Vì vậy, được sự cho phép của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Đinh Minh Diệm cùng với sự nổ lực hết mình của bản thân, chúng em đã chọn đề tài cho đồ án tốt nghiệp của mình đó là: THIẾT KẾ VÀ
Trang 1Sinh viên thực hiện: LÊ QUANG TRƯỞNG
Số thẻ sinh viên: 101120208 Lớp: 12C1B
Đà Nẵng, 5/2017
DUT.LRCC
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA
KHOA CƠ KHÍ
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGÀNH: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
CHUYÊN NGÀNH: CÔNG NGHỆ CHẾ TẠO MÁY
ĐỀ TÀI:
THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO MÁY BĂM NGHIỀN THỰC VẬT LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Giáo viên hướng dẫn: PGS TS ĐINH MINH DIỆM
Sinh viên thực hiện: HUỲNH THANH TÙNG
Trang 3TÓM TẮT
Tên đề tài: THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO MÁY BĂM NGHIỀN THỰC VẬT
LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Sinh viên thực hiện: Huỳnh Thanh Tùng
Số thẻ SV: 101120153 Lớp: 12C1A
Sinh viên thực hiện: Lê Quang Trưởng
Số thẻ SV: 101120208 Lớp: 12C1A
1) Nhu cầu thực tế
Nâng cao năng suất, chất lượng thức ăn chăn nuôi
Tạo điều kiện làm việc tốt hơn cho người lao động Với thiết kế đơn giản giúp người lao động có thể vận hành dễ dàng
2) Phạm vi nghiên cứu đề tài
Tìm hiểu về các phương pháp băm, nghiền vật liệu
Tìm hiểu về nguyên lý hoạt động của máy nghiền búa và máy băm cỏ
Nghiên cứu, thiết kế và chế tạo máy băm nghiền thực vật làm thức ăn chăn nuôi
bao gồm: dao băm, búa nghiền, trục, buồng nghiền, thân máy,
3) Nội dung đề tài đã thực hiện:
Số trang thuyết minh: 67 trang
Số bản vẽ: 7 bản vẽ A0
Máy: 01
4) Kết quả đã đạt được
Nắm rõ lý thuyết về các phương pháp băm, nghiền vật liệu
Thiết kế và chế tạo được cụm dao băm và búa nghiền
Thiết kế và chế tạo được buồng nghiền, thân máy
Chế tạo và lắp ráp hoàn chỉnh một máy băm nghiền thực vật
DUT.LRCC
Trang 41 Huỳnh Thanh Tùng 101120153 12C1A Công nghệ chế tạo máy
2 Lê Quang Trưởng 101120208 12C1B Công nghệ chế tạo máy
1 Tên đề tài đồ án:
THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO MÁY BĂM NGHIỀN THỰC VẬT LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
2 Đề tài thuộc diện: ☐ Có ký kết thỏa thuận sở hữu trí tuệ đối với kết quả thực hiện
3 Các số liệu và dữ liệu ban đầu:
Năng suất nghiền: 150 – 200 kg/giờ
Kích thước sản phẩm sau khi nghiền: 2 – 12 mm
Kích thước sản phẩm sau khi băm: 10 – 50 mm
4 Nội dung các phần thuyết minh và tính toán:
A Phần lý thuyết:
1 Tổng quan tình hình chăn nuôi và các loại thực vật làm thức ăn chăn nuôi
2 Cơ sở lý thuyết về các phương pháp băm nghiền thức ăn chăn nuôi
3 Giới thiệu một số loại máy băm nghiền đã được chế tạo
B Phần tính toán và thiết kế máy:
1 Yêu cầu kỹ thuật của máy
2 Phân tích và chọn phương án thiết kế máy băm nghiền
3 Thiết lập sơ đồ động học máy
4 Tính toán thiết kế máy (chọn động cơ, tính bộ truyền đai, tính trục, )
5 Tính toán thiết kế hệ thống dao băm và dao nghiền
6 Tính toán các bộ phận của máy: Khu`ng máy, lưới sàng, phễu cấp liệu, buồng nghiền, cửa tháo sản phẩm,
7 Hướng dẫn an toàn khi sử dụng, vệ sinh và bảo quản máy
5 Các bản vẽ, đồ thị ( ghi rõ các loại và kích thước bản vẽ ):
4 Bản vẽ cụm dao băm, dao nghiền, trục chính
DUT.LRCC
Trang 55 Bản vẽ khung máy 1A0
6 Họ tên người hướng dẫn: Phần/ Nội dung:
7 Ngày giao nhiệm vụ đồ án: 06/02/2017
8 Ngày hoàn thành đồ án: 20/05/2017
Đà Nẵng, ngày tháng năm 2017
Trưởng Bộ môn Công nghệ vật liệu Người hướng dẫn
PGS.TS Đinh Minh Diệm PGS.TS Đinh Minh Diệm
DUT.LRCC
Trang 6LỜI NÓI ĐẦU VÀ CẢM ƠN
Nông nghiệp là ngành kinh tế quan trọng của nước ta, tình hình xuất khẩu nông nghiệp đang ngày càng phát triển mạnh mẽ và là một trong những ngành xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam, mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho đất nước Những năm gần đây việc áp dụng chính sách cơ giới hóa nông nghiệp đã thúc đẩy tình hình canh tác và hiệu quả kinh tế mang lại từ nông nghiệp ngày càng tăng cao Cũng nhờ áp dụng
cơ giới hóa nông nghiệp ngành sản xuất máy nông nghiệp trong nước cũng đang dần
phát triển Điều quan trọng là ta phải có trang thiết bị hiện đại nhằm đáp ứng được nhu cầu phát triển mạnh mẽ đó
Lĩnh vực cơ khí và đặc biệt là ngành cơ khí chế tạo máy là ngành quan trọng phải đảm nhận nhiệm vụ này Bản thân là sinh viên ngành Công nghệ chế tạo máy chúng em cũng nhận thức được tầm quan trọng này Vì vậy, được sự cho phép của thầy giáo hướng dẫn PGS.TS Đinh Minh Diệm cùng với sự nổ lực hết mình của bản
thân, chúng em đã chọn đề tài cho đồ án tốt nghiệp của mình đó là: THIẾT KẾ VÀ CHẾ TẠO MÁY BĂM NGHIỀN THỰC VẬT LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Với các kiến thức tích lũy được trong những năm học tại trường và đặc biệt là
sự hướng dẫn của thầy PGS.TS Đinh Minh Diệm chúng em đã hoàn thành đồ án tốt nghiệp của mình Cũng bởi kiến thức còn thiên về lý thuyết và thiếu nhiều kinh nghiệm trong thực tế nên không tránh được những sai sót trong quá trình thực hiện đồ
án, chúng em mong các thầy thông cảm và chỉ bảo thêm để chúng em có thêm kiến thức và hoàn thiện bản thân hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình của thầy PGS.TS Đinh Minh Diệm, cũng như khoa Cơ khí và nhà trường Đại học Bách khoa đã tạo điều
kiện thuận lợi để chúng em có thể hoàn thành tốt Đồ án tốt nghiệp của mình
Đà Nẵng, ngày 01 tháng 05 năm 2017
Huỳnh Thanh Tùng Lê Quang Trưởng
DUT.LRCC
Trang 7LỜI CAM ĐOAN LIÊM CHÍNH HỌC THUẬT
Chúng em xin cam đoan Đồ án tốt nghiệp của mình không vi phạm quy định về liêm chính học thuật của trường Đảm bảo sử dụng đúng các tài liệu có liên quan, ghi đầy đủ thông tin về tài liệu tham khảo và bản quyền tác giả
Đà Nẵng, ngày 01 tháng 05 năm 2017
Sinh viên thực hiện
Huỳnh Thanh Tùng Lê Quang Trưởng
DUT.LRCC
Trang 8MỤC LỤC
Tóm tắt
Nhiệm vụ đồ án
Lời nói đầu và cảm ơn i
Lời cam đoan liêm chính học thuật ii
Mục lục iii
Danh sách các bảng biểu, hình vẽ và sơ đồ vi
Mở đầu 1
Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI VÀ CÁC LOẠI THỰC VẬT LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI 2
1.1 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay 2
1.1.1 Thực trạng về sản xuất và chính sách phát triển chăn nuôi 2
1.1.2 Định hướng phát triển 5
1.2 Giới thiệu tổng quan các loại thực vật làm thức ăn chăn nuôi 7
1.2.1 Thức ăn từ các loại cây xanh 7
1.2.2 Thức ăn rễ, củ và quả 9
1.2.3 Thức ăn từ các hạt ngũ cốc và các phụ phẩm 10
1.2.4 Thức ăn từ các hạt họ đậu và các loại khô dầu 12
1.3 Các phương pháp chế biến thực vật làm thức ăn chăn nuôi 13
1.3.1 Phương pháp bảo quản thức ăn xanh 14
1.3.2 Phương pháp bảo quản thức ăn củ, quả 16
1.3.3 Phương pháp chế biến và dự trữ thức ăn từ các loại hạt 18
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BĂM NGHIỀN 20
2.1 Các phương pháp băm-nghiền 20
2.1.1 Các phương pháp băm trong nông nghiệp 20
2.1.2 Các phương pháp nghiền trong nông nghiệp 21
2.2 Một số loại máy đã được chế tạo hiện nay 23
2.3 Các cơ cấu cắt hiện nay 27
Chương 3: PHÂN TÍCH CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ MÁY BĂM NGHIỀN 31
DUT.LRCC
Trang 93.2 Lựa chọn phương án cắt thái để thiết kế 31
3.3 Lựa chọn phương án truyền động cho dao 31
3.3.1 Phương án 1: Trục dao thẳng đứng 31
3.3.2 Phương án 2: Trục dao nằm ngang 32
3.4 Sơ đồ động 32
Chương 4: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ MÁY BĂM NGHIỀN 33
4.1 Tính chọn động cơ điện 33
4.1.1 Tính vận tốc và lực tác dụng khi băm, nghiền 33
4.1.2 Tính công suất 34
4.2 Tính toán, thiết kế bộ truyền đai 35
4.3 Thiết kế trục chính 37
4.3.1 Chọn vật liệu chế tạo trục chính 37
4.3.2 Tính sức bền trục chính 38
4.4 Tính chọn then 44
4.4.1 Then cho đoạn trục lắp đĩa búa nghiền 44
4.4.2 Then cho đoạn trục lắp bánh đai 44
4.5 Thiết kế gối đỡ trục 45
4.6 Tính toán các chi tiết máy khác 45
4.6.1 Tính kích thước rôto và chiều dài búa 45
4.6.2 Chọn các thông số hình học của búa 45
4.6.3 Thiết kế lưới sàng 46
4.6.4 Tính khe hở giữa đầu búa và sàng 47
Chương 5: CHẾ TẠO CÁC BỘ PHẬN CỦA MÁY 48
5.1 Bản vẽ máy thiết kế 48
5.2 Chế tạo đĩa dao 48
5.3 Chế tạo dao băm 50
5.4 Chế tạo búa nghiền 51
5.5 Chế tạo trục chính 52
5.6 Chế tạo đĩa và trục lắp búa nghiền 53
5.7 Chế tạo lưới sàng 55
5.8 Chế tạo phần thân máy 55
5.9 Chế tạo buồng băm nghiền 56
5.10 Chế tạo phễu cấp liệu 57
5.11 Động cơ điện 58
5.12 Quá trình hoạt động của máy 58
DUT.LRCC
Trang 10Chương 6: HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN MÁY 59
6.1 Các thông số kỹ thuật của máy 59
6.2 Hướng dẫn sử dụng máy 59
6.2.1 Khi băm 59
6.2.2 Khi nghiền 59
6.3 An toàn khi sử dụng máy 59
6.4 Các sự cố và cách khắc phục 60
KẾT LUẬN 61
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
PHỤ LỤC 63
DUT.LRCC
Trang 11DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU, HÌNH VẼ VÀ SƠ ĐỒ
BẢNG 2-1 Đặc tính kỹ thuật của một số máy thái, băm rau củ 27
BẢNG 6-1 Nguyên nhân và cách khắc phục các sự cố 60
HÌNH 1.1 Chăn nuôi lợn, bò 3
HÌNH 1.2 Chăn nuôi trâu, gà 3
HÌNH 1.3 Chăn nuôi dê, thỏ 4
HÌNH 1.4 Thức ăn ủ xanh 8
HÌNH 1.5 Củ khoai mì 9
HÌNH 1.6 Củ khoai lang 10
HÌNH 1.7 Hạt ngô 11
HÌNH 1.8 Hạt gạo 11
HÌNH 1.9 Cám gạo 11
HÌNH 1.10 Hạt đậu nành 12
HÌNH 1.11 Hạt đậu phộng 13
HÌNH 1.12 Hạt mè 13
HÌNH 1.13 Khô dầu 13
HÌNH 1.14 Thức ăn ủ xanh 14
HÌNH 1.15 Thức ăn xanh lên men 15
HÌNH 1.16 Thức ăn xanh phơi khô 15
HÌNH 1.17 Sắn, khoai lang phơi khô 17
HÌNH 1.18 Bột sắn, bột khoai lang 17
HÌNH 1.19 Ngô và các loại hạt đậu phơi khô 18
HÌNH 1.20 Bột đậu lên men 19
HÌNH 2.1 Các dạng lưới sàng 22
HÌNH 2.2 Các kiểu búa nghiền 22
HÌNH 2.3 Máy thái bèo 23
HÌNH 2.4 Máy thái đa năng của ông Phạm Quốc Hoan ( Diễn Châu – Nghệ An ) 24
HÌNH 2 5 Máy thái cỏ cải tiến 24
HÌNH 2.6 Máy thái lát, sợi củ quả KS-150 25
HÌNH 2.7 Máy thái lát khoai tây EC-502 25
HÌNH 2.8 Máy băm nghiền đa năng 26
HÌNH 2.9 Máy nghiền 14 kiểu buồng thẳng 26
DUT.LRCC
Trang 12HÌNH 2.10 Cơ cấu quay 28
HÌNH 2.11a Thanh trượt 29
HÌNH 2.11b Tay quay thanh truyền 29
HÌNH 2.12a Một cánh tay đòn 30
HÌNH 2.12b Hai cánh tay đòn 30
HÌNH 3.1 Sơ đồ động trục dao thẳng đứng 31
HÌNH 3.2 Sơ đồ động trục dao nằm ngang 32
HÌNH 3.3 Sơ đồ động học 32
HÌNH 4.1 Biểu đồ mômen trên trục chính 39
HÌNH 4.2 Lực tác dụng lên ổ đỡ 45
HÌNH 4.3 Kích thước búa nghiền 46
HÌNH 4.4 Kích thước lỗ lưới nghiền 46
HÌNH 5.1 Bản vẽ máy thiết kế 48
HÌNH 5.2 Bản vẽ chế tạo đĩa dao băm 49
HÌNH 5.3 Đĩa dao băm đã được chế tạo 49
HÌNH 5.4 Bản vẽ chế tạo dao băm 50
HÌNH 5.5 Dao băm đã được chế tạo 50
HÌNH 5.6 Bản vẽ chế tạo búa nghiền 51
HÌNH 5.7 Búa nghiền đã được chế tạo 52
HÌNH 5.8 Bản vẽ chế tạo trục chính 53
HÌNH 5.9 Trục chính đã được chế tạo 53
HÌNH 5.10 Bản vẽ chế tạo đĩa búa nghiền 54
HÌNH 5.11 Bản vẽ chế tạo trục lắp búa nghiền 54
HÌNH 5.12 (a)Đĩa đã được chế tạo (b)trục lắp búa nghiền đã được chế tạo 54
HÌNH 5.13 Lưới nghiền đã được chế tạo 55
HÌNH 5.14 Thân máy đã được chế tạo 56
HÌNH 5.15 Buồng nghiền đã được chế tạo 57
HÌNH 5.16 Bản vẽ chế tạo phễu cấp liệu 57
HÌNH 5.17 Phễu cấp liệu đã được chế tạo 58
HÌNH 5.18 Động cơ điện một pha 58
DUT.LRCC
Trang 13MỞ ĐẦU
Qua quá trính thực hiện đồ án, chúng em có thể vận dụng những kiến thức đã tích lũy về cơ khí đã được đào tạo để tìm hiểu, nghiên cứu và chế tạo thành công một máy có ứng dụng thực tế trong sản xuất Nhờ đó chúng em có thể hiểu hơn những lý thuyết đã học và kinh nghiệm vận dụng vào thực tế
Phạm vi nghiên cứu đề tài tốt nghiệp của chúng em tập trung vào lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn, cụ thể là lĩnh vực phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm
Áp dụng cơ khí hóa nông nghiệp nhằm tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, cải thiện điều kiện lao động tốt hơn cho bà con nông dân Hiện nay các phụ phế phẩm nông nghiệp trong sản xuất nông nghiệp chưa được sử dụng triệt để, gây lãng phí Trước thực tế đó chúng em đã nghiên cứu và chế tạo thành công máy băm nghiền thực vật làm thức ăn chăn nuôi Máy có thể thực hiện chức năng băm cỏ, thân cây chuối, bèo tây, bã miết, rơm rạ, bên cạnh đó máy còn nghiền được các lại hạt như ngô, các loại đậu, Chúng em hi vọng sản phẩm máy của chúng em sẽ được đón nhận sử dụng trong hoạt động sản xuất hằng ngày
