1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật việt nam

90 686 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam
Trường học Trường Đại Học Luật Hà Nội
Chuyên ngành Luật học
Thể loại Luận văn
Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 710,68 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc quyết định áp dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành ch

Trang 1

LUẬN VĂN:

Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối

với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản

phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp

luật Việt Nam

Trang 2

Cho đến nay, đã 60 năm trôi qua, Hải quan Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng vẻ vang của dân tộc Trong thời kỳ đổi mới hoạt động hải quan có tác động rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của hoạt động xuất nhập khẩu, đến môi trường đầu tư nước ngoài, đến hoạt động du lịch; ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo hộ và thúc đẩy sản xuất trong nước, bảo hộ lợi ích người tiêu dùng, bảo vệ môi trường, góp phần bảo vệ trật tự an toàn xã hội, an ninh quốc gia Thực hiện thắng lợi đường lối đổi mới kinh tế, chủ động hội nhập của Đảng Trong điều kiện mới, để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X, ngành Hải quan cần phải làm là đảm bảo thực hiện tốt pháp luật hải quan, trong đó có việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Thực tiễn cho thấy, trong những năm qua, việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan bên cạnh những ưu điểm đã bộc lộ nhiều bất cập, như có nhiều qui định pháp luật còn chồng chéo, không thống nhất, chưa phù hợp với thực tế, thiếu tính khả thi Hoạt động giải thích pháp luật vi phạm hành chính đã triển khai song hiệu quả chưa cao dẫn đến việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan nhiều nơi còn tùy tiện hoặc dung túng bao che, không xử lý hoặc xử lý không kịp thời… Những điều đó làm nảy sinh tâm lý coi thường kỷ cương phép nước Trong khi đó, việc tuyên truyền pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan còn hạn chế, chưa được tiến hành thường xuyên Người dân còn thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết rất hạn chế pháp luật ở lĩnh vực này Hơn nữa các cơ quan có nhiệm vụ xử lý vi phạm hành chính

Trang 3

trong lĩnh vực hải quan cũng đồng thời thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu; công chức thực hiện nhiệm vụ này chưa được đào tạo chuyên sâu, đa số kiêm nhiệm các nhiệm vụ khác

Về mặt lý luận, đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan đặt ra nhiều vấn đề nhưng chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào Một số công trình được công bố chỉ nghiên cứu chung về pháp luật hải quan và xử phạt vi phạm hành chính, những vấn đề như: chất lượng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan; ý thức pháp luật của các đối tượng tham gia hoạt động hải quan; bộ máy

tổ chức và nhân sự; cơ chế phối hợp giữa các lực lượng; phương tiện vật chất kỹ thuật và môi

trường xã hội cũng như dư luận xã hội chưa thực sự được tiến hành trên cơ sở khoa học

Rõ ràng, cả về mặt lý luận, cả về mặt thực tiễn, Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với các dấu hiệu dùng để phân biệt sản phẩm, dịch vụ theo quy định của pháp luật Việt Nam để đề xuất và luận chứng các giải pháp nhằm đảm bảo thực hiện pháp

luật đó nghiêm minh, chính xác, kịp thời là hết sức cần thiết và cấp bách hiện nay

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Những năm trước thời kỳ đổi mới hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu về pháp luật hải quan Theo đường lối đổi mới và nhất là nhằm thực hiện chủ trương "quản lý đất nước bằng pháp luật", việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về pháp luật, về cơ chế thực hiện pháp luật nói chung, pháp luật hải quan nói riêng đã có sự phát triển mạnh Có thể kể đến một số công trình sau:

- Luận án Tiến sĩ Luật học: "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về hải quan trong

điều kiện hiện nay ở nước ta" của Vũ Ngọc Anh, 1999

- Luận văn thạc sĩ luật học: "Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về kiểm tra giám sát

hải quan ở Việt Nam hiện nay" của Hoàng Anh Công, 2001

- Luận văn thạc sĩ luật học: "Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với

hoạt động hải quan ở Việt Nam hiện nay" của Trần Văn Dũng, 2001

- Luận văn thạc sĩ luật học: "Thực hiện pháp luật ở các tỉnh miền núi phía bắc ở

nước ta hiện nay - thực trạng và các phương hướng, giải pháp" của Lê Thanh Bình, 2002

Trang 4

- Luận văn thạc sĩ luật học: "Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật trong

lĩnh vực hải quan ở Việt Nam hiện nay" của Bùi Văn Thịnh, 2003

- Luận văn thạc sĩ luật học: "Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong lĩnh vực

xử lý vi phạm hành chính ở nước ta hiện nay" của Đặng Thanh Sơn, 2003

- Luận văn thạc sĩ luật học: "Vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải

quan và giải pháp xử lý "của Lê Nguyễn Nam Ninh, 2004

- Luận văn thạc sĩ luật học: "Hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về hải

quan đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ở Việt Nam hiện nay" của Bùi Văn

Hải, 2005

- Đề tài nghiên cứu cấp ngành: "Nghiên cứu hoàn thiện hệ thống các văn bản qui

phạm pháp luật trong lĩnh vực hải quan đối chiếu với các cam kết quốc tế liên quan" của

Viện Nghiên cứu Hải quan, 2003

- Đề tài khoa học cấp ngành: "Nghiên cứu một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp

luật xử lý vi phạm hành chính về hải quan theo yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế " của

Vụ Pháp chế - Tổng cục Hải quan, 2005

Ngoài ra, còn có một số bài viết của các cán bộ chuyên gia trong và ngoài ngành hải quan liên quan đến đề tài luận văn đã được đăng trên các tạp chí như bài viết của Tiến

sĩ Lê Vương Long và thạc sĩ Hoàng Văn Sao đăng trên Tạp chí Luật học - đặc san về xử lý

vi phạm hành chính Một số các bài viết trên trang web Hải quan Việt Nam về pháp luật

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan Bài viết trên trang tin điện tử Bộ Tài chính về "một số vướng mắc cần sớm tháo gỡ trong xử lý vi phạm hành chính về hải quan"; một số bài viết về những vướng mắc khi xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

ở các Cục Hải quan địa phương trong từng lĩnh vực cụ thể…

Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu tập trung vào các vấn đề về hoàn thiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính, pháp luật hải quan, quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động hải quan, một số lĩnh vực công tác cụ thể của ngành hải quan, chưa có

đề tài trực tiếp nghiên cứu việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Trang 5

3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn

* Mục đích:

Luận văn trên cơ sở làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài để đề xuất và luận chứng các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam hiện nay

* Nhiệm vụ:

Luận văn giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Phân tích cơ sở lý luận về thực hiện và đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, như khái niệm, đặc điểm, nội dung, vai trò của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, khái niệm, đặc điểm của thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, từ đó tìm hiểu khái niệm

và yêu cầu đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, các yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan hiện nay

- Phân tích, đánh giá thực trạng đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

- Đề xuất và luận chứng các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Là những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện

pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: Trong khuôn khổ có hạn, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu

những vấn đề cơ bản của việc bảo đảm thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, và về thời gian, chỉ nghiên cứu chủ yếu giai đoạn từ sau đổi mới (1986) đến nay, đồng thời có tham khảo các quy định pháp luật trước đó khi phân tích các vấn đề mang tính lịch sử

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Trang 6

- Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhà nước và pháp luật, về tuyên truyền, giáo dục thực hiện pháp luật Luận văn dựa trên cơ sở lý luận trực tiếp của bộ môn

lý luận chung về nhà nước và pháp luật của khoa học pháp lý xã hội chủ nghĩa

- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, như phương pháp kết hợp lý luận với thực tiễn, phân tích và tổng hợp, lịch sử cụ thể Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu của một số bộ môn khoa học khác, như phương pháp luật học so sánh, phương pháp xã hội học (điều tra, khảo sát)

6 Những đóng góp mới của luận văn

Điểm mới nhất của luận văn là ở chỗ không chỉ nghiên cứu thực hiện pháp luật xử

lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan mà là nghiên cứu làm sáng tỏ các yêu cầu, các yếu tố đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Từ đó, các giải pháp đề xuất mang tính toàn diện, không chỉ có ý nghĩa đối với thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, mà còn có ý nghĩa trong nghiên cứu đảm bảo thực hiện pháp luật nói chung, góp phần hoàn thiện cơ chế thực hiện

và bảo vệ pháp luật, giáo dục pháp luật theo chủ trương, đường lối của Đảng hiện nay

7 ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần xây dựng hệ thống các khái niệm, đặc điểm

của việc thực hiện, đảm bảo thực hiện và các yêu cầu, yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

- ý nghĩa về mặt thực tiễn: Luận văn góp phần hoàn thiện cơ chế thực hiện và bảo

vệ pháp luật, giáo dục pháp luật theo chủ trương, đường lối của Đảng Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo để nghiên cứu thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và thực hiện pháp luật hải quan ở Việt Nam hiện nay theo các hướng của Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam qui định tại Nghị quyết 48-NQ/ TƯ của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX)

Trang 7

8 Kết cấu của luận văn

Ngoàiphần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 2 chương, 4 tiết

Trang 8

Chương 1

Cơ sở lý luận về thực hiện và đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở Việt Nam

1.1 Pháp luật và thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

1.1.1 Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

1.1.1.1 Khái niệm pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Để hiểu được khái niệm pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trước hết cần phải tìm hiểu một số khái niệm liên quan:

- Khái niệm vi phạm hành chính

Vi phạm hành chính là một loại vi phạm pháp luật xảy ra khá phổ biến hàng ngày trong đời sống xã hội, kinh tế, từ những hành vi nhỏ như vứt rác không đúng nơi, đúng chỗ, đến những hành vi có tính chất, mức độ lớn hơn như điều khiển môtô, xe máy đi vào đường một chiều, vượt đèn đỏ, hoặc những hành vi trong hoạt động sản xuất, kinh doanh như tiến hành kinh doanh mà không đăng ký theo quy định của pháp luật, trốn thuế, thay đổi trụ sở của doanh nghiệp mà không thông báo, hay những hành vi trong lĩnh vực bảo vệ môi trường như vận chuyển và xử lý chất thải, các chất gây ô nhiễm môi trường không đúng theo quy định về bảo vệ môi trường; những hành vi trong lĩnh vực thương mại như xuất nhập khẩu hàng hóa không đúng giấy phép hoặc không làm đúng thủ tục hải quan trong lĩnh vực hải quan Tóm lại, những hành vi vi phạm pháp luật trên thể hiện rất đa dạng, phong phú, ở hầu hết các lĩnh vực của quản lý nhà nước, song đều có chung một số đặc điểm sau:

Một là, vi phạm hành chính đều là những hành vi xâm hại đến trật tự quản lý nhà

nước, phá vỡ trật tự hành chính đang được duy trì và bảo vệ, làm ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên, tính chất và

Trang 9

mức độ xâm hại của hành vi vi phạm hành chính mặc dù nguy hiểm cho xã hội song chưa

đủ các yếu tố cấu thành tội phạm được quy định tại Bộ luật hình sự

Hai là, chủ thể của hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân Đối với tổ

chức, thì hành vi này được thực hiện bởi cá nhân nhưng dưới danh nghĩa tổ chức (do tổ chức giao, phân công hoặc thực hiện hành vi nhân danh tổ chức đó)

Các chủ thể thực hiện hành vi vi phạm hành chính là tổ chức hoặc cá nhân có năng lực chịu trách nhiệm hành chính

Theo quy định của pháp luật hiện hành, cá nhân là chủ thể của vi phạm hành chính phải là người không mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi và đủ độ tuổi do pháp luật quy định Người từ độ tuổi 14 đến dưới 16 tuổi là chủ thể của vi phạm hành chính với lỗi cố ý Người đủ từ 16 tuổi trở lên là chủ thể của vi phạm hành chính trong mọi trường hợp (vi phạm do lỗi cố ý hay vô ý) Tổ chức là chủ thể vi phạm hành chính là các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn

vị trực thuộc các lực lượng vũ trang nhân dân theo quy định của pháp luật Tổ chức, cá nhân nước ngoài cũng là chủ thể vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết, gia nhập có quy định khác Như vậy, chủ thể của vi phạm hành chính có cơ cấu rộng hơn rất nhiều so với cơ cấu chủ thể của vi phạm hình sự

Trách nhiệm pháp lý hành chính phát sinh như một tất yếu khách quan, có nghĩa là khi thực hiện hành vi vi phạm hành chính cá nhân, tổ chức phải chịu những hình thức xử

lý do pháp luật quy định Trách nhiệm hành chính tồn tại dưới hình thức các chế tài hành chính, thông thường là phạt tiền, cảnh cáo và có thể đồng thời còn áp dụng các biện pháp hành chính khác So với trách nhiệm hình sự, trách nhiệm hành chính phong phú hơn, song

ít nghiêm khắc hơn

Ba là, vi phạm hành chính cũng như mọi hành vi vi phạm pháp luật khác đều xâm

hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ Nói cách khác, khách thể của vi phạm hành chính là quan hệ xã hội về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực bị hành vi vi phạm xâm hại Khách thể của vi phạm pháp luật chính là yếu tố quan trọng để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm pháp luật loại này Do các quan hệ

Trang 10

trong quản lý nhà nước rất đa dạng và phong phú nên khách thể của hành vi vi phạm pháp luật hành chính cũng rất phong phú, đa dạng trên mọi lĩnh vực của quản lý nhà nước được quy định cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật

Từ những phân tích trên, có thể hiểu: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân,

tổ chức thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý, vi phạm quy định của pháp luật về quản lý nhà nước mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp luật phải bị xử lý vi phạm hành chính

- Khái niệm xử lý vi phạm hành chính

Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp

xử lý hành chính

Xử phạt hành chính thực chất là một loại hoạt động quản lý hành chính nhà nước

Đó là loại hoạt động đặc biệt và rất phức tạp bao gồm một loạt các hành vi cụ thể liên quan mật thiết với nhau như phân tích, đánh giá tính chất, mức độ của vi phạm hành chính, xác định thẩm quyền xử phạt, đối chiếu với quy định của pháp luật, áp dụng hình thức và mức phạt và ra quyết định xử phạt hành chính

Quyết định xử phạt hành chính khi được ban hành sẽ gây một hậu quả pháp lý đặc biệt, làm phát sinh trách nhiệm hành chính của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, tức là buộc họ phải chịu hậu quả bất lợi trước Nhà nước về tinh thần (bị hạn chế quyền) hoặc về tài sản (bị phạt tiền, bị tịch thu tang vật, phương tiện )

Xử phạt vi phạm hành chính có những đặc điểm cơ bản sau:

Một là, xử phạt vi phạm hành chính là một loại hoạt động cưỡng chế nhà nước,

mang tính quyền lực nhà nước

Tính cưỡng chế và tính quyền lực nhà nước thể hiện ở chỗ hoạt động xử phạt hành chính luôn luôn được các cơ quan hoặc cán bộ có thẩm quyền thực hiện Chỉ có các cơ quan hoặc cán bộ nhà nước nào được Nhà nước trao thẩm quyền xử phạt hành chính và được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có quy định về xử phạt hành chính mới có quyền quyết định xử phạt

Trang 11

Xử phạt hành chính là phản ứng của Nhà nước trước các hành vi xâm hại quy tắc quản lý nhà nước Biểu hiện của phản ứng đó chính là việc áp dụng các biện pháp xử phạt hành chính Việc áp dụng các biện pháp xử phạt này có tác dụng trực tiếp điều chỉnh hành

vi xử sự của con người vi phạm, tức là buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi trước Nhà nước và có tác dụng đình chỉ vi phạm hành chính qua đó mà bảo vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước

Hai là, cơ sở để xử phạt hành chính là vi phạm hành chính

Chỉ có hành vi nào xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự do các cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với lỗi

cố ý hay vô ý mới bị xử phạt hành chính

Đặc điểm có tính nguyên tắc trên đây đã được khẳng định tại khoản 2 Điều 3 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính: "Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt hành chính khi có hành vi

vi phạm hành chính do pháp luật quy định" [38]

Từ quy định trên, khi áp dụng các biện pháp xử phạt đòi hỏi các cơ quan hoặc cán

bộ nhà nước có thẩm quyền phải xác định rõ có vi phạm hành chính xảy ra hay không, tính chất và mức độ của vi phạm như thế nào, hành vi vi phạm đó có quy định trong các văn bản pháp luật quy định về xử phạt hành chính hay chưa

Ba là, hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành qua nhiều khâu, nhiều giai

đoạn nhưng kết quả của hoạt động này phải được thể hiện bằng quyết định xử phạt hành chính

Trong xử phạt hành chính, các chủ thể có thẩm quyền tiến hành xử phạt luôn được thực hiện hai loại hành vi: 1- hành vi ban hành quyết định xử phạt Quyết định xử phạt hành chính phải được thể hiện bằng văn bản hay bằng một hình thức khác do pháp luật quy định; 2- hành vi hành chính khác, như nhằm đình chỉ hành vi vi phạm, lập biên bản vi phạm, giải thích hành vi vi phạm và thông báo điều khoản văn bản pháp luật được áp dụng cho cá nhân hoặc tổ chức vi phạm

Hai loại hành vi trên luôn có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Trong đó, hành vi ban hành quyết định xử phạt là cơ bản và chủ yếu nhất Các hành vi hành chính khác được thực hiện nhằm hướng tới việc ra quyết định xử phạt hoặc thực hiện

Trang 12

trên cơ sở quyết định xử phạt Đặc biệt, khi ban hành quyết định xử phạt sẽ dẫn đến hậu quả pháp lý là làm phát sinh trách nhiệm hành chính Quyết định xử phạt hành chính là hình thức thể hiện công khai ý chí và thái độ của Nhà nước phản ứng trước các hành vi vi phạm hành chính và mức cưỡng chế của Nhà nước đối với chủ thể vi phạm

Bốn là, hoạt động xử phạt hành chính được tiến hành trong khuôn khổ pháp luật và

phải tuân theo pháp luật về trình tự, thủ tục hành chính

Tất cả các cơ quan, cán bộ có thẩm quyền xử phạt hành chính khi thực hiện các hành vi xử phạt đều phải tuân theo các trình tự, thủ tục hành chính do pháp luật quy định chứ không tuân theo các quy định về tố tụng hình sự kể cả trường hợp Tòa án nhân dân thực hiện quyền xử phạt hành chính

Từ những đặc điểm trên có thể đi đến định nghĩa sau: Xử phạt vi phạm hành chính

là một loại hoạt động cưỡng chế hành chính cụ thể mang tính quyền lực nhà nước phát sinh khi có ví phạm hành chính; biểu hiện ở việc áp dụng các chế tài hành chính mang tính chất trừng phạt do các chủ thể, có thẩm quyền nhân danh Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật

Xử lý vi phạm hành chính còn là việc áp dụng các biện pháp hành chính khác khi có hành vi vi phạm hành chính xảy ra Các biện pháp xử lý hành chính khác được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội nhưng chưa đến múc truy cứu trách nhiệm hình sự được quy định tại các điều 23, 24, 25, 26, 27 của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Cụ thể như: Giáo dục tại xã phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh; quản chế hành chính

Từ khái niệm xử lý vi phạm hành chính có thể đi đến quan niệm về pháp luật xử lý

vi phạm hành chính, đó là: Tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm

điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do có hành vi vi phạm hành chính, bao gồm các quy phạm, xác định hình thức xử phạt vi phạm hành chính và một số biện pháp xử lý hành chính khác

- Khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Điều 11 Luật Hải quan quy định:

Trang 13

Hải quan Việt Nam có nhiệm vụ thực hiện kiểm tra, giám sát hàng hóa, phương tiện vận tải; phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới; tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu; kiến nghị chủ trương, biện pháp quản lý nhà nước về hải quan đối với hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và chính sách thuế đối với hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu [26]

Cơ quan hải quan là cơ quan trực tiếp thực hiện quyền kiểm tra, giám sát đảm bảo duy trì sự quản lý của Nhà nước đối với hàng hóa xuất, nhập khẩu, phương tiện vận tải và hành khách xuất, nhập cảnh; điều tra chống buôn lậu, chống gian lận thương mại… nhằm bảo hộ và thúc đẩy sản xuất trong nước, tăng sức cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu; thu thuế xuất, nhập khẩu bảo đảm nguồn thu cho ngân sách nhà nước, bảo vệ lợi ích hợp pháp cho người tiêu dùng; bảo vệ môi trường; góp phần bảo vệ lợi ích chủ quyền kinh tế và an ninh quốc gia; trật tự, an toàn xã hội Cơ quan hải quan thực hiện các quyền đó thông qua một hệ thống các quy trình thủ tục hành chính đó là thủ tục hải quan nhằm hợp thức hóa cho hàng hóa, hành lý, phương tiện vận tải khi qua lại biên giới, đồng thời thực hiện các quyền kiểm tra, giám sát nhằm đảm bảo các chế độ quản lý của nhà nước đối với các đối tượng nói trên cũng như các quy trình thủ tục được đảm bảo tuân thủ

Trên thực tế hoạt động Hải quan luôn có những hành vi cố ý hay vô ý vi phạm các quy định của Nhà Nước đối với các chế độ quản lý, các quy trình thủ tục hay việc kiểm tra, giám sát của cơ quan hải quan Các vi phạm đó chính là các vi phạm pháp luật hải quan, xâm phạm đến trật tự quản lý nhà nước về hải quan và diễn ra phổ biến ở hầu hết các khâu nghiệp

vụ của quá trình kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan Các hành vi vi phạm pháp luật này, tùy theo tính chất, mức độ vi phạm đều phải bị xử phạt hoặc có thể có hành vi bị xử lý vi phạm hình sự như các hành vi buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, hành lý qua biên giới theo quy định tại các điều 153, 154 Bộ luật hình sự, nhưng đa số bị xử phạt theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

Từ khái niệm vi phạm pháp luật và vi phạm pháp luật hành chính cùng với những phân tích ở trên có thể hiểu khái niệm vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan như sau:

vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý xâm phạm tới các quy định quản lý nhà nước về hải quan mà chưa đến

Trang 14

mức truy cứu trách nhiệm hình sự và phải chịu xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật

Vi phạm các quy định về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan được quy định

cụ thể tại Điều 1 của Nghị định số 138/2004/NĐ-CP ngày 17/6/2004 (sau đây gọi tắt là Nghị định 138/2004/NĐ-CP) của Thủ tướng Chính phủ và các văn bản pháp luật khác có quy định hành vi và chế tài xử phạt mà văn bản đó có xác lập thẩm quyền xử phạt cho cơ quan hải quan, bao gồm:

+ Vi phạm các quy định về thủ tục hải quan;

+ Vi phạm các quy định về kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan;

+ Vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, hành lý ngoại hối, vàng, tiền Việt Nam, kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hóa phẩm, bưu phẩm, vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và các tài sản khác (gọi chung là hàng hóa); vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải

- Khái niệm xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là thuật ngữ pháp lý dùng để chỉ

việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và áp dụng các biện pháp xử lý

khác

Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là hoạt động do cơ quan hải quan tiến hành (hoặc do cơ quan nhà nước được pháp luật qui định) đối với cá nhân, tổ chức vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan có lỗi cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm theo các qui định của pháp luật phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Xuất phát từ khái niệm của xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ở trên cho thấy, ngoài các đặc điểm chung của xử phạt vi phạm hành chính thì xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có một số đặc điểm riêng sau:

Một là, căn cứ xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là các văn bản

quy phạm pháp luật do nhiều cơ quan ban hành gồm:

Trang 15

+ Quốc hội ban hành các luật trong đó có nhiều quy định về xử phạt vi phạm hành chính hoặc các biện pháp xử phạt hành chính khác Ví dụ, tại Điều 20 của Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, hay tại Điều 65, 68 Luật thương mại quy định cho việc tái xuất đối với hàng hóa nhập khẩu xác định là nhầm lẫn không đúng với hợp đồng

+ ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành nhiều văn bản, điển hình là Pháp lệnh xử

lý vi phạm hành chính ban hành năm 2002 xác định các hành vi vi phạm hành chính, thời hiệu xử phạt hành chính, nguyên tắc xử phạt hành chính, các biện pháp khắc phục hậu quả

vi phạm hành chính, thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính và khung phạt vi phạm hành chính về hải quan đến mức tối đa 70 triệu đồng

+ Chính phủ ban hành các nghị định quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước, trong đó có lĩnh vực quản lý nhà

áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác Cụ thể như Nghị định số 134/2003/NĐ-CP ngày 14/11/2003 quy định chi tiết thi hành một số điều của pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

+ Các bộ, cơ quan ngang bộ ban hành các thông tư hướng dẫn thi hành các nghị định của Chính phủ về xử phạt hành chính theo từng lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành Nhiều thông tư của các bộ, cơ quan ngang bộ, thông tư liên tịch giữa các bộ, cơ quan ngang bộ được ban hành để hướng dẫn thi hành các nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước chuyên ngành nhưng

có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực quản lý hải quan, như thương mại, thuế, môi trường, văn hóa, ngân hàng Ví dụ, Thông tư số 77/ TT của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hướng dẫn thi hành xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi xuất khẩu, nhập khẩu tiền, ngoại hối trái phép qua biên giới

Để quản lý nhà nước phù hợp với tình hình thực tế các văn bản quy phạm pháp luật về xử lý vi phạm hành chính thường được sửa đổi, bổ sung Hơn nữa, các nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính do nhiều bộ, cơ quan ngang bộ, ban ngành ban hành Điều này dễ dẫn đến tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định về xử lý vi

Trang 16

phạm hành chính trong hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật Vấn đề nổi cộm đang được đặt ra hiện nay là phải làm sao để các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật

về vi phạm hành chính thống nhất, đồng bộ nhằm phục vụ có hiệu quả công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Hai là, vi phạm pháp luật hành chính diễn ra phổ biến hàng ngày, hàng giờ trong đời

sống xã hội dưới nhiều hình thức phong phú, đa dạng Và việc áp dụng pháp luật về xử phạt vi phạm pháp luật hành chính do nhiều cơ quan, nhiều người có thẩm quyền thực hiện (ví dụ, bộ đội biên phòng, quản lý thị trường, một số thanh tra chuyên ngành ) Hơn nữa việc áp dụng pháp luật xử phạt vi phạm hành chính được thực hiện trực tiếp với người dân, với các tổ chức và cũng trực tiếp động chạm đến các quyền tự do dân chủ của công dân, vì vậy công tác giám sát, kiểm tra rất khó thực hiện sâu sát và có hiệu quả Điều này đòi hỏi người có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong khi thực thi công vụ phải có tinh thần trách nhiệm, tính tự giác và ý thức kỷ luật cao áp dụng các biện pháp hành chính phải phù hợp với quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và các văn bản pháp luật hiện hành về tổ chức hoạt động, chức năng nhiệm vụ của hải quan Người có thẩm quyền phải thực hiện đúng mục đích và yêu cầu của văn bản pháp luật cụ thể quy định xử phạt vi phạm hành chính

Ba là, trong khi thực hiện chức năng nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước trong

từng lĩnh vực, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và xử lý vi phạm hành chính để đáp ứng nhu cầu đấu tranh phòng và chống vi phạm hành chính về hải quan Ngoài Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 được ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành theo thẩm quyền, Chính phủ có quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định hành vi vi phạm, hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với từng hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực về hải quan và lĩnh vực khác

có liên quan đến lĩnh vực hải quan Pháp lệnh này cũng không cho phép Hội đồng nhân dân và ủy ban nhân dân từ cấp tỉnh trở xuống được ban hành văn bản quy định về hành vi, chế tài xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác Điều này đã cho thấy, việc ban hành quy định xử lý vi phạm hành chính chỉ thuộc về thẩm quyền của

cơ quan Nhà nước ở trung ương, các cơ quan nhà nước ở địa phương có trách nhiệm thực

Trang 17

hiện những quy định, xử lý vi phạm hành chính về hải quan do các cơ quan quản lý nhà nước ở Trung ương quy định

