Việcthống kê, phân loại cho đầy đủ các dạng lỗi viết câu của học sinh, sau đó đềxuất cách chữa cho phù hợp cho mỗi loại lỗi là một việc đòi hỏi rất nhiềuthhời gian và công sức.. Từ việc
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC
========***========
BÀI TẬP NGHIÊN CỨU NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM
Tên đề tài:
TÌM HIỂU LỐI VIẾT CÂU CỦA HỌC SINH LỚP 4
ĐỀ XUẤT CÁCH CHỮA MỘT SỐ LỖI VIẾT CÂU
Giảng viên khoa GD tiểu học Người thực hiện : Trần Thị Thanh Hòa
Hà Nội năm 2008
Trang 2M C L CỤC LỤC ỤC LỤC
Phần mở đầu 1
I Lý do chọn đề tài 4
II Mục đích yêu cầu 5
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
IV Phương pháp nghiên cứu 6
Phần Nội dung Error! Bookmark not defined Chương 1: Một số vấn đề về câu 7
I Các định nghĩa về câu 7
II Vấn đề phân loại câu dựa vào cấu tạo 9
III vấn đề câu trong hoạt động giao tiếp 9
Chương II: Tìm hiểu lỗi viết câu của học sinh lớp 4 13
A Một số vấn đề về câu sai và nguyên tắc chữa câu sai 13
I Câu sai - câu mơ hồ 13
II Nguyên tắc chữa câu sai 14
III Các bước phát hiện, phân tích và chữa sai câu 15
B Đề xuất một số dạng câu sai, giúp học sinh nhận biết và sửa câu sai.16 I Lỗi trong câu 16
1 Lỗi về cấu tạo ngữ pháp 16
2 Lỗi về nghĩa 21
3 Lỗi về dấu câu 25
II Lỗi ngoài câu 26
1 Lỗi câu lạc chủ đề 27
Trang 32 Lỗi câu mâu thuẫn với nhau về ý với câu hữu quan 27
3 Lỗi dùng phương tiện liên kết sai 28
4 Lỗi câu trùng lặp về ý (từ) với câu hữu quan 28
Kết quả 29
Phiếu bài tập 31
Đáp án 32
Kết luận 34
Trang 4Phần mở đầu
I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
1 Mục tiêu giáo dục của nhà trường Việt Nam.
Là đào tạo những con người vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa giỏi
về chuyên môn Chính vì vậy mà việc dạy và học là vấn đề vô cùng quantrọng của nền giáo dục nước ta Trong các môn học, môn Tiếng Việt là mộtmôn học bắt buộc chiếm dung lượng thời gian khá lớn trong chương trìnhdạy học ở nhà trường Phổ Thông Bởi Tiếng Việt là phương tiện giao tiếpchính thức của nước ta trong các lĩnh vực hoạt động giao tiếp về chính trị,kinh tế, khoa học Trường Phổ thông là nơi đầu tiên đào tạo giáo dụcnhững công dân của nước Việt Nam mới nên có vai trò to lớn trong việcgiữ gìn và phát huy tiếng nói dân tộc Vì vậy, trong nhà trường Phổ thông,môn Tiếng Việt đảm nhận một nhiệm vụ quan trọng trong việc rèn luyện vàphát triển ngôn ngữ cũng như năng lực tư duy cho học sinh Người làmcông tác giảng dạy bộ môn này có nhiệm vụ giúp học sinh dần có ý thức,
có trình độ, có kỹ năng nói và viết đúng hướng, hướng tới nói và viết hayTiếng Việt
2 Trong ba cấp phổ thông, cấp tiểu học là cấp học mang tính chấtnền tảng Môn Tiếng Việt dạy ở cấp này nhằm mục tiêu bước đầu dạy chohọc sinh những tri thức sơ giản cần thiết và trên cơ sở đó rèn luyện kỹ năngngôn ngữ: Nghe, nói, đọc, viết nhằm giúp học sinh sử dụng Tiếng Việt cóhiệu quả trong giao tiếp và suy nghĩ Dạy học Tiếng Việt còn nhằm pháttriển các năng lực trí tuệ và các năng lực hoạt động của học sinh, giúp các
em cảm nhận được cái hay, cái đẹp của ngôn từ Tiếng Việt và phần nàocuộc sống xung quanh Từ đó, các em vận dụng kiến thức tạo lập văn bản
Để viết được một bài văn, học sinh phải sử dụng năng lực ngôn ngữ vànăng lực tư duy của mình Năng lực đó có thể hiện trước hết ở việc các em
Trang 5diễn đạt suy nghĩ của mình bằng các câu, hay liên kết các câu đó để bày tỏnhững điều mà mình suy nghĩ.
