1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu những quan niệm sai lầm về phóng xạ của học sinh sinh viên và nguyên nhân mắc phải sai lầm

58 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hạt nhân phóng xạ nhân tạo được tổng hợp bằng cách sử dụng các lò phản ứng hạt nhân, máy gia tốc hạt hoặc máy phát hạt nhân phóng xạ: − Cùng với việc được chiết xuất từ chất thải hạt

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN PHƯƠNG KHẢ TRÂN

NGHIÊN CỨU NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ PHÓNG XẠ CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN VÀ NGUYÊN NHÂN MẮC

PHẢI SAI LẦM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN PHƯƠNG KHẢ TRÂN

NGHIÊN CỨU NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ PHÓNG XẠ CỦA HỌC SINH, SINH VIÊN VÀ NGUYÊN NHÂN MẮC

PHẢI SAI LẦM

Chuyên ngành: Sư phạm Vật lí

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Th.S: LÊ ANH ĐỨC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình thực hiện và hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự quan tâm và giúp đỡ rất lớn từ quý Thầy, Cô, gia đình và bạn bè Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành của mình đến:

Thầy Th.S Lê Anh Đức - Người trực tiếp hướng dẫn về mặt chuyên môn, đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt những kinh nghiệm và giúp đỡ tôi vượt qua những khó khăn trong suốt quá trình thực hiện khóa luận

Quý Thầy, Cô Khoa Vật lí Trường Đại học Sư phạm Tp HCM luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi có thể thực hiện các nghiên cứu phục vụ cho khóa luận

Ban giám hiệu, quý Thầy, Cô và các em học sinh trường THPT Trần Khai Nguyên đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc điều tra, khảo sát

Cô Nguyễn Thục Uyên đã hỗ trợ, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện khảo sát

Quý Thầy, Cô phản biện và hội đồng chấm khóa luận đã đọc và có những nhận xét, góp ý cho khóa luận

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn sát cánh bên tôi trong thời gian học tập, luôn ủng hộ về mọi mặt để tôi hoàn thành khóa luận này trong điều kiện tốt nhất

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ PHÓNG XẠ 3

1.1 Cơ sở lý thuyết quan niệm sai lầm về phóng xạ 3

1.1.1 Định nghĩa 3

1.1.2 Những quan niệm sai lầm về phóng xạ 3

1.1.2.1 Nguồn phóng xạ là nhân tạo 3

1.1.2.2 Sợ tiếp xúc với nguồn phóng xạ trong tự nhiên 3

1.1.2.3 An toàn phóng xạ 4

1.1.2.4 Truyền phóng xạ 4

1.1.2.5 Ứng dụng của phóng xạ 4

1.1.2.6 Rò rỉ phóng xạ 5

1.2 Nghiên cứu kiến thức phóng xạ 5

1.2.1 Hiện tượng phóng xạ 5

1.2.1.1 Khái niệm 5

1.2.1.2 Đặc điểm 5

1.2.1.3 Các loại phóng xạ 5

1.2.1.4 Định luật phóng xạ 8

1.2.2 Độ phóng xạ 9

1.2.2.1 Khái niệm 9

1.2.2.2 Biểu thức 9

1.2.3 Nguồn phóng xạ 9

1.2.3.1 Nguồn phóng xạ tự nhiên 9

1.2.3.2 Nguồn phóng xạ nhân tạo 10

Trang 5

1.2.5 Bảo quản nguồn phóng xạ 13

1.2.6 Ứng dụng của phóng xạ 15

1.2.7 Chất thải phóng xạ 17

1.2.8 An toàn phóng xạ 18

1.3 Phân bố chương trình dạy học ở phổ thông 19

CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG BẢNG KHẢO SÁT VỀ PHÓNG XẠ Ở HỌC SINH, SINH VIÊN 22

2.1 Các bước chính để xây dựng bộ câu hỏi 22

2.2 Đề xuất bảng khảo sát thử 22

2.2.1 Xin ý kiến chuyên gia 23

2.2.2 Đánh giá độ tin cậy của phiếu khảo sát 24

2.2.3 Đánh giá kết quả khảo sát thử 25

2.3 Đề xuất bảng khảo sát hoàn thiện 25

CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT, XỬ LÍ SỐ LIỆU VÀ ĐƯA RA NHẬN XÉT 31

3.1 Thông tin chung 31

3.2 Thực trạng giáo dục hiện nay 31

3.3 Kết quả khảo sát về phóng xạ 31

3.3.1 Nguồn phóng xạ 31

3.3.2 Ứng dụng của phóng xạ 34

3.3.3 Tác hại của phóng xạ 37

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 44

TÀI LIỆU THAM KHẢO 45

PHỤ LỤC 47

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

Hình 1-1: Các tia phóng xạ bị lệch phương khi đi vào vùng điện trường 8 Hình 2-1: Quy trình cơ bản thu thập và xử lí dữ liệu 23 Hình 3-1: Thực trạng phương pháp giáo dục kiến thức phóng xạ ở phổ thông 31 Hình 3-2: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Phóng xạ có trong môi trường tự nhiên xung quanh chúng ta" 32 Hình 3-3: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Tia phóng xạ được phát ra từ điện thoại, laptop, wifi, lò vi sóng " 32 Hình 3-4: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Tia phóng xạ được phát ra từ điện thoại, laptop, wifi, lò vi sóng " 33 Hình 3-5 :Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Phóng xạ được phát ra từ lò phản ứng hạt nhân, phòng thí nghiệm" 33 Hình 3-6: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Tia alpha, tia beta, tia gamma là tia phóng xạ" 34 Hình 3-7: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Phóng xạ được ứng dụng trong nhà máy điện hạt nhân, lò phản ứng hạt nhân" 34 Hình 3-8 Câu trả lời của học sinh, sinh viên về câu 3 phần ứng dụng của phóng xạ"Xạ trị ung thư, điều trị bướu cổ hay chẩn đoán các khối u trong cơ thể" 35 Hình 3-9: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Định tuổi các vật liệu khảo cổ" 35 Hình 3-10: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Phóng xạ được ứng dụng trong soi chiếu hành lí, kiểm tra an ninh tại sân bay" 36 Hình 3-11: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Chiếu xạ thực phẩm diệt khuẩn" 36 Hình 3-12: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Con người có thể bị buồn nôn, đau đầu, chóng mặt khi tiếp xúc với nguồn phóng xạ" 37 Hình 3-13: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Phóng xạ luôn rất nguy hiểm khi tiếp xúc gần nguồn phóng xạ" 37 Hình 3-14: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Các bác sĩ làm việc ở phòng xạ trị với tần suất lớn sẽ bị ung thư" 38

