Trang phục cũng có chức năng tăng thẩm mỹ, làm đẹp cho con người cũng như thể hiện được nền văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc.. Nét sơ khai của trang phục Từ thời tiền sử, con người
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
KHOA QHCC VÀ TRUYỀN THÔNG
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
TRANG PHỤC VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI
GVHD: Nguyễn Thị Lệ Hằng
SV thực hiện: PHẠM KIỀU HÂN MSSV: 207QC17187
Lớp: 202_DXH0060_13 – K26PR19
Ngày 12 tháng 5 năm 2021
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN LANG
KHOA QHCC VÀ TRUYỀN THÔNG
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN
CƠ SỞ VĂN HÓA VIỆT NAM
TRANG PHỤC VIỆT NAM QUA CÁC THỜI ĐẠI
GVHD: Nguyễn Thị Lệ Hằng
SV thực hiện: PHẠM KIỀU HÂN MSSV: 207QC17187
Lớp: 202_DXH0060_13 – K26PR19
Ngày 12 tháng 5 năm 2021
Trang 31 Khái niệm
Trang phục là cách ăn mặc của con người như quần, áo, váy, mũ, nón Với các chức năng chính như bảo vệ cơ thể giúp con người chống chọi với thời tiết bên ngoài Trang phục cũng có chức năng tăng thẩm mỹ, làm đẹp cho con người cũng như thể hiện được nền văn hóa của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc
2 Nguồn gốc của trang phục
Trang phục xuất hiện là một bước ngoặt đánh dấu sự phát triển của loài người Lúc đầu trang phục chỉ để che chắn cho cơ thể, bảo vệ cơ thể trước thời tiết khắc nghiệt Giờ đây, trang phục còn là nhu cầu thiết yếu về thẩm mỹ
và làm đẹp cho con người Trang phục liên quan đến rất nhiều lĩnh vực trong cuộc sống như: lịch sử, kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, môi trường Vì thế, trang phục phải luôn được cải tiến để phù hơp với hoàn cảnh lịch sử và đời sống của con người
3 Các thời kì phát triển trang phục
- Giai đoạn tiền sử: nét sơ khai của trang phục
- Do cuộc sống thường nhật lao động khó khăn dẫn đến sự xuất hiện của khố, yếm, váy, áo cánh
- Trang phục của người dân Nam Bộ
- Sự ra đời của áo dài
1 Nét sơ khai của trang phục
Từ thời tiền sử, con người chỉ dùng lá cây, vỏ cây để che chắn những bộ phận nhạy cảm để chống chọi lại với thời tiết Nhưng từ thời đại nước Văn Lang trở đi, họ biết săn bắt, hái lượm, trồng trọt và đặc biệt là công việc trồng lúa nước đã ảnh hưởng rất lớn về trang phục của họ Họ trồng đay, gai, nuôi tằm, ươm tơ dệt vải để tự tạo cho mình trang phục và nó đã phát triển qua từng thời đại
Trang 42 Trang phục vào ngày lao động
mặc đó được bảo lưu một cách kiên trì cho tới giữa thế kỉ này Váy
là đồ mặc diển hình của cả vùng Đông Nam Á và phổ biến đến mức, ở một số dân tộc, không chỉ phụ nữ, mà cả nam giới cũng mặc váy Sở dĩ như vậy vì mặc váy không những thoáng mát, ứng phó hiệu quả với thời tiết nóng bức, mà còn rất phù hợp với công
việc lúa nước – nền nông nghiệp rất phát triển tại thời điểm đó Nữ giới thời điểm đó có ít nhất hai kiểu váy: váy kín (váy chui) hoặc váy mở (váy quấn) Các loại váy này đều được mặc ngắn đến gối Đôi khi, các cô có thể mặc thêm đệm váy được trang trí thả trước bụng và sau mông Với phụ nữ tầng lớp cao hơn thì thường sẽ mặc chiếc váy kín (váy chui) được trang trí nổi bật, cầu kì hơn và buôn chùng đến gót chân Chiếc đệm váy có hình chữ nhật cũng có trang trí thả trước bụng và sau mông
trang phục không thể thiếu của người phụ nữ Việt Nam Yếm có hình vuông vắt chéo trước ngực, góc
Trang 5trên khoét lỗ làm cổ, hai đầu của lỗ đính dây và cột ra sau gáy, thường thì sẽ do phụ nữ tự cắt – may – nhuộm lấy Yếm cũng có rất nhiều kiểu và màu sắc phong phú Nếu cổ tròn là yếm cổ xây, cổ nhọn đầu hình chữ V gọi là yếm cổ xẻ, đít chữ V mà sẻ sâu xuống gọi yếm cổ cánh nhạn Yếm còn chia ra các màu sắc khác nhau phù hợp với các công việc sinh hoạt như: yếm nâu để mặc đi làm