3 Về sách giáo khoa, chúng tôi nhận thấy các cách hiểu về câu đượcđưa ra ở cấp lớp tiểu học tuy đã nói được một số điểm cơ bản của câunhưng vẫn chưa làm cho học sinh hiểu được đầy đủ những tiêu chuẩn cần
có của một câu Hơn nữa, sách giáo khoa chỉ hướng tới việc rèn luyện kỹnăng viết câu cho học sinh tiểu học bằng một con đường là tạo những cáiđúng mà chưa chú ý tới việc hướng dẫn các em phát hiện và sửa lỗi trongcâu Vì vậy, việc dạy câu cho học sinh tiểu học chưa đạt kết quả như mongmuối Số học sinh viết các câu sai còn rất nhiều
Từ thực tiễn của việc dạy và học Tiếng Việt ở bậc tiểu học, từ mụctiêu của việc dạy đối với cấp học này, là một giáo viên trực tiếp giảng dạy,tôi đã có những suy nghĩ trăn trở làm sao để khắc phục tình trạng mắc lỗicâu trong bài làm của học sinh tiểu học, đặc biệt là học sinh lớp 2, 3 Vì
vậy tôi mạnh dạn thực hiện đề tài: “Tìm hiểu lỗi viết câu của học sinh lớp
2, 3 - Đề xuất cách chữa một số lỗi viết câu” Với đề tài này, tôi mong
muốn góp một phần nhỏ bé của mình cùng giáo viên và học sinh khắc phụclỗi viết câu sai, từ đó giúp học sinh rèn được năng lực viết câu văn đúng vàtiến tới viết hay
II MỤC ĐÍCH YÊU CẦU
1 Thực hiện đề tài này là một việc làm không đơn giản bởi thực tếviết câu của học sinh tiểu học là một hiện tượng vô cùng đa dạng Việcthống kê, phân loại cho đầy đủ các dạng lỗi viết câu của học sinh, sau đó đềxuất cách chữa cho phù hợp cho mỗi loại lỗi là một việc đòi hỏi rất nhiềuthhời gian và công sức Do đó, mục đích nghiên cứu trước tiên của tôi chỉ
là nêu lên một số ý kiến chủ quan của mình để bạn bè đồng nghiệp thamkhảo, đóng góp ý kiến từ đó hoàn thiện hơn về phương pháp giảng dạy chobản thân
Trang 62 Từ việc chỉ ra những dạng câu sai và cách sửa chữa phổ biến đốivới từng loại lỗi, đề tài sẽ góp phần nhỏ bé giúp cho giáo viên trong quátrình giảng dạy và chấm chữa bài, có cách nhìn khoa học về các lỗi và gợi ýcho học sinh chữa lỗi dễ dàng hơn, từ đó rèn luyện năng lực cho các emviết câu đúng, tiến tới câu hay.
III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU.
1 Đối tượng nghiên cứu.
Học sinh lớp 4 trường Tiểu học Kim Liên - quận Đống Đa - Thànhphố Hà Nội
2 Phạm vi nghiên cứu.
Chương trình sách giáo khoa lớp 4 mới môn Tiếng Việt
IV PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.
Để thực hiện đề tài này, tôi đã tiến hành các phương pháp sau:
1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.
Để nhận biết, phân loại được các câu sai trong những bài làm củahọc sinh, tôi nghĩ phải dựa trên cơ sở lý thuyết Vì thế tôi đã phải tìm tòi,tham khảo rất nhiều tài liệu về câu và các loại lỗi câu Từ các nghiên cứu
về câu của các tác giả để định ra căn cứ xác định câu sai , câu đúng và lấycâu đúng để làm đích chữa câu sai
2 Phương pháp khảo sát thực tế.
Phương pháp này được sử dụng trong quá trình tìm hiểu các câu saitrong bài làm của học sinh tiểu học Tôi đã tiến hành khảo sát từng bài củahọc sinh, từ đó tìm ra các câu sai để phân loại Đồng thời cũng tham khảo ýkiến trực tiếp của một số đồng nghiệp có kinh nghiệm về vấn đề lỗi của câu
- cách chữa
3 Phương pháp thực nghiệm.
Trang 7Phương pháp này để kiểm tra khả năng thực thi của các biện pháptrên Cụ thể là phát bài kiểm tra cho học sinh làm trước và sau khi giảng lýthuyết Sau khi đánh giá, cho điểm thống kê lại tôi sẽ có đầy đủ cứ liệu đểnhận xét về hiệu quả của biện pháp sửa lỗi theo đề xuất trên.
