1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân

69 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,63 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Bia Luan Van sua 19-7

  • Trang lot sua 19-7

  • Luan van chinh thuc hoan thanh sua ngay 27-8

Nội dung

Đặt vấn đề

Đào tạo nghề và tạo việc làm là yếu tố thiết yếu trong phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt tại nông thôn Tỉnh Đồng Nai xem việc đào tạo nghề cho nông dân là nhiệm vụ quan trọng, nhằm tối ưu hóa nguồn nhân lực, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đáp ứng nhu cầu sản xuất nông nghiệp trong bối cảnh hội nhập Hoạt động đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho lao động nông thôn đang được triển khai mạnh mẽ trên địa bàn tỉnh.

Theo báo cáo của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2015), trong giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2014, có 38.694 lao động nông thôn tham gia học nghề, với tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt 70% Tuy nhiên, số lượng lao động tham gia đào tạo giảm dần qua các năm, từ 7.000 lao động năm 2010 xuống còn 4.500 lao động năm 2014, và tỷ lệ lao động đã tham gia đào tạo chỉ chiếm 35% Dù vẫn còn 65% lao động nông thôn chưa tham gia đào tạo, nhưng xu hướng giảm tỷ lệ tham gia đào tạo là rõ rệt.

65% lao động nông thôn chưa tham gia đào tạo nghề, đặt ra câu hỏi về hiệu quả của chương trình này Chính sách đào tạo nghề có thực sự ảnh hưởng đến thu nhập và cải thiện đời sống nông dân hay không? Nghiên cứu sẽ làm rõ tính hiệu quả của các chương trình đào tạo nghề, cung cấp bằng chứng khoa học cho các cơ quan nhà nước nhằm xây dựng các chương trình phát triển nông thôn hiệu quả hơn Do đó, đề tài “Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai” được lựa chọn làm vấn đề nghiên cứu.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu là đánh giá ảnh hưởng của việc tham gia đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của các nông hộ tại huyện Trảng Bom.

Với mục tiêu tổng quát trên, các mục tiêu cụ thể đặt ra :

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

- Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ.

Câu hỏi nghiên cứu

- Những lý do nào ảnh hưởng đến quyết định có hay không tham gia đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom ?

Tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có thể tác động tích cực đến thu nhập của người nông dân tại huyện Trảng Bom Việc nâng cao kỹ năng và kiến thức trong lĩnh vực nông nghiệp giúp nông dân áp dụng các phương pháp canh tác hiệu quả hơn, từ đó gia tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm Ngoài ra, việc đào tạo còn mở ra cơ hội tiếp cận thị trường và các nguồn vốn hỗ trợ, góp phần cải thiện đời sống kinh tế cho người nông dân trong khu vực.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề và ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai Đối tượng khảo sát là các hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, mục tiêu khảo sát nhằm lấy ý kiến, thu thập thông tin làm cơ sở khoa học cho vấn đề nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung vào các hộ nông dân tham gia đào tạo nghề nông nghiệp trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016.

Do hạn chế về nhân lực và thời gian, nghiên cứu chỉ được thực hiện tại huyện Trảng Bom với 08 xã được chọn là Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo, Đồi 61 và Sông Thao Huyện Trảng Bom có tiềm năng phát triển nông nghiệp và công nghiệp, với điều kiện tương đồng với tỉnh Đồng Nai, do đó các kiến nghị và đề xuất từ nghiên cứu có thể được áp dụng rộng rãi trong toàn tỉnh Đồng Nai.

Số liệu sơ cấp đã được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp các nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, trong khoảng thời gian từ tháng 03 đến tháng 06 năm 2017.

Số liệu thứ cấp được thu thập trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến 2016 thông qua các báo cáo của các cơ quan chức năng liên quan Thời gian thực hiện nghiên cứu kéo dài từ tháng 12/2016 đến tháng 10/2017, bao gồm cả giai đoạn tổng hợp và xử lý dữ liệu đã thu thập.

Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm 5 chương và phần kết luận:

Chương 1 - Mở đầu: Giới thiệu về sự cần thiết của đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, các câu hỏi nghiên cứu Bên cạnh đó là các nội dung về phạm vi nghiên cứu và đối tượng của đề tài nghiên cứu

Chương 2 - Cơ sở lý thuyết: Chương này trình bày các lý thuyết có liên quan đến đào tạo nghề và mối quan hệ đào tạo và thu nhập Đồng thời, chương này trình bày các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước trước đây có liên quan đến vấn đề đào tạo nghề Từ đó, thừa kế và phát triển dựa trên nền tảng của các nghiên cứu trước

Chương 3 - Phương pháp nghiên cứu: Trình bày khung nghiên cứu, phương pháp phân tích và mô tả phương pháp chọn mẫu khảo sát

Chương 4 - Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Giới thiệu tổng quan về địa bàn nghiên cứu; Phân tích thực trạng đào tạo nghề trên địa bàn nghiên cứu; Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu; Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai; Phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ; Thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5 - Kết luận và gợi ý chính sách: Tóm tắt lại các kết quả đạt được trong nghiên cứu, những hạn chế của đề tài, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo; Khuyến nghị một số gợi ý chính sách nhằm giúp cơ quan quản lý Nhà nước nâng cao hiệu quả, chất lượng đào tạo nghề nông nghiệp.

Các khái niệm có liên quan

Nghề nghiệp là một hình thức cụ thể của hoạt động trong hệ thống phân công lao động xã hội, bao gồm toàn bộ kiến thức, kỹ năng và thái độ cần thiết để thực hiện các hoạt động xã hội nhất định Đào tạo nghề được thực hiện bởi các tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi hành vi và thái độ làm việc, giúp người lao động đáp ứng tiêu chuẩn và nâng cao hiệu quả công việc Quá trình đào tạo có mục đích và tổ chức này nhằm hình thành và phát triển hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ, từ đó hoàn thiện nhân cách cá nhân và tạo điều kiện cho họ hành nghề một cách năng suất và hiệu quả.

Dạy nghề theo Luật giáo dục nghề nghiệp năm 2013 là hoạt động nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cho người học để tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm Hệ thống đào tạo nghề bao gồm ba trình độ: sơ cấp, trung cấp và cao đẳng nghề, với hai hình thức dạy nghề chính quy và thường xuyên Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều quyết định, như Quyết định số 1956/QĐ-TTg và Quyết định 971/QĐ-TTg, nhằm thực hiện Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” Tại tỉnh Đồng Nai, UBND tỉnh đã ban hành Quyết định số 2577/QĐ-UBND và Quyết định 1418/QĐ-UBND để cụ thể hóa các chính sách này, với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo nghề, tạo việc làm và tăng thu nhập cho lao động nông thôn, góp phần vào sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn tỉnh Đồng Nai.

