- Để thay đổi cách dạy học hàn lâm, máy móc, xa rời thực tiễn, dạy học theohướng phát triển năng lực sẽ tạo cho học sinh một hành trang quan trọng khi bước vàocuộc sống, đó là khả năng l
Trang 2sáng kiến: Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực học sinh
THCS qua văn bản “Cô bé bán diêm”.
- Lĩnh vực áp dụng:
Áp dụng trong đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong các trường THCS
2 Nội dung sáng kiến
2.1 Giải pháp cũ thường làm
2.1.1 Nội dung của giải pháp cũ
- Theo phương pháp dạy học trước đây hoạt động “dạy” là trung tâm, giáo viêngiữ vai trò là người truyền thụ kiến thức, học trò là người thụ động tiếp thu kiến thứctheo sự giảng giải của giáo viên Cấu trúc một bài Ngữ văn theo phương pháp truyềnthống là sự sắp xếp một cách công thức, cứng nhắc, chi tiết, đầy đủ những việc làmcủa giáo viên và học sinh theo một trình tự nhất định Nội dung của giáo án được giáoviên trích dẫn hay giảng giải từ nội dung gợi ý tìm hiểu bài trong sách giáo khoa vàsách hướng dẫn soạn bài của giáo viên Người giáo viên tuân thủ sách giáo khoa mộtcách cứng nhắc, khi lên lớp giáo viên cứ việc tuân theo giáo án mà thực hiện từ đầuđến kết thúc
- Các bước lên lớp rập khuân, máy móc:
+ Kiểm tra bài cũ
+ Giới thiệu bài mới
+ Dạy bài mới
+ Luyện tập, củng cố kiến thức hình thành ở học sinh
+ Hướng dẫn học sinh làm việc ở nhà
- Các phương pháp dạy học mà giáo viên thường áp dụng truyền thống là:
+ Phương pháp thuyết trình nêu vấn đề
Là phương pháp để trình bày, giải thích nội dung bài học một cách chi tiết, dễhiểu cho học sinh tiếp thu Đối với học sinh qua nghe giảng giải hiểu được vấn đề Giáoviên thường sử dụng phương pháp này khi tiến hành nội dung các kiến thức cần nhớtrong bài học, thể hiện mối liên hệ kiến thức trong một phần hoặc toàn bộ chương trình
+ Làm việc với sách giáo khoa
Phương pháp làm việc với sách giáo khoa là phương pháp lấy sách giáo làm tưliệu duy nhất để giáo viên và học sinh ôn tập Hệ thống câu hỏi, bài tập lần lượt đượckhai thác, giải quyết theo chủ ý của nhà biên soạn sách giáo khoa
+ Phương pháp đàm thoại (vấn đáp)
Là phương pháp giáo viên đặt ra những câu hỏi để học sinh trả lời nhằm gợi mởcho học sinh sáng tỏ những vấn đề mới; tự khai phá những tri thức mới bằng sự táihiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinh nghiệm đã tích lũy được trong cuộcsống, nhằm giúp học sinh củng cố, mở rộng, đào sâu, tổng kết, hệ thống hóa những trithức đã tiếp thu được và nhằm mục đích kiểm tra, đánh giá và giúp học sinh tự kiểmtra việc lĩnh hội tri thức
+ Dạy học đọc chép
Trang 3Hiện tượng dạy học đọc chép trong môn văn trước đây và môn ngữ văn rất phổbiến ở các trường phổ thông hiện nay Đọc chép trong giờ chính khóa và trong các lòluyện thi Thầy cô đọc trước, HS chép sau, hay thầy cô vừa đọc vừa ghi bảng rồi HSchép theo Đối với các bài khái quát về giai đoạn văn học hay khái quát về tác giathầy cô cũng thường tóm tắt rồi đọc cho HS chép Đối với bài “giảng văn” thầy côcũng thường nêu “câu hỏi tu từ”, rồi giảng, sau đó đọc chậm cho HS chép các kếtluận, nhận định Trong cách dạy này HS tiếp thu hoàn toàn thụ động, một chiều.
+ Dạy nhồi nhét
Dạy nhồi nhét cũng là hiện tượng phổ biến do thầy cô sợ dạy không kĩ, ảnhhưởng đến kết quả làm bài thi của học sinh , cho nên dạy từ a đến z, không lựa chọntrọng tâm, không có thì giờ nêu vấn đề cho học sinh trao đổi, sợ “cháy” giáo án Kếtquả của lối dạy này cũng là làm cho học tiếp thu một cách thụ động, một chiều
+ Học tập thiếu sự hợp tác giữa trò và thầy, giữa trò với trò
Mỗi cá nhân trong quá trình học tập đều có hạn chế, bởi mỗi người thường chỉchú ý vào một số điểm, bỏ qua hoặc không đánh giá hết ý nghĩa của các kiến thứckhác Trong điều kiện đó, nếu biết cách hợp tác trong học tập, giữa thầy giáo và HS,
HS với HS có thể nhắc nhở nhau, bổ sung cho nhau, làm cho kiến thức được toàn diện
và sâu sắc
+ Học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo
Tương ứng với cách dạy học như trên HS tất nhiên chỉ tiếp thu một cách thụđộng mà thôi Tính chất thụ động thể hiện ở việc học thiếu hứng thú, học đối phó, và
về nhà chỉ còn biết học thuộc để trả bài và làm bài Cách học đó tất nhiên cũng không
có điều kiện tìm tòi, suy nghĩ, sáng tạo, cũng không được khuyến khích sáng tạo
+ Học sinh không biết tự học
Cách học thụ động chứng tỏ HS không biết tự học, không có nhu cầu tự tìmhiểu, nghiên cứu, không biết cách chủ động tự đọc SGK để tìm hiểu kiến thức, khôngbiết cách phân biệt cái chính và cái phụ, không biết tìm kiến thức trọng tâm để học,không biết từ cái đã biết mà suy ra cái chưa biết Nói tóm lại là chưa biết cách tự học
+ Cách khai thác tác phẩm văn học
Thường theo hướng bổ ngang nghĩa là chia tác phẩm thành từng đoạn, sau đógiáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu từng đoạn, từng phần của tác phẩm
2.1.2 Nhược điểm của giải pháp cũ
Theo chúng tôi, thực trạng dạy học văn như trên không phải do một lí do cục bộnào, không phải do giáo viên thiếu nhiệt tình dạy học, không cố gắng, mà do nhiềunguyên nhân:
- Thứ nhất, phương pháp dạy học cũ, chỉ dựa vào giảng, bình, diễn giảng Thậtvậy, cách dạy học ngữ văn từ trước tới nay có mấy lệch lạc như: Đối với bài học tácphẩm văn học thì chú trọng cái gọi là “giảng văn” Giáo án soạn ra là để cho giáo án
“giảng”, biểu diễn trên lớp Giáo viên nào tham giảng thì thường “cháy” giáo án
-Thứ hai, văn học sáng tác ra cho người đọc , do đó môn học tác phẩm văn học
phải là môn dạy học sinh đọc văn, giúp học sinh hình thành kĩ năng đọc văn, trở
thành người đọc có văn hoá, chứ không phải là người biết thưởng thức việc giảng bài
Trang 4của thầy Chính vì vậy sai lầm thứ hai là môn học văn hiện nay thiếu khái niệm khoa học về đọc văn.Khái niệm “đọc” chỉ được hiểu là đọc thành tiếng, đọc diễn cảm, mà
không thấy nói là đọc – hiểu
- Thứ ba, phương pháp dạy học theo lối cung cấp kiến thức áp đặt, học sinhphải học thuộc kiến thức của thầy Đây cũng là phương pháp phản sư phạm, bởi vì
bản chất học tập không phải là tiếp nhận những gì được đưa trực tiếp từ ngoài vào, mà
là sự kiến tạo tri thức mới dựa trên cơ sở nhào nặn các dữ liệu mới và kinh nghiệm đã
được tích luỹ Học tập thực chất không phải là học thuộc mà là tự biến đổi tri thức của
mình trên cơ sở các tác động của bên ngoài và của hoạt động của người học Do đóviệc áp đặt kiến thức chỉ có tác dụng tạm thời, học xong là quên ngay, không để lạidấu ấn trong tâm khảm người học, không trở thành kiến thức hữu cơ của một bộ ócbiết suy nghĩ và phát triển
- Thứ tư, chưa xem học sinh là chủ thể của hoạt động học văn, chưa trao chocác em tính chủ động trong học tập
- Thứ năm, học sinh học thụ động, thiếu sáng tạo Tương ứng với cách dạy họcnhư trên học sinh tất nhiên chỉ tiếp thu một cách thụ động mà thôi Tính chất thụ độngthể hiện ở việc học thiếu hứng thú, học đối phó, và về nhà chỉ còn biết học thuộc đểtrả bài và làm bài Cách học đó tất nhiên cũng không có điều kiện tìm tòi, suy nghĩ,sáng tạo, cũng không được khuyến khích sáng tạo
- Thứ sáu, học sinh không biết tự học Cách học thụ động chứng tỏ HS khôngbiết tự học, không có nhu cầu tự tìm hiểu, nghiên cứu, không biết cách chủ động tựđọc SGK để tìm hiểu kiến thức, không biết cách phân biệt cái chính và cái phụ, khôngbiết tìm kiến thức trọng tâm để học, không biết từ cái đã biết mà suy ra cái chưa biết.Nói tóm lại là chưa biết cách tự học
- Thứ bảy, cách khai thác ngang tác phẩm không khái quát hết được nội dungnghệ thuật tác phẩm
- Thứ tám, giáo viên dạy chưa áp dụng công nghệ thông tin vào bài dạy, dẫnđến nhàm chán, đơn điệu trong tiết dạy, nhiều khi chúng tôi thấy giáo viên rơi vàotình thế độc thoại trong tiết học
* Tóm lại, dạy như phương pháp cũ sẽ không phát huy tính tích cực, chủ độngcủa học sinh, chưa rèn cho các em kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết các tình huốngtrong thực tế Kết quả các em chỉ lĩnh hội, ghi nhớ một cách máy móc mà chưa pháthuy tính chủ động trong lĩnh hội tri thức Là giáo viên đang thực hiện công tác quản lý
và trực tiếp giảng dạy, chúng tôi luôn trăn trở suy nghĩ “làm thế nào có một tiết dạyNgữ văn thật hiệu quả” Vì vậy chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số phương pháp dạyhọc phù hợp với thực tiễn
2.2 Giải pháp mới cải tiến
- Bản chất của dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh Một trongnhững nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết số 29-NQ/TW8 về đổi mới căn bản và toàndiện giáo dục đào tạo là “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giákết quả giáo dục và đào tạo” Trong xu hướng chuyển đổi đó, việc đổi mới dạy họctheo hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh đang được giáo dục chú trọng
Trang 5- Để thay đổi cách dạy học hàn lâm, máy móc, xa rời thực tiễn, dạy học theohướng phát triển năng lực sẽ tạo cho học sinh một hành trang quan trọng khi bước vàocuộc sống, đó là khả năng làm chủ bản thân, làm chủ cuộc sống, biết cách vận dụngcác kiến thức, kĩ năng, thái độ, tình cảm, những hứng thú cá nhân vào giải quyết cácvấn đề, tình huống thực tiễn phức tạp nảy sinh.
- Với đặc thù của môn Ngữ văn, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng chútrọng phát triển năng lực học sinh cần xác định hướng tới phát triển những năng lựcsau của học sinh: Các năng lực mà môn học Ngữ văn hướng đến được thể hiện cụ thểnhư sau:
+ Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực sáng tạo, Năng lực hợp tác, Năng lực tựquản bản thân, Năng lực giao tiếp tiếng Việt, Năng lực thưởng thức văn học/cảm thụthẩm mĩ
+ Năng lực đặc thù của môn học: năng lực giao tiếp tiếng Việt, năng lực thưởngthức văn học/cảm thụ thẩm mỹ
+ Các năng lực khác: năng lực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo, năng lựchợp tác, năng lực tự quản bản thân
+ Do yêu cầu dạy cách học và phát triến năng lực giao tiếp nên giáo viên cầnchú ý hình thành cho học sinh cách tiếp cận, giải mã và tạo lập văn bản; thực hành,luyện tập và vận dụng nhiều kiểu loại văn bản khác nhau để sau khi rời nhà trườngcác em có thể tiếp tục học suốt đời và có khả năng giải quyết các vẩn đề trong cuộcsống Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh; hướngdẫn, giám sát và hỗ trợ học sinh để các em từng bước hình thành và phát triển cácphẩm chất và năng lực mà chương trình giáo dục mong đợi.Giáo viên cần khơi gợi,vận dụng kinh nghiệm và vốn hiểu biết đã có của học sinh về vấn đề đang học, từ đó
tổ chức cho các em tìm hiểu, khám phá để tự mình bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiệnnhững hiểu biết ấy Cần khuyến khích học sinh trao đổi và tranh luận, đặt câu hỏi chomình và cho người khác khi đọc, viết, nói và nghe
Ví dụ: Mỗi một văn bản truyện nói lên một số yếu tố độc đáo, chi phối và làmnổi bật nội dung; vì thế cần hướng dẫn để HS nhận ra và hiểu sâu các yếu tố ấy Rấtnhiều yếu tố không cần phân tích người đọc cũng hiểu.Việc phát hiện ra yếu tố nào cógiá trị, cần phân tích là một năng lực cảm thụ nghệ thuật cần phát triển như là cơ sởđầu tiên đối với tiếp nhận văn bản nghệ thuật Không nhận ra điều này, chỗ nào cũngthấy hay, cũng thấy cần phân tích cũng có nghĩa là “thực bất chi kỳ vị”, là “mù” vềthưởng thức Cũng chính vì thế, dạy đọc hiểu một thiên truyện nhiều khi chỉ cần lựachọn một vài tiêu điểm để HS tìm hiểu trao đổi, từ đó mà vỡ ra nhiều điều từ văn bản
ấy Chẳng hạn, khi dạy tác phẩm “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê – Ngữvăn 9 cần chú ý các câu hỏi:
? Tác phẩm ra đời trong hoàn cảnh nào : Hoàn cảnh đó tác có ý nghĩa như thế nào
? Ca ngợi ai?Ai là nhân vật để lại trong em ấn tượng nhất?
? Những nét đẹp sáng ngời của nhân vật đó ?
? Em đã xem bộ phim lịch nào của Việt Nam cùng thời kì cảu tác phẩm Nhưng ngôi sao xa xôi chưa ?
Trang 6? Em học tác phẩm nào cùng thời kì đó không?
? Tác phẩm có ý nghĩa gì với em không ?
Hoặc dạy bài Lão Hạc của Nam cao ?
GV đưa ra những vấn đề ? Hình ảnh Lão Hạc để lại cho em ấn tượng gì ? Taị sao thế ?
Các vấn đề trên đều cần được nêu lên và cho HS tìm hiểu, trao đổi, thảo luận để
đi đến những nhận thức thống nhất nhưng phù hợp với từng HS Theo cách này, áplực thiếu thời gian do phải dạy đọc hiểu các tác phẩm có dung lượng lớn sẽ được hoágiải Như thê, cứ mỗi tác phẩm sẽ lựa chọn một vài vấn đề và một số yếu tố nổi bật,đáng phân tích, trao đổi; dần dần qua nhiều tác phẩm truyện khác nhau, HS sẽ có một
kỹ năng đọc hiểu vững vàng đê có thể tự mình đọc hiểu bất kỳ thiên truyện nào
Tất cả các thông tin khác như xuất xứ, hoàn cảnh ra đời, tác giả… chỉ cầnhướng dẫn HS đọc trong sách giáo khoa và tài liệu tham khảo, không cần giảng giảitrên lớp
+ Dạy theo hướng đọc hiểu vừa nêu, kết quả là HS không chỉ nắm được nộidung cơ bản của tác phẩm, thông điệp tư tưởng, tình cảm tác giả muốn gửi gắm, màcòn biết cách nhận biết, hiểu và lựa chọn, đánh giá được những hình thức độc đáo, nổibật, giàu ý nghĩa của một văn bản văn học; từ đó mà biết cách đọc, cách tiếp cận, giải
mã một văn bản văn học Đó cũng là cái đích cần đến của yêu cầu dạy học đọc hiểutheo hướng phát triển năng lực
+ Khi đã có giáo án theo hướng phát triển năng lực rồi thì việc lên lớp khônggặp nhiều khó khăn nữa Đó chỉ là sự cụ thể hoá những ý tưởng và triển khai các côngviệc đã hình dung trước theo giáo án Chỉ lưu ý về sự linh hoạt trong việc xử lý nhữngtình huống sư phạm phát sinh trong giờ dạy Ngoài ra, giờ đọc hiểu cũng cần theohướng mở, không nhất thiết phải giải quyết tất cả mọi chuyện trong giờ dạy trên lớp
+ Từ cách hiểu và nắm vững bản chất phương pháp dạy học Ngữ văn theohướng phát triển lăng lực, GV cụ thể hoá vào việc giảng dạy hằng ngày, từ soạn giáo
án đến quá trình lên lớp theo từng kiểu loại văn bản thuộc từng loại hình
Do yêu cầu trên, cho nên trong phạm vi đề tài này chúng tôi chú trọng đến một
số vấn đề sau:
- Đổi mới hình thức soạn giáo án
- Vận dụng phương pháp dạy học hiện đại
- Đổi mới cách thức khai thác tác phẩm
- Đổi mới cách thức ghi bảng
2.2.1 Đổi mới hình thức soạn giáo án
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực thì giáo án soạn như thế nào? Đây
là câu hỏi mà rất nhiều giáo viên đang trực tiếp giảng dạy như chúng tôi băn khoăn,trăn trở Đây các quy trình thiết kế một giáo án:
- Bước 1: Xác định mục tiêu của bài học căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình
Mục tiêu cần bám vào những nội dung sau:
+ Kiến thức
Trang 7+ Kĩ năng
+ Thái độ
+ Định hướng phát triển năng lực
Bước này được đặt ra bởi việc xác định mục tiêu của bài học là một khâurất quan trọng, đóng vai trò thứ nhất, không thể thiếu của mỗi giáo án.Nó là sợichỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ tác phẩm Mục tiêu (yêu cầu) vừa là cái đích hướngtới, vừa là yêu cầu cần đạt của giờ học; hay nói khác đi đó là thước đo kết quảquá trình dạy học Nó giúp giáo viên xác định rõ các nhiệm vụ sẽ phải làm (dẫndắt học sinh tìm hiểu, vận dụng những kiến thức, kỹ năng nào; phạm vi, mức
độ đến đâu; qua đó giáo dục cho học sinh những bài học gì)
Vậy giáo viên căn cứ vào đâu để xác định mục tiêu bài học: Theo chúngtôi cần căn cứ nội dung của bài, cuốn chuẩn kiến thức kĩ năng, sách giáo khoa,sách giáo viên
- Bước 2: Nghiên cứu sách giáo khoa và các tài liệu liên quan
Công việc này giúp giáo viên hiểu chính xác, đầy đủ những nội dung của
bài học; xác định những kiến thức, kỹ năng, thái độ cơ bản cần hình thành vàphát triển ở học sinh; xác định trình tự logic của bài học
Bước này được đặt ra bởi nội dung bài học ngoài phần được trình bàytrong sách giáo khoa còn có thể đã được trình bày trong các tài liệu khác Kinhnghiệm của các giáo viên lâu năm cho thấy: trước hết nên đọc kĩ nội dung bàihọc và hướng dẫn tìm hiểu bài trong sách giáo khoa để hiểu, đánh giá đúng nộidung bài học rồi mới chọn đọc thêm tư liệu để hiểu sâu, hiểu rộng nội dung bàihọc Mỗi giáo viên không chỉ có kỹ năng tìm đúng, tìm trúng tư liệu cần đọc
mà cần có kỹ năng định hướng cách chọn, đọc tư liệu cho học sinh.Giáo viênnên chọn những tư liệu đã qua thẩm định, được đông đảo các nhà chuyên môn
và giáo viên tin cậy Việc đọc sách giáo khoa, tài liệu phục vụ soạn giáo án cóthể chia thành 3 cấp độ sau: đọc lướt để tìm nội dung chính xác định nhữngkiến thức, kỹ năng cơ bản, trọng tâm mức độ yêu cầu và phạm vi cần đạt; đọc
để tìm những thông tin quan tâm: các mạch, sự bố cục, trình bày các mạch kiếnthức, kỹ năng và dụng ý của tác giả; đọc để phát hiện và phân tích, đánh giácác chi tiết trong từng mạch kiến thức, kỹ năng
Thực ra khâu khó nhất trong đọc sách giáo khoa và các tư liệu là đúc kếtđược phạm vi, mức độ kiến thức, kỹ năng của từng bài học sao cho phù hợpvới năng lực của học sinh và điều kiện dạy học Trong thực tế dạy học, nhiềukhi chúng ta thường đi chưa tới hoặc đi quá những yêu cầu cần đạt về kiếnthức, kỹ năng Nếu nắm vững nội dung bài học, giáo viên sẽ phác họa nhữngnội dung và trình tự nội dung của bài giảng phù hợp, thậm chí có thể cải tiếncách trình bày các mạch kiến thức, kỹ năng của sách giáo khoa, xây dựng một
hệ thống câu hỏi, bài tập giúp học sinh nhận thức, khám phá, vận dụng các kiếnthức, kỹ năng trong bài một cách thích hợp
Trang 8Ngoài ra giáo viên còn phải ứng dụng CNTT qua mạng Internet để tracứu, tìm hiểu, bổ sung những thông tin mới nhất về tác phẩm mà trong phạm
vi SGK không ghi hết
- Bước 3: Xác định khả năng đáp ứng các nhiệm vụ nhận thức của học sinh
Bao gồm: xác định những kiến thức, kỹ năng mà học sinh đã có và cần
có; dự kiến những khó khăn, những tình huống có thể nảy sinh và các phương
án giải quyết
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới phương
pháp dạy học, giáo viên không những phải nắm vững nội dung bài học mà cònphải hiểu học sinh để lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, cáchình thức tổ chức dạy học và đánh giá cho phù hợp Như vậy, trước khi soạngiáo án cho giờ học mới, giáo viên phải lường trước các tình huống, các cáchgiải quyết nhiệm vụ học tập của học sinh Nói cách khác, tính khả thi của giáo
án phụ thuộc vào trình độ, năng lực học tập của học sinh, được xuất phát từ:
những kiến thức, kỹ năng mà học sinh đã có một cách chắc chắn, vững bền;
những kiến thức, kỹ năng mà học sinh chưa có hoặc có thể quên; những khókhăn có thể nảy sinh trong quá trình học tập của học sinh
- Bước 4: Lựa chọn phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, hình thức tổ chức dạy học và cách thức đánh giá thích hợp nhằm giúp học sinh học tập tích cực, chủ động, sáng tạo
Bước này được đặt ra bởi trong giờ học theo định hướng đổi mới phươngpháp dạy học, giáo viên phải quan tâm tới việc phát huy tính tích cực, tự giác,chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác,
kỹ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong học tập vàtrong thực tiễn; tác động đến tư tưởng và tình cảm để đem lại niềm vui, hứngthú trong học tập cho học sinh
- Bước 5: Thiết kế giáo án
Đây là giai đoạn mà người giáo viên bắt tay vào soạn giáo án - thiết kếnội dung, nhiệm vụ, cách thức hoạt động, thời gian và yêu cầu cần đạt cho từnghoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh Giáo án gồmcác nội dung sau:
I Mục tiêu cần đạt:
Cần hướng tới việc hình thành và phát triển năng lực, nhất là năng lực đặc thù
của môn học Cụ thể là mỗi bài học cần xác định mục tiêu phát triển năng lực cụ thểnhư thế nào?Với môn Ngữ văn là năng lực ngôn ngữ và năng lực văn học cụ thể đượcphát triển qua bài học này như thế nào? Vì thế cần chú ý yêu cầu cần đạt về các nănglực này đã nêu trong chương trình mỗi lớp Các năng lực lớn phải qua nhiều bài họcmới hình thành được, nhưng mỗi bài học phải hướng tới các biểu hiện cụ thể của nănglực ấy và gắn với nội dung bài học cụ thể của giờ học ấy Chú ý xác định mục tiêu phùhợp với đối tượng, tránh ôm đồm (nhiều) nội dung và yêu cầu quá sức (độ khó)
II Chuẩn bị giảng dạy:
Trang 9Giáo viên và học sinh chuẩn bị nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, các phươngtiện máy tính, inernet, các phụ liệu khác để phục vụ cho việc dạy và học.
III Tiến trình lên lớp:
Tiến trình lên lớp giáo viên cần thực hiện 5 hoạt động: khởi động, hình thànhkiến thức, luyện tập, vận dụng củng cố, mở rộng bổ sung ý tưởng sáng tạo Tuy nhiêntrong quá trình lên lớp giáo viên có thể linh hoạt kết hợp đan xen các bước lên lớpmột cách hiệu quả Thông qua các hoạt động và bằng các hoạt động học tập là chính;trong đó học sinh phải tham gia hoạt động: tìm kiếm, phát hiện, nêu vấn đề, trao đổi,phản bác, chứng minh, phân tích… rút ra nhận xét, kết luận của mình; giáo viên làngười nêu (giao) nhiệm vụ, hướng dẫn cách thức hoạt động và gợi mở, nêu ý kiến củamình khi cần thiết (đúng lúc, đúng chỗ) Giáo viên không làm thay, học thay cho họcsinh; hạn chế diễn giảng, tránh áp đặt ý kiến của mình, tôn trọng ý kiến của học sinh,nhất là trong tiếp nhận văn bản…Mỗi mục tiêu có thể tổ chức một hoặc nhiều hoạtđộng Nhưng nhìn chung không nên tổ chức quá nhiều hoạt động trong một giờ học.Muốn thế cần xác định mỗi bài học theo nguyên tắc vừa có diện (bề rộng), vừa cóđiểm (trọng tâm)
Ví dụ: với bài đọc hiểu một tác phẩm văn học, yêu cầu chính là giúp học sinh nắm được bao quát chung để thấy tính chỉnh thể của tác phẩm, còn trọng tâm chính
là một vài vấn đề sâu sắc và lý thú của tác phẩm Không nên yêu cầu học sinh khai thác tràn lan tất cả mọi chi tiết, mọi vấn đề, mọi yếu tố hình thức thể loại của tác
phẩm Việc xác định trọng tâm ấy phụ thuộc vào trình độ của giáo viên dựa trên mụctiêu, yêu cầu của bài học và đối tượng học sinh Một văn bản- tác phẩm, nhất là cáctác phẩm lớn có rất nhiều vấn đề cần khai thác, nhưng với từng đối tượng người học,giáo viên chỉ nên xác định một vài vấn đề thật thiết yếu và phù hợp; còn lại có thể gợi
mở để học tin tự tìm hiểu thêm Vấn đề trọng tâm của mỗi bài học cần bám sát yêucầu đọc hiểu của chương trình và nên trao đổi trong tổ nhóm để thống nhất chung.Hay ít nhất giờ đọc hiểu phải chú đến các hoạt động trọng tâm như: Hướng dẫn họcsinh tìm hiểu nội dung, ý nghĩa văn bản thông qua các hình thức nghệ thuật; hướngdẫn học sinh liên hệ, kết nối, so sánh với bối cảnh văn hóa xã hội và với những trảinghiệm của bản thân để gắn kết vấn đề đặt ra trong văn bản với người học…
Chú ý yêu cầu tích hợp và phân hóa, trước hết là tích hợp dạy học tiếng Việt
trong cả nội dung đọc hiểu, viết nghe và nói Dạy tiếng Việt theo quan điểm giao tiếp
và nhằm phát triển năng lực đòi hỏi phải gắn các đơn vị kiến thức tiếng Việt vào ngữcảnh và tình huống giao tiếp Các kiến thức tiếng Việt phải phục vụ trực tiếp cho yêucầu hiểu, cảm thụ, thưởng thức tác phẩm cũng như giúp cho kĩ năng viết và nghe nóiđúng hơn, hay hơn và thuần thục hơn Hạn chế tối đa việc dạy tiếng Việt chỉ để biếttiếng Việt, chỉ để nhận diện và miêu tả các đơn vị ngôn ngữ, để nhằm trở thành nhàngôn ngữ học… Vì thế mỗi bài cần tìm hiểu kĩ ngữ liệu văn bản để xác định được cáctình huống, ngữ cảnh xuất hiện các đơn vị tiếng Việt cần dạy, từ đó yêu cầu học sinhnhận diện, phân tích vai trò tác dụng và ý nghĩa của đơn vị tiếng Việt ấy gắn với văncảnh cụ thể Hoạt động đó vừa là dạy tiếng Việt theo hướng hành dụng, thiết thực, vừa
Trang 10đúng nguyên tắc tiếp nhận văn bản ngôn từ Việc tích hợp với dạy học Ngữ văn còncần tích hợp các vấn đề liên môn và xuyên môn.
Yêu cầu phân hóa đòi hỏi giờ học cần có các nhiệm vụ, nội dung, cách thức tổchức học tập phù hợp cho đối tượng HS: yếu kém, trung bình và khá giỏi Muốn thếcần chú ý đến tâm lí lứa tuổi, trình độ nhận thức, hoàn cảnh cá nhân, khai thác vốnhiểu biết và sự trải nghiệm (tri thức nền) của người học
Trên đây là những yêu cầu cốt lõi cần có với giáo án dạy học theo hướng phát triển
năng lực nói chung, với môn Ngữ văn nói riêng Tất cả các yêu cầu khác như các bước lên lớp, mở đầu và kết thúc, sử dụng thiết bị dạy học, hình thức dạy học, phương pháp và kĩ thuật dạy học… đều khuyến khích giáo viên tự chủ, sáng tạo và
không cần phải bắt buộc như nhau Từ các điểm trên giáo viên vận dụng vào các bàihọc một cách linh hoạt phù hợp với đặc trưng môn học
2.2.2 Vận dụng những phương pháp dạy học học hiện đại trong môn Ngữ văn
a) Kĩ thuật động não
- Là sự vận dụng trí tuệ (Động não) tập thể để giả quyết một vấn đề phức tạp
- Động não là kĩ thuật trong dạy học nhằm giúp HS trong một thời gian ngắnnảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó
- Để thực hiện kĩ thuật này, GV cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền
đề cho buổi thảo luận Sau đó tiến hành theo trình tự:
+ GV nêu câu hỏi, vấn đề cần được tìm hiểu trước cả lớp hoặc trước nhóm,khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến càng nhiều càng tốt
+ Liệt kê tất cả các ý kiến phát biểu đưc lên bảng hoặc giấy khổ to, không loạitrừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp
+ Phân loại ý kiến
+ Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý
+ Ví dụ: Ứng dụng “kĩ thuật động não khi dạy bài “Cô bé bán diêm” – Ngữvăn 8
“Cô bé bán diêm” là tác phẩm hiện đại của Đan Mạch thể hiện lòng nhân đạo,giàu lòng yêu thương của nhà văn An-đec-xen với những con người nhỏ bé, nghèokhổ, bất hạnh đặc biệt là trẻ em trong xã hội lúc bấy giờ
GV có thể áp dụng kĩ thuật “Động não”
* Vấn đề được tìm hiểu đưa ra trước tập thể lớp theo câu hỏi:
? Chứng minh rằng những mộng tưởng của cô bé qua những lần quẹt diêm diễn
Chia nhóm theo số điểm danh, theo các màu sắc, cặp đôi theo bàn, theo các loài hoa, các mùa trong năm,…:
Trang 11GV yêu cầu HS điểm danh từ 1 đến 4/5/6…(tùy theo số nhóm GV muốn có là4,5 hay 6 nhóm,…); hoặc điểm danh theo các màu (xanh, đỏ, tím, vàng,…); hoặcđiểm danh theo các loài hoa (hồng, lan, huệ, cúc,…); hay điểm danh theo các mùa(xuân, hạ, thu, đông,…)
Yêu cầu các HS có cùng một số điểm danh hoặc cùng một mầu/cùng một loàihoa/cùng một mùa sẽ vào cùng một nhóm
Ví dụ: “Cô bé bán diêm”, GV có thể cho HS thảo luận cặp đôi câu hỏi như sau:
1 Tìm những chi tiết nói về hoàn cảnh của cô bé bán diêm? Em nhận xét gì về hoàn cảnh đó?
2 Tìm chi tiết cho thấy thái độ của gia đình và mọi người đối với cô bé? Nhận xét?
3 Trước thực tế đó, cô bé đã có hành động gì? Tại sao lại có hành động đó?
c) Kĩ thuật “Khăn phủ bàn”
– Là kĩ thuật tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác kết hợp giữa hoạtđộng cá nhân và nhóm nhằm kích thích, thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cườngtính độc lập, trách nhiệm cuả cá nhân HS, phát triển mô hình hợp tác giữa các HS
– Thực hiện kĩ thuật “ Khăn phủ bàn” qua 2 giai đoạn:
+ Giai đoạn HS hoạt động độc lập: Các thành viên trong nhóm ngồi vào vị trínhư hình vẽ, hoạt động tư duy tập trung vào câu hỏi (hoặc chủ đề,…), sau đó trình bày
ý kiến của bản thân vào ô quy định trong “khăn phủ bàn” độc lập tương đối với cácthành viên khác
+ Giai đoạn HS hoạt động tương tác: Các thành viên chia sẻ và thảo luận cáccâu trả lời, sau đó viết ý kiến chung của cả nhóm vào ô giữa tấm khăn phủ bàn
+Ví
dụ 2: Ứng dụng “Kĩ thuật khăn phủ bàn” khi dạy bài “Cô bé bán diêm”
? Để xây dựng nhân vật cô bé bán diêm, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
d) Kĩ thuật đặt câu hỏi
- Trong dạy học theo phương pháp cùng tham gia, GV thường phải sử dụng câuhỏi để gợi mở, dẫn dắt HS tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới, đểđánh giá kết quả học tập của HS; HS cũng phải sử dụng câu hỏi để hỏi lại, hỏi thêm
GV và các HS khác về những ND bài học chưa sáng tỏ
- Sử dụng câu hỏi có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫn nhau giữa HS -GV và HS-HS Kĩ năng đặt câu hỏi càng tốt thì mức độ tham gia của HS càng nhiều; HS sẽ họctập tích cực hơn
- Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để:
+ Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện cho HStham gia vào quá trình dạy học
+ Kiểm tra, đánh giá KT, KN của HS và sự quan tâm, hứng thú của các em đốivới ND học tập
+ Thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức
– Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:
Trang 12+ Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
+ Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
+ Đúng lúc, đúng chỗ
+ Phù hợp với trình độ HS
+ Kích thích suy nghĩ của HS
+ Phù hợp với thời gian thực tế
+ Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
+ Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính
+ Không hỏi nhiều vấn đề cùng một lúc
Ví dụ: Khi dạy bài “Cô bé bán diêm” giáo viên có thế đặt câu hỏi phù hợp vớitrình độ HS (Khá, giỏi, TB, Yếu):
1 Tác giả đặt nhân vật vào thời gian nào? Tìm chi tiết? ( đối với HS Trung bình)
2 Em có cảm nhận như thế nào về thời gian này? ( đối với HS Khá, giỏi)
3 Tại sao nhà văn lại lựa chọn thời gian này cho câu chuyện? (đối với HS Khá, giỏi).
e) Kĩ thuật trình bày một phút
- Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt nhữngcâu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và côđọng với các bạn cùng lớp Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúpcủng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề nhưthế nào Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:
+ Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời cáccâu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn
đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?…
+ HS suy nghĩ và viết ra giấy Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thứckhác nhau
+ Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đãhọc được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các emmuốn được tiếp tục tìm hiểu thêm
Ví dụ: Khi dạy bài “Cô bé bán diêm” phần củng cố bài học, giáo viên có thểcho HS trình bày một phút câu hỏi như sau:
Em có thể viết một kết truyện khác cho câu chuyện “Cô bé bán diêm”?
Trên đây là các kỹ thuật dạy học tích cực được triển khai trong tài liệu tập huấngiáo viên: Dạy học, kiểm tra đánh giá theo chuẩn kiến thức, kỹ năng trong chươngtrình giáo dục phổ thông môn Ngữ văn cấp THCS Với các hình thức vận dụng kỹthuật dạy học phù hợp trong từng bài, từng phần, phần nào đã giúp HS nắm bắt kiếnthức nhanh hơn.Trong quá trình thực hiện, ở kỹ thuật này hay kỹ thuật khác có thể cólúc dễ thực hiện, không tốn kém, sử dụng được hiệu ứng cộng hưởng, huy đông tối đatrí tuệ của tập thể, huy động được nhiều ý kiến, tạo diều kiện cho nhiều học sinh thamgia Song, có lúc, kỹ thuật này hay kỹ thuật khác có thể đi lạc đề, mất thời gian nhiềutrong việc chọn các kiến thức thích hợp.Có thể có một số học sinh tích cực nhưng lại
Trang 13có học sinh thụ động.Vì thế tuỳ từng tiết học, từng kiểu bài, giáo viên vận dụng các kĩthuật dạy học tích cực cho phù hợp.
Bảng so sánh phương pháp dạy học truyền thống và dạy học theo phương pháp mới:
Phương pháp dạy truyền thống Dạy theo phương pháp mới
1 Kiểm tra bài cũ
GV đặt câu hỏi nhằm kiểm tra kiến thức
bài cũ, sau đó Gv nhận xét cho điểm ,tự
vào bài mới
1 Kiểm tra bài cũ không nhất thiếtlà đầugiờ học mà xen kẽ trong bài học
Gv thay bằng Khởi động; Đưa ra tìnhhuống, video, tranh ảnh liên quan đến câuchuyện cần học , sau đó đặt câu hỏi đểbước đầu tạo tâm thế thoải mái, thu húthọc sinh, từ đó GV dẫn dắt vào bài
Ví dụ Trong bài cô bé bán diêm , chúng tôi sử dụng video về em bé có hoàn cảnh bất hạnh
GV ứng dụng CNTT để bài dạy sinhđộng, hấp dẫn
- Ngoài ra, để có những phút thư giãn vàđặc biệt để đưa văn về với đời, bài giảngcòn đan xen những clip, những hình ảnhnhững phóng sự về mọi cảnh đời, mọikiếp người bất hạnh trong cuộc sốngnhằm nhấn mạnh một thực tế
2.2.3 Cách khai thác tác phẩm theo thi pháp học
- Cách khai thác truyền thống: Trước một tác phẩm văn học giáo viên thườnghướng dẫn học sinh chia đoạn, chia phần, sau đó giáo viên hướng dẫn nội dung theođoạn đã chia
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Cô bé bán diêm” giáo viên thường đặt câu hỏi: Văn bản trên chia làm mấy phần ? Nêu nội dung của từng phần?(Hoàn cảnh cô bé bán diêm.Hành độngquẹt diêm Cái chết của cô bé bán diêm)
Giáo viên thường sử dụng câu hỏi phát vấn:
?Gia cảnh của cô bé bán diêm có gì đặc biệt
?Cô bé quẹt diêm mấy lần ?
? Những lần quẹt diêm đã gắn với những mộng tưởng và thực tế nào
?Những hình ảnh tương phản nào được sử dụng trong tác phẩm
Ưu điểm : Với cách khai thác này giáo viên dạy nhàn vì dựa vào hệ thống câuhỏi sách giáo khoa, học sinh dễ thuộc, dễ nhớ
Trang 14Nhược điểm : Với cách khai thác bổ ngang, người học không có cái nhìn tổng thể
và khái quát về tác phẩm Bởi tác phẩm nghệ thuật là một kết cấu chỉnh thể về cả nộidung và nghệ thuật , đòi hỏi người học phải có cái nhìn sâu sắc mới hiểu hết thôngđiệp mà nhà văn muốn nói
- Cách khai thác mới theo Thi pháp học: Khai thác tác phẩm đặt trong tính chỉnhthể:
+ Chúng tôi đã hướng dẫn học sinh khai thác tác phẩm theo một hướng đi mớitrên 3 bình diện: Thời gian nghệ thuật, không gian nghệ thuật, con người nghệ thuật.Thay vì bổ ngang tác phẩm phân tích theo trình tự thông thường trong một tiết đọcvăn, cách khai thác này đã mang đến một sự kết nối chặt chẽ giữa con người và hoàn
cảnh sống Bởi nói như Các-Mác “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” như vậy, mọi yếu tố không gian, thời gian hoàn cảnh sống đều là các nhân tố làm
nên những biến động trong cuộc đời nhân vật Đồng thời với cách khai thác này làmnổi bật dụng ý nghệ thuật của An – đéc – xen khi sử dụng biện pháp đối lập tươngphản để khắc sâu sự cách biệt giữa giàu và nghèo, về lối sống vô cảm vẫn tồn tạingang nhiên trong xã hội như một gã khổng lồ không có trái tim!
+ Chúng tôi đã sử dụng những gói câu hỏi và giao nhiệm vụ cho học sinh làmviệc theo nhóm, cặp đôi, cá nhân Linh hoạt trong từng hoạt động tránh nhàm chántrong tiết học Ngoài ra, chúng tôi còn tích hợp với phần Địa lí, Tiếng anh , lịch sử,
giáo dục công dân trong bài học để bước đầu hình thành ở các em phẩm chất: nhân
ái, trách nhiệm, bao dung.
Ví dụ như khi tìm hiểu tác giả, tác phẩm bài Cô bé bán diêm , Chúng tôi đưa câu hỏi và giao nhiệm vụ cho các em từ hôm trước:
Nhóm 1+3: Tìm hiểu về đất nước và con người Đan Mạch?
Nhóm 2+4: Tìm hiểu những thông tin về tác giả, tác phẩm?
Và sử dụng các gói câu hỏi khi tìm hiểu thời gian nghệ thuật
1 Tác giả đặt nhân vật vào thời gian nào? Tìm chi tiết?
2 Em có cảm nhận như thế nào về thời gian này?
3 Tại sao nhà văn lại lựa chọn thời gian này cho câu chuyện?
1 Tác giả đặt nhân vật vào không gian nghệ thuật nào? Tìm chi tiết?
(Gợi ý: Không gian tự nhiên? Không gian sinh hoạt?)
2 Em có nhận xét gì về không gian nghệ thuật này?
3 Việc đặt nhân vật cô bé vào hai khoảng không gian như vậy có ý nghĩa như thế nào?
+ Để giúp học sinh khai thác văn bản, giáo viên xây dựng bộ câu hỏi theo các mứcđộ: nhận biết, thông hiểu, vận dụng, vận dụng thấp, vận dụng cao Tần xuất sử dụng
những câu hỏi có lệnh lý giải “Vì sao”, “tại sao” “hiểu như thế nào” được xuất hiện
dày đặc trong các gói câu hỏi chính/phụ Nhằm mục đích yêu cầu học sinh ngoài việctìm chi tiết còn phải rèn kỹ năng kết nối, xâu chuỗi thông tin, trình bày quan điểm cánhân, tranh luận, phản biện,… Để đọc được dụng ý tư tưởng của nhà văn, vén bức thôngđiệp ngầm khi xây dựng từng chi tiết trong tác phẩm; để đồng sáng tạo văn bản
Ví dụ:
Trang 151 Tại sao 3 lần đầu tiên, cô lại mơ về lò sưởi, ngỗng quay, cây thông Noen còn hai lần cuối cô lại mơ về bà?
2 Tại sao lần thứ 5 em bé lại quẹt tất cả các que diêm còn lại?
3 Qua việc xây dựng những mộng tưởng, nhà văn muốn nói điều gì với người đọc?
4 Để xây dựng nhân vật cô bé bán diêm, tác giả đã sử dụng những biện pháp nghệ thuật nào? Tác dụng của biện pháp nghệ thuật đó?
Ưu điểm: Với cách khai thác này giáo viên phải tìm tòi, đầu tư công sức, có cáinhìn toàn diện về tác phẩm văn học, mới giúp học sinh cảm nhận hết bài học Qua đógiúp học sinh có cái nhì bao quát tác phẩm, hiếu được thông điệp mà tác phẩm mà nhàvăn muốn truyền tải
2.2.4 Đổi mới cách thức ghi bảng
- Cách thức ghi bảng cũ: học sinh trả lời, giáo viến ghi bảng Nhưng ở bài họcnày chúng tôi dùng kĩ thuật mảnh ghép, sử dụng các mảng màu khác nhau, nhằm thể
hiện ý tưởng của người dạy
Ví dụ: Chọn gam màu hồng cho phần Con người nghệ thuật trong bài Cô bán diêm, chúng tôi chon màu hồng- thể hiện niềm hy vọng cuộc sống tốt đẹp hơn với mảnh đời bất hạnh :
Trang 16Ưu điểm: Việc vận dụng nhuần nhuyễn hiệu quả các phương pháp, kỹ thuật dạy
học tích cực, việc mạnh dạn khai thác văn bản trên cơ sở lý luận văn học, việc sángtạo trong cách trình bày bảng,… đã tạo nên chiều sâu cho bài giảng, sức hấp dẫn chogiờ lên lớp
3 Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được
- Qua thời gian thực hiện chuyên đề, chúng tôi nhận thấy đa số các em yêuthích học môn văn, nắm được nội dung, nghệ thuật của tác phẩm, bước đầu các em
có kĩ năng tự khai thác, phân tích giá trị của một tác phẩm cụ thể
- Việc đổi mới phương pháp dạy học như trên sẽ mang lại nhiều kết quả tốt vàđáng khích lệ trong phương thức học tập của học sinh và phương pháp giảng dạy củagiáo viên Học sinh sẽ phát huy tăng tính chủ động, sáng tạo và phát triển tư duy
- Hình thành ở các em kĩ năng sống, kĩ năng giải quyết vấn đề Giáo dục các
em lòng nhân ái, yêu nước, chăm chỉ, trách nhiệm
- Các em không chỉ được rèn luyện và phát triển tư duy sáng tạo mà còn đượcrèn luyện đạo đức thông qua những bài học làm người đầy quý giá Từ đó, các em biếtcách sống vị tha, yêu quê hương đất nước, yêu thương con người và hình thành nhâncách cao đẹp của một người học sinh Đó là yếu tố quan trọng hình thành mối quan hệtốt đẹp, hướng tới một xã hội Chân - Thiện – Mĩ, góp phần nâng cao giáo dục toàndiện từ văn hóa, thẩm mĩ, thể lực và năng khiếu…cho các em
Việc vận dụng phương pháp, cách thức dạy học trên, chúng tôi đã áp dụng xâydựng thành công chuyên đề cấp tỉnh cho tổ khoa học xã hội trường THCS Lai Thànhngày 16 tháng 11 năm 2019
4 Điều kiện và khả năng áp dụng
4.1 Điều kiện
41.1 Đối với giáo viên
- Giáo viên cần xác định được chuẩn kiến thức và kĩ năng, tăng cường chấtlượng soạn giảng cho mỗi tiết ôn tập để từ đó xây dựng tiến trình bài dạy cho hợp lí.Giáo viên phải thay đổi không khí học tập, đổi mới phương pháp giảng dạy, cho họcsinh tham gia các hoạt động khác nhau để phát huy tối đa năng lực sáng tạo, chủ độngcủa học sinh
- Giáo viên nên chuẩn bị tốt cho tiết học với đầy đủ sách giáo khoa, giáo án, trangthiết bị phục vụ dạy và học, phiếu học tập, bài luyện tập cho lớp Để thầy trò cùng trao đổikiến thức, học sinh “hợp tác” với nhau có hiệu quả, giáo viên cần hướng dẫn các em chuẩn
bị bài ở nhà một cách chu đáo (theo sách giáo khoa hoặc gợi ý của giáo viên)
- Vận dụng khéo léo các phương pháp giảng dạy theo hướng đổi mới để kíchthích tư duy và gây hứng thú cho các em Cần tạo cho học sinh tự tin, bình tĩnh tronggiờ học Xây dựng cho các em tinh thần tự giác học ở nhà, chuẩn bị bài, xem bài trước
để đến lớp cùng trao đổi với bạn bè Giáo viên cũng cần đổi mới cách kiểm tra, đánhgiá nhằm kích thích tính chủ động, năng động sáng tạo của học sinh
Trang 17- Bản thân giáo viên phải không ngừng học hỏi qua đồng nghiệp, tài liệu thamkhảo để trau dồi chuyên môn, nâng cao trình độ, tiếp cận cái mới để tiếp thu, vậndụng vào bài giảng giúp học sinh học tốt hơn.
4.1.2 Đối với nhà trường
- Thường xuyên tổ chức các hoạt động sinh hoạt chuyên môn về rèn kĩ năngchủ động, sáng tạo cho học sinh trong học tập để giáo viên được giao lưu, trao đổi,học hỏi kinh nghiệm với đồng nghiệp
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất hơn nữa, nếu có thể tiến tới trang bị mỗi lớphọc một máy tính, một máy chiếu và các phương tiện công nghệ thông tin hiện đạikhác thì việc ứng dụng phương pháp dạy học chủ động, tích cực sẽ đạt hiệu quả cao
4.1.3 Đối với phụ huynh, học sinh
- Học sinh có hứng thú say mê tìm hiểu tư liệu, SGK, các phương tiện thôngtin, nghe nhìn đặc biệt là khai thác mạng internet để chuẩn bị, luyện tập và biểu diễn
- Phụ huynh tạo điều kiện về thời gian, cổ vũ, động viên, khen thưởng và điềuchỉnh kịp thời
4.2 Khả năng áp dụng
- Với giải pháp này, các giáo viên có thể sử dụng trong việc giảng dạy môn Ngữvăn bậc THCS Ngoài ra có thể vận dụng để thực hiện trong các tiết học chuyên đềthuộc các bộ môn KHXH
- Áp dụng tốt đối với các gia đình học sinh có điều kiện về thời gian, năng lực
Trang 18Phạm Thị Hà Trần Thị Thanh Hường
Nguyễn Thị Huế
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
GIÁO ÁN MINH HỌA
Văn bản: CÔ BÉ BÁN DIÊM
(Trích) (An-đec-xen)
- Giáo dục tình tương thân, tương ái
4 Định hướng phát triển năng lực
Bài học góp phần hình thành ở học sinh một số yếu tố trong quá trình phát triểncác năng lực: cảm thụ văn học, hợp tác làm việc nhóm, quan sát thực tế cuộc sống
Trang 19+ Sưu tầm hình ảnh về câu chuyện “Cô bé bán diêm”, một số câu chuyện cổtích khác của An- đex- xen.
III TIẾN TRÌNH LÊN LỚP
1 Hoạt động 1: Khởi động
- Mục tiêu: Tạo tâm thế học tập và gợi dẫn để kích thích học sinh tìm hiểu về
kiến thức mới
- Phương pháp: Thảo luận nhóm, vấn đáp.
- Kĩ thuật: Đặt câu hỏi, động não.
Trước khi đi vào nội dung bài học, chúng ta cùng trải nghiệm với tình huống sau:
- Có nhiều con người vô cảm
- Cảm xúc: Xúc động, thương cảm, phê phán những con người đối xử lạnhlùng
GV nhận xét, chuyển : Nước mắt và nụ cười làm nên những sắc màu cuộc sống Bên cạnh niềm hạnh phúc vô bờ mà các em được hưởng thì xung quanh ta còn rất nhiều những cuộc đời bất hạnh.
Từ những cảnh ngộ éo le, bất hạnh mà các em vừa tìm hiểu, chúng ta thấy trong cuộc đời còn có bao giọt nước mắt buồn đau Cái buồn đau, bất hạnh của cuộc sống đã được phản ánh rất nhiều trong các tác phẩm văn học Vậy số phận của những con người ấy được các nhà văn cảm nhận như thế nào? Để thấy được điều đó, cô và các
em cùng đến với câu chuyện cổ tích “Cô bé bán diêm” của nhà văn An-đec-xen.
2 Hoạt động 2: Hình thành kiến thức, kĩ năng
Hoạt động của giáo viên và học sinh Nội dung cần đạt