Trang 8

Hình 3-15: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Phóng xạ gây chết người ngay lập tức khi vừa tiếp xúc với nguồn phóng xạ" 39 Hình 3-16: Trái táo đặt gần nguồn phóng xạ 39 Hình 3-17: Câu trả lời của học sinh, sinh viên về "Trái táo đặt rất gần nguồn phóng

xạ, trái táo đó bị nhiễm phóng xạ" 39

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Mức độ nguồn phóng xạ 11

Bảng 1.2: Phân bố chương trình Vật lí ở THPT 20

Bảng 2.1: Kết quả khảo sát thử 22

Bảng 2.2: Độ tin cậy câu trả lời ở khảo sát thử 25

Bảng 3.1: So sánh câu trả lời của học sinh và sinh viên 40

Bảng 3.2: So sánh câu trả lời của học sinh và sinh viên 41

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Bom nguyên tử hạt nhân hay nhà máy hạt nhân vẫn là những đề tài được các nước trên thế giới quan tâm Do vậy, vật lí hạt nhân là một môn học đang được chú trọng và đẩy mạnh ở các nước phương Tây

Trong những năm gần đây, ngành giáo dục nước ta đang không ngừng đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm phát triển năng lực của học sinh Một trong những định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lí là thí nghiệm Thí nghiêm có vai trò quan trọng trong việc dạy học vì nó tăng hứng thú cho học sinh và góp phần kích thích phát triển năng lực của học sinh

Trong thực tế, học sinh Việt Nam được tìm hiểu về phóng xạ, phản ứng hạt nhân thông qua chương 7 “hạt nhân nguyên tử” ở lớp 12 môn Vật lí, chương trình THPT Đối với chương này, định hướng của Sách giáo khoa vẫn thuần lí thuyết, không có thí nghiệm, ví dụ minh họa Do đó, để hiểu rõ, chính xác kiến thức phóng

xạ là điều khó khăn đối với học sinh

Thông qua các bài báo khoa học khảo sát về quan niệm phóng xạ ở các nước

Úc, Mỹ, Bồ Đào Nha…tôi nhận ra rằng học sinh, sinh viên ở Việt Nam cũng có thể phạm những sai lầm trên khi nhắc đến phóng xạ Những sai lầm mà học sinh, sinh viên phạm phải có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau như từ truyền thông (đọc báo, internet…), từ quan niệm xã hội, gia đình, học đường (bạn bè, giáo viên, phương pháp giảng dạy…)….Nhưng hiện nay ở Việt Nam chưa có nghiên cứu nào chỉ ra những sai lầm đó cho học sinh, sinh viên nên những quan niệm sai được truyền từ thế

Trang 11

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

− Quan niệm sai lầm về phóng xạ ở học sinh 12 và sinh viên năm 3, 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu

− Học sinh lớp 12 Trường THPT Trần Khai Nguyên, Quận 5, Tp HCM

− Sinh viên khoa vật lí Trường Đại học Sư phạm Tp HCM

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

− Nghiên cứu cơ sở lí luận về những quan niệm sai lầm về phóng xạ ở học sinh, sinh viên

− Nghiên cứu các bài báo khoa học về khảo sát học sinh về phóng xạ ở các nước ngoài

− Nghiên cứu các quan niệm về phóng xạ ở học sinh, sinh viên Việt Nam

− Nghiên cứu chương trình dạy học, phương pháp dạy học phóng xạ ở trung học phổ thông và đại học ở Việt Nam

− Nghiên cứu các thí nghiệm về phóng xạ ở phổ thông và đại học

− Nghiên cứu đề xuất bảng khảo sát các hiểu biết của học sinh, sinh viên về phóng xạ

− Khảo sát học sinh phổ thông và sinh viên năm nhất đại học dựa trên bảng khảo sát đã đề xuất

− Xử lí số liệu và đưa ra kết luận của khảo sát

− Đánh giá kết quả khảo sát và đề xuất nguyên nhân phạm phải sai lầm

5 Cấu trúc dự kiến của khóa luận

Luận văn được trình bày gồm các phần:

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ PHÓNG XẠ CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG BẢNG KHẢO SÁT SAI LẦM VỀ PHÓNG XẠ.CHƯƠNG 3: KHẢO SÁT, XỬ LÍ SỐ LIỆU VÀ ĐƯA RA NHẬN XÉT KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ PHÓNG XẠ

1.1 Cơ sở lý thuyết quan niệm sai lầm về phóng xạ

1.1.2 Những quan niệm sai lầm về phóng xạ

1.1.2.1 Nguồn phóng xạ là nhân tạo

Nguồn phóng xạ có cả nguồn tự nhiên và nhân tạo Nguồn phóng xạ nhân tạo được con người tạo ra nhằm mục đích phục vụ y tế, khoa học kĩ thuật, công nghiệp… Trong tự nhiên, phóng xạ được tìm thấy trong đất, đá, than đá, nước, không khí, gỗ…Trong khí quyển có cacbon dioxit (𝐶𝑂2), các hạt nhân cacbon có lẫn cả 𝐶126 và 𝐶

6

14 (146𝐶 chiếm 10−6%) [29]

Theo nghiên cứu của Hiệp hội giáo viên Vật Lí Mỹ, nhiều sinh viên cho rằng phóng xạ là nhân tạo [1] Ở Bồ Đào Nha hơn 50% sinh viên trẻ và từ 30% đến 40% những người lớn tuổi tuyên bố chưa bao giờ nghe về phóng xạ tự nhiên [2] 84% học sinh Anh cho rằng phóng xạ xuất phát từ nhà máy điện hạt nhân [13]

