1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm duy vật về lịch sử của c mác và PH ăngghen thời kỳ hoàn thiện và phát triển 1848 1895

82 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 673,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nói một cách khái quát, chủ nghĩa duy vật lịch sử là một học thuyết khoa học về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, về những quy luật chung và đặc thù của sự phá

Trang 1

MỤC LỤC

Trang TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2

MỞ ĐẦU 4

Chương 1 Ý nghĩa bước ngoặt cách mạng của sự ra đời triết học Mác và hoàn c ảnh lịch sử của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen thời kỳ 1848 – 1895 8

1.1 Sự ra đời của triết học Mác – bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học 8

1.2 Hoàn cảnh lịch sử của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và P h Ăngghen thời kỳ 1848 – 1895 20

Chương 2 Những giai đoạn chủ yếu của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen thời kỳ hoàn thiện và phát triển chủ nghĩa Mác 29

2.1 Giai đoạn phát triển quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ănghen trong quá trình cách mạng dân chủ tư sản (1848 – 1852) 29

2.2 Giai đoạn phát triển quan niệm duy vật về lịch sử trong quá trình xây dựng kinh tế chính trị học (1852 – 1871) 38

2.3 Giai đoạn hoàn thiện triết học Mác sau Công xã Pari (1871 – 1895) 46 2.4 Ý nghĩa của quan niệm duy vật về lịch sử 68

KẾT LUẬN 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

THUYẾT MINH ĐỀ TÀI 83

Trang 2

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

ĐỀ TÀI KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ CỦA C MÁC VÀ PH ĂNGGHEN THỜI KỲ HOÀN THIỆN VÀ PHÁT TRIỂN CHỦ NGHĨA MÁC (1848 – 1895)

Mã số: CS.2015.19.09

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Ngọc Khá Tel : 091.802.9.802

Cơ quan và cá nhân phối hợp: ThS Nguyễn Huỳnh Bích Phương

Cơ quan chủ trì đề tài: Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm

2 Nội dung chính:

- Ý nghĩa bước ngoặt cách mạng của sự ra đời triết học Mác và hoàn cảnh lịch

sử của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen thời kỳ 1848 –

1895

- Những giai đoạn chủ yếu của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và

Ph Ăngghen thời kỳ hoàn thiện và phát triển chủ nghĩa Mác

- Ý nghĩa của quan niệm duy vật về lịch sử

3 Kết quả đạt được:

- Báo cáo khoa học

- Đĩa CD về các tư liệu đã khảo sát

- Bài báo khoa học

Trang 3

SUMMARY

RESEARCH ON SCIENCE AND TECHNOLOGY AT UNIVERSITY LEVEL

AND ENGELS DURING THE IMPROVEMENT AND DEVELOPMENT OF MARXISM (1848 – 1895)

Coordinator: Nguyen Ngoc Kha, Assoc Prof., Dr Tel: 091.802.9.802

Cooperating Institution: MA Nguyen Huynh Bich Phuong

Implementing Institution: The Political Education Faculty, the Ho Chi Minh

City University of Pedagogy

Duration: From September 2015 to September 2016

1 Objectives:

- Through typical works, materialistic views about history of Marx and Engels

during the improvement and development of Marxism (1848–1995) are illustrated,

which marks the meaning of world outllook and methodology of Marxist philosophy in social life

2 Main contents:

- The meaning revolutionary turning point in the philosophy history of the born Marxist philosophy and historical circumstances of materialistic views about history of Marx and Engels period 1848 – 1895

- Major stages of materialistic views about history of Marx and Engels during the improvement and development of Marxism

- The meaning of materialistic views about history

3 Results obtained:

- Science report

- CD of the materials collected

- Journal article

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Khi nghiên cứu lĩnh vực đời sống xã hội thì tất cả các trường phái triết học và các nhà triết học trước Mác đều rơi vào lập trường của chủ nghĩa duy tâm Khắc phục quan niệm duy tâm và siêu hình về lịch sử, triết học mác-xít ra đời thực sự trở thành chủ nghĩa duy vật triệt để trong quan niệm về tự nhiên, xã hội và tư duy

Cùng với học thuyết giá trị thặng dư, quan niệm duy vật về lịch sử là một trong hai phát kiến vĩ đại của C Mác, nó tạo ra cuộc cách mạng trong lịch sử triết học Trên

cơ sở đó, C Mác và Ph Ăngghen đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân Không phải ngẫu nhiên, V.I Lênin nhận xét rằng, chủ nghĩa duy vật lịch sử của C Mác là thành tựu vĩ đại nhất của tư tưởng khoa học1

Chủ nghĩa duy vật lịch sử, tức là chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện một cách sinh động, sáng tạo và đặc thù trong việc nghiên cứu lĩnh vực đời sống xã hội Chủ nghĩa duy vật lịch sử nghiên cứu xã hội với tư cách là một chỉnh thể thống nhất nhằm vạch ra những quy luật chung nhất của sự vận động và phát triển

xã hội; làm sáng tỏ những nét cơ bản của các giai đoạn phát triển của xã hội loài người; nêu lên vị trí và vai trò của từng mặt của đời sống xã hội; làm rõ những nguyên nhân và động lực cơ bản của sự chuyển biến từ hình thái kinh tế – xã hội này lên hình thái kinh tế – xã hội khác cao hơn; chỉ ra mối liên hệ, tác động qua lại

giữa các hiện tượng, quá trình của đời sống xã hội

Nói một cách khái quát, chủ nghĩa duy vật lịch sử là một học thuyết khoa học

về vai trò quyết định của tồn tại xã hội đối với ý thức xã hội, về những quy luật chung và đặc thù của sự phát triển xã hội, về các nguyên lý liên hệ lẫn nhau giữa các hiện tượng và quá trình của đời sống xã hội Chỉ dựa trên quan niệm duy vật về lịch sử thì mới có thể giải thích một cách khoa học các sự vật, hiện tượng, quá trình trong đời sống xã hội

Chính vì thế, quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen là tiêu điểm của những công trình nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau Tuy nhiên, việc nghiên cứu một cách hệ thống, phân tích và làm rõ quá trình hình thành và

1

Xem: V I Lênin, Toàn tập, t 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 258

Trang 5

phát triển quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen nói chung, trong thời kỳ hoàn thiện và phát triển chủ nghĩa Mác (1848 – 1895) nói riêng, nhìn chung, chưa có công trình nào đặt ra một cách trọng tâm và tìm hiểu một cách thấu đáo Do vậy, vấn đề này cần phải được khai thác, nghiên cứu ở một tầm lý luận

mang tính hệ thống, khoa học Chính vì thế, đề tài Quan niệm duy vật về lịch sử

của C Mác và Ph Ăngghen thời kỳ hoàn thiện và phát triển chủ nghĩa Mác (1848 – 1895) có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc

2 Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, lịch sử triết học Mác – Lênin nói riêng đã được nhiều nhà lý luận quan tâm nghiên cứu

Công trình của các tác giả Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (đồng chủ biên), Vấn

đề triết học trong tác phẩm của C Mác, Ph Ăngghen, V I Lênin, Nxb Chính trị

quốc gia, Hà Nội, 2008, chủ yếu giới thiệu dưới góc độ tác phẩm kinh điển những nội dung triết học cơ bản của một số tác phẩm tiêu biểu của C Mác, Ph Ăngghen và

V I Lênin;

Tác giả Nguyễn Quang Điển (chủ biên) với công trình C Mác, Ph Ăngghen,

V I Lênin về những vấn đề triết học, Nxb Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh,

2003, đã biên tập lại những vấn đề triết học chủ yếu của C Mác, Ph Ăngghen và V

I Lênin được rút ra từ bộ C Mác, Ph Ăngghen và V I Lênin, Toàn tập;

Giáo trình Lịch sử triết học (sự hình thành và phát triển triết học Mác – Giai đoạn C Mác, Ph Ăngghen và V I Lênin) của tác giả Phạm Văn Chung, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013, cũng trình bày những nội dung cơ bản nói chung

về mặt triết học trong sự hình thành và phát triển triết học Mác – Lênin;

Tác giả Bùi Ngọc Chưởng, Cống hiến khoa học của Ph Ăngghen cho phong

trào cách mạng của giai cấp công nhân, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội, 2004, đã

nêu lên những cống hiến to lớn, quan trọng của Ph Ăngghen cho phong trào cách mạng thế giới;

Các tài liệu Triết học (Dùng cho nghiên cứu sinh và học viên cao học không

thuộc chuyên ngành Triết học) (Tập 2), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999; Giáo trình Triết học (Dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành Triết học), Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội, 2006 của Bộ Giáo dục và

Trang 6

Đào tạo; Lịch sử triết học, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998 của tác giả

Nguyễn Hữu Vui (chủ biên), đều giới thiệu một nét khái quát những nội dung cơ bản của một số tác phẩm của C Mác, Ph Ăngghen và V I Lênin, cũng như quá trình phát triển của triết học Mác – Lênin nói chung

Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2003 của

Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình các bộ môn khoa học Mác –

Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; Giáo trình Triết học Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo; Giáo trình Những nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010 của Bộ

Giáo dục và Đào tạo, cũng đều có chương riêng trình bày về quá trình hình thành

và phát triển của Triết học Mác – Lênin ở mức độ khái quát nhất

Ngoài ra, còn có nhiều bài viết liên quan đến khía cạnh này hay khía cạnh khác, ở những góc độ, phương diện khác nhau trong việc nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển của chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng

Tuy nhiên, từ lập trường mác-xít để làm rõ quá trình phát triển quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen thời kỳ hoàn thiện và phát triển chủ nghĩa Mác (1848 – 1895), nhìn chung chưa được tìm hiểu một cách thấu đáo

Do vậy, vấn đề này cần phải được khai thác, nghiên cứu ở một tầm lý luận mang tính hệ thống, khoa học

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

a Mục đích:

Mục đích nghiên cứu của đề tài là thông qua những tác phẩm tiêu biểu để làm

rõ quá trình phát tr iển quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ănghen thời kỳ hoàn thiện và phát triển chủ nghĩa Mác (1848 – 1895), trên cơ sở đó thấy được ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của triết học Mác trong đời sống

xã hội

b Nhiệm vụ:

Để thực hiện được mục đích trên, đề tài cần phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

Thứ nhất, phân tích sự ra đời của triết học Mác tạo nên bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học

Trang 7

Thứ hai, làm rõ hoàn cảnh lịch sử của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen thời kỳ 1848 - 1895

Thứ ba, phân tích những giai đoạn chủ yếu của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen thời kỳ hoàn thiện và phát triển chủ nghĩa Mác

Thứ tư, nêu lên ý nghĩa thế giới quan và phương pháp luận của quan niệm duy vật về lịch sử

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

a Cơ sở lý luận:

Tiếp cận đề tài từ cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

b Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp xuyên suốt mà tác giả sử dụng là phương pháp biện chứng duy

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Công trình có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy và học tập môn Lịch sử Triết học Mác – Lênin ở Khoa Giáo dục Chính trị, Trường Đại học Sư phạm TP

Hồ Chí Minh, cũng như làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập các môn Triết học Mác – Lênin, Tác phẩm Kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, Lịch sử chủ nghĩa Mác – Lênin

7 Kết cấu của đề tài

Ngoài Phần mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, công trình bao gồm 2 chương và chia thành 6 tiết

Trang 8

Sự ra đời của triết học Mác vào những năm 40 của thế kỷ XIX đã được thừa nhận là một cuộc cách mạng trong lịch sử triết học Cuộc cách mạng này đã đưa triết học nhân loại từ thời kỳ chủ yếu là “giải thích thế giới” sang thời kỳ không chỉ

“giải thích thế giới”, mà còn “cải tạo thế giới” Triết học Mác ra đời là một tất yếu lịch sử không những vì nó là sự phản ánh thực tiễn xã hội, mà còn là sự phát triển hợp lôgíc của lịch sử tư tưởng nhân loại và tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch

sử triết học Toàn bộ hệ thống triết học do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện đã chứng minh một cách sinh động giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao của học thuyết Mác

