tình trạng ruộng đất và kinh tế nông nghiệp qua các triều đại phong kiến Việt Nam thời kỳ độc lập tự chủ (938 1858) lịch sử kinh tế quốc dân lịch sử kinh tế Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV thế kỷ XIX
Trang 1ĐỀ TÀI: TÌNH TRẠNG RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP QUA CÁC TRIỀU ĐẠI PHONG KIẾN VIỆT NAM THỜI KỲ
Trang 2MỞ ĐẦU
I Lý do chọn đề tài:
Sau khi giành được chính quyền thì xây dựng và bảo vệ đất nước trởthành nhiệm vụ trung tâm, trong đó phát triển kinh tế xã hội là nhiệm vụ hàngđầu trong toàn bộ hoạt động của nhà nước
Nông nghiệp là một ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế ởViệt Nam Do đó, trong thời kỳ độc lập tự chủ xây dựng lại đất nước, cáctriều đại phong kiến Việt Nam đã đẩy mạnh phát triển nền kinh tế nôngnghiệp
Từ lí do trên, tôi chọn đề tài: “Tình hình ruộng đất và kinh tế nôngnghiệp qua các triều đại phong kiến Việt Nam thời kỳ độc lập tự chủ (938 –1858)” làm bài tiểu luận kết thúc học phần lịch sử kinh tế toàn dân
II Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: Sự phát triển của quan hệ sản xuất và lực lượng
sản xuất trong các triều đại phong kiến Việt Nam thời kỳ độc lập tự chủ (938– 1858)
Khách thể nghiên cứu: Kinh tế các triều đại phong kiến Việt Nam thời
kỳ độc lập tự chủ (938 – 1858)
III Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu:
Phản ánh thực tiễn phát triển kinh tế ở Việt Nam trong thời kỳ phongkiến độc lập tự chủ, từ đó tìm ra những đặc điểm và quy luật đặc thù của nước
ta trong quá trình xây dựng và phát triển kinh tế
Từ đó, rút ra những bài học kinh nghiệm phục vụ cho việc phát triển vàxây dựng đất nước ta hiện nay
IV Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic
Phương pháp phân tích kinh tế
Phương pháp phân kỳ lịch sử
Trang 3Chương 1: TÌNH TRẠNG RUỘNG ĐẤT VÀ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XV:
1.1 Những sự kiện kinh tế Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV:
* Nhà Ngô (939 - 965); Quốc hiệu: Vạn Xuân; Kinh đô: Cổ Loa (Hà
- Năm 987: Lê Hoàn tổ chức Lễ cày ruộng tịch điền
* Nhà Lý (1010 – 1225); Quốc hiệu: Đại Việt; Kinh đô: Thăng Long
(Hà Nội)
- Năm 1013: Lý Thái Tổ định lại các loại thuế trong cả nước
- Năm 1070: Lý Nhân Tông dựng Văn Miếu, mở Quốc Tử Giám
- Năm 1075: Lý Nhân Tông mở khoa thi đầu tiên
- Năm 1080: Lý Nhân Tông cho đắp đê Cơ Xá (đê sông Hồng gần thànhThăng Long)
* Nhà Trần (1226 – 1400); Quốc hiệu: Đại Việt; Kinh đô: Thăng Long.
- Năm 1244: Trần Thái Tông ban hành Hình luật
- Năm 1248: Trần Thái Tông cho đắp đê quai Vạc (đê sông Hồng)
- Năm 1272: Lê Văn Hưu hoàn thành Bộ Đại Việt Sử ký
- 1258 – 1288: Ba mươi năm kháng chiến chống quân Nguyên Mông
- Năm 1266: Trần Thánh Tông xuống chiếu khai hoang, lập điền trang,thái ấp
- Năm 1387: Trần Nhân Tông ban chiếu quy định thuế đinh mới trongquốc gia
- Năm 1396: Hồ Quý Ly cho phát hành tiền giấy “Thông báo hội sao”
- Năm 1397: Hồ Quý Ly xây dựng kinh đô mới (Tây Đô) ở An Tôn(Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) Ông còn ban hành chính sách hạn điền
Trang 4* Nhà Hồ (1400 – 1407); Quốc hiệu: Đại Ngu; Kinh đô: Thăng Long.
* Nhà Lê sơ (1428 – 1527); Quốc hiệu: Đại Việt; Kinh đô: Thăng Long.
