1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế hệ thống bài tập ngôn ngữ văn chương dùng cho sinh viên ngữ văn và các ngành liên quan

169 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thiết Kế Hệ Thống Bài Tập Ngôn Ngữ Văn Chương Dùng Cho Sinh Viên Ngữ Văn Và Các Ngành Liên Quan
Tác giả Nguyễn Thế Truyền
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại báo cáo tổng kết
Năm xuất bản 2015
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 169
Dung lượng 1,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ở trong nước: a Vài nét về học phần Ngôn ngữ văn chương: Trong chương trình giáo dục bậc đại học Việt Nam hiện nay, ở các chuyên ngành Ngữ văn, Văn học, Ngôn ngữ học, Việt Nam học, Văn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

BÁO CÁO TỔNG KẾT

ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG

THIẾT KẾ

HỆ THỐNG BÀI TẬP NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG

DÙNG CHO SINH VIÊN NGỮ VĂN

VÀ CÁC NGÀNH LIÊN QUAN

MÃ SỐ: CS.2014.19.12

Cơ quan chủ trì: KHOA NGỮ VĂN, ĐHSP TP HỒ CHÍ MINH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 12/2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

THIẾT KẾ

HỆ THỐNG BÀI TẬP NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG

DÙNG CHO SINH VIÊN NGỮ VĂN

Trang 3

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

(Không)

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2

II TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 6

III MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 6

IV CÁCH TIẾP CẬN 6

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

VI ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7

VII NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7

CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƯỢC: 7

TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 7

HỆ THỐNG BÀI TẬP NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG DÙNG CHO SINH VIÊN NGỮ VĂN VÀ CÁC NGÀNH LIÊN QUAN 9

1 BÀI TẬP TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG 9

2 BÀI TẬP VỀ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG 12

3 BÀI TẬP VỀ NGÔN NGỮ THƠ 22

3.1 NHỮNG ĐIỂM CHUNG VỀ NGÔN NGỮ THƠ 22

3.2 NGÔN NGỮ TRONG MỘT SỐ THỂ THƠ TIÊU BIỂU 32

4 BÀI TẬP VỀ NGÔN NGỮ VĂN XUÔI 40

4.1 NHỮNG ĐIỂM CHUNG VỀ NGÔN NGỮ VĂN XUÔI 40

4.2 NGÔN NGỮ VĂN XUÔI HIỆN ĐẠI 50

4.3 NGÔN NGỮ VĂN XUÔI CỔ 54

5 BÀI TẬP VỀ NGÔN NGỮ KỊCH 58

6 BÀI TẬP VỀ LỊCH SỬ PHÁT TRIỂN CỦA NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG VIỆT NAM 59

7 BÀI TẬP VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIẢNG DẠY NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG 69

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

PHỤ LỤC 86

PHỤ LỤC 1: ĐÁP ÁN 86

PHỤ LỤC 2: VĂN BẢN MỘT SỐ TÁC PHẨM DÙNG TRONG PHẦN BÀI TẬP 123

PHỤ LỤC 3: NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 166

Trang 5

MỞ ĐẦU

I TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1 Ở trong nước:

a) Vài nét về học phần Ngôn ngữ văn chương:

Trong chương trình giáo dục bậc đại học Việt Nam hiện nay, ở các chuyên ngành Ngữ văn, Văn học, Ngôn ngữ học, Việt Nam học, Văn hóa học, Báo chí, Viết văn,… của nhiều trường đại học, Ngôn ngữ văn chương là một học phần bắt buộc hoặc tự chọn Ngoài ra, Ngôn ngữ văn chương còn là một học phần trong chương trình của bậc cao học ngành Ngôn ngữ hoặc Văn học Việt Nam của một số trường đại học, học viện Thời lượng dành cho học phần này thường từ 30 tiết đến 45 tiết (2 hoặc 3 tín chỉ) Định hướng cơ bản của học phần “Ngôn ngữ văn chương” là giúp SV nghiên cứu, phân tích các đặc trưng, tính chất của ngôn ngữ trong tác phẩm văn chương – tác phẩm văn chương nói chung và tác phẩm văn chương gắn liền với từng thể loại (thơ, văn xuôi, kịch), từng thời kỳ lịch sử (văn học dân gian, văn học trung đại, văn học hiện đại), nhằm giúp sinh viên, học viên hiểu tốt nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Như vậy, học phần này là một phần trong bộ môn Ngữ văn học Nó nghiên cứu một phương diện xác định của văn chương là mặt hình thức ngôn ngữ Nó ứng dụng các thành tựu của ngôn ngữ học (như phong cách học miêu tả, phong cách lịch sử, ngữ dụng học, văn bản học, phân tích diễn ngôn,…) và ký hiệu học để nghiên cứu văn chương từ góc độ ngôn ngữ và về phương diện ngôn ngữ

Nội dung dạy học của học phần (theo chương trình chúng tôi đang thực hiện tại Khoa Ngữ văn, ĐHSP Tp HCM) gồm 7 phần như sau xác định chỗ đứng biệt lập của học phần này:

Việc dạy học chuyên đề (/học phần) Ngôn ngữ văn chương ở các trường đại học của Việt Nam đã có thời gian 50 năm Ở miền Bắc, lúc đầu nó là các chuyên đề ở các lớp đại học hoặc cao học với tên gọi “Ngôn ngữ và văn học” hoặc “Ngôn ngữ văn học”, “Ngôn ngữ nghệ thuật” Sau này, khoảng thập kỷ 90 của thế kỷ XX, chuyên đề này mới trở thành môn học, rồi chuyển đổi thành học phần như hiện nay

với các nội dung nghiên cứu cơ bản như sau:

“1 Nghiên cứu văn học theo cách tiếp cận văn bản học

1 Chi tiết về ba hướng tiếp cận này, xin xem Nguyễn Thiện Giáp, “Vấn đề nghiên cứu văn học dưới góc

Trang 6

1.1 Vấn đề xác định văn bản

1.2 Cách khảo sát văn bản từ góc độ ngôn ngữ học

1.3 Cách đánh giá văn bản

1.4 Vấn đề đối chiếu văn bản

2 Nghiên cứu văn học theo cách tiếp cận hệ thống – cấu trúc

2.1 Phân tích các tầng bậc cấu trúc bên trong của từng thể loại

2.2 Phân tích tính thống nhất hữu cơ của các bộ phận trong chỉnh thể

2.3 Phân tích tính thống nhất hữu cơ giữa hình thức và nội dung

3 Nghiên cứu văn học với tư cách là nghệ thuật ngôn từ

3.1 Đặc điểm của ngôn từ nghệ thuật

3.2 Phương thức tổ chức các lượng ngữ nghĩa dựa trên mối quan hệ liên tưởng

3.3 Cách thức chuyển từ mã ngôn ngữ sang mã hình tượng.”

(Khoa Ngữ văn ĐHSP Tp Hồ Chí Minh, Đề cương chuyên đề cao học “Việt ngữ

học với việc nghiên cứu văn học”, ĐHSP Tp Hồ Chí Minh, 2005)

Hiện nay, học phần Ngôn ngữ văn chương chủ yếu đi theo cách tiếp cận thứ 3 của đề cương vừa dẫn

Sách và giáo trình đã từng phục vụ trực tiếp cho việc dạy học trên lớp học phần này, từ trước đến nay, ở miền Nam cũng như miền Bắc, theo tìm hiểu của chúng tôi,

(1) Nguyễn Văn Trung, Lược khảo văn học, Tập 1, 2, 3, Nam Sơn, Sài Gòn,

1966

Quyển này có 3 tập, nhưng liên quan trực tiếp là Tập 2 (Ngôn ngữ văn chương

và kịch)

(2) Bùi Đức Tịnh, Văn học và ngữ học: Một số vấn đề văn học xét theo quan

điểm ngữ học, Lửa Thiêng, Sài Gòn, 1974

(3) Hoàng Kim Ngọc (Chủ biên) – Hoàng Trọng Phiến, Ngôn ngữ văn chương

(Giáo trình dành cho sinh viên ngành Ngữ văn các trường đại học), Nxb Đại học

Quốc gia Hà Nội, 2011

Đây là quyển giáo trình chính thức đầu tiên về môn học này Nhưng giáo trình này có đặc điểm là chỉ đề cập ba vấn đề: những khái niệm cơ bản, ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ văn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn) Nhiều nội dung dạy học khác chưa bàn đến

(4) Bùi Minh Toán, Ngôn ngữ với Văn chương, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012

b) Lịch sử công việc thiết kế bài tập ngôn ngữ văn chương

2 Danh sách này không tính tới các bài giảng đánh máy hoặc viết tay về Ngôn ngữ và văn học (Ngôn ngữ văn chương, Ngôn ngữ nghệ thuật) dùng để dạy đại học, sau đại học, cao học của Hoàng Hữu Yên, Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Thái Hòa, Cù Đình Tú, Nguyễn Nguyên Trứ,… mà chúng tôi đã nghe một số đồng nghiệp nói tới nhưng không có văn bản trong tay

Trang 7

Nói riêng về vấn đề thiết kết bài tập ngôn ngữ văn chương thì người đầu tiên thiết kế bài tập về ngôn ngữ văn chương là học giả Nguyễn Hiến Lê Cách đây hơn 60

năm, trong quyển Luyện văn I (Lá bối , Sài Gòn, 1953), ở chương V, trang 98 (bản in

1970), Nguyễn Hiến Lê đề xuất một dạng bài tập cho người tự học luyện dùng từ ngữ

“tinh xác” Ngoài ra, trong quyển Luyện văn, nhiều đoạn bình luận, phân tích của

Nguyễn Hiến Lê về ngôn ngữ văn chương, chúng ta rất dễ dàng biến nó thành bài tập bằng cách thêm yêu cầu thực hành

Người thứ hai ghi dấu ấn của mình rõ ràng hơn trong lịch trình thiết kế bài tập

tập phong cách học, Nxb Giáo dục, 1999 Quyển sách này không phải được viết ra để

dùng cho môn Ngôn ngữ văn chương, nhưng trong nội dung của nó có phần bài tập về ngôn ngữ nghệ thuật (Chương III, gồm 64 bài tập) tương ứng với nội dung học tập của học phần Ngôn ngữ văn chương Chương III trong sách của tác giả Đinh Trong Lạc chia làm 4 phần như sau:

Phần I: Sự khác nhau giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệ thuật (6 bài tập)

Phần II: Các đặc trưng của ngôn ngữ nghệ thuật (tính cấu trúc, tính hình tượng, tính cá thể hóa, tính cụ thể hóa; 37 bài tập)

Phần III: Sự tương tác giữa các yếu tố ngôn ngữ trong tác phẩm văn học (hòa hợp, hội tụ, hụt hẫng, liên tưởng ngữ nghĩa giữa các vị trí mạnh; 16 bài tập)

Phần IV: Các kiểu người tương thuật (5 bài tập)

Sau sách của tác giả Đinh Trọng Lạc thì mãi đến 2013, ngành giáo dục Việt Nam mới có quyển sách bài tập chuyên dụng đầu tiên cho học phần Ngôn ngữ văn chương