1.1.2.2 Sợ tiếp xúc với nguồn phóng xạ trong tự nhiên

Phóng xạ có trong nước, không khí, cây gỗ….những thứ mà ta tiếp xúc hằng ngày nhưng hầu như không ai biết về điều đó Khi được hỏi về việc tiếp xúc với phóng xạ trong tự nhiên, 36% học sinh nói rằng họ không muốn tiếp xúc vì sợ bị phơi nhiễm phóng xạ [14] Ở việt nam, đá granit có hoạt độ phóng xạ cao hơn so với các nước khác (phóng xạ radon) [10] Nồng độ khí radon cao gây ung thư phổi [11] Nhưng hiện nay, đá granit đang là loại đá thông dụng được người tiêu dùng chọn làm

đá ốp tường, sàn nhà

Trang 13

về an toàn phóng xạ [5] Tháng 3 năm 2019, Trường Trung học phổ thông Trần Khai Nguyên đã cho học sinh tiến hành thí nghiệm quan sát chuyển động của các tia phóng

xạ alpha, beta Trước khi cho học sinh làm thí nghiệm, giáo viên trường đã kiểm tra

và đảm bảo an toàn cho học sinh Vậy mức độ phóng xạ bao nhiêu sẽ an toàn cho người tiếp xúc với chất phóng xạ?

1.1.2.4 Truyền phóng xạ

Khi một quả dâu tây được đặt gần nguồn phóng xạ Theo kết quả của Harrington, 68% sinh viên vật lí tính toán dựa trên trước khi hướng dẫn về bức xạ nghĩ rằng dâu tây sẽ vẫn phóng xạ khi nguồn đã được gỡ bỏ [3] 70% học sinh Thổ Nhĩ Kỳ cho rằng dâu tây trở thành một nguồn phóng xạ và do đó có hại [14] Tương

tự vậy, 36% sinh viên cho rằng họ ngại tiếp tục với người được tiêm chất phóng xạ hay người phơi nhiễm phóng xạ vì những người đó xem như trở thành “nguồn phóng xạ” [14] Vậy có cần cách li những bệnh nhân xạ trị ung thư hay các bác sĩ làm trong phòng xạ trị với người bình thường hay không?

Năm 2011, Nhật Bản thu hồi hơn 400.000 hộp sữa có nồng độ phóng xạ cesium đến 30,8 becquerel (mức độ cho phép 240 becquerel) nghi ngờ số phóng xạ trên bị rò rỉ

từ Nhà máy hạt nhân Fukushima số 1 và xâm nhập vào quá trình sấy sữa bằng khí nóng [5] Nhiều nguồn tin cho rằng uống sữa nhiễm phóng xạ hay uống sữa của bò ăn phải

cỏ nhiễm phóng xạ sẽ gây ung thư [8-9] Vậy chiếu xạ thực phẩm liệu có an toàn không? Có làm thực phẩm bị nhiễm xạ? [12]

1.1.2.5 Ứng dụng của phóng xạ

Khi nhắc đến phóng xạ, 70% học sinh cho rằng phóng xạ chỉ có hại [13] Phóng

xạ nguy hiểm nhưng ít ai biết rằng chúng ta đang tiếp xúc với phóng xạ hằng ngày Phóng xạ được ứng dụng nhiều trong y học hạt nhân như xạ trị, chiếu xạ diệt vi khuẩn,

Trang 14

chụp cắt lát CT, thủ thuật in vivo,… [6],[7] Những phóng xạ này không gây hại ngay lập tức nhưng sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe đối người tiếp xúc thường xuyên, phụ

nữ mang thai….[2] Ngoài ra phóng xạ còn được ứng dụng trong công nghiệp như kiểm tra mật độ vật liệu, thăm dò giếng khoan,….[7]

1.1.2.6 Rò rỉ phóng xạ

Rò rỉ phóng xạ hay chất thải phóng xạ đang là vấn đề toàn cầu cần được xử lí Năm 2011, nhà máy điện hạt nhân Fukusima bị rò rỉ chất phóng xạ ra môi trường, gây ô nhiễm nguồn nước Hơn 100 sinh viên Anh lo ngại việc sử dụng tàu ngầm hạt nhân sẽ gây hại đến môi trường và sinh vật sống dưới nước do rò rỉ phóng xạ hạt nhân [13]

1.2 Nghiên cứu kiến thức phóng xạ

1.2.1 Hiện tượng phóng xạ

1.2.1.1 Khái niệm

Phóng xạ là quá trình phân rã tự phát của một hạt nhân không bền vững (tự nhiên hay nhân tạo) Quá trình phân rã này kèm theo sự tạo ra các hạt và có thể kèm theo sự phát ra các bức xạ điện từ Hạt nhân tự phân rã gọi là hạt nhân mẹ, hạt nhân được tạo thành sau phân rã gọi là hạt nhân con [29]

1.2.1.2 Đặc điểm

− Có bản chất là một quá trình biến đổi hạt nhân

− Có tính tự phát và không điều khiển được

− Là một quá trình ngẫu nhiên

1.2.1.3 Các loại phóng xạ

Trong quá trình phân rã của hạt nhân, tùy theo các tia phát ra người ta phân loại các dạng phóng xạ gồm: phóng xạ alpha (𝛼), phóng xạ beta (𝛽), phóng xạ gamma (𝛾) Các tia phóng xạ là những tia không nhìn thấy được, nhưng có những tác dụng

cơ bản như kích thích một số phản ứng hóa học, ion hóa chất khí…

Trang 15

− Trong không khí, tia α chuyển động với vận tốc khoảng 2.107 m/s Đi được

chừng vài centimet trong không khí và chừng vài micromet trong vật rắn, không xuyên qua được tấm bìa dày 1 mm

− Khi đi vào điện trường, tia α bị lệch về bản âm của tụ điện (vì tia α là dòng hạt nhân 24He nên mang điện tích dương)

− Có khả năng ion hóa không khí mạnh

b Phóng xạ beta ( ) : Có hai loại phóng xạ  là +

− Trong không khí tia −

có thể đi được quãng đường dài vài mét và trong kim loại

có thể đi được vài mm

− Bản chất là dòng electron nên Khi đi vào điện trường, tia −

bị lệch về bản dương của tụ điện

− Có khả năng ion hóa không khí nhưng yếu hơn tia α

❖ Phóng xạ +

: bản chất là dòng phản hạt electron (0

1e) hay còn gọi là hạt pozitron

Trang 16

− Tương tự với tia −

, trong không khí tia +

có thể đi được quãng đường dài vài

mét và trong kim loại có thể đi được vài mm

− Có khả năng ion hóa không khí nhưng yếu hơn tia α

− Các hạt notrino và phản notrino là những hạt không mang điện, có khối lượng bằng 0 và chuyển động với tốc độ ánh sáng

c Phóng xạ gamma (  ): loại phóng xạ đi kèm với các loại phóng xạ α, +

, −

− Hạt nhân con Y sau phóng xạ α, +

, −

có thể ở trạng thái kích thích Hạt nhân này sau đó sẽ trở về trạng thái bình thường và phát ra phôtôn có năng lượng cao Các phôtôn này được gọi là tia gamma