- Năm 1429: Lê Thái Tổ ban hành chính sách quân điền
- Năm 1477: Lê Thánh Tông ban hành chính sách lộc điền
- Năm 1479: Ngô Sỹ Liên hoàn thành Bộ Đại Việt Sử ký toàn thư
- 1483: Lê Thánh Tông biên soạn Bô Luật Hồng Đức
1.2 Tình hình ruộng đất và kinh tế nông nghiệp từ thế kỷ X – XV: 1.2.1 Tình hình ruộng đất từ thế kỷ X – XV:
Quan hệ ruộng đất ở Việt Nam được ra đời rất sớm vì đất đai là tư liệusản xuất chủ yếu của nền kinh tế quốc dân Tình hình ruộng đất thời phongkiến từ thế kỷ X đến thế kỷ XV luôn biến động, tuy nhiên, hai hình thức sởhữu chủ yếu được thực hiện phổ biến trong nhiều triều đại là sở hữu nhà nước
và sở hữu tư nhân
1.2.1.1 Ruộng đất thuộc sở hữu nhà nước:
Chế độ phong kiến Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XV đóng vai trò hếtsức tích cực đối với sự phát triển đất nước Để thực hiện các chức năng củamình, nhà nước phong kiến của các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần,
Hồ và Lê Sơ đều nắm giữ phần lớn ruộng đất trong nước Ruộng đất thuộc sởhữu nhà nước bao gồm: ruộng công làng xã, ruộng quốc khố và ruộng phongcấp
Ruộng công làng xã:
Ruộng công làng xã là ruộng đất thuộc quyền sở hữu của nhà nước, loạinày thường được giao cho các làng xã quản lý và làng xa đứng ra phân chiacho nông dân sử dụng nông dân sử dụng ruộng đất phải nộp tô cho nhà nướctheo quy định, đồng thời phải làm cho một số nghĩa vụ khác như lao dịch,binh dịch Nhà nước đã phân hạng ruộng đất để định mức thu tô Nhìn chungruộng công làng xã là nguồn thu nhập chủ yếu của ngân sách nhà nước phongkiến
Trang 5Các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ việc phân chia sử dụngruộng đất, do làng xã đảm nhiệm Ruộng thuộc làng nào do nông dân làng đó
sử dụng Hình thức phân chia như vậy không đáp ứng được yêu cầu phát triểnkinh tế và phát triển dân số, dẫn đến tình trạng có làng ít người nhiều ruộng,làng nhiều người ít ruộng Để khắc phục sự bất hợp lý đó, đến triều Lê thế kỷ
XV áp dụng chính sách quân điền ban hành vào năm 1429, nhà nước trực tiếpphân chia ruộng đất làng xã
Nội dung chính sách quân điền là bảo đảm nguyên tắc mọi người đều
có ruộng đất để canh tác song không phải bình quân mà dựa vào địa vị củatừng người trong xã hội: quan tam phẩm được 11 phần, dân nghèo được 3,5phần Thời gian bình quân 6 năm một lần chia lại ruộng đất
Chính sách quân điền của nhà Lê nhằm hủy bỏ quyền tự trị ruộng đấtcủa làng xã góp phần đẩy nhanh phong kiến hóa Do cơ cấu xã hội dưới cáctriều đại phong kiến không ổn đỉnh, ruộng đất công làng xã luôn có sự biếnđộng Vào thời Lý, Trần, triều đình còn lấy ruộng đất công làng xã để banthưởng cho quan lại, quý tộc hay người có công với đất nước dưới hình thứcphong cấp Một số triều đại còn cho phép bán ruộng công làng xã thành ruộng
tư Chẳng hạn, năm 1254, dưới triều Trần Thái Tông, giá một mẫu ruộng là 5quan tiền Điều đó có nghĩa là, nhà Trần cho phép chuyển quyền sở hữu ruộngđất thuộc nhà nước sang sở hữu tư nhân Đến thời Lê Sơ, nhà nước cho phépbiến quyền chiếm hữu lâu năm thành quyền sở hữu, khiến cho tình trạng
“chiếm công vi tư” ruộng đất nảy sinh Kết quả là ruộng đất công làng xã có