Cấu trục của đề tài như sau:
Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI
VÀ CÁC LOẠI THỰC VẬT LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BĂM NGHIỀN
Chương 3: PHÂN TÍCH CHỌN PHƯƠNG ÁN THIẾT KẾ MÁY
BĂM NGHIỀN
Chương 4: TÍNH TOÁN THIẾT KẾ MÁY BĂM NGHIỀN
Chương 5: CHẾ TẠO CÁC BỘ PHẬN CỦA MÁY
Chương 6: HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG VÀ BẢO QUẢN MÁY
DUT.LRCC
Trang 14Chương 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH CHĂN NUÔI
VÀ CÁC LOẠI THỰC VẬT LÀM THỨC ĂN CHĂN NUÔI
1.1 Tình hình chăn nuôi ở Việt Nam hiện nay
1.1.1 Thực trạng về sản xuất và chính sách phát triển chăn nuôi
Đánh giá về kết quả phát triển chăn nuôi, những chính sách của Việt nam trong giai đoạn vừa qua đã có những tác dụng tích cực giúp ổn định và phát triển chăn nuôi, trong đó những thành tựu nổi bật đó là:
Củng cố và duy trì được hệ thống giống gốc vật nuôi từ trung ương đến một số địa phương
Cải tạo nâng cao tầm vóc đàn bò vàng Việt Nam đáp ứng nhu cầu đàn cái nền cho lai tạo nhân giống bò sữa, bò thịt; các giống lợn, giống gia cầm đã được cải tiến, nâng cao chất lượng đáng kể trong sản xuất
Tăng cường một bước quan trọng về cơ sở vật chất, kỹ thuật và trình độ năng lực của hệ thống nghiên cứu và nhân giống vật nuôi
Cơ cấu chăn nuôi đang chuyển dịch dần sang hướng trang trại và công nghiệp
Bước đầu hình thành ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi và chế biến sữa đạt trình độ, công nghệ tiên tiến
Năng suất và tăng trưởng ngành chăn nuôi trong những năm qua luôn tăng cao năm sau so với năm trước đáp ứng về cơ bản nhu cầu thực phẩm (thịt, trứng) cho tiêu dùng trong nước
Đối với chính sách khuyến khích chăn nuôi lợn xuất khẩu: Xuất phát điểm của ngành chăn nuôi nước ta nói chung và chăn nuôi lợn nói riêng còn thấp, chúng ta chưa thực sự có được một ngành chăn nuôi lợn mang tính chuyên nghiệp cao, chăn nuôi nhỏ phân tán chiếm tỷ trọng lớn, chăn nuôi trang trại mới được hình thành phần nhiều mang tính tự phát, thiếu quy hoạch; các chính sách chưa đủ mạnh và đồng bộ, nhất là đất đai, tín dụng và thị trường; năng suất chăn nuôi thấp, giá thành cao, quản lý chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm kém
Đối với chính sách phát triển chăn nuôi bò sữa: Đây là một trong những chính sách
có mục tiêu, nội dung và giải pháp rất phù hợp với tình hình phát triển chăn nuôi bò sữa trong nước thời gian qua, do đó đến nay về cơ bản chương trình phát triển chăn nuôi bò sữa đã đạt được các mục tiêu chính theo các mốc thời gian đề ra Tuy vậy, thời gian hiệu lực của chính sách không còn nhiều, một số vấn đề về quy hoạch, xác định
DUT.LRCC
Trang 15vùng, đối tượng chăn nuôi, giải pháp giống và kỹ thuật chăn nuôi bò sữa đã trở nên bất cập cần phải có sự điều chỉnh cho phù hợp trong thời gian tới
Hình 1.1 Chăn nuôi lợn, bò Chính sách khuyến khích đầu tư xây dựng mới, mở rộng cơ sở giết mổ chế biến gia súc, gia cầm và cơ sở chăn nuôi gia cầm tập trung, công nghiệp đã được triển khai đạt kết quả khả quan: hình thành một số mô hình giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm theo phương thức công nghiệp đảm bảo chất lượng và an toàn vệ sinh thực phẩm; góp phần phát triển hệ thống chăn nuôi gia cầm trang trại, khôi phục nhanh đàn gia cầm chăn nuôi theo hướng công nghiệp Tuy nhiên hiệu quả của chính sách này cũng còn hạn chế, do: đối tượng và lĩnh vực đề cập trong chính sách chỉ giới hạn chủ yếu là chăn nuôi gia cầm theo hướng tập trung, công nghiệp; thời gian của các chính sách hỗ trợ đối với các cơ sở giết mổ tập trung công nghiệp là quá ngắn trong khi thói quen tiêu dùng thực phẩm của người dân đối với những sản phẩm qua giết mổ, chế biến công nghiệp chưa có sự thay đổi đáng kể
Hình 1.2 Chăn nuôi trâu, gà Chính sách phát triển giống cây trồng, vật nuôi đã mang lại những kết quả rất tốt về công tác giống vật nuôi, chúng ta đã duy trì được nhiều loại giống gốc vật nuôi có giá trị phục vụ công tác cải tạo và nhân giống phục vụ sản xuất, nhất là thời kỳ chuyển từ nền kinh tế tập trung sang kinh thế thị trường; hệ thống các cơ sở giống vật nuôi cũng nhờ đó mà còn duy trì và phát triển đến ngày nay Triển khai nhiều chương trình về giống đã tăng cường một bước quan trọng để củng cố và từng bước hiện đại hoá hệ
DUT.LRCC
Trang 16thống nghiên cứu, sản xuất giống ở các cơ sở giống trung ương và một số địa phương;
đã chọn tạo và nhập bổ sung một khối lượng giống vật nuôi lớn nhất từ trước tới nay, chưa khi nào trong sản xuất chăn nuôi của Việt Nam có được tập đoàn giống phong phú về chủng loại và cấp loại như hiện nay Tuy vậy, các giống tốt vẫn chưa được phổ biến rộng khắp trong sản xuất: Một trong những nguyên nhân là chăn nuôi nhỏ lẻ còn chiếm tỷ lệ cao, người nông dân không có thông tin để quan tâm đến chất lượng con giống, trong khi mạng lưới các trạm, trại nhân giống và cung ứng giống của các địa phương còn kém phát triển, hiệu quả của công tác quản lý chất lượng giống vật nuôi nói riêng và vật tư chăn nuôi nói chung vẫn còn nhiều bất cập, tồn tại do hệ thống tổ chức và vật lực chưa thực sự tương thích với đòi hỏi của thực tiễn sản xuất ngành chăn nuôi
Hình 1.3 Chăn nuôi dê, thỏ
Quy mô chăn nuôi nhỏ, thiếu bền vững
Hình thức chăn nuôi manh mún, nhỏ lẻ, hầu hết đều được nuôi ở quy mô hộ gia đình, tận dụng thức ăn thừa, không quan tâm tới công tác tiêm phòng hay phòng chống dịch bệnh theo quy trình của cơ quan thú y Đó là bức tranh cơ bản của chăn nuôi Việt nam hiện nay
Theo kết quả khảo sát tại một số địa phương hầu hết các hộ chăn nuôi với quy mô nhỏ lẻ hiện nay đều không chủ động tiêm phòng các loại vaccin theo quy định cho đàn lợn mà chủ yếu dựa vào việc hỗ trợ tiêm phòng của nhà nước, tuy nhiên hiện nay nhà nước chỉ tiến hành tiêm phòng 2 đợt/năm trong khi chu kỳ nuôi một lứa lợn chỉ từ 3,5-
