Câu 1 : Những Ưu điểm và hạn chế của nền giáo dục Việt Nam hiện nay : Hạn Chế : Giáo dục - đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp
Trang 1CHỦ ĐỀ TIỂU LUẬN CHUYÊN ĐỀ
“GIÁO DỤC HỌC ĐẠI HỌC THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM”
Câu 1 :Anh/ chị hãy đánh giá những Ưu điểm và hạn chế của nền giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay
Câu 2 : Nêu nhưng xu hướng đổi mới sáng tạo trong giáo dục đại học trên thế giới hiện nay và đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam
Câu 1 :
Những Ưu điểm và hạn chế của nền giáo dục Việt Nam hiện nay :
Hạn Chế : Giáo dục - đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được
khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu
- Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
- Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy “người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo,
kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối
- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp
- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập
- Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những
Trang 2quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách
về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí, xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội
- kiểu học " nửa vời " của học sinh hiện nay là vấn đề đáng lo ngại cho sự phát triển của đấtnnước ta ngày sau
- ngày nay mọi người học với mục đích " hòng cầu danh lợi " nên khó có thể hiệu quả chất lượng dạy lên được
- kiểu dạy sơ qua bài học của một số giáo viên hiện nay chỉ với mục đích là kiếm thêm thu nhập cho mình cũng như gia đình
- Kiểu " đút lót " giáo viên được phổ biến và rộng rãi đối với các bậc phụ huynh hiện nay
- kiểu " thiên vị " " con ông cháu cha " đang khá phổ biến và là vấn đề đáng quan tâm ở hiện nay
Ưu Điểm của giáo dục hiện nay.
- Nên giáo dục Việt Nam đang từng ngày được trú trọng và phát triển với cái trang thiết bị hiện đại đầy đủ tiện nghi để thuận lợi cho việc học và dạy của giáo viên và học sinh
- nước ta là một nước xưng nền văn hiến đã khá lâu nên tinh thần tự giác cao => nước ta có khá nhiều giáo sư , tiến sĩ và nhân tài
- nước ta là một nước ham học hỏi vì vậy nền giáo dục của Việt Nam càng được phát triển hơn
- với chất lượng dạy tốt , một số trường đại học của Việt Nam lọt vào danh sách top những ngôi trường đạt chuẩn quốc tế
Câu 2:
Nhưng xu hướng đổi mới sáng tạo trong giáo dục đại học trên thế giới hiện nay:
1 Quốc tế hóa
Bên cạnh nhiệm vụ phát triển nghiên cứu, giảng dạy và đổi mới, sự quốc tế hóa trong giáo dục ngày càng được xem là phương tiện để phát triển tầm nhìn và ảnh hưởng của cơ sở đào tạo và của quốc gia Báo cáo của Hội đồng Anh về các chính sách quốc gia liên quan đến sự tham gia quốc tế vào giáo dục đại học cho thấy, số lượng các quốc gia cam kết vào sự quốc tế hóa trong giáo dục đại học gia tăng Ví dụ, 23 trong số 26 quốc gia được nghiên cứu hiện đang có các chính sách hiệu quả nhằm thúc đẩy các chương trình du học; trao đổi học tập của sinh viên Các quốc gia được đánh giá là cởi mở nhất trong các chính sách ủng hộ việc trao đổi và quốc tế hóa là Australia, Đức, Anh, Malaysia và Trung Quốc
2 Hợp tác và nghiên cứu
Theo Số liệu của Scopus và Thomson Reuters ([1], trang 22), tổng số bài báo nghiên cứu toàn cầu chỉ tập trung vào một số ít các quốc gia: trong thời gian từ
Trang 31996 - 2010, chỉ có 5 quốc gia chiếm hơn một nửa tổng số (Hoa Kỳ, Trung Quốc, Anh, Nhật và Đức) và 15 quốc gia chiếm hơn ba phần tư tổng số
Hợp tác quốc tế về nghiên cứu có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia, tỉ lệ trung bình hiện nay khoảng 45% ở Anh, 30% ở Mỹ, 15% ở Trung Quốc, 45 -50% ở Đức và Hà Lan, và cao nhất 65% ở Thụy Sĩ Năm 2010, các quốc gia hàng đầu về xuất bản các bài báo nghiên cứu học thuật thông qua hợp tác quốc
tế là Mỹ (143.000), Anh (62.000), Đức (58.000), Trung Quốc (47.000), Pháp (44.000), Canada (35.000) và Ý (30.000)
Có mối tương quan chặt chẽ giữa tỉ lệ hợp tác nghiên cứu quốc tế và trích dẫn tài liệu Mặc dù đó không phải là mối quan hệ nhân quả, nhưng mối liên hệ này
là tích cực và có ý nghĩa thống kê (năm 2010, 80% sự thay đổi trong chỉ số trích dẫn tài liệu được lí giải bởi tỉ lệ hợp tác nghiên cứu quốc tế)
3 Xu hướng di chuyền trong sinh viên
Số lượng sinh viên lựa chọn học tập tại một trường đại học ở nước ngoài đã tăng mạnh trong những thập kỷ gần đây, tăng gần gấp bốn lần từ 1,3 triệu vào năm 1990 lên 5 triệu vào năm 2014 Báo cáo về xu hướng năm 2015 nhấn mạnh, sự di chuyển toàn cầu trong sinh viên đã thay đổi đáng kể từ hơn một thập kỷ qua, từ chỗ sinh viên di chuyển theo một hướng duy nhất từ đông sang tây sang một trào lưu di chuyển đa hướng và bao gồm cả việc gửi đi và đón tiếp
ở các quốc gia phi truyền thống 6% sinh viên đại học thuộc khối các quốc gia OECD là quốc tế, tỉ lệ này có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia Hơn một phần năm (21,1%) sinh viên ở Anh là sinh viên quốc tế - nhiều hơn bất kỳ quốc gia lớn nào khác, tiếp đến là Úc với 20,7%, so với 8% ở Đức và 5% ở Hoa Kỳ ([5], trang 14)
Các con số đã khẳng định sự gia tăng của một xu hướng mới trong di chuyển của sinh viên, đó là xu hướng du học gần nhà Ở Mỹ La tinh, tỉ lệ sinh viên du học trong khu vực tăng từ 11% năm 1999 lên 23% năm 2007, trong khi tỉ lệ sinh viên Đông Á lựa chọn du học tại các nước ASEAN tăng từ 26% lên 42% trong cùng thời gian đó Không dưới 91% sinh viên quốc tế tại Nhật Bản đến từ châu Á ([5], trang 14)
4 Tập trung vào đảm bảo chất lượng
Trong thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã nhấn mạnh việc mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục đại học, tăng trưởng mạnh về số lượng các trường đại học và chương trình đào tạo Tỉ lệ nhập học đại học toàn cầu (tỉ lệ dân số trong độ tuổi sinh viên tại trường đại học) tăng từ 14% lên 32% trong hai thập kỷ tính đến năm
2012 ([5], trang 8)
Sự đại chúng hóa nhanh chóng này đã tạo ra một động thái ở nhiều nước nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học Ở Nam Á và châu Mỹ La tinh nói riêng, rất ít trường đại học xuất hiện trong các bảng xếp hạng quốc tế, thiếu giảng viên
có trình độ, phương pháp giảng dạy và kiểm soát chất lượng thường lạc hậu
Trang 4Mục tiêu cung cấp giảng dạy và nghiên cứu chất lượng cao thông qua một hệ thống giáo dục đại học được quốc tế công nhận để đào tạo ra những sinh viên tốt nghiệp được trang bị các kỹ năng theo yêu cầu của các nhà tuyển dụng địa phương và khu vực là trọng tâm của tất cả các cải cách giáo dục quốc gia Nhưng cách thức mà các quốc gia nhắm đến để đạt được mục tiêu đó rất khác nhau
Chúng ta sẽ tìm hiểu 2 ví dụ cụ thể về các chương trình cải tổ giáo dục đại học gần đây của Ecuador và Ấn Độ ([5], trang 8) Trong khi Ecuador tập trung vào việc đo lường và đánh giá kết quả học tập của sinh viên thì Bộ Giáo dục Ấn Độ lại lựa chọn nâng cấp cơ sở hạ tầng giáo dục đại học Thực thi chính thức vào năm 2010, 71 trường đại học của Ecuador phục vụ 600 000 sinh viên trong nước được đánh giá và xếp hạng, trong số đó 14 cơ sở bị yêu cầu đóng cửa, 26 trường khác cần được cải thiện nhiều Các cuộc cải tổ bao gồm một bài kiểm tra năng lực tuyển sinh đối với các trường đại học công lập - lần đầu tiên ở Ecuador - và yêu cầu đối với giảng viên là phải có ít nhất trình độ thạc sĩ và ưu tiên trình độ tiến sĩ Để cải thiện chất lượng giảng dạy, học bổng chính phủ được cấp cho nghiên cứu sau đại học ở nước ngoài với 3000 học bổng được trao vào năm 2012 Kể từ khi bắt đầu cải cách giáo dục, xếp hạng giáo dục đại học của Ecuador trong bảng Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu trên Diễn đàn Kinh tế thế giới đã cải thiện đáng kể, từ 93108 năm 2012 đến 73 năm 2016 -2017
5 Áp lực tìm kiếm việc làm cho sinh viên tốt nghiệp
Áp lực của sinh viên lên các trường đại học nhằm giúp họ có việc làm tốt không còn là điều mới mẻ, nó cũng đang trở thành ưu tiên lớn đối với các chính phủ Chính phủ ở nhiều nước trong những năm gần đây đã gây áp lực lên các trường đại học phải có ảnh hưởng và đáp ứng nhu cầu xã hội Điều này ban đầu tập trung vào nghiên cứu ứng dụng và mở rộng quyền học đại học, nhưng gần đây, việc cải thiện cơ hội có công ăn việc làm cũng được bổ sung
Người ta có thể mong đợi các thị trường việc làm có tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học thấp để nhanh chóng tiếp nhận sinh viên mới tốt nghiệp Nhưng ở nhiều nước đang phát triển, một sự thật ngược lại là: nhà tuyển dụng nghi ngờ về mức
độ sẵn sàng cho công việc của sinh viên tốt nghiệp, kết quả là mức thất nghiệp cao Ví dụ, ở Ấn Độ, một cuộc khảo sát của các nhà tuyển dụng cho thấy chỉ có 7% sinh viên tốt nghiệp kỹ sư (một lĩnh vực có triển vọng việc làm cao) là sẵn sàng đối với công việc Các kỹ năng đặc biệt thiếu bao gồm kỹ năng tiếng Anh
và khả năng áp dụng các vấn đề lý luận vào thực tiễn Một nghiên cứu quy mô của Hội đồng Anh về việc làm của sinh viên tốt nghiệp đại học ở châu Phi cho thấy “các nhà tuyển dụng trong khu vực phàn nàn về việc sinh viên thiếu kiến thức cơ bản, các kỹ năng kỹ thuật và kỹ năng có thể chuyển giao’’ ([5], trang
Trang 510) Chất lượng giảng dạy không đồng đều và kém là hậu quả của đội ngũ nhân viên kém chất lượng, quy mô lớp học lớn và phương pháp giảng dạy lỗi thời
Đáp lại mối quan tâm này, hai bảng xếp hạng đại học tập trung vào việc làm đã xuất hiện Thời báo Giáo dục Đại học (The Times Higher Education, THE) hiện công bố một bảng xếp hạng dựa trên việc khảo sát các nhà tuyển dụng trong khi
QS đã xây dựng một bảng xếp hạng việc làm dựa trên năm tiêu chí: danh tiếng của nhà tuyển dụng, kết quả của cựu sinh viên, các đối tác tuyển dụng, mối quan hệ giữa sinh viên và nhà tuyển dụng và tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm Hai phương pháp này đưa ra một danh sách các trường đứng đầu có mối tương quan mạnh mẽ với các bảng xếp hạng đại học tổng thể (Stanford, MIT, Oxford, Princeton và Cambridge nằm trong top 10 của bảng) Đứng đầu về mục tiêu việc làm bao gồm Đại học Thanh Hoa (thứ 3 trong xếp hạng QS), Đại học Sydney (thứ 4 trong xếp hạng QS), Trường Đại học Bách Khoa Paris (thứ 6 trong xếp hạng QS)
6 Số hóa trong giáo dục đại học
Sự xuất hiện các khóa học mở trực tuyến đại chúng (MOOCs) vào năm 2012,
đã đem lại sự chú ý đến học tập điện tử trong giáo dục đại học Số hóa trong học tập và giảng dạy đại học luôn là vấn đề được quan tâm trong các chương trình nghị sự chính sách ở cả cấp độ châu Âu, cấp độ quốc gia và các tổ chức giáo dục đại học Năm 2015, các bộ trưởng giáo dục đại học ở Khu vực châu Âu đã kêu gọi khuyến khích và hỗ trợ các tổ chức giáo dục đại học khai thác triệt để lợi ích của công nghệ số trong học tập
và giảng dạy Cho đến nay, các hành động cụ thể hơn của tiến trình Bologna về việc học tập kỹ thuật số vẫn đang được phát triển
Báo cáo triển khai tiến trình Bologna 2018 lần thứ nhất đã theo dõi sự phát triển của học tập kỹ thuật số: Trong số 50 hệ thống giáo dục đại học được điều tra, 38 hệ thống đã có chiến lược hoặc chính sách về việc sử dụng công nghệ số trong học tập và giảng dạy Dạy học kết hợp (Blended learning) cũng được xác nhận là phổ biến nhất trên khắp khu vực giáo dục đại học châu Âu: Mặc dù dạy học trực tuyến toàn phần mới được cung cấp ở 18 quốc gia, 39 quốc gia cho biết một số tổ chức giáo dục đại học của họ cung cấp các chương trình dạy học kết hợp
Kết quả thu được từ khảo sát về các xu hướng năm 2018 ([4], trang 59) cho thấy sự hiện diện của học tập kỹ thuật số đã được củng cố tại các tổ chức giáo dục đại học trong những năm gần đây Các tổ chức này đã khẳng định mức độ chấp nhận cao đối với việc học kỹ thuật số nói chung (93%), sử dụng nó một cách chiến lược (87%), tích hợp vào các chiến lược của tổ chức (85%) và tăng cường sử dụng trong giảng dạy thường xuyên (87%) 93% công nhận học tập kỹ thuật số được sử dụng để đổi mới việc học và dạy Tất cả các quốc gia, các tổ chức đều có xu hướng nhìn nhận đổi mới trong học tập và giảng dạy liên quan chặt chẽ với học tập điện tử và số hóa Trong số các ví dụ về đổi mới học tập và giảng dạy, học tập điện tử và các biện pháp kỹ thuật số
Trang 6khác (học tập kết hợp, học tập mã nguồn mở MOOCs, sử dụng các nền tảng học tập điện tử, v.v.) được nhắc đến nhiều nhất
Có thể thấy, ngày nay, sự phát triển của giáo dục đại học trên thế giới chịu ảnh hưởng của quá trình vận động kinh tế - xã hội cũng như xu thế toàn cầu hóa Mặc dù mỗi quốc gia có những đặc điểm riêng về kinh tế, chính trị, xã hội và văn hóa, tuy nhiên các trường đại học tại mỗi quốc gia khác nhau đều đứng trước những thách thức
và cơ hội cơ bản theo các xu hướng nêu trên Việc tổng hợp các xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới giúp các trường đại học có những kế hoạch thực hiện thay đổi phù hợp với yêu cầu của sự phát kinh tế - xã hội và xu thế phát triển của thời đại, khẳng định giá trị đối với xã hội, là động lực có ý nghĩa định hướng đối với sự phát triển kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia Các xu thế trên đây phản ánh những nỗ lực của các trường đại học nhằm đáp ứng với những thay đổi mạnh mẽ đang diễn ra trên thế giới Các trường đại học, với tư cách là trung tâm trí tuệ của xã hội, đang “gồng mình” bước những bước dài để tránh sự tụt hậu so với sự biến đổi của thế giới, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao và ngày càng đa dạng từ nhiều phía Họ đang tái khẳng định ý nghĩa của mình đối với xã hội, trong bối cảnh truyền thông xã hội dựa trên những tiến bộ của công nghệ thông tin đã làm biến đổi sâu sắc cách thức làm việc
và giao tiếp của tất cả mọi người
Đề xuất một số giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục Đại học ở Việt Nam:
Trên cơ sở phân tích xu hướng phát triển của giáo dục đại học trên thế giới, chúng tôi sẽ đối chiếu với thực trạng giáo dục đại học ở Việt Nam từ đó đưa ra các khuyến nghị đối với chính phủ, toàn ngành giáo dục và các trường đại học để chuẩn
bị và tiếp nhận những khuynh hướng đó
- Theo số liệu thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2017-2018, cả nước có 235 trường đại học trong đó 175 trường công lập và 65 trường ngoài công lập Trong khi theo Quyết định 37 của Chính phủ về việc việc điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, giai đoạn 2006-2020, đến năm 2020, cả nước
có 460 trường đại học, cao đẳng, trong đó bao gồm 224 trường đại học và 236 trường cao đẳng Như vậy, đến năm 2020, nước ta không thành lập, nâng cấp trường đại học nào nữa thì vẫn vượt mục tiêu Quyết định 37 đề ra Vì vậy việc tái cấu trúc, quy hoạch lại mạng lưới các trường đại học trên cả nước là việc cấp thiết của Chính phủ và toàn ngành giáo dục Để thực hiện việc quy hoạch mạng lưới các cơ sở GDĐH, cần
có các chuẩn, quy chuẩn đối với cơ sở GDĐH, các điều kiện đảm bảo chất lượng và kết quả đầu ra, kiểm định chất lượng giáo dục Đồng thời, xây dựng và ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai phân tầng, xếp hạng các trường đại học
- Số lượng du học sinh Việt Nam gia tăng mạnh trong những năm gần
đây, đặc biệt là học sinh thuộc các trường Trung học Phổ thông tốp trên, trường
chuyên và năng khiếu ở các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí
Minh Theo thống kê của Cục Đào tạo nước ngoài (Bộ Giáo dục và Đào tạo), năm
Trang 72015, Việt Nam có khoảng 120.000 du học sinh, trong đó 90% là du học tự túc.
Để đáp ứng nhu cầu tiếp cận với nền giáo dục hiện đại của con em các gia đình có điều kiện du học tự túc và để hạn chế dòng chảy chất xám, giáo dục đại học trong nước cần nâng cao chất lượng, phát triển đội ngũ giảng viên, đầu tư cơ sở vật chất, cập nhật các
chương trình đào tạo, giáo trình để “giữ chân” người học trong nước, nắm bắt một phần kinh phí mà người Việt đã chi trả cho các cơ sở giáo dục nước ngoài, đầu tư trở lại giáo dục đại học Việt Nam
- Theo Cục Hợp tác quốc tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đến nay cả nước đã có hơn 500 chương trình hợp tác và liên kết đào tạo với các trường đại học trên thế giới
đã được cấp phép hoạt động Cần tiếp tục phát triển các chương trình đào tạo đại học
và sau đại học theo mô hình liên kết để một mặt cung cấp các chương trình đào tạo và hình thức đào tạo đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu học tập đại học trong nước mặt khác tạo điều kiện cho các trường đại học, các giảng viên được tiếp cận với những chương trình đào tạo tiên tiến của nước ngoài để học hỏi, cập nhật chương trình đào tạo của trường mình và thúc đẩy hợp tác về đào tạo và nghiên cứu Để đảm bảo chất lượng, các chương trình đào tạo liên kết phải được Bộ Giáo dục & Đào tạo thẩm định chặt chẽ hồ sơ mở ngành Các trường đại học đối tác cũng phải đảm bảo chất lượng chương trình đào tạo theo chuẩn quốc tế để giữ cam kết về giá trị của tấm bằng mà nhà trường cấp cho sinh viên - Áp lực về NCKH gia tăng trong các trường đại học có thể đẩy các trường rơi vào vòng xoáy chạy theo thành tích và kích thích một môi trường học thuật thiếu chính trực, không tôn trọng đạo đức nghiên cứu khoa học Để nâng cao chất lượng NCKH trong các trường đại học, cần tạo môi trường nghiên cứu thuận lợi, đảm bảo tự do học thuật, tạo điều kiện về trang thiết bị nghiên cứu cùng với các yếu tố
về chính sách liên quan phù hợp Cùng với việc thúc đẩy môi trường nghiên cứu khoa học, cần có chính sách phát triển một số lĩnh vực KH & CN được coi là thế mạnh ở một số trường đại học mũi nhọn Các trường đại học cần chủ động thành lập các nhóm nghiên cứu để định hướng các đề tài nghiên cứu có thể thể tiếp cận những quỹ khoa học có uy tín, kết nối các đề tài với các tổ chức nghiên cứu, cơ sở sản xuất và gắn với thực tế xã hội - Giáo dục trực tuyến đang là xu hướng của giáo dục thế giới, trong khu vực và đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam Nhận thức được thực tế đó, chính phủ, toàn ngành giáo dục và các cơ sở giáo dục đại học nên xem xét dạy học trực tuyến như một phương tiện học tập khả thi và phát triển một khuôn khổ để áp dụng công nghệ trong giáo dục Không ít nhà quản lý vẫn chưa tin tưởng vào các chương trình đào tạo trực tuyến toàn phần hay các chương trình hỗn hợp Đây thực sự là một rào cản đối với
sự phát triển của một xu hướng dạy học hiện đại đang được thế giới công nhận Các nhà quản lý nên cởi mở để đóng vai trò kiểm soát chất lượng thay vì trở thành người gác cổng cho việc áp dụng các công nghệ trong hệ thống giáo dục đại học