Bốn là, khi thực hiện xử phạt vi phạm pháp luật hành chính, người có thẩm quyền

xử phạt chỉ được thực hiện quyền xử phạt của mình trong phạm vi mà pháp luật đã quy định.Trong trường hợp quyết định xử phạt hoặc quyết định áp dụng biện pháp hành chính khác vượt thẩm quyền được pháp luật quy định cho phép là vi phạm pháp luật và phải bị

xử lý Ví dụ như khoản 1 Điều 34 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính quy định: Đội trưởng đội nghiệp vụ thuộc Chi cục Hải quan có quyền: a) Phạt cảnh cáo; b) phạt tiền đến 500.000 đồng

Năm là, kết quả của việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan thể

hiện ở các quyết định xử phạt hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra Việc quyết định áp dụng các hình thức xử phạt, các biện pháp khắc phục hậu quả vi phạm hành chính thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, qua đó giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan

Biện pháp xử lý hành chính khác trong lĩnh vực hải quan như các biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính về hải quan gây ra Về bản chất, biện pháp này không

có tính chất trừng phạt người vi phạm hành chính mà chỉ nhằm mục đích khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính để lại trên thực tế Biện pháp này gồm: buộc tiêu huỷ tang vật

vi phạm là văn hoá phẩm thựcđộc hại, hàng hóa gây hại cho sức khỏe con người, vật nuôi

và cây trồng; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tái xuất hàng hóa, phương tiện vi phạm; buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái với quy định pháp luật

- Khái niệm pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Qua các phân tích ở trên có thể định nghĩa pháp luật xử lý vi phạm hành chính

trong lĩnh vực hải quan như sau: pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải

quan là một bộ phận của pháp luật xử lý vi phạm hành chính, và là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh do có

Trang 18

hành vi vi phạm hành chính về hải quan, bao gồm các quy phạm quy định hình thức xử phạt vi phạm và một số biện pháp xử lý hành chính khác trong lĩnh vực hải quan

1.1.1.2 Nội dung pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

- Các quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính về thủ tục hải quan

Thủ tục hải quan là các công việc mà người khai hải quan và công chức hải quan phải thực hiện theo qui định của Luật Hải quan đối với hàng hóa, phương tiện vận tải (khoản 6 Điều 4 Luật Hải quan)

Vi phạm hành chính về thủ tục hải quan là những hành vi vi phạm về các nguyên tắc tiến hành thủ tục, địa điểm làm thủ tục và thời hạn làm thủ tục hải quan đó là:

+ Là hành vi làm thủ tục hải quan không đúng thời hạn qui định theo qui định của Luật Hải quan; nộp không đúng thời hạn chứng từ thuộc hồ sơ hải quan thuộc diện được chậm nộp theo qui định của pháp luật

+ Là hành vi tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập hàng hóa, phương tiện vận tải không đúng thời hạn ghi trong giấy phép, tờ khai hải quan hoặc giấy tờ khác theo quy định của pháp luật

+ Là hành vi không nộp chứng từ phải nộp thuộc hồ sơ hải quan được chậm nộp theo qui định của pháp luật; hành vi kê khai không đúng thời hạn theo quy định của pháp luật khi thay đổi mục đích sử dụng hàng hóa

Nếu người khai hải quan (pháp nhân, công dân tham gia hoạt động hải quan) không thực hiện các quy định trên thì khi đó cơ quan, cán bộ, công chức hải quan (được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý) sẽ thực hiện pháp luật bằng hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tùy theo mức độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 2.000.000 đồng theo quy định tại Điều 8 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

- Các quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính về kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan

Trang 19

Kiểm tra hải quan là việc kiểm tra hồ sơ hải quan, các chứng tư liên quan và kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải do cơ quan hải quan thực hiện (khoản 8 Điều 4 Luật Hải quan)

Vi phạm hành chính về kiểm tra hải quan là các hành vi sau:

+ Không đưa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đến đúng địa điểm qui định để làm thủ tục hải quan; không cung cấp thông tin chứng từ tài liệu liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh khi cơ quan hải quan yêu cầu theo qui định của pháp luật; không chấp hành quyết định kiểm tra sau thông quan không có

lý do xác đáng; không lưu trữ đầy đủ hồ sơ hải quan, sổ sách chứng từ kế toán liên quan đến hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đã được thông quan trong thời hạn phải lưu trữ theo qui định của pháp luật; không xuất trình hàng hóa đang lưu giữ là đối tượng kiểm tra sau thông quan theo yêu cầu của cơ quan hải quan; không bố trí người, phương tiện phục vụ việc kiểm tra thực tế hàng hóa, phương tiện vận tải khí cơ quan hải quan yêu cầu mà không

có lý do xác đáng; chuyển nhượng sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thuế quan không đúng quy định; tự ý sử dụng hàng hóa được giao quản lý chờ làm thủ tục hải quan

+ Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trái với qui định của nhà nước về viện trợ nhân đạo; hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không khai hoặc không đúng với khai hải quan về số lượng, trọng lượng, chất lượng, mã số hàng hóa, trị giá, xuất xứ, không đúng nội dung giấy phép

+ Thay đổi hình thức, cấu tạo, tính chất hàng hóa để hợp thức việc xuất khẩu, nhập khẩu; đánh tráo hàng hóa đã kiểm tra hải quan với hàng hóa chưa kiểm tra hải quan

+ Vi phạm quy định chuyển nhượng sử dụng hàng hóa thuộc đối tượng được hưởng ưu đãi thuế quan không đúng quy định; hành vi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không khai hoặc không đúng với khai hải quan về số lượng, trọng lượng, chất lượng, mã

số hàng hóa, trị giá, xuất xứ và các hành vi thay đổi hình thức, cấu tạo, tính chất hàng hóa

để hợp thức việc xuất khẩu, nhập khẩu mà có hành vi trốn thuế thì bị xử phạt theo quy định của pháp luật về thuế

Trang 20

+ Xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa trái với quy định về ưu đãi, miễn trừ hải quan; hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu; đưa hàng hóa giả mạo xuất xứ vào lãnh thổ Việt Nam; xuất khẩu hàng hóa giả mạo xuất xứ; đưa hàng hóa, phương tiện vào lãnh thổ Việt Nam khi chưa được phép của cơ quan nhà nước theo thẩm quyền quy định; xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa không có giấy phép theo quy định

+ Giả mạo niêm phong hải quan, giấy tờ thuộc hồ sơ hải quan để xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa mà không phải là tội phạm; không xuất trình được giấy phép khi hàng hóa

về tới cửa khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu theo quy định phải có giấy phép trước khi ký hợp đồng; xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa gây ô nhiễm môi trường, lây lan dịch bệnh, có hại cho sức khỏe con người

Các chủ thể tham gia hoạt động hải quan không thực hiện các quy định trên về kiểm tra hải quan thì cơ quan, cán bộ, công chức hải quan (được Nhà nước trao cho thẩm quyền

xử lý) sẽ thực hiện pháp luật bằng hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tùy theo mức độ hành vi

có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả cho phù hợp theo quy định tại Điều 15 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan: xử phạt từ 1.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng Ngoài việc phạt tiền cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính còn bị phạt bổ xung hặc bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau: tịch thu hàng hóa; tước quyền sử dụng giấy phép; buộc đưa tang vật vi phạm ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc buộc tiêu hủy tang vật, phương tiện vi phạm

Giám sát hải quan là biện pháp nghiệp vụ do cơ quan hải quan áp dụng để đảm bảo

sự nguyên trạng của hàng hóa, phương tiện vận tải đang thuộc đối tượng quản lý hải quan (khoản 9 Điều 4 Luật Hải quan) Giám sát hải quan được thực hiện trực tiếp bởi cán bộ, công chức hải quan hoặc gián tiếp như: niêm phong, kẹp chì hải quan, dán tem, dùng máy soi, máy ngửi, camera để quan sát, xem xét, theo dõi hoặc dùng súc vật được huấn luyện

để dò tìm…

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính về giám sát hải quan quy định các hành vi sau

là các hành vi vi phạm hành chính về giám sát hải quan:

Trang 21

+ Hành vi không bảo quản nguyên vẹn niêm phong hải quan, kho hàng hóa, hàng hóa, phương tiện vận tải đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan không có lý do xác đáng

+ Hành vi di chuyển phương tiện vận tải, hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan không đúng qui định

+ Hành vi tự ý thay đổi bao bì, hình thức kiểu dáng công nghiệp, xuất xứ, nhãn mác, chủng loại, chất lượng, số lượng, trọng lượng, tiêu thụ hàng hóa đang chịu sự giám sát hải quan

Các chủ thể tham gia hoạt động hải quan có các hành vi vi phạm như quy định trên

về giám sát hải quan thì cơ quan, cán bộ, công chức hải quan(được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý) sẽ thực hiện pháp luật bằng hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tùy theo mức

độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả cho phù hợp theo quy định tại Điều 9 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Kiểm soát hải quan là các biện pháp tuần tra, điều tra hoặc biện pháp nghiệp vụ khác do cơ quan hải quan áp dụng để phòng, chống buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và các hành vi khác vi phạm pháp luật hải quan (khoản 10 Điều 4 Luật Hải quan)

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính về kiểm sát hải quan quy định cụ thể những hành vi sau đây là hành vi vi phạm về kiểm soát hải quan:

+ Lên, xuống phương tiện vận tải chở hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đang chịu sự kiểm tra hải quan khi chưa được phép của cơ quan hải quan; không dừng phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh đúng địa điểm quy định để làm thủ tục hải quan; điều khiển phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh không đúng tuyến đường cửa khẩu quy định