1.1.1 Sự thống nhất giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng

Thực chất của cuộc cách mạng trong lịch sử triết học do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện là ở chỗ, nó khắc phục sự tách rời giữa thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng để tạo nên sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật

Trang 9

tồn tại và đồng thời lại không tồn tại, vì mọi vật đang trôi đi, mọi vật đều không

ngừng thay đổi, mọi vật đều không ngừng phát sinh và tiêu vong”2

Sang triết học Tây Âu thời kỳ Phục hưng và cận đại, các nhà triết học duy vật,

dù có những tư tưởng biện chứng, nhưng suy cho cùng, do hạn chế bởi điều kiện lịch sử - xã hội và khoa học cho nên họ vẫn chịu sự chi phối của phương pháp tư duy siêu hình

Đến triết học cổ điển Đức, tư tưởng biện chứng đã đạt được những thành tựu

to lớn, đóng góp nhất định cho sự phát triển tư duy triết học nhân loại, đặc biệt trong triết học Hêghen, nhưng nó lại bị bao bọc bởi cái vỏ duy tâm, thần bí Đỉnh cao của chủ nghĩa duy vật trước Mác là chủ nghĩa duy vật nhân bản của L Phoiơbắc, nhưng chủ nghĩa duy vật nhân bản của ông lại là chủ nghĩa duy vật siêu hình

C Mác và Ph Ăngghen đã khắc phục tính chất phiến diện của chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng của những người đi trước, nhất là các bậc tiền bối trực tiếp,

kế thừa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học cổ điển Đức, xác lập hình thức hiện đại của chủ nghĩa duy vật, tức là chủ nghĩa duy vật biện chứng, hình thức hiện đại của phép biện chứng, tức là phép biện chứng duy vật Triết học mác-xít là sự thống nhất hữu cơ giữa chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng Bước chuyển mang ý nghĩa cách mạng này được bắt đầu từ cuối năm 1842 – năm 1843,

C Mác và Ph Ăngghen dần dần trở thành những nhà duy vật biện chứng với tác phẩm điển hình – “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen Lời nói đầu” Ở những thời kỳ tiếp theo, chủ nghĩa duy vật mác-xít được hoàn thiện, làm sâu sắc thêm trong các tác phẩm “Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”,

“Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”,…

Chủ nghĩa duy vật và phép biện chứng trong triết học do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là cơ sở để hình thành nên hệ thống triết học vĩ đại nhất trong lịch sử – Triết học Mác – Lênin – thế giới quan và phương pháp luận khoa học của học thuyết khoa học và cách mạng – chủ nghĩa Mác – Lênin

2C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr 35

Trang 10

1.1.2 Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, làm cho chủ nghĩa duy vật mác- xít trở thành chủ nghĩa duy vật triệt để

Chủ nghĩa duy vật trước Mác đã đóng một vai trò to lớn đối với sự phát triển của triết học Tuy nhiên, đó là chủ nghĩa duy vật không triệt để, bởi vì trong quan niệm về giới tự nhiên thì nó đứng trên lập trường duy vật, nhưng trong quan niệm

về xã hội thì nó lại rơi vào lập trường duy tâm Chủ nghĩa duy tâm vẫn còn nơi trú

ẩn cuối cùng của nó là lĩnh vực xã hội

C Mác và Ph Ăngghen là những người đầu tiên đã phê phán tính chất duy tâm về lĩnh vực xã hội của chủ nghĩa duy vật cũ nói chung, chủ nghĩa duy vật của

L Phoiơbắc nói riêng để đưa quan điểm duy vật biện chứng vào việc nghiên cứu lĩnh vực xã hội, sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, tạo nên bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng được thể hiện một cách sinh động và sáng tạo trong việc phân tích và làm sáng tỏ những quy luật vận động và phát triển tiến trình lịch sử - xã hội Với sự ra đời của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C Mác đã “tống chủ nghĩa duy tâm ra khỏi hầm trú ẩn cuối cùng của nó”3

Chủ nghĩa duy vật của C Mác đã giải thích một cách duy vật, khoa học không chỉ giới tự nhiên, mà cả lĩnh vực xã hội Do vậy, chủ nghĩa duy vật của C Mác là chủ nghĩa duy vật triệt để, hoàn bị Không phải ngẫu nhiên, V I Lênin nhận xét:

“Triết học của Mác là một chủ nghĩa duy vật triết học hoàn bị, nó cung cấp cho loài người và nhất là cho giai cấp công nhân những công cụ nhận thức vĩ đại”4

Sáng tạo ra chủ nghĩa duy vật lịch sử là thành tựu vĩ đại nhất của C Mác, làm cho chủ nghĩa duy vật mác-xít trở thành triệt để V I Lênin đánh giá rằng: “Trong khi nghiên cứu sâu và phát triển chủ nghĩa duy vật triết học, Mác đã đưa học thuyết

đó tới chỗ hoàn bị và mở rộng học thuyết ấy từ chỗ nhận thức giới tự nhiên đến chỗ

nhận thức xã hội loài người Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Mác là thành tựu vĩ đại

nhất của tư tưởng khoa học Một lý luận khoa học hết sức hoàn chỉnh và chặt chẽ đã

Trang 11

thay cho sự lộn xộn và sự tùy tiện, vẫn ngự trị từ trước đến nay trong các quan niệm

về lịch sử và chính trị”5

Những vấn đề của quan niệm duy vật về lịch sử được C Mác và Ph Ăngghen lần đầu tiên phân tích một cách sâu sắc và có hệ thống trong “Gia đình thần thánh”

và “Hệ tư tưởng Đức” Đó là hai tác phẩm viết chung đầu tiên của C Mác và Ph Ăngghen Quan niệm duy vật về lịch sử được hoàn thiện và làm sâu sắc thêm ở các thời kỳ sau, trong các tác phẩm và bài viết tiêu biểu, đặc biệt là “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, “Tư bản”, “Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”, “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”,…

Chủ nghĩa duy vật lịch sử không phải đơn thuần là sự vận dụng chủ nghĩa duy vật biện chứng vào lĩnh vực xã hội Để có chủ nghĩa duy vật lịch sử, từ quan điểm thực tiễn, C Mác và Ph Ăngghen phải nghiên cứu lịch sử, tổng kết lịch sử, kế thừa

có phê phán toàn bộ lịch sử tư tưởng xã hội trên cơ sở khái quát thực tiễn mới Cùng với học thuyết giá trị thặng dư, chủ nghĩa duy vật lịch sử đã mang lại cho loài người một công cụ vĩ đại để nhận thức và cải tạo thế giới

Chủ nghĩa duy vật lịch sử chỉ ra rằng, xã hội là một bộ phận đặc thù của giới

tự nhiên, vận động và phát triển cũng tuân theo các quy luật khách quan Chính sự tác động của các quy luật khách quan ấy đã quyết định sự thay thế của các hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử - tự nhiên Trong các quy luật khách quan của lịch sử xã hội, quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất đóng vai trò quan trọng nhất, quyết định nhất, quyết định lịch sử phát triển của xã hội loài người là lịch sử nối tiếp nhau của các phương thức sản xuất từ thấp đến cao

Đồng thời, trên cơ sở chủ nghĩa duy vật lịch sử và học thuyết giá trị thặng dư,

C Mác và Ph Ăngghen đã phát hiện ra sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản là lực lượng xóa bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, thực hiện mục tiêu giải phóng con người Triết học do C Mác và Ph Ăngghen sáng lập là lý luận giải phóng giai cấp vô sản và giải phóng con người

5

V I Lê nin, Toàn tập, t 23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 53

Trang 12

1.1.3 Sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng

Tính khoa học của triết học Mác thể hiện ở chỗ: Thứ nhất, triết học Mác là sản

phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, tiền đề lý luận, tiền đề khoa học tự nhiên; thứ hai, triết học Mác phản ánh đúng đắn bản chất và các quy luật vận động,

phát triển của thế giới; thứ ba, triết học Mác là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức và thực tiễn; thứ tư, triết học Mác gắn liền với sự phát triển

của khoa học và thực tiễn

Tính cách mạng của triết học Mác thể hiện ở chỗ: Một là, triết học Mác là vũ

khí lý luận của giai cấp vô sản; hai là, triết học Mác không dừng lại ở việc giải

thích thế giới, mà còn cải tạo thế giới; ba là, triết học Mác khẳng định sự tất thắng của cái mới; bốn là, triết học Mác không chịu khuất phục trước bất kỳ cái gì,

không chấp nhận sự rập khuôn, giáo điều, bảo thủ, trì trệ

Tính khoa học của triết học Mác là cơ sở, tiền đề của tính cách mạng; đảm bảo cho tính cách mạng gắn liền với sự sáng tạo và khả năng hiện thực hóa; nếu không có tính khoa học sẽ không có tính cách mạng; trong bản chất khoa học đã chứa đựng một tinh thần cách mạng Ở chiều ngược lại, trong tính cách mạng đã chứa đựng một nội dung khoa học; hơn nữa, tính cách mạng tạo nên sức sống của tính khoa học và làm cho vai trò hướng dẫn, soi đường của tri thức khoa học đi vào cuộc sống Do đó, tính khoa học càng cao, càng sâu sắc, càng phản ánh đúng đắn bản chất và các quy luật khách quan thì tính cách mạng càng cao, càng triệt để Như vậy, nếu tính cách mạng tách rời tính khoa học sẽ là sự rời bỏ gốc rễ của chính nó và tất yếu dẫn đến những sai lầm với những hậu quả tiêu cực khó lường trong thực tiễn Ngược lại, nếu tính khoa học không gắn liền với tính cách mạng thì bản thân sự tồn tại của một học thuyết khoa học sẽ mất ý nghĩa khoa học và đứng trước nguy cơ trở thành lý thuyết suông, kinh viện, giáo điều

Triết học Mác biểu hiện tính cách mạng ở trong bản chất khoa học của học thuyết, trong mục đích cải tạo thế giới, trong vai trò và sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản Bằng sức mạnh của phương pháp biện chứng, triết học Mác đã chứng minh sự thay thế chế độ tư bản chủ nghĩa bằng chế độ xã hội chủ nghĩa là một tất yếu lịch sử Với tính cách là thế giới quan và phương pháp luận khoa học của giai cấp vô sản, triết học Mác đã trở thành vũ khí tinh thần, vũ khí tư tưởng của giai cấp

Trang 13

vô sản trong cuộc đấu tranh cách mạng nhằm giải phóng mình và giải phóng toàn

bộ xã hội loài người C Mác viết: “Giống như triết học thấy giai cấp vô sản là vũ khí vật chất của mình, giai cấp vô sản cũng thấy triết học là vũ khí tinh thần của

mình”6 V I Lênin chỉ rõ: “Chỉ có chủ nghĩa duy vật triết học của Mác là đã chỉ cho giai cấp vô sản con đường phải theo để thoát khỏi chế độ nô lệ về tinh thần, trong đó tất cả các giai cấp bị áp bức đã sống lay lắt từ trước tới nay”7

Tính cách mạng của triết học Mác biểu hiện ở linh hồn của nó, ở bản chất khoa học và cách mạng của phép biện chứng C Mác chỉ ra rằng: “Dưới dạng hợp

lý của nó, phép biện chứng chỉ đem lại sự giận dữ và kinh hoàng cho giai cấp tư sản và bọn tư tưởng gia giáo điều của chúng mà thôi, vì trong quan niệm tích cực

về cái hiện đang tồn tại, phép biện chứng đồng thời cũng bao hàm cả quan niệm về

sự phủ định cái hiện đang tồn tại đó, về sự diệt vong tất yếu của nó; vì mỗi hình thái đã hình thành đều được phép biện chứng xét ở trong sự vận động, tức là xét cả mặt nhất thời của hình thái đó; vì phép biện chứng không khuất phục trướng một cái gì cả, và về thực chất thì nó có tính chất phê phán và cách mạng”8