Đó là quyển “Giáo trình thực hành về Ngôn ngữ văn chương” (Hoàng Kim Ngọc,

Nxb Giáo dục Việt Nam) Sách này gồm 180 bài tập về ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi (chủ yếu là truyện ngắn) Sách gồm 2 chương bài tập và 2 chương gợi ý giải đáp Các bài tập trong 2 chương đầu được phân bố như sau:

(1) Chương 1: Bài tập về ngôn ngữ thơ (90 bài)

+ Bài tập về quan niệm thơ và thể loại thơ (9 bài)

+ Bài tập về ngữ âm thơ (19 bài)

+ Bài tập về từ vựng ngữ nghĩa thơ (34 bài)

+ Bài tập về cú pháp thơ (19 bài)

+ Bài tập về giải mã thơ (9 bài)

(2) Chương 2: Bài tập về ngôn ngữ văn xuôi (90 bài)

3 Trước và sau tác giả Đinh Trọng Lạc, trong sách Ngữ văn THPT, các tác giả soạn sách có thiết kế một

số dạng bài tập về ngôn ngữ văn chương dùng cho học sinh Vì đề tài này bàn về bài tập dùng cho sinh viên đại học nên chúng tôi không nói tới các bài tập đó Tuy nhiên, cũng cần chú ý, ranh giới giữa bài tập ở THPT và đại học là tương đối, vì có nhiều bài tập ở SGK THPT được một số tác giả đưa lên sách đại học (như một số bài tập rất hay về ngôn ngữ văn chương của Đỗ Hữu Châu ở sách Ngữ văn THPT chuyên ban được Đinh Trong Lạc lấy

đưa vào sách “300 bài tập phong cách học”), và ngược lại Quyển Luyện văn của Nguyễn Hiến Lê, theo chính tác giả, có “mục đích bổ túc những sách dạy Việt ngữ trong các trường Trung học” (Tựa, tr 5, bản in 1970),

Trang 8

+ Bài tập về quan niệm và thể loại văn xuôi (4 bài)

+ Bài tập về điểm nhìn và người kể chuyện (34 bài)

+ Bài tập về ngôn ngữ nhân vật truyện (33 bài)

+ Bài tập về tìm hàm ngôn trong truyện (19 bài)

Sách bài tập của Hoàng Kim Ngọc soạn gọn, cân đối giữa bài tập ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ thơ, ngữ liệu của bài tập có nhiều tư liệu mới (lấy từ các tác giả Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Mai Văn Phấn) Phần bài tập giải mã thơ, giải mã hàm ngôn là nội dung mới và cần thiết Sách cũng có nhiều dạng hay, như bài tập thảo luận nhóm (bài tập 99), bài tập thuyết trình trong một buổi tọa đàm (bài tập 85), bài tập dạng tiểu luận (bài tập 76)

Tuy nhiên hạn chế của sách là nội dung chỉ bó hẹp ở hai phần nội dung ngôn ngữ thơ và văn xuôi Nhiều bài tập của sách lạc sang phần Phong cách học, Ngữ dụng học hoặc Ngữ pháp văn bản Cũng như sách của tác giả Đinh Trọng Lạc, sách này có rất nhiều bài không phải là bài tập đúng nghĩa, như xê-ri bài tập từ bài 129 đến 134 hay từ bài 148 đến 155 Thực chất chúng là những câu hỏi kiểm tra sự ghi nhớ lý thuyết Sách cũng thiếu các dạng bài tập được dùng phổ biến hiện nay là các dạng bài tập trắc nghiệm và bài tập vui

2) Ở ngoài nước:

Hiện nay chúng tôi chưa sưu tập được quyển tài liệu nào của nước ngoài kiểu như “Giáo trình Ngôn ngữ văn chương” hay sách “Bài tập Ngôn ngữ văn chương” của Việt Nam, nên việc đánh giá, phân tích hệ thống bài tập ngôn ngữ văn chương của nước ngoài, chúng tôi tạm gác lại

Tuy nhiên qua một số quyển sách liên quan đến ngôn ngữ văn chương của nước ngoài (bằng tiếng Anh) mà chúng tôi đang có trong tay, như:

1 Maurice Baring (1960), Landmarks in Russian Literature, University

Paperbacks

2 Edward J Gordon (1964), American Literature, Ginn and company

3 Edward J Gordon (1964), Understanding Literature, Ginn and company

4 Kreuzer & Cogan (1966), Studies in Prose Writing, Holt, Rinehart and

Winston, Inc

thì chúng tôi thấy rằng các tài liệu đó đều chú trọng việc phát huy tính tích cực, chủ động của người học bằng hệ thống câu hỏi tìm hiểu, phân tích, đánh giá (Consider, Questions to Consider, Comment) hoặc bài tập (Exercise) ở cuối các bài học Ví dụ,

trong quyển American Literature (Edward J Gordon), ở bài “The Education of Henry

Adams”, tr 66, tác giả yêu cầu người học phân tích vấn đề thay đổi ngôi kể (Tự truyện nhưng lại kể ở ngôi thứ 3), hay ở bài “The Bride Comes to Yellow Sky”, tr 68, tác giả yêu cầu người học nêu tác động thu hút sự chú ý của nhan đề truyện Hoặc trong

quyển Studies in Prose Writing (Kreuzer & Cogan ), ở bài “Rhythm”, tr 224, các tác

giả yêu cầu người học viết những câu có nhịp điệu phù hợp (appropriate) với nội dung cần diễn tả (loại bài tập sáng tạo), và ở bài “Limiting a Topic”, tr 18, các tác giả ra một bài tập viết lại (Rewrite) một đoạn giới thiệu tác phẩm Iliad, sau đó thảo luận xem bài vừa viết đó tốt hơn hay dở hơn với bản của tác giả chuyên nghiệp viết

Trang 9

Những kiểu bài tập như vừa nói thể hiện tính khoa học và tính thực tiễn của cách dạy học trong nhà trường ở các nước Âu Mỹ, khác hẵn cách dạy nặng về lý thuyết của Việt Nam (chẳng hạn trong quyển “Ngôn ngữ với văn chương” (B M T.) Nxb Giáo dục Việt Nam năm 2012, dày 256 trang nhưng hoàn toàn không có một câu hỏi hay bài tập nào)

Rất tiếc là chúng tôi không có đủ thời gian và điều kiện để phân tích, hệ thống hóa kinh nghiệm thiết kế bài tập về ngôn ngữ văn chương của các tác giả nước ngoài nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng hệ thống bài tập ngôn ngữ văn chương mà chúng tôi thiết kế cho sinh viên Việt Nam Chúng tôi xin được trở lại vấn đề này khi có dịp thuận tiện

Đề tài này rất cần thiết, phục vụ kịp thời cho học phần của chương trình đạo tạo Đại học Ngữ văn, Cao học Ngôn ngữ học, và các ngành liên quan như Cử nhân Việt Nam học vì hiện nay, các giáo trình và tài liệu tham khảo chưa có đủ các bài tập cần thiết phục vụ cho nhu cầu rèn luyện kỹ năng, phát triển năng lực cho sinh viên

Với các kiểu dạng phong phú, đa dạng, hấp dẫn, thiết thực, hệ thống bài tập của

đề tài giúp tăng cường hoạt động học tập nghiên cứu của sinh viên, học viên trên lớp

và ở nhà Hệ thống bài tập này vừa phát triển các kỹ năng chuyên môn và nghiệp vụ cần xây dựng cho sinh viên, học viên qua học phần Ngôn ngữ văn chương, vừa nhằm khắc sâu những kiến thức cốt lõi, nâng cao chất lượng đào tạo theo hướng tích cực hoá hoạt động của người học

Đề tài nhằm tới mục tiêu trung tâm là: Thiết kế một hệ thống khoảng 150 đến

180 bài tập gồm nhiều loại khác nhau, phục vụ cho nội dung dạy học học phần Ngôn ngữ văn chương hệ Đại học và Cao học tại khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm

Tp Hồ Chí Minh

Hệ thống bài tập của đề tài phải bao quát 7 nội dung dạy học sau đây của học phần Ngôn ngữ văn chương:

(1) Tổng quan về ngôn ngữ văn chương

(2) Đặc trưng của ngôn ngữ văn chương

(3) Ngôn ngữ thơ

(4) Ngôn ngữ văn xuôi

(5) Ngôn ngữ kịch

(6) Lịch sử phát triển của ngôn ngữ văn chương Việt Nam

(7) Phương pháp nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ văn chương

Xét theo mục đích rèn luyện kỹ năng, hệ thống bài tập của đề tài phải đa dạng về kiểu loại và phải có những loại bài tập cơ bản như: nhận diện, phân tích, so sánh, biến đổi, thảo luận, thuyết trình, sửa chữa, sáng tạo,…

Đề tài đi theo cách tiếp cận của lý luận dạy học ngôn ngữ cho người bản ngữ

Cụ thể là từ những nguyên tắc lý luận chung về bài tập, người nghiên cứu tiến hành

Trang 10

thiết kế hệ thống bài tập ứng dụng vào môn học, sau đó triển khai thực nghiệm (trên quy mô nhỏ) để đánh giá kết quả và rút ra kết luận, từ đó trở lại hoàn thiện cơ sở lý luận và hệ thống bài tập đã thiết kế, đưa vào áp dụng rộng rãi

+ Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

+ Phương pháp thực nghiệm

1 Đối tượng nghiên cứu

Hệ thống bài tập Ngôn ngữ văn chương phục vụ cho việc dạy học môn Ngôn ngữ văn chương của chương trình đào tạo Đại học Ngữ văn (hệ Sư phạm và hệ Cử nhân), Cao học Ngôn ngữ học, Cử nhân Việt Nam học

2 Phạm vi nghiên cứu

Khả năng áp dụng và hiệu quả của hệ thống bài tập (đã được thiết kế) trên đối tượng là sinh viên hệ Đại học (năm thứ 3) và Cao học (khoá 25) của khoa Ngữ văn, trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh.