+ Hành vi không thực hiện đúng quy định về quản lý hải quan khi đưa tàu biển vận chuyển hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu vào Việt Nam không đúng cảng quy định; tự ý cặp mạn tàu thuyền chở hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu đang làm thủ tục hải quan

Trang 22

+ Không chấp hành hiệu lệnh của công chức hải quan theo quy định khi di chuyển phương tiện vận tải trong địa bàn hoạt động của hải quan; không thực hiện yêu cầu mở nơi cất giữ hàng hóa theo quy định để công chức hải quan kiểm tra; bốc dỡ hàng hóa không đúng cảng đích ghi trong vận đơn mà không có lý do xác đáng

+ Đưa vào địa bàn hoạt động hải quan hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu mà hàng hóa đó chưa đủ giấy tờ hợp lệ theo quy định; chứa chấp, mua bán, vận chuyển trong địa bàn hoạt động hải quan hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu trái phép mà tang vật vi phạm

có trị giá trên, dưới 20.000.000 đồng

+ Tự ý xếp, dỡ, chuyển tải, sang mạn, sang toa, cắt toa hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh trên phương tiện vận tải đang chịu sự kiểm tra, giám sát hải quan

+ Tẩu tán, tiêu hủy hoặc vứt bỏ hàng hóa để trốn tránh sự kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan; hành vi đánh tráo, tẩu tán tang vật, phương tiện vi phạm đã bị phát hiện, tạm giữ

+ Cư dân biên giới (là người có hộ khẩu thường trú hoặc được phép tạm trú dài hạn tại các xã biên giới) có hành vi mang qua biên giới hàng hóa vượt mức quy định của pháp luật mà không khai hải quan; hàng hóa thuộc diện Nhà nước không cho phép trao đổi; mang hàng hóa qua biên giới không đúng cửa khẩu quy định; chứa chấp, mua bán vận chuyển trong địa bàn hoạt động hải quan hàng hóa có nguồn gốc nhập khẩu trái phép

Các chủ thể tham gia hoạt động hải quan có các hành vi vi phạm như quy định trên

về kiểm soát hải quan thì cơ quan, cán bộ, công chức hải quan (được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý) sẽ thực hiện pháp luật bằng hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tùy theo mức

độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đến 20.000.000 đồng và còn có thể bị tịch thu tang vật vi phạm hoặc có thể bị buộc nộp lại số tiền bằng trị giá, tang vật vi phạm theo quy định tại Điều 14 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

- Các quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa; vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải

Trang 23

Hàng hóa bao gồm hàng hóa xuất, nhập khẩu, quá cảnh; hành lý, ngoại hối, tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh; kim khí quý, đá quý, cổ vật, văn hóa phẩm, bưu phẩm, các tài sản khác xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hoặc lưu giữ trong địa bàn hoạt động của hải quan; vật dụng trên phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh và các tài sản khác

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính về xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa quy định cụ thể những hành vi sau đây là hành vi vi phạm:

+ Hành vi vi phạm các quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa theo loại hình quà biếu như hành vi xuất khẩu, nhập khẩu quà biếu không đúng với khai hải quan, quà biếu thuộc danh mục cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu hoặc xuất nhập khẩu có điều kiện nhưng không có đủ điều kiện để xuất khẩu, nhập khẩu

+ Hành vi vi phạm quy định về xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa của người xuất nhập cảnh như vi phạm quy định về khai hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu hành lý; vi phạm quy định về hải quan khi xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa ngoài định mức quy định

+ Hành vi vi phạm các quy định về về khai hải quan đối với tiền Việt Nam của người xuất cảnh, nhập cảnh tùy theo trị giá tang vật vi phạm Theo quy định hiện hành mỗi hành khách khi xuất cảnh, nhập cảnh được phép mang theo 10.000.000 Việt Nam đồng không phải khai báo hải quan

+ Hành vi vi phạm các quy định về xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh phương tiện vận tải như sau: Phương tiện vận tải nhập cảnh phải được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu nhập đầu tiên, phương tiện vận tải xuất cảnh phải được làm thủ tục hải quan tại cửa khẩu xuất cuối cùng Và các phương tiện vận tải xuất nhập cảnh, quá cảnh phải đi qua đúng

Trang 24

tuyến đường quy định, người điều khiển phương tiện hoặc chủ phương tiện vận tải phải khai báo, làm thủ tục hải quan, cung cấp các thông tin, chứng từ về hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu, vật dụng trên phương tiện vận tải theo thời hạn quy định

Các chủ thể tham gia hoạt động hải quan có các hành vi vi phạm như quy định trên thì cơ quan, cán bộ, công chức hải quan (được Nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý) sẽ thực hiện pháp luật bằng hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính tùy theo mức độ hành vi có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 50.000 đồng đến 20.000.000 đồng bị theo quy định tại Điều 10, 11, 12, 13 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

1.1.1.3 Vai trò của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Với tư cách là một yếu tố điều chỉnh các quan hệ xã hội, pháp luật có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định và phát triển xã hội Điều này được thể hiện cụ thể đối với pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan đó là:

+ Đảm bảo giữ vững kỷ cương pháp chế trong quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là tổng thể các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý hành chính về hải quan bao gồm các hình thức xử phạt vi phạm và một số biện pháp xử lý hành chính khác trong lĩnh vực hải quan Như vậy, Nhà nước sử dụng pháp luật

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan như một phương tiện để thực hiện quyền lực của mình trong quản lý, kiểm tra, kiểm soát các hoạt động của các đối tượng tham gia hoạt động hải quan Nhờ có sự quy định chặt chẽ của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan mà các đối tượng tham gia hoạt động hải quan thực hiện một cách nghiêm túc đảm bảo thực hiện đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của nhà nước; đảm bảo thực hiện tốt cải cách hành chính nhà nước, giảm phiền hà, tiêu cực trong hoạt động hải quan đảm bảo an ninh quốc gia, an ninh kinh tế, trật tự an toàn xã hội đáp ứng

yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế

+ Thúc đẩy phát triển kinh tế theo đúng chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế của Đảng, hội nhập kinh tế đồng nghĩa với việc mở cửa nền kinh tế, gắn kết nền kinh tế Việt

Trang 25

Nam với nền kinh tế thế giới thành một thể thống nhất Hội nhập kinh tế đòi hỏi phải mở cửa thị trường cho hàng hóa, dịch vụ của nước ngoài vào Việt Nam, đồng thời đưa hàng hóa dịch

vụ của Việt Nam đến với thị trường các nước Pháp luật quản lý nhà nước về hải quan phải gắn liền với pháp luật xuất nhập khẩu hàng hóa, thuế hàng hóa xuất nhập khẩu, quá cảnh hàng hóa, phương tiện và đi đôi với nó là các quy định bắt buộc phải thực hiện, các quy định cấm, các thủ tục phải tuân theo Điều này đồng nghĩa với việc nếu vi phạm các quy định này đều bị xử phạt hành chính Hội nhập kinh tế đòi hỏi phải giảm thiểu hàng rào phi thuế quan, tăng cường tạo thuận lợi cho thương mại, du lịch và đầu tư quốc tế, đòi hỏi pháp luật phải thông thoáng, công khai, minh bạch, chính xác… Như thế pháp luật đó dễ

áp dụng dễ thực hiện và giảm các vi phạm hành chính xảy ra góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế

+ Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan còn góp phần giáo dục ý thức pháp luật cho cán bộ công chức cũng như các đối tượng tham gia hoạt động hải quan bởi với các quy định chặt chẽ các chủ thể buộc phải tự giác chấp hành nếu không sẽ

bị xử lý theo quy định của pháp luật Đồng thời, pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cũng là các biện pháp ngăn chặn hữu hiệu các hành vi vi phạm pháp luật

hải quan; góp phần hoàn thiện pháp luật, bộ máy cán bộ công chức hải quan

1.1.2 Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

1.1.2.1 Khái niệm thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Để hiểu được thế nào là thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trước hết cần phải tìm hiểu một số khái niệm liên quan

- Khái niệm thực hiện pháp luật

Pháp luật là một công cụ quản lý xã hội sắc bén, song pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống Vì vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu kể từ khi pháp luật xuất hiện

Trang 26

Xây dựng những quy phạm pháp luật nhà nước nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ xã hội đáp ứng lợi ích của nhân dân và tiến bộ xã hội Mục đích đó chỉ có thể đạt được khi pháp luật được các chủ thể nghiêm chỉnh thực hiện trong đời sống xã hội Pháp luật với tầm quan trọng của nó không chỉ dừng lại bằng các đạo luật, vì đó chỉ là pháp luật

ở trạng thái "tĩnh", vấn đề quan trọng là "pháp luật phải trở thành chế độ pháp chế, được thực hiện thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân; trở thành phương thức quản lý xã hội, cho tổ chức đời sống xã hội"

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật được diễn ra đồng thời và tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của nhà nước Thực hiện pháp luật là trách nhiệm, nghĩa vụ của mọi tổ chức (kể cả các cơ quan nhà nước) và mọi công dân Việt Nam và các tổ chức, công dân nước ngoài làm việc, sinh sống trên đất Việt Nam Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật

và có trách nhiệm thực hiện pháp luật đúng với nguyên tắc do Hiến pháp quy định (Điều

Mọi hành động xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và công dân đều bị xử lý theo pháp luật [19]

Thực hiện pháp luật là hành vi xử sự của con người được tiến hành phù hợp với yêu cầu của các quy phạm pháp luật Hành vi xử sự của con người trong hoạt động thực hiện pháp luật vừa mang tính chất xã hội,vừa mang tính pháp lý Vì vậy, thực hiện pháp luật bao hàm các hành vi (hành động hay không hành động) của các cá nhân, các tổ chức phù hợp với các quy định của pháp luật

