thực thi bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam nhằm thu hút đầu tư FDI 48
2.1 Nhóm giải pháp về pháp luật liên quan đến bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ 48
2.2 Nhóm giải pháp thực thi pháp luật liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ 50
KẾT LUẬN 53
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Ý nghĩa của đề tài
Ngày nay, tài sản trí tuệ ngày càng được coi trọng và được bảo vệ trên phạm vi toàncầu Không chỉ các nước phát triển mà các nhóm quốc gia khác cũng dần ý thức được tầm quantrọng của việc bảo hộ các tài sản vô hình này
Tài sản trí tuệ là một trong những yếu tố cơ bản tạo nên giá trị và tính cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường Nó ảnh hưởng không nhỏ đến quyết định của các nhà đầu tư vàmột cách gián tiếp- quyết định sự thành bại của một thương hiệu hay một doanh nghiệp
Với một nước đang phát triển và hội nhập mạnh mẽ như Việt Nam, việc bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ càng đóng một vai trò quan trọng trong việc thâm nhập thị trường thế giới, thuhút vốn đầu tư nước ngoài Chính vì vậy, bảo hộ sở hữu trí tuệ còn là chìa khóa cho sự pháttriển bền vững của doanh nghiệp và nói rộng ra là cho mỗi quốc gia
Tuy nhiên, vẫn chưa ý thức được tầm quan trọng nói trên cho nên việc bảo hộ cácthương hiệu Việt Nam quá lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng vi phạm bảo hộ sở hữu trí tuệ ngàycàng nghiêm trọng
Hệ thống pháp luật Việt Nam chưa thật sự hoàn thiện cộng với việc nhà nước chưatuyên truyền phổ biến rộng rãi các kiến thức về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho doanh nghiệp
và người tiêu dùng cũng là một trong những nguyên nhân của vấn nạn trên
Và đó chính là những lý do thôi thúc chúng tôi nghiên cứu đề tài này
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Hiểu được sở hữu trí tuệ là gì, bảo hộ sở hữu trí tuệ là gì, giới thiệu về luật sở hữu trituệ, các công ước và hiệp định Việt Nam đã tham gia Từ thực tiễn bảo hộ sở hữu trí tuệ ở ViệtNam mà đề xuất một số giải pháp nâng cao việc thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Namnhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp (FDI)
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình thực thi quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, những
thành tựu và hạn chế đối với việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của nhà nước và các doanhnghiệp Việt Nam ở thị trường trong nước và quốc tế
Trang 54 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài này được thực hiện dựa trên những phương pháp cơ bản sau:
- Phương pháp thu thập tài liệu, thông tin
- Phương pháp thống kê các số liệu liên quan đã thu thập được ở các sở ban ngành
- Phương pháp phân tích: tổng hợp các thông tin có được để đưa ra giải pháp
- Phương pháp so sánh: so sánh các số liệu thống kê của năm sau so với năm trước
5 Bố cục của đề tài:
Nội dung đề tài gồm 3 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan bảo hộ sở hữu trí tuệ
Chương 2: Cơ sở pháp lý về bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Chương 3: Thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam và Giải pháp nâng cao
thực thi bảo hộ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
Trang 6CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ VÀ
BẢO HỘ SỞ HỮU TRÍ TUỆ
I Sở hữu trí tuệ là gì?
1.1 Khái niệm
Theo ESCAP: “Sở hữu trí tuệ bao gồm mọi đối tượng do trí tuệ con người tạo ra mà cánhân được trao quyền sỡ hữu nó có thể sử dụng hợp pháp đối tượng đó, tùy theo ý muốn củamình mà không bị bất cứ người nào khác can thiệp.”
Sở hữu trí tuệ, hay có khi còn gọi là tài sản trí tuệ, là những sản phẩm sáng tạo của bộ óccon người Nó được chia thành 2 nhóm như sau:
Sở hữu công nghiệp: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu dịch vụ, tên gọixuất xứ
Quyền tái bản: tác phẩm văn học, tác phẩm nghệ thuật, tác phẩm khoa học, sản phẩmphần mềm công nghệ thông tin
Quyền sở hữu trí tuệ là các quyền đối với những sản phẩm sáng tạo nói trên
1.2 Quá trình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ
Hiện nay, người ta ngày càng quan tâm tới các vấn đề sở hữu trí tuệ Nhưng đáng tiếc làvấn đề này lại thường xuyên được đề cập theo chiều hướng nhấn mạnh đến những điều gâytranh cãi và những tranh luận trái ngược nhau Thực ra có rất nhiều nội dung về bảo vệ sở hữutrí tuệ mà mọi người có thể nhất trí được với nhau
Để hiểu đầy đủ hơn về vấn đề này, chúng ta cần dành một chút thời gian xem xét quátrình phát triển của quyền sở hữu trí tuệ (IPR) và vai trò của IPR trong việc đạt được nhữngnhững mục tiêu chung Sau khi xem xét, chúng ta đi tới một kết luận rằng việc bảo vệ sở hữutrí tuệ đóng một vai trò sống còn trong quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Nhưng chỉbảo vệ quyền sở hữu trí tuệ không thôi sẽ không thể có được những phát triển về kinh tế, vănhóa, xã hội Nhưng một quốc gia khó có thể đạt được những mục tiêu phát triển nếu không có
sự bảo vệ này
1.2.1 Bản quyền và văn hóa
Chúng ta có thể ghi nhận khái niệm về “bản quyền” đã có từ thế kỷ 17 ở nước Anh vớiluật bảo vệ những tác phẩm sáng tạo của văn sỹ, nghệ sỹ, ca sỹ và sau này là các nhà làm phim
và chuyên gia viết phần mềm Khái niệm này thậm chí còn được trang trọng ghi nhận trongHiến pháp Hoa Kỳ tại Điều I, Mục 8, Khoản 8 “Quốc hội có quyền … nhằm thúc đẩy tiến bộkhoa học và nghệ thuật bằng cách đảm bảo quyền tối cao của tác giả và nhà phát minh trongmột khoảng thời gian nhất định đối với những tác phẩm và phát minh của họ”
Ý tưởng cơ bản về bản quyền này rất đơn giản: Các nghệ sỹ và người sáng tác cần phảiđược hưởng thành quả lao động của mình trong một khoảng thời gian nhất định và sau đó thìnhững thành quả này sẽ thuộc về toàn thể xã hội Xã hội được lợi bởi quy định này sẽ khuyếnkhích sáng tạo và tạo ra những sản phẩm văn hóa phong phú đa dạng cho mọi người Thực chấtthì chúng ta có thể nói rằng bảo hộ bản quyền là điều cần thiết để đảm bảo sự sáng tạo văn hóatrong xã hội
Nhưng nếu việc bảo hộ bản quyền là quan trọng trong việc đạt được những thành quả vănhóa thì đương nhiên việc ăn cắp những sản phẩm được bảo hộ bản quyền - tức là việc sao chép
Trang 7trái phép các sản phẩm văn hóa - là mối nguy hại cho lĩnh vực sáng tác trong xã hội chúng ta.Nhiều tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) vàthậm chí cả Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hợp Quốc (UNESCO) đều thừanhận mối liên hệ này Thực ra, nếu chúng ta truy cập trang web của UNESCO(http://www.unesco.org) thì chúng ta sẽ thấy cả một phần được dành cho vấn đề bản quyền vàmột danh sách các chương trình và ấn phẩm giải thích rõ hơn cho chúng ta về lợi ích của bảnquyền đối với những chính sách văn hóa, khoa học, giáo dục và giúp ta có những phương thứcchống lại nạn ăn cắp bản quyền.