Đề tài bao quat 4 nội dung nghiên cứu sau:

(1) Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xây dựng hệ thống bài tập Ngôn ngũ văn chương

(2) Nguyên tắc, phương pháp, kỹ thuật thiết kế bài tập Ngôn ngữ văn chương (3) Hệ thống bài tập Ngôn ngữ văn chương dùng cho sinh viên ngành Ngữ văn

và các ngành liên quan

(4) Kết quả thực nghiệm bước đầu

Trong 4 nội dung nghiên cứu vừa nêu, vì lý do dung lượng đề tài không cho phép

nên trong bản báo cáo này, chúng tôi chỉ tập trung giới thiệu nội dung nghiên cứu

thứ (2)

CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐẠT ĐƯỢC:

TỔNG HỢP KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Trang 11

BẢNG 1: TỔNG HỢP KẾT QUẢ THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP NNVC

(Phân tích theo nội dung dạy học)

văn chương Việt Nam

giảng dạy ngôn ngữ văn chương

BẢNG 2: TỔNG HỢP KẾT QUẢ THIẾT KẾ HỆ THỐNG BÀI TẬP NNVC

(Phân tích theo kiểu bài tập)

CÁC BÀI TẬP CỤ THỂ

,50,58,59,60,61,64,69,70,72,74,76,80,83,88,9 0,91,93,102,104,105,111,122,126,130,131,14 5,149,150,165,166,167,170,171,172,173,174,

Trang 12

HỆ THỐNG BÀI TẬP NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG DÙNG CHO SINH VIÊN NGỮ VĂN VÀ CÁC NGÀNH LIÊN QUAN

1 BÀI TẬP TỔNG QUAN VỀ NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG

(1) Trong các ví dụ sau, đâu là ngôn ngữ văn chương và đâu là ngôn ngữ phi văn chương?

a) Từ phía nam Bình Định trở vào, những khối núi cuối cùng của Trường Sơn chạy ra khỏi biển, rồi thình lình sững lại trước cảnh trời nước làm cho vùng bờ biển ở đây trở nên lởm chởm, dựng đứng

Qua khỏi Vũng Tàu là vùng bờ biển Nam Bộ, cả vùng này tạo cho vùng phía nam Tổ quốc như dáng một con tàu rẽ sóng đại dương Bờ biển Nam Bộ thấp, chủ yếu

là các bãi bồi ven biển, các sình lầy, các cửa sông loe ra biển và hệ kênh rạch chằng chịt như mạng nhện,…

(Vũ Trung Tạng, Nguồn lợi sinh vật biển)

b) Giai cấp tư sản đã dìm những xúc động thiêng liêng của lòng sùng đạo, của nhiệt tình hiệp sĩ, của tính đa cảm tiểu tư sản xuống dòng nước giá lạnh của sự tính toán ích kỷ

(Các Mác – Ăngghen, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản)

Giai cấp tư sản đã xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình

và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là quan hệ tiền nong đơn thuần

(Các Mác – Ăngghen, Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản)

c) Thương ai rồi lại nhớ ai

Mắt em buồn rười rượi như nương khoai mới trồng

(Ca dao) d) Quan hệ giữa văn nghệ với chính trị với tư cách là những hình thái ý thức xã hội sẽ là mối quan hệ tương tác bình đẳng lẫn nhau Như thế, văn nghệ cũng có thể tác động đến sự hình thành các lý thuyết chính trị Ví dụ như những tác phẩm văn học thời Phục Hưng mang đậm tinh thần nhân văn mới đã làm thành những nguồn cảm hứng cho các lý thuyết chính trị của giai cấp tư sản để tiến tới lật đổ chế độ phong kiến thần quyền thời trung đại Hay những tác phẩm văn học của phương Tây thời Ánh sáng, ví

dụ như những tác phẩm của Voltaire, đã tạo nguồn cho các lý thuyết chính trị dân quyền của các cuộc cách mạng tư sản thế kỷ XIX Trong khi đó thì chính trị cũng có thể ảnh hưởng trở lại văn học để biến chúng thành công cụ phục vụ cho sự cai trị

(Nguyễn Văn Dân, Vấn đề mối quan hệ giữa văn nghệ với chính trị

Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 4-2009) e) Ôi! Hỡi nàng tiên sinh ra để sống trên thiên đường, anh muốn biết em đã đi qua những nẻo đường nào, để anh hôn lên nền đá lát!

(Vichto Huygô, Hecnani, Hồi III, Lớp 4)

Trang 13

(2) Sắp xếp các ví dụ trong bài tập 1 theo trình tự giảm dần về tính văn chương

(3) Chuyển ngôn ngữ trong các ví dụ sau đây thành lời nói thông thường:

Vườn hồng đã có ai vào hay chưa?

Mận hỏi thì đào xin thưa

Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào…

(Ca dao) b) Anh tưởng nước giếng sâu, anh nối sợi dây gầu dài

Ai ngờ nước giếng cạn, cứ tiếc hoài sợi dây

(Ca dao) c) Chào anh mục đồng dễ mến! Anh lùa bầy gia súc của anh đi đâu đấy? Ở đây mọc đầy cỏ xanh cho bầy cừu của anh, ở đây hoa nở đỏ rực có thể xâu thành vòng cài

mũ cho anh

(Karamzin, Nàng Liza tội nghiệp)

(4) Phân tích tính văn chương của ngôn ngữ trong “Lời nói đầu” sau đây:

Khi mùa thu bắt đầu hết, khi nắng vàng hanh dần mất vẻ rực rỡ trên các lá cây, ngọn gió heo may sẽ từng cơn nhẹ lướt trên cánh đồng ruộng, đem lại cho chúng ta những cái rùng mình mới mẻ, như đã lẫn cái buồn ảm đạm của ngày mùa đông

Trước ngọn gió đầu mùa, tôi không khỏi ngăn được những cảm giác sâu xa và mới lạ Tôi đem tâm nghĩ ngợi đến những cơn gió đột khởi ở lòng người, báo trước những sự thay đổi trong cái bí mật của tâm hồn Tôi lại nghĩ đến những người nghèo khổ đang lầm than trong cái đói rét cả một đời Gió heo may sẽ làm cho họ buồn rầu lo

sợ, vì mùa đông sắp tới, mùa đông giá lạnh và lầy lội phủ trên lưng họ cái màn lặng lẽ của sương mù

Và lòng tôi se lại khi nghĩ rằng chỉ một chút âu yếm, một chút tình thương, cũng

đủ nâng đỡ an ủi những người cùng khốn ấy

(Thạch Lam, Lời nói đầu của tập Gió đầu mùa)

(5) Thay thế từ (ngữ) in đậm trong các ví dụ bằng từ (ngữ) có màu sắc văn chương:

a) Thủy chung tình bạn chùm hoa tím

Hôn hít hoa thơm tưởng Huế gần

b) Xuống xe rồi, Trịnh Thế Xương liền đưa tiền ra cho bạn hối chạy lên chợ

mua đồ ăn rượu thịt đem xuống dọn ra một mâm ê hề mà đãi Lâm Trí Viễn

(Nguyễn Chánh Sắt, Nghĩa hiệp kỳ duyên)

4 Hai câu thơ này Tố Hữu làm tặng Nguyễn Tuân (trong bài Hoa tím) nhân khi nhà văn Nguyễn Tuân gửi

Tố Hữu một chùm hoa cúc tím, biểu tượng của cố đô Huế Sau đó, Tố Hữu đã chữa lại hai câu thơ này

Trang 14

(6) Từ ngữ nào thiếu màu sắc văn chương trong các đoạn thơ sau?

a) Bác thường để lại đĩa thịt gà mà ăn trọn mấy quả cà xứ Nghệ

Tránh nói chữ to và đi nhẹ cả trong vườn

Tim đau hết nỗi đau người ở chân trời góc bể

Đến bên Người ta thở dễ dàng hơn

(Việt Phương, Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương)

b) Chừ đây Huế, Huế ơi! Xiềng gông xưa đã gãy

Hãy bay lên! Sông núi của ta rồi!

Nước mắt ta trào, húp mí, tràn môi

Cổ ta ré trăm trận cười, trận khóc!

Ta ôm nhau, hôn nhau từng mái tóc

Hả hê chưa, ai bịt được mồm ta?

Ta hét huyên thiên, ta chạy khắp nhà

Ai dám cấm ta say, say thần thánh?

Ngực lép bốn nghìn năm, trưa nay cơn gió mạnh

Thổi phồng lên Tim bỗng hóa mặt trời

(Tố Hữu, Huế tháng Tám)

(7) Văn xuôi trong các đoạn trích sau đây là văn nghệ thuật hay là văn phi nghệ thuật? Phân tích ngôn ngữ các đoạn trích để chứng minh ý kiến của anh (chị)

a) Tây Bắc, khu tự trị Thái – Mèo, nơi chiến thằng Điện Biên Phủ, nơi lịch sử, mặt nước ta hướng về phía Tây, là một vùng rộng lớn (một phần tư diện tích miền

Bắc) rất giàu và đẹp của nước ta, một hòn ngọc ngày mai của Tổ quốc! “Dốc núi cao

cao, nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi, vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù!” Câu hò của người chiến sĩ kéo pháo rạo rực lòng người đi thăm Tây Bắc:

đây là đất nước hùng vĩ của một dân tộc anh hùng Ở đây núi rừng trùng trùng điệp điệp, điệp điệp trùng trùng xa hơn tầm con mắt; nước non, non nước đẹp hơn tranh, mắt nhìn không chán

(Phạm Văn Đồng, Bài ca Tây Bắc)

b) Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc, văn võ song toàn; văn là chính trị:

chính trị cứu nước, cứu dân, nội trị, ngọai giao, “mở nền thái bình muôn thuở, rửa nỗi

thẹn ngàn thu” (Bình Ngô đại cáo); võ là quân sự: chiến lược và chiến thuật, “yếu đánh mạnh, ít địch nhiều, thắng hung tàn bằng đại nghĩa” (Bình Ngô đại cáo); văn

và võ đều là võ khí, mạnh như vũ bão, sắc như gươm dao: “viết thư thảo hịch tài giỏi

hơn hết mọi thời” (Lê Quý Đôn), “văn chương mưu lược gắn liền với sự nghiệp kinh bang tế thế” (Phan Huy Chú) Thật là một con người vĩ đại trong lịch sử nước ta!

(Phạm Văn Đồng, Nguyễn Trãi, người anh hùng của dân tộc)

c) Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng

ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng Văn thơ của

Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy Có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của

Lục Vân Tiên, và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và về văn, còn rất ít

Trang 15

biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp lúc chúng đến bờ cõi nước ta cách đây một trăm năm!

(Phạm Văn Đồng, Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc)

(8)(*) Nhận định về tình hình tuyến (các thành tố cấu trúc sắp xếp trước sau theo trục thời gian) của ngôn ngữ văn chương, nhà nghiên cứu Bùi Minh Toán

viết: “Đối với văn chương, đặc tính hình tuyến của chất liệu ngôn ngữ vừa tạo nên

những ưu thế to lớn, lại vừa gây ra những cản trở, hạn chế nhất định đối với cấu trúc của tác phẩm và cả đối với hoạt động sáng tác, cũng như hoạt động lĩnh hội, cảm

thụ.” (Bùi Minh Toán, Kiểm định những đặc tính của chất liệu ngôn ngữ chi phối nghệ thuật văn chương, Tạp chí Ngôn ngữ, số 4-2011, tr 6)

Anh (chị) hãy phân tích ưu thế và hạn chế của ngôn ngữ văn chương về tính hình tuyến trong so sánh với các loại hình nghệ thuật không gian (hội hoạ, kiến trúc, điêu khắc), loại hình nghệ thuật thời gian (âm nhạc) và loại hình nghệ thuật tổng hợp (sân khấu, điện ảnh, vũ đạo) để làm sáng tỏ nhận định trên

2 BÀI TẬP VỀ ĐẶC TRƯNG CỦA NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG

(9) Nhận định sau đây của các nhà văn nói về đặc trưng gì của ngôn ngữ văn chương? Anh (chị) hãy tìm một vài ví dụ để minh họa cho những nhận định này

a) Ngôn ngữ văn chương khác với lời nói thông thường ở chỗ nó gợi ra một tập hợp không sao kể xiết những ý tưởng, những tình cảm, những sự giải thích

(Lep Tônxtôi) b) Dù ta muốn nói điều gì đi nữa, cũng chỉ có mội một tiếng để diễn điều đó thôi, chỉ có mỗi một động từ để làm cho điều đó hóa ra có sinh khí và mội một trạng từ để

tả nó Cần phải kiếm cho được tiếng ấy và đừng lấy làm mãn ý khi mới kiếm được những tiếng tương tự.”