4 tháng Do đó tỷ lệ tiêm phòng không cao, đồng nghĩa với việc dịch bệnh luôn luôn thường trực và khó kiểm soát
Thời gian gần đây, một số địa phương đã mạnh dạn triển khai xây dựng các khu chăn nuôi tập trung nhằm kiểm soát tốt dịch bệnh, đảm bảo tốt vệ sinh môi trường và
an toàn thực phẩm…bước đầu đã mang lại những kết quả đáng khích lệ Ngoài việc hỗ trợ kinh phí, kỹ thuật chăn nuôi cho các chủ trang trại, chính quyền địa phương đầu tư làm đường giao thông, đường điện, hệ thống kênh mương ở khu vực trang trại chuyển
DUT.LRCC
Trang 17Song, để tiến hành xây dựng khu chăn nuôi tập trung, Nhà nước, chính quyền địa phương cũng cần có những quy định và hướng dẫn hết sức cụ thể Nhiều địa phương vẫn còn quan niệm hết sức đơn giản, chăn nuôi tập trung là gom các hộ nuôi nhỏ lẻ vào một khu đồng bãi nào đó Vì vậy, một số khu chăn nuôi tập trung đang biến thành gia trại hoặc khu kinh tế mới Bên cạnh đó, việc quy hoạch khu chăn nuôi tập trung còn nhiều khó khăn Một số địa phương đã có chính sách dồn điền, đổi thửa để dành đất cho chăn nuôi tập trung, nhưng các hộ có đất lại không có khả năng tài chính, không có kinh nghiệm chăn nuôi Ngược lại, các hộ có vốn lại không có đất Hơn nữa, đất đã chuyển đổi vào khu chăn nuôi tập trung, không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không được thế chấp, vay vốn ngân hàng
Bên cạnh đó, ngoài việc quy hoạch đất, cần quy hoạch lại các nhà máy chế biến thức ăn chăn nuôi; nhà máy chế biến, giết mổ gia súc và gia cầm tập trung, công nghiệp; xây dựng các kho, cảng, giúp cho việc vận chuyển, dự trữ nguyên liệu thức ăn
và thức ăn chăn nuôi… sao cho phù hợp nhất
Tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi
Từ năm 2003, chăn nuôi luôn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh, điển hình là dịch bệnh cúm gia cầm và dịch tai xanh ở lợn Dịch cúm trên da cầm đã xảy ra trên nhiều tỉnh thành gây thiệt hại nặng nề trong sản xuất cũng như ảnh hưởng lớn đến thị trường tiêu dùng, giai đoạn 2003-2008 Việt Nam phải chi 236 triệu USD trong việc phòng chống cúm gia cầm Đến nay chúng ta vẫn chưa ngăn chặn và khống chế được dịch bệnh
Đối với dịch tai xanh, từ năm 2007 đến nay dịch bệnh xảy ra trên 38 tỉnh thành, năm nào cũng có dịch bệnh xảy ra, hiện nay chưa có một con số nào thống kê được tổng số ngân sách mà nhà nước phải bỏ ra để hỗ trợ dịch bệnh, nhưng hậu quả của nó thì được thể hiện rất rõ Năm 2007, dịch bệnh đã xảy ra trên 13.355 hộ gia đình (trên
14 tỉnh, thành) với gần 30.000 đầu lợn bị tiêu hủy, đến năm 2008, dịch bệnh đã xảy ra trên 28 tỉnh, thành, số lợn bị tiêu hủy cao gấp 10 lần năm 2007
Cùng với sự phát triển về quy mô, tình hình dịch bệnh trong chăn nuôi xảy ra càng nhiều, lây lan nhanh, khó kiểm soát, mức độ thiệt hại mà dịch bệnh gây ra cho ngành chăn nuôi ngày càng lớn Đó là những thách thức rất lớn mà chúng ta phải đối mặt trong giai đoạn tới
1.1.2 Định hướng phát triển
Phát triển nhanh quy mô đàn lợn ngoại theo hướng trang trại, công nghiệp ở nơi có điều kiện về đất đai, kiểm soát dịch bệnh và môi trường; duy trì ở quy mô nhất định hình thức chăn nuôi lợn lai, lợn đặc sản phù hợp với điều kiện chăn nuôi của nông hộ
DUT.LRCC
Trang 18và của một số vùng Tổng đàn lợn tăng bình quân 2,0% năm, đạt khoảng 33 triệu con, trong đó đàn lợn nuôi trang trại, công nghiệp khoảng 30%
Đổi mới và phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng trang trại, công nghiệp và chăn nuôi chăn thả có kiểm soát Tổng đàn gà tăng bình quân trên 5-6% năm, đạt khoảng 260 triệu con, trong đó đàn gà nuôi công nghiệp chiếm khoảng 30% Không khuyến khích tăng tổng đàn thủy cầm, cần phát triển theo hướng thay đổi cơ cấu giống, cơ cấu chăn nuôi: tăng quy mô chăn nuôi thủy cầm theo hướng công nghiệp chiếm trên 20% và chăn thả có kiểm soát
Tăng đàn bò sữa bình quân trên 11% năm, đạt khoảng 350 ngàn con, trong đó 100% số lượng bò sữa được nuôi thâm canh và bán thâm canh
Tăng đàn bò thịt bình quân 4 % năm, đạt khoảng 10 triệu con, trong đó bò lai đạt khoảng 45%
Ổn định đàn trâu với số lượng khoảng 3,1 triệu con, nuôi tập trung chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc, Bắc Trung Bộ và Tây Nguyên
Các loại vật nuôi khác, tùy theo điều kiện cụ thể của từng nơi và nhu cầu thị trường, các địa phương có những định hướng và chính sách phát triển phù hợp
Phát triển mạnh ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi trên cơ sở mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm
Chuyển một phần diện tích đất nông nghiệp để trồng cỏ thâm canh và các loại cây nguyên liệu thức ăn chăn nuôi bằng các giống năng suất cao, giàu đạm Khuyến khích các trang trại quy mô lớn tự chế biến nguyên liệu trong nước và tận dụng triệt để nguồn phụ phẩm nông, công nghiệp làm thức ăn chăn nuôi theo các công thức đã có
Sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp: tăng bình quân 8%/năm, đạt khoảng
16 triệu tấn
Phát triển hệ thống giết mổ, chế biến có quy mô phù hợp với công nghệ hiện đại, thiết bị tiên tiến và gắn với vùng sản xuất chăn nuôi hàng hóa và đa dạng hoá các mặt hàng thực phẩm chế biến đáp ứng nhu cầu người tiêu dùng
Khuyến khích các cơ sở chế biến nhỏ, thủ công áp dụng quy trình, thiết bị chế biến hợp vệ sinh thú y, an toàn vệ sinh thực phẩm
Củng cố, nâng cao năng lực kiểm soát dịch bệnh của hệ thống thú y từ Trung ương đến địa phương, nhất là hệ thống thú y cơ sở
DUT.LRCC
Trang 191.2 Giới thiệu tổng quan các loại thực vật làm thức ăn chăn nuôi
Thức ăn thô xanh luôn có tầm quan trọng đặc biệt và không thể thay thế đối với gia súc ăn cỏ như trâu, bò, dê, cừu, thỏ, hươu, nai, nhím, … và là thức ăn truyền thống khá hiệu quả đối với chăn nuôi lợn, gà, vịt, ngan, ngỗng Với nhu cầu trung bình 30 kg thức ăn thô xanh mỗi ngày của trâu, bò; 5-7 kg/ngày ở dê, cừu, hươu, nai; 3-5 kg/ngày