Trang 27

Như vậy, ta có thể hiểu, thực hiện pháp luật là quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật

Căn cứ vào tính chất của hoạt động thực hiện pháp luật khoa học pháp lý phân chia thực hiện pháp luật thành bốn hình thức sau:

Tuân thủ pháp luật: Đây là một dạng thực hiện pháp luật, trong đó các chủ thể

pháp luật tự kiềm chế mình để không tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm Việc các chủ thể pháp luật tự kiềm chế là những xử sự thụ động, tự ghép mình vào tập thể, vào

xã hội, đặt lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, tập thể lên trên lợi ích cá nhân lợi ích bộ phận cục bộ Pháp luật quy định mọi tổ chức và công dân không được thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, không được xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác Đó là những điều pháp luật cấm Đồng thời, vì lợi ích chung, tùy theo tình hình, hoàn cảnh cụ thể mà pháp luật bắt buộc tổ chức, công dân phải làm một việc nào đó

Chấp hành pháp luật: Là một hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó các chủ

thể thực hiện các nghĩa vụ pháp lý của mình với các hành động tích cực Khác với việc thực hiện các nghĩa vụ pháp lý mang tính đương nhiên của công dân, của cán bộ, của công chức nhà nước; là bổn phận và trách nhiệm mà các chủ thể phải thực hiện theo quy định của pháp luật nhưng khuyến khích hoạt động có hiệu quả cao Hoạt động chấp hành pháp luật là cơ sở pháp lý để đánh giá công trạng, thành tích và danh dự, phẩm giá tốt đẹp của công dân và tổ chức cũng như của cán bộ, công chức nhà nước

Sử dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật mà trong đó, các chủ thể pháp

luật sử dụng các quyền năng pháp lý để bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp khác của mình Song nếu các chủ thể không sử dụng quyền của mình thì pháp luật cũng không bắt buộc Nói một cách khác, các quyền chủ thể được pháp luật cho phép thực hiện theo ý chí của chủ thể Trong một chế độ pháp luật dân chủ, chủ thể pháp luật có nhiều quyền năng pháp lý như: quyền khiếu nại, quyền tố cáo, quyền đình công, quyền bãi khóa, biểu tình, thị uy các chủ thể pháp luật được định các quyền này để bảo vệ các lợi ích nhà nước, lợi ích tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Khi công dân thực hiện các quyền này, phải thực hiện theo qui định của pháp luật

Trang 28

áp dụng pháp luật: Đây là một hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước

thông qua các cơ quan nhà nước hoặc cán bộ công chức có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những qui định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào các qui định của pháp luật ra các quyết định làm phát sinh, chấm dứt hay thay đổi những quan hệ pháp luật

cụ thể

- Khái niệm thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực cụ thể trong xã hội có hành vi vi phạm hành chính Nói cách khác, thực hiện pháp luật

xử lý vi phạm hành chính là quá trình hoạt động có mục đích của các cơ quan quản lý nhà nước làm cho những quy phạm pháp luật xử lý vi phạm hành chính đi vào đời sống, tạo ra

cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật xử lý vi phạm hành chính nhằm ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật hành chính

- Khái niệm thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan chỉ có thể phát huy được vai trò của mình trong việc duy trì trật tự quản lý nhà nước về hải quan và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong cuộc sống Vì vậy, thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là hoạt động không thể

thiếu, và được hiểu là: quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy phạm pháp

luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan trở thành hiện thực trong cuộc sống, tạo ra hành lang pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể tham gia hoạt động hải quan nhằm ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật hành chính trong lĩnh vực hải quan đảm bảo ổn định an ninh kinh tế, chính trị và xã hội cho đất nước

1.1.2.2 Đặc điểm của thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có những đặc điểm chung của thực hiện pháp luật nói chung, bên cạnh đó lại có những đặc điểm riêng do đặc thù của hoạt động của hải quan và pháp luật hải quan

Đặc điểm chung:

Trang 29

Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có những

đặc điểm của thực hiện pháp luật, xử lý vi phạm hành chính nói chung

Thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu ngay từ khi pháp luật xuất hiện

và có một số đặc điểm chung sau:

+ Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước Tất cả các nhà nước để có thể tổ chức và quản lý được xã hội đều bắt buộc phải tiến hành xây dựng (ban hành) pháp luật Khi ban hành pháp luật nhà nước mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội Điều đó chỉ có thể đạt được khi pháp luật được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ Do vậy, đối với các nhà nước vấn

đề quan trọng không chỉ là ban hành thật nhiều các văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải tổ chức thật tốt để chúng được thực hiện trong thực tế, làm cho các yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực

+ Thực hiện pháp pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người, nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi pháp luật của con người Hành vi đó có thể là hành động hoặc không hành động phù hợp với những quy định của pháp luật Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của các cá nhân, các tổ chức mà phù hợp với các quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật Hành vi thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp nên nó không trái pháp luật, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, luôn phù hợp với các quy định của pháp luật

+ Thực hiện pháp luật là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật Thực hiện pháp luật, một mặt, nhằm đạt được những mục đích xã hội mà vì chúng nhà nước đã phải ban hành pháp luật, mặt khác, còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ chế đưa pháp luật vào cuộc sống Thực hiện pháp luật nghiêm minh sẽ tạo ra trật tự cần thiết

để các quan hệ xã hội tồn tại và phát triển theo những định hướng mong muốn có lợi cho

xã hội, cho nhà nước cũng như cho các cá nhân

Trang 30

+ Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách thức khác nhau Pháp luật mang tính bắt buộc chung đòi hỏi mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện Vì vậy, thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi

cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội… Pháp luật lại gồm rất nhiều các loại quy phạm pháp luật khác nhau, do vậy đối với mỗi loại quy phạm pháp luật thì những cách thức thực hiện chúng cũng khác nhau: có thể đó là xử

sự chủ động nhằm đạt được một lợi ích hay cái gì đó như sử dụng quyền hoặc làm nghĩa

vụ pháp lý, có thể là xử sự thụ động, kiềm chế không làm những điều mà pháp luật cấm như không trộm cắp tài sản của người khác…

+ Việc thực hiện pháp luật có thể phụ thuộc ý chí của mỗi chủ thể trong trường hợp các quy phạm tùy nghi, nhưng chủ yếu là phụ thuộc ý chí của nhà nước Hành vi thực hiện pháp luật có thể được chủ thể tiến hành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về sự cần thiết và

tự giác thực hiện Cũng có thể hành vi thực hiện pháp luật được chủ thể tiến hành do ảnh hưởng của những người khác, do bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do

sợ bị áp dụng những biện pháp đó Một số quy phạm pháp luật mà việc thực hiện có thể được tiến hành thông qua những quy định giản đơn như chủ thể pháp luật nhận thức, xác định những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật rồi lựa chọn phương án thực hiện, chỉ đạo hành

vi thực tế của mình để thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định Song cũng có nhiều quy phạm pháp luật để thực hiện được còn đòi hỏi phải thông qua những quy trình hết sức phức tạp với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định (thông qua cơ chế thực hiện, áp dụng pháp luật) Chẳng hạn, có những quy phạm pháp luật để thực hiện được còn đòi hỏi đòi hỏi phải có sự tham gia của các văn bản quy định chi tiết, văn bản hướng dẫn thi hành hoặc văn bản giải thích chính thức; sự tham gia của các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn thực hiện qua nhiều công đoạn khác nhau

Trên cơ sở những đặc điểm chung trên, có thể rút ra những đặc điểm riêng trong thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính sau:

Trang 31

+ Đặc điểm thứ nhất, thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính chủ yếu là sử

dụng hình thức áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính bởi xuất phát từ đặc thù của pháp luật xử lý vi phạm hành chính

áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính mang tính quyền lực của nhà nước, chỉ thuộc về các cơ quan hoặc cán bộ nhà nước được nhà nước trao thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính, và được ghi rõ trong các văn bản pháp luật Việc áp dụng pháp luật xử

lý vi phạm hành chính có tác dụng điều chỉnh hành vi xử sự của cá nhân, tổ chức vi phạm tức là buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi trước nhà nước về những hành vi mà mình gây ra, qua đó bảo vệ và duy trì trật tự quản lý nhà nước trong lĩnh vực hành chính

áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính là hoạt động phải tuân theo những quy định chặt chẽ của pháp luật về cả hình thức và thủ tục để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng cụ thể là: chỉ có những hành vi nào xâm phạm quy tắc quản lý nhà nước mà chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự do các cá nhân, tổ chức đủ năng lực chủ thể thực hiện với lỗi cố ý hay vô ý mới bị áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính

Như vậy, áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính là hình thức thực hiện pháp luật mà nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện những quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính để tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ pháp luật hành chính

+ Đặc điểm thứ hai, chủ thể thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính, gồm:

Một là, các chủ thể được nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính

và được ghi rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật Việc xử lý vi phạm hành chính được giao cho nhiều cơ quan, cán bộ có thẩm quyền khác nhau thực hiện Theo quy định của pháp luật, thẩm quyến xử lý vi phạm hành chính thuộc về các cơ quan sau:

ủy ban nhân dân các cấp; cơ quan công an nhân dân; bộ đội biên phòng; cơ quan cảnh sát biển; cơ quan hải quan; cơ quan kiểm lâm; cơ quan thuế; cơ quan quản lý thị