− Trong phóng xạ  , không làm biến đổi hạt nhân

− Tia là sóng điện từ có bước sóng ngắn, cũng là dòng phôtôn có năng lượng cao

mà mắt không nhìn thấy được

− Tia  có đầy đủ đặc điểm như tia X nhưng có tác dụng sinh lí mạnh hơn, khả năng đâm xuyên cao hơn, có thể đâm xuyên qua bêtông vài m và vài cm qua chì

− Khả năng ion hóa không khí của tia  rất yếu

− Khi đi vào điện trường, tia  không bị lệch (vì phóng xạ  là photon, không có điện tích)

Lưu ý:

− Khả năng ion hóa không khí:    

− Khả năng đâm xuyên:    

− Khi đi vào điện trường: tia  bị lệch nhiều nhất

Trang 17

Hình 1-1: Các tia phóng xạ bị lệch phương khi đi vào vùng điện trường

1.2.1.4 Định luật phóng xạ

Sau một khoảng thời gian xác định T thì một nửa số hạt nhân hiện có bị phân rã, biến đổi thành hạt nhân khác, T được gọi là chu kì bán rã của chất phóng xạ Gọi N0 là số hạt nhân lúc ban đầu, N là số hạt nhân còn lại ở thời điểm t

Sau t=k T. thì số hạt nhân còn lại là 0

0.2 0.22

Áp dụng công thức logarith ta được: N t( )=N e0 −t

Do khối lượng tỉ lệ với số hạt nhân nên ta tìm được phương trình biểu diễn quy luật giảm theo hàm mũ của khối lượng chất phóng xạ

t

t T

Chú ý:

− Phương trình liên hệ giữa khối lượng hạt nhân (m) và số hạt nhân (N) là

A

− Trong sự phóng xạ không có sự bảo toàn khối lượng mà chỉ có sự bảo toàn về số

hạt nhân Tức là, số hạt nhân con tạo thành bằ ng số hạt nhân mẹ đã phân rã

Trang 18

1.2.2 Độ phóng xạ

1.2.2.1 Khái niệm

Độ phóng xạ của một chất phóng xạ là đại lượng đặc trưng cho tính phóng xạ mạnh hay yếu, được xác định bằng số hạt nhân phân rã trong một giây, kí hiệu độ phóng xạ là H

Đơn vị: phân rã/giây, kí hiệu là Bq

Ngoài ra người ta còn sử dụng một đơn vị khác là Ci, với 1 Ci = 3,7.10-10 Bq

là bismuthđã không còn được coi là ổn định Có thể quan sát thấy sự phân rã trong các hạt nhân khác, thêm vào danh sách các hạt nhân phóng xạ nguyên thủy này

− Các hạt nhân phóng xạ thứ cấp là các đồng vị phóng xạ có nguồn gốc từ sự phân

rã của các hạt nhân phóng xạ nguyên thủy Chúng có thời gian bán hủy ngắn hơn các hạt nhân phóng xạ nguyên thủy Chúng phát sinh trong chuỗi phân rã của các

Trang 19

đồng vị nguyên thủy thorium-232, uranium-238 và uranium-235 Các ví dụ bao gồm các đồng vị tự nhiên của polonium và radium

− Các đồng vị vũ trụ, chẳng hạn như carbon-14, có mặt vì chúng liên tục được hình thành trong khí quyển do các tia vũ trụ

− Nguồn phóng xạ chính trong cơ thể con người là kali-40 (40K), khoảng 17 mg trong cơ thể và thu vào khoảng 0.4 mg mỗi ngày [22] Hầu hết các loại đá trong

tự nhiên có mức phóng xạ thấp, tùy vào thành phần Thường nằm trong khoảng 1 milisievert (mSv) đến 13 mSv mỗi năm

1.2.3.2 Nguồn phóng xạ nhân tạo

Phóng xạ nhân tạo là hiện tượng phóng xạ sinh ra khi bắn phá các vật chất không phải đồng vị phóng xạ bằng các nucleon Các hạt nhân phóng xạ nhân tạo được tổng hợp bằng cách sử dụng các lò phản ứng hạt nhân, máy gia tốc hạt hoặc máy phát hạt nhân phóng xạ:

− Cùng với việc được chiết xuất từ chất thải hạt nhân, đồng vị phóng xạ có thể được sản xuất có chủ ý với các lò phản ứng hạt nhân Một sản phẩm điển hình từ lò phản ứng hạt nhân là iridium-192 Các nguyên tố có xu hướng lớn để chiếm các neutron trong lò phản ứng được cho là có tiết diện neutroncao

− Máy gia tốc hạt như cyclotron tăng tốc các hạt để bắn phá mục tiêu để tạo ra các hạt nhân phóng xạ Cyclotron tăng tốc các proton tại một mục tiêu để tạo ra các hạt nhân phóng xạ positron, ví dụ như flo-18

− Máy phát hạt nhân phóng xạ có chứa một hạt nhân phóng xạ mẹ phân rã để tạo ra phóng xạ con Hạt nhân mẹ thường được sản xuất trong một lò phản ứng hạt nhân Một ví dụ điển hình là máy phát Technetium-99m được sử dụng trong y học hạt nhân Hạt nhân mẹ được sản xuất trong lò phản ứng là molybdenum-99

1.2.4 Mức độ nguy hiểm của nguồn phóng xạ

Mức độ nguy hại hay rủi ro cho con người do nguồn phóng xạ gây ra rất khác nhau tùy thuộc vào loại hạt nhân phóng xạ, dạng vật lý, hóa học và hoạt độ của nguồn phóng xạ Với các nguồn phóng xạ dạng khí, dạng lỏng và dạng bột nếu không được quản lý tốt về mặt an toàn và an ninh sẽ có nguy cơ làm cho con người bị hít phải, ăn phải, uống phải sẽ dẫn đến bị chiếu xạ bên trong cơ thể con người rất nguy hiểm Còn