Các lĩnh vực đào tạo nghề nông nghiệp bao gồm trồng trọt, kỹ thuật trồng nấm, chăn nuôi gia cầm và gia súc, nuôi thủy sản, chế biến nông, lâm, thủy sản, quản lý trang trại và kỹ thuật chăm sóc cây Đào tạo được thực hiện tại địa bàn dân cư thông qua các mô hình sản xuất thực tế, tại doanh nghiệp và cơ sở đào tạo theo chương trình đặc thù Doanh nghiệp được khuyến khích tham gia đào tạo và cam kết sử dụng lao động sau khi tốt nghiệp, với quy mô lớp học tối đa 35 học viên Trình độ đào tạo bao gồm các khóa thường xuyên dưới 3 tháng và sơ cấp 3 tháng.

Theo Tổng cục thống kê (2010), thu nhập của hộ gia đình bao gồm toàn bộ tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi trừ chi phí sản xuất trong một năm Các nguồn thu nhập bao gồm tiền công, tiền lương, thu nhập từ sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản, cũng như từ các ngành nghề phi nông, lâm nghiệp và thuỷ sản Ngoài ra, thu nhập còn bao gồm các khoản thu khác, nhưng không tính tiền rút tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được.

Nông hộ, theo Từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam, là gia đình nông dân sống ở nông thôn, chủ yếu sinh sống bằng nghề nông và các ngành nghề phụ khác Đây là đơn vị sản xuất quan trọng trong nông nghiệp Theo Liên hợp quốc (1993), “Hộ” bao gồm những người sống chung, làm việc và quản lý ngân quỹ chung Do đó, nông hộ là những hộ gia đình ở nông thôn với nghề sản xuất chính là nông nghiệp, và nguồn thu nhập chủ yếu từ hoạt động này Bên cạnh nông nghiệp, nông hộ cũng tham gia vào các hoạt động phi nông nghiệp.

(như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ…) ở các mức độ khác nhau

2.2 Các lý thuyết có liên quan

Theo Mincer (1974), vốn con người được hình thành thông qua việc đầu tư vào giáo dục và rèn luyện trong lao động, từ đó mang lại thu nhập cho người sở hữu Mức độ tích lũy vốn con người phụ thuộc vào năng lực, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm mà mỗi cá nhân đạt được trong quá trình đào tạo và rèn luyện.

Nó thể hiện qua số năm đi học và số năm làm việc

Becker (1993) đã chỉ ra rằng đầu tư vào con người, đặc biệt là giáo dục và đào tạo, mang lại hiệu quả vượt trội Mọi hoạt động nâng cao năng suất lao động đều được coi là đầu tư cho vốn con người Người lao động có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao thường có thu nhập cao hơn, trong khi những người có kinh nghiệm và thâm niên công tác cũng đạt mức thu nhập cao hơn.

Borjas (2005) cho rằng quyết định của người lao động trong việc chọn ngành nghề và mức độ học vấn tương tự như quyết định đầu tư trong kinh tế học Việc đầu tư vào giáo dục được coi như đầu tư vào vốn hữu hình, trong đó người lao động đánh giá dòng thu nhập hiện tại ròng từ các lựa chọn khác nhau, bao gồm việc học nghề hoặc không học, và so sánh các ngành nghề Lựa chọn học nghề sẽ được ưu tiên khi nó mang lại dòng thu nhập cao nhất.

Nguyễn Bá Ngọc (2008) cho rằng việc học tập yêu cầu đầu tư chi phí trước mắt, nhưng mang lại lợi ích từ thu nhập cao hơn trong tương lai Nếu bạn gửi khoản tiền “P” vào ngân hàng với lãi suất “r”, giá trị tương lai “V” sau n năm sẽ được tính bằng công thức V = P*(1+r)^n Đối với một người học 4 năm, chi phí học tập trong 4 năm (C0, C1, C2, C3) và thu nhập dự kiến trong tương lai ∆𝑊, cùng với số năm làm việc trước khi nghỉ hưu “T”, có thể giúp xác định giá trị hiện tại của tấm bằng.

Như vậy về mặt lý thuyết, người đó chỉ nên đi học khi giá trị hiện P(v) >0 Hình 1 Quyết định đi học

Theo nghiên cứu của Harvey B King (2006), đường (1) minh họa dòng thu nhập của những người tốt nghiệp đại học, với giả định rằng sinh viên cần một thời gian để tích lũy kinh nghiệm làm việc để theo kịp những người chỉ tốt nghiệp trung học Trong khi đó, đường (2) thể hiện dòng thu nhập của những người tốt nghiệp phổ thông trung học.

Vùng (I): chi phí cho sách vở, đồ dùng học tập, học phí và những khoản chi phí khác không phải là chi phí sinh hoạt

Vùng (II) đề cập đến phần thu nhập bị mất do không tham gia làm việc và dành thời gian cho việc học, thể hiện rõ chi phí cơ hội của thời gian mà người học bỏ ra.

Vùng (III): thu nhập có được với tấm bằng đại học

Người đó nên đi học khi: giá trị hiện tại của vùng (III) > giá trị hiện tại của vùng (I) + vùng (II)

Như vậy, giáo dục đào tạo làm tăng thu nhập cho người lao động và giúp cải thiện triển vọng nghề nghiệp của họ theo 3 hướng tác động sau:

- Tích lũy vốn con người mới (kiến thức, kỹ năng và phẩm chất);

- Chứng thực năng lực của người lao động ở một trình độ nhất định;

Thu nhập, chi tiêu Đại học (1)

- Tích lũy vốn kiến thức để họ có thể tìm được công việc thích hợp hơn

2.3 Các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

Theo nghiên cứu của Theo Becker (1976) tại 21 quốc gia từ 1991-2005, học tập được xem như một quyết định đầu tư tối ưu hóa, giúp tăng năng suất lao động Những người lao động có tay nghề cao thường nhận được mức lương cao hơn trong một thị trường lao động hoàn hảo, nơi mà lao động được trả lương dựa trên giá trị biên của nó Kết quả hồi quy cho thấy suất sinh lợi (IRR) đã tăng rõ rệt tại Ireland, Bồ Đào Nha và Canada.

Theo nghiên cứu của Mincer (1974), phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu sử dụng logarit tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc, trong khi số năm đi học, số năm kinh nghiệm và bình phương của nó là biến độc lập Giả định rằng các cá nhân có năng lực bẩm sinh giống nhau, hệ số ước lượng cho số năm đi học cho thấy tỷ lệ phần trăm gia tăng tiền lương khi thời gian học tăng thêm một năm.