Trang 32

trường; cơ quan thanh tra chuyên ngành; giám đốc cảng vụ hàng hải, giám đốc cảng vụ thủy nội địa, giám đốc cảng vụ hàng không; tòa án nhân dân và cơ quan thi hành án dân sự

Đồng thời, pháp luật còn quy định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính cụ thể của mỗi cán bộ có thẩm quyền xử phạt trong các cơ quan này tại Điều 28, Điều 29, Điều

30, Điều 31, Điều 32, Điều 33, Điều 34, Điều 35, Điều 36, Điều 37, Điều 38, Điều 39,

Điều 40

Hai là, các chủ thể áp dụng pháp luật hành chính có thể là tổ chức hoặc cá nhân có

năng lực chịu trách nhiệm hành chính theo quy định của pháp luật hành chính Ngoài ra, các chủ thể áp dụng pháp luật hành chính còn là các cá nhân tổ chức nước ngoài theo quy định của pháp luật Việt Nam Các chủ thể được thực hiện các hành vi mà pháp luật xử lý

vi phạm hành chính không quy định hành vi đó là hành vi vi phạm Các chủ thể có thể thực hiện hoặc không thực hiện các quyền tự do đó tùy theo ý chí của mình, chứ không bắt buộc phải thực hiện Các chủ thể có quyền khiếu nại, tố cáo để bảo vệ các lợi ích nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của mình

+ Đặc điểm thứ ba, kết quả của áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính là các cơ

quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm hành chính, trong đó ghi nhận các hình thức, các biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức cá nhân vi phạm hành chính Việc quyết định các biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của nhà nước đối với các tổ chức cá nhân vi phạm hành chính, qua đó giáo dục cho mọi người ý thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung

Do đặc thù của hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan và pháp luật

xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan mà việc thực hiện lại có những đặc điểm riêng, đó là:

Một là, về hình thức thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải

quan, cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chủ yếu sử dụng hình thức áp dụng pháp luật

Thực hiện pháp luật xử lý vi phạm phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan chủ yếu là hình thức áp dụng pháp luật vì Nhà nước thông qua các cơ quan, cán bộ, công chức hải quan, cơ quan nhà nước khác có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể tham gia hoạt

Trang 33

động hải quan thực hiện có hiệu quả những quy định của pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan Khi có các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan xảy ra thì các chủ thể có thẩm quyền được nhà nước quy định ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi chấm dứt các quan hệ pháp luật, hay nói một cách cụ thể là các chủ thể được nhà nước trao cho thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan tiến hành xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hải quan đó theo đúng quy định của pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể bị áp dụng Đây là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước Do đó, áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan các chủ thể có thẩm quyền xử lý cần truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với những chủ thể vi phạm được đảm bảo bằng biện pháp cưỡng chế khi cần thiết

Việc áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cần phải dựa trên cơ sở hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật (như đã trình bày ở phần 1.1.1.2.) Các chủ thể được nhà nước trao cho thẩm quyền áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan phải áp dụng đúng các quy định của pháp luật, xử lý đúng người, đúng vi phạm, đúng trình tự thủ tục và được áp dụng biện pháp cưỡng chế thi hành

CP thì không bị xử phạt Ngoài ra, đối với những hành vi vi phạm hành chính về xuất nhập khẩu ngoại tệ theo hành khách xuất nhập cảnh, hành vi vi phạm của đối tượng là cư dân biên giới thì được áp dụng nguyên tắc phạt theo trị giá của tang vật vi phạm

Trong lĩnh vực hải quan, do vi phạm hành chính được xác lập ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, có thẩm quyền xử phạt của cơ quan hải quan Do vậy, nguyên tắc áp dụng văn bản pháp luật về xử phạt được áp dụng thường xuyên trong xử phạt, mặc

dù nguyên tắc này không được quy định trong pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Cụ thể:

Trang 34

Trong trường hợp nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

và văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn

Trong trường hợp nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

và các văn bản quy phạm pháp luật khác có quy định khác nhau về cùng một vấn đề, do cùng một cơ quan ban hành thì áp dụng văn bản được ban hành sau cùng

Trong trường hợp nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

và văn bản quy phạm pháp luật mới liên quan khác không quy định trách nhiệm pháp lý hoặc quy định trách nhiệm pháp lý nhẹ hơn đối với hành vi xảy ra trước ngày văn bản có hiệu lực thì áp dụng văn bản mới

Hai là, áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan phải

tuân theo trình tự, thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định để tránh những sự tùy tiện có thể dẫn đến việc áp dụng pháp luật không đúng, không chính xác Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được quy định cụ thể tại Chương V, Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan như:

Xử phạt theo thủ tục đơn giản: là thủ tục được áp dụng đối với các hành vi vi phạm nêu tại khoản 1 Điều 8, điểm a khoản 1 Điều 10, khoản 1 Điều 11, khoản 1 Điều 12, Điều 13, khoản 1 Điều 14 Nghị định 138/2004/NĐ-CP , nhằm đình chỉ ngay hành vi vi phạm hành chính, chế tài xử phạt có thể là quyết định xử phạt tại chỗ mà không cần lập biên bản

vi phạm, nhưng phải được vào "sổ theo dõi hồ sơ hành vi vi phạm hành chính về hải quan"

và đưa vào lưu trữ theo quy định, nếu hành vi vi phạm hành chính mà pháp luật quy định mức phạt tiền trên 100.000 đồng nhà chức trách thì phải tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính theo pháp luật quy định gồm các bước:

Đình chỉ ngay hành vi vi phạm và tiến hành lập biên bản theo đúng mẫu ấn chỉ biên bản vi phạm hành chính về hải quan, ghi nhận trung thực và đầy đủ, chính xác, khách quan hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân

Đối với những vi phạm nghiêm trọng hoặc có tình tiết phức tạp cần làm rõ thì nhất thiết phải lấy ngay lời khai của người vi phạm hoặc đại diện tổ chức vi phạm; nếu có người

Trang 35

chứng kiến, người bị thiệt hại hoặc đại diện tổ chức bị thiệt hại thì phải ghi rõ họ tên, địa chỉ, lời khai của họ

Khi xét thấy cần áp dụng các biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính, công chức hải quan đang thi hành công vụ phải báo cáo những người có thẩm quyền để ra quyết định Tang vật, phương tiện vi phạm bị tạm giữ phải làm thủ tục nhập kho và thực hiện quản lý theo quy định hiện hành về chế độ kiểm toán, thống kê Khi áp dụng biện pháp tạm giữ đối với tang vật là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, đá quý, kim khí quý, các chất ma túy và những vật thuộc chế độ quản lý đặc biệt khác thì việc bảo quan được thực hiện quy định của pháp luật Đối với tang vật vi phạm hành chính là loại hàng hóa, vật phẩm dê bị hư hỏng thì người có thẩm quyền tịch thu phải tiến hành lập biên bản và tổ chức bán ngay theo hình thức bán công khai, không nhất thiết phải qua bán đấu giá Số tiền thu được gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại kho bạc nhà nước và xử lý theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính

Hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan phải được xử lý, theo đó quyết định xử phạt hành chính được ban hành phải tuân theo các thủ tục do pháp luật quy định hết sức chặt chẽ về thời hạn ra quyết định kể từ sau ngày lập biên bản; về ủy quyền ra quết định xử phạt; về nội dung ra quyết định xử phạt Khoản 3 Điều 56 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính Trong trường hợp cần áp dụng biện pháp tịch thu tang vật, phương tiện

vi phạm thì người có thẩm quyền tịch thu mời đại diện cơ quan tài chính cùng cấp xem xét, định giá tài sản để ra quyết định tịch thu Ngoài ra, pháp luật cũng quy định cụ thể những trường hợp không ra quyết định xử phạt gồm các vi phạm hành chính đối với vụ việc đơn giản, hành vi vi phạm rõ ràng, không cần xác minh thêm; các trường hợp đã quá 30 ngày,

kể từ ngày lập biên bản vi phạm hành chính đối với nhiều biên bản có nhiều tình tiết phức tạp mà không xin gia hạn hoặc đã xin gia hạn nhưng không được cấp có thẩm quyền cho phép gia hạn; hoặc hết thời hạn được cấp có thẩm quyền gia hạn

Ba là, thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, bên

cạnh hình thức áp dụng pháp luật là phổ biến các chủ thể tham gia hoạt động hải quan còn thực hiện thông qua hình thức sử dụng pháp luật, trong trường hợp sử dụng pháp luật các chủ thể tham gia hoạt động cũng như áp dụng pháp luật chỉ nhằm bảo vệ các lợi ích của nhà nước,các quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật và thường là

Trang 36

thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo và khởi kiện ra Tòa hành chính Thực tế, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan việc sử dụng pháp luật thường xảy ra rất đa dạng, như

bị xử phạt trong các trường hợp thuộc tình thế cấp thiết, phòng vệ chính đáng, sự kiện bất ngờ hoặc vi phạm hành chính trong khi đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình; hoặc hàng hóa, phương tiện vận tải vận tải được đưa vào lãnh thổ Việt Nam do bị hỏa hoạn, thiên tai, địch họa, sự kiện bất ngờ, trong tình thế cấp thiết phải khai hải quan theo quy định của pháp luật; hàng hóa, phương tiện vận tải đó phải được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam sau khi các yếu tố nêu trên được khắc phục; hoặc do nhầm lẫn trong quá trình gửi hàng hoặc xuất khẩu, nhập khẩu nhưng đã được người gửi hàng hoặc đại diện hợp pháp của người gửi hàng hoặc người nhận hàng thông báo bằng văn bản với cơ quan hải quan, được chi cục trưởng hải quan chấp nhận vào trước thời điểm kiểm tra thực tế hàng hóa Quy định này không áp dụng đối với trường hợp hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu là ma túy, vũ khí, tài liệu phản động; hoặc do sửa chữa, bổ sung, thay thế tờ khai hải quan đã đăng ký đến trước thời điểm kiểm tra thực tế hành hóa, phương tiện vận tải…

