--- NGUYỄN KHẮC HÙNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG BƯỞI ĐẠI MINH HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI LUẬN VĂN THẠ
Trang 1-
NGUYỄN KHẮC HÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ
VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN SINH TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG BƯỞI ĐẠI MINH HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
THÁI NGUYÊN - NĂM 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGUYỄN KHẮC HÙNG
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN LÁ
VÀ CHẤT ĐIỀU HÒA SINH TRƯỞNG ĐẾN SINH
TRƯỞNG, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG BƯỞI
ĐẠI MINH HUYỆN YÊN BÌNH, TỈNH YÊN BÁI
Ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 8.62.01.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CÂY TRỒNG
Người hướng dẫn khoa học: 1 TS Hà Duy Trường
2 TS Nguyễn Minh Tuấn
Thái Nguyên - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
- Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào
- Tôi xin cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 15 tháng 08 năm 2018
Tác giả luận văn
Nguyễn Khắc Hùng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của bản thân tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của cơ quan, các thầy cô, bạn bè đồng nghiệp và gia đình
Trước tiên tôi xin bầy tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS Hà Duy Trường
và TS Nguyễn Minh Tuấn người đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến
quý báu trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Khoa Nông học và Phòng Đào tạo
- Trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả các đồng nghiệp, bạn bè và người thân đã luôn động viên và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn này
Tác giả luận văn Nguyễn Khắc Hùng
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
DANH MỤC CÁC HÌNH ix
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 2
3 Yêu cầu của đề tài 3
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3
4.1 Ý nghĩa khoa học 3
4.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá 5
1.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng 6
1.2 Nguồn gốc của cây bưởi 6
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước 7
1.3.1 Tổng quan tình hình sản xuất bưởi trên thế giới 7
1.3.2 Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam 8
1.3.3 Tình hình sản xuất bưởi tại Yên Bái 13
1.4 Các nghiên cứu về cây bưởi trên thế giới và trong nước 15
1.4.1 Các nghiên cứu về dinh dưỡng đối với cây bưởi trên thế giới 15
1.4.2 Các nghiên cứu về dinh dưỡng đối với cây bưởi trong nước 18
1.5 Nghiên cứu về sử dụng phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng 23
1.5.1 Nghiên cứu trên thế giới 23
1.5.2 Nghiên cứu trong nước 25
1.6 Kết luận rút ra từ tổng quan 29
Trang 6Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng và vật liệu nghiên cứu 30
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.1.2 Vật liệu nghiên cứu 30
2.2 Địa điểm nghiên cứu 31
Xã Đại Minh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 31
2.3 Thời gian nghiên cứu 31
2.4 Nội dung và phương pháp nghiêncứu 31
2.4.1 Nội dung nghiên cứu 31
2.4.2 Phương pháp nghiên cứu 31
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 36
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 37
3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 37
3.1.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc của bưởi Đại Minh 37
3.1.2 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến đặc điểm lộc thuần thục của bưởi Đại Minh 41
3.1.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra hoa và tỷ lệ đậu quả của bưởi Đại Minh 42
3.1.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Đại Minh 44
3.1.5 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến đặc điểm quả của bưởi Đại Minh 46
3.1.6 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chất lượng quả của bưởi Đại Minh 47
3.1.7 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sâu hại của bưởi Đại Minh 49
3.1.8 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến hiệu quả kinh tế của bưởi Đại Minh 50
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái 51
Trang 73.2.1 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian sinh trưởng và các đợt lộc
của bưởi Đại Minh 51
3.2.2 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến đặc điểm lộc thuần thục của bưởi Đại Minh 54
3.2.3 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra hoa và tỷ lệ đậu quả của bưởi Đại Minh 55
3.2.4 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Đại Minh 57
3.2.5 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến đặc điểm quả của bưởi Đại Minh 58
3.2.6 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến chất lượng quả của bưởi Đại Minh 59
3.2.7 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sâu hại của bưởi Đại Minh 60
3.2.8 Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến hiệu quả kinh tế của bưởi Đại Minh 61
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 66
1 Kết luận 66
2 Đề nghị 67
TÀI LIỆU THAM KHẢO 68
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CT : Công thức
CV% : (Coefficient of variation) Hệ số biến động KH
& CN : Khoa học và công nghệ
LSD : (Least-Significant Difference) Sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa NN-PTNT : Nông nghiệp - phát triển nông thôn
PC : Phân chuồng
UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở các châu lục trên thế
giới năm 2016 7 Bảng 1.2: Tình hình sản xuất cây bưởi ở Việt Nam (2012 - 2016) 8 Bảng 1.3: Lượng phân bón hàng năm cho một số giống bưởi đặc sản ở Việt Nam 21 Bảng 3.1: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng
và các đợt lộc xuân của bưởi Đại Minh 37 Bảng 3.2: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng
và các đợt lộc hè của bưởi Đại Minh 39 Bảng 3.3: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian sinh trưởng
và các đợt lộc thu của bưởi Đại Minh 40 Bảng 3.4: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến đến sinh trưởng và
phát triển các đợt lộc của bưởi Đại Minh 41 Bảng 3.5: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thời gian ra hoa của
bưởi Đại Minh 43 Bảng 3.6: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến tỷ lệ đậu quả của
bưởi Đại Minh 44 Bảng 3.7: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của bưởi Đại Minh 45 Bảng 3.8: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến đặc điểm quả của
bưởi Đại Minh 46 Bảng 3.9: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chất lượng quả của
bưởi Đại Minh 48 Bảng 3.10: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá sâu hại của bưởi Đại Minh 49 Bảng 3.11: Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến hiệu quả kinh tế của
bưởi Đại Minh 50 Bảng 3.12: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian sinh
trưởng và các đợt lộc xuân của bưởi Đại Minh 51
Trang 10Bảng 3.13: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian sinh
trưởng và các đợt lộc hè của bưởi Đại Minh 52 Bảng 3.14: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian sinh
trưởng và các đợt lộc thu của bưởi Đại Minh 53 Bảng 3.15: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng và
phát triển các đợt lộc của bưởi Đại Minh 54 Bảng 3.16: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến thời gian ra hoa
của bưởi Đại Minh 55 Bảng 3.17: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến tỷ lệ đậu quả của
bưởi Đại Minh 56 Bảng 3.18: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất và các
yếu tố cấu thành năng suất của bưởi Đại Minh 57 Bảng 3.19: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến đặc điểm quả của
bưởi Đại Minh 58 Bảng 3.20: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến chất lượng quả của
bưởi Đại Minh 59 Bảng 3.21: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sâu hại của bưởi
Đại Minh 60 Bảng 3.22: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến hiệu quả kinh tế
của bưởi Đại Minh 61
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến năng suất của bưởi
Đại Minh 45 Hình 3.2: Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến năng suất của bưởi
Đại Minh 57
Trang 12MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Cây bưởi (Citrus grandis L Osbeck) là một loại cây ăn quả rất quen thuộc
với người dân Việt Nam Bưởi là loại quả tươi dễ vận chuyển, bảo quản được nhiều ngày mà vẫn giữ nguyên hương vị, phẩm chất Bưởi được nhiều người ưa chuộng vì không những có giá trị kinh tế và giá trị dinh dưỡng cao mà còn có giá trị trong y học