Cho dù gần đây báo chí nói nhiều đến việc tải phim và nhạc trên mạng ở các nước pháttriển như Hoa Kỳ, nhưng thực ra những vi phạm nghiêm trọng phần lớn lại xảy ra ở các nướcđang phát triển Nhiều giọng ca mới, nhiều tác giả và kịch bản phim đã không thể ra đời đơngiản chỉ vì các nghệ sỹ này không có đủ động lực để chấp nhận mạo hiểm Họ biết rằng cho dù
họ có sản xuất ra sản phẩm gì chăng nữa thì sản phẩm của họ ngay lập tức sẽ bị sao chép - ăncắp - và họ không được cung cấp đủ tiền bạc để phát triển tài năng của mình
Đây không phải là một lập luận trừu tượng: Việc ăn cắp bản quyền diễn ra ở tất cả cácchâu lục Một ví dụ điển hình là Hồng Kông, nơi ngành công nghiệp điện ảnh phát triển mạnh
đã bị ảnh hưởng ghê gớm bởi nạn ăn cắp bản quyền đến nỗi một vài năm trước đây người ta dựđoán rằng Hồng Kông sẽ không giữ được ngành công nghiệp điện ảnh nữa Hiện nay, ngànhcông nghiệp này ở Hồng Kông đang khởi sắc trở lại và khán giả khắp nơi trên thế giới đượcthưởng thức những bộ phim mới rất hay do chính quyền Hồng Kông đã mạnh tay xử lý nạn ăncắp bản quyền Các xưởng phim trong ngành công nghiệp điện ảnh của Băng-la-đét
“Dhaliwood” đã đình công vào tháng 3 năm 2004 nhằm phản đối tình trạng ăn cắp bản quyền
và yêu cầu chính phủ phải hành động Những tiến triển tương tự cũng đã diễn ra trong ngành
âm nhạc trên thế giới Các nhạc sỹ Ê-ti-ô-pia đã đình công bảy tháng liền vào năm 2003 nhằmgây áp lực đòi chính phủ phải có những biện pháp chống nạn ăn cắp bản quyền mạnh mẽ hơn.Các nghệ sỹ này đều hiểu rõ tầm quan trọng của việc bảo vệ những tác phẩm của họ trướcnhững kẻ xâm phạm bản quyền
1.2.2 Bằng sáng chế và sự đổi mới
Bằng sáng chế bảo hộ rất nhiều các loại phát minh như kiểu dáng công nghiệp, quy trìnhsản xuất, sản phẩm công nghệ cao, hợp chất phân tử Bằng sáng chế cũng được ghi nhận trongHiến pháp Hoa Kỳ giống như bản quyền Hiến pháp trao cho Quốc hội quyền thúc đẩy “sự tiến
bộ của khoa học và nghệ thuật” bằng cách cho các nhà phát minh được hưởng độc quyền tốicao trong một thời gian nhất định đối với những “phát minh” của họ
Khái niệm về bằng sáng chế dựa trên cơ sở thỏa hiệp có đi, có lại Nhà phát minh haysáng chế có độc quyền tối cao trong việc sử dụng phát minh của mình trong một thời gian nhấtđịnh Để đổi lại, quy định của hầu hết các quốc gia đều yêu cầu nhà phát minh công bố phươngpháp tìm ra phát minh để cho mọi người có thể hiểu và học hỏi được từ những phát minh này.Sau khi thời hạn bảo hộ phát minh hết hạn thì bất cứ ai cũng có thể sử dụng hay bán phát minhnày Nhà phát minh được khuyến khích về mặt kinh tế để chấp nhận rủi ro và sáng tạo; xã hộinhận được lợi ích của phát minh và kiến thức của nhà phát minh được ứng dụng trong nhữnglĩnh vực khác
Người Mỹ luôn tự hào là một dân tộc có nhiều nhà phát minh sáng chế sẵn sàng thửnghiệm những cái mới trong cả ngành công nghiệp lẫn cả trong chính trị Vì vậy, bằng sángchế là một phần quan trọng trong lịch sử phát triển của Hoa Kỳ Mặc dù hầu hết học sinh Mỹ
có thể không biết rằng bằng sáng chế được đề cập tới trong Hiến pháp nhưng nhiều học sinhbiết qua các bài học rằng một trong những bằng sáng chế đầu tiên được cấp cho máy tỉa hộtbông của Eli Whitney, chiếc máy có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển sau này của Hoa Kỳ
Trang 8Nếu những gì đã diễn ra ở Mỹ là đúng quy luật thì nó cũng sẽ đúng ở các quốc gia khác,
kể cả ở những quốc gia đang phát triển Việc bảo hộ chặt chẽ sở hữu trí tuệ không những chỉthúc đẩy sức sáng tạo mà còn tạo ra niềm tin vững chắc vào nền kinh tế đó, đủ để thu hút đầu
tư nước ngoài và tăng cường chuyển giao công nghệ Điều này đã được chứng minh trong một
số nghiên cứu về quan hệ giữa sở hữu trí tuệ, đặc biệt là bằng sáng chế, với tốc độ phát triển.Chẳng hạn như một nghiên cứu đáng chú ý của Báo cáo Triển vọng Kinh tế Toàn cầu năm
2002 của Ngân hàng Thế giới đã phát hiện ra rằng “dù cho các quốc gia có mức thu nhập khácnhau nhưng việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn liền với phát triển thương mại và đầu tưnước ngoài, nhờ đó mà tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt mức cao hơn” Một ấn bản khác năm
2002 của Ngân hàng Thế giới mang tựa đề “Cẩm nang Phát triển, Thương mại và WTO” đãchú dẫn một số nghiên cứu tuy chưa đưa ra được những kết quả rõ ràng nhưng cũng đã chỉ rarằng việc bảo hộ mạnh mẽ bằng sáng chế có thể: 1) gia tăng thương mại toàn cầu; 2) thu hútthêm được đầu tư trực tiếp nước ngoài; 3) tăng cường việc mua bán công nghệ và do đó có thểtăng năng lực sản xuất trong nước; 4) góp phần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng
Ngày nay, Giooc-đa-ni có thể là một ví dụ điển hình cho những kết quả nghiên cứu trên.Tại quốc gia này, việc gia tăng bảo hộ bằng sáng chế đã đem lại những lợi ích kinh tế hữu hình(xem bài “Giooc-đa-ni hưởng lợi từ việc cải cách việc bảo hộ sở hữu trí tuệ”) Viện Sở hữu Trítuệ Quốc tế (IIPI) đã công bố một báo cáo đầy đủ vào tháng 8 năm 2004 nghiên cứu việc thànhlập ngành công nghiệp công nghệ dược và thuốc chữa bệnh từ cây cỏ có khả năng cạnh tranhtoàn cầu của Giooc-đa-ni Báo cáo phát hiện ra rằng “Kinh tế Giooc-đa-ni đã được hưởng lợilớn từ việc bảo hộ sở hữu trí tuệ tốt hơn trong thời gian gần đây” theo như công bố của IIPI.Báo cáo nhấn mạnh hệ thống bảo vệ sở hữu trí tuệ nghiêm ngặt hơn, đặc biệt là bảo vệ bằngsáng chế, “đã tăng cường tập trung vào những phát minh dựa trên nghiên cứu cho các công tydược phẩm của Giooc-đa-ni”
Điều này đã được thể hiện trong đóng góp tăng đột biến của ngành chăm sóc y tế, từ2,8% năm 1997 lên tới 3,5% năm 2001, vào GDP của Giooc-đa-ni Kể từ năm 1997 số lượngviệc làm trong các lĩnh vực y tế tăng thêm 52% Báo cáo cũng cho thấy “ngành dược phẩm làngành lớn thứ hai ở Giooc-đa-ni và từ năm 1999 tới 2002 lượng thuốc xuất khẩu của các công
ty Giooc-đa-ni tăng thêm 30%”
1.2.3 Nhãn hiệu và bảo vệ người tiêu dùng
Nhãn hiệu là một từ, cụm từ, ký hiệu, hay kiểu dáng, hoặc sự kết hợp các từ, cụm từ, kýhiệu hay kiểu dáng nhằm xác định và phân biệt nguồn gốc của hàng hóa do một người sản xuấtvới hàng hóa do những người khác sản xuất Vì vậy, nhãn hiệu xác định được người sản xuất ramột mặt hàng và người ta dùng nhãn hiệu để biết được chất lượng của hàng hóa Nhãn hiệucũng giúp khách hàng biết địa điểm cung cấp sự trợ giúp khi hàng hóa không đạt chất lượng.Một số loại hình nhãn hiệu đã tồn tại tới vài ngàn năm nay Du khách tới thăm Vạn Lý TrườngThành ở Trung Quốc vẫn có thể thấy dấu hiệu của người sản xuất để lại trên một số những viêngạch Dấu hiệu này cho phép các hoàng đế thời đó yên tâm về mặt chất lượng và trong trườnghợp cần thiết thì có thể quy kết được trách nhiệm
Việc đảm bảo chất lượng và quy kết được trách nhiệm đã hoàn toàn bị xóa sổ khi những
kẻ làm hàng giả dùng nhãn hiệu và đánh lừa khách hàng bằng những sản phẩm do bọn chúngsản xuất Khi nghĩ tới hàng giả, nhiều người có thể nghĩ ngay tới đồng hồ Rolex giả, bật lửaZippo giả hay túi xách Louis Vuitton giả Việc làm giả những sản phẩm này đã gây ra nhữngtổn thất nghiêm trọng cho các công ty sản xuất hàng xịn và khiến cho chính phủ thất thu thuế.Nhưng việc làm giả nhãn hiệu còn gây ra một hậu quả nghiêm trọng khác, đó là làm ảnh hưởngtới sức khỏe và sự an toàn của cộng đồng
Hoa Kỳ cũng không thể tránh khỏi nạn làm hàng giả Trong buổi tường trình trước Ủyban Pháp luật Thượng viện Hoa Kỳ vào tháng 3 năm 2004, Trợ lý Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ là
Trang 9Christopher Wray đã đưa ra những ví dụ về việc vi phạm nhãn hiệu Ông nhấn mạnh rằng vàođầu năm 2004, một công dân bang Alabama đã nhận tội 28 lần làm hàng giả và bị buộc tội làmgiả nhãn hiệu thuốc diệt côn trùng Anh ta đã bán thuốc diệt côn trùng giả với nhãn hiệu giảcủa loại thuốc diệt muỗi và gián tiếp bán thuốc diệt virus West Nile cho các thành phố vàdoanh nghiệp tư nhân ở một số bang của Hoa Kỳ Bị cáo đã không đưa ra được tên của thuốcdiệt côn trùng, nhà sản xuất và các thành phần hoạt chất Trong một vụ án khác năm 2002, Bộ
Tư pháp Hoa Kỳ đã kết tội một công dân bang California theo cáo trạng của liên bang vì liênquan đến âm mưu bán sữa bột giả cho trẻ sơ sinh Sau khi bán sữa bột cho trẻ sơ sinh giả chohàng ngàn trẻ em, những nạn nhân dễ bị tổn thương nhất, bị cáo đã trốn sang Canada năm
1995 Hắn đã bị bắt ở Canada năm 2001 và năm 2002 được đưa về xét xử tại Hoa Kỳ
Nạn làm hàng giả cũng gây ra nguy cơ đe dọa nghiêm trọng tới an toàn và sức khỏe cộngđồng ở những quốc gia đang phát triển Một bi kịch khủng khiếp hơn đã diễn ra ở Trung Quốc.Vào tháng 5 năm 2004, hãng tin AP đưa tin từ Bắc Kinh cho biết 47 tên đã bị kết tội bán sữabột giả cho trẻ sơ sinh và chính quyền cho biết hành động này là nguyên nhân gây ra cái chếtcủa hàng chục trẻ em Theo bài báo, cuộc khám xét sau đó của cảnh sát đã phát hiện ra hàngngàn bao đựng sữa bột giả với nhãn mác của 45 loại sữa khác nhau
Thuốc tân dược giả cũng đã trở thành một vấn nạn nghiêm trọng gây chết người ở khắpnơi trên thế giới, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển Không ai biết rõ về điều này hơnDorothy Akunyili, Giám đốc Cơ quan Quốc gia Kiểm tra và Quản lý Thuốc và Thực phẩm củaNigeria Câu chuyện của bà được kể chi tiết trên trang nhất tờ Nhật báo Phố Wall vào tháng 5năm 2004 cứ như thể một câu chuyện xảy ra trong tiểu thuyết Nhưng đáng tiếc đó lại làchuyện có thật chứ không phải là chuyện giả tưởng Việc điều tra và chống lại nạn làm thuốctân dược giả đã khiến bà bị mưu sát và cơ quan bà bị phóng hỏa Nhưng bà vẫn anh dũng tiếptục công việc của mình với niềm thôi thúc cá nhân do em gái bà đã chết vì bị tiêm thuốc insulingiả Cũng giống như nhiều người khác, bà hiểu rõ nguy cơ và hiểm họa của nạn hàng giả
1.2.4 Sở hữu trí tuệ và xã hội
Có một điểm chung xuyên suốt các vấn đề về bản quyền, bằng sáng chế và nhãn hiệu vừađược đề cập ở trên Việc thúc đẩy sự phát triển văn hóa, tăng cường sức sáng tạo và phát triểnkinh tế, bảo vệ sự an toàn và sức khỏe cộng đồng là những mục tiêu chung Tất cả chúng ta đềumuốn sống trong những xã hội tôn vinh và thúc đẩy những giá trị này Trong khi bàn luận về
sở hữu trí tuệ ngày nay, chúng ta cần nhớ tới vai trò của việc bảo hộ sở hữu trí tuệ trong cuộcsống hàng ngày của chúng ta
Hoa Kỳ hết sức tin tưởng vào giá trị của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ vì những lý do
đã nêu trên và nhiều lý do khác và Hoa Kỳ sẵn sàng cộng tác với các quốc gia khác nhằm tăngcường việc bảo hộ sở hữu trí tuệ
II Bảo hộ sỡ hữu trí tuệ là gì? Vì sao phải bảo hộ SHTT?