Trang 20

đối với các nguồn phóng xạ kín hay dạng rắn thì nguy cơ chủ yếu là bị chiếu xạ ngoài Mức độ nguy hại của nguồn phóng xạ cho con người chủ yếu là phụ thuộc vào hoạt

độ của nguồn phóng xạ, thời gian tiếp xúc và khoảng cách tiếp xúc với nguồn phóng

xạ Nói chung, các nguồn phóng xạ có hoạt độ cao nếu không được quản lý tốt về an toàn và an ninh có thể gây ra các hiệu ứng nguy hại cho con người trong thời gian ngắn, trong khi các nguồn phóng xạ có hoạt độ thấp thì không thể gây ra chiếu xạ có hậu quả độc hại cho con người

Cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đã xây dựng hướng dẫn phân loại nguồn phóng xạ theo 5 mức khác nhau theo thứ tự mức độ nguy hại giảm dần, cao nhất là loại 1 và thấp nhất là loại 5 Việc phân loại này dựa trên tỷ số A/D, trong

đó A là hoạt độ tổng cộng của nguồn phóng xạ và D là hoạt độ đặc trưng của hạt nhân dùng làm nguồn phóng xạ Trong Bảng dưới đây sẽ cho biết cách thức phân loại các nguồn phóng xạ theo mức độ nguy hiểm

Bảng 1.1: Mức độ nguồn phóng xạ

I

- Máy phát nhiệt điện sử dụng đồng vị phóng xạ

- Nguồn phóng xạ dùng cho cơ sở chiếu xạ công nghiệp

- Nguồn phóng xạ dùng trong thiết vị xạ trị từ xa

- Nguồn phóng xạ dùng trong dao mổ gamma

Trang 21

- Thiết bị đo công nghiệp không sử dụng nguồn phóng xạ hoạt độ cao

- Thiết bị đo mật độ xương

- Thiết bị khử tĩnh điện

V

- Thiết bị xạ trị áp sát liều thấp điều trị mắt

- Thiết bị huỳnh quang tia X

- Thiết bị bắt electron

- Nguồn phóng xạ sử dụng trong phổ kế Mossbauer

- Nguồn phóng xạ dùng để kiểm tra thiết bị chẩn đoán hình ảnh PET

Nhỏ hơn 0,01 hoặc hoạt độ A dưới mức miễn trừ

Các nguy hại khi tiếp xúc gần các nguồn phóng xạ Nguồn loại I: Nguồn loại này cực kỳ nguy hiểm cho con người Nguồn loại

này sẽ gây tổn thương lâu dài cho con người cầm hay tiếp xúc với nó trong vài phút Nguồn phóng xạ loại này có thể gây chết người nếu tiếp xúc trong khoảng vài phút đến một giờ

Nguồn loại II: Nguồn loại này rất nguy hiểm cho con người Nguồn loại này

sẽ gây tổn thương lâu dài cho con người cầm hay tiếp xúc với nó trong thời gian ngắn

từ vài phút đến vài giờ Nguồn phóng xạ loại này có thể gây chết người nếu tiếp xúc trong khoảng vài giờ đến vài ngày

Nguồn loại III: Nguồn loại này cũng nguy hiểm cho con người Nguồn loại

này sẽ gây tổn thương lâu dài cho con người cầm hay tiếp xúc với nó trong thời gian nhiều giờ Nguồn phóng xạ loại này có thể gây chết người, tuy nhiên với xác suất rất thấp, nếu tiếp xúc trong khoảng thời gian từ vài ngày đến vài tuần

Nguồn loại IV: Nguồn phóng lại loại này có xác suất thấp gây nguy hiểm cho

con người Xác suất thấp là nguồn phóng xạ loại này có thể gây tổn thương lâu dài cho con người Tuy nhiên, nguồn phóng xạ loại này nếu không được quản lý an toàn

và bảo vệ an ninh thì cũng có thể, mặc dù xác suất thấp, gây tổn thương tạm thời cho

Trang 22

con người cầm nó hay tiếp xúc với nó trong thời gian nhiều giờ hay ở gần nó trong nhiều tuần

Các nguy hại khi vật liệu làm nguồn phóng xạ này bị phát tán vào môi trường do cháy hoặc nổ

Nguồn loại I: Vật liệu làm nguồn phóng xạ loại này nếu bị phát tán, mặc dù

với xác suất nhỏ, có thể làm tổn thương lâu dài hoặc đe dọa cuộc sống con người trong khu vực lân cận trực tiếp Có rất ít hoặc không có rủi 13ang13o sức khỏe con người tức thì khi ở xa nguồn phát tán vài 13ang mét, tuy nhiên khu vực ô nhiễm cần phải được tẩy xạ theo tiêu chuẩn quốc tế Đối với các nguồn phóng xạ lớn thì khu vực tẩy xạ có thể đến hàng km2 hoặc lớn hơn (tùy thuộc vào hoạt độ, loại hạt nhân phóng

xạ, cách thức phát tán và thời tiết khu vực)

Nguồn loại II: Vật liệu làm nguồn phóng xạ loại này nếu bị phát tán, mặc dù

với xác suất nhỏ, có thể làm tổn thương lâu dài hoặc đe dọa cuộc sống con người trong khu vực lân cận trực tiếp Có rất ít hoặc không có rủi ro cho sức khỏe con người tức thì khi ở xa nguồn phát tán một trăm mét hoặc xa hơn, tuy nhiên khu vực ô nhiễm cần phải được tẩy xạ theo tiêu chuẩn quốc tế Khu vực cần phải được tẩy xạ có thể không vượt quá một km2 (tùy thuộc vào hoạt độ, loại hạt nhân phóng xạ, cách thức phát tán và thời tiết khu vực)

Nguồn loại III: Vật liệu làm nguồn phóng xạ loại này nếu bị phát tán, mặc dù

với xác suất cực kỳ nhỏ, có thể làm tổn thương lâu dài hoặc đe dọa cuộc sống con người trong khu vực lân cận trực tiếp Có rất ít hoặc không có rủi 13oc ho sức khỏe con người tức thì khi ở xa nguồn phát tán vài mét, tuy nhiên khu vực ô nhiễm cần phải được tẩy xạ theo tiêu chuẩn quốc tế Khu vực cần phải được tẩy xạ có thể không vượt quá một phần nhỏ của km2 (tùy thuộc vào hoạt độ, loại hạt nhân phóng xạ, cách thức phát tán và thời tiết khu vực)