(Gustave Flaubert)

(10) Từ nào thích hợp hơn? Chứng minh ý kiến của anh (chị)

a) Đã không kẻ đoái người hoài,

Sẵn đây ta kiếm một vài nén hương

Trang 16

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

d) Giang hồ quen thói vẫy vùng

Gươm đàn nửa gánh, non sông một chèo

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

(11) Từ nào đúng nguyên văn? Giải thích

Tôi là con chim đến từ núi lạ,

Ngứa cổ hát chơi

Ngửa

Khi gió sớm vào reo um khóm lá,

Khi trăng khuya lên ủ mộng xanh trời

(Xuân Diệu, Lời thơ vào tập Gửi hương)

(12) Chữ nào đúng hơn? Vì sao?

a) Năm năm rồi không gặp

Từ khi em lấy chồng

Bao kỷ niệm chôn kín

Dường như đã lắng quên

Năm năm rồi trở lại

Một mầu tang ngút trời

Thương người em năm cũ

Thương góa phụ bên sông

(PHẠM DUY, Chuyện tình buồn)

b) Ngày nhà em pháo nổ

Anh cuộn mình trong chăn

Như con sâu làm tổ

Trong trái vải cô đơn

Ngày nhà em pháo nổ

Tâm hồn anh nhuốm máu

Ngồi bâng khuâng nhớ biển

Trong cuộc đời quạnh hiu

Bên bãi đời

Trên cõi đời

Anh như hồn thủy thủ

Cùng năm tháng phiêu du

(PHẠM DUY, Chuyện tình buồn)

Trang 17

c) Trên dải thiên hà Thơ Mới, thi sĩ Bích Khê là một ngôi sao sáng

(Hoàng Như Mai, Chân dung và tác phẩm)

(13) Điền các từ sau đây vào đúng chỗ và nêu nhận xét của anh (chị) về cách

dùng từ ngữ miêu tả của Tô Hoài: dọa, gối, thúc, ngoặc

rừng, bờ suối trắng bệch Những cây chò vặn mình bỗng đứng trơ ra giữa mặt con suối

thuyền lật úp, trôi lềnh bềnh

rừng gỗ mục

(Tô Hoài, Miền Tây)

(14) Theo Hồng Mại trong “Dung Trai tục bút”5 quyển 8, thì Vương An Thạch đã chọn rồi bỏ 10 từ khác nhau mới định từ “lục” (nhuộm xanh) trong câu thơ sau “Xuân phong hựu lục Giang nam ngạn” ở bài “Bạc thuyền Qua Châu” (Đỗ thuyền ở Qua Châu)

Dựa vào bảng đối chiếu sau đây, anh (chị) hãy cho biết cái hay của từ “lục”

(15) Cách miêu tả trong đoạn trích sau đây là cách viết:

Trang 18

□ d) xuất phát từ quan sát trực tiếp và cảm nhận trực tiếp của người viết ?

Cái Minh chi đội trưởng ra đón chúng tôi

Chà cái Minh hôm nay diện quá Cái Minh ngày khai giảng khác hẳn cái Minh đen nhẻm, luôn luôn cái giỏ cạnh sườn trong hè vừa qua

Chiếc mũ calô màu xanh viền trắng, có gắn huy hiệu Măng non, đội ngay ngắn, khăn quàng đỏ thắt gọn gàng làm cho gương mặt nó sáng sủa, rạng rỡ hẳn lên Nước

da rám nắng do lao động ngoài trời trong những ngày hè, trắng hồng sau mấy ngày nghỉ Đôi mắt đen láy trong sáng như hai hạt nhãn lồng, đôi má lúm đồng tiền mỗi khi cười tóa làm khuôn mặt trái xoan của nó thêm xinh xắn, đôi môi đỏ với hàm răng đều

và trắng muốt tô điểm cho nụ cười của nó thêm tươi tắn Hai cái đuôi sam tết nơ đỏ luôn đung đưa, nổi bật lên trên cái nền áo xanh lá cây còn mới tinh Chúng tôi thường gọi nó là Minh Họa Mi Mỗi khi nó cất tiếng hát, mọi tiếng ồn im bặt và từ cái miệng xinh tươi, tiếng hát vang lên, lúc ríu rít, rộn ràng bay bổng như tiếng họa mi, lúc khỏe khoắn, lảnh lót tươi vui như tiếng chiền chiện, lúc trong trẻo, nuột nà, êm dịu như tiếng vàng anh, lúc trầm lặng sâu lắng da diết như quốc kêu chiều hè

(Vũ Tú Nam – Phạm Hổ – Bùi Hiển – Nguyễn Quang Sáng, Văn miêu tả và kể

chuyện, Nxb Giáo dục, 1999, tr 42)

(16) Thay thế từ ngữ in đậm trong đoạn trích bằng từ ngữ thích hợp với ngôn ngữ nhà Phật:

chùa Một chú tiểu lễ phép bước lên tam cấp:

pha trà đầu xuân

có công quá… Này cháu, cháu đi từ sớm, chắc bây giờ đã ngót dạ rồi; sẵn oản chuối

(Dựa theo Nguyễn Tuân, Những chiếc ấm đất)

(17) Tìm những chi tiết và lời nói chưa hợp lý trong đoạn trích của truyện ngắn sau đây:

Hai vợ chồng bắt đầu đưa thuyền ra giữa dòng, chồng lái, vợ bơi Cố chống lại với sức nước, chồng cho mũi thuyền quay về phía thượng du, nhưng thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phía dưới, khi nhô khi chìm, khi ẩn khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khô nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son Nhưng nửa giờ sau, thuyền cũng tới được giữa dòng Chồng giữ ghì lái, vợ vớt củi

Chẳng bao lâu thuyền đã gần đầy, và vợ chồng sắp sửa quay trở vào bờ, thì trời

đổ mưa Rồi chớp nhoáng như xé mây đen, rồi sấm sét như trời long đất lở

6 Nón tu lờ: nón nhà tu dùng, có chũm ở giữa, quai dài

Trang 19

Chiếc thuyền nan nhỏ, đầy nước, nặng trĩu Hai người cố bơi, nhưng vẫn bị sức nước kéo phăng đi

Bỗng hai tiếng kêu cùng một lúc:

Vợ mỉm cười, âu yếm nhìn chồng Chồng cũng mỉm cười Một lúc, Thức kêu:

– Mỏi lắm rồi, mình vịn vào tôi, để tôi bơi! Tôi không xốc nổi được mình nữa Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rã rời Vợ khẽ hỏi:

– Có bơi được nữa không?

– Không biết Nhưng một mình thì chắc được

– Em buông ra cho mình vào nhé?

Chồng cười:

– Không! Cùng chết cả

Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày, chồng lại hỏi:

– Lạc ơi! Liệu có cố bơi được nữa không?

– Không! Sao?

– Không Thôi đành chết cả đôi

Bỗng Lạc run run khẽ nói:

– Thằng Bò! Cái Nhớn! Cái Bé! Không! Anh phải sống!

Thức bỗng nhẹ hẳn đi Cái vật nặng không thấy bám vào mình nữa Thì ra Lạc nghĩ đến con đã lẳng lặng buông tay ra để chìm xuống đáy sông, cho chồng đủ sức bơi vào bờ

Trang 20

(Khái Hưng, Anh phải sống)

(18) Điền từ ngữ còn thiếu vào đoạn trích để làm rõ sự khác nhau về đặc điểm ngôn ngữ giữa các nhà văn, nhà thơ:

Bạn nên đọc những tác phẩm của các nhà văn hiện đại như Vũ Ngọc Phan, Vũ Trọng Phụng, Khái Hưng, Nhất Linh, Thạch Lam, Tô Hoài, Nam Cao, Bùi Hiển… Văn của các văn ấy có nhiều đức để bắt chước

hoa quá, không phải ai cũng luyện tập được Bạn vẫn nên đọc cuốn Vang bóng một

thời của ông, nhưng xin đừng nghiền ngẫm để noi theo vì phải có gia thế của Nguyễn

Tuân, có tâm hồn của Nguyễn Tuân, sống cái đời sống của Nguyễn Tuân và được trời phú cho cái tài của Nguyễn Tuân mới viết như Nguyễn Tuân được

Văn của Phạm Quỳnh, Nguyễn Bá Học, Phan Kế Bính, Trần Trọng Kim bây giờ

đã hóa cổ, đọc để kiếm ý thì nên, để luyện văn thì đừng

mà không hợp? Tôi muốn cho trẻ con bây giờ cũng như chúng tôi hồi nhỏ, được quen

tai với cái âm nhạc tuyệt diệu của khúc Chinh phụ ngâm, Truyện Thúy Kiều, ngay từ

hồi còn nằm trong nôi Nguyễn Du tức là Homère của chúng ta

(Nguyễn Hiến Lê, Luyện văn (I), Nxb Văn hóa – Thông tin, 1988, tr 35)

(19) Nêu sự khác nhau về phong cách ngôn ngữ giữa các tác giả qua các ví

dụ cho ở bên dưới:

Sơ khảo khoa này, bác cử Nhu

Sách như hũ nút, chữ như mù

Văn chương nào phải là đơn thuốc!

Chớ có khuyên xằng, chết bỏ bu

(Trần Tế Xương)

Tôi nghe kẻ cướp nó lèn ông,

Nó lại lôi ông ra giữa đồng

Lấy của đánh người quân tệ nhỉ!

Xương già da cóc có đau không?

Bây giờ mới khẽ sầy da trán,

Ngày trước đi đâu mất mảy lông

Thôi cũng đừng nên ki cóp nữa

Kẻo mang tiếng dại với phường ngông!

(Nguyễn Khuyến)

Lũ chúng ta ngủ trong giường chiếu hẹp

Giấc mơ con đè nát cuộc đời con!

Hạnh phúc đựng trong một tà áo đẹp!

Trang 21

Một mái nhà yên rủ bóng xuống tâm hồn

Trǎm cơn mơ không chống nổi một đêm dày

Ta lại mặc cho mưa tuôn và gió thổi

Lòng ta thành con rối

Cho cuộc đời giật dây!

(Chế Lan Viên)

Mình về với Bác đường xuôi

Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

Nhớ ông Cụ mắt sáng ngời

Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường!