Là một học thuyết khoa học - đỉnh cao của trí tuệ loài người, triết học Mác đã đem lại cơ sở khoa học đúng đắn cho việc luận chứng và giải thích các hiện tượng

và quá trình lịch sử - xã hội, nhất là cho việc cải tạo thế giới hiện thực Đúng như

C Mác đã từng khẳng định: “Các nhà triết học đã chỉ giải thích thế giới bằng nhiều cách khác nhau, song vấn đề là cải tạo thế giới”9

Là học thuyết mang ý nghĩa “cải tạo thế giới”, triết học Mác ngay từ khi ra đời đã thâm nhập vào các phong trào quần chúng, trở thành một học thuyết ảnh hưởng sâu sắc trong thế giới đương đại Xét từ góc độ lý luận giải phóng, triết học Mác là chủ nghĩa nhân văn đạt đến tầm cao mới, hình thành trong điều kiện xã hội

tư sản, nhưng thông qua hiện thực đấu tranh của giai cấpvô sản đã dự báo về một

xã hội lý tưởng, hay một liên hợp mà ở đó “sự phát triển tự do của mỗi người là điểu kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người”10

6C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 589

7

V I Lênin, Toàn tập, t.23, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva, 1980, tr 57-58

8 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2004, tr 35-36

9C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 12

10C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 628

Trang 14

Điểm chung của chủ nghĩa nhân văn thể hiện ở chỗ, coi con người là điểm xuất phát và giải phóng con người là mục đích cuối cùng Tuy nhiên, không có chủ nghĩa nhân văn dành cho mọi thời đại Chủ nghĩa nhân văn mác-xít khác với chủ nghĩa nhân văn trừu tượng kiểu L Phoiơbắc, hay chủ nghĩa cộng sản không tưởng kiểu Xanh Ximông, Phuriê, Ôoen về nội dung lẫn phương thức biến khả năng thành hiện thực, biến ý tưởng giải phóng thành lý luận khoa học về sự giải phóng con người Sự khác biệt này được phân tích trong nhiều tác phẩm, từ “Hệ tư tưởng Đức”, “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” đến “Chống Đuyrinh”, “Phê phán Cương lĩnh Gôta” và nhiều tác phẩm khác của C Mác và Ph Ăngghen

Như vậy, bản chất khoa học và cách mạng là cội nguồn sức sống của triết học Mác, sự thống nhất giữa tính khoa học và tính cách mạng trong triết học Mác là cội nguồn thắng lợi của sự nghiệp đấu tranh cách mạng

1.1.4 Sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn

Triết học Mác không chỉ là lý luận khoa học phản ánh bản chất và các quy luật vận động, phát triển của thế giới, mà quan trọng hơn, đó là học thuyết nhằm mục đích cải tạo thế giới Vì vậy, sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là một nguyên tắc căn bản của triết học Mác

Trong lịch sử, các hệ thống triết học trước Mác, kể cả các học thuyết tiến bộ, đều chưa thấy vai trò của thực tiễn đối với nhận thức, chưa nhận thức hết ý nghĩa thực tiễn cao nhất của triết học là hướng đến phát triển xã hội và giải phóng con người Vì vậy, tách rời giữa lý luận và thực tiễn là đặc điểm vốn có của lịch sử triết học trước Mác C Mác chỉ rõ: “Khuyết điểm chủ yếu của toàn bộ chủ nghĩa duy vật từ trước đến nay - kể cả chủ nghĩa duy vật của Phoi-ơ-bắc - là sự

vật, hiện thực, cái cảm giác được, chỉ được nhận thức dưới hình thức khách

thể hay hình thức trực quan, chứ không được nhận thức là hoạt động cảm giác của con người, là thực tiễn, không được nhận thức về mặt chủ quan”11

Ông khẳng định: “Vấn đề tìm hiểu xem tư duy của con người có thể đạt tới chân lý khách quan không, hoàn toàn không phải là một vấn đề lý luận mà là

một vấn đề thực tiễn Chính trong thực tiễn mà con người phải chứng minh

11C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 9

Trang 15

chân lý, nghĩa là chứng minh tính hiện thực và sức mạnh, tính trần tục của tư duy của mình Sự tranh cãi về tính hiện thực hay tính không hiện thực của tư

duy tách rời thực tiễn, là một vấn đề kinh viện thuần túy”12

C Mác không chỉ coi thực tiễn là hoạt động có tính lịch sử - xã hội, mà còn xác định tính vật chất của hoạt động thực tiễn của con người Nhờ hiểu thực tiễn từ

quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng mà nguyên tắc thống nhất giữa lý luận và thực tiễn mang thông điệp mới Giải quyết vấn đề cơ bản của triết học từ quan điểm thực tiễn, nghĩa là phải coi thực tiễn là cơ sở, nguồn gốc, động lực, mục đích của nhận thức, là tiêu chuẩn kiểm tra chân lý Hơn nữa, chỉ xuất phát từ thực tiễn mới khắc phục được quan điểm siêu hình trong nhận thức và hành động, bởi lẽ

sự biến đổi của thực tiễn sẽ thực hiện quá trình sàng lọc, đào thải đối với lý luận; những cái tỏ ra lỗi thời, không đáp ứng nhu cầu thực tiễn sẽ phải nhường chỗ cho cái mới, cái hợp lý

1.1.5 Xác định đúng đắn mối quan hệ giữa triết học và các khoa học cụ thể

Trước khi triết học Mác ra đời, triết học hoặc là hòa tan, ẩn náu đằng sau các khoa học khác, hoặc đối lập với chúng

12C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 9-10

13C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 12

Trang 16

Trong triết học thời kỳ cổ đại, do trình độ nhận thức còn thấp, tri thức khoa học còn nằm trong tình trạng tản mạn, sơ khai, nên triết học được coi như dạng tri thức lý luận duy nhất, giải quyết thay những vấn đề mà lẽ ra thuộc phạm vi của các khoa học cụ thể Chẳng hạn, ở Trung Quốc, triết học gắn liền với các vấn đề chính trị - xã hội; ở Ấn Độ, triết học gắn liền với tôn giáo; ở Hy Lạp – La Mã, triết học gắn liền với khoa học tự nhiên và gọi là nền triết học tự nhiên và đối tượng của triết học là mọi lĩnh vực tri thức, từ đó xuất hiện quan niệm “triết học là khoa học của các khoa học”, còn các triết gia thì được coi như những nhà thông thái am tường mọi thứ Quan niệm ấy tồn tại khá lâu trong lịch sử

Trong thời kỳ Trung cổ, triết học được coi là bộ phận của thần học, có nhiệm

vụ lý giải và chứng minh tính đúng đắn của Kinh thánh và đó là triết học kinh viện Sang triết học thời kỳ Phục hưng và cận đại, do yêu cầu phát triển phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, trong đời sống khoa học đã diễn ra quá trình chuyên biệt hóa, cá thể hóa nên các khoa học tự nhiên đã tách ra khỏi triết học để trở thành các khoa học tương đối độc lập, nhưng triết học vẫn gắn liền mật thiết với các khoa học tự nhiên Với thời gian triết học từ bỏ dần vai trò “khoa học của các khoa học”, hay thứ tri thức bao trùm nào đó

Đến triết học cổ điển Đức, đỉnh cao là triết học Hêghen là hệ thống triết học cuối cùng xem triết học là “khoa học của các khoa học”

Triết học Mác ra đời đã chấm dứt quan niệm đó, đồng thời xác định đúng đắn đối tượng của triết học là nghiên cứu những quy luật chung nhất của sự vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy; còn các khoa học cụ thể chuyên biệt nghiên cứu những quy luật riêng, đặc thù trong từng lĩnh vực nhất định Sự ra đời của triết học Mác góp phần làm thay đổi quan niệm về tính chất và đối tượng của triết học, về mối quan hệ giữa triết học với các khoa học cụ thể

Triết học Mác, không những không tách rời, mà trái lại, càng có mối quan hệ thống nhất và độc lập với các khoa học chuyên ngành Triết học, với tính chất tổng hợp, tính hệ thống và tính khái quát hóa vốn có từ lịch sử, tiếp tục liên minh ngày càng chặt chẽ với các khoa học cụ thể, chuyên biệt

Trong liên minh theo cách hiểu mới, các khoa học cụ thể đem đến cho triết học chất liệu sống, nhờ đó các nhà triết học đưa ra những giải thích về sự vật, hiện

Trang 17

tượng một cách hợp lý, có căn cứ; đồng thời, từ các dữ liệu của quá khứ, hiện tại,

họ cùng các nhà khoa học gợi mở, dự báo về những vấn đề của tương lai Ngay từ khi mới ra đời, triết học Mác đã gắn bó hữu cơ với các khoa học cụ thể Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, triết học Mác - Lênin không thể không được bổ sung, hoàn thiện, phát triển lý luận của mình Ph Ăngghen đã từng nhấn mạnh: “Mỗi lần có một phát minh mang ý nghĩa thời đại ngay cả trong lĩnh vực khoa học lịch sử - tự nhiên thì chủ nghĩa duy vật lại không tránh khỏi thay đổi hình thức của nó; và từ khi bản thân lịch sử cũng được giải thích theo quan điểm duy vật chủ nghĩa thì ở đây, cũng mở ra một con đường phát triển mới”14

Về phần mình, triết học tác động đến các khoa học cụ thể, chuyên biệt ở phương diện thế giới quan và phương pháp luận Cách hiểu mới về tính chất và đối tượng của triết học, liên minh giữa triết học với các khoa học cụ thể, được C Mác

và Ph Ăngghen trình bày trong các tác phẩm và bài viết tiêu biểu như “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hêghen Lời nói đầu”, “Chống Đuyrinh”, “Biện chứng của tự nhiên”, “Lútvích Phoiơbắc và sự cáo chung của triết học cổ điển Đức”,…

Nếu không đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và phương pháp biện chứng duy vật thì trước những phát minh mới của khoa học, người ta dễ mất phương hướng, dễ mắc phải sai lầm trong nhận thức và trong hoạt động thực tiễn Ph Ăngghen đã từng phê phán một số nhà khoa học tự nhiên khi cho rằng, họ không cần tới tư duy lý luận Theo Ph Ăngghen, những nhà khoa học

tự nhiên ấy, trên thực tế, lệ thuộc rất nhiều vào tư duy lý luận, nhưng thường lại là

tư duy sai lầm được rút ra từ những học thuyết triết học “tồi tệ nhất” Trong “Biện

chứng của tự nhiên”, Ph Ăngghen viết: “Những nhà khoa học tự nhiên tưởng rằng

họ thoát khỏi triết học bằng cách không để ý đến nó hoặc phỉ báng nó Nhưng vì không có tư duy thì họ không thể tiến lên được một bước nào và muốn tư duy thì

họ cần có những phạm trù lôgíc, mà những phạm trù ấy thì họ lấy một cách không phê phán, hoặc lấy trong cái ý thức chung, thông thường của những người gọi là có học thức, cái ý thức bị thống trị bởi những tàn tích của những hệ thống triết học đã

14C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t 21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 409

Trang 18

lỗi thời, hoặc lấy trong những mảnh vụn của các giáo trình triết học bắt buộc trong các trường đại học (đó không chỉ là những quan điểm rời rạc, mà còn là một mớ hổ lốn những ý kiến của những người thuộc các trường phái hết sức khác nhau và thường là những trường phái tồi tệ nhất), hoặc lấy trong những tác phẩm triết học

đủ các loại mà họ đọc một cách không có hệ thống và không phê phán - cho nên dù sao, rút cục lại, họ vẫn bị lệ thuộc vào triết học…Những ai phỉ báng triết học nhiều nhất lại chính là những kẻ nô lệ của những tàn tích thông tục hoá, tồi tệ nhất của những học thuyết triết học tồi tệ nhất”15