Phần nội dungCHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÂU
I CÁC ĐỊNH NGHĨA VỀ CÂU.
Từ trước đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về câu Điều đó chochúng ta thấy, câu là một trong những đối tượng được ngữ pháp học đặcbiệt quan tâm Trong số những định nghĩa đã được công bố, có thể kể đếnnhững cách định nghĩa cơ bản sau:
1 Định nghĩa học phái ngữ pháp Alexandra (khoảng thế kỷ 2 - 3trước Công nguyên): Câu là sự tổng hợp của các từ biểu thị một tư tưởngtrọn vẹn (Dẫn theo Diệp Quang Ban - Ngữ pháp Tiếng Việt - Nhà xuất bảnGiáo dục 1998)
Định nghĩa này đơn giản, dễ hiểu và khá hoàn chỉnh Nó đã gián tiếpnêu lên các yếu tố cần thiết cho việc xác định câu Đó là mặt hình thức cấutạo, mặt nội dung và chức năng của câu
2 Định nghĩa của L.B Lumphin (Nhà ngôn ngữ học Mỹ) cho rằng:Mỗi câu là một hình thái ngôn ngữ độc lập, không bị bao hàm vào bất cứmột hình thái ngôn ngữ phức tạp hơn bởi một kiến trúc ngữ pháp này haymột kiến trúc ngữ pháp nọ
Ở đây tác giả không hề chú ý về nội dung và chức năng của câu màchỉ chú ý tới dấu hiệu hình thức Tác giả chỉ xét câu riêng lẻ, độc lập màkhông hề đặt câu trong văn bản,
Trang 83 Định nghĩa của V.V Vinogradov - 1954: Câu là đơn vị hoàn chỉnhcủa lời nói được hình thành về mặt ngữ pháp theo các quy luật của ngônngữ nhất định, làm công cụ quan trọng nhất để tạo câu biểu hiện và truyềnđạt tư tưởng Trong câu không chỉ có sự truyền đạt về hiện thực mà còn có
cả mối quan hệ của người nói với hiện thực
4 Định nghĩa của Diệp Quang Ban Ngữ pháp Tiếng Việt tập II Nhà xuất bản Giáo dục 1997: Câu là đơn vị nghiên cứu ngôn ngữ có cấutạo ngữ pháp độc lập và có ngữ điệu kết thúc, mang ý nghĩa tương đối trọnvẹn hay thấy rõ sự đánh giá của người nói, giúp hình thành và biểu hiệntruyền đạt tư tưởng tình cảm Câu đồng thời là đơn vị thông báo nhỏ nhấtcủa ngôn ngữ
-Định nghĩa này đã bao hàm đầy đủ cả dấu hiệu hình thức, đặc điểmnội dung và đặc điểm chức năng của câu Với định nghĩa này, chúng tathấy câu có thể xem xét qua hai mặt: Một mặt câu do các đơn vị và các kếtcấu ngữ pháp tạo thành thuộc hệ thống kết cấu của ngôn ngữ Mặt khác,câu thực hiện chức năng giao tiếp của ngôn ngữ
5 Định nghĩa của Nguyễn Tài Cẩn - Ngữ pháp Tiếng Việt - Nhà xuấtbản Khoa học Xã hội 1975: Câu là đơn vị ngôn ngữ nhỏ nhất mang mộtthông báo tương đối hoàn chỉnh
Định nghĩa này có ưu điểm ngắn gọn, lại nêu được đầy đủ nhữngquan điểm cơ bản của câu: Nhỏ nhất và mang một thông báo tương đốihoàn chỉnh
6 Dịnh nghĩa về câu (Sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 4 chương trình
165 tuần): Câu do từ hoặc ngữ tạo thành và diễn đạt được một ý trọn vẹn
Định nghĩa này đơn giản dễ hiểu đối với học sinh nhưng theo tôiđịnh nghĩa này lại chưa nêu được đầy đủ các đặc điểm của câu Bởi vìnhiều câu cạnh nhau thể hiện cùng một chủ đề hay một tiểu chủ đề (vănbản hay đoạn văn) cũng diễn đạt một ý trọn vẹn Theo tôi bên cạnh đặc
Trang 9điểm nội dung là “Diễn đạt một ý trọn vẹn”, ta còn phải chỉ ra đặc điểm vềdung lượng là “nhỏ nhất” thì học sinh mới hiểu một cách đầy đủ các đặcđiểm của câu.