Nhớ Người những sáng tinh sương

Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

Nhớ chân Người bước lên đèo

Người đi rừng núi trông theo bóng Người…

(Tố Hữu)

(20) Điền những từ ngữ sau đây để hoàn thành bảng so sánh đặc điểm ngôn ngữ của Đỗ Chu với Nguyễn Huy Thiệp: ngắn gọn, lãng mạn, giàu chất thơ, lạnh lùng

– Sử dụng nhiều từ ngữ miêu

tả cảm giác và bộc lộ cảm xúc tinh tế

– Hình ảnh đẹp, biện pháp so sánh độc đáo

– Từ ngữ xưng hô đậm chất khẩu ngữ, dân dã

– Sử dụng nhiều tiếng lóng, tiếng chửi và thành ngữ, tục ngữ dân dã

– Dùng nhiều câu cảm thán

tính cá thể hóa cao độ

– Chủ yếu sử dụng câu đơn

– Miêu tả cảnh vật thiên nhiên làm phong nền để bộc lộ tâm trạng nhân vật

– Giọng chiêm nghiệm, suy tư; thông qua nhân vật thể hiện suy nghĩ, triết lý về cuộc đời

Trang 22

Kết cấu truyện – Kết cấu hồi tưởng, chuyện

được kể theo dòng tâm trạng của nhân vật

– Kết thúc có hậu

– Kết cấu tuyến tính, chuyện được kể lại theo trình tự thời gian

– Nhiều truyện có kết thúc

mở

Phong cách ngôn

(Theo Lê Thị Kim Thoa, Những điểm khác nhau về phong cách ngôn ngữ giữa

hai nhà văn Đỗ Chu và Nguyễn Huy Thiệp, Luận văn tốt nghiệp đại học, ĐHSP Tp

–Thưa tiên sinh, chúng tôi đi du lịch

– Kèng kẹc! Du lịch! Kèng kẹc! Du lịch! Vậy bỉ phu xin hỏi nhị vị tráng sĩ, nhị

vị xưa nay là tay dọc ngang nào biết trên đầu có ai, thế thì chắc nhị vị phải nghe tiếng

từ lâu rằng bỉ phu mặc dầu thanh bạch ở hang dưới đất nhưng bỉ phu là cậu trời đấy! Nhị vị đã qua chơi nhiều nơi trên toàn cầu, nhị vị có gặp thằng cháu “trời đánh thánh vật” nhà tôi ở đâu không?

(Tô Hoài, Dế mèn phiêu lưu ký)

(22) Nêu suy nghĩ của anh (chị) về bút pháp miêu tả chân dung bà mẹ ông chủ hãng xe hơi trong đoạn trích sau đây:

Người đàn bà ấy trạc ngoài sáu mươi, trông rõ quê mùa, đần ngốc Mặt mũi đen đủi, dăn deo, xấu như con khỉ Hai mắt thì toét nhoèn những dử Cái hàm trên thì chìa

ra như mái hiên Hai tay thì lóng cóng, gí cái nút buộc giải yếm vào tận mắt, lúng túng cởi mãi mới lấy được một miếng trầu, bỏ vào mồm, nhai phóm phém Trông lại càng xấu Cái áo vải nâu dầy cồm cộp, cái quần một ống – nói nôm ra, là cái váy – lùng thùng như cái bồ, chỗ thì ướt, chỗ thì khô Có lẽ là bộ cánh quý nhất, nên ra tỉnh, mới dám mặc đến, nay bị ướt thì tiếc, nên cố vắt mãi cho khỏi đẫm nước mưa Rồi lại cởi cái khăn vuông ra, để hở cái đầu bạc trọc tếch mà gãi, nhăn mặt lại mà gãi Rồi lấy ngay cái khăn đội đầu ấy mà lau chỗ gấu váy có dính đất Gớm, sao mà người đâu lại

có người không biết thế nào là bẩn cả!

(Nguyễn Công Hoan, Báo hiếu: Trả nghĩa cha)

Trang 23

Gợi ý: Bút pháp tả thực hay thi vị hóa, tự nhiên chủ nghĩa,… điểm nhìn và cách thức, thái độ miêu tả,…

(23) Chỉ ra hàm ý, ẩn ý của những câu văn sau:

a) Tôi chưa thấy ai có nhiều tiền mà nhu nhược hoặc nhân hậu

(Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa)

b) Anh ta là giai tân theo nghĩa hành chính

(Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa)

(Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa)

(24) Tìm hiểu ý nghĩa biểu đạt bóng bẩy của những từ ngữ in đậm trong các câu văn sau:

a) Trời thì oi bức Nhà thì ba mặt quây, nên những tấm thân, tấm áo, tấm khăn,

chỉ quen nước bồ hôi, chứ không quen nước lã, tự do xông lên một mùi chua chua

(Nguyễn Công Hoan, Bước đường cùng)

b) Chẳng mấy chốc, nửa chai rượu hết bay Pha cầm lấy chai, nói rằng đi mua

thêm, để gọi sự lịch sự của ông khách bình dân vốn hay từ chối Nhưng ông khách

lại dặn:

– Này, bác xem ở đâu có bán cái số ngang thì mua, chứ thứ này nhiều cồn, uống không tốt

(Nguyễn Công Hoan, Bước đường cùng)

c) Thời người nông dân cầm cày, cầm súng rồi cầm ấn triện cũng hết Muốn

làm nên thời kinh tế mở với nhiều thủ đoạn xảo trá của thương trường, ngoài trình độ học thức bắt buộc phải có thế lực kinh tế của chính mình

(Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa)

chuyển ngân hộ ăn phần trăm Hộ chiếu đỏ che chở cho những đồng tiền xanh

(Nguyễn Việt Hà, Cơ hội của Chúa)

(25) Nhận định về hình tượng Nước – non và bài thơ Thề non nước của nhà

thơ Tản Đà, Sách giáo khoa Văn học 11 (Sách chỉnh lý hợp nhất năm 2000, trang

101) có viết: “Nước – non là hình tượng thơ nhiều tầng nghĩa và bài thơ Thề non nước là bài thơ nhiều tầng nghĩa.”

Anh (chị) hãy phân tích hình tượng Nước – non để chứng minh cho nhận định trên

(26) Truyện ngắn “Thuốc” của nhà văn Lỗ Tấn có mấy tầng nghĩa? Đó là những tầng nghĩa nào?

(27) Điền từ ngữ sau đây vào chỗ trống thích hợp và cho biết phép tu từ đã được sử dụng trong câu văn: (1) cũng quạnh hiu như cõi lòng y; (2) tia sáng; (3) sẽ vay tiền công non, sẽ giật tạm anh em, sẽ bán quần áo đi; (4) đã đồi bại, đã tàn nhẫn, đã

khốn nạn

Trang 24

a) Những … … … của một tâm hồn tin tưởng, yêu đương đã tắt trên đôi mắt của

Thì ra, lúc sinh thời, cụ Huấn đẻ ra ông đã phạm vào một việc thất đức Hồi còn

mồ ma cụ Huấn, cụ đã mang lấy trách nhiệm tinh thần về cái chết của một người nàng hầu tài tình nổi tiếng một thời Người thiếp đó, lúc tự ải, đã có mang được sáu bảy

gọi ông Đầu Xứ Anh là nó, cười sằng sặc và giọng nói the thé: “Nó còn đi thi, cô còn báo mãi Các người hỏi cô muốn những gì ấy à! Cô muốn, cô muốn nó phạm huý, cho

nó bị tội cả nhà kia Nhưng nhà nó cũng cỏ một ông mãnh thiêng lắm, cô không tàn hại nó được như lòng cô muốn” Con đồng chỉ lắc lư nói có thế, nếu có gặng hỏi thêm thi chỉ khóc hu hu rồi lại lăn ra mà cười như bị cù

(Nguyễn Tuân, Báo oán)

(29) Chọn câu trả lời đúng thể hiện quan niệm của nhà văn Tô Hoài về đặc điểm câu văn xuôi nghệ thuật khi trả lời phỏng vấn của nhà văn Nguyễn Công Hoan:

□ a) tính sáng tạo, tính hình ảnh

□ b) tính tạo hình, tính không lặp lại

□ c) tính cá thế hóa, tính không lặp lại

□ d) tính hình ảnh, tính cá thế hóa

– Câu văn, cũng như cuộc đời – như tôi vừa nói với anh – không bao giờ lặp lại

cả Cho nên, đời không lặp lại thì câu văn cũng không được phép lặp lại Phải làm thế nào cho người đọc chỉ nhận thấy dáng văn, chứ không bao giờ thấy được kiến trúc câu Vì kiến trúc câu tức là cách để xây dựng nên cuộc đời Cuộc đời đã không lặp lại, thì kiến trúc câu cũng không được quyền lặp lại

Trang 25

– Anh quan niệm kiến trúc câu như thế nào?

– Trước tiên, khi viết văn, bao giờ tôi cũng nghĩ là mỗi câu văn là do từng hình ảnh xuất hiện liên tiếp, từng chữ mang hình ảnh nối vào nhau Chữ của câu văn phải như gõ vào, nó kêu được Chữ phải làm nổi hình ảnh liên tiếp Cho nên tôi cố gắng, một là chỉ cho người đọc thấy được dáng câu, chứ không thấy được kiến trúc câu; hai

là cách cấu tạo câu phải là hình ảnh, hình ảnh liên tiếp

(Nguyễn Công Hoan, Hỏi chuyện các nhà văn)

(30) Đoạn văn sau đây bàn về đặc trưng gì của ngôn ngữ văn chương? Quan niệm của người xưa về vấn đề này như thế nào?

“Con gà rừng có lông vũ nhiều sắc nhưng chỉ bay được trăm bước, đó là vì thịt

và xương nó quá nhiều nhưng sức nó lại quá ít Con chim ưng, con diều ó thiếu màu sắc nhưng bay tung trời, đó là vì xương nó cứng và khí nó mạnh Tài, sức trong văn chương cũng giống như vậy Nếu có cái phong thái nhưng mà cái cốt cách thiếu thì như con diều ở rừng bút; nếu có cái cốt cách mà thiếu cái phong thái thì cũng như con

gà rừng nhảy ở vườn văn Chỉ người nào đã có sẵn cái lời văn đẹp đồng thời lại bay cao thì mới là con phượng hoàng kêu trong văn đàn vậy.”

