1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Xác định cấu trúc, năng suất và hiệu quả kinh tế của rừng bạch đàn (eucalyotus urophilla) trồng thuần loài tại lâm trường hữu lũng II, tỉnh lạng sơn​

85 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 576,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (5)
    • 1.1.1. Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla (5)
    • 1.1.2. Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần (6)
      • 1.1.2.1. Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính (6)
      • 1.1.2.2. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính (7)
    • 1.1.3. Biểu thể tích (8)
    • 1.1.4. Biểu cấp đất (8)
    • 1.1.5. Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế (10)
    • 1.2. Ở Việt Nam (10)
      • 1.2.1. Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla (10)
      • 1.2.2. Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần (12)
        • 1.2.2.1. Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D) (12)
        • 1.2.2.2. Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N-H) (12)
        • 1.2.2.3. Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính (13)
      • 1.2.3. Biểu thể tích (13)
      • 1.2.4. Cấp đất (14)
      • 1.2.5. Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế (16)
    • 2.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu (18)
      • 2.1.1. Phân bố địa lý (19)
      • 2.1.2 Đặc điểm hình thái (20)
      • 2.1.3. Công dụng của Bạch đàn (21)
      • 2.1.4. Một số biểu lập cho rừng trồng Urophylla (21)
    • 2.2. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu (21)
      • 2.2.1. Điều kiện tự nhiên (21)
        • 2.2.1.1. Vị trí địa lí (21)
        • 2.2.1.2. Địa hình (22)
        • 2.2.1.3. Khí hậu thuỷ văn (22)
        • 2.2.1.4. Tài nguyên rừng và hiện trạng (22)
        • 2.2.1.5. Thổ nhưỡng (23)
      • 2.2.2. Điều kiện kinh tế – Xã hội (23)
      • 2.2.3. Lịch sử rừng trồng (24)
  • CHƯƠNG 3: MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (18)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (26)
      • 3.1.1. Về lý luận (26)
      • 3.1.2. Về thực tiễn (26)
    • 3.2. Giới hạn nghiên cứu (26)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (26)
      • 3.3.1. Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng trồng Bạch đàn (26)
        • 3.3.1.1. Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D) (26)
        • 3.3.1.2. Quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N-H) (26)
        • 3.3.1.3. Quy luật tương quan giữa chiều cao với với đường kính (H/D) (26)
      • 3.3.2. Xác định năng suất rừng trồng Bạch đàn (27)
      • 3.3.3. Xác định hiệu quả kinh tế của rừng trồng Bạch đàn (27)
        • 3.3.3.1. Xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp tĩnh (27)
        • 3.3.3.2 Xác định hiệu quả theo phương pháp động (27)
      • 3.3.4. Đánh giá rủi ro trong kinh doanh trồng Bạch đàn (27)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (27)
      • 3.4.1. Các phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp (27)
        • 3.4.1.1 Kế thừa tài liệu (27)
        • 3.4.1.2 Thu thập số liệu ngoại nghiệp (28)
      • 3.4.2. Tính toán tài liệu cơ sở (28)
        • 3.4.2.1. Với ô tiêu chuẩn (28)
        • 3.4.2.2. Với cây ngả (30)
      • 3.4.3. Phương pháp xử lý và phân tích tài liệu (30)
        • 3.4.3.1. Nghiên cứu quy luật kết cấu lâm phần (30)
        • 3.4.3.2. Tương quan giữa đường kính và chiều cao (H/D) (31)
        • 3.4.3.3. Kiểm nghiệm biểu thể tích đã có (31)
        • 3.4.3.4. Xác định cấp đất và trữ lượng lâm phần (32)
        • 3.4.3.5. Phương pháp đánh giá hiệu quả kinh tế (32)
        • 3.4.3.6. Phương pháp đánh giá rủi ro trong kinh doanh trồng Bạch đàn (34)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (26)
    • 4.1. Một số quy luật cấu trúc của các lâm phần điều tra (35)
      • 4.1.1. Quy luật phân bố số cây theo đường kính (35)
        • 4.1.1.1. Một số đặc trưng mẫu về đường kính (35)
        • 4.1.1.2. Mô phỏng quy luật số cây theo đường kính (0)
      • 4.1.2. Phân bố số cây theo chiều cao (41)
        • 4.1.2.1. Một số đặc trưng mẫu về H (41)
        • 4.1.2.2. Mô phỏng quy luật số cây theo chiều cao (44)
      • 4.1.3. Tương quan giữa chiều cao với đường kính (47)
    • 4.2. Năng suất rừng trồng Bạch đàn (50)
      • 4.2.1. Kiểm nghiệm biểu thể tích (50)
        • 4.2.1.1. Giới thiệu về biểu thể tích (50)
        • 4.2.1.2. Kiểm tra biểu thể tích đã có (50)
        • 4.2.1.3. Hiệu chỉnh khi sử dụng biểu (51)
      • 4.2.3. Xác định trữ lượng cho các lâm phần điều tra (52)
        • 4.2.3.1. Một số chỉ tiêu sản lượng của rừng trồng Bạch đàn (52)
        • 4.2.3.1. Xác định trữ lượng sản phẩm cho lâm phần điều tra (54)
    • 4.3. Xác định hiệu quả kinh tế (57)
      • 4.3.1. Dự toán chí phí cho một ha rừng trồng bạch đàn (57)
      • 4.3.2. Dự toán thu nhập cho một ha rừng trồng bạch đàn (60)
        • 4.3.2.1. Căn cứ để tính thu nhập (60)
        • 4.3.1.2. Dự toán thu nhập cho các lâm phần điều tra (62)
      • 4.4.3. Cân đối chi phí và thu nhập cho 1ha bạch đàn (64)
        • 4.4.3.1. Xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp tĩnh (64)
        • 4.4.3.2. Xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp động (66)
    • 4.5. Đánh giá rủi ro trong kinh doanh trồng Bạch đàn (68)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ (35)
    • 5.1. Kết luận (72)
    • 5.2. Tồn tại (74)
    • 5.3. Kiến nghị .................................................................................................. 72 Tài liệu tham khảo (74)
    • 4.1: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 4 (0)
    • 4.2: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 5 (0)
    • 4.3: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 6 (0)
    • 4.4: Kết quả nắn phân bố N-D tuổi 4 theo hàm Weibull (0)
    • 4.5: Kết quả nắn phân bố N-D tuổi 5 theo hàm Weibull (0)
    • 4.6: Kết quả nắn phân bố N-D tuổi 6 theo hàm Weibull (0)
    • 4.7: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 4 (0)
    • 4.8: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 5 (0)
    • 4.9: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 6 (0)
    • 4.10: Kết quả nắn phân bố N-H tuổi 4 theo hàm Weibull (0)
    • 4.11: Kết quả nắn phân bố N-H tuổi 5 theo hàm Weibull (0)
    • 4.12: Kết quả nắn phân bố N-H tuổi 6 theo hàm Weibull (0)
    • 4.13: Quan hệ H = a + b.Log(D) các ô tiêu chuẩn tuổi 4 (0)
    • 4.14: Quan hệ H = a + b.Log(D) các ô tiêu chuẩn tuổi 5 (0)
    • 4.15: Quan hệ H = a + b.Log(D) các ô tiêu chuẩn tuổi 6 (0)
    • 4.16: Hệ số điều chỉnh  V thông qua đường kính (0)
    • 4.17: Một số chỉ tiêu sản lượng rừng trồng tuổi 4 (0)
    • 4.18: Một số chỉ tiêu sản lượng rừng trồng tuổi 5 (0)
    • 4.19: Một số chỉ tiêu sản lượng rừng trồng tuổi 6 (0)
    • 4.20: Biểu tính tỷ lệ sản phẩm khai thác rừng trồng Bạch đàn (0)
    • 4.21: Năng suất bình quân 1ha rừng Bạch đàn tuổi 4 (0)
    • 4.22: Năng suất bình quân 1ha rừng Bạch đàn tuổi 5 (0)
    • 4.23: Năng suất bình quân 1ha rừng Bạch đàn tuổi 6 (0)
    • 4.24: Xác định chi phí trồng 1ha bạch đàn Urophylla (0)
    • 4.25: Chi phí chăm sóc, bảo vệ 1ha Bạch đàn Urophylla năm thứ 2 (0)
    • 4.26: Chi phí chăm sóc và bảo vệ 1ha bạch đàn Urophylla năm thứ 3 (0)
    • 4.27: Chi phí cho chu kỳ 6 năm1ha bạch đàn Urophylla (0)
    • 4.28: Giá gỗ bán tại bãi I trong rừng đối với các loại gỗ (0)
    • 4.29: Thu nhập cho 1ha rừng Bạch đàn tuổi 4 (Cấp đất I) (0)
    • 4.30: Thu nhập cho 1ha rừng Bạch đàn theo cấp đất ở tuổi 5 (0)
    • 4.31: Thu nhập cho 1ha rừng Bạch đàn theo cấp đất ở tuổi 6 (0)
    • 4.32: Biểu tổng hợp cân đối thu – chi cho 1ha Bạch đàn cấp đất NS (0)
    • 4.33: Biểu tổng hợp cân đối thu – chi cho 1ha Bạch đàn cấp đất I (0)
    • 4.34: Biểu tổng hợp cân đối thu – chi cho 1ha Bạch đàn cấp đất II (0)
    • 4.35: Xác định hiệu quả kinh tế rừng trồng Bạch đàn cấp đất NS (0)
    • 4.36: Biểu tổng hợp hiệu quả kinh tế cho 1ha Bạch đàn cấp đất I (0)
    • 4.37: Biểu tổng hợp hiệu quả kinh tế cho 1ha Bạch đàn cấp đất II (0)
    • 4.38: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cho các phương án dự kiến đối với cấp đất ngoại suy (0)
    • 4.39: Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh tế cho các phương án dự kiến đối với cấp đất I (0)
    • 4.1: Kết quả nắn phân bố N-D bằng hàm Weibull (0)
    • 4.2: Kết quả nắn phân bố N-H bằng hàm Weibull (0)
    • 4.3: Quan hệ H/D các lâm phần Bạch đàn tuổi 4, 5, 6 (0)
    • 4.4: Quan hệ  V /d (0)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla

Từ thế kỷ XIX, cây Bạch đàn đã được du nhập từ châu Úc và phát triển mạnh mẽ ở nhiều quốc gia, nhờ vào khả năng thích ứng với đa dạng điều kiện khí hậu Đến năm 1955, diện tích rừng trồng Bạch đàn trên toàn thế giới đạt 700.000 ha, và con số này đã tăng lên khoảng 4 triệu ha vào năm 1975, phân bố tại 58 quốc gia khác nhau, khẳng định vai trò quan trọng của nó trong ngành lâm nghiệp kinh tế.

Sự thành công trong việc phát triển rừng trồng Bạch đàn trên toàn thế giới có sự đóng góp quan trọng từ các chương trình nghiên cứu về loài và xuất xứ của Bạch đàn Đặc biệt, các công trình khảo nghiệm liên quan đến Bạch đàn Urophylla đã mang lại nhiều kết quả đáng chú ý.

Khảo nghiệm loài Bách đàn E urophylla năm 1977 tại 11 địa điểm ở Brazil cho thấy, ở tuổi 3,5, chiều cao trung bình đạt 8,34m Địa điểm có sinh trưởng tốt nhất là Aracruz với chiều cao trung bình 11,94m, trong khi Joao Pinheiro là nơi có sinh trưởng kém nhất, chỉ đạt 3,27m.

Khảo nghiệm 17 xuất xứ Bạch đàn Urophylla tại tỉnh Santos và Brazil, Amazon cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa độ cao phân bố của các xuất xứ với tỷ lệ sống và sinh trưởng chiều cao Nghiên cứu 22 xuất xứ Bạch đàn Urophylla năm 1981 ở Wanagama, Indonesia cho thấy sau 22 tháng, các xuất xứ từ Wetar có sự sinh trưởng vượt trội về chiều cao và đường kính.

Vào năm 1971, một nghiên cứu đã được thực hiện để khảo nghiệm 5 xuất xứ Bạch đàn Urophylla tại 2 lập địa khác nhau ở Puerto Rico Sau 8 năm, kết quả cho thấy xuất xứ từ Timor phát triển tốt hơn về cả đường kính và chiều cao.

Nghiên cứu thành công về loài Bạch đàn lai, cụ thể là E.grandis kết hợp với E.urophylla tại Brazil và E.allba kết hợp với E.urophylla ở Công Gô, đã đóng góp quan trọng vào việc phát triển các khu rừng trồng nguyên liệu giấy có năng suất cao.

Hiện nay, nhiều tổ chức Lâm Nghiệp, như Trung tâm Lâm Nghiệp nhiệt đới Pháp (CTFT) và cơ quan Lâm Nghiệp Úc (CSIRO), đang quan tâm đến việc khảo nghiệm xuất xứ Bạch đàn Urophylla Họ không chỉ cung cấp hạt giống mà còn hướng dẫn phương pháp và hỗ trợ kinh phí cho các hoạt động khảo nghiệm này.

Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần

1.1.2.1 Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính

Quy luật phân bố số cây theo cỡ đường kính là một quy luật cơ bản trong lâm phần, thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà Lâm học và điều tra rừng Nghiên cứu đầu tiên đáng chú ý thuộc về Meyer (1934) và Prodan (1949), những tác giả đã mô tả phân bố số cây trong rừng tự nhiên thông qua các phương trình toán học.

Phương trình Meyer, hay còn gọi là hàm Meyer, đã được nghiên cứu sâu rộng trong lĩnh vực phân bố cây trồng Naslunel (1936-1937) xác lập phân bố Charlier-A cho phân bố N-D của lâm phần thuần loài đồng tuổi Sau đó, Loetch (1973) đã áp dụng hàm Beta để điều chỉnh phân bố thực nghiệm, trong khi Roemisch (1975) khám phá khả năng sử dụng hàm Gamma để mô phỏng sự biến đổi của phân bố N/D theo tuổi Đặc biệt, J.L.F Batista và H.T.Z Docuto (1992) đã sử dụng hàm Weibull để mô phỏng phân bố N-D trong nghiên cứu rừng nhiệt đới tại Maranhoo, Brazil.

1.1.2.2 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính Đây cũng là quy luật cơ bản và quan trọng trong hệ thống các quy luật cấu trúc lâm phần Qua nghiên cứu nhiều tác giả cho thấy, chiều cao tương ứng với mỗi cỡ đường kính luôn tăng theo tuổi Trong một cỡ kính xác định, ở các cấp tuổi khác nhau cây rừng thuộc cấp sinh trưởng khác nhau. Tiurin.D.V (1927) đã phát hiện ra quy luật này khi xác lập đường cong chiều cao ở các cấp tuổi khác nhau Prodan.M (1935) cho thấy độ dốc đường cong chiều cao có chiều hướng giảm dần khi tuổi tăng lên.

Curtis.R.O đã mô phỏng quan hệ chiều cao với đường kính và tuổi theo dạng phương trình: Logh = d + b1.1/d + b2.1/A + b3.1/dA (1.2)

Tại từng tuổi nhất định dùng phương trình:

Các tác giả như: Hohenadl; Krenn; Michailoff; Naslund, M; Anoutchin, NP; Eckert, KH; Korsum, F; Levakovic, A; Meyer, H.A; Munller và V.Soest,

J đã đề xuất dùng các phương trình dưới đây: h = a0+ a1d + a2d 2 (1.4) h - 1,3 = d 2 /(a + bd) 2 (1.5) h = a.b d ; logh = a + b.logd (1.6) h = a.(1 – e -bd ) (1.7) h = a + b.logd (1.8) h - 1,3 = a.(d/(1 + b)) b (1.9) h - 1,3 = a.e -b/d (1.10) log (h – 1,3) = loga + b.((loge)/d) (1.11) h = a(b.lnd – c.(lnd)^2)

Để biểu thị mối tương quan giữa chiều cao và đường kính, có nhiều loại phương trình khác nhau Tuy nhiên, việc lựa chọn phương trình phù hợp cho từng đối tượng vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ Hai loại phương trình phổ biến nhất để mô tả đường cong chiều cao là phương trình Parabol và Logarit.

Biểu thể tích

Biểu thể tích 2 nhân tố thể hiện mối quan hệ giữa thể tích cây và hai yếu tố cấu thành là đường kính và chiều cao Nhiều nhà nghiên cứu như Prodan, Meyer, Spurr, Halaj, và Tiorin đã đề xuất nhiều dạng phương trình, trong đó hai dạng phổ biến nhất được chú trọng.

Nhiều tác giả đã kiểm tra và thiết lập phương trình để xây dựng biểu thể tích 2 nhân tố ở nhiều quốc gia như Đức, Ấn Độ, Mỹ, Indonesia, và Thái Lan Mặc dù biểu thể tích này có hai nhân tố, nhưng yếu tố hình dạng thân cây thường được coi là hằng số hoặc quy về đường kính và chiều cao Điều này mang lại độ chính xác cao và khả năng áp dụng rộng rãi cho biểu thể tích hai nhân tố Để tiết kiệm chi phí nghiên cứu, một số quốc gia hoặc địa phương thường kiểm nghiệm biểu thể tích của nước láng giềng hoặc khu vực lân cận để áp dụng cho đối tượng của mình.

Biểu cấp đất

Cấp đất phản ánh sức sản xuất và mức độ phù hợp của điều kiện môi trường đối với từng loại rừng Việc nghiên cứu và lập biểu cấp đất là nền tảng quan trọng để xác định và sử dụng các biểu điều tra, sản lượng cụ thể, đồng thời hỗ trợ thiết kế các biện pháp kinh doanh rừng hiệu quả.

Quá trình nghiên cứu chỉ tiêu đánh giá mức độ phù hợp của điều kiện rừng đã trải qua nhiều giai đoạn, bắt đầu từ việc xác định các nhân tố nguyên nhân như khí hậu, không khí và đất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của rừng Tuy nhiên, do sự tác động tổng hợp của nhiều nhân tố khác nhau, việc chỉ tập trung vào một nhân tố chủ đạo không mang lại kết quả như mong đợi Do đó, nghiên cứu đã chuyển sang sử dụng các nhân tố hệ quả, tương tự như trong nông nghiệp, nơi kết quả thu hoạch được dùng để phân chia sản lượng, còn trong lâm nghiệp, trị số sản lượng của rừng được áp dụng để đánh giá sức sản xuất.

Kể từ khi Eichhorn (1904) phát hiện ra quy luật rằng "Trữ lượng rừng là một hàm số của chiều cao lâm phần", phương pháp phân chia cấp đất đã được củng cố với cơ sở lý luận vững chắc hơn Ông chỉ ra rằng tất cả các lâm phần trong các điều kiện khác nhau sẽ có cùng trữ lượng nếu chúng có cùng chiều cao bình quân.

Phân chia cấp đất chủ yếu nhằm xác định mối quan hệ theo tuổi của một yếu tố điều tra nhất định, thường là chiều cao bình quân lâm phần hoặc chiều cao bình quân tầng ưu thế Yếu tố này cần phải có mối liên hệ chặt chẽ với trữ lượng và ít bị ảnh hưởng bởi các biện pháp kinh doanh.

Nghiên cứu cho thấy quy luật sinh trưởng chiều cao của các loài cây phụ thuộc vào vùng sinh thái Do đó, mỗi kiểu sinh trưởng chiều cao cần phải xác định một biểu cấp đất, hay còn gọi là hệ thống cấp đất phù hợp.