Dumas và Hance (2010) đã nghiên cứu hiệu quả của chương trình đào tạo nghề do chính phủ Marốc hỗ trợ, cho thấy rằng các chương trình này nâng cao khả năng cạnh tranh và hiệu suất của các công ty Nghiên cứu chỉ ra rằng các công ty có nhận thức khác nhau về vai trò của chính sách đào tạo nhà nước; cụ thể, hiệu quả đào tạo cao hơn ở những công ty xem đào tạo là một phần trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, trong khi các công ty chỉ coi chương trình hỗ trợ của chính phủ như một cơ hội tài chính lại không đạt được kết quả tương tự.

Nghiên cứu của Theo Johnson và Gregory C Chow (1997) dựa trên dữ liệu từ 51.352 cá nhân và 10.258 hộ gia đình nông thôn, cùng 31.827 cá nhân và 9.009 hộ gia đình đô thị ở Trung Quốc, cho thấy tỷ lệ lợi nhuận hàng năm từ việc đi học là 4,02% ở vùng nông thôn và 3,99% ở đô thị Kết quả cũng chỉ ra rằng tỷ lệ lợi nhuận từ giáo dục cho người có thu nhập ở khu vực nông thôn cao hơn so với thành phố, và phụ nữ ở đô thị có tỷ lệ lợi nhuận từ giáo dục cao hơn đáng kể so với nam giới.

Khung nghiên cứu

dựa theo các bước được thiết kế ở Hình 3.1 sau đây

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nghiên cứu này rút ra những nhận định quan trọng về khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ và các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của họ Hai mô hình nghiên cứu được đề xuất bao gồm: (a) Các nhân tố ảnh hưởng đến việc tham gia đào tạo nghề nông nghiệp và (b) Các yếu tố tác động đến thu nhập của nông hộ.

3.3 Phương pháp phân tích Để thực hiện các mục tiêu đề ra, nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phương pháp đồ thị để phân tích thực trạng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, mô tả mẫu khảo sát Bên cạnh đó, để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai và phân tích ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến

- Am hiểu về chương trình đào tạo

- Nhận thức được lợi ích từ đào tạo

Khả năngtham gia đào tạo nghề nông nghiệp trên địa bàn huyện Trảng Bom

- Tổng tiết kiệm của hộ/tháng

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ tại huyện Trảng Bom được phân tích thông qua mô hình hồi quy Binary Logistic và hồi quy đa biến, cùng với việc áp dụng hàm kiểm định để đánh giá chính xác.

3.3.1 Phương pháp thống kê mô tả

Các phương pháp thống kê được sử dụng trong đề tài như: tần suất, tỷ lệ, trung bình, độ lệch chuẩn kết hợp với phân tích bảng chéo

Phương pháp phân tích thống kê mô tả bao gồm việc thu thập, tóm tắt và trình bày số liệu để phản ánh tổng quát đối tượng nghiên cứu Các đại lượng thường được sử dụng để mô tả bao gồm trung bình, phương sai và độ lệch chuẩn.

Phân tích tần số giúp mô tả và hiểu rõ đặc tính phân phối của mẫu số liệu thô thông qua bảng phân phối tần số Bảng này tóm tắt dữ liệu bằng cách sắp xếp chúng theo thứ tự tăng dần hoặc giảm dần dựa trên tần số và phần trăm.

3.3.2 Phương pháp hồi quy Binary Logistic và hồi quy đa biến

3.3.2.1 Phương pháp hồi quy Binary Logistic

Hồi quy Binary Logistic là phương pháp phân tích mối quan hệ tuyến tính giữa nhiều biến độc lập và một biến phụ thuộc nhị phân Nghiên cứu này áp dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Biến Y là biến phụ thuộc, phản ánh việc học nghề của người lao động, với giá trị 1 nếu lao động tham gia học nghề và 0 nếu không Các yếu tố ảnh hưởng bao gồm trình độ học vấn, giới tính của chủ hộ, tuổi tác, nghề nghiệp, tình trạng sức khỏe, khả năng tiếp cận vốn vay, và sự am hiểu về chương trình đào tạo.

10 thức được lợi ích từ chương trình đào tạo là các biến độc lập (biến giải thích) trong mô hình

Bảng 3.1: Diễn giải biến trong mô hình Binary Logistic

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, 2017

3.3.2.2 Phương pháp hồi quy đa biến

Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy đa biến để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố đến thu nhập của nông hộ

Biến phụ thuộc (thu nhập), là biến thể hiện thu nhập thực của hộ gia đình

Mô hình nghiên cứu sử dụng các biến độc lập bao gồm đặc điểm kinh tế xã hội của hộ gia đình, cụ thể là trình độ học vấn (hocvan), tuổi của chủ hộ (Tuoi), số nhân khẩu (sonhankhau), nghề nghiệp (nnghiep), tiết kiệm hàng tháng (tietkiem), tình trạng sức khỏe (skhoe) và tham gia đào tạo (thamgiadaotao).

Tên biến Diễn giải Kỳ vọng

Bài viết này đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia đào tạo, bao gồm trình độ học vấn, giới tính và tuổi tác của chủ hộ Cụ thể, có những yếu tố như nghề nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), sức khỏe, khả năng tiếp cận vốn vay, và mức độ am hiểu cũng như nhận thức về lợi ích từ chương trình đào tạo Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định sự tham gia vào các chương trình đào tạo và phát triển kinh tế.

Bảng 3.2: Diễn giải biến trong mô hình hồi quy đa biến

Nguồn: Tác giả tổng hợp từ các lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan, 2017

Chọn mẫu và thu thập số liệu

Mẫu điều tra bao gồm 160 hộ gia đình tại huyện, được chọn từ 08 xã trong tổng số 16 xã, cụ thể là các xã Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo và Đồi.

Khu vực Sông Thao chiếm 59,8% diện tích và 39,8% dân số của huyện, đồng thời đại diện cho sản xuất nông nghiệp tại đây Nghiên cứu được thực hiện thông qua phương pháp phỏng vấn và khảo sát trực tiếp 160 hộ nông dân trong tổng số 14.247 hộ, tương đương 1,12% tổng số hộ nông dân trong huyện.