3 BÀI TẬP VỀ NGÔN NGỮ THƠ

3.1 NHỮNG ĐIỂM CHUNG VỀ NGÔN NGỮ THƠ

(31) Dựa vào các ý kiến sau đây, hãy thuyết trình trước lớp về một vấn đề ngôn ngữ thơ:

a) Cảm hoá nhân tâm không có gì hơn tình cảm Không gì cổ xưa hơn ngôn ngữ Không gì thân thiết hơn âm thanh Không gì sâu sắc hơn nghĩa lý Gốc của thơ là tình cảm Lá của nó là ngôn ngữ Hoa của nó là âm thanh Quả của nó là nghĩa lý

(Bạch Cư Dị, Thư gửi Nguyên Chẩn)

b) Thơ là một tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức ngôn ngữ này

(Phan Ngọc, Cách giải thích văn học bằng ngôn ngữ học)

c) Thơ khác văn xuôi chủ yếu ở nhịp điệu, nhịp điệu là linh hồn của thơ Có thể nói: Thơ là văn bản được tổ chức bằng nhịp điệu của ngôn từ

(Đỗ Đức Hiểu, Thi pháp hiện đại)

(32) Phân tích những đặc điểm cơ bản của cú pháp thơ Minh hoạ bằng những ví dụ cụ thể mà anh (chị) tự tìm được

(33) Cấu trúc của các dòng thơ sau đây có điều gì đặc biệt?

a) Anh nhớ tiếng Anh nhớ hình Anh nhớ ảnh

Anh nhớ em, anh nhớ lắm! Em ơi!

(Xuân Diệu, Tương tư chiều)

b) Khóc là nhục Rên, hèn Van, yếu đuối

Và dại khờ là những lũ người câm

(Tố Hữu, Liên hiệp lại)

7 Lưu Hiệp, Văn tâm điêu long (Phan Ngọc dịch), Nxb Lao động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông

Trang 26

c) Cũng như xa quá nên ta chỉ

Thấy núi yên như một miếng bìa

(Xuân Diệu, Núi xa)

(34) Hãy phân khổ cho bài thơ sau đây:

Một căn nhà nho nhỏ

Một em gái ngây thơ

Xinh tươi và bỡ ngỡ

Như bông hoa đầu mùa

Người hay cười e thẹn

Miệng như trái mơ ngon!

Đôi môi màu xa vắng

Thơm như là quê hương

Mái tóc em nhẹ nhàng

Như làn sương thu sớm

Trong khu rừng êm ái

Chưa thoát cơn ngủ vùi

Tiếng nói em êm đềm

Em như mùa thu đến

Bóng lá bay chập chờn

Trong khung trời bình yên

Làm sao mà quên được

Người em gái năm xưa

Sao quên được đôi mắt

Như ngôi sao trên trời

Làm sao mà quên được

Đời qua vút như tên

Dăm ba hạnh phúc ngắn

Sao quên được mà quên

Dăm ba hạnh phúc ngắn

Sao quên được mà quên

(PHẠM DUY, Làm sao mà quên được)

(35)(*) Vì sao các nhà thơ thời Đường như Bạch Cư Dị, Đỗ Phủ, Lý Bạch,

hay đặt tên bài thơ rất dài, chẳng hạn tên một bài thơ của Bạch Cư Dị: “Từ Nam Hà

sau cơn loạn lạc, miền Quan nội nghẽn đường bị đói, anh em tản mác mỗi người một nơi, nhân trông trăng có cảm, tạm tả nỗi lòng, gửi anh cả ở Phù Lương, anh bảy ở Ư Tiềm, anh mười lăm ở Ô Giang, cùng gửi cho các em trai, em gái ở Phù Ly, Hạ Khuê”?

(36) Anh (chị) hãy cho biết đoạn thơ sau đây làm theo thể thơ gì? Hình ảnh được sử dụng trong đoạn thơ này là loại hình ảnh gì?

Tôi lớn lên bên bờ bãi sông Hồng

trong màu mỡ phù sa máu loãng

giặc giã từ con châu chấu, con cào cào

mương máng, đê điều ngổn ngang chiến hào

Trang 27

trang sử đất ngoằn ngoèo trận mạc

giọt mồ hôi nào có gì to tát

bao nhiêu đời mặn chát các dòng sông

bao nhiêu thời vỡ đê trắng đất mất đồng

thuyền vỏ trấu mỏng manh ba chìm bảy nổi

khúc dân ca cũng bèo dạt mây trôi

(Nguyễn Duy, Đánh thức tiềm lực)

(37) Xác định những loại vần có trong các ví dụ sau:

a) Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất,

Anh cho em, kèm với một lá thư

Em không lấy, và tình anh đã mất

Tình đã cho không lấy lại bao giờ

(Xuân Diệu, Tình thứ nhất)

b) Đã yêu thì yêu cho chắc

Bằng như trục trặc, trục trặc cho luôn

Đừng như con thỏ nọ đứng đầu truông

Khi vui giỡn bóng, khi buồn ngắm trăng

(Ca dao) c) Anh lớn lên vó ngựa cuốn về đâu

Gặp câu hát bền lòng rong ruổi mãi

Đường đánh giặc trẩy xuôi về bến bãi

Lý ngựa ô em hát đợi bên cầu

(Lord Byron, Khi đôi ta chia tay)

(38) Điền chữ còn thiếu vào chỗ trống sao cho hợp vần:

a) Quê hương biết mấy thân yêu

Bao nhiêu đời đã chịu … thương đau

Mặt người vất vả in sâu

Gái trai cũng một áo … nhuộm bùn

(Nguyễn Đình Thi, Đất nước)

b) Em biết những lời yêu còn ở trong anh

Như ốc đảo xanh nằm trong sa mạc

Nhưng trước em anh lặng im như …

Chính điều này làm em yêu anh

(Lâm Thị Mỹ Dạ, Không đề)

Trang 28

c) Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ?

Lại đây cho chị dạy làm thơ

Ong non ngứa nọc châm hoa …

Dê cỏn buồn sừng húc giậu thưa!

(Hồ Xuân Hương, Lũ ngẩn ngơ)

d) Trời làm mền gối, đất làm chiên (chăn)

Nhật nguyệt cùng ta một giấc yên

Đêm khuya chẳng dám dang chân duỗi

Chỉ sợ sơn hà xã tắc …

(Lý Công Uẩn, Tức cảnh)

(39) Cách gieo vần trong bài thơ “Nhớ con sông quê hương” (Tế Hanh) có một điểm rất đặc biệt, nhất quán từ đầu cho đến cuối bài thơ Theo anh (chị), điểm đặc biệt đó là gì?

(40) Xác định nhịp điệu của các câu thơ sau đây:

a) Rơi rơi … dìu dịu … rơi rơi,

Trăm muôn giọt lệ nối lời vu vơ

(Huy Cận, Buồn đêm mưa)

b) Trời cao xanh ngắt Ô kìa

Hai con hạc trắng bay về Bồng lai

(Thế Lữ, Tiếng sáo Thiên Thai)

c) Rằng: Sao trong tiết Thanh minh

Mà đây hương khói vắng tanh thế mà?

(Nguyễn Du, Truyện Kiều)

d) Lởm chởm vài hàng tỏi

Lơ thơ mấy khóm gừng

Vẻ chi tèo teo cảnh

Thế mà cũng tang thương!

(Nguyễn Gia Thiều, Cảnh mọn)

(41) Xác định nhịp điệu của các câu thơ sau đây (tiếp theo):

a) Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

Trơ cái hồng nhan với nước non

(Hồ Xuân Hương, Tự tình)

b) Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

(Hồ Xuân Hương, Mời trầu)

c) Dừng chân đứng lại trời non nước,

Một mảnh tình riêng ta với ta

(Bà Huyện Thanh Quan, Qua Đèo Ngang)

Trang 29

d) Mẹ ta không có yếm đào

Nón mê thay nón quai thao đội đầu

Rối ren tay bí tay bầu

Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa

(Nguyễn Duy, Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa)

(42) Vì sao cách ngắt nhịp trong những trường hợp sau đây chưa đúng?

a) Anh đi bộ/ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao/ sáng dẫn đường

(Vũ Cao, Núi đôi)

b) Thu ăn/ măng trúc, đông ăn/ giá

Xuân tắm/ hồ sen, hạ tắm/ ao

(Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nhàn)

c) Ôi Tổ quốc, nếu cẩn ta/ chết

Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông

(Chế Lan Viên, Sao chiến thắng)

(43) Thêm dấu câu ở những chỗ cần thiết và xác định nhịp điệu của các câu thơ sau đây trong Truyện Kiều:

a) Khi ăn khi nói lỡ làng

Khi thầy khi tớ xem thường xem khinh

b) Một mình âm ỉ đêm chầy

Đĩa dầu vơi nước mắt đầy năm canh

c) Hỏi tên rằng Mã Giám sinh

Hỏi quê rằng Huyện Lâm Thanh cũng gần

d) Người lên ngựa kẻ chia bào

Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san

(44) Nêu nhận xét của anh (chị) về nhịp điệu và cách gieo vần của bài ca dao sau:

Hòn đá cheo leo con trâu trèo con trâu trợt,

Con ngựa trèo con ngựa đổ,

Anh thương em lao khổ, tận cổ chí kim,

Anh thương em khó kiếm khó tìm

Cây kim luồn qua sợi chỉ, sự bất đắt dĩ phu mới lìa thê

Nên hay không nên anh ở em về

Đừng giao, đừng ước, đừng thề mà vương!

(Ca dao Nam Trung Bộ)

(45) Đọc diễn cảm bài thơ “Sương rơi” để thể hiện lời nhận định sau đây

của nhà phê bình Hoài Thanh: “Nguyễn Vỹ đã sáng tạo ra một nhạc điệu riêng để

tả một cái gì đương rơi Cái gì đó có thể là những giọt sương, cũng có thể là những

Trang 30

giọt lệ hay những giọt gì vẫn rơi đều đều, chầm chậm trong lòng ta mỗi lúc vẩn vơ

buồn ta đứng một mình trong lặng lẽ.” (Thi nhân Việt Nam)

(46) Thảo luận nhóm về các dấu hiệu để xác định chỗ ngắt nhịp trong thơ (47) Điền từ ngữ vào những chỗ còn thiếu:

a) Nhịp điệu mô phỏng là nhịp điệu tái tạo lại, dựng lại nhịp điệu trong thực tế

như nhịp giã gạo, xay lúa, cuốc đất, chèo đò, v.v Nhưng tài năng của nhà thơ là tổ chức nhịp thơ như thế nào để phản ánh được nhịp điệu tự nhiên bằng nhịp tâm hồn, cảm xúc Đem vào trong nhịp thơ những nhịp điệu của cuộc sống thực là khiến cho

(Theo Đái Xuân Ninh, Giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Tp Hồ Chí

Minh, 1986, tr 144) b) Nhịp điệu mô phỏng là một loại hình hiệu (icône), tức là một hình thức chỉ ra nội dung Trong bài “Phá đường” của Tố Hữu, có đoạn:

Hì hà / hì hục /

Lục cục / lào cào /

Anh cuốc / em cuốc /

Đá lở / đất nhào /

đọc lên, những nhịp điệu âm thanh ấy gợi ra cả một không khí phá đường ngăn giặc,

(Theo Đái Xuân Ninh, Giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Tp Hồ Chí

Minh, 1986, tr 145)

c) Ngoài nhịp điệu mô phỏng, còn có nhịp điệu trùng điệp trong thơ hiện đại Do

khéo vận dụng, nhịp thơ trùng điệp có khả năng diễn đạt những cung bậc tình cảm, cảm xúc vừa sôi nổi vừa thiết tha, vừa hào hùng vừa mãnh liệt

(Theo Đái Xuân Ninh, Giảng văn dưới ánh sáng ngôn ngữ học, Nxb Tp Hồ Chí

Minh, 1986, tr 145-146)

(48) Phân tích sự luân phiên bằng trắc của âm tiết cuối nhịp thơ trong các câu thơ sau:

a) Việt Nam, ôi Tổ quốc thương yêu!