Bưởi là loài có phổ thích nghi rộng, từ mặt biển lên đến độ cao 2000m (Agroviet, 2009), [39] Ở Việt Nam bưởi được trồng hầu khắp các tỉnh thành trong
cả nước, đặc biệt đã hình thành những vùng bưởi cổ truyền mang tính đặc sản địa phương như bưởi Đoan Hùng - Phú Thọ, bưởi Diễn - Từ Liêm - Hà Nội, bưởi Phúc Trạch - Hương Khê - Hà Tĩnh, bưởi Thanh Trà - Huế, bưởi Năm Roi - Vĩnh Long… Hiện nay, phát triển cây ăn quả trong đó bao gồm cả cây bưởi là một định hướng được ưu tiên và là một chiến lược có lợi thế cạnh tranh cao
Bưởi Đại Minh có nguồn gốc ở làng Khả Lĩnh, xã Đại Minh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái Đây là giống bưởi thấp cây, lá tròn, tán rộng, cho quả sai, hình cầu dẹt, vỏ vàng, múi mỏng, tôm ngọt, mọng nước, ăn ngọt và có mùi thơm dìu dịu Bưởi Đại Minh là giống bưởi có tiềm năng phát triển lớn nhờ vào điều kiện khí hậu thuận lợi đặc trưng do ảnh hưởng điều tiết của hồ Thác Bà Mặt khác, vùng bưởi đặc sản này nằm trên điểm giao nhau của nhiều tuyến giao thông trọng yếu của nhiều tỉnh phía Bắc và đang được chính quyền địa phương và nhiều tổ chức quan tâm
Mặc dù được tỉnh chú trọng đầu tư để phát triển sản xuất bưởi Đại Minh, nhưng trong thực tế sản xuất bưởi của người dân ở đây còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng và năng suất Các biện pháp canh tác như bón phân, tưới nước, cắt tỉa, phòng trừ sâu bệnh hại được thực hiện không đầy đủ đã làm ảnh hưởng nhiều đến năng suất và chất lượng bưởi Đại Minh Trong đó đáng kể đến là việc đầu tư phân bón cho sản xuất cũng như áp dụng kỹ thuật sử dụng phân bón ở đây chưa được chú trọng nhiều, khoảng 50% số hộ sử dụng phân chuồng bón cho cây, việc sử dụng các loại phân bón qua lá hay chất điều hòa sinh trưởng còn rất
Trang 13thấp khoảng 38% các hộ sử dụng Qua đó cho thấy mức độ đầu tư phân bón cho cây bưởi ở đây chưa cao, sử dụng phân bón qua lá và chất điều hòa sinh trưởng chưa được chú trọng nhiều Bên cạnh đó sử dụng phân bón không đúng cách làm cây sinh trưởng phát triển kém, năng suất, phẩm chất giảm sút, sản phẩm làm ra chưa thực sự đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng
Hiện có một số loại phân bón hữu cơ được chế biến truyền thống như phân chuồng, phân gia cầm, phân bò Ngoài những ưu điểm thì phân bón hữu cơ truyền thống cũng có nhược điểm như: hàm lượng chất dinh dưỡng thấp nên phải bón lượng lớn, đòi hỏi chi phí lớn để vận chuyển và nếu không chế biến kỹ có thể mang đến một số nấm bệnh cho cây trồng, nhất là khi phân bón hữu cơ được chế biến từ nguyên liệu là chất thải sinh hoạt và công nghiệp Các vi sinh vật gây hại có trong phân bón gồm: E.coli, Salmonella, Coliform là những loại gây nên các bệnh đường ruột nguy hiểm hoặc ô nhiễm thứ cấp do có chứa các kim loại nặng hoặc vi sinh vật gây hại quá mức quy định
Khác với các loại phân trên việc sử dụng phân bón lá để bổ sung kịp thời nguồn dinh dưỡng thiếu hụt cho cây, đặc biệt là phân vi lượng giúp cây cân bằng dinh dưỡng, tăng khả năng chống chịu, tăng tỷ lệ đậu quả Chất điều hòa sinh trưởng ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả ít hạt, ngăn cản
sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây
và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt,
củ, NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái
có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt
Do đó cần phải có những nghiên cứu sâu về phân bón, bổ sung dinh dưỡng đảm bảo sự cân bằng dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Để giải quyết những vấn
đề nêu trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đại Minh, Huyện Yên Bình, Tỉnh Yên Bái”
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Xác định được nồng độ chất điều hòa sinh trưởng và phân bón lá thích hợp đến sinh trưởng, phát triển và năng suất chất lượng bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Trang 143 Yêu cầu của đề tài
- Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón lá đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Ý nghĩa khoa học
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một tài liệu khoa học về làm cơ sở cho việc xây dựng biện pháp kỹ thuật thâm canh giống bưởi Đại Minh, huyện Yên Bình nói riêng và tỉnh Yên Bái nói chung
Các kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học về ảnh hưởng phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng đến sinh trưởng phát triển, năng suất, chất lượng bưởi Đại Minh huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
4.2 Ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất biện pháp kỹ thuật, bón phân nhằm nâng cao năng suất, chất lượng của giống bưởi Đại Minh trong thời gian tới, góp phần giải quyết vấn đề bức xúc của thực tiễn sản xuất giống bưởi Đại Minh tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
- Kết luận của đề tài là cơ sở khoa học cho định hướng sử dụng phân bón lá, chất điều hòa sinh trưởng nhằm phát triển sản xuất bưởi Đại Minh trồng tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái và các vùng có điều kiện sinh thái tương đồng
Trang 15Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Cơ sở khoa học của đề tài
Bưởi (Citrus grandis L Osbeck) là một trong những loài cây ăn quả có múi
được trồng khá phổ biến ở nước ta như Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lạng Sơn… là vùng có tiềm năng phát triển cây có múi, đặc biệt có ưu thế về điều kiện khí hậu, khả năng mở rộng diện tích và có tập đoàn giống phong phú, đa dạng Khí hậu ở vùng này ngoài thích hợp với sinh trưởng phát triển bình thường của cây có múi, còn có ưu thế nổi bật so với một số vùng khác trong nước là có mùa đông lạnh, biên độ nhiệt độ ngày đêm và giữa các tháng chênh lệch lớn làm cho quả đẹp, chất lượng tốt, thể hiện đặc trưng của giống
Trải qua lịch sử phát triển lâu dài, cây trồng nói chung và bưởi nói riêng chịu
sự tác động của quá trình chọn lọc tự nhiên và chọn lọc nhân tạo mà ngày càng trở nên phong phú hơn và có nhiều ưu việt hơn
Bưởi là cây ăn quả lâu năm, quá trình sinh trưởng, ra hoa kết quả chịu ảnh hưởng của nhiều các yếu tố nội tại (di truyền) và các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, ánh sáng, đất đai và chế độ chăm sóc; hay sự biểu hiện của kiểu hình là kết quả của
sự tương tác giữa kiểu gen và môi trường (Trần Như Ý và cộng sự, 2000) [19]
Theo tác giả Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thị Mão (2010) [6], lượng chất dinh dưỡng cây hút thể hiện yêu cầu chất dinh dưỡng của cây Cây yêu cầu chất dinh dưỡng theo một tỷ lệ cân đối nhất định Lượng dinh dưỡng cây hút thay đổi theo loại cây trồng, năng suất thu hoạch, yêu cầu của người trồng trọt Trong cùng một loại cây trồng thì lượng chất dinh dưỡng do cây hút phụ thuộc vào điều kiện sinh thái (đất đai, thời tiết khí hậu: Nhiệt độ và lượng mưa)
Cũng theo tác giả, mỗi nguyên tố dinh dưỡng cây sử dụng đều có các giá trị tối
ưu và tối đa Tại lượng bón mà cây trồng cho năng suất cao nhất gọi là giá trị tối đa
về mặt kỹ thuật Tuy nhiên, mục đích của người sản xuất không phải chỉ nhằm đạt năng suất cao nhất mà còn là tìm lợi nhuận cao nhất Lượng bón đạt lợi nhuận cao nhất là lượng phân bón mà ở đó hiệu suất 01kg phân bón đủ bù đắp được chi phí sản xuất tăng lên Nguyễn Thế Đặng và Nguyễn Thị Mão (2010) [6]
Trang 16Việc tăng năng suất, chất lượng bưởi phụ thuộc rất lớn vào các biện pháp kỹ thuật, đặc biệt là bón phân Sử dụng phân bón là một trong bốn yếu tố quan trọng hàng đầu trong thâm canh sản xuất nông nghiệp Bón phân qua lá được sử dụng để
bổ sung thêm dinh dưỡng cho cây trồng một cách kịp thời các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng Phân bón lá có tác dụng làm tăng năng suất, tăng cường khả năng kháng sâu bệnh cho cây, tính chống hạn và cải thiện năng suất, chất lượng sản phẩm Phân bón lá còn giúp cho cây nhanh chóng phục hồi sau trồng, hoặc sau khi trải qua cá hiện tượng thời tiết bất thuận như nóng nắng, lạnh, khô hạn, úng ngập đã hạn chế được sâu bệnh hại, giảm sử dụng thuốc BVTV do đó làm nâng cao chất lượng, mẫu mã quả
Phân bón lá, đặc biệt là những loại phân có chứa các nguyên tố vi lượng
và chất điều hòa sinh trưởng như GA3 có tác dụng làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, mã quả, phẩm chất và giảm số lượng hạt nếu phun vào những thời kỳ thích hợp Tuy nhiên, kết quả thu được phụ thuộc vào từng giống cụ thể, cần thử nghiệm trên giống bưởi Đại Minh để có những kết luận về sự ảnh hưởng của chúng tới năng suất, phẩm chất quả