2.1 Khái niệm
Từ góc độ vật chất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là nhằm đảm bảo cho người sáng tạo cóthể khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để bù đắp lại công lao sáng tạo.Bảo hộ sở hữu trí tuệ là việc xác lập và bảo vệ quyền của tổ chức hoặc cá nhân đối với tàisản trí tuệ của mình Cá nhân hay tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua cơ quan có thẩmquyền thực hiện thiết lập và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ về đối với Bản quyền tác giả, sáng chế,giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hóa, bí quyết thương mại, tênthương mại
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm đảm bảo cho người sáng tạo có thể khai thác giá trịkinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để bù đắp lại công lao sáng tạo
Trang 10Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn với thời hạn bảo hộ Ví dụ tác phẩm điện ảnh đượcbảo hộ 50 năm, thiết kế bố trí mạch tích hợp có thời hạn bảo hộ là 10 năm.
Hết thời hạn này, các sáng tạo trở thành tài sản chung của nhân loại và tất cả mọi người
có thể khai thác, sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả thù lao cho người sáng tạo
Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ dưới dạng sở hữu trí tuệ độc quyền, nhằm khuyếnkhích năng lực sáng tạo của các chủ thể, là động lực thúc đẩy văn hóa, kinh tế, xã hội, khoahọc-công nghệ của một quốc gia phát triển Nhưng việc bảo hộ Quyền sở hữu trí tuệ là có chọnlọc, phải đảm bảo lợi ích của nhà nước, xã hôi, công dân Quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ cóthời hạn và muốn được bảo hộ phải đáp ứng các yêu cầu luật định
2.2 Vì sao phải bảo hộ sở hữu trí tuệ?
Sở hữu trí tuệ thực chất là gì? Tại sao phải coi nó là yếu tố sống còn của 1 doanh nghiệp,thậm chí với cả những doanh nghiệp có quy mô khiêm tốn nhất?
Sở hữu trí tuệ (SHTT) không đơn giản chỉ là những tấm bằng sáng chế bạn đang nắm giữtrong tay Tùy từng trường hợp, nó còn có thể là thương hiệu, hình ảnh, âm điệu, phần mềm,các tác phẩm hội họa, nói tóm lại là bất cứ sản phẩm gì do lao động trí óc tạo ra Khi xã hộiphát triển, nhu cầu vật chất thiết yếu được đáp ứng đầy đủ thì những giá trị tinh thần này càngđược coi trọng Nếu người nắm giữ sản phẩm vô hình này không biết cách bảo vệ, rất dễ dàngchúng sẽ “trôi tuột” vào tay kẻ khác
Chính vì thế, vấn đề về bản quyền, bằng sáng chế, đăng kí thương hiệu luôn được đặt ranhư một trong những điều kiện tiên quyết đối với sự thành bại của doanh nghiệp Dù đó chỉ làcái tên hay một đặc trưng nào đó của sản phẩm/ dịch vụ, thì giải quyết tốt vấn đề SHTT sẽ giúpdoanh nghiệp duy trì bước phát triển bền vững cũng như đón đầu đối thủ trong các chiến lượccạnh tranh
Xuất phát điểm đầu tiên của SHTT phải nằm trong chính kế hoạch kinh doanh tổng thểcủa doanh nghiệp Trong đó, cần chú trọng những điểm sau:
Bằng sáng chế: Đó là những văn bằng hợp pháp miêu tả chi tiết những phát minh kĩthuật, cho phép người sở hữu, trong thời gian hiệu lực nhất định, khai thác, hưởnglợi từ phát minh đó, đồng thời có quyền ngăn cấm bất kì ai khác sử dụng chúng
Bản quyền: là sự bảo vệ hợp pháp đối với 1 sản phẩm mang tính sáng tạo, ví dụ: tácphẩm hội họa, âm nhạc, văn chương, các bộ phim, chương trình phát sóng, các bảnthu âm, phần mềm máy tính Khác với bằng sánh chế, bản quyền tự động phát sinhngay từ khi tác phẩm được tạo lập và xuất bản Bản quyền có thể bảo vệ quyền lợicủa người sở hữu khi không có bằng sáng chế
Nhãn hiệu được đăng ký: là cơ sở pháp lý để xây dựng và phát triển thương hiệu, làcông cụ để tạo nhận thức và gây ấn tượng về sản phẩm/ dịch vụ trong tâm trí ngườitiêu dùng
Một trong những lợi ích thiết thực dễ thấy nhất từ SHTT là đặc quyền sử dụng phátminh, sáng chế, thương hiệu Điều này tạo ra vị thế cạnh tranh rõ rệt đối với các đốithủ trên thương trường
Không những thế, bản chất của những sản phẩm mang tính sáng tạo là khả năng tạo ra lợinhuận cao Do đó, quản lý tốt vấn đề SHTT có ảnh hưởng trực tiếp và quan trọng doanh thu,lợi nhuận cũng như các chỉ số tăng trưởng hàng năm của doanh nghiệp
Đối với những doanh nghiệp đang tìm cách tăng vốn, quản lý SHTT có thể là 1 công cụhữu ích, bởi nó làm tăng niềm tin của các nhà đầu tư cũng như các nhà phân tích Ví dụ, 1
Trang 11doanh nghiệp nắm trong tay càng nhiều bằng sáng chế thì càng được định giá cao, cả trước vàsau khi phát hành cổ phiếu.
Những lý do trên đây không chỉ đơn thuần giải thích cho sự cần thiết và tầm quan trọngcủa quản lý SHTT trong từng doanh nghiệp, mà hơn hết, nó còn đặt ra một câu hỏi vô cùngthiết thực: vậy các đối thủ cạnh tranh khác đã có chiến lược quản lý SHTT hay chưa, họ đãnắm trong tay những bảo bối SHTT nào?
Đó là câu hỏi thực sự cần lời giải đáp
2.3 Tác động của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với các nước đang phát triển
2.3.1 Lợi ích của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Ngăn chặn được sự sản xuất và tiêu thụ hàng giả, hàng nhái Hàng giả, hàng nhái đều lànhững sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và gây thiệt hại cho nhà sản xuất chân chính cả
về doanh thu và uy tín Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ sẽ giúp loại bỏ các sản phẩm này ra khỏithị trường, đảm bảo quyền lợi của cả nhà sản xuất chân chính và người tiêu dùng
Khuyến khích sáng tạo tại chỗ và chuyển giao công nghệ Nhiều nhà phát minh trongnước và các nhà đầu tư nước ngoài thường nản lòng khi không có chế độ bảo hộ quyền sở hữutrí tuệ đủ mạnh ở nước sở tại, họ không có động lực để sáng tạo và cũng không muốn đemcông nghệ mới hoặc nghiên cứu phát triển công nghệ ở nước sở tại vì sợ bị mất bí mật côngnghệ
2.3.2 Mặt trái của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
Phần lớn số lượng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ hiện nay do các nước phát triểnnắm giữ Ðiều này tạo nên lợi thế rất lớn cho sản phẩm của các nước này so với các nước đangphát triển Trong một số lĩnh vực, ví dụ dược phẩm, sự độc quyền khai thác bằng sáng chế đãđẩy giá sản phẩm lên rất cao, đem lại lợi nhuận khổng lồ cho hãng sản xuất Các nước đangphát triển, vốn đã không có công nghệ, lại phải chịu mua các sản phẩm với giá cao này nênthiệt thòi càng lớn
Một ví dụ khác là phần mềm máy tính Giá một chương trình phần mềm thường từ vàitrăm đến hàng ngàn đô-la Mỹ, vượt gấp nhiều lần giá của chiếc máy tính Nếu tuân thủ nghiêmngặt chế độ bản quyền phần mềm thì rất có thể nhiều nước đang phát triển không có được trình
độ công nghệ thông tin hiện nay
Nói vậy không có nghĩa là chúng ta khuyến khích việc vi phạm quyền sở hữu trí tuệ màđiều chính yếu là chúng ta cần phối hợp với các nước đang phát triển khác đấu tranh cho một
hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ công bằng và hợp lý hơn
II Vai trò của bảo hộ sở hữu trí tuệ:
3.1 Đối với hoạt động thương mại :
Những hạn chế trong bảo hộ quyền SHTT có thể bóp méo nền thương mại của một quốc
gia Một quốc gia có hệ thống bảo hộ yếu (về bản quyền) sẽ tạo kẽ hở cho các doanh nghiệp,
cụ thể như sao chép bất hợp pháp băng đĩa, phần mềm máy tính, v.v thay vì nhập khẩu cácsản phẩm này với giá cao Bên cạnh đó, việc kiểm soát hoạt động buôn bán qua biên giới mộtcách lỏng lẻo sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc xuất nhập khẩu các mặt hàng vi phạm và hànggiả Nhà kinh doanh cũng có thể thay đổi phương án kinh doanh của mình do những hạn chếtrong việc bảo hộ quyền SHTT Ban đầu nhà kinh doanh có ý định triển khai phương án kinhdoanh, nhưng nếu nhận ra những khiếm khuyết trong việc bảo hộ bí mật thương mại, có thể họ
sẽ từ bỏ ý định này Như vậy, hệ thống bảo hộ quyền SHTT yếu là một trong những lý do
Trang 12chính dẫn đến các hoạt động kinh doanh phi pháp và mang tính "chụp giật" Trong trường hợpngược lại, một hệ thống bảo hộ quyền SHTT mạnh sẽ tạo điều kiện cho việc chuyên nghiệphóa hoạt động kinh doanh, giảm thiểu rủi ro của quá trình kinh doanh và đó chính là tiền đềthúc đẩy sự phát triển của nền thương mại.