Do vậy, Ph Ăngghen cho rằng, “dù các nhà khoa học tự nhiên có làm gì đi nữa thì họ vẫn bị triết học chi phối Vấn đề chỉ ở chỗ họ muốn bị chi phối bởi một thứ triết học tồi tệ hợp mốt, hay họ muốn được hướng dẫn bởi một hình thức tư duy lý luận dựa trên sự hiểu biết về lịch sử tư tưởng và những thành tựu của nó”16

Và, không phải ngẫu nhiên mà trong “Lời tựa” viết cho ba lần xuất bản tác

phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph Ăngghen đã viết: “Chỉ có khi nào khoa học tự nhiên tiếp thu được những kết quả của hai nghìn năm trăm năm phát triển của triết học thì nó mới có thể, một mặt, thoát khỏi mọi thứ triết học tự nhiên đứng tách riêng, đứng ngoài và đứng trên nó, và mặt khác, thoát khỏi cái phương pháp tư duy hạn chế của chính nó, do chủ nghĩa kinh nghiệm Anh để lại”17

Thực tiễn khoa học đã chứng minh rằng, những thành tựu nghiên cứu của các khoa học về tự nhiên và xã hội là tiền đề cho hệ thống phạm trù, quy luật triết học định hướng cho sự phát triển hợp quy luật của các lĩnh vực khoa học khác nhau Không có triết học duy vật biện chứng, khoa học hiện đại không thể tiến lên Ph Ăngghen viết: “Hóa học, tính có thể phân chia trừu tượng của cái vật lý thuyết nguyên tử Sinh lý học, - tế bào (quá trình phát triển hữu cơ của một cá thể riêng lẻ cũng như của các loài, giống bằng con đường phân hóa là chứng cớ hiển nhiên nhất của phép biện chứng hợp lý) và cuối cùng, sự đồng nhất giữa những lực của tự nhiên và sự chuyển hoá lẫn nhau giữa chúng đã chấm dứt tính cố định của các

15 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 692-693

16C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 693

17C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t 20, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr 28

Trang 19

phạm trù phép biện chứng trở thành một sự cần thiết tuyệt đối cho cái khoa học tự nhiên”18

V I Lênin chỉ rõ “ chúng ta cần hiểu rằng nếu không có một cơ sở triết học vững vàng thì tuyệt nhiên không có khoa học tự nhiên nào hay chủ nghĩa duy vật nào

có thể tiến hành đấu tranh chống được sự lấn bước của những tư tưởng tư sản và sự phục hồi của thế giới quan tư sản Muốn tiến hành được cuộc đấu tranh ấy và đưa nó đến thành công hoàn toàn, nhà khoa học tự nhiên phải là một nhà duy vật hiện đại, một đồ đệ tự giác của chủ nghĩa duy vật mà Mác là người đại diện, nghĩa là nhà khoa học tự nhiên ấy phải là một nhà duy vật biện chứng”19

V I Lênin nhấn mạnh, cần phải theo dõi những vấn đề do khoa học tự nhiên đặt

ra và lôi kéo các nhà khoa học tự nhiên tham gia bảo vệ, phát triển chủ nghĩa duy vật chiến đấu Bởi vì, theo V I Lênin: “Không đặt ra và không thực hiện nhiệm vụ ấy một cách có hệ thống, thì chủ nghĩa duy vật không thể là một chủ nghĩa duy vật chiến đấu được Nếu không làm thế, các nhà khoa học tự nhiên lớn cũng lại vẫn sẽ luôn luôn bất lực trong những kết luận và khái quát triết học của họ như trước kia Vì khoa học tự nhiên đang tiến bộ nhanh, đang trải qua một thời kỳ đảo lộn cách mạng sâu sắc trong tất cả mọi lĩnh vực, đến nỗi nó tuyệt đối không thể không cần đến những kết luận triết học”20

Trong thời đại ngày nay, mối quan hệ giữa triết học và khoa học chuyên biệt ngày càng trở nên rõ ràng hơn nhờ sự phát triển mạnh mẽ của tri thức khoa học, sự định hướng ở tầm lý luận triết học, vượt ra khỏi ranh giới của các khoa học cụ thể, chuyên biệt

Như vậy, bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng to lớn đối với thời đại Chính cuộc cách mạng này đã làm cho chủ nghĩa xã hội không tưởng có cơ sở để trở thành khoa học Cuộc cách mạng này cũng làm cho triết học thay đổi cả về vai trò, chức năng và nhiệm vụ Triết học Mác đã trở thành công cụ nhận thức và cải tạo thế giới của nhân loại tiến bộ Có thể khẳng định lại rằng, hơn một thế kỷ rưỡi

Trang 20

đã trôi qua, kể từ khi cuộc cách mạng trong triết học được C Mác thực hiện, ý nghĩa của cuộc cách mạng này vẫn giữ nguyên tính thời sự và tính thực tiễn cho việc phát triển triết học Mác - Lênin trong thời đại hiện nay

Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng đó vẫn giữ nguyên ý nghĩa to lớn của nó trong việc phát triển triết học Mác - Lênin, bởi nó là một hệ thống mở, gắn

bó hữu cơ với thực tiễn cách mạng của quần chúng nhân dân, với các khoa học cụ thể

1.2 Hoàn cảnh lịch sử của quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và

Ph Ăngghen thời kỳ 1848 – 1895

1.2.1 Điều kiện kinh tế - xã hội

Đến giữa thế kỷ XIX, ở Pháp, do sự phát triển của đại công nghiệp nên lực lượng sản xuất có những bước phát triển mạnh mẽ, đồng thời những tàn dư thời

kỳ công trường thủ công còn tồn tại rất nặng nề và chi phối sâu sắc xã hội Pháp Giai cấp tư sản công nghiệp, cũng như toàn bộ giai cấp tư sản Pháp nói chung đang ngày càng lớn mạnh Giai cấp vô sản công nghiệp đang được hình thành và trở thành một lực lượng chính trị độc lập, nhưng trình độ giác ngộ tư tưởng và tổ chức còn rất thấp Ở nông thôn, sản xuất nhỏ còn mang tính chất phổ biến, nông dân chiếm đa số (khoảng 70% dân số) Trong những năm 1845 – 1847, các nước châu Âu lâm vào khủng hoảng kinh tế và nạn mất mùa trong nông nghiệp đã dẫn đến cao trào cách mạng năm 1848 nổ ra rộng khắp trên lục địa châu Âu, trong đó

có nước Pháp

Xã hội Pháp lúc này diễn ra sự phân hóa sâu sắc, mâu thuẫn giữa các giai cấp, tầng lớp diễn ra hết sức phức tạp Đó là: mâu thuẫn giữa nông dân với tư sản, tiểu tư sản, quý tộc mang tính chất phổ biến; mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản với tư sản chưa trở thành phổ biến và chưa chiếm vị trí hàng đầu Do đó, cuộc đấu tranh giữa các giai cấp, tầng lớp diễn biến rất quanh co, phức tạp Chẳng hạn, chỉ trong hai năm 1848 - 1849 đã diễn ra nhiều sự kiện chính trị lớn, như cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1848, các cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm

1848 và tháng Sáu năm 1849

Gắn liền với hoàn cảnh lịch sử trên, vào cuối tháng 8 - đầu tháng 9/1849, do

bị trục xuất khỏi Pari cho nên ngay khi đến Luân Đôn, C Mác đã tích cực tham gia

Trang 21

vào các hoạt động của nhiều tổ chức công nhân Trên cơ sở kế thừa “Báo Sông Ranh”, ông đã chủ động chuẩn bị cho ra một tờ báo mới nhằm tập hợp, tuyên truyền lý luận cách mạng trong phong trào công nhân Đến đầu tháng 11/1849, theo lời mời của C Mác, Ph Ăngghen cũng rời Thụy Sĩ đến Anh để cùng với C Mác chuẩn bị xuất bản tờ báo này, đồng thời tham gia và lãnh đạo phong trào cách mạng

Mặt khác, ở Pháp, trong thời kỳ từ tháng 2/1848 đến tháng chạp năm 1851 đã xảy ra diễn biến chính trị phức tạp Ngày 2 tháng chạp năm 1851, những phần tử theo Lui Bônapáctơ đã làm cuộc đảo chính, giải tán Quốc hội, thiết lập nên chế độ độc tài và sau đó một năm Lui Bônapáctơ tự xưng là Hoàng đế Napôlêông III Sự kiện đó đã làm cho nước Pháp bàng hoàng và có nhiều cách giải thích sai lầm về nguyên nhân và bản chất của nó Tuy nhiên, nhờ nắm vững quy luật phát triển của lịch sử xã hội nói chung và lịch sử nước Pháp nói riêng, C Mác không những không bị bất ngờ trước sự kiện lịch sử phức tạp ấy, mà còn nắm được thực chất của vấn đề và dự đoán được hậu quả của nó

Đối với sự phát triển của phong trào công nhân ở Tây Âu thì Công xã Pari năm 1871 là một bước ngoặt Thời kỳ này đã xuất hiện các chính đảng có tính chất quần chúng của giai cấp công nhân C Mác và Ph Ăngghen đã nỗ lực thành lập chính đảng cách mạng của giai cấp công nhân ở các nước Vào những năm 60 và đầu những năm 70 thế kỷ XIX, ở Đức có hai tổ chức của công nhân Một là, Đảng

xã hội dân chủ Đức còn gọi là Đảng Aidơnách do Liếpnếch và Bêben lãnh đạo; và hai, lấy tên là Tổng Hội liên hiệp công nhân Đức do Látxan lãnh đạo có tư tưởng chống chủ nghĩa cộng sản khoa học Chính vì vậy, C Mác và Ph Ăngghen đã nhắc nhở các nhà lãnh đạo Đảng Aidơnách không nên nóng vội liên hiệp hoặc hợp nhất với phái Látxan Các ông cho rằng, nên thống nhất phong trào công nhân Đức từ dưới, làm cho phái Látxan bị cô lập trong quần chúng nhân dân Nhưng các nhà lãnh đạo Đảng Aidơnách không làm theo ý kiến của C Mác và Ph Ăngghen, họ đã tiến hành hợp nhất hoàn toàn vô điều kiện với phái Látxan, và tới tháng 5/1875, Đại hội đại biểu đảng liên hiệp đã được triệu tập ở Gôta Sau khi dự thảo xong bản cương lĩnh hợp nhất, Liếpnếch mới đưa cho C Mác Bất bình trước sự phản bội các nguyên tắc của chủ nghĩa cộng sản khoa học được thể hiện trong cương lĩnh và

Trang 22

sự nhượng bộ của Đảng Aidơnách trước phái Látxan, C Mác đã biên chú vào lề để phê phán từng phần của cương lĩnh, chính thức gọi là “Phê phán Cương lĩnh Gôta” Bất chấp sự phê phán của C Mác, Đại hội đại biểu liên hiệp Gôta vẫn thông qua bản cương lĩnh đó Chính sự thỏa hiệp này đã trở thành một trong những nguyên nhân của sự thoái hóa, biến chất của Đảng xã hội dân chủ Đức và sau này

đẻ ra chủ nghĩa cơ hội Phái Látxan trở thành nguồn gốc lý luận và tiền thân của chủ nghĩa cơ hội ở trong Đảng xã hội dân chủ Đức Trong hoàn cảnh ấy, C Mác và

Ph Ăngghen đã gánh vác một sứ mệnh cao cả là dùng ngòi bút của mình để giáng một đòn nặng nề vào bọn cơ hội chủ nghĩa

Đặc biệt, vào những năm cuối thế kỷ XIX, với khí thế sôi sục, giai cấp công nhân Pháp đã nổi lên làm cuộc khởi nghĩa, thành lập Công xã Pari (1871) Tuy nhiên, vì điều kiện khách quan chưa chín muồi, cùng với những yếu kém về nhân

tố chủ quan, cuộc khởi nghĩa đã bị thất bại Sau thất bại của Công xã Pari, giai cấp

tư sản đã nhận ra sự lớn mạnh của giai cấp công nhân cho nên đã tìm mọi cách để tấn công vào phong trào công nhân, tấn công vào chủ nghĩa Mác Trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng như vậy, C Mác và Ph Ăngghen đã tiến hành phê phán hệ tư tưởng tư sản phản khoa học, phát triển lý luận cách mạng của mình và tuyên truyền mạnh mẽ lý luận ấy vào phong trào công nhân