1.1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng phân bón lá
Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: Các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng Vai trò của phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò quan trọng trong đời sống cây trồng
Trong cây trồng luôn tồn tại các cơ chế điều chỉnh các quá trình sinh trưởng
và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Việc áp dụng biện pháp kỹ thuật bón phân trong từng giai đoạn là rất cần thiết vì cây trồng hấp thu dinh dưỡng nuôi cây phần lớn qua bộ rễ, tuy nhiên hàm lượng dinh dưỡng trong đất là không đủ, đặc biệt là các yếu tố vi lượng Chính vì thế, việc phun phân bón lá nhằm bổ sung dinh dưỡng cho cây là rất cần thiết Nghiên cứu cải tiến các phương pháp phun bón phân cho cây trồng đã được thực hiện nhiều năm trên nhiều loại cây trồng Phân bón qua lá cung cấp nhanh, kịp thời các chất dinh dưỡng đa lượng, vi lượng cần thiết cho quá trình sinh trưởng sinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây, đặc biệt là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh, cần tập trung dinh dưỡng để tạo hoa, nuôi quả
Trang 171.1.2 Cơ sở khoa học của việc sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Cây trồng nói chung và bưởi nói riêng luôn tồn tại các cơ chế điều khiển các quá trình sinh trưởng và phát triển nhằm thích ứng với các điều kiện ngoại cảnh, duy trì sự sống Chất điều hòa sinh trưởng chính là các chất điều tiết các cơ chế này
và thông qua tác động của các chất điều hòa sinh trưởng phôi có thể hình thành phát triển thành quả không qua quá trình thụ phấn thụ tinh do vậy quả được tạo thành do tác động của các chất này thường không hạt hoặc ít hạt Các chất này được tổng hợp với một lượng rất nhỏ ở các cơ quan đến một bộ phận nhất định của cây, từ đó chuyển sang các bộ phận khác để điều tiết hoạt động sinh lý của cây Trong chất điều hòa sinh trưởng có Gibberellin (GA3) và Naphthalene aceticd NAA được tổng hợp ở tất cả các bộ phận còn non của cây và được vận chuyển không phân cực Tác dụng sinh lý của GA3 là ảnh hưởng đến quá trình ra hoa, sự lớn lên của quả, tạo quả không hạt, ngăn cản sự rụng của các cơ quan như lá, hoa, quả, làm chậm quá trình già hóa của toàn cây và sự chín của quả, kích thích kéo dài thân, dóng, kích thích sự nảy mầm của hạt, củ NAA có tác dụng kích thích cây trồng ra rễ, ra hoa đồng loạt, kết nhiều trái, trái có phẩm chất tốt, ngăn ngừa rụng trái non, cho sản lượng tốt
1.2 Nguồn gốc của cây bưởi
Cây bưởi có tên khoa học là Citrus grandis (L) Osbeck Trong hệ thống phân loại, bưởi thuộc họ cam (Rutaceae), họ phụ Aurantioideae, chi Citrus, Chi phụ:
Eucitrus, loài grandis (Đỗ Đình Ca và cs, 2002) [1]
Bưởi có nguồn gốc từ Malaysia và quần đảo Ấn Độ và được phân bố rộng tới quần đảo Fiji, châu Âu và cả các nước vùng Địa Trung Hải (Đỗ Đình Ca và cs,
2005) [2], Có một loài khác gọi là bưởi chùm (C paradisi), có thể là biến dị hoặc một
dạng lai của chúng Bưởi chùm chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Mỹ, vùng Địa Trung Hải, Úc và châu Phi, các nước châu Á rất ít trồng loài bưởi này
Cây bưởi có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới Theo tác giả Robert, (1967) [29] bưởi là cây bản xứ của Malaysia và quần đảo Polynesia, sau đó được di thực sang
Ấn Độ, phía nam Trung Quốc và các nước châu Âu, Mỹ Tác giả Giucovki cho rằng nguồn gốc của bưởi có thể là quần đảo Laxongdơ, tuy nhiên để có tài liệu chắc chắn cần nghiên cứu các thực vật họ Rutacea, nhất là họ phụ Aurantioidea ở vùng núi Hymalaya miền Tây Trung Quốc và các vùng núi thuộc bán đảo Đông Dương (dẫn theo Bùi Huy Đáp, 1960) [5]
Tác giả Chawalit Niyomdham, 1992 [22] cũng cho rằng bưởi có nguồn gốc ở Malaysia, sau đó lan sang Indonesia, Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Địa Trung Hải
Trang 18và Mỹ, vùng sản xuất chính ở các nước Phương Đông (Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, )
Tuy nhiên, một số tác giả lại cho rằng bưởi có nguồn gốc từ Trung Quốc vì cây bưởi đã được đề cập trong các tài liệu của Trung Quốc từ thế kỷ 24 đến thế kỷ 8 trước công nguyên (Rajput and Sriharibabu, 1985) [28]
Như vậy, nguồn gốc của bưởi cho đến nay chưa được thống nhất Bưởi có thể
có nguồn gốc từ Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ, Hiện này bưởi được trồng nhiều với mục đích thương mại ở các nước châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines, Ấn Độ và Việt Nam
1.3 Tình hình nghiên cứu trên thế giới và trong nước
1.3.1 Tổng quan tình hình sản xuất bưởi trên thế giới
Theo số liệu thống kê của FAO (2018) [25], hàng năm trên thế giới sản
xuất khoảng 5,5 - 6,5 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis) chiếm 5,4 - 5,6 % tổng sản lượng cây có múi, trong đó chủ
yếu là bưởi chùm (chiếm 2,8 - 3,5 triệu tấn) còn lại bưởi chiếm một lượng khá khiêm tốn khoảng 1,2 - 1,5 triệu tấn Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc,
Ấn Độ, Philippines, Thái Lan, Bangladesh, được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu Diện tích cho thu hoạch, năng suất và sản lượng bưởi ở các châu lục trên thế giới năm 2016 được thể hiện ở bảng số liệu sau:
Bảng 1.1: Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi ở các châu lục trên thế giới năm 2016
hoạch (ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 19Qua bảng 1.1 cho thấy: về diện tích trồng bưởi của 5 châu lục trong năm 2016 thì châu Á là châu lục có diện tích trồng bưởi lớn nhất với 222.244 ha (chiếm 46 % tổng diện tích của toàn thế giới) Đứng thứ 2 là châu Mỹ (77.349 ha), tiếp đến là châu Phi, châu Âu và vùng có diện tích nhỏ nhất là châu là châu Đại Dương với 889
ha (chiếm 0,32 % tổng diện tích bưởi của toàn thế giới)
Về năng suất, châu Á là châu lục có năng suất cao nhất với 291,943 tạ/ha, sau
đó châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và vùng có năng suất thấp nhất là châu Đại Dương với năng suất 102,373 tạ/ha Châu Á cũng là châu lục có sản lượng cao nhất với 6.488.281 tấn Sau đó đến châu Mỹ, châu Phi, châu Âu và vùng có sản lượng thấp nhất là châu Đại Dương với 9.096 tấn
Vùng châu Á được khẳng định là quê hương sản xuất bưởi, hầu hết các nước châu Á đều sản xuất bưởi với quy mô khác nhau (nơi thì hình thành vùng chuyên canh, nơi thì sản xuất tự do…) Cây bưởi được trồng nhiều ở các nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Philippinnes, Việt Nam…
1.3.2 Tình hình sản xuất bưởi ở Việt Nam
Công tác nghiên cứu về cây ăn quả ngày càng được Đảng và Nhà nước quan tâm Các nhà khoa học thuộc các Viện nghiên cứu chuyên ngành cũng đã thu được những kết quả không nhỏ trong công tác nghiên cứu, góp phần đáng kể vào việc phát triển nghề trồng cây ăn quả của nước ta, trong đó cây có múi có một vị trí quan trọng và được đông đảo bà con nông dân các vùng miền quan tâm, hưởng ứng
Hiện trạng sản xuất bưởi tại Việt Nam được thể hiện bằng bảng dưới đây:
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất cây bưởi ở Việt Nam (2012 - 2016)
(ha)
Năng suất (tạ/ha)
Sản lượng (tấn)
Trang 20Theo số liệu của FAO, đến năm 2016 cả nước có 42.100 ha trồng bưởi, sản lượng đạt 497.288 tấn Đặc biệt, trong giai đoạn từ năm 2012 - 2016, trong khi diện tích tăng không đáng kể thì năng suất tăng từ 116,939 tạ/ha năm 2012 lên 118,120 tạ/ha năm 2016
Cho đến nay, tập đoàn bưởi ở nước ta rất đa dạng, được trồng ở hầu khắp các tỉnh, đặc biệt đã hình thành những vùng bưởi lớn với những giống đặc trưng mang tính đặc sản địa phương Một số giống bưởi nổi tiếng ở các địa phương nước ta được trồng với mục đích sản xuất hàng hóa có các đặc điểm như sau:
- Bưởi Năm Roi: Trồng nhiều trên đất phù sa ven sông Hậu ở huyện Bình
Minh tỉnh Vĩnh Long và các tỉnh Hậu Giang, Bến Tre… Theo Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn, đến năm 2010 diện tích trồng bưởi Năm Roi ở đồng bằng sông Cửu Long là 13.000 ha, sản lượng 150.000 tấn Không những tiêu thụ trong nước bưởi Năm Roi còn được xuất khẩu đi một số nước Doanh nghiệp Hoàng Gia đã đăng ký độc quyền kinh doanh thương hiệu bưởi Năm Roi Hoàng Gia và lập trang Web riêng nhằm quảng bá cho loại quả đặc sản này (Nguyễn Ngọc Nông, 1999) [9]
Bưởi Năm Roi có quả hình quả lê đẹp, trọng lượng trung bình khoảng 1- 1,4kg Khi chín, vỏ có màu vàng xanh, thịt quả màu xanh vàng, mịn, đồng nhất Múi và vách múi dễ tách, ăn dòn, ngọt, hơi dôn dốt chua Con tép tách khỏi vách múi và bó chặt nhau, nước quả khá, hương vị thơm, không the đắng và đặc biệt là không có hạt mẩy, chỉ có hạt lép nhỏ li ti Tỷ lệ phần ăn được khoảng 55%, độ Brix