3.2 Đối với hoạt động đầu tư nước ngoài, chuyển giao công nghệ:
Một công ty đa quốc gia có nhiều lựa chọn khác nhau để xâm nhập và chiếm lĩnh thịtrường nước ngoài Họ có thể đầu tư trực tiếp, hoặc liên doanh với doanh nghiệp địa phươngthông qua góp vốn, công nghệ, nhân lực hay là chuyển giao công nghệ Việc lựa chọn hìnhthức đầu tư và kinh doanh của nhà đầu tư phụ thuộc vào thị trường và hệ thống luật pháp củanước sở tại, trong đó hệ thống bảo hộ SHTT đóng một vai trò quan trọng Nét đặc trưng củacác công ty đa quốc gia là chúng thường sở hữu những khoản tài sản vô hình rất lớn, trong đócông nghệ là một trong những loại tài sản vô hình quan trọng nhất Xét trên góc độ quyềnSHTT, đó là các nhãn hiệu nổi tiếng, các sáng chế đã tạo nên danh tiếng của công ty và là một
phần không thể mất đi của công ty Các công ty đa quốc gia có xu hướng xây dựng các công ty
100% vốn của mình tại các nước có hệ thống bảo hộ quyền SHTT mạnh, đối với nhà đầu tư,
ưu điểm của hình thức này là có thể bảo hộ tốt bí mật công nghệ và nhãn hiệu hàng hóa, còn nhược điểm của nó là tốn kém, không tận dụng được hết các ưu thế mà địa phương đem lại và quốc gia được đầu tư không học hỏi được kỹ năng quản lý cũng như cách thức sản xuất.
Quyền SHTT còn ảnh hưởng đến kênh chuyển giao công nghệ Công nghệ ở đây đượcphân loại thành loại dễ bắt chước và loại khó bắt chước Loại công nghệ dễ bắt chước thườnggồm có công nghệ sao chép băng đĩa nhạc, sản xuất đồ chơi, v.v Có nhiều lý do dẫn đến hiệntượng bắt chước công nghệ, chẳng hạn, đối với các công ty nhỏ, việc bắt chước công nghệnhằm phục vụ cho sản xuất kinh doanh, còn đối với các công ty có nhiều đối thủ cạnh tranh,việc nghiên cứu công nghệ của đối phương sẽ giúp họ khắc phục những nhược điểm của côngnghệ hiện đang sử dụng và phát minh ra những công nghệ mới Loại công nghệ khó bắt chướcthường được sử dụng trong lĩnh vực dược phẩm và phần mềm máy tính Việc bắt chước côngnghệ sẽ giúp các chuyên gia trong ngành giảm bớt chi phí trong việc phát hiện và tạo ra nhữngloại thuốc mới và nhanh chóng tung ra thị trường các sản phẩm cạnh tranh tương tự, thậm chí
có thể là những sản phẩm ưu việt hơn Nhìn chung, các sản phẩm máy móc, thiết bị y tế thườngkhó bắt chước Tuy nhiên, dù tinh vi và phức tạp đến mức nào, tất cả các sản phẩm đều hàmchứa rủi ro bị lộ bí mật công nghệ, hay bị bắt chước Chính vì vậy, các nhà đầu tư phải cân
nhắc khá nhiều vấn đề khi tiến hành chuyển giao công nghệ Một hệ thống bảo hộ SHTT mạnh
có thể hạn chế việc sao chép, làm giả sản phẩm và tăng chi phí bắt chước Bất kỳ quốc gia nào
xây dựng được một hệ thống bảo hộ SHTT mạnh sẽ có điều kiện tiếp nhận các công nghệ tiên tiến phục vụ cho việc phát triển đất nước Ngược lại, các quốc gia có hệ thống bảo hộ quyền SHTT yếu sẽ chỉ có cơ hội tiếp nhận các công nghệ đã phát minh từ lâu, thậm chí đã lỗi thời
và mất dần giá trị khai thác.
3.3 Vai trò của hệ thống SHTT đối với phát triển kinh tế:
Bảo hộ SHTT không những mang lại lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ,
cơ quan nhà nước cấp giấy phép, mà còn cho những người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó.
Nhìn vào lịch sử phát triển của các quốc gia, nhất là các nước công nghiệp phát triển, sởhữu trí tuệ được đánh giá là loại tài sản chiếm vị trí quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng củađất nước Với mỗi phát minh, sáng chế ra đời và được bảo hộ, chủ thể sở hữu sản phẩm trí tuệ
có được tỷ lệ tiền bản quyền cao hơn và có giá trị thị trường cao hơn nhiều lần, người muaquyền sở hữu trí tuệ và người xin cấp giấy phép sử dụng cũng vui lòng trả nhiều tiền hơn do có
sự bảo hộ Việc bảo hộ này nhằm giảm rủi ro trong các giao dịch thương mại về quyền sở hữutrí tuệ, nhưng đồng thời cũng tạo nguồn thu cho nhà nước thông qua việc cung cấp các hiệp
Trang 13định bảo hộ và nhân lên nhiều lần giá trị sử dụng của các tài sản trí tuệ đã được bảo hộ đó bằngviệc thương mại hoá chúng, chính việc thương mại hoá các tài sản trí tuệ đã đem lại cho chủthể sở hữu cũng như những người mua quyền sử dụng tài sản trí tuệ đó những lợi ích kinh tế.
Ví như với việc mỗi năm có đến hàng trăm các phát minh, sáng chế mới ra đời, NOKIA khôngchỉ thu được lợi nhuận khổng lồ từ những sản phẩm trí tuệ mới này được cung cấp bởi chínhhãng mà còn thu được nhiều tỷ USD từ việc bán bản quyền Theo tài liệu của Tổ chức sở hữutrí tuệ thế giới thì tổng thu nhập từ bản quyền về sáng chế trên toàn thế giới tăng từ 10 tỷ USDnăm 1990 lên 110 tỷ USD năm 2000; riêng hãng máy tính IBM (Mỹ) năm 2000 đã thu được1,7 tỷ USD
Cụ thể có các công ty Việt Nam điển hình như, Công ty Phân lân Văn Điển thành côngvới hàng loạt các sáng chế và giải pháp hữu ích, như: Lò cao sản xuất phân lân nung chảy (1BĐQ sáng chế, 2 BĐQ giải pháp hữu ích); Thiết bị và phương pháp sàng rửa phân loại nguyênliệu (1 BĐQ GPHI), phối liệu đóng bánh quặng phốt phát (1 BĐQ GPHI), phối liệu để sản xuấtphân lân nung chảy… Hiệu quả đạt được là Công ty đã sử dụng 100% nguyên vật liệu trongnước, giảm tiêu hao nhiên liệu 70%, giảm tiêu hao điện 81%, làm lợi 253 tỷ đồng (1992-2002)v.v….; Giống lúa mới TH3-3 của PGS-TS Nguyễn Thị Trâm đã chuyển nhượng quyền với giá
10 tỷ đồng (6/2008); Cơ sở Duy Lợi cũng thành công với kiểu dáng công nghiệp Võng xếpđược bảo hộ ở Việt Nam và nước ngoài, là doanh nghiệp thành công trong nước và nước ngoài,
đã và đang phát triển mạnh mẽ và doanh thu tăng qua từng năm, chống vi phạm quyền SHTTthành công, chống cạnh tranh bất chính ở Nhật Bản và Hoa Kỳ Có thể nói Duy Lợi là mộttrong những doanh nghiệp đã đi lên từ công cụ sở hữu trí tuệ
Bảo hộ SHTT là công cụ cạnh tranh hữu hiệu cho doanh nghiệp cũng như nền kinh tế quốc gia
Đỗi với mỗi quốc gia, doanh nghiệp, năng lực sở hữu trí tuệ là một trong những năng lựcnội sinh quan trọng hàng đầu để phát triển bền vững Quốc gia, doanh nghiệp nào có được càngnhiều quyền sở hữu trí tuệ thì năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp đó càng cao.Với các nước đang phát triển, năng lực cạnh tranh thường thấp, khả năng tiếp cận thịtrường hạn chế, cho nên để có thể phát triển bền vững và hội nhập hiệu quả, cần thiết phải đánhgiá đúng vị trí quan trọng của sở hữu trí tuệ Cách tốt nhất là phải tiếp cận các chuẩn mực quốc
tế về sở hữu trí tuệ nhằm xây dựng hệ thống sở hữu trí tuệ có hiệu quả Điều đó làm cho hoạtđộng sở hữu trí tuệ xét trên phạm vi quốc gia ngày càng có khuynh hướng tiến gần hơn tớichuẩn mực chung của thế giới
Bảo hộ SHTT là phương tiện đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia và của từng doanh nghiệp
Bất kỳ tài sản hữu hình nào đều bị giới hạn bởi thời gian, không gian, khối lượng và giátrị của nó Các tài sản hữu hình này không chỉ bị thu hẹp về quy mô, số lượng mà còn có khảnăng bị thay thế bởi các sản phẩm mới do tri thức tạo ra Do đó, sở hữu các tài sản hữu hình là
sở hữu cái có giới hạn, còn sở hữu tri thức, trí tuệ của nhân loại là sở hữu cái vô hạn, vì vậy sẽ
là vô cùng bền vững nếu chúng ta biết khai thác và sử dụng một cách hiệu quả – có thể nói sởhữu trí tuệ là sở hữu một thứ tài sản đặc biệt, khi sử dụng không những không mất đi mà còn
có khả năng kiến tạo những sản phẩm trí tuệ cao hơn, là những tiền đề cho sự phát triển mạnh
mẽ và bền vững đối với những chủ thể sở hữu và xã hội
Thực tiễn cho thấy, lợi nhuận lớn thường đổ dồn về những doanh nghiệp nào biết quantâm đầu tư và khai thác sản phẩm trí tuệ của mình hay những quốc gia sở hữu nhiều phát minh,sáng chế của nhân loại Vì lẽ đó mà hàng năm, hãng sản xuất danh tiếng như Nokia đầu tưhàng tỷ USD và huy động nhiều ngàn lao động trí tuệ trong nghiên cứu và phát triển sản phẩm
Trang 14mới, mỗi năm hãng này đệ trình đăng ký bảo hộ sáng kiến và giải pháp mới cho 500 phát minhcác loại.