1.2.2 Điều kiện khoa học tự nhiên

Đặc điểm nổi bật của khoa học tự nhiên từ giữa thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX là chủ nghĩa duy tâm và phương pháp siêu hình đang chiếm địa vị thống trị chi phối

Trong lĩnh vực sinh vật học, thịnh hành chủ nghĩa duy tâm sinh lý học, đại biểu tiêu biểu là các nhà sinh vật học người Đức Muynle và Hemhôntxơ Các nhà khoa học này lợi dụng những thành tựu nghiên cứu về các giác quan và cho rằng, cảm giác của con người chỉ là những ký hiệu ước lệ, không phải là sự phản ánh các

sự vật khách quan

Trong lĩnh vực hóa học, người ta phủ nhận việc con người có thể nhận thức được những kết cấu của phân tử, và từ đó họ cho rằng, chỉ cần nghiên cứu những biến hóa có tính chất kinh nghiệm là được

Trang 23

Trong lĩnh vực vật lý học, “thuyết chết nhiệt” được phổ biến rộng rãi Thuyết này cho rằng, tất cả các quá trình trong thế giới đều giảm bớt năng lượng theo một hàm số đặc biệt, gọi là “hàm số nhiệt cơ học” Khi hàm số này đạt tới số tối đa trong toàn thế giới thì nhiệt độ của vũ trụ sẽ chết đi, tức là vũ trụ lúc đó sẽ trở nên

“lạnh ngắt” Hàm số cơ học là một đại lượng vật lý đặc biệt để nói lên sự tan nát, giảm sút năng lượng: tất cả các loại năng lượng chuyển thành nhiệt và nhiệt độ được phân phối đều cho tất cả các vật thể của tự nhiên “Thuyết chết nhiệt” giải thích rằng, sự san bằng nhiệt độ là dựa vào định luật thứ hai của nhiệt động học, theo đó, nhiệt truyền từ vật có nhiệt độ cao hơn đến những vật có nhiệt độ thấp hơn Từ đó, các nhà duy tâm, siêu hình rút ra kết luận rằng, thế giới đi dần đến chỗ nhiệt độ trong vũ trụ trở nên hoàn toàn đều nhau và không tránh khỏi sự diệt vong

về nhiệt

Trong lĩnh vực toán học, những người duy tâm đã lợi dụng toán học làm công

cụ để chống lại chủ nghĩa duy vật Theo họ, các phép tính và kết luận toán học có tính chất trừu tượng, xa rời thực tại, có thể che đậy mọi sự liên hệ của toán học với thực tại, phủ nhận mối liên hệ đó và coi toán học như một sản phẩm thuần túy của

tư duy, chứ không phải là sản phẩm của thực tiễn, đây chính là “chủ nghĩa duy tâm toán học”

Trong nửa sau thế kỷ XIX, khoa học tự nhiên lại tiếp tục phát triển rất mạnh

Vào khoảng cuối năm 1860, người ta bắt đầu phát hiện ra mối liên hệ giữa mặt cơ học và mặt hóa học của vật chất và vận động (thuộc tính hóa học có liên quan với khối lượng nguyên tử) Đặc biệt, định luật tuần hoàn của các nguyên tố hoá học do Menđêlêép phát hiện đã chuẩn bị điều kiện cho những sự thay đổi căn bản trong các học thuyết về kết cấu vật chất sau này

Cũng vào thời kỳ này, các nhà vật lý học quan niệm ête, ánh sáng là một môi trường hết sức động, không có trọng lượng, choán đầy không gian vũ trụ Đồng thời, họ cho rằng, vận động cơ học của vật chất là hình thức vận động đơn giản nhất, đó là hình thức khởi đầu trong sự phát triển của tất cả các hình thức vận động

của vật chất Chẳng hạn, trong thế giới vi mô, nguyên tử, phân tử được coi như hình ảnh thu nhỏ của các vật thể, thế giới vĩ mô như những quả cầu nhỏ có thuộc tính cơ học và chuyển động theo các quỹ đạo giống như những vật thể vĩ mô

Trang 24

Trong bối cảnh như vậy, một số học giả tư sản đã lợi dụng những thành tựu

của khoa học tự nhiên để chống lại chủ nghĩa Mác, nhất là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác

Tuy nhiên, do đòi hỏi của chính bản thân sự phát triển của khoa học tự nhiên dẫn đến sự cần thiết phải phát triển phép biện chứng duy vật và áp dụng nó trong khoa học tự nhiên, bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác, triết học Mác

Một thực tế là, mặc dù quan niệm siêu hình, máy móc vẫn còn thống trị trong khoa học tự nhiên, nhưng đã bắt đầu dần dần hình thành quan niệm mới về thế giới – quan niệm biện chứng trong lý thuyết về điện tử Nhờ có thuyết điện tử về ánh sáng của Mácxoen và những công trình của Hécsơn, vật lý học đã tiến được một bước dài từ quan niệm siêu hình, máy móc tiến tới quan niệm biện chứng về thế giới

Trước sự phát triển của khoa học tự nhiên, quan niệm duy vật biện chứng cho phép các nhà khoa học tự nhiên khắc phục những mâu thuẫn trong quá trình nghiên cứu Kết quả là, chính những thành tựu trong khoa học tự nhiên đã bác bỏ tư duy siêu hình và cần thiết phải áp dụng phương pháp tư duy biện chứng

1.2.3 Điều kiện lý luận

Lúc này, học thuyết mác-xít được truyền bá rộng rãi trong phong trào công nhân và giúp cho chính đảng của giai cấp công nhân các nước giành được thắng lợi, đồng thời học thuyết Mác đã đập tan những tư tưởng sai lầm của các nhà tư tưởng tiểu tư sản Sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực lý luận buộc kẻ thù phải thay đổi bộ mặt, tự hóa trang làm người mác-xít để chống lại chủ nghĩa Mác Từ đó, chủ nghĩa cơ hội đã xuất hiện dưới mọi hình thức trong nội bộ của Đảng xã hội dân chủ Các học giả tư sản đã hướng sự tấn công vào phép biện chứng mang tính cách mạng của triết học Mác

Chủ nghĩa Đácuyn xã hội lúc đó đã bị các học giả tư sản lợi dụng để chống lại chủ nghĩa Mác Họ cho rằng, xã hội cũng là một cơ thể như cơ thể của động vật, cho nên xã hội cũng vận động, phát triển tuân theo các quy luật của sinh vật học

Từ đó, họ loại bỏ những quy luật xã hội mà C Mác đã phát hiện ra, nhất là quy luật đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội Theo họ, chủ nghĩa tư bản cũng như

Trang 25

một cơ thể sinh vật, nó tồn tại như một hiện tượng tự nhiên nên không cần phải đấu tranh để tiêu diệt nó

Chủ nghĩa Đácuyn xã hội còn mang tính chất siêu hình khi nó cho rằng, có thể quy hình thức vận động sinh vật vào hình thức vận động cơ học Vì thế, các học giả đều quy mọi hình thức vận động vào hình thức vận động cơ học, họ phủ nhận

sự khác biệt giữa quy luật của xã hội và quy luật của tự nhiên, do đó họ phủ nhận những bước nhảy vọt và những cuộc cách mạng Quan niệm máy móc này đã được các nhà xã hội học tư sản những năm 50 - 60 thế kỷ XIX như Xpenxơ truyền bá để chống lại phép biện chứng duy vật

Mặt khác, chủ nghĩa Mác về cơ bản hình thành vào năm 1848 và được đánh dấu bằng sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, nhưng vẫn chưa chiếm

ưu thế, các thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản vẫn còn ảnh hưởng trong phong trào công nhân và chưa bị đánh bại trong thực tiễn và lý luận Giai cấp tư sản đã tiến hành một cuộc tấn công rộng rãi vào lý luận chủ nghĩa Mác, bằng cách lợi dụng tất cả các trào lưu chống duy vật phản khoa học

Cuối cùng, vào những năm 70 thế kỷ XIX đã bắt đầu xuất hiện một xu hướng chống chủ nghĩa Mác thâm nhập vào phong trào cách mạng của giai cấp công nhân Đó là chủ nghĩa cơ hội núp dưới chiêu bài chủ nghĩa xã hội, nhưng thực ra

nó tìm cách thay thế lý luận chủ nghĩa xã hội khoa học của C Mác bằng các loại lý luận chủ nghĩa xã hội giả hiệu, phản động của giai cấp tư sản Một trong những đại biểu của chủ nghĩa cơ hội đó là Đuyrinh

Trong sinh hoạt tư tưởng những năm 70 – 90, tức là sau Công xã Pari có nhiều biểu hiện phức tạp Chủ nghĩa vô chính phủ của Bacunin để lại dấu ấn nặng nề trong phong trào công nhân quốc tế, tạo ra các biến tướng khác nhau, mà biểu hiện

rõ nhất là chủ nghĩa khủng bố nấp dưới các khẩu hiệu cách mạng triệt để, nhưng thực chất là lấy con người làm vật hiến tế cho những mưu đồ chính trị đen tối Còn chủ nghĩa cơ hội của Látxan thì né tránh những vấn đề thực chất của xung đột xã hội, chủ trương thỏa hiệp với nhà nước trong nỗ lực cải thiện đời sống công nhân, coi đấu tranh nghị trường là phương thức cơ bản giải quyết các mâu thuẫn xã hội

Trang 26

Mặt khác, trào lưu triết học phi cổ điển bắt đầu ảnh hưởng sâu rộng đến sinh họat tinh thần của xã hội phương Tây Một số học thuyết sử dụng những thành tựu của khoa học tự nhiên và khoa học lịch sử để bác bỏ chủ nghĩa Mác

Trong bối cảnh hết sức phức tạp về tư tưởng, lý luận như vậy, một nhiệm vụ bức thiết được đặt ra trước các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác là, cùng với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, phải đập tan tất cả các trào lưu tư tưởng phản động, phản khoa học; đẩy lùi các trào lưu xã hội chủ nghĩa không tưởng tiểu tư sản

ra khỏi phong trào công nhân; vạch rõ rằng, các trào lưu ấy không dựa vào các tài liệu khoa học về tự nhiên, mà trái lại, mâu thuẫn với chính các thành tựu của khoa học tự nhiên; vạch rõ sự liên hệ trực tiếp của những trào lưu triết học phản động đó với tình hình chính trị lúc bấy giờ và mục đích của nó nhằm phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản Do đó, C Mác và Ph Ăngghen tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh kiên trì vừa nhằm bảo vệ luận điểm nền tảng của thế giới quan triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, vừa tiếp tục phát triển những luận điểm mới, bám sát những thành tựu của khoa học và cuộc sống

Thông qua hàng loạt tác phẩm mang tính chất bút chiến, các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác đã vạch trần mọi xu hướng xa rời chủ nghĩa duy vật và phê phán triệt để những người theo “chủ nghĩa Đácuyn xã hội”, “chủ nghĩa duy tâm sinh lý học”,

“chủ nghĩa duy tâm toán học” v.v…cùng với những người theo “thuyết không thể biết”, “chủ nghĩa cơ giới” và “phép siêu hình” Đồng thời, C Mác và Ph Ăngghen tiến hành cuộc đấu tranh bền bỉ chống chủ nghĩa vô chính phủ của Bacunin, cũng như chủ nghĩa cơ hội của Látxan

Như vậy, những điều kiện kinh tế - xã hội, khoa học tự nhiên và lý luận từ giữa đến cuối thế kỷ XIX đã thôi thúc C Mác và Ph Ăngghen bảo vệ, tiếp tục hoàn thiện và phát triển học thuyết triết học của mình, trong đó có quan niệm duy vật về lịch sử, để trang bị thế giới quan, phương pháp luận khoa học cách mạng, vũ khí tinh thần cho giai cấp vô sản và nhân dân lao động tiến bộ trong cuộc đấu tranh giải phóng con người