từ 9 - 12 Thời vụ thu hoạch từ tháng 9 dương lịch (Trần Như Ý và cs (2000) [19]
- Bưởi Diễn: Có nguồn gốc từ Đoan Hùng (Phú Thọ), trước đây được trồng
nhiều ở xã Phú Diễn, xã Phú Minh huyện Từ Liêm (Hà Nội), hiện nay đã được trồng
và phát triển tốt tại một số địa phương như: Hà Nội (Đan Phượng, Phúc Thọ, Hoài Đức, Phần Mỹ, Quốc Oai, ); Bắc Giang (Hiệp Hoà, Tân Yên, Yên Thế, ); Hưng Yên (Văn Giang, Tiên Lữ, ) với diện tích ước khoảng 1.000 ha và đang tiếp tục được mở rộng Quả bưởi Diễn tròn, vỏ nhẵn, khi chín vỏ có màu vàng cam, trọng lượng trung bình từ 0,8 - 1 kg/quả Múi và vách múi dễ tách rời nhau Thịt quả màu vàng xanh, ăn giòn, ngọt Độ Brix từ 12 - 14 Thời gian thu hoạch muộn hơn bưởi Đoan Hùng, thường trước tết Nguyên đán khoảng nửa tháng (Trần Như Ý và cs (2000) [19]
Trang 21- Bưởi Phúc Trạch: Nguồn gốc ở xã Phúc Trạch, huyện Hương Khê, tỉnh Hà
Tĩnh Hiện nay được trồng ở hầu hết 28 xã trong huyện và các vùng phụ cận Bưởi Phúc Trạch được coi là một trong những giống bưởi ngon nhất ở nước ta hiện nay Quả hình cầu hơi dẹt, vỏ quả màu vàng xanh, khối lượng trungbình từ 1 - 1,2 kg, tỷ
lệ phần ăn được 60-65%, số hạt từ 50 lượng - 80 hạt, màu sắc thịt quả và tép múi phớt hồng, vách múi giòn dễ tách rời, thịt quả mịn, đồng nhất, vị ngọt hơi chua, độ brix từ 12 - 14 Thời gian thu hoạch vào tháng 9 [43]
Cát Lâm của huyện Đoan Hùng (Phú Thọ), trên đất phù sa ven sông Lô và sông Chảy Bưởi Đoan Hùng có 2 giống là bưởi Tộc Sửu, nguồn gốc ở xã Chí Đám và bưởi Khả Lĩnh, nguồn gốc ở thôn Khả Lĩnh xã Đại Minh huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái với diện tích cây cho quả khoảng trên 300 ha Trong những năm gần đây bưởi Đoan Hùng liên tục mất mùa, năng suất, sản lượng suy giảm một cách rõ rệt, sản phẩm hiện không đủ cho tiêu thụ nội tỉnh (Nguyễn Đình Tuệ, 2010) [15]
+ Bưởi Bằng Luân quả hình cầu hơi dẹt, trọng lượng trung bình 0,7 - 0,8kg/quả, vỏ quả màu vàng hơi xám nâu, tép múi màu trắng xanh, mọng nước, thịt quả hơi nhão, độ Brix từ 9 - 11 Được thu hoạch vào tháng 10, 11 Có thể để được lâu sau khi thu hoạch
+ Bưởi Tộc Sửu quả lớn hơn, trọng lượng trung bình từ 1 - 1,2 kg/quả Thịt quả nhão ít hơn giống bưởi Bằng Luân, vị ngọt nhạt và có màu trắng xanh Thu hoạch sớm hơn bưởi Bằng Luân khoảng nửa tháng ( Nguyễn Thị Phượng,
2011) [12]
Cày, tỉnh Bến Tre, hiện được trồng nhiều nhất tại xã Mỹ Thạnh An, thị xã Bến Tre Toàn tỉnh Bến Tre hiện tại có 2.940 ha, dự kiến đạt 4.000 ha vào năm 2010 Ngoài tiêu thụ nội địa bưởi Da Xanh được xuất khẩu sang một số nước như Mỹ, TháiLan
Quả bưởi da xanh có dạng cầu, vỏ vẫn giữ màu xanh khi chín, con tép tách khỏi vách múi tốt, tép múi màu đỏ hồng, nước quả khá, vị ngọt không the đắng Nhược điểm của giống này là nhiều hạt (Đỗ Văn Công, 2014) [40]
ở các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long cũng phát triển trồng nhiều giống bưởi này Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch, sản phẩm chủ yếu tiêu thụ nội địa
Trang 22Dạng quả của bưởi đường lá cam khá đẹp, hình quả lê thấp, phẩm chất ngon được nhiều thị trường ưa chuộng Quả có trọng lượng trung bình từ 0,8 -1,2kg, quả lớn có thể đạt 1,4 - 1,5kg Vỏ quả khi chín có màu vàng xanh, láng, nhẵn và tác rát
dễ Thịt quả màu vàng nhạt, đồng nhất Các con tép bó chặt, vị ngọt rất ngon Độ Brix từ 9 - 12 Tỷ lệ phần ăn được khoảng trên 50% Nhược điểm của giống này
là khá nhiều hạt Trần Như Ý và cs (2000)) [19]
Phố và Ngàn Sâu thuộc hai huyện Hương Sơn và Hương Khê tỉnh Hà Tĩnh Hai giống điển hình là bưởi Phúc Trạch (Hương Khê) và bưởi đường Hương Sơn Lá
và quả bưởi đường Vinh đều to hơn bưởi Đoan Hùng, vỏ mỏng hơn, ngọt và khô hơn bưởi Đoan Hùng ( Vũ Việt Hưng, 2010) [8]
Bưởi Lông Cổ Cò: là giống bưởi đặc sản của huyện Cái Bè tỉnh Tiền Giang
Hiện nay, diện tích bưởi Lông Cổ Cò vào khoảng 1.700 ha, sản phẩm chủ yếu dùng tiêu thụ nội địa Hiện nay bưởi lông cổ cò được trồng nhiều ở các xã Mỹ Lương, Tân Thanh, Tân Hưng, An Hữu, An Thái Trung, Hòa Khánh, An Thái Đông, của huyện Cái Bè với diện tích 1.600 - 1.700 ha, sản lượng hằng năm khoảng 32.000 - 35.000 tấn, sản phẩm chủ yếu dùng để tiêu thụ nội địa Ngoài ra do tính thích nghi rộng, sinh trưởng mạnh, năng suất cao, phẩm chất khá ngon nên bưởi lông cổ cò được trồng khá nhiều nơi trong tỉnh [44]
trở thành biểu trưng của văn hoá ẩm thực Cố Đô Huế Diện tích bưởi Thanh Trà ước khoảng 1.114 ha, phân bố chủ yếu tại các huyện Hương Trà, Phong Điền, Hương Thủy và thành phố Huế Trong quy hoạch của tỉnh, diện tích bưởi Thanh Trà tiếp tục được mở rộng, tiến tới ổn định ở mức 1.400ha
- Bưởi Biên Hoà: vùng trồng nổi tiếng là ở cù lao Phố và cù lao Tân Triều
trên sông Đồng Nai Quả to, hình quả lê, vỏ dày, cùi xốp trắng, múi dễ tách, ăn giòn, ngọt dôn dốt chua Khối lượng quả trung bình từ 1,2 - 1,5 kg, tỷ lệ phần ăn được trên 60% Thời vụ thu hoạch bắt đầu từ tháng 9 dương lịch (Vũ Việt Hưng, 2010) [9]
Bưởi Đỏ (Bưởi Đào): Giống bưởi này có nhiều dạng khác nhau, điển hình là
bưởi đỏ Mê Linh được trồng nhiều ở huyện Mê Linh - Vĩnh Phúc, bưởi Gấc ở Đại
Trang 23Hoàng - Nam Định, Hoài Đức - Hà Tây và một số tỉnh trung du miền núi phía Bắc, bưởi Xiêm Vang ở tỉnh Vĩnh Cửu, Đồng Nai Quả có 2 dạng là hình cầu hơi dẹp và thuôn dài, khối lượng trung bình từ 1 - 1,2 kg, khi chín cả vỏ quả, cùi và thịt quả đều có màu đỏ gấc, vỏ quả nhẵn có nhiều túi tinh dầu mùi thơm Bưởi đỏ thường thu hoạch muộn vào tháng 1, tháng 2 dương lịch (tháng 12 âm lịch) để trưng bày ngày tết nên thịt quả thường bị khô, vị ngọt hơi chua
- Bưởi Phục Hoà: có nguồn gốc từ Trung Quốc, được trồng nhiều ở vùng
Phục Hoà, tỉnh Cao Bằng từ những năm 1960 khi bộ đội Trung Quốc sang giúp Việt Nam trong cuộc chiến tranh chống Mỹ Bưởi Phục Hoà cây sinh trưởng khoẻ, phân cành nhiều, cành lá mở rộng, tán hình bán cầu, lá hình ovan, xanh đậm ra hoa vào khoảng tháng 2 tháng 3 hàng năm, thu hoạch vào tháng 11 - tháng 12, quả hình lê,
vỏ quả sau khi chín có màu xanh vàng hoặc màu da cam, quả dễ bóc, tép bó chặt, ngọt có mùi thơm, không he đắng Bưởi Phục Hoà có những đặc điểm giống như bưởi Sa Điền (huyện Dung, Quảng Tây, Trung Quốc) qua quá trình trồng ở Việt Nam thấy chất lượng tốt hơn như vị ngọt thanh hơn, có nhiều nước hơn,… nên rất được ưa chuộng ( Vũ Việt Hưng, 2010) [8]
quả nặng chừng 1,2 - 1,5 kg, vỏ vàng, múi mỏng, tôm ngọt, mọng nước, ăn ngọt và
có mùi thơm dìu dịu khiến ai đã một lần thưởng thức không thể nào quên Bưởi Khả Lĩnh- Đại Minh có thể thu hoạch từ tháng 10 đến khoảng tháng 2 âm lịch năm sau nhưng chín tập trung vào dịp Tết Nguyên đán Thống kê sơ bộ, cả xã Đại Minh có gần 800 hộ ở 14 thôn trồng bưởi với diện tích 141 ha, tập trung ở các thôn Khả Lĩnh, Cát Lem, Cầu 17, Quyết Tiến 12, Đại Thân, Minh Thân… Hộ trồng ít 40-50
m 2 , trồng nhiều 1,5 - 2 ha
- Bưởi nhập nội: Bưởi chùm hoặc bưởi Pomelo thuộc loài C paradise Macf
Cây phân cành thấp, nhiều cành, quả chùm hoặc quả đơn, to hơn cam, nhỏ hơn bưởi (từ 400 - 500g/quả) Quả nhiều nước, hơi chưa, vỏ khó bóc, ăn ngon Khả năng cất giữ tốt, vận chuyển dễ nên được trao đổi nhiều trên thị trường quốc tế Nguồn gốc
có thể là thứ lai giữa bưởi và cam hoặc đột biến mầm từ bưởi Loài C paradise
nhập nội vào ta có thứ quả to, tép hồng, chín sớm, chất lượng khá, thích ứng rộng với nhiều vùng sinh thái (Agroviet, 2009)[39]
Trang 24Năm 2008, bộ môn Rau - Hoa - Quả, khoa Nông học thuộc trường ĐH Nông lâm Thái Nguyên đã thu thập giống bưởi Sa Điền (một trong những giống bưởi ngon của Trung Quốc tại thôn Sa Điền - huyện Dung - tỉnh Quảng Tây) và trồng thử nghiệm tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Cao Bằng và Bắc Giang Các nghiên cứu ban đầu của Lương Thị Kim Oanh, Lê Quang Ưng cho thấy rằng bưởi Sa Điền có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện miền Bắc Việt Nam
Trồng bưởi mang lại giá trị kinh tế cao Người ta tính được hiệu quả của việc trồng bưởi Diễn gấp 4 - 5 lần trồng lúa, giá trị thu nhập của 1 sào bưởi (360m 2
) khoảng trên 10 triệu đồng Đối với bưởi Đoan Hùng, thông thường những nhà trồng
30 cây bưởi thu từ 15 - 20 triệu đồng/năm Với các giống bưởi Năm Roi, Da Xanh thu nhập lên tới 120 - 150 triệuđồng/ha
Như vậy, tập đoàn bưởi ở nước ta rất đa dạng, mỗi vùng sinh thái được đặc trưng bởi những giống nhất định với các đặc điểm nông sinh học khác nhau
1.3.3 Tình hình sản xuất bưởi tại Yên Bái