II VẤN ĐỀ PHÂN LOẠI CÂU DỰA VÀO CẤU TẠO.
Việc phân loại theo cấu tạo ngữ pháp có thể dựa trên các cấu trúc cơbản khác nhau
- Lấy cấu trúc nghĩa - ngữ pháp (cấu trúc vị từ - tham thể) làm cấutrúc cơ sở
- Lấy cấu trúc thông báo (cấu trúc chủ đề - thuyết) làm cấu trúc cơsở
- Lấy cấu trúc chủ - vị làm cơ sở phân loại
Việc phân loại theo cấu tạo ở mỗi cấp học phổ thông có sự khácnhau nhất định về tiêu chí phân loại Trong chương trình tiểu học, tiêu chí
để phân loại câu theo cấu trúc tạo là cụm chủ vị nòng cốt (cụm C - V không
bị bao hàm) Dựa vào tiêu chí này, Sách giáo khoa Tiếng Việt tiểu học chiacâu thành hai loại cơ bản: Câu đơn (một kết cấu C - V) và câu ghép (hai kếtcấu C - V trở lên) Kết quả phân loại câu theo cấu tạo ở cấp tiểu học thểtrình bày bằng sơ đồ (xem sơ đồ trang bên)
III VẤN ĐỀ CÂU TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP.
- Trong hệ thống ngôn ngữ, câu tồn tại như những mô hình khái quáttrong đầu óc của người bản ngữ Nhưng để thực hiện được chức năng làcông cụ của tư duy và là phương tiện giao tiếp thì các mô hình câu phảiđược hiện thực hóa một cách cụ thể trong lời nói Hơn nữa câu chưa phải làđơn vị tột cùng mà trên câu lại có cấu tạo ngôn ngữ lớn hơn, bời vậy chúng
ta thấy:
- Trong hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ, không mấy khi người tachỉ dùng một câu và cũng không dùng các câu riêng lẻ bên cạnh nhau (câu
Trang 10không liên kết) mà trong đại đa số các trường hợp phải dùng một tập hợpnhiều câu có liên kết với nhau để diễn đạt một ý tưởng nào đó.
- Câu chỉ thực sự có đời sống, có hoạt động khi nằm trong lời nói,trong những sản phẩm ngôn ngữ hình thành giao tiếp Có những câu để rờithì được coi là một câu đúng nhưng đưa vào văn bản cụ thể lại không chấpnhận được, ngược lại có những câu đứng riêng lẻ có thể bị coi là câu saihoặc không hiểu được nhưng chúng lại tồn tại một cách vững vàng bêncạnh những câu khác trong một văn bản cụ thể
Trang 11CHÚNG TA CÓ THỂ TÓM LƯỢC SỰ PHÂN LOẠI CỦA CÂU
THEO ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO NHƯ SAU:
Dựa v o viào s ệc có đầy đủ hai bộ
phận chính hay không, hoặc dựa
rút gọn
Câu đơn đặc biệt
Câu ghép có
từ chỉ quan hệ
Câu ghép có cặp từ chỉ quan
hệ
Có quan
hệ từ
Có dấu câu
Chỉ ý nhượng
bộ
Chỉ mục đích
Chỉ nguyên nhân kết quả
Chỉ điều kiện kết quả
Trang 12- Mối quan hệ giữa câu và cấu tạo ngôn gnữ lớn hơn câu đòi hỏi việcnghiên cứu ngữ pháp phải chú ý tới các lĩnh vực trên câu Như vậy xem xétcâu chúng ta cần phải xem xét nó trong hoạt động và trong mối quan hệ vớinhững đơn vị ngôn ngữ lớn hơn chứ không chỉ nghiên cứu cấu trong thế côlập Bởi vì câu đi vào trong lời nói tuy vẫn giữ được bản chất của câunhưng nó còn mang một số đặc trưng về cả ý và lời mà chúng ta chỉ thấykhi đặt nó trong mối quan hệ câu khác trong văn bản.