xu hướng ngày một giảm Tuy vậy, trong suốt năm thế kỷ với bảy triều đạiphong kiến, số ruộng đất công làng xã vẫn chiếm ưu thế so với ruộng đất tư
Ruộng quốc khố:
Ruộng quốc khố là ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước do nhà nướctrực tiếp quản lý Nguồn gốc ruộng quốc khố là ruộng tịch thu từ các trangtrại, đồn điền của chính quyền đô hộ ngoại bang và địa chủ quan lại ngườiTrung Quốc, ruộng quốc khố còn do khai hoang mà có
Trang 6Hoa lợi thu được trên ruộng quốc khố, dùng để cúng tế hay sửa sanglăng tẩm, đền đài… Lực lượng lao động chủ yếu là các tù nhân và các chiến
tù Tô ruộng quốc khố thường nặng hơn tô ruộng công làng xã
Sự khác biệt giữa tô ruộng quốc khố với tô ruộng làng xã thể hiện rõ sựđối xử của nhà vua với nhân dân và kẻ phạm tội Điều đó phản ánh sự đánhgiá rất cao của nhà nước phong kiến đối với nhân dân, “dân vi quý, xã tắc vithứ, quân vi khinh”
Ruộng phong cấp:
Ruộng phong cấp là ruộng đất vua ban thưởng cho các quan lại, quý tộchay người có công đối với đất nước Ruộng phong cấp có kèm theo một số hộnông dân canh tác, từ đó hình thành các thái ấp của các quý tộc Người nôngdân trước đây là thần dân của nhà nước hay lệ thuộc vào quý tộc Chính sáchnày ảnh hưởng đến mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân làm cho sứcmạnh của đất nước bị suy giảm, nghĩa nước tình dân bị vi phạm Do vậy, đếnthời Lý, phong cấp ruộng đất không có nông dân kèm theo
Nhìn vào ruộng đất phong cấp qua một số triều đại phong kiến, quyền
sở hữu vẫn phụ thuộc vào nhà nước Người được hưởng ruộng phong cấp chỉ
có quyền chiếm hữu và chỉ được quyền sử dụng để thu tô, không có quyền sởhữu, nội dung phong cấp không triệt để, luôn duy trì quyền lực kinh tế chínhtrị của nhà nước phong kiến trung ương tập quyền Chính vì vậy, trong suốtthời kỳ phong kiến không xuất hiện được các lãnh địa thế tập như ở phươngTây đương thời nên không dẫn đến phân quyền cát cứ Ruộng đất được phongcấp con cháu có được tiếp tục kế thừa hay không là do nhà vua quyết định.Đây có lẽ cũng là nét đặc thù của phong kiến Việt Nam Nét đặc thù này chophép phong kiến Việt Nam tồn tại dai dẳng suốt 9 thế kỷ, chính nét đặc thù ấy
nó ảnh hưởng đến tinh thần và trách nhiệm của chế độ phong kiến đối vớinhân dân Nó không cho phép nhân dân vượt ra những yêu cầu tất yếu của sựphát triển lực lượng sản xuất
Trang 7Trên đây là những nét chung nhất về tình hình ruộng đất phong cấp,nhưng trải qua mỗi triều đại lại có những hình thức đặc thù phù hợp với điềukiện cai trị đương thời Thời nhà Lý ruộng phong cấp được chia làm 2 loại:ruộng thực ấp và ruộng thực phong.
- Ruộng thực phong, nông dân ở đó chỉ có nghĩa vụ với quý tộc không
có nghĩa vụ với nhà nước
- Ruộng thực ấp, nông dân ở đó ngoài nghĩa vụ với quý tộc còn phảilàm nghĩa vụ đối với nhà nước như đi lính, lao dịch
Qua đây ta thấy nhà vua dùng chính sách thực ấp có lợi hơn cho việcnắm dân và chi phối kiểm soát các tầng lớp quý tộc Do vậy ruộng thực ấpbao giờ cũng lớn hơn ruộng thực phong Thủ đoạn danh cao hơn thực của nhà
Lý đã làm lợi cho nhà nước đồng thời khích được quan lại tận tâm cống hiệntài năng phục vụ quốc gia