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Sự ra đời của Triết học Mác nói chung, quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và Ph Ăngghen nói riêng là một tất yếu lịch sử không những vì nó là sự phản ánh thực tiễn xã hội, mà còn là sản phẩm tất yếu, phát triển hợp quy luật trong sự vận động, phát triển của lịch sử tư tưởng triết học nhân loại và tạo ra bước ngoặt cách mạng trong lịch sử triết học Toàn bộ hệ thống triết học do C Mác và Ph Ăngghen thực hiện đã chứng minh một cách sinh động giá trị lý luận và thực tiễn lớn lao của học thuyết Mác

Quá trình hoàn thiện và phát triển quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác và

Ph Ăngghen là sản phẩm của những điều kiện kinh tế - xã hội, những thành tựu khoa học tự nhiên và tư tưởng lý luận từ giữa đến cuối thế kỷ XIX

Đối với sự phát triển của chủ nghĩa tư bản Tây Âu giữa thế kỷ XIX thì nước Pháp là nơi tập trung những sự kiện chính trị phức tạp, trong đó Công xã Pari năm

1871 là một bước ngoặt, tác động trực tiếp đến sự phát triển của phong trào công nhân Thời kỳ này đã xuất hiện các chính đảng có tính chất quần chúng của giai cấp công nhân Sau thất bại của Công xã Pari, giai cấp tư sản đã nhận ra sự lớn mạnh của giai cấp công nhân, cho nên đã tìm mọi cách để tấn công vào phong trào công nhân, tấn công vào chủ nghĩa Mác Trong bối cảnh nước sôi lửa bỏng như vậy, C Mác và Ph Ăngghen đã tiến hành phê phán hệ tư tưởng tư sản phản khoa học, phát triển lý luận cách mạng của mình và tuyên truyền mạnh mẽ vào phong trào công nhân

Đặc điểm nổi bật của khoa học tự nhiên từ giữa đến cuối thế kỷ XIX là chủ nghĩa duy tâm và phương pháp siêu hình đang chiếm địa vị thống trị chi phối Trước sự phát triển của khoa học tự nhiên, quan niệm duy vật biện chứng cho phép các nhà khoa học tự nhiên khắc phục những mâu thuẫn trong quá trình nghiên cứu Kết quả là, chính những thành tựu trong khoa học tự nhiên đã bác bỏ tư duy siêu hình và cần thiết phải áp dụng phương pháp tư duy biện chứng

Về mặt lý luận, thời kỳ này, học thuyết mác-xít được truyền bá rộng rãi trong phong trào công nhân và giúp cho chính đảng của giai cấp công nhân các nước giành được thắng lợi Sự thắng lợi của chủ nghĩa Mác trong lĩnh vực lý luận buộc

kẻ thù phải thay đổi bộ mặt, tự hóa trang làm người mác-xít để chống lại chủ nghĩa

Trang 28

Mác Trong bối cảnh ấy, C Mác và Ph Ăngghen tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh kiên trì nhằm vừa bảo vệ luận điểm nền tảng của thế giới quan triết học duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, vừa tiếp tục phát triển những luận điểm mới, bám sát những thành tựu của khoa học và cuộc sống

Trang 29

CH ƯƠNG 2 NHỮNG GIAI ĐOẠN CHỦ YẾU CỦA QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ

CỦA C MÁC VÀ PH ĂNGHEN THỜI KỲ HOÀN THIỆN

về số lượng và vũ khí Sự thất bại của sự kiện tháng Sáu này đánh dấu thời kỳ thoái trào của phong trào công nhân ở châu Âu Đến năm 1852, các phong trào hầu như lắng xuống Cuộc cách mạng dân chủ tư sản ở châu Âu năm 1848 – 1849 là lần diễn tập thứ nhất để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý báu cho phong trào vô sản đã được C Mác và Ph Ăngghen tổng kết trong hàng loạt tác phẩm và bài viết như “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 – 1850”, “Cách mạng và phản cách mạng ở Đức”, “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ”,

C Mác và Ph Ăngghen đánh giá nội dung và thực chất các cuộc cách mạng dân chủ tư sản, vai trò của quần chúng nhân dân trong các cuộc cách mạng đó, rút

ra những bài học quý giá về liên minh các lực lượng xã hội vì mục tiêu chung, phác thảo nhiều vấn đề về tổ chức xã hội tương lai Trong thời kỳ này, cùng với việc tiếp tục làm sáng tỏ những vấn đề chung của quan niệm duy vật về lịch sử, như các quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, giữa nhân tố chủ quan và điều kiện khách quan trong hoạt động của con người, các ông tiếp tục đào sâu lý luận về cách mạng không ngừng, liên minh công - nông, nhà nước và cách mạng, bản chất của nhà nước chuyên chính vô sản, liên minh giữa vô sản chính quốc và các dân tộc bị áp bức,…

Trang 30

* Tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850”:

Thứ nhất, C Mác vận dụng các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc tổng kết một giai đoạn phát triển của lịch sử chính trị Pháp:

C Mác đã khái quát những sự kiện chính trị đáng chú ý trong thời gian từ Cách mạng tháng Hai năm 1848 đến tháng Mười năm 1850 ở Pháp Trong cuộc Cách mạng tháng Hai năm 1848 tất cả các tầng lớp xã hội, trong đó vai trò chủ yếu

là giai cấp vô sản đã chống lại nền Quân chủ tháng Bảy, lập nên chế độ “Cộng hòa

xã hội” Giai cấp vô sản Pháp chưa có khả năng thực hiện cuộc cách mạng của chính mình – cách mạng vô sản Những thành quả do cuộc Cách mạng tháng Hai mang lại, nhất là Chính phủ lâm thời và nền Cộng hòa xã hội, chủ yếu lại giúp giai cấp tư sản hoàn thiện ách thống trị của mình C Mác viết: “Cái mà nó đã giành được chính là cái cơ sở để đấu tranh cho cuộc giải phóng cách mạng của nó, chứ tuyệt nhiên không phải là bản thân cuộc giải phóng đó”21 Hệ quả tất yếu của tình hình lúc này là giai cấp vô sản buộc phải lựa chọn cuộc khởi nghĩa tháng Sáu năm

1848 Trong “trận giao chiến lớn đầu tiên đã diễn ra giữa hai giai cấp đối lập trong

xã hội hiện đại” này, giai cấp vô sản đã đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, bảo vệ chế độ cộng hòa xã hội và giai cấp vô sản đã bị đàn áp đẫm máu, chế độ cộng hòa

xã hội bị thủ tiêu22

Đứng vững trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, C Mác đã luận giải một cách khoa học mối quan hệ giữa kinh tế và chính trị, giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, giữa các giai cấp xã hội, giữa các chính đảng chính trị, giữa vai trò của quần chúng nhân dân và cá nhân trong lịch sử, cũng như lôgíc phát triển của đấu tranh giai cấp và cách mạng là đầu tàu của lịch sử, v.v ở một trong những thời kỳ phát triển phức tạp nhất của lịch sử nước Pháp giữa thế kỷ XIX

Trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850”, C Mác đã phân tích nguyên nhân, bài học kinh nghiệm của những thất bại trong các cuộc cách mạng giai đoạn 1848 - 1850 ở Pháp Theo ông, thất bại của các cuộc cách mạng năm 1848 ở Pháp, nhất là Cách mạng tháng Sáu năm 1848, trước hết là do giai cấp công nhân chưa trưởng thành, chưa có lý luận soi đường và tổ chức chặt chẽ, chưa

21C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 26

22

Xem: C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 45

Trang 31

có Đảng lãnh đạo và chưa có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắn, chưa tập hợp và đoàn kết được rộng rãi quần chúng, chưa liên minh được với giai cấp nông dân Trong thất bại của cách mạng Pháp thời kỳ này còn do những hạn chế và sai lầm, lạc hậu và mê tín của phần lớn dân cư Pháp là nông dân, do tầng lớp tiểu tư sản Pháp là tầng lớp bấp bênh, dao động và luôn luôn bị phân hóa C Mác viết:

“Ngày 10 tháng chạp năm 1848 là ngày khởi nghĩa của nông dân Chỉ từ ngày đó, mới bắt đầu cuộc khởi nghĩa tháng Hai của nông dân Pháp Cái biểu tượng nói lên

sự tham gia của nông dân vào phong trào cách mạng, cái biểu tượng vừa vụng về, vừa ranh mãnh, vừa gian xảo vừa ngây thơ, vừa trì độn vừa cao thượng, đồng thời là

sự mê tín có tính toán, sự khôi hài bi ai, sự lỗi thời vừa tài tình vừa ngu ngốc, trò tinh nghịch của lịch sử thế giới, thứ văn tự tượng hình khó hiểu đối với lý trí của những người văn minh, - cái biểu tượng đó mang dấu vết không thể lầm lẫn được của giai cấp đại biểu cho sự dã man ngay trong lòng nền văn minh”23

Đồng thời, C Mác chỉ rõ một cách cụ thể, chi tiết: “Hồi tháng 6-1849, không phải công nhân là những người thất bại, mà những người tiểu tư sản đứng giữa công nhân và cách mạng đã bị thất bại Tháng 6-1849 không phải là một bi kịch đẫm máu giữa lao động làm thuê và tư bản, mà là một quang cảnh đầy rẫy những cảnh ngục

tù, một quang cảnh bi thảm giữa người chủ nợ và con nợ”24

Cách mạng trong những năm 1848 - 1849 ở Pháp bị thất bại, nhưng cách

mạng không bị tiêu diệt, bởi vì cách mạng là xu thế tất yếu của lịch sử Sự trưởng thành của giai cấp vô sản chỉ có thể có được thông qua thực tiễn đấu tranh cách mạng, ở đó giai cấp vô sản mới từng bước nhận rõ được bộ mặt thật của giai cấp tư sản Cách mạng bị thất bại, nhưng nó đã làm bộc lộ ra những lực lượng mà giai cấp

vô sản cần phải đoàn kết, cần phải liên minh; đồng thời, sự thất bại của cách mạng cũng cho thấy những lực lượng cố kết với nhau để chống lại giai cấp vô sản Thông qua sự thất bại của cách mạng, giai cấp vô sản mới rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu, mới tự mình rũ bỏ được những tàn tích, những ảo tưởng, những ấu trĩ để trưởng thành nhanh chóng và chuẩn bị cho những bước phát triển tiếp theo

23C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 62

24C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 89

Trang 32

Thứ hai, những nguyên lý về đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội:

Trên cơ sở tổng kết một thời kỳ phát triển của chủ nghĩa tư bản và một giai đoạn có tính chất điển hình của cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp, C Mác đã nêu lên nhiều vấn đề có tính quy luật của đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội Đó là lý luận về giai cấp, đấu tranh giai cấp và giành quyền lực trong một cơ cấu xã hội có đối kháng giai cấp; những nguyên lý về cách mạng xã hội, nhà nước và quyền lực nhà nước; những hình thức mà cách mạng tư sản đã trải qua và những trạng thái manh nha của cách mạng vô sản

C Mác khẳng định rằng: “Chỉ có sự thống trị của giai cấp tư sản công nghiệp là có thể nhổ hết được gốc rễ vật chất của xã hội phong kiến và san bằng miếng đất duy nhất trên đó một cuộc cách mạng vô sản có thể thực hiện được”25

và: “Giai cấp tư sản công nghiệp chỉ có thể thống trị được ở nơi nào

mà công nghiệp hiện đại đã nhào nặn theo cách thức của nó tất cả những quan

hệ chiếm hữu”26 Những luận điểm này thể hiện rất rõ quan niệm duy vật về lịch sử Nó chỉ ra rằng, nhà nước tư sản trước hết là nhà nước tư sản công nghiệp, chỉ có nền sản xuất vật chất xã hội mới là nền tảng, nguyên nhân căn bản thực sự của kiến trúc thượng tầng xã hội