ở nhím, thỏ, … cũng là bài toán khá phức tạp đối với chăn nuôi nông hộ khi việc chăn thả tự nhiên ngày càng khó khăn do đất bị thu hẹp và kém hiệu quả bởi chất lượng cỏ
tự nhiên vừa thiếu vừa nghèo dinh dưỡng Khả năng trồng cỏ còn nhiều hạn chế và cỏ vẫn có tính thời vụ nên vào mùa đông, khô hanh cỏ không mọc được thì trâu, bò, … lại
thiếu thức ăn, tăng trọng kém, sụt sữa, chịu rét kém, …
Với thực trạng này, việc kế thừa và phát hiện những nguồn thức ăn thô xanh khác ngoài cỏ là một hướng đi đúng đắn trong giai đoạn hiện nay Các nguồn thức ăn thô xanh ngoài cỏ ở Việt Nam rất phong phú và sẵn có ở mọi vùng, miền trên cả nước Phương pháp chế biến lại đơn giản nên nếu biết thu gom, chế biến và bảo quản hợp lý thì người chăn nuôi sẽ chủ động được nguồn thức ăn rẻ tiền, khắc phục được tính thời vụ và giàu dinh dưỡng, đảm bảo hiệu quả chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi gia
súc ăn cỏ
1.2.1 Thức ăn từ các loại cây xanh
a Giới thiệu
Bao gồm các loại lá xanh, thân lá, ngọn non của các loại cây bụi, cây gỗ được
sử dụng trong chăn nuôi Thức ăn xanh là loại thức ăn chiếm tỷ lệ cao trong khẩu phần
ăn của các loài động vật nhai lại ( trâu, bò, dê, .) Thức ăn xanh rất đa dạng gồm nhiều loại như: rơm rạ, cỏ voi, bã mía, thân cây ngô, bèo, rau muống, rau lang, xơ dừa, thân cây chuối,
(a) (b)
DUT.LRCC
Trang 20(c) (d)
(e) (f)
(g) (h)
Hình 1.4 Các loại thức ăn xanh a/ Rau muống b/ Thân cây lúa c/ Cỏ voi d/ thân cây mía
e/ Thân cây chuối f/ Vỏ quả dừa g/ Bèo tây h/ Cây khoai lang
b Đặc điểm
Thức ăn xanh chứa nhiều nước, nhiều chất xơ
Thức ăn xanh dễ tiêu hóa, ngon miệng
Thức ăn xanh nhiều vitamin nhiều nhất là vitamin A (Caroten), vitamin B đặc biệt là vitamin B2 và vitamin E, vitamin D rất thấp
Hàm lượng dinh dưỡng trong thức ăn xanh thấp
DUT.LRCC
Trang 21 Hàm lượng lipit chứa trong thức ăn xanh là 4% tính theo vật chất khô, chủ yếu
là các axit béo không no Khoáng trong thức ăn xanh thay đổi tùy theo loại thức
ăn, tính chất đất đai, chế độ bón phân và thời gian thu hoạch Nhìn chung thân loài họ đậu có hàm lượng Ca, Mg, Co cao hơn trong các loại thức ăn xanh khác
1.2.2 Thức ăn rễ, củ và quả
a Giới thiệu
Là loại thức ăn được dùng tương đối phổ biến cho gia súc nhất là gia súc cho sữa Thức ăn rễ, củ, quả thường gặp ở nước ta như sắn, khoai lang, các loại bí, là những loại thức ăn ngon miệng thích hợp cho lợn non và bò sữa
Nhược điểm của loại thức ăn này là khó bảo quản sau khi thu hoạch do dễ bị thối hỏng, cần phải làm khô mới để được lâu dài
b Một số loại củ
Khoai mì ( sắn ):
Củ sắn thường được dùng để sản xuất tinh bột chất lượng cao, dù vậy cũng vẫn được sử dụng cho bò, heo và gia cầm dưới dạng khô hoặc tươi Thường dùng nhất là dạng thái lát hoặc khúc phơi khô, khi dùng đem nghiền thành bột Đây là một loại thực liệu khá phổ biến trong thức ăn hỗn hợp, kể cả ở các nước ôn đới phải nhập khẩu Bột sắn thương mại có độ ẩm 12,5-13,5 %, protein 1,8-3,0 %, béo 0,3-0,4 %, xơ 1,5-4,2 % trong đó tinh bột chiếm đến 68 %, khoáng chất 1,3-3,3 %, trong đó canxi 0,07-0,09 %
và photpho 0,05-0,09 %
Các dưỡng chất của khoai mì dễ tiêu hóa Hàm lượng ME biến động từ 18,05 MJ/kg, tương đương với 1-1,4 DVTA
Hình 1.5 Củ khoai mì
Protein khoai mì chứa 3,5% lysin-methemin; 0,6-1,6mg thiamin và 0,8 mg ribolavin, nghèo các axit béo thiết yếu Khoai mì chứa 2 glucosid có gốc – C=N
là linamarin và lotaustralin, chúng dễ bị phân hủy phóng thích ra acid cyan hydrid gây ngộ độc cho gia súc non Những phương pháp xử lý có thể là hấp, bào nạo và vắt hoặc xay nghiền thành bột và sau đó đem ép Chủ yếu được
DUT.LRCC
Trang 22dùng để nuôi gia súc lớn có sừng Trong khẩu phần có thể dùng không quá 10%
để nuôi gia cầm, không quá 40% để nuôi heo và 40-70% tính theo giá trị năng lượng của khẩu phần để nuôi trâu bò Việc cân đối các dưỡng chất khiếm khuyết phải được chú ý
Khoai lang:
Củ khoai lang dễ tiêu hóa và là một thực liệu cung cấp năng lượng rất tốt Củ tươi rất thu hút trâu bò Thức ăn tinh dặm của bò sữa có thể gồm 50% khoai lang xắt lát khô, 20% bắp, 20% mật đường cộng thêm urê tươi có thể thay thế 30-50% tỷ lệ thức
ăn trong các khẩu phần của heo Nấu với lượng lớn nên sử dụng cho heo trưởng thành tốt hơn
Khoai lang khô có giá trị 90% so với bắp khi chúng chiếm đến 60% khẩu phần Chăn thả người ta cho heo nái ăn thêm 0,5 kg thức ăn bổ sung protein hàm lượng cao, nhưng có thể khiến cho heo nái dễ bị mập mỡ Bột khoai lang có thể đưa vào khẩu phần ăn của gia cầm đến 50%, nếu có bổ sung protein thích hợp cho kết quả tốt
Hình 1.6 Củ khoai lang
1.2.3 Thức ăn từ các hạt ngũ cốc và các phụ phẩm
a Hạt ngô
Ngô giống như các loại ngũ cốc khác, ngô chứa nhiều vitamin E, ít vitamin D và B Ngô chứa ít canxi, nhiều photpho nhưng chủ yếu ở dạng kém hấp thu là phytat Ngô có
tỷ lệ tiêu hóa năng lượng cao, giá trị protein thấp, thiếu axit amin
Ngô là loại thức ăn chủ yếu dùng cho gia súc, gia cầm và các loại thức ăn rất giàu năng lượng, 1kg ngô hạt có 3200 - 3300 kcal ME Ngô còn có tính chất ngon miệng đối với lợn tuy nhiên nếu dùng làm thức ăn chính cho lợn thì sẽ khiến cho mỡ lợn trở nên nhão Ngô thường được xem là loại thức ăn năng lượng để so sánh với các loại thức ăn khác
DUT.LRCC
Trang 23Hình 1.7 Hạt ngô
b Hạt gạo
Là loại hạt ngủ cốc chủ yếu của vùng Đông Nam Á Thóc được dùng chủ yếu cho các loại gia súc nhai lại và ngựa; gạo, cám dùng cho người, lợn và gia cầm Vỏ trấu chứa 20% khối lượng của hạt thóc, nó giàu Silic và thành phần chủ yếu là xenluloza
Cám gạo chứa 11 – 13 % protein thô và 10 – 15 % lipit
Hình 1.8 Hạt gạo
c Các phụ phẩm
Cám gạo là sản phẩm phụ của lúa khi xay xát Cám gạo bao gồm một số thành phần như vỏ cám, hạt phôi, gạo, trấu và một ít tấm Cám là nguồn B1 phong phú, ngoài ra còn có cả vitamin B6 và Biotin, 1kg cám có khoảng 22mg B1, 13mg B6 , 0,43
mg Biotin
Hình 1.9 Cám gạo
DUT.LRCC