Ý của câu
Mỗi câu là một đơn vị nhỏ để diễn đạt một ý trong lời nói, đồng thời
nó cũng phải truyền đạt một ý nhất định trong hệ thống nói chugn củachỉnh thể lời nói Nói một cách cụ thể: Muốn xây dựng ý của một câu tacần đặt nó vào một chỉnh thể chung và xem xét trong mối quan hệ với cáccâu khác
Trong khi nói và viết, ngoài việc dùng câu để thông báo một hiệnthực khách quan người ta còn lồng vào trong câu sự đánh giá, thái độ, tìnhcảm
Cho nên trong một câu cụ thể phải thống nhất, phản ánh khuynhhướng của toàn bộ lời nói, toàn bộ văn cảnh, ý gắn liền với lời, muốn nêuđược ý phải chọn lời thích hợp
Lời của câu.
Chọn lời tức là chọn mô hình cần thiết để làm sao ý nào lời đó Lờicòn phụ thuộc vào vai trò, vị trí câu cần trong văn bản Mỗi câu là một kếtcấu hoàn chỉnh, mỗi câu có một vai trò nhất định trong việc thể hiện tínhhoàn chỉnh của nó
Trang 13CHƯƠNG II: TÌM HIỂU LỖI VIẾT CÂU CỦA HỌC SINH LỚP 4.
A MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÂU SAI VÀ NGUYÊN TẮC CHỮA CÂU SAI.
I Câu sai - câu mơ hồ
Để phát hiện các lỗi câu, trước hết chúng ta phải hiểu câu sai là nhưthế nào, câu mơ hồ là như thế nào?
1 Câu sai:
Là những câu dùng không đúng với những chuẩn mực đã quy ước vềcâu Sự quy ước này có thể được chế định hóa như các quy định về chính
tả, nhưng cũng có thể chỉ là sự ngầm quy ước của xã hội
Ví dụ: Ở một góc sân trường, cây bằng lăng.
Câu trên là câu sai vì thiếu bộ phận vị ngữ trong nòng cốt câu Câu
đó thiếu một phần thông báo: Người ta không hiểu “Cây bằng lăng” nhưthế nào Câu sai có thể là:
- Câu sai cấu tạo, tức là cấu tạo không đúng chuẩn (thừa, thiếu thànhphần )
- Câu sai ý nghĩa (không lôgic, không có tin mới )
- Câu không có sự tương hợp giữa ý thức và hình thức
- Câu không phù hợp với các câu khác trong văn bản
2 Câu mơ hồ
Trong khi giao tiếp, một yêu cầu rất quan trọng là nói và viết phải rõràng, chính xác Nếu không chú ý sẽ tạo nên câu sai, câu tối nghĩa, câu mâuthuẫn hoặc những câu hiểu thế nào cũng được Loại câu này được gọi làcâu mơ hồ
Câu mơ hồ là một câu trong khi có một biểu hiện duy nhất ở cấp độngôn ngữ này lại có ít nhất hai cách biểu hiện ở cấp độ ngôn ngữ khác
Trang 14Ví dụ: Tôi thích phỏng vấn
Với câu trên, người đọc (người nghe) sẽ hiểu theo hai cách
- Người nói thích được người khác phỏng vấn mình
- Người nói muốn mình là chủ thể để đi phỏng vấn người khác
Điều này làm cho người nghe cảm thấy rất mơ hồ, khó xác định địnhnghĩa một cách chính xác
II Nguyên tắc chữa câu sai.
Khi chữa câu sai cho học sinh thì phải đảm bảo những yêu cầu sau:
1 Câu mới phải đúng về cấu tạo ngữ pháp, hợp lý về logic và chưathông tin mới
Ví dụ: Mua một con gà về để nuôi
Câu trên là câu sai vì thiếu chủ ngữ
Cách chữa: Thêm chủ ngữ cho câu: Mẹ mua một con gà để nuôi.
Ví dụ 2: Những cành cây khẳng khiu và hiên ngang chống trả từng
đợt gió lạnh thấu xương.
Câu trên sai do sử dụng quan hệ từ sai “và” dẫn tới sai nghĩa
Cách chữa tốt nhất là thay quan hệ từ “vẫn” cho phù hợp: Những
cành cây khẳng khiu vẫn hiên ngang chống trả từng đợt gió lạnh thấu xương.
2 Đảm bảo mối quan hệ giữa các câu trong văn bản
Câu là một đơn vị thông báo nhỏ nhất của ngôn ngữ cho nên nó còn
bị chi phối bởi hai quan hệ: Quan hệ hướng nội, quan hệ hướng ngoại Tức
là một mặt câu mới chữa phải đảm bảo các yêu cầu mà một câu đúng cần
có (như đã nêu ở phần 1) Mặt khác, nó phải liên kết với các câu hữu quan
để thể hiện một chủ đề chung
Trang 15Trong bài văn tả con gà trống, một học sinh lớp tôi đã viết câu như
sau: “Em mong muốn con gà mái sẽ là người bạn yêu quý của mọi người vì
gà đã làm được rất nhiều điều có ích giúp cho mọi người”.