Nguồn loại IV: Vật liệu làm nguồn phóng xạ loại này nếu bị phát tán không

thể gây tổn thương lâu dài cho con người

Nguồn loại V: Vật liệu làm nguồn phóng xạ loại này nếu bị phát tán không

thể gây tổn thương lâu dài cho con người

1.2.5 Bảo quản nguồn phóng xạ

Trang 23

Các nguồn phóng xạ có cường độ trên 1 milicurie được bảo quản trong bình chì có thành đủ dày, cỡ 10 – 20 cm, để ngăn chặn tia phóng xạ phát ra môi trường Kích thước nguồn nhỏ, chỉ cỡ một vài cm3, nhưng bình chì có trọng lượng đến trên chục kg Khi đưa nguồn vào vị trí làm việc thì 14ung các dụng cụ chuyên dụng lấy nguồn ra, và cần thao tác nhanh Các nguồn phóng xạ có cường độ dưới 1 milicurie không cần bình chì bảo quản, nhưng cần để xa vị trí sinh hoạt

Hiện nay, tại Việt Nam có 24 cơ sở có sử dụng nguồn phóng xạ nhóm A (hoạt

độ phóng xạ trên 1000 Ci) với các loại nguồn phóng xạ chủ yếu như: Co-60, Cs-137, Sr-90 v.v Các nguồn phóng xạ này chủ yếu sử dụng trong nghiên cứu, chiếu xạ công nghiệp, xạ trị trong y tế (chiếu xạ máu/mô, xạ trị) hoặc được lưu giữ tại kho lưu giữ khi không còn nhu cầu sử dụng Trong khuôn khổ Sáng kiến giảm thiểu nguy cơ bức

xạ toàn cầu (Global Threat Reduction Initiative – GTRI) của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, Cục ATBXHN đã hợp tác cùng Phòng Thí nghiệm Tây Bắc Thái Bình Dương (PNNL/NNSA) tham gia dự án BOA từ năm 2006 Dự án này đã trang bị hệ thống bảo đảm an ninh cho tất cả 24 cơ sở bức xạ có nguồn phóng xạ hoạt độ cao (trên 1000 Ci)

Tính cho đến nay 24 cơ sở bức xạ có nguồn phóng xạ hoạt độ cao (trên 1000 Ci) đã được trang bị hệ thống an ninh hiện đại, đã và đang xây dựng kế hoạch an ninh tại cơ sở (theo hướng dẫn của Cục ATBXHN năm 2008) nhằm đảm bảo quy trình vận hành hệ thống an ninh, chống lại sự xâm nhập trái phép, bảo vệ nguồn phóng xạ

Ngoài ra, đối với mức an ninh B (các cơ sở có nguồn phóng xạ hoặc tập hợp nguồn phóng xạ có tỷ số hoạt độ phóng xạ lớn hơn hoặc bằng 10 và nhỏ hơn 1000)

có 56 cơ sở chủ yếu là cơ sở NDT trong công nghiệp (cơ sở chụp ảnh phóng xạ) và

cơ sở thăm dò giếng khoan với các loại nguồn như: Ir-192, Co-60, Cs-137, Se-75 v.v Nguồn phóng xạ được sử dụng trong các loại hình ứng dụng này cũng là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt vì tính chất di chuyển nhiều, sử dụng trong các môi trường (công trường, nhà máy ) khó bảo đảm an ninh Hiện tại Cục ATBXHN đang hợp tác với các cơ quan liên quan của Chính phủ Hàn quốc, với sự hỗ trợ của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế triển khai dự án RADLOT nhằm bảo đảm an ninh cho các nguồn phóng xạ NDT Hệ thống RADLOT (Radiation Source Location Tracking

Trang 24

System) là một hệ thống cho phép giám sát theo thời gian thực những máy chụp ảnh phóng xạ NDT dùng nguồn phóng xạ Hệ thống RADLOT có thể xác định vị trí và hành trình di chuyển các nguồn phóng xạ theo thời gian thực dựa trên các thông tin được định vị thu nhận từ tín hiệu vệ tinh (GPS) và mạng lưới viễn thông di động Thông qua việc kiểm soát này cho phép cơ quan quản lý và các đơn vị sử dụng có các hành động tức thì đối phó với các hành động tiếp cận trái phép, trộm hoặt mất cắp, giúp tăng cường an toàn và an ninh đối với nguồn phóng xạ Hiện nay, Dự án mới đang ở giai đoạn thảo luận phương thức triển khai.[16]

1.2.6 Ứng dụng của phóng xạ

Dùng trong phương pháp nguyên tử đánh dấu: Pha một ít phôt-pho phóng xạ (P30) vào chất phôt-pho thông thường (P31) rồi bón cho cây chẳng hạn Cây sẽ hấp thụ chất phôt-pho mà không phân biệt loại phôt-pho nào Như thế, nhờ một máy dò phóng xạ mà ta có thể theo dõi được quá trình hấp thụ chất lân của cây cối Phương pháp này được gọi là phương pháp nguyên tử đánh dấu

Trong sinh học, các hạt nhân phóng xạ của carbon có thể đóng vai trò là các chất phóng xạ vì chúng rất giống với các hạt nhân không hoạt động, vì vậy hầu hết các quá trình hóa học, sinh học và sinh thái xử lý chúng theo cách gần giống nhau Sau đó, người ta có thể kiểm tra kết quả bằng máy dò phóng xạ, chẳng hạn như bộ đếm Geiger, để xác định nơi các nguyên tử được cung cấp được kết hợp Ví dụ, người

ta có thể nuôi cây trong một môi trường trong đó carbon dioxide chứa carbon phóng xạ; sau đó các bộ phận của nhà máy kết hợp carbon trong khí quyển sẽ bị nhiễm phóng xạ Các hạt nhân phóng xạ có thể được sử dụng để theo dõi các quá trình như sao chép DNA hoặc axit aminvận chuyển