Tuân thủ hệ thống quản lý SHTT là cách thức để các nước đang phát triển tiếp cận bền vững hơn với các hoạt động đầu tư và hội nhập hiệu quả
Việc tạo dựng và củng cố giá trị của mọi đối tượng sở hữu trí tuệ là một quá trình đầu tưtốn kém về vật chất và trí tuệ Do vậy, việc sao chép, mô phỏng, thậm chí đánh cắp nguyên vẹncác thành quả sáng tạo kỹ thuật – kinh doanh của đối thủ cạnh tranh là biện pháp hấp dẫn nhất
để đạt mục tiêu lợi nhuận và chiến thắng Nguy cơ chiếm đoạt các sản phẩm trí tuệ là nguy cơthường xuyên và ngày càng nghiêm trọng trong các nền kinh tế công nghiệp hoá Bởi vậy, việcngăn chặn nguy cơ này là vấn đề ám ảnh đối với các nhà đầu tư nước ngoài, họ sẽ chỉ chấpnhận chuyển giao công nghệ và thực hiện các biện pháp đầu tư, nếu họ nhận thấy có đủ cơ hộikhai thác an toàn, hiệu quả công nghệ ở quốc gia dự định đầu tư
Vì vậy, sẽ là sai lầm nếu cho rằng vì lạc hậu về kỹ thuật và công nghệ mà không cần phải
có một sự bảo hộ công nghệ nào ở các nước đang phát triển Cần thấy rằng, các nhà đầu tưnước ngoài có xu hướng lo sợ rằng bảo hộ sở hữu trí tuệ lỏng lẻo sẽ dẫn đến việc thiếu kiểmsoát đối với công nghệ được chuyển giao và như vậy công nghệ chuyển giao này sẽ dễ trởthành mục tiêu bị vi phạm bản quyền Vì lẽ đó, xác lập được một hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệhiệu quả và việc tuân thủ hệ thống quản lý bảo hộ sở hữu trí tuệ một cách nghiêm túc sẽ là mộtđiều kiện tiên quyết tác động đến quyết định đầu tư và chuyển giao của các công ty nướcngoài
Hệ thống bảo hộ SHTT hiệu quả xóa bỏ được nguy cơ tụt hậu
Kinh nghiệm phát triển của Nhật Bản cho thấy, một quốc gia hoàn toàn có thể phát triểnmạnh mẽ mà không nhất thiết phải có nguồn lực vật chất dồi dào, mà vấn đề là nhận thức đượcgiá trị thực sự của tài sản trí tuệ và việc bảo hộ các tài sản trí tuệ đó Cựu Thủ tướng Nhật BảnTanzan Ishibashi đã từng nói: “ Tôi tin chắc rằng, đây là bí quyết phát triển công nghiệp củachúng tôi từ thời Meiji Chỉ trong một nước đã nhận ra giá trị thực sự của hệ thống bảo hộ sángchế và quyết tâm dùng mọi sức lực của nó để xây dựng hệ thống đó, người ta mới có thể hyvọng công nghiệp phát triển ”
Một khi cơ sở hạ tầng và khả năng kỹ thuật cho việc cải tiến công nghệ đã được thiết lập ởmột nước, nhất là ở các nước đang phát triển, hệ thống bảo hộ sáng chế sẽ thành một yếu tốthúc đẩy sự nghiệp cải tiến kỹ thuật Bởi vậy, câu hỏi đặt ra cho các nước đang phát triểnkhông phải là có thiết lập hệ thống bảo hộ sở hữu trí tuệ hay không, mà phải là thiết lập như thếnào và vào lúc nào trong quá trình phát triển kinh tế, kỹ thuật của đất nước sẽ là phù hợp choviệc áp dụng một hệ thống bảo hộ toàn diện và hiệu quả
Tóm lại, việc đánh giá và phân tích vai trò của quyền SHTT đối với phát triển kinh tế củamột quốc gia là công việc tương đối phức tạp và cần phải được xem xét từ nhiều góc độ Việc bảo hộ quyền SHTT tốt sẽ khuyến khích nghiên cứu, phát triển công nghệ, nâng cao chất lượnghàng hóa và tạo uy tín cho sản phẩm Ngoài ra, việc bảo hộ tốt sẽ dẫn đến giá thành sản phẩm cao, hạn chế các vi phạm như tình trạng khai thác công nghệ không được phép của người sở hữu bằng độc quyền, hay sản xuất hàng giả, hàng nhái và các vi phạm khác Xét về lâu dài, hệ thống SHTT mạnh sẽ có tác dụng tốt trong việc phát triển công nghệ và kinh doanh lành mạnh,đóng một vai trò tích cực đối với công cuộc phát triển kinh tế
Tuy nhiên, có một điểm đáng lưu ý là, xét trên một khía cạnh nào đó, hệ thống bảo hộSHTT yếu sẽ cho phép một quốc gia phát triển công nghệ với chi phí thấp Đương nhiên, trongbối cảnh mới khi mà xây dựng môi trường kinh doanh lành mạnh và chuyên nghiệp đang ngày
Trang 15càng trở thành nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia và toàn thế giới, chúng ta không thể vàkhông muốn khuyến khích và áp dụng cách tiếp cận này Thực tế chỉ ra rằng, hiện nay, đa phầncác nước nghèo vẫn coi đây là giải pháp để hiện đại hóa công nghệ của mình và qua đó, pháttriển nền kinh tế của mình Song phải khẳng định rằng, một hệ thống SHTT mạnh luôn là cáiđích cuối cùng trên con đường phát triển kinh tế của một nước.
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ BẢO HỘ SỞ HỮU
TRÍ TUỆ Ở VIỆT NAM
I Quá trình hình thành các quy định về quyền SHTT và Luật SHTT của Việt Nam:
Xuất phát điểm của Việt Nam là một nước nghèo và chậm phát triển do bị thựcdân Pháp
đô hộ Vì vậy, luật về sở hữu trí tuệ của chúng ta ra đời muộn hơn ở những nước khác
- Năm 1957, Miền Nam mới ban hành Luật Thương hiệu và năm 1958, Chính phủ Việt NamDân chủ Cộng hoà ban hành "Thể lệ về thương phẩm và thương hiệu" Tuy nhiên, giá trị thựctiễn của các văn bản này chưa cao
- Năm 1976, Việt Nam tham gia vào Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO) Ngày14/12/1982, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định 197/HDBT ban hành "Điều lệ về Nhãnhiệu hàng hoá." Đây là văn bản đầu tiên chính thức nhắc đến vấn đề bảo hộ độc quyền trong sởhữu công nghiệp
- Hàng loạt các pháp lệnh, nghị định, công ước… và văn bản liên quan đến sở hữu trí tuệ đã
ra đời từ năm 1982 - 2005, tạo tiền đề phát triển cho công cuộc đổi mới như: Nhãn hiệu hànghoá ngày 14/2/1982; Điều lệ Kiểu dáng Công nghiệp ngày 13/05/1988; Pháp lệnh Chuyển giaoCông nghệ từ Nước ngoài vào Việt Nam ngày 5/12/1988; Nghị Định 49/HĐBT ngày4/03/1991 hướng dẫn thi hành Pháp lệnh Chuyển giao Công nghệ từ Nước ngoài vào ViệtNam; BLDS 1995 và Nghị định 63/CP về sở hữu công nghiệp (ngày 24/10/1996) và Nghị định12/1999/NĐ-CP ngày 8/3/1999 về xử phạt hành chính trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp;Công ước Paris; Công ước Washington và …
- Năm 2005, tại phiên họp Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 (từ ngày 18/10/2005 đến 29/11/2005), Quốc Hội đã thông qua Luật Sở hữu trí tuệ- Luật số 50/2005/QH11 Luật này có
hiệu lực thi hành vào ngày 01/07/2006, bao gồm 6 phần 18 chương và 222 điều
- Năm 2009, tại kỳ họp Quốc hội khóa XII, kỳ hợp thứ 5, Quốc đã thông qua Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 – Luật số 36/2009/QH12, cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010 Phần lớn nội dung tập trung điều chỉnh các quyền về tácgiả, tác phẩm, kiểu dáng công nghiệp
II Luật Sở hữu Trí tuệ năm 2005
Luật Sở hữu trí tuệ điều chỉnh tất cả các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệ, cấu trúc LuậtSHTT được chia thành 6 phần Trừ Phần VI (Điều khoản thi hành), các phần còn lại có các nộidung sau đây:
Phần I (những qui định chung): qui định phạm vi, đối tượng áp dụng, đối tượng điều
chỉnh, các khái niệm được sử dụng trong Luật SHTT, nguyên tắc áp dụng luật, căn cứphát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với từng đối tượng Đây là những qui địnhchứa đựng những qui phạm mang tính nguyên tắc
Phần II (quyền tác giả và quyền liên quan): qui định điều kiện bảo hộ, nội dung quyền
và giới hạn quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan, xácđịnh các chủ thể của quan hệ về quyền tác giả, quyền liên quan; qui định về chuyển giaoquyền tác giả, đăng ký quyền tác giả và tổ chức đại diện quyền tác giả
Phần III (quyền sở hữu công nghiệp) : Phần này qui định điều kiện bảo hộ, xác lập
quyền sở hữu công nghiệp; xác định chủ sở hữu công nghiệp, nội dung và giới hạn của
Trang 17các quyền sở hữu công nghiệp; qui định việc chuyển nhượng quyền theo thoả thuận cũngnhư li-xăng bắt buộc; và qui định về đại diện sở hữu công nghiệp.