Trong khổ đau, Người đẹp hơn nhiều

Như bà mẹ sớm chiều gánh nặng,

Nhẫn nại nuôi con suốt đời im lặng…

(Tố Hữu, Chào xuân 67)

b) Lịch sử hôn Anh, chàng trai chân đất

Sống hiên ngang: bất khuất trên đời

Như Thạch Sanh của thế kỷ hai mươi

Một dây ná, một cây chông, cũng tiến công giặc Mỹ

(Tố Hữu, Bài ca xuân 68)

(49) Xác định phép tu từ có trong các câu thơ sau của Truyện Kiều:

Thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần

Trang 31

b) Thuyền tình vừa ghé tới nơi

Thì đà trâm gãy bình rơi bao giờ!

Trai tài gái sắc, xuân đương vừa thì

Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm

(50) Xác định phép tu từ có trong các câu thơ của Truyện Kiều (tiếp theo):

Con ong đã tỏ đường đi lối về

Đào đà phai thắm, sen vừa nảy xanh

Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên

Yêu nhau thì lại bằng mười phụ nhau!

(51) Phân tích tác dụng biểu đạt của phép tu từ trong một câu lục bát mà anh (chị) thích nhất ở bài tập 49 hoặc 50

(52) Điền các cụm từ sau đây vào những chỗ còn thiếu trong bảng mô tả ẩn

dụ tri nhận “HÔN NHÂN LÀ CHUYẾN ĐÒ NGANG” trong thơ Nguyễn Bính:

Tình trạng hôn nhân, Các sự kiện hôn nhân, Các khó khăn, Người con gái lấy chồng,

Sự đổ vỡ của hôn nhân

Ngữ liệu thể hiện ẩn dụ tri nhận “HÔN NHÂN LÀ CHUYẾN ĐÒ NGANG”: + Lần đầu chị bước sang ngang

Tuổi son sông nước đò ngang chưa tường

(Lỡ bước sang ngang)

+ Tình đã sang sông, đã tới bờ

(Vẩn vơ)

+ Chị tôi phấn úa hương mòn

Trang 32

Đò ngang sông cái chẳng tròn chuyến sang

(Lại đi)

+ Chị giờ sống cũng bằng không

Coi như chị đã sang sông đắm đò

(53) Tìm từ ngữ điền vào chỗ trống ở bảng mô tả ẩn dụ tri nhận “TÌNH YÊU LÀ VIỆC DỆT VẢI” trong thơ Nguyễn Bính:

Ngữ liệu thể hiện ẩn dụ tri nhận “TÌNH YÊU LÀ VIỆC DỆT VẢI”:

+ Có một buổi chiều qua lối ấy

Tôi về dệt mãi mộng ba sinh

(Người con gái ở lầu hoa)

(54) Nhận xét về những kết hợp bất thường, “lạ hóa” trong thơ ca, Phan

Ngọc viết: “Quy luật về trí nhớ cho ta biết cái bình thường thì bao giờ cũng bị lãng

quên đi ngay lập tức Muốn khắc sâu vào trí nhớ thì nó phải khác thường hoặc về nội dung hoặc về hình thức.” (Thơ là gì?) Nhà nghiên cứu Hoàng Kim Ngọc cũng viết:

“Những kết hợp bất thường này không đơn thuần nhằm tạo ra sự tân kỳ, mà là sự khúc xạ của một cách tri nhận mới mẻ về cuộc sống.” (Kết hợp “”lạ hóa” trong thơ ca

và từ điển “kết hợp lạ” trong thơ ca Việt)

Dựa vào ý kiến của hai nhà nghiên cứu trên, anh (chị) hãy chỉ ra sự bất thường

về kết hợp từ ngữ và ý nghĩa của chúng trong các câu thơ sau:

a) Hỡi cô tát nước bên đàng

Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

(Ca dao) b) Những nấm mồ hoan hỉ

(Nguyễn Quang Thiều, Nhịp châu thổ mới)

8 Theo Phan Ngọc Trần, Dấu ấn văn hóa truyền thống Việt Nam qua một số ẩn dụ ý niệm trong thơ

Nguyễn Bính, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Việt Nam học – Những phương diện văn hóa truyền thống”, Tập 2,

Nxb Khoa học Xã hội, 2015, tr 1239- 1247

9 (nt)

Trang 33

c) Chiều xô bóng ngã vào đêm

Chị ngồi không gió ngoài thềm lặng trôi

(Trần Anh Thái, Chị tôi)

d) Chiếc thuyền nan úp mặt vào ngơ ngác

Như vỏ cau khô nhớ tiếc một thời trầu

(Nguyễn Ngọc Phú, Đám mây màu vảy cá)

e) Chị chôn tuổi xuân trong má lúm đồng tiền

(Hữu Thỉnh, Đường tới thành phố)

(55) Điền từ ngữ sau đây vào các câu nêu ý nghĩa của biểu tượng “Lưỡi”

trong tiếng Việt: nguồn gốc, nhục cảm, phát ngôn, nhân cách

lưỡi bảy lần trước khi nói” (Tục ngữ)

b) Lưỡi là biểu tượng chỉ lời nói dễ thay đổi: “Lưỡi không xương nhiều đường

lắt léo” (Tục ngữ)

cực, chẳng hạn sự độc địa, ác tâm: “Lưỡi mềm độc quá đuôi ong” (Tục ngữ); hay là

sự giả tạo, phản trắc: “Chót lưỡi đầu môi” (Thành ngữ)

d) Trong thơ đương đại Việt Nam, lưỡi mang biểu tượng của một tình yêu mãnh

lưỡi xuống ngực/ Tới sống lưng” (Mai Văn Phấn, Hình đám cỏ) “Phiêu diêu mắt thấy con đường tơ lụa/ Phiêu diêu lưỡi chạm đáy mềm Âu Cơ” (Vi Thùy Linh, Âu Cơ)

ngôn nghệ thuật: “Tôi không nói bằng chiếc lưỡi của người khác…/ Chiếc lưỡi bị

hành hình trong một tuyên ngôn” (Trần Quang Quý, Lời); “Chiếc lưỡi giẫy giụa trong vũng cạn ngôn từ/ Tôi vừa gặp nó hổn hển thoát ra từ diễn đàn hội nghị/ Tôi cũng thấy nó hôm qua đang mặc cả bán mua nì nèo cổng chợ/ Chiếc lưỡi mang chiếc quần trễ rốn/ Dè sẻn đong quá khứ/ Đếm từng hạt tương lai” (Trần Quang Quý, Mắt thời gian cắt lớp)

(Hoàng Kim Ngọc, Biểu tượng “Lưỡi” trong tiếng Việt, Tạp chí Ngôn ngữ, số

5-2013, tr 50-59)

(56) Điền ngữ liệu cho ở bên dưới vào đúng chỗ trong bảng phân tích:

Ý NGHĨA CỦA BIỂU TƯỢNG CHIẾC ÁO Khả năng

vật chất

của người

mặc

Vật làm tin, vật thay thế chủ thể

Khát vọng nhức nhối, xót xa của bản năng gốc

a) Chiếc áo đỏ rực như than lửa

Cháy không nguôi trước cảnh chia ly

Trang 34

(Nguyễn Mỹ, Cuộc chia ly màu đỏ)

b) Hơn nhau tấm áo manh quần

Thả ra bóc trần ai cũng như ai

(Tục ngữ) c) Chồng ta áo rách ta thương

Chồng người áo gấm xông hương mặc người

(Ca dao) d) Mơ khách đường xa, khách đường xa,

Áo em trắng quá nhìn không ra

(Hàn Mặc Tử, Đây thôn Vĩ Dạ)

e) Anh về để áo lại đây

Đêm khuya em đắp kẻo gió tây lạnh lùng

(Ca dao) f) Em lại nhuộm cho anh

Chiếc áo lá xanh

Vì em ơi chiến tranh

Không chịu màu áo trắng

(Tố Hữu, Chiếc áo xanh) (Dựa theo Nguyễn Thị Ngân Hoa, Biểu tượng chiếc áo trong đời sống tinh thần

của người Việt qua thơ ca, Tạp chí Ngôn ngữ, số 8-2001 tr 15-21)

(57) Hãy cho biết từ dùng hay nhất (nhãn tự) trong bài thơ “Bão” (Tế Hanh) và chứng minh ý kiến của anh (chị)

(58) Bài thơ “Thấp thoáng Phan Rang” (Trần Ngọc Tuấn) có điều gì đặc biệt về gieo vần và chia khổ? Theo anh (chị), từ nào là nhãn tự của bài thơ này? (59) Đọc bài thơ “Nhớ vợ” (Cầm Vĩnh Ui) và cho biết câu thơ nào là “thần cú”10 của bài thơ? Vì sao?

(60) Anh (chị) thích khổ thơ nào nhất trong bài thơ “Hôn” của Phùng Quán? Lý do?

(61) Điều gì trong bài thơ “Những ngôi nhà đứng nghiêng” của Phùng Khắc Bắc (nhan đề, hình ảnh thơ, tứ thơ, giọng, …) gây ấn tượng với anh (chị)? Anh (chị) có thích loại thơ này hay không?

(62) Điều kiện cần để một thi phẩm có thể neo lại tâm trí độc giả trong dòng

chảy bộn bề của đời sống văn chương hiện đại là tứ thơ phải độc đáo Bài thơ

“Thêm một” của nhà thơ Trần Hòa Bình đã có được yêu cầu khắt khe đó: một tứ thơ mới lạ và nhiều chất chiêm nghiệm, suy tư của tình người, đời người

Anh (chị) hãy phân tích tứ thơ của bài thơ để chứng minh ý kiến vừa nêu (63) Điều gì về ngôn ngữ hoặc cách diễn đạt trong bài thơ “Cái ông kỳ lạ” (Mường Mán) và bài thơ “Cảm Tết” (Tú Xương) làm anh (chị) thích? Hãy viết một đoạn văn bình luận (hoặc phân tích) cái hay, cái đẹp trong những bài thơ đó (64) Cái gì (về phương diện từ ngữ) làm cho đoạn thơ dịch sau đây ít chất thơ?