Trang 24Cám gạo là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng, chứa 11-13 % protein thô, 10-15% lipit thô, 8-9 % chất xơ thô, khoáng tổng số 9-10 % Dầu cám chủ yếu là các axit béo không no nên dễ bị oxy hóa làm cám bị ôi, giảm chất lượng và trở nên đắng khét Nên cần ép hết dầu để cám được bảo quản lâu hơn và thơm hơn
Cám gạo là nguồn thực phẩm rất tốt cho vật nuôi và dùng cám có thể thay thế cho tinh bột trong khẩu phần loài nhai lại và lợn
1.2.4 Thức ăn từ các hạt họ đậu và các loại khô dầu
a Đậu tương và khô dầu đậu tương
Đậu tương là một trong những loại hạt đậu dùng phổ biến đối với vật nuôi Trong đậu tương có khoảng 50 % protein thô trong đó chứa đầy đủ các axit amin cần thiết như lyzin, cystin và 16-21 % lipit, năng lượng chuyển hóa 3350-3400 kcal ME/kg Khô dầu đậu tương là sản phẩm phụ của quá trình chế biến dầu từ đậu tương Là một nguồn protein thực vật có giá trị dinh dưỡng tốt nhất trong các loại khô dầu
Hình 1.10 Hạt đậu nành
Cũng như bột đậu tương khô, dầu đậu tương cũng có hàm lượng protein cao khoảng 42-45 % theo vật chất thô, năng lượng chuyển hóa thấp hơn 2250-2400 kcal ME/kg
b Vừng và khô dầu của lạc vừng
Lạc ít được sử dụng trong chăn nuôi mà thường sử dụng phụ phẩm của ngành chế biến dầu từ lạc
DUT.LRCC
Trang 25Hình 1.11 Hạt đậu phộng
Hình 1.12 Hạt mè Hình 1.13 Khô dầu Khô dầu của lạc và vừng: Trong khô dầu của lạc có khoảng 30-38 % protein thô, axit amin không cân đối, thiếu lyzin, cystin, methionin Ngoài ra khô dầu lạc rất ít vitamin B12 vì vậy khi dùng protein khô dầu lạc đối với lợn và gia cầm cần bổ sung các loại thức ăn giàu vitamin B12
1.3 Các phương pháp chế biến thực vật làm thức ăn chăn nuôi
Tự sản xuất thức ăn chăn nuôi không phải là điều mới mẻ nhưng trong điều kiện thực tế hiện nay, việc người dân tự sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn gặp phải rất nhiều khó khăn Vì phụ thuộc hoàn toàn vào các loại thức ăn chăn nuôi nên những năm gần đây, giá cám liên tục tăng, người chăn nuôi gặp khó, sản xuất chăn nuôi liên tục lỗ Rất nhiều gia đình muốn tự sản xuất thức ăn chăn nuôi để có thể chủ động được lượng cám cho trang trại mình, không còn phải phụ thuộc vào các công ty cám trên thị trường Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, vẫn còn một số khó khăn nhất định như: việc thu mua và bảo quản nguyên liệu, đầu tư máy móc trang thiết bị để sản xuất cám, đầu
tư thời gian công sức để làm cám Vì vậy, mặc dù rất nhiều gia đình chăn nuôi muốn
tự sản xuất, chế biến thức ăn nhưng vẫn chưa thể thực hiện được ý định này
Có thể nói, tự sản xuất, chế biến thức ăn chăn nuôi từ nguồn nguyên liệu sẵn có tại các địa phương đang được cho là một hướng đi hiệu quả giúp cho người nông dân
có thể duy trì và phát triển ngành chăn nuôi của tỉnh nhà trong điều kiện chăn nuôi còn gặp rất nhiều khó khăn như hiện nay
DUT.LRCC
Trang 261.3.1 Phương pháp bảo quản thức ăn xanh
Đặc điểm:
Khi ủ xanh, chất dinh dưỡng ít tổn thất so vói phương pháp dự trữ khác Ví dụ : Phơi khô giảm 30%, thời tiết xấu có thể giảm tới 50%, còn ủ xanh đúng kỹ thuật chỉ giảm 10%
Thức ăn xanh có lý lệ tiêu hoá cao do quá trình lên men làm mềm thức ăn, mùi
vị thơm ngon, hơi chua kích thích tiêu hoá
Thức ăn ủ xanh có thể dự trữ 6 tháng đến 1 năm mà ít tổn thất
Tận dụng rộng rãi nguyên liệu, có thể diệt trừ nấm, sâu bệnh
Thiết bị đơn giản, dễ làm, dung tích nhỏ hơn nhà chứa thức ăn xanh phơi khô
Nguyên lý ủ xanh:
Dựa vào sự lên men của vi khuẩn lactic trong tự nhiên để sản sinh ra axit lactic có tác dụng ngăn ngừa sự phân huỷ của các tế bào thực vật và ức chế hoạt động của các loại vi khuẩn gây thối khác Chính axit lactic là thuốc bảo tồn thức ăn giúp cho thức ăn xanh được bảo quản trong thời gian dài mà không bị hư hỏng
b Thức ăn xanh lên men
Là phương pháp chế biến thức ăn xanh trong chăn nuôi có hiệu quả cao, nhất là chăn nuôi lợn Thức ăn xanh lên men có một số đặc điểm sau:
Lên men thức ăn xanh là phương pháp chế biến đơn giản, dễ làm, không phụ thuộc vào thiên nhiên
Thức ăn xanh lên men có mùi vị thơm ngon nên có thể kích thích tính thèm ăn của vật nuôi, kích thích tiết dịch tiêu hoá, làm tăng tỷ lệ tiêu hoá của thức ăn
Thức ăn xanh lên men giữ được nhiều chất dinh dưỡng, không bị tổn thất (nhất
DUT.LRCC
Trang 27 Làm lên men thức ăn xanh tiết kiệm được công chế biến và chi phí đun nấu nên
hạ giá thành sản phẩm chăn nuôi
Hình 1.15 Thức ăn xanh lên men
Nguyên lý : Giống như nguyên lý ủ xanh thức ăn, tức là tạo điều kiện yếm khí
và lượng bột đường để vi khuẩn lactic hoạt động sản sinh ra axit lactic làm cho thức ăn có mùi vị thơm ngon hơn Chỉ khác là điều kiện yếm khí không nghiêm ngặt như ủ xanh và thường thêm muối vào để hạn chế vi khuẩn gây thối hoạt động Thời gian ủ ngắn (vài ngày) là có tác dụng chế biến thức ăn
c Thức ăn xanh phơi khô
Là phương pháp dự trữ sau khi thu hoạch bằng cách đem phơi khô nhằm dự trữ cho mùa đông và giáp hạt; chủ yếu dùng cho trâu, bò, ngựa
Hình 1.16 Thức ăn xanh phơi khô Các loại cỏ xanh thiên nhiên là cỏ trồng đều có thể phơi khô được
Sự thay đổi sinh vật học trong quá trình phơi khô:
Sự thay đổi trong quá trình trao đổi: Sau khi mới thu hoạch thức ăn xanh, tế bào thực vật chưa chết ngay mà quá trình hô hấp và bốc hơi nước vẫn được tiếp tục tiến hành cho đến khi hàm lượng nước giảm xuống 40-50% thì mới ngừng Trong quá trình này, dị hoá lớn hơn đồng hoá: quá trình hô hấp đã làm cho chất đường bị phân giải
DUT.LRCC
Trang 28 Đồng thời, protit cũng bị phân giải thành các axit amin và nếu kéo dài axit amin
sẽ sinh ra NH3 Quá trình hô hấp càng dài thì tổn thất dinh dưỡng càng lớn Hô hấp càng nhanh bị ngừng lại thì tế bào thực vật càng chóng chết Tế bào thực vật sống được là nhờ nước, vì vậy ban đầu phải phơi nhanh để nước bốc hơi nhanh làm hô hấp ngừng khi nước còn 40%
Sự thay đổi trong giai đoạn phân giải của thành phần thực vật Trong giai đoạn này, tế bào thực vật đã chết, có 4 quá trình xảy ra :
Nước tiếp tục bốc hơi cho đến khi hàm lượng nước còn 14-17%
Sự thay đổi quang hoá học do quang chiếu đã phá huỷ chất diệp lục và caroten