Phần IV (giống cây trồng): qui định điều kiện bảo hộ, qui trình nộp đơn xác lập quyền
đối với giống cây trồng, nội dung và giới hạn các quyền đối với giống cây trồng, chuyểngiao giống cây trồng Mặc dù Việt Nam đã có Pháp lệnh giống cây trồng từ năm 2001,đây vẫn là các qui định mới; kinh nghiệm của Việt Nam trong lĩnh vực này còn hạn chế
Phần V (bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ): đi vào vấn đề màViệt Nam còn bị các nước coi là
yếu kém: thực thi quyền sở hữu trí tuệ Tuân thủ các cam kết về thực thi quyền sở hữu trítuệ qui định tại Hiệp định Thương mại Việt-Mỹ và Thỏa ước TRIPS, Phần V gồm có cácqui định chung về thực thi, xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ theo thủ tục dân
sự, hành chính, hình sự, trong đó nhấn mạnh đến các biện pháp khẩn cẩp tạm thời cũngnhư cách thức xác định mức bồi thường thiệt hại
Một số nội dung cơ bản của luật SHTT năm 2005:
Đối tượng quyền sở hữu trí tuệ
Đối tượng quyền tác giả bao gồm tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; đối tượng quyền
liên quan đến quyền tác giả bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phátsóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá
Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố
trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý
Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là giống cây trồng và vật liệu nhân giống.
Trách nhiệm quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ
Bộ Khoa học và Công nghệ chịu trách nhiệm trước Chính phủ chủ trì, phối hợp với Bộ Vănhoá - Thông tin, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện quản lý nhà nước về sở hữutrí tuệ và quyền sở hữu công nghiệp
Bộ Văn hoá - Thông tin trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thực hiện quản lýnhà nước về quyền tác giả và quyền liên quan
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình thựchiện quản lý nhà nước về quyền đối với giống cây trồng
Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về sở hữu trí tuệ tại địa phương theothẩm quyền
Phân tích một số đối tượng sở hữu trí tuệ trong quyền sở hữu công nghiệp
1 Điều kiện bảo hộ đối với sáng chế
1.1 Điều kiện chung đối với sáng chế được bảo hộ
1) Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền sáng chế nếu đáp ứng cácđiều kiện sau đây:
Trang 18+ Có tính mới+ Có trình độ sáng tạo+ Có khả năng áp dụng công nghiệp.
2) Sáng chế được bảo hộ dưới hình thức cấp Bằng độc quyền giải pháp hữu ích nếukhông phải là hiểu biết thông thường và đáp ứng các điều kiện sau đây:
+ Có tính mới+ Có khả năng áp dụng công nghiệp
1.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế : Các đối tượng sau đây không
được bảo hộ với danh nghĩa sáng chế:
1) Phát minh, lý thuyết khoa học, phương pháp toán học;
2) Sơ đồ, kế hoạch, quy tắc và phương pháp để thực hiện các hoạt động trí óc, huấnluyện vật nuôi, thực hiện trò chơi, kinh doanh; chương trình máy tính;
3) Cách thức thể hiện thông tin;
2) Sáng chế được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người có hạn đượcbiết và có nghĩa vụ giữ bí mật về sáng chế đó
3) Sáng chế không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong các trường hợp sauđây với điều kiện đơn đăng ký sáng chế được nộp trong thời hạn sáu tháng kể từ ngàycông bố:
+ Sáng chế bị người khác công bố nhưng không được phép của người có quyềnđăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sở hữu trí tuệ
+ Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật Luật sởhữu trí tuệ công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
+ Sáng chế được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật sở hữutrí tuệ trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộc triểnlãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức
1.4 Trình độ sáng tạo của sáng chế
Sáng chế được coi là có trình độ sáng tạo nếu căn cứ vào các giải pháp kỹ thuật đãđược bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bản hoặc dưới bất kỳhình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơn hoặc trướcngày ưu tiên của đơn đăng ký sáng chế trong trường hợp đơn đăng ký sáng chế được
Trang 19hưởng quyền ưu tiên, sáng chế đó là một bước tiến sáng tạo, không thể được tạo ra mộtcách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực kỹ thuật tương ứng.
1.5 Khả năng áp dụng công nghiệp của sáng chế
Sáng chế được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thể thực hiện đượcviệc chế tạo, sản xuất hàng loạt sản phẩm hoặc áp dụng lặp đi lặp lại quy trình là nộidung của sáng chế và thu được kết quả ổn định
2 Điều kiện bảo hộ đối với kiểu dáng công nghiệp
2.1 Điều kiện chung đối với kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ
Kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1) Có tính mới;
2) Có tính sáng tạo;
3) Có khả năng áp dụng công nghiệp
2.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp:
1) Hình dáng bên ngoài của sản phẩm do đặc tính kỹ thuật của sản phẩm bắt buộc phảicó;
2) Hình dáng bên ngoài của công trình xây dựng dân dụng hoặc công nghiệp;
3) Hình dáng của sản phẩm không nhìn thấy được trong quá trình sử dụng sản phẩm
2.3 Tính mới của kiểu dáng công nghiệp
1) Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính mới nếu kiểu dáng công nghiệp đó khácbiệt đáng kể với những kiểu dáng công nghiệp đã bị bộc lộ công khai dưới hình thức sửdụng, mô tả bằng văn bản hoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nướcngoài trước ngày nộp đơn hoặc trước ngày ưu tiên nếu đơn đăng ký kiểu dáng côngnghiệp được hưởng quyền ưu tiên
2) Hai kiểu dáng công nghiệp không được coi là khác biệt đáng kể với nhau nếu chỉkhác biệt về những đặc điểm tạo dáng không dễ dàng nhận biết, ghi nhớ và không thểdùng để phân biệt tổng thể hai kiểu dáng công nghiệp đó
3) Kiểu dáng công nghiệp được coi là chưa bị bộc lộ công khai nếu chỉ có một số người
có hạn được biết và có nghĩa vụ giữ bí mật về kiểu dáng công nghiệp đó
4) Kiểu dáng công nghiệp không bị coi là mất tính mới nếu được công bố trong cáctrường hợp sau đây với điều kiện đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp được nộp trongthời hạn sáu tháng kể từ ngày công bố:
a) Kiểu dáng công nghiệp bị người khác công bố nhưng không được phép củangười có quyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này
b) Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86của Luật này công bố dưới dạng báo cáo khoa học;
c) Kiểu dáng công nghiệp được người có quyền đăng ký quy định tại Điều 86của Luật này trưng bày tại cuộc triển lãm quốc gia của Việt Nam hoặc tại cuộctriển lãm quốc tế chính thức hoặc được thừa nhận là chính thức
2.4 Tính sáng tạo của kiểu dáng công nghiệp
Trang 20Kiểu dáng công nghiệp được coi là có tính sáng tạo nếu căn cứ vào các kiểu dángcông nghiệp đã được bộc lộ công khai dưới hình thức sử dụng, mô tả bằng văn bảnhoặc bất kỳ hình thức nào khác ở trong nước hoặc ở nước ngoài trước ngày nộp đơnhoặc trước ngày ưu tiên của đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp trong trường hợp đơnđược hưởng quyền ưu tiên, kiểu dáng công nghiệp đó không thể được tạo ra một cách
dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng
2.5 Khả năng áp dụng công nghiệp của kiểu dáng công nghiệp
Kiểu dáng công nghiệp được coi là có khả năng áp dụng công nghiệp nếu có thểdùng làm mẫu để chế tạo hàng loạt sản phẩm có hình dáng bên ngoài là kiểu dáng côngnghiệp đó bằng phương pháp công nghiệp hoặc thủ công nghiệp
3 Điều kiện bảo hộ đối với thiết kế bố trí
3.1 Điều kiện chung đối với thiết kế bố trí được bảo hộ
Thiết kế bố trí được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1) Có tính nguyên gốc;
2) Có tính mới thương mại
3.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa thiết kế bố trí:
1) Nguyên lý, quy trình, hệ thống, phương pháp được thực hiện bởi mạch tích hợp bándẫn;
2) Thông tin, phần mềm chứa trong mạch tích hợp bán dẫn
3.3 Tính nguyên gốc của thiết kế bố trí
1) Thiết kế bố trí được coi là có tính nguyên gốc nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
a) Là kết quả lao động sáng tạo của chính tác giả;
b) Chưa được những người sáng tạo thiết kế bố trí và những nhà sản xuất mạchtích hợp bán dẫn biết đến một cách rộng rãi tại thời điểm tạo ra thiết kế bố tríđó
2) Thiết kế bố trí là sự kết hợp các phần tử, các mối liên kết thông thường chỉ được coi
là có tính nguyên gốc nếu toàn bộ sự kết hợp đó có tính nguyên gốc
3.4 Tính mới thương mại của thiết kế bố trí
1) Thiết kế bố trí được coi là có tính mới thương mại nếu chưa được khai thác thươngmại tại bất kỳ nơi nào trên thế giới trước ngày nộp đơn đăng ký
2) Thiết kế bố trí không bị coi là mất tính mới thương mại nếu đơn đăng ký thiết kế bốtrí được nộp trong thời hạn hai năm kể từ ngày thiết kế bố trí đó đã được người cóquyền đăng ký quy định tại Điều 86 của Luật này hoặc người được người đó cho phépkhai thác nhằm mục đích thương mại lần đầu tiên tại bất kỳ nơi nào trên thế giới
3) Khai thác thiết kế bố trí nhằm mục đích thương mại quy định tại khoản 2 Điều này làhành vi phân phối công khai nhằm mục đích thương mại đối với mạch tích hợp bán dẫnđược sản xuất theo thiết kế bố trí hoặc hàng hoá chứa mạch tích hợp bán dẫn đó
4 Điều kiện bảo hộ đối với nhãn hiệu
4.1 Điều kiện chung đối với nhãn hiệu được bảo hộ
Trang 21Nhãn hiệu được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1) Là dấu hiệu nhìn thấy được dưới dạng chữ cái, từ ngữ, hình vẽ, hình ảnh, kể cả hình
ba chiều hoặc sự kết hợp các yếu tố đó, được thể hiện bằng một hoặc nhiều mầu sắc;2) Có khả năng phân biệt hàng hoá, dịch vụ của chủ sở hữu nhãn hiệu với hàng hoá,dịch vụ của chủ thể khác
4.2 Dấu hiệu không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu
Các dấu hiệu sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa nhãn hiệu:
1) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với hình quốc kỳ, quốc huy củacác nước;
2) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với biểu tượng, cờ, huy hiệu,tên viết tắt, tên đầy đủ của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xãhội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệpcủa Việt Nam và tổ chức quốc tế, nếu không được cơ quan, tổ chức đó cho phép;
3) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thật, biệt hiệu, bút danh,hình ảnh của lãnh tụ, anh hùng dân tộc, danh nhân của Việt Nam, của nước ngoài4) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với dấu chứng nhận, dấu kiểmtra, dấu bảo hành của tổ chức quốc tế mà tổ chức đó có yêu cầu không được sử dụng,trừ trường hợp chính tổ chức này đăng ký các dấu đó làm nhãn hiệu chứng nhận
5) Dấu hiệu làm hiểu sai lệch, gây nhầm lẫn hoặc có tính chất lừa dối người tiêu dùng
về nguồn gốc xuất xứ, tính năng, công dụng, chất lượng, giá trị hoặc các đặc tính kháccủa hàng hoá, dịch vụ
4.3 Khả năng phân biệt của nhãn hiệu
1) Nhãn hiệu được coi là có khả năng phân biệt nếu được tạo thành từ một hoặc một sốyếu tố dễ nhận biết, dễ ghi nhớ hoặc từ nhiều yếu tố kết hợp thành một tổng thể dễ nhậnbiết, dễ ghi nhớ và không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này
2) Nhãn hiệu bị coi là không có khả năng phân biệt nếu nhãn hiệu đó là dấu hiệu thuộcmột trong các trường hợp sau đây:
a) Hình và hình hình học đơn giản, chữ số, chữ cái, chữ thuộc các ngôn ngữkhông thông dụng, trừ trường hợp các dấu hiệu này đã được sử dụng và thừanhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu;
b) Dấu hiệu, biểu tượng quy ước, hình vẽ hoặc tên gọi thông thường của hànghoá, dịch vụ bằng bất kỳ ngôn ngữ nào đã được sử dụng rộng rãi, thường xuyên,nhiều người biết đến;
c) Dấu hiệu chỉ thời gian, địa điểm, phương pháp sản xuất, chủng loại, số lượng,chất lượng, tính chất, thành phần, công dụng, giá trị hoặc các đặc tính khácmang tính mô tả hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu đó đã đạt được khảnăng phân biệt thông qua quá trình sử dụng trước thời điểm nộp đơn đăng kýnhãn hiệu;
d) Dấu hiệu mô tả hình thức pháp lý, lĩnh vực kinh doanh của chủ thể kinhdoanh;
đ) Dấu hiệu chỉ nguồn gốc địa lý của hàng hoá, dịch vụ, trừ trường hợp dấu hiệu
đó đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi với danh nghĩa một nhãn hiệu hoặc
Trang 22được đăng ký dưới dạng nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận quy địnhtại Luật này;
e) Dấu hiệu không phải là nhãn hiệu liên kết trùng hoặc tương tự đến mức gâynhầm lẫn với nhãn hiệu đã được đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặctương tự trên cơ sở đơn đăng ký có ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơntrong trường hợp đơn đăng ký được hưởng quyền ưu tiên, kể cả đơn đăng kýnhãn hiệu được nộp theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam là thành viên;
g) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của ngườikhác đã được sử dụng và thừa nhận rộng rãi cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặctương tự từ trước ngày nộp đơn hoặc ngày ưu tiên trong trường hợp đơn đượchưởng quyền ưu tiên;
h) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của ngườikhác đã đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tự mà đăng ký nhãnhiệu đó đã chấm dứt hiệu lực chưa quá năm năm, trừ trường hợp hiệu lực bịchấm dứt vì lý do nhãn hiệu không được sử dụng theo quy định tại điểm dkhoản 1 Điều 95 của Luật này;
i) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu được coi
là nổi tiếng của người khác đăng ký cho hàng hoá, dịch vụ trùng hoặc tương tựvới hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu nổi tiếng hoặc đăng ký cho hàng hoá,dịch vụ không tương tự, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể làm ảnh hưởng đếnkhả năng phân biệt của nhãn hiệu nổi tiếng hoặc việc đăng ký nhãn hiệu nhằmlợi dụng uy tín của nhãn hiệu nổi tiếng;
k) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với tên thương mại đang được sử dụng củangười khác, nếu việc sử dụng dấu hiệu đó có thể gây nhầm lẫn cho người tiêudùng về nguồn gốc hàng hoá, dịch vụ;
l) Dấu hiệu trùng hoặc tương tự với chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ nếu việc sửdụng dấu hiệu đó có thể làm cho người tiêu dùng hiểu sai lệch về nguồn gốc địa
lý của hàng hoá;
m) Dấu hiệu trùng với chỉ dẫn địa lý hoặc có chứa chỉ dẫn địa lý hoặc được dịchnghĩa, phiên âm từ chỉ dẫn địa lý đang được bảo hộ cho rượu vang, rượu mạnhnếu dấu hiệu được đăng ký để sử dụng cho rượu vang, rượu mạnh không cónguồn gốc xuất xứ từ khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý đó;
n) Dấu hiệu trùng hoặc không khác biệt đáng kể với kiểu dáng công nghiệp củangười khác được bảo hộ trên cơ sở đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp có ngàynộp đơn hoặc ngày ưu tiên sớm hơn so với ngày nộp đơn, ngày ưu tiên của đơnđăng ký nhãn hiệu
4.4 Tiêu chí đánh giá nhãn hiệu nổi tiếng
Các tiêu chí sau đây được xem xét khi đánh giá một nhãn hiệu là nổi tiếng:
1) Số lượng người tiêu dùng liên quan đã biết đến nhãn hiệu thông qua việc mua bán,
sử dụng hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc thông qua quảng cáo;
2) Phạm vi lãnh thổ mà hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu đã được lưu hành;
3) Doanh số từ việc bán hàng hoá hoặc cung cấp dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc số lượnghàng hoá đã được bán ra, lượng dịch vụ đã được cung cấp;
Trang 234) Thời gian sử dụng liên tục nhãn hiệu;
5) Uy tín rộng rãi của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu;
6) Số lượng quốc gia bảo hộ nhãn hiệu;
7) Số lượng quốc gia công nhận nhãn hiệu là nổi tiếng;
8) Giá chuyển nhượng, giá chuyển giao quyền sử dụng, giá trị góp vốn đầu tư của nhãnhiệu
5 Điều kiện bảo hộ đối với tên thương mại
5.1 Điều kiện chung đối với tên thương mại được bảo hộ
Tên thương mại được bảo hộ nếu có khả năng phân biệt chủ thể kinh doanh mang tênthương mại đó với chủ thể kinh doanh khác trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh
5.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa tên thương mại
Tên của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị
xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp hoặc chủ thể kháckhông liên quan đến hoạt động kinh doanh thì không được bảo hộ với danh nghĩa tênthương mại
5.3 Khả năng phân biệt của tên thương mại
Tên thương mại được coi là có khả năng phân biệt nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1) Chứa thành phần tên riêng, trừ trường hợp đã được biết đến rộng rãi do sử dụng;2) Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với tên thương mại mà ngườikhác đã sử dụng trước trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh;
3) Không trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của người kháchoặc với chỉ dẫn địa lý đã được bảo hộ trước ngày tên thương mại đó được sử dụng
6 Điều kiện bảo hộ đối với chỉ dẫn địa lý
6.1 Điều kiện chung đối với chỉ dẫn địa lý được bảo hộ
Chỉ dẫn địa lý được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có nguồn gốc địa lý từ khu vực, địa phương, vùnglãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉ dẫn địa lý;
2) Sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý có danh tiếng, chất lượng hoặc đặc tính chủ yếu dođiều kiện địa lý của khu vực, địa phương, vùng lãnh thổ hoặc nước tương ứng với chỉdẫn địa lý đó quyết định
6.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý
Các đối tượng sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa chỉ dẫn địa lý:
1) Tên gọi, chỉ dẫn đã trở thành tên gọi chung của hàng hoá ở Việt Nam;
2) Chỉ dẫn địa lý của nước ngoài mà tại nước đó chỉ dẫn địa lý không được bảo hộ, đã
bị chấm dứt bảo hộ hoặc không còn được sử dụng;
3) Chỉ dẫn địa lý trùng hoặc tương tự với một nhãn hiệu đang được bảo hộ, nếu việc sửdụng chỉ dẫn địa lý đó được thực hiện thì sẽ gây nhầm lẫn về nguồn gốc của sản phẩm;4) Chỉ dẫn địa lý gây hiểu sai lệch cho người tiêu dùng về nguồn gốc địa lý thực củasản phẩm mang chỉ dẫn địa lý đó
Trang 246.3 Danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý
1) Danh tiếng của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng mức độ tín nhiệmcủa người tiêu dùng đối với sản phẩm đó thông qua mức độ rộng rãi người tiêu dùngbiết đến và chọn lựa sản phẩm đó
2) Chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa lý được xác định bằng một hoặcmột số chỉ tiêu định tính, định lượng hoặc cảm quan về vật lý, hoá học, vi sinh và cácchỉ tiêu đó phải có khả năng kiểm tra được bằng phương tiện kỹ thuật hoặc chuyên giavới phương pháp kiểm tra phù hợp
6.4 Điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý
1) Các điều kiện địa lý liên quan đến chỉ dẫn địa lý là những yếu tố tự nhiên, yếu tố vềcon người quyết định danh tiếng, chất lượng, đặc tính của sản phẩm mang chỉ dẫn địa
lý đó
2) Yếu tố tự nhiên bao gồm yếu tố về khí hậu, thuỷ văn, địa chất, địa hình, hệ sinh thái
và các điều kiện tự nhiên khác
3) Yếu tố về con người bao gồm kỹ năng, kỹ xảo của người sản xuất, quy trình sản xuấttruyền thống của địa phương
6.5 Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý
Khu vực địa lý mang chỉ dẫn địa lý có ranh giới được xác định một cách chính xácbằng từ ngữ và bản đồ
7 Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh
7.1 Điều kiện chung đối với bí mật kinh doanh được bảo hộ
Bí mật kinh doanh được bảo hộ nếu đáp ứng các điều kiện sau đây:
1) Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được;
2) Khi được sử dụng trong kinh doanh sẽ tạo cho người nắm giữ bí mật kinh doanh lợithế so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng bí mật kinh doanh đó;