Yên Bái là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, và cũng là địa phương rất thành công trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa, tăng thu nhập cho người nông dân rất tốt Từ lâu đời đã được một số xã trong huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái mạnh dạn đầu tư phát triển, có những hộ đã trồng với quy mô lớn
200 - 400 cây Tuy nhiên, diện tích cây ăn quả thường dựa vào quỹ đất của kinh tế hộ, trồng theo kinh nghiệm hoặc nhu cầu tự phát của từng chủ hộ, nên mức độ tập trung, sản lượng chưa cao chưa xây dựng được cơ sở chế biến trái cây hay bảo quản đơn giản mà thường bán ngay sau khi thu hoạch, giá trị thương phẩm thấp
Tuy vậy, cách đây khoảng 15 năm, nhiều vườn cây ăn quả có múi chết hàng loạt làm điêu đứng các nhà vườn, qua đánh giá của các nhà khoa học đây là bệnh gân xanh
lá vàng (do vi rút Greenning gây bệnh) không có thuốc kháng chữa trị đặc hiệu
Yên Bái phấn đấu giai đoạn 2016 - 2020 trồng mới 2.300 ha cam, quýt, bưởi; giữ vững vùng cây có múi hơn 4.000 ha; phấn đấu đưa diện tích cây ăn quả của tỉnh lên 9.000 ha
Bưởi Đại Minh, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái là giống bản địa, có lịch
sử trồng trọt ở làng Khả Lĩnh, xã Đại Minh từ cách đây khoảng hơn 200 năm (theo lời kể của các cụ già làng Khả Lĩnh, xã Đại Minh) có thể bưởi Đại Minh là nguồn
Trang 25gốc của giống bưởi Bằng Luân hay Tộc Sửu ở Đoan Hùng Bưởi Đại Minh được nhiều người tiêu dùng bởi có nhiều đặc điểm quý như: Ngọt mát, dóc tép, mọng nước, mẫu quả đẹp, có hương thơm đặc trưng Bởi vậy, bưởi Đại Minh đã trở thành giống cây ăn quả nổi tiếng của huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái
Diện tích giống bưởi Đại Minh hiện nay khoảng trên 350 ha, được trồng phổ biến tại 24 xã và 2 thị trấn của huyện Yên Bình; trong đó tập trung chủ yếu ở 2 xã Đại Minh, Hán Đà huyện Yên Bình, được nhân dân trồng trên các loại đất đồi thấp và đất soi bãi ven sông Chảy
Yên Bình là huyện miền núi nằm ở phía Đông Nam tỉnh Yên Bái, có tổng diện tích đất tự nhiên là: 77.234,61 ha chiếm 11,2% diện tích toàn tỉnh Yên Bái; trong đó diện tích đất nông nghiệp có 55.057,66 ha chiếm 71,31% tổng diện tích tự nhiên Hiện nay, toàn huyện Yên Bình có 1.120 ha cây ăn quả, trong đó có trên 350 ha bưởi Đại Minh, tập trung tại 2 xã Đại Minh và Hán Đà là 212,65 ha, còn lại được trồng rải rác ở hầu hết các xã, thị trấn trong huyện
Điều kiện thời tiết khí hậu
Điều kiện khí hậu thời tiết là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự sinh trưởng
và phát triển của cây trồng nghiên cứu Khí hậu thuận lợi giúp cây sinh trưởng tốt và ngược lại Do đó, chúng ta cần nắm vững mối quan hệ giữa sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng với thời tiết, khí hậu
Cây bưởi sống lâu năm, khi gặp khí hậu thời tiết thuận lợi cây sẽ ra nhiều lộc
và lộc sinh trưởng khỏe mạnh hơn, từ đó cây sẽ có hình thái ổn định hơn, sớm bước vào giai đoạn kinh doanh và sẽ đạt năng suất cao; khi khí hậu bất lợi cây sẽ sinh trưởng kém
Đặc trưng của khí hậu Yên Bái là nhiệt đới gió mùa, nắng và mưa nhiều, nền nhiệt cao Nhiệt độ trung bình ít biến động trong năm (khoảng 18 - 20 0 C), cao nhất 37 -
39 0 C, thấp nhất 2 - 4 0 C Gió thịnh hành là gió mùa đông bắc và gió mùa đông nam Mưa nhiều nhưng phân bố không đều, lượng mưa trung bình 1.800 - 2.000 mm/năm, cao nhất tới 2.204 mm/năm và thấp nhất cũng đạt 1.106mm/năm Một số vùng tiểu khí hậu vào tiết xuân thường có mưa dầm triền miên
Trang 261.4 Các nghiên cứu về cây bưởi trên thế giới và trong nước
1.4.1 Các nghiên cứu về dinh dưỡng đối với cây bưởi trên thế giới
Trên thế giới, nghiên cứu về bưởi đã thu được kết quả trên rất nhiều lĩnh vực như chon tạo giống mới, kỹ thuật canh tác cho tơi kỹ thuật bảo quản và chế biến sau thu hoạch Theo Viện Tài nguyên Di truyền Thực vật Quốc Tế (IPGRI, 2003), trong lĩnh vực thu thập, bảo tồn cây có múi nói chung và bưởi nói riếng cũng được quan tâm của hầu hết các nước trồng cây có múi trên thế giới Càng ở những nước có ngành sản xuất cây có múi phát triển, thì việc thu thập, bảo tồn lưu giữ cũng như việc đánh giá, sử dụng càng được quan tâm đầu tư
Cây bưởi là loài cây ăn quả có tính thích ứng rộng, phân bổ rộng rãi, thích nghi với khí hậu nóng ẩm vùng nhiệt đới Tuy nhiên, yếu tố khí hậu thời tiết cũng ảnh hưởng lớn tới sinh trưởng, mã quả, độ lớn quả, năng suất và chất lượng quả
Cũng giống như những cây trồng khác, bưởi cần có đầy đủ nguyên tố thiết yếu để sinh trưởng và phát triển Dinh dưỡng: để phát triển tốt bưởi cũng như cam, quýt cần được cung cấp đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng N, P,
K cũng nhưcác nguyên tố vi lượng Cu, Mg, B
- Ở Philippines là một nước sản xuất nhiều bưởi Tuy nhiên, các giống bưởi
ở Philippine đều là các giống nhập nội từ các nước như Trung Quốc, Thái Lan, ví dụ: giống Khao phuang từ Thái Lan, giống Amoy và Sunkiluk.V gốc Trung Quốc, chỉ có giống Fortich là giống địa phương
Cây có múi hút dinh dưỡng quanh năm, hút mạnh vào thời kỳ nở hoa cũng như khi cây ra cành lộc mới (Erickson, 1968) [23] Trong thời kỳ ra hoa, cây huy động nhiều đạm từ lá về hoa (Timmer và Larry, 1999) [35]
Theo Ghosh, (1985) [26] cây có múi là loại cây ưa thâm canh, có khoảng 15 nguyên tố dinh dưỡng có vai trò quan trọng đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây Những nguyên tố đa lượng là: N, P, K, Mg và S, nguyên tố vi lượng là: Zn, Cu,
Fe, B, Việc bổ xung đầy đủ các nguyên tố trên là rất cần thiết để cây sinh trưởng
và phát triển tốt
Theo nghiên cứu của nước ngoài, mức huy động dinh dưỡng của cây bưởi thấp nhất, kế đó là quýt, tiếp theo là chanh và cuối cùng là cam có mức huy động
Trang 27dinh dưỡng cao nhất Tuy nhiên, sự khác biệt đấy không lớn nên có thể dùng chung một công thức cho các cây có múi
Phân hữu cơ và vôi: Khác với nhãn, vải, chôm chôm… cây có múi cần nhiều phân hữu cơ hơn Nên bón làm 2 lần, lần đầu bón đậm trước mùa mưa và lần 2 bón cuối mùa mưa Phân hữu cơ phải dùng loại phân đã ủ hoai Phân dơi rất tốt cho cây
có múi vì có hàm lượng kali cao Tuy nhiên nhiều nhà vườn dùng không đúng vì tất
cả phân dơi bán trên thị trường chỉ đều khô nhưng chưa hoai nên khi bón vào cây sẽ phân hủy làm cho rễ cây bị “xót”, rụng trái (Trần Văn Hậu và cs, 2013) [41]
Dựa vào hàm lượng của chúng trong cây và cả chức năng sinh lý mà người ta chia các nguyên tố thiết yếu thành các nhóm khác nhau Dựa vào hàm lượng trong cây người ta chia thành nguyên tố đa lượng (0,1 - 1,5% khối lượng chất khô), nguyên tố vi lượng (< 0,1% chất khô) và nguyên tố siêu vi lượng (10-8 - 10-17% khối lượng chất khô) (Trần Thượng Tuấn và cs 1996)[14] Dựa vào chức năng hóa sinh và sinh lý của các nguyên tố khoáng đối với cây, người ta phân chúng thành 4 nhóm bao gồm: chất dinh dưỡng tham gia cấu tạo chất hữu cơ của cây; các chất dinh dưỡng có vai trò quan trọng trong dự trữ năng lượng và toàn vẹn cấu trúc; các nguyên tố dinh dưỡng tồn tại ở dạng ion và các chất dinh dưỡng có liên quan đến vận chuyển điện tử (Lương Thị Kim Oanh, 2011) [10]
* Đạm: Đạm là nguyên tố có ảnh hưởng lớn nhất trong sản xuất cây có múi, cây có múi cần nhiều nitơ hơn so với chất dinh dưỡng khác Nitơ là một thành phần của chất diệp lục, kết hợp với chức năng quan trọng trong cây như tăng trưởng, phát triển bộ lá, hình thành hoa, đậu, phát triển và chất lượng quả Đủ nitơ cây sinh trưởng khỏe, sung sức, quả nhiều, phát triển cân đối Thiếu nitơ mất màu xanh của
lá cây, lá cây tái nhợt, nhỏ Lá già rụng vào đầu mùa, rìa lá mỏng, cành cây bị chết Cây tăng trưởng chậm, phát triển nhiều cành tược, tỷ lệ đậu quả thấp, quả nhỏ, giảm năng suất đáng kể Khi thiếu nitơ nhẹ lá màu xanh vàng nhạt, nặng cành non chết khô, chồi ngắn, rụng quả non Sự thiếu hụt nitơ tồi tệ hơn khi lượng phốt pho thấp Thừa nitơ làm giảm chất lượng quả và rút ngắn thời gian cất trữ Quả lớn nhanh và phồng, tăng thời gian quả xanh, quả chín chậm Vỏ quả dày lên và thô, tép khô, tăng thời gian chuyển màu của dịch quả Dư thừa nitơ thúc đẩy sự tươi tốt của cây nhưng
dễ mẫn cảm với điều kiện ngoạicảnh
Trang 28* Phospho: Đối với nguyên tố này, ít có các triệu chứng thiếu hụt được nhìn thấy trên lá, sự sinh trưởng, năng suất, chỉ khi thiếu hụt quá mức thì lá có màu xanh sạm và cây dễ bị đổ Phospho thấp ảnh hưởng đến chất lượng quả, gây biến dạng quả và lõi rỗng và thô, vỏ dày, quả mềm và khô nước, chua Tuy nhiên, không ảnh hưởng đến tổng chất rắn hòa tan của dịch quả Trong nhiều trường hợp sử dụng quá nhiều phân đạm thì hậu quả của việc thiếu lân lên chất lượng quả sẽ rõ ràng hơn Do
đó, việc cung cấp cân đối đạm và lan sẽ cho năng suất và chất lượng quả tốt hơn