Dữ liệu thứ cấp bao gồm kết quả nghiên cứu về đề tài, số liệu thống kê đào tạo nghề từ 2014 đến 2016, tình hình phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2015 - 2016, và quy hoạch phát triển kinh tế huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đến năm 2025.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn tài liệu như sách, báo, tạp chí, và các nghiên cứu trong và ngoài nước, bao gồm niên giám thống kê và báo cáo từ UBND tỉnh, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cũng như UBND huyện và Phòng Kinh tế huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Biến "hocvan" thể hiện trình độ học vấn của chủ hộ qua số năm đi học, trong khi biến "tuoi" ghi nhận tuổi của chủ hộ Biến "sonhankhau" đại diện cho số người trong gia đình, và biến "nnghiep" phân loại nghề nghiệp thành hai nhóm: trồng trọt, chăn nuôi được mã hóa là 1, và các nghề khác được mã hóa là 0.

Tietkiem Số tiền tiết kiệm hàng tháng hộ ? skhoe Sức khỏe (tốt = 1, không tốt = 0) ? thamgiadaotao Tham gia đào tạo (có = 1, không = 0) +

3.4.2.1 Chọn điểm điều tra Đề tài chọn ra 08 xã mang tính đặc trưng nông thôn, tập trung chủ yếu sản xuất nông nghiệp của huyện là 08 xã để nghiên cứu (xã Sông Trầu, Hưng Thịnh, Tây Hòa, Thanh Bình, Trung Hòa, Cây Gáo, Đồi 61, Sông Thao) Các xã này có diện tích chiếm 59,8%, dân số chiếm 39,8% và đại diện cho tình hình sản xuất nông nghiệp của huyện

3.4.2.2 Phương pháp thu dữ liệu sơ cấp

Dữ liệu sơ cấp được thu thập qua phỏng vấn trực tiếp nông hộ bằng bảng câu hỏi đã được thiết kế sẵn Điều tra viên sẽ đến nhà và phỏng vấn chủ hộ hoặc người đại diện của hộ gia đình Bảng câu hỏi sẽ giới thiệu mục đích của cuộc phỏng vấn, yêu cầu phỏng vấn và cam kết bảo mật thông tin.

Mẫu điều tra gồm 160 nông hộ, được chọn ngẫu nhiên từ danh sách hộ gia đình tại UBND xã Phương pháp chọn mẫu sử dụng bước nhảy 1:20, tức là khảo sát 1 hộ bỏ qua 20 hộ tiếp theo.

20 hộ và khảo sát tiếp, cứ thực hiện như thế cho đến khi đảm bảo đủ kích cỡ mẫu phục vụ nghiên cứu.

Điều kiện tự nhiên

Huyện Trảng Bom có vị trí địa lý thuận lợi trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, với thị trường mạnh mẽ, tiềm lực vốn và khoa học công nghệ phát triển cùng hệ thống cơ sở hạ tầng tốt Dân số đông, với nguồn lao động chiếm trên 66,3% tổng dân số Huyện được thành lập từ việc tách huyện Thống Nhất theo Nghị định 97/2003/NĐ.CP, với tổng diện tích tự nhiên 32.541 ha, chiếm 5,52% diện tích toàn tỉnh Địa hình huyện Trảng Bom chủ yếu là đồi thấp, cao độ giảm dần từ Bắc xuống Nam, được chia thành ba khu vực: khu vực thấp phía Nam ven Quốc lộ 1A, khu vực cao phía Bắc, và khu vực trung bình phía Bắc Quốc lộ 1A.

Ranh giới hành chính huyện Trảng Bom, được xác định như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Vĩnh Cửu

- Phía Nam giáp huyện Long Thành

- Phía Tây giáp TP Biên Hòa

- Phía Đông giáp huyện Thống Nhất

Huyện có 17 đơn vị hành chính, bao gồm 16 xã và 1 thị trấn, với tổng dân số đạt 295.703 người và 72.727 hộ gia đình Trong đó, đồng bào có đạo chiếm 63,4% dân số, với tỷ lệ người theo đạo Công giáo là 52,65%, Phật giáo 10,14% và Tin Lành 0,33%.

Điều kiện xã hội

Huyện Trảng Bom hiện có 04 khu công nghiệp (KCN) tập trung gồm Hố Nai 3, Sông Mây, Giang Điền và Bàu Xéo, với 168 dự án đầu tư tổng vốn đạt 2,031 tỷ USD Ngoài ra, huyện cũng phát triển 04 cụm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tại Hố Nai 3, Hưng Thịnh, Thanh Bình và An Viễn, mỗi cụm có quy mô từ 35-50 hecta Đặc biệt, cụm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Hố Nai 3 đã lấp đầy 100% diện tích.

Lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp hiện đạt trên 100.000 người, với cơ cấu lao động công nghiệp chiếm 61,7%, tăng 1,4% so với năm 2011 Giá trị sản xuất ngành này ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 15% mỗi năm trong giai đoạn 2011-2015, trong đó công nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và công nghiệp địa phương đều tăng bình quân 15% và 15,1% mỗi năm Tỷ trọng của công nghiệp địa phương cũng dần tăng lên, đạt 9,4% Các ngành sản xuất như thủ công mỹ nghệ, chế biến gỗ, cơ khí, chế biến nông sản, thực phẩm, dệt may, nguyên liệu giấy và sản xuất gạch nung đang phát triển mạnh mẽ.

Huyện hiện có khoảng 520 doanh nghiệp thương mại và dịch vụ, cùng với 15.600 hộ kinh doanh cá thể đang hoạt động Ngành dịch vụ ghi nhận mức tăng trưởng bình quân 16,4%/năm trong giai đoạn 2011-2015, trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tăng trung bình 18,7%/năm Kinh tế ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 95,9%, trong khi kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chỉ chiếm 0,74%.

Thị trường hàng hóa tại huyện rất phong phú, đáp ứng nhu cầu mua sắm của người dân Hiện tại, huyện có 13 trong số 24 chợ theo quy hoạch đã được đầu tư đạt chuẩn, bao gồm 5 chợ loại 2 và 8 chợ loại 3, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu của cộng đồng.

Hoạt động du lịch tại các khu vực như sân golf, thác Giang Điền và thác đá Hàn diễn ra sôi nổi vào các dịp lễ như 30/4, 1/5, Tết Nguyên Đán và lễ Quốc Khánh 2/9 Những địa điểm này thu hút hơn 350.000 lượt du khách đến tham quan và vui chơi giải trí mỗi năm.