Sự hoạt động phân giải của men oxydaza thực vật phân giải caroten, chất dinh dưỡng protit và bột đường
Sự hoạt động phân giải chất dinh dưỡng của vi sinh vật: Khi hàm lượng nước còn 14-17 % thì quá trình phân giải vi sinh vật và của men sinh học sẽ ngừng lại Tác dụng quang chiếu chỉ ngừng khi không phoi nữa Vì vậy, để tránh tổn thất phải phơi cho nước bốc hơi nhanh và tránh nắng chiếu trực tiếp, thời gian phơi càng ngắn càng ít tổn thất Phải đảo liên tục hoặc phơi trên sàn, giá thoáng gió, phơi mỏng, rải đều cỏ và lật cỏ thường xuyên mỗi giờ một lần Cỏ phơi tốt phải có màu xanh hoặc vàng xanh, mùi thơm mát, hàm lượng nước <15% Dự trữ bằng phơi khô có nhược điểm chiếm nhiều diện tích nhà chứa cỏ
1.3.2 Phương pháp bảo quản thức ăn củ, quả
DUT.LRCC
Trang 29Hình 1.17 Sắn, khoai lang phơi khô
Vì vậy muốn bảo quản tốt càn tạo những diều kiện sau :
Củ không được sây sát + Khi thu hoạch không bị ngập
nước + Nhiệt độ bảo quản thấp (13- 16°C)
Độ ẩm không khí < 70%
Để nơi tối, hạn chế ánh sáng và phải khô ráo
Phương pháp bảo quản:
Xếp khoai, bí đỏ, trên giá hoặc để nguyên cả dây củ buộc thành túm treo lên gác bếp, tránh chất đống Với sắn, cách bảo quản tốt nhất là thái lát, phơi khô Trước khi phơi hoặc sấy khô cần ngâm nước 1 ngày, khi ngâm cần thay nước 2-3 lần, phơi vào ngày nắng
b Phương pháp chế biến
Sắn, khoai lang thái lát mỏng, phơi khô nghiền thành bột trộn với các loại cám bột khoai lang khô tỷ lệ tiêu hoá là 90-100% 100 kg tươi phơi khô được 34-37 kg khô Có thể luộc chín rồi ủ men rượu để lên men có tác dụng tăng lượng protit và vitamin, đồng thời tạo mùi thơm ngon, kích thích tiêu hoá
Hình 1.18 Bột sắn, bột khoai lang
DUT.LRCC
Trang 30Sắn có thể sát thành bội sau đó phơi khô làm bột lọc, bã phơi khô hoặc nấu chín ủ men rượu cho gia súc ăn
1.3.3 Phương pháp chế biến và dự trữ thức ăn từ các loại hạt
a Phương pháp dự trữ
Chủ yếu là phơi khô, quạt sạch đảm bảo lượng nước còn 14-16 % để nơi khô ráo, thoáng gió, cao ráo, chống mối mọt và chuột phá hoại Khi thu hoạch về phơi càng nhanh càng ít bị hao tổn chất dinh dưỡng
Hình 1.19 Ngô và các loại hạt đậu phơi khô
Thành phần hoá học của nấm men :
Protit: 44-54 % , trong đó có đủ các axit amin không thay thế Gluxit: 23-35 %
Lipit: 1,5-5 % Khoáng: 6-12 % Các loại vitamin nhóm B, D, E
1 kg nấm men nuôi dưỡng trong điều kiện tốt sau 24 giờ có thể tạo được lượng sinh khối đạt 512 kg Trong đó chứa 129 kg protit Hoặc muốn có 1 tấn protit, chúng ta phải trồng 4 ha đậu đỗ trong 3-6 tháng hoặc nuôi 40 con bò thịt trong vòng 18 tháng nhưng chỉ cần một nồi men dung tích 300 m trong 24 giờ đã cho 1 tấn protit
DUT.LRCC
Trang 31Hình 1.20 Bột đậu lên men
Phương pháp chế biến:
Các loại thức ăn hoà thảo nghiền nhỏ trộn với men rượu hoặc men vi sinh và nước
đủ ẩm rồi ủ 2-3 ngày: Lấy ra cho gia súc ăn có tác dụng tăng mùi vị thơm ngon Tăng giá trị dinh dưỡng, kích thích tiêu hoá làm tăng tỷ lệ tiêu hoá và tỷ lệ dinh dưỡng của khẩu phần
Đường hoá
Nguyên lý:
Làm cho tinh bột chuyển hoá thành đường dễ tan, dễ tiêu hoá hơn Quá trình này đòi hỏi một nhiệt độ thích hợp để men vi sinh học có sẵn trong men có thể hoạt động mạnh Bình thường, đường dễ tan trong thức ăn hạt chỉ có 0,5-2 % Sau khi đường hoá, đường dễ tan tăng lên tới 8- 12 % là thức ăn phù hợp cho gia súc non như lợn con,
bê con, gia súc vỗ béo
Phương pháp chế biến:
Cho thức ăn hạt đã nghiền nhỏ vào thùng gỗ, cho nước nóng 80-100 °C theo tỷ lệ:
l kg thức ăn hạt cho 2-2,5 lít nước nóng, khuấy đều, ủ và giữ cho nhiệt độ từ 55-60 °C
Để quá trình thuỷ phân nhanh hơn, người ta cho thêm 4-5 % bột mầm thóc mạch nha Sau khi ủ 5-6 giờ lấy ra cho gia súc ăn
Thức ăn hạt họ Đậu : Chủ yếu là rang chín, nghiền bột, trộn vào thức ăn nhằm bổ sung dinh dưỡng, nhất là protit
Hạt có dầu : Thường rang chín, ép dầu, chỉ sử dụng khô dầu cho chăn nuôi
DUT.LRCC
Trang 32Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BĂM NGHIỀN
2.1 Các phương pháp băm-nghiền
2.1.1 Các phương pháp băm trong nông nghiệp
Các phương pháp băm trong nông nghiệp hiện nay có hai loại chính sau:
Phương pháp chặt bổ:
Đây là loại cắt thái mà lưỡi dao tác động vào vật thái theo phương vuông góc, cạnh sắc của lưỡi dao đi vào và chia vật thái ra làm các phần khác nhau Trong sản xuất nông nghiệp nguyên liệu thường là mềm tính đàn hồi không cao nên thường áp dụng phương thức này Phương pháp này áp dụng nhiều cho nhiều loại nông sản như cắt thái cỏ, rơm, các loại củ quả, … Với phương pháp này quan trọng là thiết kế cho lưỡi dao và tấm kê
Lưỡi dao: thường là bản mỏng, mài một cạnh được gắn trên đĩa dao hoặc trống dao khi chuyển động sẽ tịnh tiến theo phương vuông góc với cạnh lưỡi dao Hiện nay với nhiều loại máy thái băm như máy thái rau, cỏ, rơm… thì máy hoạt động theo nguyên lý chặt bổ trực tiếp tạo ra các khúc có kích
cỡ khác nhau Cũng với các máy thái củ quả thì hoạt động theo nguyên lý bào gỗ lưỡi dao tiếp xúc và cắt đi một phần của củ quả tạo thành lát, miếng mỏng
Tấm kê: Với phương pháp chặt bổ thì tấm kê là một bộ phận rất quan trọng nó ảnh hưởng lớn đến quá trình cắt và chất lượng sản phẩm, tấm kê là nơi vật thái được cố định định vị để cắt, tấm kê cần có độ chính xác cao khoảng cách với lưỡi dao hợp lý với từng vật thái thì quá trình thái mới
dễ dàng sản phẩm mới đạt yêu cầu Với nguyên liệu là rau cỏ thì khoảng cách hợp lý là 0,5 mm với củ quả là 1 đến 3 mm
Phương pháp cắt trượt:
Là phương pháp mà khi cắt lưỡi dao trượt trên vật thái một góc trượt ξ, phương pháp này lưỡi dao sẽ di chuyển một khoảng nhiều hơn so với phương pháp chặt bổ Tuy nhiên với phương pháp cắt này lại giảm đáng kể công cắt thái và chi phí cho năng lượng cắt thái rất có lợi cho quá trình cắt
Loại này dùng phổ biến trong cả cắt thái thủ công và cơ giới, mang lại hiệu quả lớn trong công tác cắt thái Đặc biệt với nguyên liệu là nông sản có cấu trúc sợi nên khi cắt cần phải có sự trượt để quá trình cắt dễ dàng hơn
DUT.LRCC