Trong y học hạt nhân, đồng vị phóng xạ được sử dụng để chẩn đoán, điều trị

và nghiên cứu Các chất hóa học phóng xạ phát ra tia gamma hoặc positron có thể cung cấp thông tin chẩn đoán về giải phẫu bên trong và hoạt động của các cơ quan cụ thể, bao gồm cả não người Điều này được sử dụng trong một số hình thức chụp cắt lớp: Chụp cắt lớp phát xạ đơn photon và chụp cắt lớp phát xạ positron (PET) và chụp ảnh phát quang Cherenkov Đồng vị phóng xạ cũng là một phương pháp điều trị trong

Trang 25

các dạng khối u tạo máu; sự thành công trong điều trị khối u rắn đã bị hạn chế Nguồn gamma mạnh hơn khử trùng ống tiêm và các thiết bị y tế khác

Trong bảo quản thực phẩm, bức xạ được sử dụng để ngăn chặn sự nảy mầm của cây trồng sau khi thu hoạch, để tiêu diệt ký sinh trùng và sâu bệnh, và để kiểm soát sự chín của trái cây và rau quả được lưu trữ

Trong công nghiệp và trong khai thác, các hạt nhân phóng xạ được sử dụng để kiểm tra các mối hàn, phát hiện rò rỉ, nghiên cứu tốc độ hao mòn, ăn mòn và ăn mòn kim loại và phân tích trực tuyến một loạt các khoáng chất và nhiên liệu

Trong tàu vũ trụ và các nơi khác, các hạt nhân phóng xạ được sử dụng để cung cấp năng lượng và nhiệt, đặc biệt là thông qua các máy phát nhiệt điện đồng vị phóng

xạ (RTGs) Trong thiên văn học và vũ trụ học, các hạt nhân phóng xạ đóng một vai trò trong việc tìm hiểu quá trình sao và hành tinh

Trong vật lý hạt, các hạt nhân phóng xạ giúp khám phá vật lý mới (vật lý ngoài

Mô hình chuẩn) bằng cách đo năng lượng và động lượng của các sản phẩm phân rã beta của chúng [12]

Trong sinh thái học, các hạt nhân phóng xạ được sử dụng để theo dõi và phân tích các chất ô nhiễm, để nghiên cứu sự chuyển động của nước mặt và để đo dòng chảy của nước từ mưa và tuyết, cũng như tốc độ dòng chảy của song suối

Trong địa chất, khảo cổ học và cổ sinh vật học, các hạt nhân phóng xạ tự nhiên được sử dụng để đo tuổi của đá, khoáng chất và vật liệu hóa thạch Trong không khí

với chu kỳ bán rã vào khoảng 5730 năm Thực vật hấp thụ đi ôxit cacbon trong không khí nên cũng hấp thụ luôn C14 Khi thực vật còn sống thì tỉ lệ giữa C14 và C12 là không đổi Nhưng khi thực vật chết đi thì tỉ lệ này giảm dần Như vậy bằng cách đo

tỉ lệ C14 và C12 trong các di vật cổ ta có thể tính ra tuổi của chúng Phép định tuổi

cổ vật này cho phép đo được tuổi các cổ vật từ 500 năm đến 5500 năm

Đầu báo khói hộ gia đình: phóng xạ có mặt trong nhiều ngôi nhà vì chúng được sử dụng bên trong các máy dò khói phổ biến nhất trong gia đình Các hạt nhân phóng xạ được sử dụng là Americaium-241, tạo ra bằng cách bắn phá plutoni bằng neutron trong lò phản ứng hạt nhân Nó phân rã phát ra các hạt alpha và bức xạ gamma

Trang 26

để trở thành neptunium-237 Máy dò khói sử dụng một lượng rất nhỏ là Am (khoảng 0,29 microgam trên mỗi đầu báo khói) ở dạng khí đioxit của Mỹ Am được sử dụng

vì nó phát ra các hạt alpha làm ion hóa không khí trong buồng ion hóa của máy dò Một điện áp nhỏ được đặt vào không khí bị ion hóa tạo ra dòng điện nhỏ Khi có khói, một số ion bị trung hòa, do đó làm giảm dòng điện, kích hoạt báo động của máy dò

1.2.7 Chất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ là chất thải chứa vật liệu phóng xạ Chất thải phóng xạ thường là sản phẩm phụ của việc sản xuất năng lượng hạt nhân, sử dụng phản ứng phân hạch hay công nghệ hạt nhân trong những ngành khác như nghiên cứu và y dược Chất thải phóng xạ rất nguy hiểm với tất cả sinh vật và môi trường, và được kiểm soát bởi các cơ quan chính phủ nhằm bảo vệ sức khỏe con người và môi trường

tự nhiên Khi chất thải phóng xạ bị rò rỉ ra môi trường xung quanh sẽ gây ra ô nhiễm phóng xạ cả môi trường đó [18]

Theo uỷ ban năng lượng Hoa Kỳ, phóng xạ urani ở các nhà máy điện hạt nhân, kho vũ khí, trung tâm nghiên cứu và các khu vực có xảy ra nổ hạt nhân như Hiroshima, Nagasaki, Chernobyl….Hằng năm làm nhiễm độc 2.500 tỉ lít nước ngầm của thế giới Nguồn nước nhiễm phóng xạ này sau đó sẽ ngấm vào cây cối, động vật uống phải, hoặc hoà tan vào nguồn nước sinh hoạt của con người và cuối cùng tích luỹ vào cơ thể [17]

Đây chính là nguyên nhân gây nên những đột biến dị dạng, bệnh tật,… cho các cơ thể sống tự nhiên Cũng theo điều tra của uỷ ban này, lượng phóng xạ rò rỉ trong không khí, không gây nguy hiểm nhiều cho con người bằng lượng phóng xạ vào nguồn nước Không những thế ảnh hưởng của chúng ngày càng tăng theo thời gian do sự tích tụ phóng xạ trong nước ngày càng lớn hơn Vì vậy, khi Hiroshima và Chernobyl bị ảnh hưởng trực tiếp của phóng xạ hạt nhân nhưng những vùng rất xa ở xung quanh cũng bị tác động theo, do nguồn nước ngầm liên thông giữa các vùng Người ta đã phát hiện những triệu chứng nhiễm độc phóng xạ trên cơ thể con người sống ở những vùng rất xa hai trung tâm phóng xạ này, dù theo

lý thuyết thì những vùng đó không thể bị ảnh hưởng vì nằm quá tầm hoạt động của các tia phóng xạ sau các vụ nổ [17]