Hiện trạng đào tạo nghề nông nghiệp

Trong giai đoạn 2010-2016 huyện Trảng Bom đã tổ chức dạy nghề nông nghiệp cho 1.096 người Phân theo nhóm đối tượng được hỗ trợ:

+ Nhóm laođộng diện chính sách: Có 364 người

+ Nhóm lao động khác: Có 732 người

- Số người tốt nghiệp các khóa đào tạo: 1.054 người, trong số người tốt nghiệp sau khoá học có việc làm là 1.047 người, chiếm tỷ lệ 99,3%.Trong đó:

Trong số lượng người tham gia, 107 người (25,92%) tự giải quyết việc làm bằng cách tạo ra việc làm mới Có 25 người (18,76%) làm việc tại các cơ sở sản xuất và doanh nghiệp Đặc biệt, 915 người (52,08%) làm việc tại hộ gia đình nhằm nâng cao thu nhập.

- Số người thuộc hộ nghèo, sau học nghề có việc làm, thu nhập đã thoát nghèo là 6 người

- Số người thuộc hộ thu nhập trung bình, sau học nghề trở thành hộ có thu nhập khá là 8 người

Tỷ lệ người lao động trong độ tuổi làm việc đạt 96,1% (196.622/204.612), cho thấy sự tham gia cao trong lực lượng lao động Đặc biệt, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề đạt 46,86%, cho thấy sự chú trọng vào việc nâng cao kỹ năng Bên cạnh đó, thời gian sử dụng lao động tại khu vực nông thôn cũng rất ấn tượng, đạt trên 96,7%.

Thu nhập

Trong giai đoạn 2011-2015, huyện ghi nhận tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân đạt 13,1% mỗi năm Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theo hướng tích cực và phát triển toàn diện, với tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng đạt 68,94%, dịch vụ 25,23% và nông nghiệp 5,83% Đến năm 2016, thu nhập bình quân đầu người đạt 52,5 triệu đồng.

Huyện Trảng Bom đã tích cực quy hoạch và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong trồng trọt, hình thành 13 vùng sản xuất tập trung với 8 loại cây trồng chính như tiêu, cà phê, điều, chuối, mía, lúa, bắp, và mỳ trên tổng diện tích 12.717ha Mặc dù diện tích đất nông nghiệp giảm từ 150-200 ha mỗi năm do chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp phục vụ phát triển công nghiệp và xây dựng cơ sở hạ tầng, nhưng giá trị sản xuất vẫn duy trì mức tăng trưởng bình quân hàng năm trên 3,9%.

Giá trị ha đất trồng trọt và nuôi trồng thủy sản đạt 110,6 triệu đồng, tăng 39,5 triệu đồng/ha so với năm 2011 Nhiều diện tích có giá trị thu nhập từ 500-800 triệu đồng/ha/năm Huyện đã triển khai mô hình chuỗi liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, như dự án cánh đồng lớn tại xã An Viễn và mô hình cánh đồng lúa chất lượng cao tại xã Sông Thao Những mô hình này không chỉ giải quyết đầu ra cho sản phẩm mà còn tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương.

Huyện đang tái cơ cấu ngành chăn nuôi từ quy mô nhỏ lẻ sang phát triển chăn nuôi trang trại, tận dụng nguồn nguyên liệu dồi dào và thị trường tiêu thụ rộng lớn Đồng thời, huyện duy trì chăn nuôi nông hộ theo hình thức công nghiệp và ứng dụng công nghệ cao Huyện khuyến khích các tổ chức sản xuất khép kín, liên kết các khâu trong chuỗi giá trị nhằm cắt giảm chi phí và tăng hiệu quả Hiện tại, huyện có 483 trang trại, tăng 105 trang trại so với năm 2011, với tổng đàn gồm 4.358 con trâu, bò, 264.337 con heo và 3.014.327 con gia cầm.

Thống kê mô tả

Nghiên cứu về thông tin chủ hộ nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, đã chỉ ra các yếu tố như giới tính, độ tuổi và trình độ học vấn của họ, được thể hiện qua hình 5.1 và bảng 5.1.

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Hình 5.1 Đặc điểm giới tính của chủ hộ trong mẫu khảo sát

Kết quả khảo sát tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai cho thấy giới tính của chủ hộ nông dân chủ yếu là nam, với 126 trong số 160 hộ được khảo sát, chiếm 78,75%.

; với nữ chủ hộ là 34 người, chiếm tỷ lệ là 21,25%

Thông tin về độ tuổi và trình độ học vấn của các chủ hộ nông dân tại huyện Trảng Bom được khảo sát và trình bày trong bảng 5.1 dưới đây.

Bảng 5.1: Tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ nông dân

Chỉ tiêu Quan sát Trung bình Độ lệch chuẩn Nhỏ nhất Lớn nhất

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Bảng 5.1 cho thấy tuổi chủ hộ nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai có sự phân bổ đồng đều, với độ tuổi từ 25 đến 65, trung bình là 42,73 và độ lệch chuẩn 9,51 Điều này cho thấy tuổi của chủ hộ nông dân tương đối thấp Về trình độ học vấn, chủ hộ nông dân có số năm học từ 1 đến 12, với mức trung bình là 8,12 và độ lệch chuẩn 2,80, cho thấy trình độ học vấn của họ cũng tương đối thấp và phân bố đều giữa các hộ.

Bài viết này cung cấp thông tin về đặc điểm của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom, bao gồm số lượng thành viên, tổng tài sản và diện tích sản xuất, được trình bày chi tiết trong bảng 5.2.

Bảng 5.2: Mô tả đặc điểm của hộ

Trung bình Độ lệch chuẩn

Diện tích đất sản xuất

Tài sản (Triệu đồng) 160 211,50 131,66 85 972 Thu nhập (Triệu đồng/tháng) 160 9,67 2,47 5,00 18,00

Chi tiêu (Triệu đồng/tháng) 160 5,82 1,26 3,60 9,90

Tiết kiệm (Triệu đồng/tháng) 160 3,53 2,39 0 16,20

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ Bảng 5.2 cho thấy, số thành viên trong gia đình của các hộ nông dân dao động từ 1 đến 12 người, với trung bình là 4,05 người và độ lệch chuẩn thấp 1,56, cho thấy sự phân bổ đều giữa các hộ Về diện tích đất sản xuất, hộ nhỏ nhất có 110 m² và lớn nhất là 50.000 m², trung bình đạt 4.529 m² với độ lệch chuẩn cao 8.032, cho thấy sự không đồng đều và diện tích tương đối thấp Tổng giá trị tài sản của các hộ cũng khá đa dạng, với giá trị thấp nhất là 85 triệu đồng và cao nhất là 972 triệu đồng, trung bình đạt 211,50 triệu đồng và độ lệch chuẩn thấp 131,66, cho thấy sự phân bổ tài sản khá đồng đều Điều này cho thấy rằng các hộ nông dân mặc dù có diện tích đất sản xuất thấp nhưng vẫn sở hữu giá trị tài sản lớn, có thể do tài sản hình thành từ nguồn khác ngoài đất sản xuất hoặc các loại tài sản có giá trị khác.