thường ngày ở nông thôn, yếm trắng mặc thường ngày ở thành thị; yếm hồng, yếm đào, yếm thắm mặc vào những ngày lễ hội Yếm
nó đã trở thành biểu tượng của sự nữ tính ( khi giặt phải phơi ở chỗ kín đáo) và tình yêu và nó xuất hiện ở một số câu ca dao:
“ Ước gì sông rộng môt gang Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi “
vải dài quấn một hoặc nhiều vòng quanh bụng và luồn từ trước ra sau Khố mặc khá thoáng mát phù hợp với khí hậu nóng bức và
dễ thao tác trong lao động
nhập mạnh vào Việt Nam và nam giới là người tiếp thu nó sớm
Trang 6nhất Họ đã cải tiến nó một cách linh hoạt thành quần lá tọa Đó
là một thứ quần có ống rộng và thẳng, đũng sâu, cạp quần to bản Khi mặc người ta buộc dây thắt lưng ra ngoài rồi thả phần cạp thừa phía trên rủ xuống ra ngoài thắt lưng Quần lá tọa là một sản phẩm rất sáng tạo và linh hoạt phù hợp với thời tiết oi bức của nước ta
thường mặc áo ngắn có hai túi phía dưới, có thể xẻ tà hai bên hông hoặc bít tà Người ngoài miên Bắc thì gọi là áo cánh, trong Nam gọi là áo bà ba Áo có đính cúc nhưng phụ nữ khi mặc thường xuyên sẽ không cài vừa để cho mát, vừa để hở lấp
ló chiếc áo yếm bên trong rất duyên dáng
3 Trang phục vào dịp lễ hội
Nhìn chung thì quần áo khi lao động vào những ngày thường rất gọn gàng, thoáng mát, nhưng khi đến dịp lễ hội thì quần áo của người Việt khá là tươm tất, cầu kì, và độc đáo
hoặc dép Chiếc áo dài của nam giới: cổ đứng, có lá sen, viền tà, gấu
to, dài quá gối Áo dài thường màu đen, chất liệu là lương, the hoặc đối với người khá giả hơn thế thì thì áo dài sẽ được may hai lớp Lớp ngoài thì sẽ may bằng lương hoặc the, bên trong sẽ lót bằng lụa mỏng màu xanh cốm, xanh lá gọi là áo kép
Trang 7 Đối với phụ nữ: áo tư thân hoặc áo năm thân
Áo tứ thân may từ bốn mảnh vải, hai mảnh sau ghép liền ở giữa sống lưng, hai tà đằng trước khi mặc bỏ buông hoặc buộc thắt vào nhau Hai thân trước được buộc lại với nhau để thõng xuống thành hai tà áo ở
giữa, nên không cần cài khuy khi mặc Về ý nghĩa thì bốn thân áo tương trưng cho tứ thân phụ mẫu, hai
tà trước buộc lại với nhau tượng trưng cho tình nghĩa vợ chồng gắn bó, khăng khít bên nhau Áo ngũ thân cũng tương tự như cách may của áo tứ thân, chỉ
có điều vạt trước phía trái may ghép từ hai thân vải, thành ra rộng gấp đôi vạt phải, để bên ngoài, gọi là vạt cả, đè lên vạt phải để ở bên trong gọi là vạt con
Nhưng khi vào dịp hội hè, phụ nữa xưa hay mặc áo lối mớ ba, mớ bảy, tức là mặc nhiều áo cánh lồng vào nhau Ở Nam Bộ, nơi khí hậu nóng quan năm, “áo mớ” sẽ được thay bằng “áo cặp” Trong lễ hội, thì các chị em phụ nữ mặc những chiếc áo mớ ba, mớ bảy gồm nhiều lớp áo tứ thân nhiều màu sắc, chít thắt lưng để lộ yếm đào Ở phía dưới là tấm váy lưỡi trai bằng lĩnh hay đen dài chấm gót
4 Trang phục của người dân Nam Bộ
Khi chúa Nguyễn vào trấn thủ Thuận Hóa, trang phục của cư dân vùng này không có gì khác so với miền Bắc nhưng khi tiền dần vào miền Nam thì có sự khác biệt rõ rệt giữa cư dân Đàng Trong và Đàng Ngoài Nếu ở miền Bắc bộ trang phục thường ngày sẽ là áo yếm, áo tứ
Trang 8thân, váy thì ở miền Nam sẽ là áo ngắn và quần dài còn hay thường gọi
là đồ bà ba
Đầu thế kỉ 19, đồ bà ba đã xuất hiện ở Việt Nam Nó được ông
Trương Vĩnh Ký cách tân lại từ áo người dân đảo Pénang, Malaysia
(người Malaysia gốc Hoa) cho phù hợp với người Việt