Việc phân chia cấp đất, bất kể tiêu chí nào được sử dụng, thực chất là một quá trình đánh giá và phân chia mức độ sinh trưởng của rừng.

Những nghiên cứu về đánh giá hiệu quả kinh tế

Năm 1974, giáo sư Jonh E – Gunter từ trường đại học Tổng Hợp Michigan, Mỹ đã xuất bản giáo trình "Những vấn đề cơ bản trong đánh giá đầu tư Lâm nghiệp" Tác giả trình bày các cơ sở quan trọng để đánh giá hiệu quả trồng rừng, bao gồm lãi suất đơn, lãi suất kép, thời gian và năm chiết khấu.

Năm 1979, tổ chức Nông nghiệp và Lương thực Thế giới (FAO) đã phát hành giáo trình "Phân tích các Dự án Lâm Nghiệp," được biên soạn bởi Hans M Gregesen và Amoldo H Contresal.

Theo tài liệu lưu trữ của TREE CD – ROM (Cab International for Asia), từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1995, đã có 48 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế trong Lâm nghiệp Trong số đó, 19 công trình tập trung vào lâm nghiệp nhiệt đới, đặc biệt có các nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của rừng trồng, với 9 công trình chuyên sâu vào việc đánh giá hiệu quả từ các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.

Ở Việt Nam

1.2.1 Những nghiên cứu về Bạch đàn E.urophylla Ở Việt Nam, Bạch đàn đã được nhập vào trồng rải rác trước năm 1945.

Từ giữa những năm 60, miền Bắc Việt Nam đã bắt đầu nhập khẩu các giống bạch đàn như Bạch đàn trắng (E tereticornis), Bạch đàn liễu (E exserta), Bạch đàn chanh (E citriodora) và Bạch đàn đỏ (E robusta) nhằm phát triển phong trào trồng cây và thiết lập rừng trồng tại các Lâm trường Quốc doanh.

Từ năm 1960, Bạch đàn đã trở thành một trong những loài cây chủ yếu trong Lâm nghiệp Việt Nam, trải qua ba giai đoạn phát triển khác nhau Giai đoạn 1977 – 1983 là thời kỳ bài trừ Bạch đàn mạnh mẽ do quan niệm rằng loài cây này làm xấu đất và cạn kiệt nguồn nước, dẫn đến diện tích trồng chỉ đạt 2000 đến 3000 ha/năm Trong giai đoạn 1984 – 1986, Bạch đàn bắt đầu phục hồi, với diện tích trồng không ngừng tăng lên Kể từ năm 1987 đến nay, Bạch đàn đã phát triển mạnh mẽ, chiếm ưu thế trong trồng rừng với các loài như E exserta, E camaldulensis, E citriodora, E robusta và E urophylla.

Nguyễn Dương Tài (1992) [18] nghiên cứu xuất xứ Bạch đàn

(Eucalyptus urophylla) đã đưa ra kết luận, 21 xuất xứ Eucalyptus urophylla từ Indonesia đều tỏ ra tốt với điều kiện tự nhiên ở nơi thí nghiệm trong những năm đầu.

Nguyễn Thanh Vân (2003) đã tiến hành đánh giá sinh trưởng của Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) trồng thuần loài tại Lạng Sơn, Bắc Giang Nghiên cứu so sánh sinh trưởng giữa các dòng U6, PN2 và Bạch đàn hạt, và kết luận rằng tất cả các dòng đều thích nghi tốt với điều kiện tự nhiên ở Bắc Giang - Lạng Sơn, trong đó dòng PN2 cho thấy tốc độ sinh trưởng nhanh nhất.

Phạm Quang Việt (2004) [22] qua nghiên cứu Bạch đàn Eucalyptus urophylla ST Black đã chọn được 2 dòng vượt trội nhất về sinh khối tại thời điểm 3 tháng tuổi ở cây hom.

Gần đây, Vũ Thành Nam (2006) đã tiến hành nghiên cứu về cấu trúc và mô phỏng sự sinh trưởng của cây Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) dòng U 6 và PN 2 trong điều kiện trồng thuần loài, nhằm đề xuất các giải pháp kinh doanh hiệu quả cho loài cây này tại địa phương.

1.2.2 Nghiên cứu quy luật cấu trúc lâm phần

1.2.2.1 Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D) Đối với rừng tự nhiên nước ta, Đồng Sỹ Hiền (1974) [5] đã dùng họ đường cong Pearson biểu diễn phân bố số cây theo cỡ đường kính của rừng tự nhiên Vũ Nhâm (1988) [17] và Vũ Tiến Hinh (1990) [7] cho thấy, có thể dùng phân bố Weibull với hai tham số để biểu thị phân bố N-D cho những lâm phần thuần loài, đều tuổi như thông đuôi ngựa (pinus massoniana), thông nhựa (Pinus merkussii), Mỡ (Manglietia glauca) và bồ đề (Styrax tonkinensis).

Nguyễn Ngọc Lung (1999) đã nghiên cứu phân bố số cây theo cỡ đường kính trong rừng thông ba lá (Pinus kesiya) ở Việt Nam và thử nghiệm ba hàm phân bố: Poisson, Charlier, và Weibull Kết quả cho thấy hàm Charlier kiểu A là hàm phù hợp nhất cho nghiên cứu này.

Mặc dù rừng thuần loài có tuổi đời đa dạng, nhiều tác giả đã lựa chọn phân bố Weibull để mô tả và phát triển mô hình cấu trúc đường kính của lâm phần.

1.2.2.2 Nghiên cứu quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N-H)

Phân bố số cây theo chiều cao thường ít được chú ý trong nghiên cứu và thực tiễn Đối với các lâm phần thuần loài đều tuổi, phân bố số cây theo chiều cao, dù xét cho toàn lâm phần hay từng cỡ chiều cao, thường có hình dạng đường cong một đỉnh hơi lệch sang phải.

Nghiên cứu cho thấy chiều cao bình quân có giới hạn thấp nhất là 0,69 và cao nhất là 1,16, với hệ số biến động chiều cao lâm phần khoảng 8% Nguyễn Ngọc Lung (1999) đã sử dụng hàm Charlier kiểu A để mô phỏng phân bố N-H cho lâm phần thông ba lá (Pinus kesiya) ở Việt Nam, và kết quả cho thấy 82% các ô tiêu chuẩn phù hợp.

Rừng tự nhiên lá rộng ở Việt Nam có sự phân bố chiều cao đa dạng giữa các loài cây, thể hiện cấu trúc phức tạp của hệ sinh thái Theo Đồng Sỹ Hiền (1974), hệ số biến động chiều cao trong lâm phần tự nhiên dao động từ 25-40%, trong khi đó, trong phạm vi từng loài, hệ số này nằm trong khoảng 12-34%.