Thông qua đấu tranh giai cấp, nhất là cuộc khởi nghĩa ngày 13/6/1849, những người tiểu tư sản cũng ngày càng tan vỡ ảo tưởng vào chế độ sở hữu nhỏ của mình và trở nên thực tế hơn C Mác nhấn mạnh: “Cũng như trước kia các tầng lớp này coi sự phát triển của giai cấp vô sản là nguyên nhân của sự nghèo khổ của họ thì ngày nay cũng vậy, họ phải thừa nhận rằng nguyên nhân của sự nghèo khổ của họ là sự thất bại của giai cấp vô sản”27

Tư tưởng nhất quán và xuyên suốt tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 – 1850” là tư tưởng cách mạng không ngừng Thực tiễn cách mạng luôn tạo ra những điều kiện và khả năng mới, chỉ ra lôgíc của tiến trình lịch sử của giai cấp vô sản Lịch sử đã chứng tỏ rằng, cách mạng tư sản chỉ là tiền đề cho cách mạng vô

25 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 29

26C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 29

27

C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 48

Trang 33

sản Khi hội đủ những điều kiện cần thiết và đặc biệt giai cấp vô sản đã trưởng thành thì cách mạng vô sản nhất định sẽ giành được thắng lợi

Thứ ba, vấn đề sự thống trị chính trị của giai cấp vô sản:

C Mác và Ph Ăngghen đã nêu lên vấn đề sự thống trị chính trị của giai cấp

vô sản trong “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, đến “Đấu tranh giai cấp ở Pháp

1848 – 1850”, C Mác nói đến “chuyên chính của giai cấp công nhân”, hiểu như là chuyên chính vô sản Trong thư gửi Vâyđơmâyơ (5/3/1852), C Mác khái quát chuyên chính vô sản chỉ là bước quá độ để đi đến xóa bỏ nhà nước với tính cách là công cụ của một giai cấp: “Cái mới mà tôi đã làm là chứng minh rằng: 1) sự tồn tại của các giai cấp chỉ gắn với những giai đoạn phát triển của lịch sử nhất định của sản xuất; 2) đấu tranh giai cấp tất yếu dẫn đến chuyên chính vô sản; 3) bản thân nền chuyên chính này chỉ là bước quá độ tiến tới thủ tiêu mọi giai cấp và tiến tới xã hội không có giai cấp”28

bỏ tình trạng người bóc lột người mới khắc phục được những đối kháng giai cấp và

áp bức dân tộc Lợi ích của giai cấp vô sản trong các nước tư bản thống nhất với lợi ích của các dân tộc trong các cuộc đấu tranh giải phóng Mối liên hệ này xuyên suốt quá trình lịch sử của chủ nghĩa tư bản, bởi lẽ nó phản ánh bản chất của chế độ

đó, cũng như khát vọng của con người vượt qua mọi áp bức và nô dịch

Từ thực tế diễn biến các phong trào cách mạng năm 1848 – 1849, C Mác đi đến kết luận về cơ sở kinh tế của các mâu thuẫn và xung đột giai cấp, nhấn mạnh rằng, cách mạng xã hội chỉ có thể xảy ra khi lực lượng sản xuất hiện đại đã phát

28C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.28, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr 662

Trang 34

triển cao, làm cho mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ngày càng trở nên gay gắt

T hứ năm, tư tưởng về chủ nghĩa xã hội:

Đồng thời, trong tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850” C Mác còn phát triển tư tưởng về chủ nghĩa xã hội Chủ nghĩa xã hội được coi không chỉ là mục tiêu, mà còn là phương tiện để giai cấp vô sản tự giải phóng mình, giải phóng xã hội và giải phóng con người Để thực hiện được sứ mệnh lịch sử của mình, giai cấp vô sản phải thực hiện sự chuyên chính của giai cấp mình - chuyên chính vô sản “Chủ nghĩa xã hội này, - C Mác viết,- là lời tuyên bố cách mạng không ngừng, là chuyên chính giai cấp của giai cấp vô sản, coi đó là giai đoạn quá độ tất yếu để đi đến xóa bỏ những khác biệt giai cấp nói chung, xóa bỏ

cả những quan hệ sản xuất làm cơ sở cho những sự khác biệt ấy, xóa bỏ những mối quan hệ xã hội thích ứng với những quan hệ sản xuất đó, để đi đến cải biến tất cả những tư tưởng nảy sinh ra từ những quan hệ sản xuất đó”29

Bên cạnh đó, tác phẩm “Đấu tranh giai cấp ở Pháp 1848 - 1850” còn chỉ ra rằng, sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản cần phải có một lý luận khoa học soi đường, chỉ lối thì mới triệt để và đi đến thắng lợi Lý luận ấy cần trang bị cho giai cấp vô sản và nhân dân lao động toàn thế giới một thế giới quan và phương pháp luận khoa học phổ biến về xu hướng phát triển của thời đại, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản; cần chỉ ra con đường và phương tiện để xây dựng một xã hội mới trong tương lai tốt đẹp hơn Tác phẩm là một kiểu mẫu về việc vận dụng nguyên tắc thống nhất giữa lịch sử và lôgíc trong việc phân tích các diễn biến lịch sử, cơ cấu kinh tế - xã hội và giai cấp - xã hội, xoay quanh trục trung tâm là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản

* Tác phẩm “Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ”:

Chủ nghĩa Mác về cơ bản được hình thành vào đầu năm 1848 và được đánh dấu bằng sự ra đời của “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, nhưng vẫn chưa chiếm được ưu thế trong phong trào công nhân, trong khi các thứ chủ nghĩa xã hội không tưởng tiểu tư sản vẫn còn ảnh hưởng và chưa bị đánh bại trong thực tiễn và lý luận

29C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 126

Trang 35

Cùng với thực tiễn cách mạng của giai cấp công nhân, sứ mệnh của chủ nghĩa Mác lúc này là phải đẩy lùi các trào lưu tư tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng tiểu tư sản ra khỏi phong trào công nhân, khắc phục tính chất tự phát của phong trào công nhân nói chung và phong trào công nhân Pháp nói riêng C Mác viết tác phẩm

“Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ” nhằm tiếp tục phát triển chủ nghĩa duy vật lịch sử và góp phần giải đáp nhiều vấn đề mà lý luận và thực tiễn đặt ra từ

thực tế cách mạng ở Pháp

Trong “Lời tựa” viết cho bản tiếng Đức xuất bản lần thứ ba, Ph Ăngghen nêu bật thiên tài của C Mác trong việc đánh giá sự kiện lịch sử Ph Ăngghen chỉ rõ rằng, C Mác đã say mê nghiên cứu lịch sử nước Pháp, vì vậy C Mác đã nắm vững

cả quá khứ lẫn hiện tại của nước Pháp; và C Mác là người đầu tiên khám phá ra chủ nghĩa duy vật lịch sử, cái chìa khóa để giải thích các biến cố phức tạp của lịch

và chỉ ra cái cơ sở kinh tế - xã hội, nhất là cơ cấu xã hội quyết định chế độ chính trị

do Bônapáctơ là đại diện C Mác cho rằng, “tất cả những "idées napoléoniennes" đều là những tư tưởng của chế độ mảnh đất nhỏ còn chưa phát triển và đương độ

thanh xuân, chúng là một điều vô nghĩa đối với chế độ tiểu nông đã già lão Những

tư tưởng ấy chỉ là những ảo giác trong cơn hấp hối”30

Trong khi vận dụng quan điểm duy vật lịch sử về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng, về tính độc lập tương đối của kiến trúc thượng tầng,

C Mác chỉ ra vai trò quan trọng của nhà nước đối với cơ sở kinh tế và xã hội C

30C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 272

Trang 36

Mác cho rằng: “Giai cấp vô sản không để cho người ta khiêu khích mình làm

một cuộc bạo động, vì nó sắp làm một cuộc cách mạng” 31

Hai là, về biện chứng của tồn tại xã hội và ý thức xã hội:

Trong tác phẩm này, C Mác chỉ ra vai trò của ý thức xã hội đối với tồn tại xã hội thể hiện ở chỗ, chính tư tưởng của cá nhân, lãnh tụ được hiện thực hóa bằng sức mạnh vật chất của quần chúng Ngay ở những dòng đầu tiên của tác phẩm, C Mác đề cập đến tính kế thừa của ý thức xã hội, gợi mở nguyên tắc phương pháp luận trong việc tiếp cận đối với truyền thống lịch sử C Mác viết: “Con người làm

ra lịch sử của chính mình, nhưng không phải làm theo ý muốn tùy tiện của mình, trong những điều kiện tự mình chọn lấy, mà là trong những điều kiện trực tiếp có trước mắt, đã cho sẵn và do quá khứ để lại Truyền thống của tất cả các thế hệ đã chết đè nặng như quả núi lên đầu óc những người đang sống”32

Khi phân tích các sự kiện lịch sử và tổng kết kinh nghiệm cách mạng từ năm

1848 đến năm 1850 ở Pháp, C Mác đưa ra lý luận về đấu tranh giai cấp với tính cách là động lực của lịch sử, về những hạn chế và mâu thuẫn của nền dân chủ tư sản, về sứ mệnh lịch sử của giai cấp vô sản, về cách mạng vô sản và liên minh công – nông;

Ba là, v ề nhà nước và cách mạng, về chuyên chính vô sản:

C Mác phân biệt xu hướng phát triển của cách mạng vô sản với cách mạng tư sản Cách mạng tư sản thế kỷ XVIII có xu hướng đi lên, còn cách mạng tư sản thế

kỷ XIX lại có xu hướng đi xuống, vì nó không triệt để Trái lại, cách mạng vô sản thế kỷ XIX thất bại chỉ là tạm thời, thông qua những thất bại tạm thời ấy giai cấp

vô sản có thể khắc phục những sai lầm, ảo tưởng để tiến lên Nhà nước tư sản, dưới

hình thức quân chủ hay cộng hòa thì bản chất của nó vẫn là nền chuyên chính của giai cấp tư sản Lần đầu tiên C Mác nêu lên luận điểm giai cấp vô sản không được tiếp nhận bộ máy nhà nước cũ, mà phải đập tan bộ máy nhà nước ấy

Từ thực tiễn cách mạng những năm 1848 - 1850, C Mác đã chỉ ra những điều kiện khách quan của sứ mệnh lịch sử toàn thế giới của giai cấp vô sản là sự phát triển đầy đủ của nền sản xuất đại công nghiệp; liên minh công - nông là một quy

31C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 126

32C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.145

Trang 37

luật của cách mạng vô sản ở tất cả các nước; nhiệm vụ của cách mạng vô sản là đập tan bộ máy nhà nước của giai cấp tư sản, thiết lập nên nhà nước của giai cấp

Trong “Lời kêu gọi của Ban chấp hành trung ương gửi Liên đoàn những người cộng sản” (tháng 3/1850), C Mác và Ph Ăngghen viết: “Lợi ích của chúng

ta và nhiệm vụ của chúng ta là làm cho cách mạng tiến lên không ngừng cho đến khi những giai cấp ít nhiều là hữu sản bị gạt ra khỏi địa vị thống trị, cho đến khi giai cấp vô sản giành được chính quyền nhà nước…Đối với chúng ta vấn đề không phải là làm thay đổi chế độ tư hữu, mà là thủ tiêu chế độ đó, không phải là xóa nhòa các mâu thuẫn giai cấp, mà là thủ tiêu giai cấp, không phải là hoàn thiện xã hội hiện tồn, mà là xây dựng một xã hội mới”33

Phân tích bản chất của nhà nước tư sản và vấn đề xác lập chuyên chính vô sản,

C Mác và Ph Ăngghen đã nêu ra nhiều tư tưởng mang tính định hướng về lý luận, sau này được V I Lênin làm sâu sắc thêm trong điều kiện lịch sử mới Theo C Mác, bộ máy quan liêu và đội quân thường trực là đặc trưng chủ yếu của nhà nước

tư sản Bộ máy nhà nước tư sản ngày càng mở rộng với hệ thống chân rết khắp lãnh thổ và đội ngũ nhân viên đông đúc quá mức cần thiết, trở thành cơ thể ăn bám bao trùm xã hội Nhưng chính vì lẽ đó, nó mâu thuẫn với các lực lượng xã hội khác, và việc đập tan bộ máy đó là điều kiện cần thiết để tiến tới xóa bỏ những cản ngại cuối cùng trên con đường khắc phục sự tha hóa chính trị