Năm 1266, nhà Trần có sửa đổi một số điểm về chính sách phong cấp.Không chia làm hai loại mà chỉ sử dụng chính sách thực phong Chính vì vậytình hình ruộng đất có sự thay đổi lớn, đó là sự tích tụ và tập trung ruộng đất,các điền trang, thái ấp ra đời Sự hiện diện của các điền trang, thái ấp kéo theomột quan hệ sản xuất mới xuất hiện Một tầng lớp nô tỳ làm việc trong cácđiền trang ngày càng tăng, hình thức bóc lột nhân dân có những biến đổi cả vềhình thức lao động lẫn phân phối sản phẩm, sự xa rời giữa nhân dân với nhànước cùng sự tăng trưởng của tầng lớp quý tộc Bên cạnh việc phong cấp theokiểu thực phong, vì ruộng đất của những điền trang này thuộc sở hữu của quýtộc
Cuối thời Trần, điền trang, thái ấp ngày càng mở rộng, nhiều nông dân
tự do biến thành nông nô, nô tỳ Quan hệ nông nô, nô tỳ đã kìm hãm sức sảnxuất của xã hội Những mâu thuẫn kinh tế bắt đầu xuất hiện và ngày càng trởnên gay gắt
Ruộng đất của nhà chùa dần dần tập trung ngày một lớn, nhà chùa trởthành một tầng lớp địa chủ trong xã hội, bóc lột lao động như những trang
Trang 8điền thái ấp đương thời Nhìn chung, quan hệ ruộng đất thời Lý, Trần có tácdụng mạnh mẽ và trực tiếp tới tình hình nông nghiệp và cũng là cơ sở chủ yếucủa mọi hoạt động kinh tế chính trị trong toàn xã hội
Đến triều Lê, năm 1477, Lê Thánh Tông ban hành chính sách lộc điền.Người được hưởng chính sách lộc điền chỉ có vua và quan tứ phẩm trở lên.Ruộng lộc điền có một phần được cấp vĩnh viễn, một phần để sử dụng Thânvương được cấp 2.090 mẫu trong đó có 640 mẫu được cấp vĩnh viễn, ruộnglộc điền không có nông dân kèm theo Nhìn vào chính sách lộc điền ta thấytình hình ruộng đất và lao động thời kỳ này có điểm đổi mới Chế độ tư hữuruộng đất đã xuất hiện và cơ cấu giai cấp đã có sự thay đổi
Ruộng đất lộc điền phần được cấp vĩnh viễn có quyền thế tập chatruyền con nối, hình thức ruộng đất tư đã ra đời, lại không có nhân dân kèmtheo nên phải thuê người làm hoặc phát canh thu tô thuế Giai cấp địa chủ và
tá điền cũng được xác lập
Ở giai đoạn này chế độ lộc điền có tính chất tiến bộ hơn chế độ trang
ấp Song song tồn tại với ruộng đất công thuộc sở hữu nhà nước là ruộng đấtthuộc sở hữu tư nhân Đó là ruộng đất của địa chủ được nhà nước thừa nhận
và đất tư của nông dân do khai hoang mà có, trong đó ruộng đất tư của địachủ chiếm đại bộ phận Tình hình này cũng làm cho kinh tế Đại Việt giaiđoạn này xuất hiện những nhân tố mới, đó là bộ phận kinh tế tiểu nông bắtđầu chớm nở, mở đường cho kinh tế hàng hóa sơ khai ra đời
1.2.1.2 Ruộng đất thuộc sở hữu tư nhân:
Loại ruộng đất này thường là của địa chủ và nông dân, trong đó, ruộngđất của tầng lớp địa chủ phong kiến là chủ yếu Trải qua một quá trình lâu dài,
sở hữu tư nhân về ruộng đất là kết quả của tích tụ, tập trung, “chiếm công vitư” hoặc do nhà nước cho bán ruộng công làm ruộng tư Trong lịch sử nước
ta, ruộng tư có thể xuất hiện từ rất sớm, ngay từ thời Bắc thuộc, nhưng đếnthời Lý, quyền tư hữu ruộng đất mới được pháp luật thừa nhận năm 1135, Lý
Trang 9Nhân Tông quy định những người bán ruộng ao không được dùng gấp bộitiền để chuộc lại, kẻ nào làm trái sẽ bị trị tội.