Trang 332.1.2 Các phương pháp nghiền trong nông nghiệp
Quá trình làm nhỏ nguyên liệu là quá trình gia công cơ học nhằm phá vỡ kết cấu nguyên liệu, chuyển chúng sang dạng nhỏ hơn Quá trình này được thực hiện bằng các phương pháp: nghiền, cắt, thái, chà…Khi chọn phương pháp thực hiện phải chú ý đến yêu cầu của dạng nguyên liệu cần làm nhỏ và trạng thái vật lý, cũng như trạng thái cơ học của nguyên liệu
Trong ngành nông nghiệp, để sản xuất các loại bột ngũ cốc, thức ăn chăn nuôi, người ta thường tiến hành quá trình nghiền nhỏ các nguồn nguyên liệu lớn hơn
Khi chọn phương pháp nghiền phải căn cứ vào các yếu tố sau:
Cơ tính của vật liệu đem nghiền
Kích thước của vật liệu trước khi nghiền
Mức độ đập nghiền
Trong sản xuất thức ăn chăn nuôi để nghiền các loại hạt người ta thường dùng các máy nghiền trục, máy nghiền búa, máy nghiền răng Trong đó thông dụng nhất là máy nghiền búa
Quá trình nghiền nhỏ vật liệu trong máy nghiền búa là do sự va đập của các búa vào vật liệu, sự chà sát của vật liệu với búa và với thành trong của máy Các hạt vật liệu nhỏ lọt qua lưới phân loại được quạt thổi ra ngoài
Đặc điểm riêng của máy nghiền búa:
Khe hở giữa đầu búa khi quay với mặt lưới sàng càng nhỏ thì kích cỡ sản phẩm càng nhỏ Khoảng cách khe hở này phụ thuộc vào yêu cầu mức độ nghiền của mỗi loại búa, vào trình độ chế tạo máy và lưới sàn
Năng lượng tiêu hao riêng đối với một tấn sản phẩm sẽ tăng khi khe hở giữa đầu búa và lưới sàng càng lớn
Năng suất của máy giảm đi khi khe hở trên tăng lên vì khả năng chà xát vật liệu kém đi
Lưới sàng của máy nghiền búa thường làm bằng thép tấm dày 1.5-2 mm được dập thành lưới sàng dạng lỗ tròn hoặc dạng rãnh Kích thước lỗ và rãnh phụ thuộc vào mức độ nghiền yêu cầu và loại máy nghiền Đa số lưới sàng có mặt nhẵn lỗ hình tròn hoặc lỗ côn Vì lưới sàng chịu ma sát lớn, mòn nhanh cần phải thay thế khi bị rách, do vậy sàng phải được lắp và tháo dễ dàng
DUT.LRCC
Trang 34Hình 2.1 Các dạng lưới sàng a/ Sàng lỗ tròn nhẵn c/ Sàng lỗ elip nhám
Cách xếp búa trên chốt treo và trên rôto phải đảm bảo các búa quét đều khắp trong không gian buồng nghiền đồng thời phải đảm bảo điều kiện cân bằng động của roto Số búa trên mỗi chốt treo thường xếp bằng nhau và có thể bố trí trên rôto theo đường xoắn ốc hoặc xếp thành hàng búa
Hình 2.2 Các kiểu búa nghiền
a/ Búa chữ nhật một lỗ treo búa c, d, e/ Búa tạo bậc
b/ Búa chữ nhật hai lỗ treo búa f/ Búa đầu đập xoay
DUT.LRCC
Trang 352.2 Một số loại máy đã được chế tạo hiện nay
Hiện nay máy băm nghiền được ứng dụng rất rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như: máy băm trong chăn nuôi (máy thái bèo, thái rau, thái cỏ, ), máy thái trong chế biến thực phẩm (máy thái hành, thái củ quả, máy thái thịt, …), máy thái trong nông nghiệp Nói chung các máy thái có chức năng chính là thái vật thành các phần nhỏ ở dạng lát mỏng hoặc từng khúc tuỳ theo yêu cầu của công việc Các máy băm nghiền này hiện nay chủ yếu là dùng trong gia đình, kết cấu gọn nhẹ, và một số máy chuyên dụng chỉ dùng cho những công việc hay những sản phẩm đặc trưng Hiện nay máy băm nghiền rất đa dạng về cấu tạo và công nghệ Từ những máy thái có thể thiết kế đơn giản sử dụng bằng thủ công hay bán tự động cho đến những máy thái
sử dụng các yếu tố công nghệ cao như tích hợp điện tử, tự động hoá, … Từ những máy thái chuyên dùng đến những máy đa năng năng suất và chất lượng không ngừng tăng
Dưới đây là hình ảnh và một vài thông số về một số máy thái đang đượcsử dụng phổ biến hiện nay
Hình 2.3 Máy thái bèo
1/ Phểu cấp liệu 3/ Máng tháo liệu 5/Động cơ điện
2/ Buồng cắt thái 4/ Chân máy 6/ Công tấc
DUT.LRCC
Trang 36Máy thái bèo theo nguyên lý “dao cầu” 3 lưỡi dao lắp thứ tự trên trục dao và đựơc lắp trên trục của động cơ, khi quay bèo được bỏ vào và sẽ được thái thành các mảnh vụn và rơi xuống dưới Với loại máy này có thể thái nhiều loại nông sản như thái bèo, rau, cỏ, …Năng suất 4 đến 5 tạ/h Đáp ứng được nhiều yêu cầu trong chế biến thức ăn chăn nuôi của người nông dân
Hình 2.4 Máy thái đa năng của ông Phạm Quốc Hoan ( Diễn Châu - Nghệ an )
1/ Phểu cấp liệu 3/ Động cơ điện
2/ Buồng cắt thái 4/ Chân máy
Kết cấu máy thái đa năng rất đơn giản, chỉ cần một chiếc môtơ điện, 3 lưỡi daogắn lại theo hình cánh quạt và được gắn trực tiếp với trục động cơ Có thể thái nhiều loại nông sản trong chăn nuôi như thân chuối, cỏ, … Năng suất của máy khoảng 2 tạ /h rất phù hợp với hộ chăn nuôi gia đình
Hình 2 5 Máy thái cỏ cải tiến
DUT.LRCC
Trang 37Quá trình cắt là do hai lưỡi dao cong lắp trên đĩa dao Chiều dài của cỏ sau khi cắt có thể thay đổi nhờ điều chỉnh khoảng cách giữa đĩa dao và lưỡi dao Đĩa dao gắn cánh quạt khi quay tạo luồng gió thổi cỏ đã được cắt ra cửa thoát Máy sử dụng động cơ 4 kì, năng suất khoảng 1,5 tấn/giờ
Hình 2.6 Máy thái lát, sợi củ quả KS-1500
1/ Phểu cấp liệu 3/ Buồng cắt thái 5/ Chân máy 2/ Cửa tháo liệu 4/ Bộ phận truyền động
Máy có khả năng cắt củ quả thành 2 dạng lát mỏng và sợi Máy sử dụng đĩa dao quay 3 lưỡi, lưỡi dao gồm có 2 loại sử dụng cho từng yêu cầu của quá trình thái (dao thái lát và dao thái sợi) Động cơ sử dụng là động cơ điện 370 kW Ngoài ra máy cũng có bộ phận ép củ quả vào đĩa dao để quá trình cắt củ quả không bị văng trượt Máy có kết cấu gọn nhẹ nặng chỉ khoảng 40 kg, năng suất 120 kg/h Máy thái này thường sử dụng trong chế biến củ quả làm thực phẩm và có thể sử dụng cho công tác chế biến thức ăn chăn nuôi và các nhà máy chế biến thực phẩm
Hình 2.7 Máy thái lát khoai tây EC-502
1/ Phểu cấp liệu 2/ Buồng cắt thái 3/ Chân máy 4/ Cửa tháo liệu 5/ Bộ phận truyền động
DUT.LRCC
Trang 38Hình 2.8 Máy băm nghiền đa năng 1/ Phểu cấp liệu khâu băm 4/ Cửa tháo liệu 2/ Phểu cấp liệu khâu nghiền 5/ Chân máy 3/ Buồng cắt thái 6/ Động cơ điện Công suất động cơ: 3 kw -1450 v/p
Tính năng:
Nghiền ngô khoai sắn cho gia súc gia cầm ăn
Băm cỏ, cây ngô, cây sắn, cây chuối cho vật nuôi
Hình 2.9 Máy nghiền 14 kiểu buồng thẳng 1/ Phểu cấp liệu 3/ Cửa tháo liệu
DUT.LRCC