Thu nhập của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom khá cao, với mức thấp nhất là 5 triệu đồng/tháng và cao nhất lên đến 18 triệu đồng/tháng, trung bình đạt 9,67 triệu đồng/tháng và độ lệch chuẩn chỉ 9,57 Điều này cho thấy thu nhập được phân bổ đồng đều giữa các hộ Nguyên nhân chính dẫn đến thu nhập cao là do sự đa dạng trong nguồn thu, bao gồm tiền lương của các thành viên trong hộ và thu nhập từ sản xuất nông nghiệp Sự ổn định và cao của thu nhập này ảnh hưởng tích cực đến việc hình thành giá trị tài sản của các hộ nông dân.

Chi tiêu của các hộ nông dân dao động từ 3,60 triệu đồng/tháng đến 9,90 triệu đồng/tháng, với mức trung bình là 5,82 triệu đồng/tháng và độ lệch chuẩn 1,26, cho thấy sự đồng đều trong chi tiêu Điều này có thể do hầu hết các hộ nông dân khảo sát có thu nhập cao, cho phép họ chi tiêu thoải mái Ngoài ra, các hộ cũng có một khoản tiết kiệm, tuy nhiên số tiền này không nhiều, với mức tiết kiệm thấp nhất là 0 triệu đồng/tháng và cao nhất là 16,20 triệu đồng/tháng, trung bình là 3,53 triệu đồng/tháng và độ lệch chuẩn 2,39 Nguyên nhân cho việc tiết kiệm thấp có thể là do các hộ thường sử dụng thu nhập để đầu tư vào tài sản hoặc do mức chi tiêu cao.

Những thông tin về nghề nghiệp của hộ tham gia sản xuất kinh doanh tạo nguồn thu nhập cho hộ tại huyện Trảng Bom, thể hiện qua hình 5.2 sau

Hình 5.2: Nghề nghiệp của hộ nông dân

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ hình 5.2 cho thấy, trong số các hộ nông dân tham gia sản xuất kinh doanh tại huyện Trảng Bom, có 74 hộ (46,25%) hoạt động trong lĩnh vực trồng trọt, 62 hộ (38,75%) chăn nuôi, 23 hộ (14,38%) tự kinh doanh, và chỉ 1 hộ (0,63%) làm công ăn lương Điều này cho thấy trồng trọt và chăn nuôi là hai ngành nghề chủ yếu tạo nguồn thu nhập cho các gia đình nông dân Tỷ lệ hộ làm công ăn lương thấp có thể do điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế xã hội của địa phương Các hộ nông dân tham gia vào những ngành nghề này không chỉ tăng thu nhập mà còn cải thiện đời sống gia đình, góp phần ổn định tình hình kinh tế xã hội tại địa phương.

5.1.3 Thực trạng về việc đào tạo nghề

Sau đây là những thông tin về việc tham gia đào tạo các nghề cho các thành viên trong hộ, được thể hiện qua bảng 5.3 dưới đây

Bảng 5.3: Thực trạng về việc tham đào tạo nghề của hộ

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Theo Bảng 5.3, trong số 160 hộ, có 90 hộ tham gia đào tạo nghề, chiếm tỷ lệ 56,25%.

Trong tổng số hộ gia đình, có 70 hộ không tham gia đào tạo nghề, chiếm 43,75% Trong số hộ tham gia đào tạo, nam giới chiếm 70% trong khi nữ giới chỉ chiếm 20%, cho thấy nam giới là chủ hộ tham gia đào tạo nhiều hơn Việc tham gia đào tạo nghề không chỉ nâng cao nhận thức về ngành nghề kinh tế gia đình mà còn cải thiện sản xuất và thu nhập, từ đó nâng cao đời sống cho hộ gia đình So với nam giới, tỷ lệ nữ giới tham gia đào tạo nghề nông nghiệp vẫn còn thấp, chỉ đạt 40% trong giai đoạn 2012-2016 Hình 5.3 dưới đây mô tả ngành nghề được tham gia đào tạo của các hộ nông dân tại huyện Trảng Bom.

Hình 5.3: Ngành nghề được đào tạo

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Theo hình 5.3, trong số các hộ tham gia đào tạo nghề tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, nghề chăn nuôi gia súc có 41 hộ, chiếm 25,63%; chăn nuôi gia cầm có 40 hộ, chiếm 25,00%; trồng cây công nghiệp cũng có 40 hộ, chiếm 25,00%; và trồng cây ăn trái có 39 hộ, chiếm 24,38% Nhìn chung, tỷ lệ tham gia đào tạo giữa các ngành nghề này là khá đồng đều.

Mô tả về việc đánh giá chất lượng đào tạo nghề cho hộ nông dân trên địa bàn huyện Trảng Bom được thể hiện qua bảng 5.4 sau

Bảng 5.4: Đánh giá chất lượng đào tạo nghề của hộ nông dân

Chất lượng đào tạo Tần suất Tỷ lệ (%)

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả từ Bảng 5.4 cho thấy đánh giá của các hộ nông dân về chất lượng đào tạo nghề tại địa phương có sự phân hóa rõ rệt Cụ thể, 7 hộ (4,38%) đánh giá rất kém và 23 hộ (14,38%) đánh giá kém, có thể do sự không phù hợp giữa chương trình đào tạo và đặc điểm kinh tế của hộ Ngược lại, 26 hộ (16,25%) đánh giá chất lượng đào tạo ở mức trung bình, trong khi 74 hộ (46,25%) cho rằng chất lượng đào tạo là tốt và 30 hộ (18,75%) đánh giá rất tốt Nguyên nhân chính cho những đánh giá tích cực này có thể là do chương trình đào tạo phù hợp với nhu cầu và điều kiện sản xuất của từng hộ, từ đó giúp cải thiện kinh tế, thu nhập và đời sống gia đình.

Chương trình đào tạo nghề cho hộ nông dân tại huyện Trảng Bom đang được đánh giá dựa trên sự phù hợp với nhu cầu của nông dân, mức độ am hiểu của họ về chương trình, cũng như lợi ích mà chương trình mang lại Những lợi ích này bao gồm khả năng áp dụng kiến thức vào sản xuất thực tế và sự hỗ trợ tư vấn sau đào tạo Các thông tin chi tiết được thể hiện qua bảng 5.5.