10 Thần cú: Câu thơ, văn độc đáo, toát lên điều kỳ diệu, then chốt của bài văn, bài thơ

Trang 35

Anh gặp ai, dù người tốt hay tồi

Đừng bao giờ nói xấu, hãy nghe tôi

Vì nói xấu người ngay là tội lỗi,

Với người gian thành kẻ gian gấp bội

Một khi anh nói xấu láng giềng mình,

Dù đúng vẫn là người đáng khinh

(A.M Saadi, Ba Tư, Vườn quả)

(65) Bài “Hòn đá” của Chủ tịch Hồ Chí Minh có phải là thơ hay không? Trình bày quan điểm của anh (chị) về vấn đề này

(66)(*) Bài “Tống biệt” (Tản Đà) là thơ hay phú hay từ? Lý giải

(67)(*) Bài thơ “Bóng cây Kơ-nia” (Ngọc Anh phỏng dịch theo điệu hát Kachoi của dân ca Hrê) từ đầu chí cuối hầu như không có vần nhưng vẫn là một bài thơ hay và được Phan Huỳnh Điểu phổ nhạc thành một bản nhạc hay

Anh (chị) hãy lý giải chất thơ và chất nhạc của bài thơ này

(68)(*) Điều gì về ngôn ngữ thơ đã gây ra sự ngộ nhận cho vị giáo viên Văn trong giai thoại sau đây:

THƠ NGUYỄN DU SAI NGỮ PHÁP Đầu những năm 1960, nghe nói có vị giáo viên Văn trung học say sưa phân tích trước lớp về câu thơ Nguyễn Du trong Truyện Kiều: “Giếng vàng đã rụng một vài lá ngô”

– Cái gì đã rụng? – Vị giáo viên kia hỏi

– Thưa thầy, cái giếng

– Rụng cái gì?

– Thưa thầy, lá ngô

– Cái giếng làm sao có lá để mà rụng? Vậy thì, giếng vàng làm sao có thể làm chủ ngữ cho động từ đã rụng? Câu thơ nói trên lẽ ra phải viết: "Một vài chiếc lá ngô đồng đã rụng bên bờ giếng dưới ánh nắng thu vàng".Vị giáo viên nhếch mép cười khoan dung, rồi nói tiếp: Nhưng, chúng ta không chê trách Nguyễn Du Cụ khó tránh khỏi những hạn chế của thời đại Cụ! Cách đây hai thế kỷ, khi Nguyễn Du còn ngồi trên ghế nhà trường chưa có sách ngữ pháp tiếng Việt như các em hôm nay Cụ đâu có cái cơ may được học ngữ pháp tiếng Việt một cách khoa học!

(Theo Hàm Châu, GS Nguyễn Tài Cẩn – Người soi rọi ngọn nguồn tiếng Việt Bài in trong Trang chuyên Ngôn ngữ học)

3.2 NGÔN NGỮ TRONG MỘT SỐ THỂ THƠ TIÊU BIỂU

(69) Nêu nhận xét của anh chị về luật thơ trong các trường hợp sau:

Bộ hành có nghĩa, nắng mưa cũng chờ

(Ca dao)

Trang 36

b) Cơm trắng ăn với khô khoai

Chồng hòa vợ thuận, ăn hoài quên no

(Ca dao Nam Bộ)

Mắt em buồn rười rượi như nương khoai mới trồng

(Ca dao)

Tay ấp má kề, sinh tử có nhau

(Hò khoan Quảng Nam)

Ta chống chẳng được ta bỏ sào xuôi

Con chim kêu phải sợ, con cá vùng phải kinh

(Ca dao Nam Bộ)

Con cá bơi yêu nước, con chim ca yêu trời

(Tố Hữu, Tiếng ru)

Bán bồ đồ chè, bán cối đâm tiêu

(Ca dao tỉnh Bình Dương)

(71) Biến đổi đoạn thơ sau đây thành thơ lục bát chính thể (bằng cách bớt

đi một số chữ):

Lúc đêm khuya, sương lạnh, trăng mờ

Canh tàn rượu tỉnh lúc bấy giờ em nghĩ thương thân

Em tiếc thay trong giá trắng ngần,

Nỡ gieo mình vào đám phong trần làng chơi

Chốn hang sâu lẩn quất hương trời,

Non xanh nước biếc để ai người biết cho?

(Hát xẩm)

(72) Nêu kiểu vần, nhịp, luật bằng trắc và đối trong các khổ thơ sau:

a) Gót danh lợi bùn pha sắc xám

Mặt phong trần nắng rám mùi dâu

Trang 37

Nghĩ thân phù thế mà đau

Bọt trong bể khổ, bèo đầu bến mơ

(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc) b) Sương như búa đẽo mòn gốc liễu

Tuyết dường cưa xẻ héo cành khô

Chòm tuyết phủ, bụi chim gù

Sâu tường kêu vẳng, chuông chùa nện khơi

(Đoàn Thị Điểm, Chinh phụ ngâm khúc)

c) Kìa Bến Thuỷ đứng đầu dậy trước,

Nọ Thanh Chương tiếp bước đứng lên

Nam Đàn, Nghi Lộc, Hưng Nguyên,

Anh Sơn, Hà Tĩnh một phen dậy rồi

Không có lẽ ta ngồi chịu chết?

Phải cùng nhau cương quyết một phen

Tổng này, xã nọ kết liên,

Ta hò, ta hét, thét lên thử nào!

Trên gió cả cờ đào phất thẳng,

Dưới đất bằng giấy trắng tung ra

Giữa thành một trận xông pha,

Bên kia đạn sắt bên ta gan vàng

(Thơ ca Xô viết Nghệ Tĩnh, Bài ca cách mạng)

(73)(*) Biến đoạn thơ sau đây thành thơ song thất lục bát chính thể (bằng cách bớt đi một số chữ):

Mà chớ nghi ngờ, dật dờ thương nhớ

Cái duyên anh đã lỡ, cái nợ anh đã mòn

Như trăng kia đã khuyết, khó biết sao tròn

Mặt tuy cách mặt, dạ em vẫn còn thương anh

(Dân ca Nam Trung Bộ)

(74) Xác định thể thơ và luật thơ của bài thơ sau đây:

a) Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom

Oán hận trông ra khắp mọi chòm

Mõ thảm không khua mà cũng cốc,

Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?

Trước nghe những tiếng thêm rầu rĩ,

Sau hận vì duyên để mõm mòm,

Tài tử văn nhân ai đó tá?

Thân này đâu đã chịu già tom!

(Hồ Xuân Hương, Tự tình)

b) Ghé mắt trông ngang thấy bảng treo,

Kìa đền thái thú đứng cheo leo

Trang 38

Ví đây đổi phận làm trai được,

Thì sự anh hùng há bấy nhiêu!

(Hồ Xuân Hương, Đề đền Thái thú)

c) Người hết danh không hết

Đời còn việc vẫn còn

Tội gì lo quanh quẩn

Lập những cuộc con con

(Khuyết danh, Đời người)

(75) Điền những từ cho sẵn sau đây vào đúng chỗ trong đoạn trích: dọc,

ngang, chính cách, biến cách, ít, tránh

Như chúng ta đã biết, một bài thơ cách luật phải theo hệ thống luật và niêm; luật

trắc, tính từ chữ thứ hai của câu đầu, phải là trắc, được gọi là (3) Ngược lại, nếu

phép, sĩ tử làm thơ theo biến cách là hỏng, những nhà thơ Đường giỏi ít khi dùng biến cách

Trong phép làm thơ cách luật phải dựa vào hai đặc điểm vần và đối, nhưng người

a) Thấm thoát thầy ta đã bảy mươi,

Dặm dài năm tháng những buồn vui,

Một đời dạy dỗ tâm trong sáng

Ba bước phong trần dạ có nguôi

Học trò lớp lớp bao tôn kính,

Bầu bạn xa gần những đón mời

Bính Dần lòng đạo chẳng pha phôi

(Đ V Đ., Thơ gửi nhân sinh nhật thầy 70 tuổi, Québec, 1995)

11 Lấy ý từ một tứ thơ của Quách Tấn trong bài “Tám mươi xuân cảm”: “Mây trôi, cố sự lòng man mác/

Trà rót minh niên chén ngậm ngùi” “Cố sự” là “việc cũ”, “minh niên” là “ sang năm”

Trang 39

b) Tám mươi đâu đã chẵn là trăm,

Chúc thọ còn nhiều, năm lại năm

Vẫn gắng Yoga: theo Đạo thuật,

Vẫn thường thư giãn: định Thiền tâm

Vẫn như Trang Tử: vui đời bướm,

Vẫn học Ngu Công: rút ruột tằm

Sống: ở, thác: về, tùy phận, phúc

Ấy lời đáp tạ khách tri âm

(N T C., Thơ đáp lời học trò nhân sinh nhật 80 tuổi, Matxcơva, 2005)

c) Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ,

Thử địa không dư Hoàng Hạc lâu

Yên ba giang thượng sử nhân sầu

(Thôi Hiệu, Hoàng hạc lâu)

(78) Bài thơ sau đây có 8 cách đọc (tức là tạo thành 8 bài thơ khác nhau) Anh (chị) hãy tìm 7 bài thơ tương ứng với 7 cách đọc còn lại của bài thơ này

CẢNH XUÂN

Ta mến cảnh xuân ánh sáng ngời

Thú vui thơ rượu chén đầy vơi

Hoa cài dậu trúc cành xanh biếc

Lá quyện hương xuân sắc thắm tươi

Qua lại khách chờ sông lặng sóng

Ngược xuôi thuyền đợi bến đông người

Một buổi trưa không biết ở nơi nào,

Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao,

Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ

Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự

Trang 40

(Huy Cận, Đi giữa đường thơm)

(82) Phân tích chỗ khác nhau về cách gieo vần giữa hai đoạn thơ sau đây:

a) Đường trong làng: hoa dại với mùi rơm

Người cùng tôi đi dạo giữa đường thơm,

Lòng giắt sẵn ít hương hoa tưởng tượng

Đất thêu nắng, bóng tre rồi bóng phượng

Lần lượt buông màn nhẹ vướng chân lâu:

Lên bề cao hay đi xuống bề sâu ?

Không biết nữa - Có chút gì làm ngợp

Trong không khí hương với màu hoà hợp

(Huy Cận, Đi giữa đường thơm)

b) Cho em hỏi bên anh trời trở lạnh

Gió giao mùa thổi buốt mảnh thân côi

Có chợt buồn khi tình mãi xa xôi?

Dòng sông nhỏ giờ đã thôi mộng tưởng

Cho em hỏi gió những chiều chuyển hướng

Cát đại dương còn mãi vướng chân người

Anh có nghe bao thương nhớ bừng khơi

Mùi hương tóc thoảng bên trời ước vọng

(Shiroi, Cho em hỏi)

(83) Anh (chị ) thích nhất điều gì nhất về ngôn ngữ thơ của hai đoạn thơ sau:

a)Ê mi-ly, con đi cùng cha

Sau khôn lớn con thuộc đường, khỏi lạc

– Đi đâu cha?

– Ra bờ sông Pô-tô-mác

– Xem gì cha?

Không con ơi, chỉ có Lầu ngũ giác

Ôi con tôi, đôi mắt tròn xoe

Ôi con tôi, mái tóc vàng hoe

Đừng có hỏi cha nhiều con nhé!

Cha bế con đi, tối con về với mẹ

Cả nhân loại căm hờn

Con quỷ vàng trên mặt đất

Mày không thể mượn nước son

Của Thiên Chúa, và màu vàng của Phật!

Mác Na-ma-ra

Ngày đăng: 20/06/2021, 18:25

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w