Có thể thấy áo bà ba chính là sự giao thoa và tiếp thu các nền văn hóa khác nhau Hình ảnh chiếc áo bà ba còn gắn liền với chiếc khăn rằn Chiếc khăn rằn có nguồn gốc từ người Khmer, trong quá trình cộng cư ở vùng đồng bằng song Cửu Long, nay nó đã trở thành trang phục đặc trưng của dân tộc Khăn rằn có chiều dài tầm 1-2m, màu sắc khá đơn giản và bình dị thường có hay màu đen xen nhau như trắng – đen hoăc nâu – trắng
Nam Bộ là vùng đất sống nhờ nông nghiệp, con người phải “ bán mặt cho đất bán lưng cho trời”, quanh năm chân lấm tay bùn, thời tiết nắng mưa thất thường nên những chiếc áo bà ba và khăn rằn rất thích hợp cho việc làm nông Họ hay mặc chiếc áo bà ba khi làm nông bởi sự mát
mẻ, sạch sẽ và rất dễ giặt cùng chiếc khăn rằn thắt ở eo, quấn ở cổ hay buộc ngay trán để lau mồ hôi rất tiện lợi Ngày nay áo bà ba cùng chiếc khăn rằn đã trở thành một nét đặc trưng của người dân Nam Bộ
5 Nguồn gốc ra đời và phát triển của chiếc áo dài
Xuất phát từ chiếc áo tứ thân, khi các chúa Nguyễn vào định đô ở miền Trung vào thế kỉ 17 trong quá trình giao lưu văn hóa Chăm, chiếc áo tứ
Trang 9thân đã tiếp nhận một số ảnh hưởng của áo dài Chăm và biến tấu thành
áo dài Việt Để có được bộ áo dài như ngày hôm nay, thì cũng đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển chiếc áo dài
Kiểu áo này được cải biến từ áo ngũ thân do họa sĩ Cát Tường sáng tạo vào năm 1939 Áo dài Lemur đặt theo tên tiếng Pháp của bà, ảo
chỉ có hai vạt trước
và sau, áo đặt may
ôm sát cơ thể để tôn lên vẻ đẹp duyên dáng của người phụ nữ Chiếc
áo rất thịnh hành tại thời điểm đó và được bày bán tại tiệm may của
bà, đến năm 1943 thì bị lãng quên
Chiếc áo này được cải biến từ chiếc áo dài Lemur, do họa sĩ Lê Phổ sáng tạo nên được gọi là áo dài Lê Phổ
Bà đã thu gọn kích thước áo dài để ôm khít với cơ thể của người phụ nữ Việt Nam, đẩy cầu vai và kéo tà áo chạm đất Nói cách khác, bà khiến chiếc áo dài trở nên gợi cảm và tinh tế hơn
Trang 10 Áo dài Raglan
Áo dài Ragla còn gọi là
áo dài giắc lăng, xuất hiện vào năm 1960 do nhà may Dung ở Đakao, Sài Gòn sáng tạo ra Điểm khác biệt lớn nhất là áo dài Raglan có phần chiết
eo rất duyên dáng, hai tà
áo thì được nối với nhau bằng hàng nút bấm bên hông Đây chính là kiểu áo dài góp phần định hình phong cách cho áo dài Việt Nam sau này
Một thời gian khá dài sau đó, đời sống khó khăn nên chiếc áo dài đã vắng bóng trong đời sống xã hội, để rồi bùng lên vào cuối thập niên
90 Từ đó, đến nay chiếc áo dài
đã trở lại với nhiều kiểu dáng, chất liệu khác nhau qua sự sáng tạo phá cách của các nhà thiết kế Không chỉ dừng lại ở những chiếc áo dài truyền thống nay được đã cải biên thành áo cưới, áo tà ngắn hay áo dài cách tân Ngày nay áo dài đã nhanh chóng lan tỏa khắp trong đời sống xã hội, trong nước và ngoài nước cùng với những giá trị văn hóa đẹp đẽ Chiếc áo
Trang 11đã trở thành biểu tượng đẹp của nền văn hóa, tôn vinh vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ Việt Nam
III TỒNG KẾT
Trải qua bao nhiêu nét thăng trầm của lịch sử, dân tộc ta đã giao lưu, tiếp thu hàng trăm nền văn hóa khác nhau, tưởng chừng như bi đồng hóa bởi những nền văn hóa trang phục từ Âu sang Á Nhưng dân tộc ta chỉ tiếp thu những cái mới, tiến
bộ và phát triển đề làm giàu cho nền văn hóa nước nhà
Việc ăn mặc ngày nay nó không chỉ là nhu cầu mặc đẹp, măc ấm là đủ mà
nó còn là sự phong phú, đồi mới và thể hiện được phong cách người mặc Trong thời hiện đại, mọi thứ càng ngày phát triển đem đến sự thay đổi chóng mặt của thời trang, nhưng áo dài truyền thống Việt Nam vẫn có chỗ đứng trong lòng nhiều người, thể hiện bản lĩnh trang phục Việt
Trang 12Điểm (bằng số) Điểm (bằng chữ) Lời phê của giảng viên