Quá nhiều phos pho không gây ra bất kỳ tổn thất nào về năng suất, chất lượng quả, nhưng cũng có thể tác động làm thiếu kẽm trong cây và giảm hiệu quả sản xuất
* Kali: Trường hợp thiếu kali sẽ làm quả nhỏ nhưng lá vẫn không có triệu chứng gì, thiếu trong thời gian dài, lá mới bị dày và nhăn nheo, vùng giữa các gân
lá bị mấ tdiệp lục và sau đó có các vết chết khô, khi thiếu trầm trọng đầu đọt bị rụng, lá bị chết khô, cây thường bị chảy gôm, quả thô, phẩm chất kém Bón kali sun fat thích hợp hơn kali clorua vì phần lớn các giống đều mẫn cảm với clorua quá cao Kali-magiê sunfat (Patenk kali) rất thích hợp vì có 10% MgO cùng với 30% K2O
* Canxi: cần cho bộ rễ phát triển Khi bón tăng Canxi phải tăng Kali (vì hai nguyên tố này đối kháng nhau).Thiếu Canxi: Thí nghiệm trong chậu cho thấy, nếu thiếu Canxi thì dọc gân chính và mép lá nhạt màu, lá sớm rụng, mầm chết từ ngọn, quả mau rụng Thừa Canxi: Làm pH đất tăng, khi pH ≥ 7 lá cam thường bị bệnh rỉ sắt, cây khó hút các nguyên tố vi lượng (Zn, Mg, Fe)
* Magiê: Thiếu Magiê lá có màu "đỏ hồng", biểu hiện rõ ở lá già (vết hình mũi tên gốc lá) Nếu thiếu nặng hơn năng suất thấp, hàm lượng axit tổng số và vitaminC giảm.Trong lá hàm lượng Magiê ≥ 0,25% được coi là đủ, Magiê = 1.25%
là quá thừa, Magiê < 0,15% là thiếu phải bổ sung Nếu bón Kali liên tục sẽ làm giảm hấp thu Magiê của cây
* Sắt: Thiếu sắt thì lá cây mỏng, vàng, gân lá xanh, lá mau rụng, lá khô từ đầu cành trở xuống, quả rụng, cây kém chịu rét Khắc phục bằng cách phun FeSO4 0,5%
* Đồng: Thiếu Cu thì cành non mới mọc yếu ớt, cành có cạnh rõ, lá to, đậm, gân chính nhô lên Thiếu nặng thì lá nhỏ, mau rụng, quả hay bị nứt, khi còn xanh, quả chín có màu vỏ tối, thịt quả chua xốp
Trang 29* Kẽm: Thiếu Zn thì lá mọc đứng màu vàng, gân xanh, cành ngắn khô dần, quả nhỏ, vị nhạt, thịt quả khô, phẩm chất kém Cách khắc phục: phun hỗn hợp ZnSO4 0,6%
* Bo: Thiếu Bo trên lá xuất hiện đốm trắng, dần dần thành từng đám đục nhờ,
lá rụng sớm, quả nhỏ, dễ rụng, phẩm chất kém Cách khắc phục: Phun axit boric 0,25% lên lá
Vai trò của chất khoáng đối với cây đã được nhiều nghiên cứu khẳng định, rõ rệt nhất là khi đáp ứng đúng lúc cây cần
Theo một số tác giả nghiên cứu tại Pháp với năng suất 20 tấn quả/ha cam quýt lấy từ đất 50 kgN, 15kgP2O5 và 50kg K2O Theo Chapman (1968) thì trong
18 tấn quả cam quýt đã lấy từ đất 21kgN, 5kg phosphorus, 41kg Kali, 19kg Calcium, 3,5kg Mg, 2,3kg Sulfua, 45g B, 50g Fe, 90g Cu, 13g Mn và 13g Zn Theo Tandon (1987) cũng báo cáo rằng trong 30 tấn quả có: 100kg N, 60kg P2O5 350kg K2O, 40kg MgO và 30kg S (Chapman, H.D, 1968) [23]
Quá trình sinh trưởng phát triển và năng suất cây trồng của cây phụ thuộc vào tác dụng tổng hợp của nhiều yếu tố: ánh sáng, nhiệt độ, nước, thức ăn Trong điều kiện sản xuất, việc điều khiển các yếu tố để tăng sinh trưởng và năng suất rất khác nhau Điều khiển chế độ nước, thức ăn dễ hơn và thực tế sản xuất người ta coi phân bón là đòn bẩy tăng năng suất cây trồng
Cây trồng hút chất dinh dưỡng trong đất và từ phân bón để tạo nên sản phẩm của mình sau khi kết hợp với sản phẩm của quá trình quang hợp, cho nên sản phẩm thu hoạch phản ánh tình hình đất đai và việc cung cấp thức ăn cho cây
Bón phân cân đối và vừa phải có thể làm tăng chất lượng sản phẩm Thiếu chất dinh dưỡng, bón phân không cân đối hoặc bón quá nhu cầu của cây đều làm giảm chất lượng nông sản Giữa các bộ phận trong cây thì phân bón làm thay đổi thành phần hoá học của lá dễ hơn là làm thay đổi thành phần hoá học của hạt
1.4.2 Các nghiên cứu về dinh dưỡng đối với cây bưởi trong nước
Tài liệu của các tác giả Nguyễn Danh Vàn (2008) [18], Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thị Mão (2010) [6] đồng nhất quan điểm rằng phân hữu cơ là loại phân rất tốt cho nhóm cây có múi, mỗi năm nên bón cho cây khoảng từ 20 - 50kg phân hữu cơ đã hoai mục vào lúc sau khi thu hoạch
Trang 30Phân hữu cơ khi bón vào đất sẽ có tác dụng tổng hợp đối với đất Ngoài khía cạnh dinh dưỡng nó còn có tác dụng làm tăng khả năng hấp phụ, tăng tính đệm của đất, làm cho đất dự trữ dinh dưỡng, nước được tốt hơn và phản ứng môi trường đất
ít biến đổi hơn Về mặt lý học, phân hữu cơ làm tăng kết cấu đất nhất là số lượng kết cấu viên, làm cải thiện thành phần cơ giới đất và cải thiện tính chất vật lý nước của đất Về mặt sinh tính, phân hữu cơ làm tăng số lượng sinh vật đất, nhất là vi sinh vật Khi bón đầy đủ phân hữu cơ, hệ sinh vật đất sẽ phát triển mạnh và theo đúng quy luật tự nhiên, góp phần làm cho đất có sức sống tốt
Đối với cây trồng, phân hữu cơ không chỉ cung cấp chất dinh dưỡng cho cây
mà còn có tác dụng hoạt hoá các quá trình chuyển hoá dinh dưỡng trong đất để cung cấp cho cây
Như vậy, phân hữu cơ có tác dụng khá toàn diện đối với cây trồng, đất đai, môi trường… Tuy nhiên, đối với trình độ phát triển của nước ta nói riêng và nên nông nghiệp của thế giới hiện nay nói chung thì phân hữu cơ đóng vai trò là điều kiện đủ Phân hóa học mới là yếu tố đóng vai trò điều kiện cần Trong nền nông nghiệp hiện này, việc ra đời của phân hóa học đã làm tăng rất nhanh năng suất cây trồng Thực tế đã chứng minh rằng, mức tăng năng suất cây trồng ở trong mối liên
hệ chặt chẽ với số lượng phân bón được sử dụng
Đối với Việt Nam hiện nay đang ở giai đoạn quá độ nền kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn, tiềm năng thâm canh cây trồng còn lớn, hệ số sử dụng đất và phân bón còn thấp Nước ta đang cần một lượng lương thực thực phẩm lớn để giải quyết vấn đề lương thực trong nước và xuất khẩu Vì vậy, Đảng và nhà nước ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hoá - hoá học hoá nông nghiệp nông thôn, đẩy mạnh sản xuất và sử dụng phân hóa học để tăng năng suất và sản lượng cây trồng Tuy nhiên về vấn đề kỹ thuật, chúng ta phải quan tâm khuyến cáo việc sử dụng phân bón cân đối giữa vô cơ - hữu cơ, cân đối NPK, bón phân hợp lý theo nhu cầu của cây
và tính chất đất để vừa đảm bảo năngsuất vừa tiết kiệm phân bón
Trang 31Nguyễn Thế Đặng, Nguyễn Thị Mão (2010) [6] đã đưa ra khái niệm về quy trình bón phân hợp lý rằng: Quy trình phân bón cho cây là toàn bộ các quy định hợp
lý về loại, dạng, lượng phân, thời kỳ bón và cách bón cho một cây trồng cụ thể Quy trình bón phân hợp lý là quy trình bón phân vừa đáp ứng đầy đủ và kịp thời yêu cầu của cây, vừa góp phần cải tạo đất và đem lại lợi nhuận tối đa cho nông dân Do vậy muốn giải quyết tốt chế độ phân bón cho cây phải dựa vào đất đai, căn cứ vào yêu cầu của cây, xem xét điều kiện thời tiết, khí hậu Ngoài ra còn phải xem xét đến hệ thống luân canh, chế độ canh tác, hệ thống nông nghiệp và ngay cả loại phân đem bón nữa
Cây bưởi cũng như những cây ăn quả thân gỗ khác, vòng đời của chúng được chia thành 3 thời kỳ bao gồm: Thời kỳ cây con (thời kỳ kiến thiết cơ bản), thời
kỳ cho thu hoạch sản lượng (thời kỳ kinh doanh) và thời kỳ già cỗi Trong mỗi thời
kỳ thì sự sinh trưởng có sự khác nhau, quá trình chăm sóc cũng khác nhau Chu kỳ phát triển hàng năm bao gồm giai đoạn ra lộc, giai đoạn ra hoa, giai đoạn mang quả
và giai đoạn sau thu hoạch Trong phạm vi của đề tài, chúng ta chỉ xét đến dinh dưỡng cho cây theo chu kỳ phát triển hàng năm trong thời kỳ kinhdoanh
Cùng quan điểm với Nguyễn Thế Đặng, tác giả Nguyễn Danh Vàn (2008) [18] đã đưa ra mức phân bón chung cho cây bưởi trong thời kỳ kinh doanh rằng: thời kỳ kinh doanh (từ năm thứ 5 trở đi) cần gia tăng phân Kali để cho quả ngọt và chắc Tùy theo độ màu mỡ của đất, độ lớn của cây mà lượng phân có thể gia giảm như sau: 20 - 50kg phân chuồng đã hoai mục; 0,2 - 0,5kg Urea; 4,0 - 5,0kg Lân, 1,5
- 2,5kg Kali/cây/năm và được chia làm 3 lần bón là sau thu hoạch, trước khi ra hoa 4
- 6 tuần và khi nuôi quả
Tuy nhiên, mỗi giống bưởi ở mỗi vùng sinh thái lại có những nhu cầu khác nhau, lượng phân và số lần bón cho một cây trong một năm đối với một số giống được tổng hợp trong bảng sau:
Trang 32Viện Nghiên cứu Rau quả (2011)[43]
Dựa vào bảng số liệu cho thấy, các quy trình bón phân chủ yếu dựa vào tuổi cây, quy trình bón phân cho bưởi Diễn của Viện Nghiên cứu Rau quả đưa ra dựa vào năng suất của cây để bón phân
Nhìn chung, cho đến thời điểm cho thu hoạch ổn định (> 10 năm với năng suất trên dưới 100kg/cây), lượng phân chuồng cho các giống dao động từ 30 - 100kg/cây, 0,7 - 2,2kg/cây phân Urea, 1,5 - 2,2kg/cây phân Supe Lân, lượng Kali là 0,5 - 1,1kg/cây và vôi là 1 - 1,5kg/cây Trong đó, quy trình sử dụng cho bưởi Năm Roi yêu cầu lượng phân lớn nhất, sau đó là bưởi Diễn, bưởi Phúc Trạch và cuối