Đến triều Trần, sở hữu tư nhân về ruộng đất được tạo điều kiện kháthuận lợi thông qua việc quy định thuế ruộng tư nhẹ hơn ruộng công Theo
đó, một mẫu ruộng tư phải nộp 3 thăng thóc, trong khi đó ruộng đất công mộtmẫu phải nộp 100 thăng Ngoài việc cho phép bán ruộng công làm ruộng tư,nhà Trần còn quy định việc bồi thường cho ruộng đất tư nếu nhà nước sửdụng Do đó, ruộng đất tư dưới triều Trần có xu hướng tăng lên, tầng lớp địachủ khá đông đảo, nhưng vẫn trở thành lực lượng xã hội lớn mạnh
Đến cuối thế kỷ XV, nhà Hồ lũng đoạn nhà Trần, Hồ Quý Ly đã banhành chính sách hạn điền khiến ruộng đất tư càng không có điều kiện pháttriển Theo chính sách hạn điền, nhiều ruộng đất tư phải sung công Ngoài ra,nhà Hồ còn tăng mức thuế ruộng tư từ 3 thăng lên 5 thăng một mẫu Như vậy,với mục đích phá bỏ cơ sở kinh tế của tầng lớp quý tộc nhà Trần, Hồ Quý Ly
đã hạn chế sự phát triển ruộng tư, kìm hãm quan hệ sản xuất tiến bộ trongnông nghiệp
Sang thời Lê Sơ, ruộng tư có điều kiện phát triển Để củng cố cơ sở hạtầng kinh tế và cơ sở giai cấp của mình, nhà Lê Sơ đã ban hành nhiều luật lệtheo hướng tạo điều kiện cho sự tồn tại và phát triển ruộng tư Luật Hồng Đứcban hành năm 1483 cho phép biến quyền chiếm hữu ruộng đất lâu năm thànhquyền sở hữu, hợp pháp hóa nhiều trường hợp địa chủ xâm lấn đất đai Ngoài
ra, nhà nước còn quy định các hình thức bán đợ, bán vĩnh viễn, cho phép
“chiếm công vi tư” ruộng đất Nhờ đó, ruộng tư đã trở thành nhân tố quantrọng góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp thời Lê Sơ nhanh chóng phụchồi và phát triển Mặt khác, chế độ tư hữu về ruộng đất đã tạo cơ sở để giaicấp địa chủ trở thành lực lượng xã hội có thế lực cả về kinh tế lẫn chính trị
1.2.2 Kinh tế nông nghiệp từ thế kỷ X – XV:
Kinh tế nông nghiệp là cơ sở của nhà nước phong kiến và của xã hội.Nhà nước Lý, Trần ở giai đoạn phát triển rất chú ý đến phát triển nông
Trang 10nghiệp, nên đã đưa ra nhiều chính sách và biện pháp khuyến nông Nhà vuaxuống chiếu kêu gọi mọi người dân phiêu tán trở về quê làm ăn, hoặc chiêulập đồn điền, điền trang để mở rộng sản xuất, tăng thêm diện tích canh tác,khai hoang, phục hóa… Thực hiện chính sách ngụ binh ư nông: “tĩnh vi nông,động vi binh”; cấm buôn bán người ở tuổi lao động làm nô tỳ Những chínhsách đó có tác dụng tích cực thúc đẩy kinh tế nông nghiệp phát triển, thu hútđược toàn bộ các lực lượng có thể lao động được vào sản xuất nông nghiệp.
Những năm mùa màng thất bát, nhà nước chủ trương giảm thuế hoặcmiễn giảm thuế cho dân, tiến hành phát chẩn cho dân nghèo, có chính sách cụthể để bảo vệ sực kéo và sức lao động, phát nặng những người đánh nhau gâythương tích hay ăn trộm trâu bò Giết trâu bò phạt đánh đòn 80 trượng, đănglàm lính chăn ngựa, người thân như vợ hoặc chồng kẻ phạm tội cũng bị đánh
80 trượng và đày làm người chăn nuôi và phải đền trâu bò cho người bị thiệthại
Năm 1013, Lý Thái Tổ định lại các thứ thuế cho phù hợp với sự đónggóp của nhân dân Năm 1018 quy định cho các địa chủ phải giảm một nửa tôruộng Năm 1040, xuống chiếu giảm một nửa thuế trong phạm vi cả nước Sựgiảm thuế và giảm tô thể hiện hai mặt:
- Một mặt, nhà nước luôn chăm lo đến đời sống của nhân dân, quan tâmđến việc xây dựng kinh tế làng xã, tạo ra cho các tế bào kinh tế của xã hội ổnđịnh và phát triển, kết hợp chặt chẽ việc xây dựng củng cố cơ sở kinh tế giữatrung ương và địa phương
- Mặt khác, khẳng định quyền sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc nhàvua, mọi hành vi chiếm hữu tư nhân về ruộng đất đều là bất hợp pháp
Tuy vậy trong thực tế, ngoài việc sở hữu tối cao về ruộng đất thuộc nhàvua, còn tồn tại nhiều hình thức chiếm hữu và sử dụng đất đai khác
Nhà nước rất chú ý đến đắp đê, đào sông, kênh mương để chống lụt vàchống hạn Thành lập cơ quan chuyên trách về đê điều gọi là hà đê sứ baogồm có chánh phó sứ trực tiếp trông coi giám sát đê điều