1.2.2.3 Nghiên cứu quy luật tương quan giữa chiều cao với đường kính

Khi sắp xếp cây rừng theo đường kính ngang ngực (D 1.3) và chiều cao cây (H), ta có thể xác định quy luật phân bố hai chiều và mối quan hệ tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây Nghiên cứu của Đồng Sỹ Hiền (1974) đã thử nghiệm năm dạng tương quan phổ biến và kết luận rằng phương trình (1.6) là phù hợp cho rừng hỗn giao khác tuổi có nguồn gốc tự nhiên.

Vũ Nhâm (1988) đã sử dụng phương trình (1.8) để xác lập mối quan hệ H/D cho từng lâm phần, làm cơ sở cho việc lập biểu thương phẩm gỗ trụ mỏ rừng thông đuôi ngựa Đồng thời, Vũ Tiến Hinh (2000) cũng áp dụng phương trình (1.8) để xác định mối quan hệ H/D cho các loài cây như Mỡ, Sa mộc và thông đuôi ngựa.

Như vậy, đối với rừng trồng thuần loài dạng phương trình được sử dụng nhiều nhất để biểu thị đường cong chiều cao là phương trình Logarit.

Đồng Sỹ Hiền nhấn mạnh rằng tại Việt Nam, việc lập và sử dụng biểu thể tích chỉ nên dựa trên hai nhân tố Để xây dựng biểu này, cần phân tích mối quan hệ giữa thể tích (V) với đường kính (D) và chiều cao (H) của thân cây, điều này đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước Trong nghiên cứu của mình, Đồng Sỹ Hiền (1974) đã kiểm tra hai dạng phương trình và kết luận rằng có thể lập biểu thể tích cho một số loài cây rừng tự nhiên theo phương trình cụ thể Phương trình này sau đó được Viện điều tra quy hoạch rừng áp dụng để lập biểu cho các kiểu rừng trồng thuần loài như Đước, Tràm, Bạch đàn, và cũng được Vũ Đình Phương sử dụng để xây dựng biểu thể tích cho thông Caribe và keo vùng trung tâm.

Phạm Ngọc Giao (1976) đã đề xuất phương trình tính thể tích rừng: V = a + b.h + c.d².h, được Bộ môn Điều tra quy hoạch rừng thử nghiệm và giới thiệu Phương trình này được áp dụng để lập biểu thể tích cho hai loài thông nhựa và thông đuôi ngựa tại vùng Đông Bắc, và hiện nay đang được sử dụng rộng rãi trong các cuộc điều tra rừng.

Trong việc kiểm nghiệm biểu thể tích, các tác giả trong và ngoài nước thường sử dụng phương pháp chặt trắng lâm phần làm tài liệu đối chứng Mặc dù phương pháp này mang lại độ chính xác cao, nhưng nó cũng đòi hỏi nhiều công sức, chi phí và không phải lúc nào cũng có thể thực hiện được.

Đặc điểm đối tượng nghiên cứu

Bạch đàn, loài cây đặc trưng của Australia, hiện có hơn 600 loài nguyên sản tại đây và một số đảo lân cận Trong số đó, hai loài E.deglupta và E.urophylla đã xuất hiện bên ngoài Australia và cho thấy tiềm năng lớn trong việc trồng trọt ở các vùng có vĩ độ thấp Chúng có khả năng chịu đựng điều kiện khí hậu ở vĩ độ thấp tốt hơn so với các loài Bạch đàn khác.

Bạch đàn Eucalyptus Urophylla là loài cây nhập nội có nguồn gốc từ một số quần đảo Indonesia, đã được khảo nghiệm và cải thiện giống ở nhiều vùng như Phú Thọ, Yên Bái, Quảng Ninh, Bắc Giang, Thái Nguyên, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và Gia Lai với kết quả khả quan Loài cây này nổi bật với tốc độ sinh trưởng nhanh, chu kỳ kinh doanh ngắn từ 6-8 năm, và khả năng thích ứng rộng Thân cây thon thẳng và tán lá dày giúp tăng cường khả năng chống xói mòn Kỹ thuật thâm canh rừng trồng đã được xác định, nhiều dòng vô tính như PN2, PN14 và giống tiến bộ kỹ thuật như W4, W5, U6 đã được công nhận Ngoài ra, kỹ thuật nhân hom và nuôi cấy mô đã được áp dụng, đảm bảo cung cấp cây con chất lượng và số lượng lớn từ các trung tâm nghiên cứu.

Bạch đàn Urophylla là một trong hai loài Bạch đàn E Urophylla,

E alba không mọc tự nhiên ở lục địa Châu Úc Khu vực phâm bố tự nhiên được giới hạn bởi các hòn đảo cực nam quần đảo Sonda của Indonesia, bao gồm các đảo Timor, Wetar, Alor, Pandar, Andonara và Flores Những đảo này bị tách biệt về phía Bắc và phía Nam bởi các biển Timor và Flores Bên trong các đảo này, E.Urophylla có mặt trên một giải giữa các vĩ độ nam 7 0 30’ và 10 0 Giới hạn về phía Tây và phía Đông thường không rõ Trong vùng phân bố tự nhiên E Urophylla sống ở vùng bán sơn địa đến vùng núi Trong đảo Wetar gặp loài Bạch đàn ở độ cao 300 đến 400 m, trong khi đảo Timor chỉ xuất hiện ở độ cao 2900m trên đỉnh Tatamailan (2963m) Nguyễn Luyện (1993) [15].

Loài Bạch đàn này phân bố tự nhiên ở phía Tây, trải dài qua dãy núi khoảng 250 km trên đảo Flores, sau đó xuất hiện trên đảo Adorama, Lomblem, Alor, và cuối cùng là đảo Wetar và Timor.

Khu vực phân bố của loài Bạch đàn này bao gồm các đảo Adorama, Pandar, Alor, phần Bắc đảo Timor và Tây đảo Wetar, nơi có khí hậu khô hạn hơn với tổng lượng mưa bình quân chỉ từ 900 mm.

Khu vực khác bao gồm phần Nam đảo Timor, một phần cuả đảo Flores và phía Tây đảo Wetar, có tổng lượng mưa cả năm từ 1400 -

Vùng này có tiểu khí hậu mưa mùa hè với tổng lượng mưa dao động từ 1000 đến 1500 mm Mùa khô không quá khắc nghiệt, trong khi nhiệt độ tối cao trung bình của tháng nóng nhất đạt 29°C Nhiệt độ tối thấp trong tháng lạnh nhất dao động từ 8-10°C, và nhiệt độ trung bình năm là 27,2°C.