Trang 33cùng là bưởi Da Xanh Riêng quy trình bón cho bưởi Diễn không thấy nhắc đến yếu
tố vôi
* Về số lần bón và cách bón
Trong thời kỳ cho thu hoạch, số lần bón đối với mỗi giống có sự khác nhau, quy trình bón phân cho bưởi Diễn bao gồm 3 lần bón là bón thúc hoa (tháng 2), bón thúc quả (tháng 4 -5), bón sau thu hoạch (tháng 11 - 12), quy trình trồng bưởi Năm Roi của Trung tâm Khuyến nông Quốc gia và quy trình trồng bưởi Phúc Trạch của Nguyễn Hữu Ngọc (Trung tâm Khuyến nông - Khuyến lâm hà Tĩnh) chia ra 4 lần bón vào các đợt tháng 1-2, tháng 4, tháng 6 và tháng 9-10 Quy trình trồng bưởi Da Xanh của tác giả Tuyết Mai (Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre) chia thành
5 lần bón gồm bón sau thu hoạch, bón thúc hoa, sau khi đậu quả, giai đoạn quả phát triển và bón sau thu hoạch
Về phương pháp bón, có thể bón theo 2 cách bón như sau:
- Bón trực tiếp vào đất: Đây là cách bón thông dụng và rẻ tiền nhất, đầu tiên người ta đào một rãnh xung quang tán có độ sâu từ 30 đến 45cm sau đó rải phân đều và lấp hố Bón phân theo cách này luôn phải kết hợp với việc tưới nước
- Phun phân qua lá: Cách bón này dựa trên nguyên lý là lá cây cũng có thể hấp thụ các nguyên tố dinh dưỡng và chuyển hoá thành năng lượng nuôi cây Sử dụng phân bón lá đã khá phổ biến ở nhiều nước trồng cây có múi Người ta thường
áp dụng phân bón lá trong các trường hợp sau
+ Đất nghèo dinh dưỡng
+ Đất khô hạn
+ Bộ rễ cây kém phát triển
Trong phạm vi của đề tài, phân được bón theo cách thứ nhất Theo cách bón này, các quy trình đồng nhất về kỹ thuật bón là bón theo hình chiếu của tán Đối với bón lót thì đào rãnh 30 - 40cm, bón và lấp phân Đối với bón thúc thì bón theo hình chiếu tán, lấy cào lấp phân, nếu trời khô hạn thì tưới nước sau khi bón hoặc hòa phân vào nước để tưới Cũng có thể vãi phân theo hình chiếu tán vào lúc trời có mưa, đất ẩm
Trang 341.5 Nghiên cứu về sử dụng phân bón lá và chất điều hòa sinh trưởng
1.5.1 Nghiên cứu trên thế giới
Ảnh hưởng của GA 3 tới đậu quả và phát triển quả của cây có múi đã được khá nhiều tác giả trên thế giới đề cập Các nghiên cứu chỉ ra rằng: GA 3 ngoại sinh có tác dụng tốt trong việc tăng tỷ lệ đậu quả của những giống có kiểu gen tạo quả không hạt
và kiểu gen tự bất tương hợp (Parthernoarpic và Self - Incompartible), trong điều kiện
không có thụ phấn chéo (Schafer và cs, 2000) [30], (Soost và Burnett, 1961) [32], (Talon và cs, 1990), [33], (Talon và cs, 1992) [34], (Turnbull, 1989) [37] Vai trò sinh
lý quan trọng của Giberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo chiều dọc, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả (Feinstein, 1975) [24]
Giberellin có tác dụng nâng cao sự đậu quả cho cây có múi một cách rõ rệt, tác dụng này đã được phát hiện trong cả loại có nhiều hạt và loại không hạt Đối với giống nhiều hạt khi phun GA 3 số lượng hạt đều giảm, tuy nhiên cũng phụ thuộc vào giống, ví dụ: với quýt Dancy thì thành công nhưng giống Temple lại không có kết quả Phun GA 3 cho bưởi Orlando tangelo với nồng độ 2,5 - 10 ppm trong thời gian
nở hoa làm tăng sự đậu quả, nhưng khi phun với nồng độ cao hơn sẽ là nguyên nhân tổn thương nặng và làm giảm năng suất, tổn thương biểu hiện là lá của những mầm sinh dưỡng mới mọc và hoa bị rụng và chết Hiệu quả của phun GA 3 có thể được nâng cao khi phun bổ sung dinh dưỡng hoặc amonia (NH 4 ) vì chúng làm tăng khả năng tổng hợp Giberellin nội sinh, thường phun sớm cho kết quả tốt hơn, phun muộn có thể gây tác hại Việc phun kết hợp dinh dưỡng với GA 3 cho cây có múi ở Israel là việc làm rất phổ biến (Rajput và Sriharibabu, 1985) [28]
Ảnh hưởng của GA3 tới đậu quả và phát triển quả của cây có múi đã được khá nhiều tác giả trên thế giới đề cập Các nghiên cứu chỉ ra rằng: GA3 ngoại sinh
có tác dụng tốt trong việc tăng tỷ lệ đậu quả của những giống có kiểu gen tạo quả không hạt và kiểu gen tự bất tương hợp (Parthernoarpic và Self - Incompartible), trong điều kiện không có thụ phấn chéo (Turnbull, 1989) [37] Vai trò sinh lý quan trọng của Gibberellin đối với cây trồng nói chung là kích thích sự giãn tế bào theo
Trang 35chiều dọc, kích thích sự nảy mầm của hạt và củ, ảnh hưởng đến phân hoá giới tính của các cơ quan sinh sản (ức chế sự phát triển hoa cái, kích thích sự phát triển hoa đực), kích thích sự sinh trưởng của quả Feinstein (1975) [24]
Theo Woo-Nang Chang và Jan Bay Petersen (2003) [38], tại Châu Á nhiều vườn cây ăn quả được bố trí trên đất dốc và xấu, chua, có hàm lượng chất hữu cơ thấp, hàm lượng Ca và Mg trên các đất này cũng thấp Trước đây các nhà vườn châu Á coi thường tầm quan trọng của việc bón vôi và các chất hữu cơ, sử dụng quá nhiều phân hoá học để đạt năng suất tối đa Kết quả là các vườn cây bị mất cân bằng dinh dưỡng do bón quá liều N, P, K Khi xảy ra điều đó năng suất và chất lượng quả
bị giảm sút, nhiều cây bị rối loạn dinh dưỡng Theo các tác giả hiện nay có hai cách bón chính: i) Bón trực tiếp vào đất: Đây là cách bón phổ biến, đầu tiên người ta đào một rãnh xung quang tán có độ sâu 30 - 45cm sau đó giải đều phân và lấp hố, kết hợp với tưới nước; ii) Phun phân qua lá: Cách bón này dựa trên nguyên lý lá cây có thể hấp thụ được các nguyên tố dinh dưỡng và chuyển hoá nó thành năng lượng nuôi cây Sử dụng phân bón lá khá phổ biến ở nhiều nước trồng cây có múi và áp dụng trong các trường hợp sau: Đất nghèo dinh dưỡng, đất khô hạn, bộ rễ kém phát triển Khi sử dụng phân bón lá cần lưu ý hoà tan hoàn toàn phân trong nước, nguồn nước sử dụng phải là nước không có axit hoặc không có kiềm
Phân vi lượng chứa những nguyên tố cần thiết cho sinh trưởng của cây với một lượng rất nhỏ Hầu hết chúng tham gia tạo thành các coenzim hoặc tham gia hoạt động vào các enzyme trong thực vật (Chapman, 1950) [20] Ở các nước phát triển (Mỹ, Anh và các nước Đông Nam Á khác) bón phân vi lượng cho cây có múi
là việc bắt buộc để khắc phục tình trạng thiếu vi lượng trong đất Người ta đã lập bản đồ vi lượng trong toàn quốc, xác định các vùng thiếu vi lượng, đồng thời các nhà máy sản xuất phân vi lượng ra đời với công suất hàng triệu tấn/năm Sử dụng phân vi lượng có hiệu quả, có ba phương pháp: Xử lý hạt, phun lên lá và bón trực tiếp vào đất Đối với các cây ăn quả, cây có bộ khung tán lớn nên dùng phương pháp phun lên lá (Quyang Tao, 1990) [27] Magiê có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất cây có múi Các nguyên tố vi lượng khác nhau: B, Fe, Cu, Zn, Mn ít nhiều đều
có ảnh hưởng đến năng suất và phẩm chất quả Tuỳ thuộc vào loại đất, mức độ thiếu
Trang 36hụt của các nguyên tố vi lượng nói trên mà mức độ ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng quả nhiều hay ít Bón đầy đủ phân chuồng và phân hữu cơ có thể khắc phục được tình trạng thiếu các nguyên tố vi lượng trong đất (Đỗ Đình Ca và cs, 2008) [3] Việc bổ sung dinh dưỡng cho cây có múi có thể căn cứ trên các mảng yếu tố khác nhau trong đó: Chuẩn đoán dinh dưỡng bằng phân tích đất, phân tích lá và dựa vào các thí nghiệm bón phân được sử dụng phổ biến hơn cả Dựa trên 4 nguyên tắc chuẩn đoán, Reuther và Smith đã xây dựng được tiêu chuẩn về thành phần dinh dưỡng của lá gồm 5 cấp: thiếu, thấp, tối thích, cao và thừa Như vậy, có thể căn cứ vào các mức độ đánh giá: thiếu - thấp - tối ưu - cao - thừa mà quyết định có bón phân hay không, bón những loại phân nào, liều lượng ra sao, đồng thời ta cũng có thể căn cứ vào mức đánh giá này để điều chỉnh loại, lượng bón vào mùa sau sao cho đạt được hiệu quả tối ưu (Tucker, 1995) [36]
Singh (1981) [31] cho thấy phun các chất đa vi lượng trên cây quýt, phun sulphate kẽm nồng độ 0,5% kết hợp với sulphate đồng 0,5% làm giảm hiện tượng trái bị khô múi (45%) so với đối chứng (78%) Phun nitrate kali 1% tỷ lệ trái bị khô múi 50%, giảm 24% so với đối chứng Phun Boric acid 25 – 50 ppm và hydroxyt canxi 2% cũng làm giảm tỷ lệ trái bị khô múi Phẩm chất trái ở tất cả nghiệm thức
xử lý trung vi lượng đều được cải thiện so với đối chứng Tỷ lệ trái quýt Kaula bị khô múi giảm từ 62,7% xuống 30,7% sau 3 lần phun NAA 300mg/l Sử dụng GA3
15 mg/l cũng có hiệu quả tương đương với 31,3% tỷ lệ trái khô đầu múi sau 3 lần phun Chất lượng trái ở hai nghiệm thức này cũng được cải thiện với các chỉ tiêu về chất lượng như trọng lượng trái, phần trăm thịt trái, tổng chất rắn hoà tan, vitamin C (Singh và Singh, 1981) [31] Sử dụng kết hợp KNO3 1%, Ca(OH)2 2% và boric axít 100 mg/l làm giảm tỷ lệ trái khô đầu múi và tăng năng suất trái cam ngọt Valencia Phun a xít boric (H3BO3) 50 ppm làm giảm hiện tượng khô đầu múi trên quýt Hồng, tăng đường và axíttrong ruột quả, hàm lượng pectin nhiều hơn sẽ giúp trái giữ được nước nhiều hơn nên làm giảm hiện tượng khô đầu múi Xử lý axít boric không làm thay đổi pH, độ brix và hàm lượng vitamin C của dịch trái