Trang 27

1.2.8 An toàn phóng xạ

Bên cạnh những hiệu quả to lớn trong công nghiệp, y học thì các chất phóng

xạ cũng gây ra những hậu quả vô cùng nguy hiểm cho sức khỏe con người nếu sự tác động vượt quá giới hạn an toàn Từ những năm 30, ICRP (Ủy ban Quốc tế về An toàn bức xạ) đã khuyến cáo nên hạn chế tối đa việc tiếp xúc với tia phóng xạ quá liều an toàn Các giới hạn khuyến cáo gần đây nhất được đưa ra năm 1990

Đối với người làm trong môi trường phóng xạ: Theo khuyến cáo của ICRP, thì mức liều đối với nhân viên không nên vượt quá 50 mSv/năm và liều trung bình cho 5 năm không được vượt quá 20 mSv Nếu một phụ nữ mang thai làm việc trong điều kiện bức xạ, thì giới hạn liều nghiêm ngặt hơn cần được áp dụng là 2 mSv

Đối với người bình thường: Giới hạn liều thấp hơn so với nhân viên làm trong môi trong phóng xạ ICRP khuyến cáo rằng giới hạn liều đối với người bình thường không nên vượt quá 1 mSv/1 năm

Đối với bệnh nhân: ICRP không có khuyến cáo giới hạn liều đối với bệnh nhân Trong khám bệnh và điều trị bằng xạ trị, liều chiếu có thể 18ang gấp 18ang 18ang lần so với giới hạn liều đối với nhân viên Bởi vì liều xạ được 18ang là để xác định bệnh và để chữa bệnh, nên hiệu quả của điều trị được xem là cần thiết hơn ngay

cả khi phải 18ang đến liều cao

Những nghề, công việc có nguy cơ mắc bệnh

Nhóm thứ nhất: những người lao động làm việc tại các cơ sở sản xuất chất phóng xạ như: mỏ uran, nhà máy xử lý quặng uran, nhà máy khai thác, tách các đồng

vị uran, các lò phản ứng, các trung tâm nghiên cứu, các nhà máy sản xuất plutoni, các

cơ sở điện hạt nhân, các cơ sở khai thác, nghiên cứu, sản xuất nguyên tố phóng xạ, các đơn vị vận chuyển, lưu chứa chất thải phóng xạ

Nhóm thứ hai: những người sử dụng các tia bức xạ ion hóa từ những nguyên

tố phóng xạ trong các ngành công nghiệp, ngành y tế, ngành nông nghiệp, ngành sinh học và ngành sinh hóa học

Nhóm thứ ba: những người sử dụng máy phát tia X, nhất là các khoa điện quang y tế

Biểu hiện khi bị nhiễm xạ

Trang 28

− Thể nhẹ: Rối loạn điều hòa thần kinh, huyết áp động mạch hạ, mạch nhanh và loạn nhịp xoang, rối loạn vận động ruột và chức năng mật, dễ kích thích

− Thể tiến triển: Biểu hiện lâm sàng và điện tim của chứng loạn dưỡng cơ tim với huyết áp động mạch hạ kéo dài; giảm sản tủy xương kéo dài (giảm bạch cầu hạt và limphô bào), giảm tiểu cầu; rối loạn chức năng buồng trứng, ít kinh nguyệt

ra giảm dần theo thời gian, do vậy cần chú ý đến thời gian an toàn được khuyến cáo cho từng loại tia phóng xạ

Khi làm việc hoặc thao tác với chất phóng xạ, cần mặc quần áo bảo hộ lao động và trang bị phòng hộ khác, được đeo tấm chì, đi găng tay cao su pha chì, mặc quần áo không thấm nước và tắm giặt sau giờ làm việc; điều này có tác dụng bảo vệ chống sự nhiễm xạ ngoại chiếu, nội chiếu và phần nào chống sự chiếu xạ Khám sức khỏe định kỳ 3 hoặc 6 tháng một lần, chú ý xét nghiệm máu để phát hiện sớm các biểu hiện bệnh lý do phóng xạ Đặc biệt cần chú ý đến các tổn thương mạn tính ở ngoài da của những người có nguy cơ cao, những người thường xuyên tiếp xúc với nguồn phát xạ [19]

1.3 Phân bố chương trình dạy học ở phổ thông

Đối với môn Vật lí lớp 12 chương trình cơ bản, có 70 tiết bao gồm học kì I:

35 tiết và học kì II: 35 tiết Chương 7 “Hạt nhân nguyên tử” có 9 tiết và được phân

bố như sau:

Trang 29

Bảng 1.2: Phân bố chương trình Vật lí ở THPT

Chương 7 có tổng cộng 9 tiết bao gồm 7 tiết lý thuyết và 2 tiết bài tập Tuy nhiên theo chương trình giảm tải của Bộ GD&ĐT năm 2020, chương này được giảm còn 5 tiết lý thuyết và 2 tiết bài tập [25]

Ngày đăng: 20/06/2021, 17:51

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]: Neumann, S. (2014). Three Misconceptions About Radiation — And What We Teachers Can Do To Confront Them. American Association of Physics, 52, 357-359.doi: 10.1119/1.489309 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Association of Physics
Tác giả: Neumann, S
Năm: 2014
[2]: Rego, F. & Pelarta, L. (2006). Portuguese students’ knowledge of radiation physics. Phys. Educ., 41(3), 259-262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phys. Educ
Tác giả: Rego, F. & Pelarta, L
Năm: 2006
[24]: Giáo trình “Lý thuyết xác suất và thống kê toán”_Hoàng Ngọc Nhậm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết xác suất và thống kê toán
[3]: Identifying and Resolving Problematic Student Reasoning About Ionizing Radiation Khác
[10]: Thái Khắc Định, Trần Văn Luyến (2009), Khảo sát hoạt độ phóng xạ trong vật liệu xậy dựng có nguồn gốc granite, Tạp chí KHOA HỌC ĐHSP TP.HCM, Số 16/2009, tr 41-52, ISSN 1859-3100 Khác
[25]: Hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học cấp trung học phổ thông, học kì ii, năm học 2019-2020, môn vật lí(Kèm theo Công văn số 1113/BGDĐT-GDTrH ngày 30 tháng 3 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ GDĐT) Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w