Bạch đàn E Urophylla là một loài cây sinh trưởng nhanh, có thể đạt chiều cao lên tới 53m và đường kính 1,26m tại vùng Laclubar trên đảo Timor Đặc biệt, ở dãy Monter Mutio với độ cao 2100m, những cá thể lớn nhất có đường kính lên tới 2,5m Tuy nhiên, ở những khu vực khô cằn hoặc trên các đỉnh núi, E Urophylla lại phát triển với hình dạng khác, chiều cao giảm nhưng vẫn có thể đạt đường kính lớn.

Dạng thân cành: Loại Bạch đàn E Urophylla tăng trưởng nhanh có thể đạt kích thước lớn, thân thẳng, phân cành thấp và tỉa thưa tự nhiên tốt.

Vỏ của cây Bạch đàn E Urophylla có đặc điểm ít sần sùi, dày và có sợi thẳng, thường mang màu nâu, trong khi cây non có vỏ màu nâu đỏ Tại những khu vực có độ cao thấp, vỏ cây thường trơn nhẵn, nhưng phần gốc có thể đạt đến 2m và có vỏ sần sùi Kiểu vỏ của cây thay đổi tùy thuộc vào điều kiện sinh trưởng và độ tuổi của cây.

Lá Bạch đàn E Urophylla của cây trưởng thành có hình dáng và kích thước thay đổi theo tuổi, với lá sắp xếp so le Cuống lá dài từ 19-22mm, phiến lá dài từ 127-158mm và rộng từ 38-68mm Đặc biệt, lá non có màu sắc khác biệt, thường ngả đỏ so với lá trưởng thành.

Hoa Bạch đàn E Urophylla là hoa lưỡng tính, thích hợp cho thụ phấn chéo nhờ côn trùng Cụm hoa có hình xim hai ngả với trung bình khoảng 7 quả Đế hoa có hai dạng chính: hình chuông và hình bán cầu Bầu hoa là bầu thượng, khi lõm xuống sẽ phẳng, và tỉ lệ giữa hai loài này thường thay đổi theo độ cao.

2.1.3 Công dụng của Bạch đàn

Gỗ Bạch đàn Urophylla là loại gỗ đa năng, được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như đồ gia dụng và xây dựng Tuy nhiên, ứng dụng phổ biến nhất của nó là cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp giấy và sản xuất gỗ trụ mỏ.

Năng suất rừng Bạch đàn Urophylla trồng trên lập địa xấu chỉ đạt từ 7,7 đến 8 m³/ha/năm, trong khi thâm canh cao sản ở vùng Trung tâm có thể đạt từ 16 đến 20 m³/ha/năm.

2.1.4 Một số biểu lập cho rừng trồng Urophylla

Biểu lập cho rừng trồng Urophylla chủ yếu thuộc đối tượng rừng trồng từ hạt, các biểu gồm:

1 Biểu thể tích hai nhân tố cây đứng có vỏ Bạch đàn Urophylla.

2 Biểu cấp đất rừng trồng Bạch đàn Urophylla (theo chiều cao bình quân Hg).

3 Biểu quá trình sinh trưởng rừng trồng Bạch đàn Urophylla.

MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm xây dựng cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xác định hiệu quả kinh tế của rừng trồng Bạch đàn E urophylla dòng PN2 tại Lâm trường Hữu Lũng II, tỉnh Lạng Sơn Việc đánh giá hiệu quả kinh tế không chỉ giúp tối ưu hóa quy trình trồng trọt mà còn góp phần nâng cao thu nhập cho người dân và phát triển bền vững ngành lâm nghiệp địa phương.

- Xác định cấu trúc và năng suất rừng trồng Bạch đàn E.urophylla dòng PN2 tại Lâm trường Hữu Lũng II, tỉnh Lạng Sơn

- Xác định hiệu quả kinh tế của rừng trồng Bạch đàn E.urophylla dòngPN2 tại Lâm trường Hữu Lũng II, tỉnh Lạng Sơn.

Giới hạn nghiên cứu

Đề tài chỉ xác định hiệu quả rừng trồng Bạch đàn Eucalyotus urophylla dòng PN2 (trồng bằng hom) trồng thuần loài tại Lâm trường Hữu Lũng II – LạngSơn.

Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc của rừng trồng Bạch đàn

3.3.1.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính (N-D)

3.3.1.2 Quy luật phân bố số cây theo chiều cao (N-H)

3.3.1.3 Quy luật tương quan giữa chiều cao với với đường kính (H/D)

3.3.2 Xác định năng suất rừng trồng Bạch đàn.

- Kiểm tra biểu thể tích đã có.

- Xác định năng suất rừng trồng theo cấp đất và tuổi.

3.3.3 Xác định hiệu quả kinh tế của rừng trồng Bạch đàn

- Xác định chi phí đầu tư cho 1ha rừng trồng Bạch đàn E.urophylla.

Xác định thu nhập cho 1ha rừng trồng Bạch đàn E.urophylla.

3.3.3.1 Xác định hiệu quả kinh tế theo phương pháp tĩnh

3.3.3.2 Xác định hiệu quả theo phương pháp động

Cân đối thu nhập - chi phí và tính toán các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả.

- Giá trị hiện tại thuần tuý (NPV).

- Tỷ lệ thu nhập trên tỷ lệ chi phí (BCR).

- Tỷ lệ thu hồi nội bộ (IRR).

3.3.4 Đánh giá rủi ro trong kinh doanh trồng Bạch đàn

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Một số quy luật cấu trúc của các lâm phần điều tra

4.1.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính.

Phân bố số cây theo đường kính (N-D) là yếu tố quan trọng trong nghiên cứu quy luật phân bố của các đại lượng điều tra lâm phần Dãy phân bố N-D giúp xác định các đại lượng này, và nó còn được gọi là phân bố đường kính Khi biểu diễn trên biểu đồ, trục hoành thể hiện cỡ kính, trong khi trục tung thể hiện số cây hoặc tần suất tương ứng Đặc điểm của phân bố số cây theo đường kính ở các lâm phần thuần loài có tuổi khác biệt hoàn toàn so với các lâm phần hỗn giao.

Các lâm phần thuần loài thường có độ tuổi đồng nhất, với đường cong phân bố N-D chủ yếu có hình dạng một đỉnh lệch sang trái Khi tuổi tăng lên, độ lệch của phân bố giảm dần và tiệm cận đến phân bố chuẩn.

4.1.1.1 Một số đặc trưng mẫu về đường kính

Một số đặc trưng phân bố N-D được xác định bằng phần mềm Excel. Kết quả tính được thống kê theo tuổi từ biểu 4.1 đến biểu 4.3:

Biểu 4.1: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 4

Hệ số biến động (S%) ở các ô nhìn chung tương đối ổn định, biến động từ 14,77% đến 19,21% Điều này cho thấy giữa các lâm phần Bạch đàn ở tuổi

Mặc dù có sự phân hóa về đường kính, sự khác biệt này vẫn chưa rõ nét Độ lệch (S k) của đường cong không ổn định, với một số trường hợp lệch trái (Sk> 0) và một số trường hợp lệch phải (Sk< 0) Độ nhọn (Ex) đều có giá trị âm, cho thấy đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn.

Biểu 4.2: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 5

Hệ số biến động (S%) của các lâm phần Bạch đàn ở tuổi 5 dao động từ 17,12% đến 22,74%, cho thấy sự phân hoá về đường kính không lớn Độ lệch (Sk) của đường cong tương đối ổn định với tất cả các trường hợp đều có độ lệch phải (Sk < 0) Ngoài ra, độ nhọn (Ex) của các lâm phần Bạch đàn ở tuổi 5 đều có giá trị âm, cho thấy đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn.

Biểu 4.3: Các đặc trưng mẫu phân bố N-D tuổi 6

Hệ số biến động (S%) trong biểu 4.3 cho thấy sự không ổn định, dao động từ 14,25% đến 24,19%, điều này chỉ ra sự phân hoá lớn về đường kính Độ lệch (Sk) của đường cong tương đối ổn định, với phần lớn các trường hợp lệch phải (Sk< 0) và chỉ có một trường hợp lệch trái (Sk> 0) Độ nhọn (Ex) có giá trị âm, cho thấy đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn.

Hệ số biến động đường kính (S%) ở ba cấp tuổi dao động từ 14,25% đến 24,19%, với chênh lệch S% giữa các ô tiêu chuẩn cùng tuổi không lớn và có xu hướng tăng theo độ tuổi Độ lệch (Sk) của đường cong không ổn định, thể hiện sự lệch trái và phải, nhưng chủ yếu là lệch phải so với giá trị trung bình Độ nhọn của phân bố (Ex) cho thấy đường cong thực nghiệm phẳng hơn so với phân bố chuẩn, với giá trị Ex < 0.

4.1.1.2 Mô phỏng quy luật phân bố số cây theo đường kính

Biểu đồ phân bố thực nghiệm cho thấy các ô tiêu chuẩn N-D chủ yếu có dạng đối xứng, do đó, phân bố Weibull được chọn để mô phỏng Kết quả xác định tham số và kiểm tra mức độ phù hợp của phân bố lý thuyết được trình bày từ biểu 4.4 đến 4.6.

Biểu 4.4: Kết quả nắn phân bố N-D tuổi 4 theo hàm Weibull.

Biểu 4.5: Kết quả nắn phânbố N-D tuổi 5 theo hàm Weibull

Biểu 4.6: Kết quả nắn phânbố N-D tuổi 6 theohàm Weibull

Có 23/27 (chiếm 85,18%) số ô tiêu chuẩn phân bố N/D tuân theo phân bố Weibull Cụ thể, ở tuổi 4 có 6/6 trường hợp, tuổi 5 có 8/9 trường hợp, tuổi

6 có 9/12 trường hợp phân bố lý thuyết phù hợp với phân bố thực nghiệm. Như vậy, phân bố N-D mô tả tốt bằng phân bố Weibull.

Kết quả nghiên cứu này nhất quán với các nghiên cứu trước đây về phân bố N-D trong rừng trồng thuần loài có độ tuổi đồng đều.

Sự phù hợp giữa phân bố lý thuyết với phân bố thực nghiệm được minh hoạ ở hình 4.1

Hình 4.1: Kết quả nắn phân bố N-D bằng hàm Weibull

4.1.2 Phân bố số cây theo chiều cao.

4.1.2.1 Một số đặc trưng mẫu về H

Một số đặc trưng phân bố N-H thực nghiệm được xác định bằng phần mềm Excel Kết quả được tổng hợp ở biểu 4.7 đến biểu 4.9:

Biểu 4.7: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 4

Hệ số biến động (S%) giữa các lâm phần Bạch đàn ở tuổi 4 tương đối ổn định, dao động từ 6,46% đến 8,10%, cho thấy sự phân hoá chiều cao chưa rõ nét Độ lệch (Sk) của đường cong không ổn định, có trường hợp lệch trái (Sk > 0) và lệch phải (Sk < 0) so với giá trị trung bình Độ nhọn (Ex) có thể mang giá trị âm, cho thấy đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn, hoặc giá trị dương, khi đó đường cong phân bố có đỉnh nhọn hơn so với phân bố chuẩn.

Biểu 4.8: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 5

Hệ số biến động (S%) trong các ô tương đối ổn định, dao động từ 8,84% đến 12,34% Độ lệch (S k ) của đường cong không ổn định, với một số trường hợp lệch trái (Sk> 0) và nhiều trường hợp lệch phải (Sk < 0), trong đó có 7 trường hợp mang giá trị âm Độ nhọn (Ex) có ba trường hợp âm, cho thấy đường cong phân bố có đỉnh bẹt hơn so với phân bố chuẩn, trong khi các trường hợp còn lại có giá trị dương, cho thấy đường cong phân bố có đỉnh nhọn hơn.

Biểu 4.9: Các đặc trưng mẫu phân bố N-H tuổi 6

Hệ số biến động (S%) dao động trong khoảng từ 6,02 đến 12,07 Độ lệch (Sk) của đường cong đã ổn định, với tất cả các trường hợp đều có độ lệch phải (Sk < 0) so với giá trị trung bình Độ nhọn của đường cong có thể là âm hoặc dương trong các trường hợp khác nhau.

Các biểu 4.7, 4.8 và 4.9 cho thấy rằng biến động chiều cao (S%) ở các cấp tuổi không có sự thay đổi lớn và có xu hướng tăng dần theo độ tuổi Đường cong phân bố chủ yếu lệch về phía bên phải và có hình dạng bẹt hơn so với phân bố chuẩn (Ex

Ngày đăng: 20/06/2021, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Trọng Bình (1996), Một số phương pháp quá trình sinh trưởng của 3 loài cây thông nhựa, thông đuôi ngựa, mỡ trên cơ sở vận dụng quá trình ngẫu nhiên, Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số phương pháp quá trình sinh trưởng của3 loài cây thông nhựa, thông đuôi ngựa, mỡ trên cơ sở vận dụng quá trìnhngẫu nhiên
Tác giả: Nguyễn Trọng Bình
Năm: 1996
2. Trần Hữu Dào (1993), Phân tích kinh tế các dự án lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp, Tr 17 - 23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh tế các dự án lâm nghiệp
Tác giả: Trần Hữu Dào
Năm: 1993
3. Trần Hữu Dào (1997), Quản lý dự án đầu tư, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, Tr. 34 - 38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý dự án đầu tư
Tác giả: Trần Hữu Dào
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1997
4. Trần Hữu Dào (2001), Đánh giá hiệu quả trồng rừng Quế (Cinnamomun cassia blume) trồng thuần loài ở Việt Nam làm cở sở cho việc đề xuất các giải pháp kinh tế - kỹ thuật để phát triển trồng rừng Quế. Luận án TS khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá hiệu quả trồng rừng Quế (Cinnamomuncassia blume) trồng thuần loài ở Việt Nam làm cở sở cho việc đề xuất các giảipháp kinh tế - kỹ thuật để phát triển trồng rừng Quế
Tác giả: Trần Hữu Dào
Năm: 2001
6. Vũ Tiến Hinh (1987), Xây dựng phương pháp mô phỏng động thái rừng tự nhiên, Thông tin khoa học kỹ thuật lâm nghiệp (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin khoa học kỹ thuật lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1987
7. Vũ Tiến Hinh (1990), “Phương pháp xác đinh nhanh phân bố N-D rừng trồng thuần loài đều tuổi”, Tạp chí lâm nghiệp ( 12), Tr 13 - 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp xác đinh nhanh phân bố N-D rừngtrồng thuần loài đều tuổi”,"Tạp chí lâm nghiệp
Tác giả: Vũ Tiến Hinh
Năm: 1990
8. Vũ Tiến Hinh và các cộng tác (2000), Lập biểu sản lượng Sa mộc, thông đuôi ngựa và Mỡ ở các tỉnh phía Bắc, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập biểu sản lượng Sa mộc, thôngđuôi ngựa và Mỡ ở các tỉnh phía Bắc
Tác giả: Vũ Tiến Hinh và các cộng tác
Năm: 2000
9. Phạm Khắc Hồng - Nguyễn Văn Tuấn (1996), Quản lý doanh nghiệp lâm nghiệp, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội, Tr. 176-177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý doanh nghiệp lâmnghiệp
Tác giả: Phạm Khắc Hồng - Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 1996
10. Trịnh Đức Huy (1988), Dự đoán sản lượng rừng và năng suất gỗ của đất trồng rừng Bồ đề thuần loài đều tuổi vùng trung tâm ẩm Bắc Việt Nam, Luận án PTS khoa học nông nghiệp, Viện khoa học lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự đoán sản lượng rừng và năng suất gỗ của đấttrồng rừng Bồ đề thuần loài đều tuổi vùng trung tâm ẩm Bắc Việt Nam
Tác giả: Trịnh Đức Huy
Năm: 1988
15. Nguyễn Luyện (1993), “Tìm hiểu về cây Bạch đàn E. Urophylla”, Tạp trí Lâm Nghiệp (11), Tr 14 - 15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về cây Bạch đàn E. Urophylla”, "Tạp tríLâm Nghiệp
Tác giả: Nguyễn Luyện
Năm: 1993
16.Vũ Thành Nam (2006), Nghiên cứu cấu trúc và mô phỏng sinh trưởng Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) dòng U 6 và PN 2 trồng thuần loài nhằm đề xuất một số giải pháp kinh doanh có hiệu quả loài cây này tại địa phương.Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu cấu trúc và mô phỏng sinh trưởngBạch đàn (Eucalyptus urophylla) dòng U"6"và PN"2 trồng thuần loài nhằm đềxuất một số giải pháp kinh doanh có hiệu quả loài cây này tại địa phương
Tác giả: Vũ Thành Nam
Năm: 2006
17. Vũ Nhâm (1988), Lập Biểu sản phẩm và biểu thương phẩm cho rừng thông đuôi ngựa (Pinus massoniana.Lamb) kinh doanh gõ mỏ rừng Đông Bắc Việt Nam. Luân án PTS khoa học Nông nghiệp, Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lập Biểu sản phẩm và biểu thương phẩm cho rừngthông đuôi ngựa (Pinus massoniana.Lamb) kinh doanh gõ mỏ rừng ĐôngBắc Việt Nam
Tác giả: Vũ Nhâm
Năm: 1988
18. Nguyễn Dương Tài (1992), Nghiên cứu xuất xứ Bạch đàn (Eucalyptus urophylla), Luận án TS khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xuất xứ Bạch đàn (Eucalyptusurophylla)
Tác giả: Nguyễn Dương Tài
Năm: 1992
19. Tiêu chuẩn ngành (2003), Biểu điều tra kinh doanh rừng trồng của 14 loài cây chủ yếu, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Tr 109- 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biểu điều tra kinh doanh rừng trồng của 14 loàicây chủ yếu
Tác giả: Tiêu chuẩn ngành
Nhà XB: Nhà xuất bản Nông nghiệp
Năm: 2003
20. Đỗ Doãn Triệu (1997), Đánh giá các dự án đầu tư trong trồng rừng trong cơ chế thị trường, Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Tr 11-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá các dự án đầu tư trong trồng rừng trongcơ chế thị trường
Tác giả: Đỗ Doãn Triệu
Năm: 1997
21. Nguyễn Thanh Vân (2003), Đánh giá sinh trưởng Bạch đàn (Eucalyptus urophylla) trồng thuần loài tại Lạng Sơn, Bắc Giang, làm cơ sở chọn loài cây trồng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy công nghiệp cho công ty lâm nông nghiệp Đông Bắc. Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá sinh trưởng Bạch đàn (Eucalyptusurophylla) trồng thuần loài tại Lạng Sơn, Bắc Giang, làm cơ sở chọn loài câytrồng cung cấp gỗ nguyên liệu giấy công nghiệp cho công ty lâm nông nghiệpĐông Bắc
Tác giả: Nguyễn Thanh Vân
Năm: 2003
22. .Phạm Quang Việt (2004), Nghiên cứu tuyển chọn cây trội Bạch đàn (Eucalyptus urophylla ST. Black), Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp, Trường Đại học Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tuyển chọn cây trội Bạch đàn(Eucalyptus urophylla ST. Black)
Tác giả: Phạm Quang Việt
Năm: 2004
5. Đồng Sỹ Hiền (1974), Lập biểu thể tích và biểu độ thon cây đứng cho rừng tự nhiên Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w