1.5.2 Nghiên cứu trong nước
Phân bón lá là một dạng phân đa yếu tố, chứa các chất đa lượng, trung lượng và
vi lượng, nó cung cấp một cách kịp thời dinh dưỡng cho cây trồng phát triển tốt, giúp
Trang 37cây nhanh chóng phục hồi sau khi trải qua các hiện tượng thời tiết bất thuận Những loại phân chứa các nguyên tố vi lượng và chất điều hòa sinh trưởng như GA 3
(Giberellin) có tác dụng làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả, mã quả, chất lượng và giảm số lượng hạt nếu phun vào những thời kỳ thích hợp (Lê Văn Tri, 2001) [16] Chất mùn hữu cơ trong đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây trồng thông qua các đặc tính lý, hóa và sinh của đất như: (a) Cung cấp đạm, lân, lưu huỳnh và các vi lượng một cách từ từ cho cây; (b) Tích trữ dưỡng chất từ phân hóa học Vai trò này rất quan trọng, giúp hạn chế việc mất phân sau khi bón vì nếu không chúng bị bốc hơi hoặc rửa trôi Những chất dinh dưỡng được giữ lại sau đó được phóng thích cho cây hấp thụ khi cần thiết; (c) Cải thiện cấu trúc của đất, làm đất có nhiều lỗ rỗng hơn vì thế đất trở nên thông thoáng, giúp sự di chuyển của nước trong đất dễ dàng, giữ được nhiều nước hơn; (d) Làm tăng mật độ vi sinh vật trong đất, bao gồm cả vi sinh vật có lợi Ngoài ra, mùn còn có vai trò kích thích cho cây trồng phát triển Đặc tính này là do sự hiện diện của những chất có chức năng như chất điều hòa sinh trưởng thực vật có trong mùn hữu cơ, có hoạt tính tương tự như IAA, Gibberillin, Cytokinin hoặc là những chất ngăn cản sự phân hủy auxin Phân hữu cơ được bón vào đầu mùa nắng để tránh sự cạnh tranh oxy giữa vi sinh vật phân hủy hữu cơ và rễ cây ăn quả Liều lượng phân hữu cơ bón cho cây ăn quả tùy thuộc vào loại phân, loại cây và đặc tính của đất, thông thường nên bón từ 10 -
20 tấn Tác giả Nguyễn Minh Châu (1997) [4] nghiên cứu hiệu quả của một số loại phân bón cho bưởi Năm Roi cho thấy: Bón phân hữu cơ đã cải thiện độ chua, làm tăng dinh dưỡng của đất, tăng phẩm chất trái sau tồn trữ 30 ngày
Theo Nguyễn Minh Châu (1997) [4], với cây ăn quả có múi, để tạo ra 1 tấn quả cây sẽ lấy đi của đất 1,18 đến 1,29 kg N; 0,2 đến 0,27 kg P2O5; 2,06 đến 2,61
kg K2O và 0,97 đến 1,04 kg MgO, ngoài ra còn một lượng nhỏ các nguyên tố vi lượng Do vậy, để cây bưởi có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt cần phải bổ sung phân bón thường xuyên nhằm đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng Khi nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng đạm, lân và kali đến năng suất và phẩm chất bưởi đường Lá Cam tại Vĩnh Cửu - Đồng Nai các tác giả Huỳnh Ngọc Tư và Bùi Xuân Khôi (2003) [17] cho thấy: Khi bón 800 g N + 500 g P2O5 + 700 g K2O/cây/năm cho năng suất cao và chất lượng tốt nhất
Trang 38Trong điều kiện trồng cây thâm canh, để có năng suất và chất lượng cao, cây
ăn quả cần phải được bón phân hóa học mới đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng cho cây, việc bón phân qua lá là giải pháp cực kỳ hiệu quả để ngăn ngừa sự thiếu hụt dinh dưỡng, bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây Ngoài tác dụng bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chống chịu sâu bệnh
và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi Tuy nhiên hiệu quả của phân bón lá còn phụ thuộc vào các giống cây trồng, các giai đoạn sinh trưởng của cây và phụ thuộc vào loại phân, nồng đô, liều lượng, thời gian sử dụng Các phân bón lá được sử dụng rộng rãi hiện nay là Komix, Yogen, Grown, Con cò, HP, Đầu trâu Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức bón phân trên cây bưởi Phúc Trạch của tác giả
Võ Tá Phong (2004) [11] chỉ ra rằng: Các công thức phun phân bón lá Super 900, đạm Humic, Agriconic, Futonic và bón phân theo quy trình thâm canh của Trung tâm Khuyến nông Khuyến lâm Hà Tĩnh có tác dụng rõ trong việc nâng cao khả năng sinh trưởng của cây, nhưng tỷ lệ đậu quả rất thấp và không có sai khác so đối chứng Đỗ Đình Ca và cộng sự (2005) [2] nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón, tưới nước đến khả năng ra hoa, đậu quả của bưởi Phúc Trạch từ 2003 - 2004 cho thấy: Bón 800g N + 400g P2O5 + 600g K2O + phun phân bón lá Grown ba lá xanh cho năng suất cao nhất, biện pháp tưới nước có ảnh hưởng tốt tới khả năng sinh trưởng nhưng tác dụng nâng cao tỷ lệ đậu quả, năng suất chưa rõ Nghiên cứu bón phân cho bưởi Thanh Trà cho thấy: Bón phân Đầu trâu cho kết quả tốt nhất (tỉ lệ đậu quả đạt 2,16%, khối lượng quả đạt 1,10 kg, chất lượng quả tốt nhất), Sử dụng phân Con
cò công thức bón NPK: 800g N + 400 P 2 O 5 + 600 K 2 O cho kết quả tương tự (tỉ lệ đậu quả đạt 1,96% khối lượng quả 1, 02 - 1,08kg)
Theo Thạc sĩ Lê Thị Hoàng Trúc (2017) [42] có 2 hình thức bón phân cho cây có múi là bón phân qua gốc và bón phân qua lá Trong đó hình thức bón phân qua gốc là cơ sở chủ yếu cung cấp dinh dưỡng cho cây Hình thức phân bón qua lá
là loại phân có hàm lượng dinh dưỡng thấp nhưng chất dinh dưỡng lại được cung cấp cho cây nhanh hơn Ngoài ra, có thể bổ sung một số dưỡng chất khác như: Acid amin, vitamin và các chất điều hòa sinh trưởng Khi ta phun lên lá thì hiệu xuất hấp thụ dưỡng chất của cây cao hơn (từ 90- 95%) so với phân bón gốc
Trang 39Các kết quả chỉ ra rằng khi bón phân qua lá dạng hoà tan thì lá cây sẽ hấp thu hết 95% lượng phân Vì vậy việc cung cấp các chất dinh dưỡng dạng vi lượng cho cây thông qua lá là việc làm đem lại hiệu quả cao, có thể nói cao gấp 8-10 lần so với cung cấp vào đất Ngoài tác dụng bổ sung dinh dưỡng kịp thời cho cây, phân bón lá còn tăng cường khả năng chông chịu sâu bệnh và các điều kiện ngoại cảnh bất lợi
Ở nước ta những nghiên cứu sử dụng chất điều tiết sinh trưởng cho cây có múi đặc biệt là trên cây bưởi chưa nhiều Một số nghiên cứu cho thấy sử dụng phun GA 3
đã làm tăng khả năng ra hoa đậu quả và làm giảm số lượng hạt trên một số giống cam, bưởi Tuy nhiên, đây mới chỉ là kết quả bước đầu
Theo tác giả Võ Tá Phong, (2004) [11] các công thức phun GA 3 ; Botrat; Bội Thu Vàng cho bưởi Phúc Trạch vào các thời điểm phát lộc, ra hoa, hoa nở rộ, cánh hoa đã thâm không có tác dụng trong việc giữ quả so với đối chứng, số quả thực thu
ở các công thức chỉ từ 2 - 4 quả/cây
Đỗ Đình Ca (2008) [3], nghiên cứu xử lý GA 3 cho cam Xã Đoài trồng ở Khoái Châu - Hưng Yên, và bưởi Thanh Trà trồng ở Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế, kết quả cho thấy: Xử lý GA 3 với các nồng độ 70 - 100 ppm ở thời điểm cây nở hoa có tác dụng làm giảm hạt rõ rệt đối với cam Xã Đoài, trung bình chỉ còn 0 - 7 hạt/quả (bình thường cam Xã Đoài có từ 25 - 30 hạt/quả); đối với bưởi Thanh Trà xử lý
GA 3 kép 3 lần (trước nở hoa 5 - 7 ngày, nở hoa rộ và sau nở hoa 5 - 7 ngày) hoặc kép 2 lần (nở hoa rộ và sau nở hoa 5 - 7 ngày) với nồng độ 60 - 70 ppm cho hiệu quả cao nhất, số hạt chỉ còn từ 8 - 11 hạt/quả so với đối chứng 99 -140 hạt/quả
Theo Lã Tuấn Hưng (2016) [7] Các công thức phân bón lá và bao quả có hiệu quả kinh tế từ 322.510 - 468.634 nghìn đồng/ha Trong đó, công thức sử dụng phân bón lá Đầu trâu 902 và bao quả Trung Quốc có hiệu quả kinh tế cao nhất đạt 468.634 nghìn/ha (N2V2), tiếp đến là công thức sử dụng phân bón lá đầu trâu 902
và không bao quả đạt 447.580 nghìn/ha (N2V0), thứ 3 là công thức sử dụng phân bón lá đầu trâu 902 và bao quả Việt Nam có lãi thuần đạt 429.160 nghìn/ha (N2V1)
và thấp nhất là công thức không bón phân và sử dụng bao quả Việt Nam có lãi thuần đạt 322.510 nghìn/ha (N0V1)
Trang 401.6 Kết luận rút ra từ tổng quan
Ở nước ta những nghiên cứu sử dụng chất điều hòa sinh trưởng cho cây bưởi chưa nhiều Một số nghiên cứu cho thấy, sử dụng phun GA3 đã làm tăng khả năng ra hoa, đậu quả và làm giảm số lượng hạt trên một số giống bưởi nhưng đây mới chỉ là kết quả bước đầu Vì vậy, cần tiếp tục nghiên cứu kỹ hơn đối với giống bưởi Đại Minh và trong điều kiện sinh thái, sản xuất cụ thể
Đã có những nghiên cứu về biện pháp kỹ thuật sử dụng phân bón lá cho cây bưởi, có tác dụng làm khả năng sinh trưởng, tăng năng suất, Tuy nhiên, có những kết luận về sự ảnh hưởng của chúng tới năng suất, phẩm chất quả còn khác nhau Vì vậy, việc nghiên cứu, xác định được loại phân bón qua lá phù hợp trong điều kiện sản xuất, thổ nhưỡng cụ thể tại huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái là cần thiết.