Bảng 5.5: Thực trạng về chương trình đào tạo

Chỉ tiêu Tần suất Tỷ lệ (%)

Chương trình đào tạo phù hợp Không 67 41,87

Am hiểu về chương trình Không 49 30,63

Tổng 160 100,00 Áp dụng vào sản xuất Không 58 36,25

Lợi ích của chương trình đào tạo Không 57 35,63

Tư vấn hỗ trợ sau đào tạo Không 69 43,13

Nguồn: Xử lý số liệu điều tra huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả khảo sát cho thấy, 41,87% hộ nông dân đánh giá chương trình đào tạo nghề không phù hợp, trong khi 58,13% cho rằng chương trình phù hợp Đáng chú ý, 69,37% hộ nông dân hiểu rõ về chương trình, nhưng 36,25% cho rằng chương trình không thể áp dụng vào sản xuất, ngược lại, 63,75% nhận định chương trình có thể cải thiện đời sống Về lợi ích, 35,63% hộ nông dân cho rằng chương trình không mang lại lợi ích trong sản xuất kinh doanh, trong khi 64,37% đánh giá chương trình đem lại nhiều lợi ích thiết thực Tóm lại, sự không phù hợp của nội dung, hình thức và phương pháp đào tạo có thể là nguyên nhân khiến nhiều hộ nông dân tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai không tham gia vào các khóa đào tạo nghề nông nghiệp.

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia đào tạo nghề của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

5.2.1 Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu

Cuộc khảo sát với 160 nông hộ tại 8 xã huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai đã thu thập dữ liệu về nhiều yếu tố quan trọng Các yếu tố nghiên cứu bao gồm trình độ học vấn, giới tính, tuổi tác của chủ hộ, lĩnh vực nghề nghiệp, sức khỏe, khả năng tiếp cận vốn, sự am hiểu về chương trình đào tạo, và nhận thức về lợi ích từ chương trình đào tạo Đơn vị đo lường cho các biến này được trình bày chi tiết trong Bảng 5.6.

Bảng 5.6 Thống kê mô tả các biến trong mẫu khảo sát

Tên biến Diễn giải Trung bình Độ lệch chuẩn

Bài viết cung cấp thông tin về các yếu tố liên quan đến chủ hộ trong chương trình đào tạo Tỷ lệ tham gia đào tạo là 56%, với trình độ học vấn trung bình là 8,11 năm Giới tính của chủ hộ chủ yếu là nam (79%), độ tuổi trung bình là 42,73, và 71% làm nghề trồng trọt hoặc chăn nuôi Về sức khỏe, 81% cho biết tình trạng sức khỏe tốt, trong khi chỉ có 32% tiếp cận được vốn vay Hơn nữa, 69% chủ hộ hiểu biết về chương trình đào tạo, và 64% nhận thức được lợi ích từ chương trình này.

Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 56% hộ tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp Chủ hộ có trình độ học vấn trung bình là 8,12 năm, trong đó nam giới chiếm 79% và nữ giới chiếm 21% Độ tuổi trung bình của chủ hộ là 42,73 tuổi Hầu hết nông hộ tham gia sản xuất trồng trọt và chăn nuôi, chiếm tỷ lệ 71%, trong khi khoảng 29% còn lại làm cây công nghiệp hoặc làm thuê Tình trạng sức khỏe của các hộ trong thời gian qua được đánh giá là khá tốt.

Trong huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 81% hộ gia đình có sức khỏe tốt đủ điều kiện tham gia sản xuất, tuy nhiên chỉ khoảng 32% hộ có khả năng tiếp cận tín dụng vay vốn Mức độ hiểu biết về chương trình đào tạo nghề nông nghiệp và nhận thức về lợi ích của chương trình này của hộ gia đình khá cao, đạt trên 60% Để kiểm định các yếu tố này ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ, tác giả áp dụng mô hình hồi quy Binary logistic.

5.2.2 Kết quả ước lượng các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

Kết quả ước lượng mô hình hồi quy Binary logistic thể hiện ở Bảng 5.7 sau đây

Bảng 5.7 Kết quả mô hình hồi quy Binary logistic

Tên biến Diễn giải Hiệu ứng biên

Hocvan Trình độ học vấn 0,074 *** 0,001 0,030

Gioitinh Giới tính chủ hộ -0,062 0,615 0,303

Tuoi Tuổi chủ hộ 0,003 0,613 0,009 nnghiep Nghề nghiệp 0,624 *** 0,000 0,483 skhoe Sức khỏe 0,153 0,305 0,140 tiepcanvon Tiếp cận vốn vay 0,466 *** 0,000 0,310 amhieu Am hiểu về chương trình đào tạo 0,389 *** 0,001 0,163 loiich

Nhận thức được lợi ích từ chương trình đào tạo 0,232 * 0,054 0,003

Xác suất dự báo trúng (%) 78,75

Ghi chú: * ; *** tương ứng với các mức ý nghĩa 10% và 1%

Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017

Trước khi ước lượng mô hình thực nghiệm cho các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, các kiểm định đa cộng tuyến và phương sai sai số thay đổi đã được thực hiện và khắc phục để đảm bảo độ tin cậy của mô hình Kiểm định đa cộng tuyến được thực hiện qua hồi quy gốc với hệ số VIF = 1,17, cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến Kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng phương pháp Breusch-Pagan cho kết quả chi2(1) = 0,01 và Prob > chi2 = 0,933, chấp nhận giả thiết H0, tức là có hiện tượng phương sai sai số thay đổi Sau khi khắc phục hiện tượng này bằng vòng lặp robustness, mô hình Binary Logistic được ước lượng lại với kết quả Wald chi2(9) = 61,48 và Pro > chi2 = 0,000, bác bỏ giả thiết H0 ở mức ý nghĩa 1% Điều này cho thấy các yếu tố trong mô hình có thể giải thích khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai, với tỷ lệ dự báo của mô hình đạt 78,75%, cho thấy mô hình phù hợp và có khả năng dự báo tốt.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 8 biến được đưa vào mô hình, có 5 biến có tác động thống kê đáng kể đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, bao gồm trình độ học vấn, nghề nghiệp, tiếp cận vốn vay, am hiểu về chương trình và nhận thức về lợi ích từ chương trình Tất cả các biến này đều có tác động tích cực đến khả năng tham gia, với hầu hết các biến đạt ý nghĩa thống kê ở mức 1%, ngoại trừ biến nhận thức về lợi ích đạt mức 10% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Công Toàn và Bùi Lan Anh (2014), cũng như nghiên cứu của Phạm Đức Thuần và Dương Ngọc Thành về tác động của thu nhập đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp.