Nhận định quan niệm duy vật về lịch sử của C Mác, trong “Lời tựa” viết cho lần xuất bản thứ hai cuốn “Chiến tranh nông dân ở Đức”, Ph Ăngghen đã tóm tắt

và khẳng định lại nội dung và ý nghĩa khoa học của quan niệm duy vật về lịch sử,

33C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.346-347

Trang 38

trong đó có đoạn: “Quan điểm đó – một quan điểm duy nhất duy vật về lịch sử - không phải do tôi, mà là do Mác đề xướng ra; và nó cũng đã được phản ánh vào trong các trước tác của Mác nói về cuộc Cách mạng Pháp năm 1848 – 1849”34

2.2 Giai đoạn phát triển quan niệm duy vật về lịch sử trong quá trình xây dựng kinh tế chính trị học (1852 – 1871)

Những tác phẩm tiền thân của bộ “Tư bản”: “Các bản thảo kinh tế những năm

1857 – 1859” và “Góp phần phê phán khoa kinh tế chính trị” có ý nghĩa không chỉ

ở nội dung kinh tế, mà còn đặc biệt ở nội dung triết học của nó Việc tách ra, trình bày những tác phẩm này trước “Tư bản” là hết sức cần thiết để khẳng định nội dung và ý nghĩa triết học riêng của chúng trong quá trình làm nên sự vĩ đại của bộ

“Tư bản”

* Tác phẩm “Các bản thảo kinh tế những năm 1857 – 1859”:

Tác phẩm “Các bản thảo kinh tế những năm 1857 – 1859” chủ yếu là của C Mác, thể hiện sự phát triển sâu sắc quan niệm duy vật về lịch sử

Trước hết, lý luận của C Mác về các hình thái xã hội tiền tư bản được xây

dựng trên cơ sở những phác thảo về kết cấu xã hội của từng giai đoạn lịch sử trước chủ nghĩa tư bản đã được các ông trình bày trong “Hệ tư tưởng Đức” và “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” Những phác thảo này tiếp tục được phát triển khi vận dụng trong nghiên cứu những tổ chức xã hội tiền tư bản cụ thể, như hình thái xã hội châu Á – phương Đông, hình thái cổ đại, hình thái Giécmanh (Đức) Căn cứ vào đó, C Mác vạch ra kết cấu của quá trình sản xuất thuần túy, hình thức sở hữu,

cơ cấu xã hội và chế độ nhà nước, trong đó hình thức sở hữu được đặc biệt chú ý Nhưng có thể tóm lại ở hai nội dung chính là phương thức sản xuất và cơ cấu xã hội35

Thứ hai, với việc nghiên cứu cụ thể các hình thái xã hội, nhất là với việc vạch

ra tiến trình có quy luật của chúng, tiến trình bị chi phối bởi biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, và với việc chính thức đặt tên “hình thái xã

34 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.16, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr 535

35C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.46, p.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr

751-752, 755-756, 788, 792-827

Trang 39

hội” cho chúng, C Mác đã làm sáng tỏ một cách chính diện, đầy đủ và sâu sắc hơn nội dung khái niệm “hình thái xã hội”

* Tác phẩm “Lời nói đầu” của “Các bản thảo kinh tế những năm 1857 – 1859”:

Tác phẩm “Lời nói đầu” của “Các bản thảo kinh tế những năm 1857 – 1859” được C Mác viết vào cuối tháng 8/1857 Mặc dù mới chỉ mang tính chất của một bản nháp và chưa kết thúc36, nhưng nó có nội dung và ý nghĩa triết học to lớn, sâu sắc Ở đây C Mác trình bày những yếu tố quan trọng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

C Mác tổng kết những phương pháp được ông sử dụng trong nghiên cứu kinh

tế chính trị học, nổi bật là phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể C Mác viết:

“Cái cụ thể sở dĩ là cụ thể vì nó là sự tổng hợp của nhiều tính quy định, do đó, nó

là sự thống nhất của cái đa dạng Cho nên trong tư duy, nó biểu hiện ra là một quá trình tổng hợp, là kết quả, chứ không phải là điểm xuất phát, mặc dù nó là điểm xuất phát thực sự và do đó cũng là điểm xuất phát của trực quan và của biểu tượng Trên con đường thứ nhất, toàn bộ biểu tượng biến một cách tinh vi thành một tính quy định trừu tượng; trên con đường thứ hai, những tính quy định trừu tượng lại dẫn tới sự mô tả lại cái cụ thể bằng con đường của tư duy”37

Ý nghĩa khoa học phổ biến của phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể là ở

sự bổ sung quan trọng vào nội dung phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

Bên cạnh đó, “Lời nói đầu” còn trình bày một yếu tố quan trọng thuộc nội dung của phương pháp lôgíc C Mác viết: “Xã hội tư sản là một tổ chức sản xuất phát triển nhất và đại diện nhất trong lịch sử Vì vậy, các phạm trù biểu thị những quan hệ của xã hội đó, kết cấu của xã hội đó, đồng thời cũng cho ta cái khả năng hiểu thấu được kết cấu và các quan hệ sản xuất của tất cả các hình thái xã hội đã diệt vong; xã hội tư sản đã được xây dựng nên trên những tàn dư và những yếu tố của những hình thái xã hội ấy, một phần kéo theo sau nó những tàn dư còn chưa

Trang 40

khắc phục được, một phần thì phát triển đầy đủ tác dụng của những cái trước kia chỉ tồn tại dưới dạng một dấu hiệu báo trước mà thôi, v.v ”38

Yếu tố này của phương pháp lôgíc đòi hỏi nhận thức những đối tượng chưa phát triển, chưa trưởng thành cần phải dựa trên việc hiểu được những hình thức đã phát triển, đã trưởng thành của chúng C Mác viết: “Giải phẫu học về con người là cái chìa khóa cho giải phẫu học về con khỉ Ngược lại, người ta chỉ có thể hiểu được những dấu hiệu báo trước cái cao hơn trong các loại động vật cấp thấp khi người ta đã biết được bản thân cái cao hơn đó Như vậy, nền kinh tế tư sản cho ta cái chìa khóa để hiểu nền kinh tế cổ đại, v.v Nhưng điều đó tuyệt nhiên không phải theo ý nghĩa mà các nhà kinh tế học đã hiểu, những người này xóa nhòa tất cả những sự khác nhau về mặt lịch sử và coi tất cả các hình thái xã hội đều là những hình thái tư sản”39

Quan niệm của C Mác về sự phát triển của xã hội loài người có nội dung cơ bản là về sự phát triển của các hình thái xã hội C Mác chỉ ra rằng: “Cái gọi là sự phát triển lịch sử, nói chung, dựa trên tình trạng là hình thái cuối cùng coi các hình thái đã qua là những giai đoạn để đi tới bản thân nó, và bao giờ nó cũng quan niệm các hình thái xã hội ấy một cách phiến diện, vì nó rất ít khi có khả năng tự phê phán và chỉ tự phê phán trong những điều kiện nhất định hoàn toàn xác định”40

Trong khi giải thích sự phát triển lịch sử nói chung, C Mác đồng thời còn chỉ

ra tính đa dạng của quá trình đó, tức là về tính chất “không giống nhau” giữa sự phát triển sản xuất vật chất và sự phát triển của sáng tác nghệ thuật, sự phát triển

“không đều nhau” giữa quan hệ sản xuất và quan hệ pháp quyền Thông qua đó thể hiện quan niệm duy vật duy vật lịch sử sâu sắc của C Mác về nghệ thuật Ông nhận thấy sự sáng tạo nghệ thuật trong “những thời kỳ hưng thịnh nhất định của nó hoàn toàn không tương ứng với sự phát triển chung của xã hội, do đó cũng không tương ứng với sự phát triển của cơ sở vật chất của xã hội, cơ sở này dường như cấu thành cái xương sống của tổ chức xã hội”41, hoặc có “một số hình thức nghệ thuật

38 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.46, p.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 66

39 C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.46, p.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 66-67

40C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.46, p.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 67

41C Mác và Ph Ăngghen, Toàn tập, t.46, p.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998, tr 73

Ngày đăng: 20/06/2021, 18:25

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị q uốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
6. Nguyễn Quang Điển ( c hủ biên) (2003), C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin về những vấn đề triết học, Nxb Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác, Ph. Ăngghen, V. I. Lênin về "những vấn đề triết học
Tác giả: Nguyễn Quang Điển ( c hủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc giaTP. Hồ Chí Minh
Năm: 2003
7. G. Đêriđa (1994) , Những bóng ma của Mác, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội . 8. Hêghen, Bách khoa toàn thư các khoa học triết học , (1974), t.1, Nxb Tư tưởng,Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: (1994)", Những bóng ma của Mác, "Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 8. Hêghen, "Bách khoa toàn thư các khoa học triết học
Tác giả: G. Đêriđa (1994) , Những bóng ma của Mác, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội . 8. Hêghen, Bách khoa toàn thư các khoa học triết học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1974
9. Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình các bộ môn khoa học Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh (2003), Giáo trình Triết học Mác – Lênin , Nxb.Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Triết học Mác – Lênin
Tác giả: Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình các bộ môn khoa học Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
10. Nguyễn Ngọc Khá (chủ biên), Nguyễn Huỳnh Bích Phương (2015), Giáo trình Lịch sử triết học trước Mác , Nxb Đại học Sư phạm, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình "Lịch sử triết học trước Mác
Tác giả: Nguyễn Ngọc Khá (chủ biên), Nguyễn Huỳnh Bích Phương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2015
11. Nguyễn Ngọc K há (chủ biên), Đinh Ngọc Thạch, Nguyễn Huỳnh Bích Phương (2016), Giáo trình Lịch sử triết học Mác - Lênin , Nxb Đại học Sư phạm, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử triết học Mác - Lênin
Tác giả: Nguyễn Ngọc K há (chủ biên), Đinh Ngọc Thạch, Nguyễn Huỳnh Bích Phương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2016
12. V. I. Lênin (2005), Toàn tập , t. 1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
13. V. I. Lênin (1980), Toàn tập , t. 2, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980
14. V. I. Lênin (1980), Toàn tập, t.18, Nxb Tiến bộ, Mátxcơva Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Tiến bộ
Năm: 1980
15. V. I. Lênin, (2005), Toàn tập , t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
16. V. I. Lênin, (1980), Toàn tập , t.26, Nxb Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 17. V. I. Lênin (2005), Toàn tập , t.29, Nxb Ch ính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", t.26, Nxb Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội17. V. I. Lênin (2005), "Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin, (1980), Toàn tập , t.26, Nxb Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 17. V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
18. V. I. Lênin (2005), Toàn tập , t.33 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
19. V. I. Lênin (2005), Toàn tập , t.39 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
20. V. I. Lênin (2005), Toàn tập , t.41 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
21. V. I. Lênin (2006), Toàn t ập , t.42 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn t"ập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
22. V. I. Lênin (2006), Toàn tập , t.45 , Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V. I. Lênin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
23. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị q uốc gia, Hà Nội . 24. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập , t. 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", t.1, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 24. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), "Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, t.1, Nxb Chính trị q uốc gia, Hà Nội . 24. C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
25. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, t.3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
34. C. Mác và Ph. Ăngghen (1995), Toàn tập, t.21, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
35. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội . 36. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, t.25, p. I và II, Nxb Chính trị quốc gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập", t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội. 36. C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), "Toàn tập
Tác giả: C. Mác và Ph. Ăngghen (1993), Toàn tập, t.23, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội . 36. C. Mác và Ph. Ăngghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w