3) Được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để bí mật kinh doanh đókhông bị bộc lộ và không dễ dàng tiếp cận được
7.2 Đối tượng không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh
Các thông tin bí mật sau đây không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh:
1) Bí mật về nhân thân;
2) Bí mật về quản lý nhà nước;
3) Bí mật về quốc phòng, an ninh;
4) Thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh
8 Quy đinh chung về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ
Trang 25b) Yêu cầu tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phảichấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính công khai, bồi thường thiệt hại;c) Yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sởhữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật cóliên quan;
d) Khởi kiện ra tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp củamình
2) Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại do hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ hoặc pháthiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ gây thiệt hại cho người tiêu dùng hoặc cho
xã hội có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạmquyền sở hữu trí tuệ theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật cóliên quan
3) Tổ chức, cá nhân bị thiệt hại hoặc có khả năng bị thiệt hại do hành vi cạnh tranhkhông lành mạnh có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng các biệnpháp dân sự quy định tại Điều 202 của Luật sở hữu trí tuệ và các biện pháp hành chínhtheo quy định của pháp luật về cạnh tranh
8.2 Biện pháp xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1) Tổ chức, cá nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ của tổ chức, cá nhânkhác thì tuỳ theo tính chất, mức độ xâm phạm, có thể bị xử lý bằng biện pháp dân sự,hành chính hoặc hình sự
2) Trong trường hợp cần thiết, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biệnpháp khẩn cấp tạm thời, biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quanđến sở hữu trí tuệ, biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hành chính theo quy địnhcủa Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan
8.3 Thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
1) Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, các cơ quan Toà án, Thanh tra, Quản
lý thị trường, Hải quan, Công an, Uỷ ban nhân dân các cấp có thẩm quyền xử lý hành vixâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
2) Việc áp dụng biện pháp dân sự, hình sự thuộc thẩm quyền của Toà án Trong trườnghợp cần thiết, Tòa án có thể áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định củapháp luật
3) Việc áp dụng biện pháp hành chính thuộc thẩm quyền của các cơ quan Thanh tra,Công an, Quản lý thị trường, Hải quan, Uỷ ban nhân dân các cấp Trong trường hợp cầnthiết, các cơ quan này có thể áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử phạt hànhchính theo quy định của pháp luật
4) Việc áp dụng biện pháp kiểm soát hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu liên quan đến sởhữu trí tuệ thuộc thẩm quyền của cơ quan hải quan
8.4 Giám định về sở hữu trí tuệ
1) Giám định về sở hữu trí tuệ là việc tổ chức, cá nhân có thẩm quyền sử dụng kiếnthức, nghiệp vụ chuyên môn để đánh giá, kết luận về những vấn đề có liên quan đến vụviệc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ
2) Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ cóquyền trưng cầu giám định về sở hữu trí tuệ khi giải quyết vụ việc mà mình đang thụ lý
Trang 263) Chủ thể quyền sở hữu trí tuệ và tổ chức, cá nhân khác có liên quan có quyền yêu cầugiám định về sở hữu trí tuệ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
4) Chính phủ quy định cụ thể hoạt động giám định về sở hữu trí tuệ
III Các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ mà Việt nam đã ký kết.
Việt nam là thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO do vậy việc thực thi quyền sởhữu trí tuệ mang ý nghĩa to lớn khi mà Quyền sở hữu trí tuệ không tách rời mà còn có quan hệchặt chẽ với thương mại và phát triển kinh tế
Tính đến nay Việt Nam tham gia rất nhiều công ước quốc tế Sở Hữu Trí Tuệ Việt Namchẳng hạn như tham gia công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp năm 1949, tham giaCông ước Berne về bảo vệ tác phẩm văn học và nghệ thuật năm 2005, Công ước Geneva từnăm 2005…
3.1 Sơ lược các công ước quốc tế về sở hữu trí tuệ Việt Nam tham gia:
Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp:
Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp ("Công ước Paris") được ký kết ngày20.3.1883 tại Paris Công ước Paris quy định một số điều như sau:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia: Công ước Paris quy định rằng đối với việc bảo hộ sởhữu công nghiệp, mỗi nước thành viên phải dành cho công dân của các nước thành viênkhác sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ dành cho công dân của mình
- Quyền ưu tiên: Công ước Paris quy định quyền ưu tiên đối với sáng chế, mẫu hữuích, nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp Cụ thể là trên cơ sở một đơn hợp lệ đầu tiên đãđược nộp tại một trong số các nước thành viên, trong một thời hạn nhất định (12 thángđối với sáng chế và mẫu hữu ích, 6 tháng đối với nhãn hiệu và kiểu dáng công nghiệp)người nộp đơn có thể nộp đơn yêu cầu bảo hộ tại bất cứ nước thành viên nào khác và cácđơn nộp sau sẽ được coi như đã được nộp vào cùng ngày với ngày nộp đơn đầu tiên
- Một số nguyên tắc chung đối với hệ thống bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp mà cácnước thành viên phải tuân thủ;
- Các quy định về hành chính phục vụ cho việc thi hành Công ước
Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật:
Công ước Berne (1886) về bảo hộ các quyền tác giả đối với các tác phẩm văn học vànghệ thuật được ký kết lần đầu tiên vào ngày 9/9/1886 tại Berne, Thuỵ Sỹ
Việt Nam tham gia Công ước Berne, trở thành quốc gia thứ 156 tham gia Công ước vàCông ước này có hiệu lực thi hành đối với Việt Nam từ ngày 26/10/2004 Công ước Berne quyđịnh một số nguyên tắc:
- Nguyên tắc đối xử quốc gia: Theo quy định của Công ước Berne thì những tácphẩm (văn học, nghệ thuật) được bảo hộ theo Công ước Berne thì tác giả của chúngđược hưởng các quyền tương tự như công dân của nước đó hiện được hưởng theo quyđịnh của luật pháp quốc gia sở tại
- Nguyên tắc bảo hộ tự động: Có nghĩa là, tại các quốc gia đã tham gia Công ước thìviệc hưởng và thực hiện các quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật khôngphải làm bất kỳ thủ tục nào Việc bảo hộ được thực hiện kể cả trong trường hợp tácphẩm không được bảo hộ ở quốc gia gốc
Trang 27- Nguyên tắc bảo hộ độc lập: Luật pháp của quốc gia đã tham gia công ước sẽ quyđịnh về mức độ và các thủ tục, phương thức bổ cứu nhằm thực hiện sự bảo hộ quyền tácgiả đối với tác phẩm được yêu cầu bảo hộ Sự đãi ngộ đặc biệt hoặc sự hạn chế bảo hộcủa một quốc gia là thành viên của công ước đối với những tác phẩm của tác giả là côngdân của quốc gia không phải là thành viên sẽ không bắt buộc áp dụng tại các quốc giathành viên khác.
Theo quy định của công ước Bern thì đối tượng bảo hộ là các tác phẩm văn học và nghệ thuật
Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989:
Thoả ước này được ký tại Madrid năm 1891, trong đó quy định việc đăng ký quốc tếnhãn hiệu tại Văn phòng quốc tế của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) ở Geneva TheoThoả ước này thì công dân của một nước thành viên của Thoả ước muốn bảo hộ một nhãn hiệucủa mình tại nhiều nước thành viên khác, trước tiên phải đăng ký nhãn hiệu của mình tại Cơquan Sở hữu công nghiệp quốc gia, sau đó thông qua Cơ quan Sở hữu công nghiệp quốc gia cóthể nộp đơn đăng ký quốc tế cho Văn phòng quốc tế của WIPO Văn phòng quốc tế sẽ công bốđơn đăng ký quốc tế và chỉ rõ những nước thành viên mà người nộp đơn yêu cầu bảo hộ nhãnhiệu của mình (nước được chỉ định) Nước được chỉ định có thời gian 1 năm để xem xét chấpnhận hoặc từ chối bảo hộ nhãn hiệu trên lãnh thổ của mình Nếu sau 1 năm nước được chỉ địnhkhông có ý kiến thì nhãn hiệu coi như được chấp nhận bảo hộ ở nước đó
Tính đến ngày 22.06.1999 Thoả ước Madrid có 51 thành viên Việt Nam tham gia Thoảước này từ ngày 08.03.1949 Tính đến nay đã có hơn 50000 nhãn hiệu của người nước ngoàiđược chấp nhận bảo hộ tại Việt Nam thông qua Thoả ước Madrid
Công ước Stockholm năm 1967 thành lập tổ chức SHTT thế giới (WIPO)
Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới, tiếng Anh viết tắt là WIPO, được thành lập trên cơ sởCông ước ký tại Stockholm này 14.07.1967 gọi là Công ước về việc thành lập "Tổ chức Sởhữu trí tuệ Thế giới" Đây là một tổ chức liên chính phủ có trụ sở tại Geneve, Thụy Sỹ và làmột trong 16 Tổ chức chuyên môn của Liên Hiệp Quốc WIPO có trách nhiệm thúc đẩy việcbảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trên phạm vi toàn thế giới thông qua sự hợp tác giữa các quốc gia
và quản lý các hiệp định, hiệp ước khác nhau liên quan đến các khía cạnh luật pháp và quản lý
sở hữu trí tuệ Tính đến ngày 22.06.1999 số nước thành viên của WIPO là 171 Việt Nam làthành viên của WIPO từ ngày 02.07.1976
Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) năm 1970:
Hiệp ước hợp tác về sáng chế (Patent Cooperation Treaty – PCT ) được ký tạiWashington vào tháng 6 năm 1970, có hiệu lực từ ngày 24 tháng 1 năm 1978 và hoạt động từngày 01.06.1978 Việt Nam tham gia Hiệp ước từ ngày 10.03.1993
Mục tiêu chủ yếu của PCT là đơn giản hoá thủ tục nộp đơn khi người nộp đơn yêu cầubảo hộ sáng chế của mình ở nhiều nước trên thế giới và làm cho việc nộp đơn đó nên có lợi cảcho họ và cơ quan Patent quốc gia mà sáng chế đó được yêu cầu bảo hộ
PCT quy định các bước về:
- Nộp đơn quốc tế
- Xử lý đơn tại cơ quan nhận đơn
- Tra cứu quốc tế
- Công bố đơn
- Xét nghiệm sơ bộ quốc tế