Các chủ thể sử dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính về hải quan dưới hình thức thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo, hoặc khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Khiếu nại là một trong những quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp ghi nhận Khi có căn cứ cho rằng quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì công dân

có quyền khiếu nại để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng chịu sự tác động của quyết định xử phạt

vi phạm hành chính có thể là cá nhân, cơ quan, tổ chức Do đó, theo quy định của Luật khiếu nại, tố cáo và khoản 1 Điều 118 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính thì cá nhân, cơ quan, tổ chức hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền khiếu nại quyết định xử phạt

vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan khi có căn cứ cho rằng quyết định đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình Điều 38 Nghị định 138/2004/NĐ-

CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan quy định: Cá nhân, tổ chức bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc người đại diện hợp pháp của họ có

Trang 37

quyền khiếu nại về quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm thực hiện việc xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Luật khiếu nại, tố cáo thì công dân có quyền tố cáo với các cơ quan tổ chức cá nhân có thẩm quyền về hành vi trái pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hai hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức Nghị định 138/2004/NĐ-CP ngày 17/6/2004 quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan cùng quy định tại khoản 2 Điều 38: Mọi công dân có quyền tố cáo về hành vi trái pháp luật trong xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Trong trường hợp công dân phát hiện việc người có thẩm quyền xử phạt vi phạm

có hành vi trái pháp luật trong việc ra quyết định xử phạt thì đều có quyền tố cáo hành vi

vi phạm đó với cấp có thẩm quyền Các quyền cụ thể của người tố cáo được quy định tại Điều 57 Luật này, gồm: Gửi đơn hoặc tố cáo trực tiếp; quyền yêu cầu giữ bí mật tên, địa chỉ; quyền yêu cầu được thông báo kết quả được giải quyết tố cáo; quyền yêu cầu cơ quan

tổ chức có thẩm quyền bảo vệ khi bị đe dọa, trù dập, trả thù Đồng thời, pháp luật cũng quy định người tố cáo có nghĩa vụ trình bày trung thực về nội tố cáo; nêu rõ tên, địa chỉ của mình và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc tố cáo sai sự thật

Khởi kiện quyết định xử phạt hành chính ra Tòa hành chính theo quy định tại Điều

39, 46 Luật kiếu nại, tố cáo và Điều 12 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính (đã được sửa đổi) thì nếu cá nhân, tổ chức không đồng ý với quyết định hành chính, quyết định xử phạt của cơ quan hải quan thì có quyền khởi kiện tại Tòa án hành chính Pháp luật quy định rõ các trường hợp khởi kiện đó gồm: 1- Trường hợp đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết và không tiếp tục khiếu

2- Trường hợp người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu của cơ quan hải quan và không tiếp tục khiếu nại đến người có thẩm quyền khiếu nại lần thứ hai; 3- Người khiếu nại đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần đầu, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà

Trang 38

khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu trong trường hợp pháp luật quy định không được quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai; 4- Người khiếu nại đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại lần hai, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo mà khiếu nại không được giải quyết hoặc

đã được giải quyết, nhưng không đồng ý với quyết định giải quyết lần hai

Bốn là, thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan chỉ

giới hạn trong phạm vi nhất định về nguyên tắc hệ thống pháp luật Việt Nam có giá trị hiệu lực thi hành trên toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Trong lĩnh vực hải quan điều này có đặc thù ở chỗ là hiệu lực không gian áp dụng pháp luật xử lý vi phạm hành chính bị phụ thuộc vào phạm vi, địa bàn hoạt động hải quan còn gọi "lãnh thổ hải quan" Tại lãnh thổ hải quan,

cơ quan hải quan "toàn quyền" tổ chức kiểm tra giám sát, kiểm soát đối với hoạt động xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh, quá cảnh hàng hóa, phương tiện vận tải

Lãnh thổ hải quan được Luật Hải quan xác định trong phạm vi các khu vực địa lý nhất định, bao gồm các khu vực cửa khẩu đường bộ, ga liên vận quốc tế, cảng biển quốc tế, cảng quốc tế, cảng sông quốc tế, cảng hàng không dân dụng quốc tế, các địa điểm làm thủ tục hải quan ngoài cửa khẩu, khu chế xuất, kho ngoại quan, kho bảo thuế, khu vực ưu đại hải quan, bưu điện quốc tế, các địa điểm kiểm tra hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong lãnh thổ và vùng biển thực hiện chủ quyền của Việt Nam, trụ sở doanh nghiệp khi tiến hành kiểm tra sau thông quan và các địa bàn khác theo quy định của pháp luật Như vậy, thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan chỉ trong phạm vi

Trang 39

Công chức hải quan là người được tuyển dụng đào tạo và sử dụng theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức Công chức hải quan phải có phẩm chất chính trị tốt, thực hiện nhiệm vụ đúng quy định của pháp luật, trung thực, liêm khiết, có tính kỷ luật, thái độ văn minh, lịch sự, nghiêm chỉnh chấp hành quyết định điều động và phân công công tác (Điều 14 Luật Hải quan)

Về hệ thống cơ quan hải quan gồm: Tổng cục Hải quan là cơ quan thuộc chính phủ; Cục Hải quan tỉnh, liên tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; Chi cục hải quan cửa khẩu, đội kiểm soát hải quan và đơn vị tương đương

Cơ quan hải quan cấp dưới chịu sự quản lý điều hành duy nhất của hệ thống cơ quan hải quan cấp trên theo ngành dọc trên cơ sở nguyên tắc "tập trung thống nhất" về pháp luật và không bị lệ thuộc vào chính quyền các cấp ở địa phương (Điều 13 Luật Hải quan)

Tại Điều 1 Nghị định 138/2004/NĐ-CP quy định về việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan quy định các đối tượng tham gia hoạt động hải quan gồm các cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung là cá nhân, tổ chức) có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực hải quan mà không phải là tội phạm và theo quy định của nghị định này phải bị xử phạt vi phạm hành chính

Tất nhiên, những cá nhân, tổ chức này phải đảm bảo có năng lực pháp luật và năng lực hành vi

Các cơ quan khác của nhà nước gồm: Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Cảnh sát kinh tế, kiểm dịch y tế, kiểm dịch động vật- thực vật, Kiểm tra văn hóa, Ngân hàng, Kho bạc… là đối tượng quản lý khi thực hiện chức năng phối hợp hoạt động, và cũng như hệ thống tổ chức hải quan, phải chịu sự quản lý, kiểm tra, giám sát của các chủ thể quản lý có thẩm quyền

Ngoài ra, còn các chủ thể thực hiện chức năng giám sát các hoạt động của các chủ thể trên Điều 10 Luật Hải quan quy định gồm: Hội đồng nhân dân các cấp; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; nhân dân thực hiện hoạt động giám sát

Như vậy, chủ thể thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan ngoài cơ quan, cán bộ công chức hải quan thông thường còn là: các tổ chức, cá nhân

Trang 40

(Việt Nam hoặc nước ngoài) có hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu hoặc có hành lý khi xuất cảnh hoặc nhập cảnh ở Việt Nam; các tổ chức, cá nhân (Việt Nam hoặc nước ngoài) có các phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh lãnh thổ Việt Nam; các cơ quan khác của nhà nước thực hiện chức năng phối hợp xử lý; các chủ thể thực hiện chức năng giám sát các hoạt động của các chủ thể trên

1.2 Khái niệm, yêu cầu và các yếu tố ảnh hưởng đến việc đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

1.2.1 Khái niệm đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan

Để đi đến khái niệm "đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan" trước hết, cần tìm hiểu thuật ngữ "đảm bảo" Theo Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học năm 2002, đảm bảo là "làm cho chắc chắn thực hiện được,

giữ gìn được, hoặc có đầy đủ những gì cần thiết [39, tr 282]

Với khái niệm đảm bảo trên có thể hiểu đảm bảo thực hiện pháp luật theo hai nghĩa:

Theo nghĩa hẹp, đảm bảo thực hiện pháp luật là việc Nhà nước, các cơ quan nhà nước sử dụng một hệ thống các công cụ, biện pháp, các hình thức và các phương pháp tác động khác nhau nhằm làm cho đối tượng thực hiện pháp luật phải thực hiện các hành vi đúng với các quy tắc xử sự pháp luật

Theo nghĩa rộng, đảm bảo thực hiện pháp luật còn bao hàm cả việc hoàn thiện pháp luật và cả các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật

Từ cách hiểu trên có thể đi tới khái niệm đảm bảo thực hiện pháp luật xử lý vi

phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan là việc cơ quan hải quan sử dụng hệ thống công

cụ, biện pháp, các hình thức, phương pháp tác động nhằm làm cho các đối tượng tham gia hoạt động hải quan phải thực hiện các hành vi đúng với các quy tắc xử sự mà pháp luật xử

lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan quy định, làm cho pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan được thực hiện một cách nghiêm minh, giữ vững kỷ

cương pháp chế trong quản lý nhà nước về lĩnh vực hải quan

Ngày đăng: 14/12/2013, 15:10

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w