Cách chữa: Câu trên cần chữa “gà mái” thành “gà trống” để phù hợp
logic và liên kết chặt chẽ với các câu khác trong việc thể hiện chủ đề tả con
gà trống
3 Khi chữa cố gắng giữ nguyên ý của người viết
Để hiểu được ý định của người viết cần phân tích câu sai trong quátrình tạo câu Trước tiên chúng ta phải chỉ ra sơ đồ cấu trúc của câu sai Sau
đó, chúng ta tìm các sơ đồ cấu trúc để diễn đạt lại nội dung, ý định củangười viết Đối chiếu sơ đồ cấu trúc câu sai với các sơ đồ cấu trúc sẽ chỉ rachỗ lệch chuẩn của câu sai và từ đó chỉ ra cách sửa phù hợp Câu mới chữa
có cấu trúc và ý nghĩa gần với câu cũ là tốt nhất
Ví dụ: Trong nhà em nuôi con gà trống lông tơ rất đẹp.
Câu trên có mô hình: TN, (TN) - VN
Cách chữa: Biến trạng ngữ thành vị ngữ bằng cách bỏ “trong”
Nhà em nuôi một con gà trống lông tơ rất đẹp.
Câu mới chữa vẫn giữ nguyên ý của người viết và có cách cấu tạogần với câu cũ
III Các bước phát hiện, phân tích và chữa sai câu.
Bước 1: Phát hiện và nhận diện lỗi.
+ Xác định chức năng của câu trong mối quan hệ với văn bản, ngữcảnh và xét câu trong trạng thái độc lập
+ Tìm các sơ đồ cấu trúc tương ứng để diễn đạt ý định của ngườiviết
+ Đối chiếu câu sai để phát hiện được loại sai
Trang 16Bước 2: Phân tích nguyên nhân của câu sai.
+ Phân tích các biểu hiện của câu sai để từ đó phát hiện lỗi sai
+ Phân tích nguyên nhân dẫn đến trường hợp sai
Bước 3: Sửa câu sai và thay câu sai bằng câu đúng.
+ Đối chiếu với yêu cầu đã xác định ở bước 1 để xây dựng câu đúng.+ Lựa chọn câu đúng để thay thế kiểm tra lại
B ĐỀ XUẤT MỘT SỐ DẠNG CÂU SAI, GIÚP HỌC SINH NHẬN BIẾT
VÀ SỬA CÂU SAI.
Trong đề tài này, tôi chỉ phân tích một số lỗi có tần số xuất hiện caotrong bài làm của học sinh và bước đầu đề xuất cách chữa các loại lỗi đó
I Lỗi trong câu
Lỗi trong câu là các lỗi xét theo quan hệ hướng nội bao gồm các lỗi
về cấu tạo ngữ pháp, lỗi về nghĩa, lỗi về dấu câu
1 Lỗi về cấu tạo ngữ pháp.
Lỗi về cấu tạo ngữ pháp của câu là những lỗi về cấu trúc câu nhưthiếu hoặc thừa thành phần câu, không phân biệt các thành phần câu hoặcsắp xếp sai trật tự các thành phần câu
Trang 17các em viết câu không có thành phần chủ ngữ và nghĩ rằng câu đã chọnnghĩa của câu không trọn vẹn, làm cho người đọc khó hiểu.
Ví dụ: Dưới bàn chân chú thấy một đệm thịt để khi bắt chuột không
gây tiếng động.
Cấu trúc trên là : Tr (CN) - VN
Nguyên nhân
Câu này do người viết không biết cách cấu tạo chủ ngữ, muốn “Bàn
chân chú” làm chủ ngữ nhưng lại để cụm danh từ này đứng sau “dưới”
khiến bộ phận này bị lệ thuộc vào mặt ngữ pháp, gắn với chức năng trạngngữ và không thể làm chủ ngữ được Vậy câu trên thiếu chủ ngữ
Cách chữa:
+ Cách 1: Thêm chủ ngữ cho câu:
Dưới bàn chân chú, em thấy một cái đệm thịt để khi bắt chuột không gây tiếng động.
Ví dụ 2: (Nó được làm bằng vải da) Vẫn còn thơm mùi vải mới.
Mô hình câu trên (CN) - VN