Nghiên cứu của Nguyễn Quang Tuyến và Nguyễn Hữu Lộc (2014) chỉ ra rằng có năm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp, với hệ số tác động biên (dy/dx) được sử dụng để đo lường Trong đó, yếu tố nghề nghiệp (nnghiep) có tác động mạnh nhất với hệ số 0,624, cho thấy nếu nghề nghiệp trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi tăng lên 1 đơn vị, khả năng tham gia chương trình sẽ tăng 62,4% Tiếp theo là tiếp cận vốn vay (tiepcanvon) với hệ số 0,466, nghĩa là nếu số hộ vay vốn tăng 1 hộ, khả năng tham gia sẽ tăng 46,6% Yếu tố am hiểu về chương trình (amhieu) có hệ số 0,389, cho thấy sự hiểu biết giúp tăng khả năng tham gia lên 38,9% Nhận thức về lợi ích từ chương trình có hệ số 0,232, và trình độ học vấn với hệ số 0,074 cũng ảnh hưởng đến khả năng tham gia Tóm lại, nghề nghiệp là yếu tố quyết định nhất trong việc tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Ảnh hưởng của đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ trên địa bàn huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

5.3.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai Để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố đến thu nhập của nông hộ, tác giả ước lượng mô hình hồi quy đa biến Các biến độc lập đưa vào mô hình nghiên cứu bao gồm các đặc điểm kinh tế xã hội của hộ như: trình độ học vấn (hocvan), tuổi của chủ hộ (Tuoi), số nhân khẩu của hộ (sonhankhau), nghề nghiệp của hộ (nnghiep), số tiền tiết kiệm hộ (tietkiem)và tình trạng sức khỏe của hộ (skhoe) Bên cạnh đó, để xem xét chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có tác động đến thu nhập của hộ hay không, biến tham gia đào tạo (thamgiadaotao) cũng được đưa vào mô hình nghiên cứu để kiểm định Kết quả ước lượng mô hình thể hiện ở Bảng 5.8 Sau đây

Bảng 5.8 Kết quả ước lượng mô hình hồi quy đa biến

Tên biến Diễn giải Hệ số Giá trị P

Sai số chuẩn hocvan Trình độ học vấn 83,659 0,149 57,736 tuoi Tuổi chủ hộ 34,911 0,041 16,903 sonhankhau Số người trong gia đình -367,954 *** 0,000 101,185 nnghiep Nghề nghiệp -596,862 0,113 374,679

Tietkiem Số tiền tiết kiệm hàng tháng hộ 0,720 *** 0,000 0,063 skhoe Sức khỏe -953,035 0,018 397,367 thamgiadaotao Tham gia chương trình đào tạo nghề 935,254 *** 0,008 345,463

Ghi chú: *** tương ứng với các mức ý nghĩa 1%

Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến cho thấy hệ số VIF = 1,26, nhỏ hơn 5, điều này chứng tỏ không có hiện tượng đa cộng tuyến Thêm vào đó, kiểm định Breusch-Pagan cho thấy giá trị kiểm định chi2(1) = 7,29 với Prob > chi2 = 0,0069, nhỏ hơn 1%, vì vậy chúng ta bác bỏ giả thiết.

Mô hình nghiên cứu cho thấy không có hiện tượng phương sai sai số thay đổi, với giá trị kiểm định F (7, 152) = 22,25 và Sig = 0,000, cho thấy mô hình có ý nghĩa ở mức 1% Hệ số R² = 0,5061 cho biết các biến độc lập giải thích 50,61% thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Phần trăm giải thích còn lại do các yếu tố khác ngoài mô hình, như thiên tai, lũ lụt, thị trường tiêu thụ, sâu bệnh, và khó bảo quản sản phẩm sau thu hoạch Do đó, mô hình được sử dụng trong nghiên cứu này là chấp nhận được.

Kết quả mô hình hồi quy đa biến cho thấy trong 7 biến độc lập, có 3 biến tác động có ý nghĩa thống kê đến thu nhập của hộ, bao gồm số nhân khẩu, tiết kiệm và tham gia chương trình đào tạo nông nghiệp Biến số nhân khẩu có mối tương quan nghịch với thu nhập, tác động có ý nghĩa ở mức 1%, do nhiều hộ có thành viên không trong độ tuổi lao động Ngược lại, biến tiết kiệm và tham gia chương trình đào tạo nông nghiệp đều có tác động tích cực đến thu nhập, với mức ý nghĩa 1% Cụ thể, tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có hệ số tác động mạnh nhất, 935,254, nghĩa là mỗi hộ tham gia sẽ giúp thu nhập tăng khoảng 935 triệu đồng Biến tiết kiệm có hệ số 0,720, cho thấy mỗi 1 ngàn đồng tiết kiệm sẽ làm thu nhập tăng 0,720 ngàn đồng, phản ánh thực tế rằng hiệu quả sản xuất cao sẽ dẫn đến tích lũy và tăng thu nhập.

5.3.2 Kiểm định tác động của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp đối với thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai

Kết quả từ mô hình hồi quy đa biến cho thấy có sự ảnh hưởng giữa việc tham gia chương trình đào tạo nghề và thu nhập của hộ Để kiểm tra độ tin cậy của hiệu quả này, chúng tôi thực hiện kiểm định tác động của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp đến thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai Kiểm định này so sánh các đặc điểm kinh tế xã hội của hai nhóm nông hộ tham gia và không tham gia chương trình, mang lại độ tin cậy cao hơn so với việc kiểm định sự khác biệt về thu nhập giữa hai nhóm độc lập Kết quả kiểm định được trình bày trong Bảng 5.9.

Bảng 5.9: Kết quả kiểm định

Thunhap Hệ số Sai số chuẩn Giá trị P

Nguồn: Tác giả xử lý từ số liệu khảo sát tại huyện Trảng Bom tỉnh Đồng Nai, 2017

Kết quả kiểm định độ tin cậy cho thấy, hộ tham gia chương trình đào tạo nghề nông nghiệp có thu nhập gia tăng trung bình 950 ngàn đồng/hộ so với hộ không tham gia, với mức ý nghĩa thống kê 10% (P = 0,073) Chênh lệch này gần tương đương với giá trị ước lượng 935,254 ngàn đồng từ mô hình hồi quy đa biến, cho thấy độ tin cậy cao của kết quả Chúng ta có thể áp dụng mô hình này cùng với kết quả kiểm định để đánh giá tác động thực tế của chương trình đào tạo nghề nông nghiệp đối với thu nhập của nông hộ tại huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

Ngày đăng: 20/06/2021, 17:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm