- Căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, đánh giá, giáo viên đã có biện pháp hướng dẫn, giúp đỡ kịp thời cho học sin
Trang 1sáng kiến: “Một số biện pháp chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá học sinh
tiểu học”.
I LĨNH VỰC ÁP DỤNG CỦA SÁNG KIẾN
1 Lĩnh vực áp dụng.
Sáng kiến áp dụng trong việc chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá học sinh trường tiểu học Gia Phú
2 Vấn đề mà sáng kiến giải quyết.
Khắc phục những tồn tại, hạn chế, để nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, đánh giá học sinh trường tiểu học Gia Phú, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện trong nhà trường
II MÔ TẢ BẢN CHẤT CỦA SÁNG KIẾN
1 Nội dung của sáng kiến.
1.1 Thực trạng
a, Ưu điểm:
- Trong những năm học qua, trường tiểu học Gia Phú đã chỉ đạo và thực hiện tốt những nội dung được quy định trong Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học
đã ban hành tại Thông tư 30
- Giáo viên cơ bản đã hiểu và vận dụng khá linh hoạt các phương pháp và kĩ thuật đánh giá Khi nhận xét, đánh giá, giáo viên đã quan tâm, động viên, khích lệ, biểu dương kịp thời đối với từng thành tích của các em Qua đó, giúp tất cả các em cùng tiến bộ, nhất là những học sinh nhận thức chậm sẽ tự tin và phấn đấu nhiều hơn
- Căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, đánh giá, giáo viên đã có biện pháp hướng dẫn, giúp
đỡ kịp thời cho học sinh
- Nhiều học sinh hình thành được ý thức, thói quen trong tổ chức, điều hành hợp tác, giao tiếp, chia sẻ trong học tập Các em còn có kĩ năng tự nhận xét mình và nhận xét bạn Một số học sinh nhận thức chậm không bị áp lực, tự ti, một mặt nào đó các em được khích lệ và động viên, giúp các em có hướng phấn đấu, vươn lên trong học tập thông qua lời nhận xét, động viên của giáo viên và các bạn
- Đa số giáo viên biết đa dạng, cụ thể hơn về hình thức khen thưởng, không chỉ khen thưởng học sinh có thành tích hoàn thành xuất sắc các nội dung học tập và rèn luyện mà còn khen thưởng các nội dung khác như: học sinh có thành tích vượt trội hay tiến bộ vượt bậc về ít nhất một môn học hoặc ít nhất một năng lực, phẩm chất; học sinh có thành tích đột xuất trong năm học, đã có tác dụng động viên học sinh, giúp cho các em học tập và rèn luyện toàn diện hơn
- Giáo viên thực hiện tương đối tốt việc đánh giá năng lực, phẩm chất học sinh theo 3 mức : Tốt, đạt, cần cố gắng, khuyến khích được sự nỗ lực phấn đấu của học sinh, góp phần phát triển toàn diện các em
- Một bộ phận cha mẹ học sinh thường xuyên trao đổi, phối hợp với giáo viên
Trang 2Việc trao đổi với cha mẹ học sinh giúp cho giáo viên có cách nhìn khách quan hơn về năng lực, phẩm chất của các em
b, Tồn tại, hạn chế:
- Việc nhận xét, sửa sai của một số giáo viên chưa cụ thể, tỉ mỉ hoặc học sinh không nhận ra chỗ sai của mình để sửa sai nên không có tác dụng nhiều trong quá trình nhận xét, đánh giá
- Lời nhận xét của một số giáo viên còn chung chung, không có tác dụng tư vấn, giúp đỡ học sinh nên hiệu quả đánh giá thường xuyên không cao
- Trong các tiết học, một số giáo viên chưa quan tâm đến việc tự nhận xét, đánh giá của học sinh
- Việc lập ma trận đề và ra đề kiểm tra theo 4 mức độ ở một số giáo viên còn hạn chế
- Sự tham gia của cha mẹ học sinh vào việc đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của con em còn mang tính hình thức
c, Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế:
- Một số giáo viên không chịu đổi mới, ít nghiên cứu các phương pháp, kĩ thuật đánh giá nên khi thực hiện thì gặp khó khăn
- Trong tiết dạy giáo viên thường quan tâm về mặt nội dung kiến thức mà ít quan tâm tới việc hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh
- Một số giáo viên còn ỷ nại vào tổ trưởng, tổ phó chuyên môn trong việc xây dựng ma trận đề, ra đề kiểm tra
- Cha mẹ học sinh thường dựa vào đánh giá của giáo viên mà không có ý kiến của mình tham gia đánh giá
1.2 Một số giải pháp thực hiện.
Trên cơ sở thực trạng của nhà trường tôi mạnh dạn đưa ra “Một số biện pháp chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá học sinh tiểu học” Cụ thể như sau:
Giải pháp 1: Tiếp tục chỉ đạo, tuyên truyền nâng cao nhận thức cho cán
bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh về Quy định đánh giá học sinh tiểu học.
- Đầu năm học nhà trường tiếp tục triển khai, thực hiện Thông tư số 22/2016/TT-BGDĐT ngày 22/9/2016 V/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định đánh giá học sinh tiểu học đã ban hành tại Thông tư 30 tới toàn thể cán bộ giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh
Hình thức:
+ Với giáo viên: Trong buổi họp chuyên môn toàn trường đầu năm học
+ Với học sinh: Tuyên truyền trong các buổi sinh hoạt đầu tuần, hoạt động tập thể
+ Với cha mẹ học sinh: Giáo viên chủ nhiệm trao đổi cụ thể trong buổi họp cha
mẹ học sinh 3 lần/năm
Phương châm: Đánh giá trước hết phải vì sự tiến bộ của học sinh, giúp học sinh nhận ra mình đang ở đâu trên con đường đạt tới mục tiêu bài học, chuẩn kiến
Trang 3thức kĩ năng, … Đánh giá không làm cho học sinh lo sợ, bị thương tổn, mất tự tin Việc đổi mới quá trình kiểm tra đánh giá vô cùng quan trọng, là hạt nhân quy chiếu toàn bộ quá trình dạy học và quá trình đổi mới chương trình sách giáo khoa
Giải pháp 2 Tổ chức các chuyên đề cấp trường để nâng cao năng lực đánh giá học sinh.
- Thường xuyên tổ chức các chuyên đề nâng cao năng lực đánh giá học sinh
tiểu học với các nội dung: Nâng cao năng lực đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì
- Hình thức tổ chức:
+ Tập trung toàn trường: Nội dung trao đổi về kiểm tra, đánh giá học sinh (phần chung); Dự giờ các tiết dạy minh họa; Trao đổi, rút kinh nghiệm qua tiết dạy;
+ Theo tổ chuyên môn: Dự giờ các tiết dạy; Trao đổi, rút kinh nghiệm; Thống nhất các nội dung đánh giá trong tổ, khối
+ Cá nhân: Tham gia các hoạt động chung toàn trường và tổ chuyên môn Tự rút ra bài học cho bản thân; Vận dụng trong quá trình đánh giá học sinh theo nhiệm
vụ được phân công
- Nội dung: Tập trung vào các phương pháp đánh giá, kĩ thuật đánh giá:
a, Về phương pháp đánh giá: Phương pháp viết (Bài kiểm tra viết, trắc
nghiệm trên phiếu, làm bài trong vở ghi, vở bài tập, …); Phương pháp vấn đáp (Đặt
câu hỏi, thảo luận nhóm, …); Phương pháp quan sát (ghi nhớ, ghi chép sự kiện
thường nhật, )
b, Về kĩ thuật đánh giá:
* Kĩ thuật đánh giá thường xuyên:
- Để làm tốt công tác đánh giá thường xuyên, cần chỉ đạo giáo viên thực hiện tốt các hoạt động: quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét, tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh Các hoạt động này nó có mối quan hệ tương hỗ, biện chứng với nhau, hoạt động này hỗ trợ cho hoạt động kia và ngược lại
- Khi tập huấn cho đội ngũ cần chú trọng: Làm thế nào để giáo viên biết cách đánh giá thường xuyên bằng những nhận xét có tác dụng giúp thúc đẩy hoạt động học tập, phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh Khi nhận xét trước lớp Khi nhận xét bài làm của học sinh, giáo viên cần tránh những lời nhận xét chung chung như: Bài làm tốt”, “ Bài làm khá tốt”, “Bài viết còn sơ sài”, … mà cần phải sử dụng những lời nhận xét thật cụ thể, chỉ ra cho học sinh biết các em làm tốt thì tốt như thế nào, “sơ sài” ở chỗ nào, tư vấn cho các em nên thêm vào nội dung gì để bài viết được đầy đủ hơn, ý nào nên thay đổi để câu văn được hay hơn, sinh động hơn Khi đánh giá trên bài viết của học sinh cần chỉ ra chỗ đúng để phát huy, chỗ sai chính các em phải sửa
để nhớ và không mắc sai sót nữa Lời nhận xét của giáo viên cần đảm bảo được 3 yêu cầu (chỉ ra được ưu điểm, tồn tại và hướng khắc phục tồn tại đó)
- Đối với việc đánh giá các môn học, chỉ đạo giáo viên chuẩn bị một cuốn sổ tay để ghi lại những biểu hiện “bất thường” hoặc những tiến bộ “đột xuất” trong học
Trang 4kiểm tra) mục đích để giúp giáo viên có thêm cơ sở trong đánh giá học sinh cuối kì, cuối năm hoặc xét khen thưởng cuối năm
- Đối với việc đánh giá các biểu hiện về năng lực, phẩm chất, hướng dẫn giáo viên thực hiện bộ công cụ hỗ trợ đánh giá học sinh đó chính là các bảng thang đánh giá Việc thực hiện theo dõi các thang đánh giá này không làm mất nhiều thời gian của giáo viên mà hiệu quả mang lại rất cao, có sức thuyết phục lớn Vì các chỉ số trong thang đánh giá chính là các yêu cầu về năng lực, phẩm chất của từng thời điểm
đã được in sẵn, giáo viên chỉ cần tích vào ô thích hợp Vừa giúp giáo viên không bị nhầm lẫn hoặc quên trong quá trình theo dõi vừa có minh chứng để cuối học kì, cuối năm đánh giá, đề nghị khen thưởng học sinh Mặt khác, việc theo dõi này còn giúp giáo viên đến từng thời điểm, giáo viên sẽ biết những học sinh nào chưa đạt nội dung
gì để có biện pháp giúp đỡ học sinh kịp thời
* Kĩ thuật đánh giá định kì:
- Ngoài việc tập huấn cho đội ngũ các nội dung, yêu cầu trong thông tư 22, cần đặc biệt lưu ý về cách thiết lập ma trận đề kiểm tra theo 4 mức độ: Đề kiểm tra định
kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức độ quy định; phù hợp với quy định của chương trình và thực tế học sinh lớp mình phụ trách
- Hướng dẫn quy trình thiết kế ma trận đề kiểm tra, trong đó hướng dẫn giáo viên cách lập bảng ma trận đề: nội dung, chủ đề hay mạch kiến thức chính cần đánh giá; các cấp độ nhận thức của học sinh theo các mức độ nhận thức (nhận biết; thông hiểu; vận dụng; vận dụng nâng cao)
Lưu ý giáo viên cách xác định các mức độ nhận thức khi ra đề kiểm tra:
Cách 1: Sử dụng các “từ khóa” khi nêu câu hỏi hoặc dùng làm câu lệnh:
Để đánh giá mức độ 1 (nhận biết), giáo viên sử dụng các câu hỏi, lệnh có các
từ như: kể, liệt kê, mô tả, viết, tìm, nêu tên,
Để đánh giá mức độ 2 (thông hiểu), giáo viên sử dụng các câu hỏi, lệnh có các
từ như: giải thích, phác thảo, thảo luận, phân biệt, dự đoán khẳng định lại, so sánh,
Để đánh giá mức độ 3 (vận dụng), giáo viên sử dụng các câu hỏi, lệnh có các động từ như: Giải quyết, sử dụng, làm rõ, xây dựng, hoàn thiện, xem xét, làm sáng tỏ
Để đánh giá mức độ 4 (vận dụng nâng cao), giáo viên sử dụng các câu hỏi, lệnh có các động từ như: Tạo ra, dự báo, lập kế hoạch, xây dựng, thiết kế, tưởng tượng, đề xuất, định hình,
Cách 2: Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình: Kiến thức nào
trong chuẩn ghi là biết được thì xác định ở mức độ “nhận biết” Kiến thức nào trong chuẩn ghi là “hiểu được” và có yêu cầu giải thích, phân biệt, so sánh, … dựa trên các kiến thức trong sách giáo khoa thì được xác định ở mức độ “thông hiểu” Kiến thức nào trong chuẩn ghi là “hiểu được” nhưng chỉ yêu cầu nêu, kể lại, nói ra… ở mức độ nhớ, thuộc các kiến thức trong sách giáo khoa thì vẫn xác định ở mức độ “nhận biết” Kiến thức nào trong chuẩn ghi ở phần kĩ năng hoặc yêu cầu rút ra kết luận, bài học… thì xác định là mức độ “vận dụng” Những kiến thức, kĩ năng kết hợp giữa phần “hiểu
Trang 5được” và phần “kĩ năng” thiết kế, xây dựng trong những hoàn cảnh mới thì được xác định ở mức độ “vận dụng nâng cao”
- Trong quá trình đánh giá thì bản thân học sinh cũng cần có công cụ đánh giá
và kỹ năng tự đánh giá mình, đánh giá bạn Nhà trường đã chỉ đạo vận dụng thành tố tích cực của mô hình VNEN trong việc xây dựng Hội đồng tự quản học sinh, vai trò chủ trì tổ chức hoạt động tự quản cũng như tham gia quá trình tự đánh giá và đánh giá bạn trong nhóm học sinh
Hình ảnh minh họa 1, 5, 6 (có phụ lục kèm theo)
Giải pháp 3 Chỉ đạo giáo viên sử dụng đa dạng các hình thức đánh giá
- Khi giáo viên đã nắm vững các kĩ thuật đánh giá thì một điều quan trọng trong khâu đánh giá HS là nếu không đa dạng hình thức đánh giá thì sẽ làm cho hoạt động học tập nhàm chán, sẽ không phát triển các năng lực bậc cao ở người học như năng lực tự học, giải quyết vấn đề, năng lực tư duy sáng tạo, …
- Chỉ đạo giáo viên linh hoạt trong vận dụng các hình thức đánh giá như: đánh giá bằng trắc nghiệm, bằng viết kiểu tự luận, đánh giá thông qua sản phẩm, qua thuyết trình, thông qua tương tác nhóm, qua sản phẩm của nhóm, sản phẩm của cá nhân, …
- Giáo viên đánh giá bằng cách quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn động viên HS; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số phẩm chất, năng lực của học sinh,… những hình thức đánh giá này giáo viên cần sử dụng thường xuyên giúp giáo viên thêm kỹ năng và kinh nghiệm xây dựng bộ câu hỏi, các tình huống kiểm tra, đánh giá
- Khi sửa sai trong quá trình học sinh trả lời hỏi - đáp, có thể yêu cầu học sinh
tự nhận xét câu trả lời của mình hoặc nhờ học sinh khác chỉ ra cho bạn hoặc giáo viên dùng câu hỏi gợi ý để học sinh thấy được chỗ sai của mình và tự sửa chữa
- Khi sửa sai trên vở ghi, vở bài tập, giáo viên giúp học sinh nhận ra chỗ sai, sai vì sao? học sinh tự sửa sai trên vở đúng quy định Đối với học sinh nhận thức chậm, ngoài việc giúp học sinh nhận ra chỗ sai để tự sửa thì giáo viên còn có thể sửa sai trực tiếp, sau đó học sinh quan sát, suy nghĩ, đọc lời nhận xét của giáo viên để nhận ra chỗ sai và sửa chữa
Hình ảnh minh họa 2, 3, 4 (có phụ lục kèm theo)
Giải pháp 4: Tăng cường kiểm tra công tác đánh giá học sinh tiểu học
- Ban giám hiệu nhà trường, tổ trưởng, tổ phó chuyên môn thường xuyên kiểm tra việc kiểm tra, đánh giá học sinh của giáo viên qua việc dự giờ thăm lớp, kiểm tra
vở ghi của học sinh, việc chấm bài, sửa sai, nhận xét của giáo viên, học sinh tự nhận xét mình và nhận xét bạn Có rút kinh nghiệm, tư vấn sau kiểm tra để phát huy những
ưu điểm và khắc phục ngay những tồn tại, hạn chế
- Giáo viên lập ma trận đề trước thời gian kiểm tra định kì 01 tháng, sau đó xây dựng đề kiểm tra, ban giám hiệu nhà trường thẩm định, phê duyệt, góp ý, tư vấn
Trang 6- Giữa học kì, cuối học kì, chỉ đạo thu bài kiểm tra 100% các lớp, cử giáo viên cốt cán cùng với ban giám hiệu kiểm tra chéo việc chấm bài, sửa sai, nhận xét, đánh giá, đối chiếu với kết quả đánh giá nhận xét thường xuyên từ đó có biện pháp khắc phục những hạn chế trong khâu kiểm tra đánh giá, chất lượng học tập, rèn luyện học sinh
- Chỉ đạo, triển khai thực hiện tốt việc nghiệm thu, bàn giao chất lượng giáo dục học sinh: xây dựng ma trận đề, đề kiểm tra, coi, chấm bài kiểm tra, bàn giao giữa các giáo viên giao và nhận
Giải pháp 5: Phối kết hợp với cha mẹ học sinh trong quá trình đánh giá
- Nhà trường, giáo viên tích cực tuyên truyền và hướng dẫn cha mẹ học sinh tham gia quá trình đánh giá, quá trình hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh (qua buổi họp định kì, trao đổi trực tiếp, điện thoại, sổ liên lạc điện tử, phiếu đánh giá, mời dự hoạt động với học sinh, …) Giáo viên chủ nhiệm phải chuẩn bị rất chi tiết và khoa học các nội dung khi tiếp xúc với phụ huynh đặc biệt là khi họp toàn thể để thông tin và phối kết hợp với phụ huynh tham gia đánh giá, hướng dẫn con em học tập
- Mời cha mẹ học sinh tham gia hoặc quan sát các hoạt động dạy học, giáo dục của nhà trường, đáp ứng các yêu cầu của học trong quá trình học tập nhất là những hoạt động học tập, sinh hoạt ở gia đình, cộng đồng (dự một tiết học, hoạt động giao lưu văn nghệ, an toàn giao thông, hoạt động tập thể chào mừng các ngày lễ lớn, viếng nghĩa trang liệt sỹ, tham quan di tích lịch sử Đền Thượng, …)
* Tính mới, tính sáng tạo:
- Nâng cao nhận thức cho cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh, cha mẹ học sinh về Quy định đánh giá học sinh tiểu học
- Tổ chức các chuyên đề cấp trường để nâng cao năng lực đánh giá cho giáo viên về phương pháp, kĩ thuật đánh giá thường xuyên, đánh giá định kì
- Chỉ đạo giáo viên sử dụng đa dạng các hình thức đánh giá
- Tăng cường các hình thức kiểm tra việc đánh giá của giáo viên
- Tuyên truyền, phối hợp với cha mẹ học sinh tham gia quá trình đánh giá
2 Khả năng áp dụng
Sáng kiến này được áp dụng trong việc chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá học sinh ở trường Tiểu học Gia Phú, có thể áp dụng rộng rãi phạm vi các trường Tiểu học
3 Các điều kiện cần thiết để áp dụng sáng kiến.
3.1 Đối với nhà trường
- Phân công lãnh đạo chỉ đạo và sát sao trong công tác kiểm tra, đánh giá học sinh
- Tăng cường công tác XHHGD bổ sung CSVC lớp học theo hướng chuẩn hóa, thân thiện, trong đó đặc biệt quan tâm đến lắp đặt các công cụ quản lí học sinh sao cho khoa học và tiện lợi sử dụng
3.2 Đối với giáo viên
Trang 7- Giáo viên nắm được cụ thể và chính xác trình độ năng lực của từng học sinh trong lớp do mình giảng dạy, giáo dục
- Có tinh thần trách nhiệm, tích cực tự bồi dưỡng năng cao năng lực đánh giá,
ân cần hướng dẫn giúp đỡ học sinh và luôn tâm huyết với nghề
3.3 Đối với cha mẹ học sinh
- Chuẩn bị đầy đủ dụng cụ học tập cho con em
- Tích cực tham gia cùng với giáo viên trong quá trình đánh giá
4 Đánh giá lợi ích thu được
4.1 Hiệu quả kinh tế.
Vận dụng sáng kiến “Một số biện pháp chỉ đạo công tác kiểm tra, đánh giá
học sinh tiểu học” với các biện pháp đơn giản, sáng tạo nhưng đã mang lại hiệu quả
cao trong công tác chỉ đạo kiểm tra, đánh giá Sáng kiến này mang lại nhiều lợi ích kinh tế: Tiết kiệm được chi phí, thời gian, công sức
4.2 Hiệu quả xã hội.
Trong năm học, khi áp dụng các biện pháp trên trong công tác chỉ đạo kiểm tra, đánh giá học sinh đã thu được hiệu quả cao Cụ thể:
- Hầu hết giáo viên đã dần hình thành thói quen, kỹ năng trong việc sử dụng lời nói để nhận xét cũng như viết lời nhận xét khi chấm bài, giúp học sinh có nhiều hơn thời gian để xem xét kỹ năng làm bài, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn đồng thời các em được củng cố niềm tin sau mỗi bài học Qua lời nhận xét của thầy cô, học sinh cũng sẽ học được cách để tự đánh giá và nhận xét bạn khi các em đánh giá trong nhóm Giáo viên tự tin trong mọi khâu của quá trình đánh giá học sinh
- Học sinh biết tự nhận xét, đánh giá mình, nhận xét tư vấn cho bạn, biết được chỗ đúng, sai của mình và biết cách sửa chữa
- 100% giáo viên biết lập ma trận đề và ra đề kiểm tra theo 4 mức độ Việc giáo viên làm tốt khâu kiểm tra, đánh giá học sinh góp phần duy trì và nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
- Cha mẹ học sinh tích cực tham gia vào việc đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của con em mình
Tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng sự thật và tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Gia Phú, ngày 06 tháng 5 năm 2020
Xác nhận của Hiệu trưởng Người viết đơn
Đào Thị Chiên
Trang 8PHỤ LỤC Hình ảnh minh họa 1 (Minh họa cho giải pháp 2)
Trang 9Tổ chức chuyên đề: Nâng cao năng lực đánh giá học sinh tiểu học
Hình ảnh minh họa 2 (Minh họa cho giải pháp 3)
Trang 10Đánh giá, nhận xét thường xuyên của giáo viên dạy môn Toán - lớp 2
Hình ảnh minh họa 3 (Minh họa cho giải pháp 3)