Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng; sinhtrưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 và 16 hàng.[38] Trồng rừng dưới tán theo đám hoặc theo băng với cự ly cá
Trang 1Lê Xuân chinh
Đánh giá Tổng hợp và lựa chọn cây trồng bản địa áp dụng cho vùng Đông Bắc tại Trại thực nghiệm trường tCn cơ điện và KTNL đông bắc - hữu lũng - lạng sơn
Chuyên ngành: Lâm học Mã số: 60 62 60
Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Trang 2Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Kim Ngũ
Hà Nội, năm 2008
Trang 3Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp được hoàn thành theo chươngtrình đào tạo cao học khóa 13 tại Trường Đại học Lâm nghiệp.
Có được luận văn này, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâusắc nhất tới các nhà khoa học, các cơ quan, đơn vị đã nhiệt tình giúp đỡ tácgiả Đặc biệt tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đến PGS,TSHoàng Kim Ngũ đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡ tác giả với nhữngchỉ dẫn khoa học quý báu trong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoànthành đề tài
Xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Lâm nghiệp ViệtNam Xuân Mai - Hà Nội, Khoa sau đại học trường Đại học Lâm nghiệp đã tạo
điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt quá trình thực hiện đề tài này
Xin chân thành cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình tạo điều kiệncủa Ban giám hiệu, Trại thực nghiệm, bạn bè đồng nghiệp trong Trường Trungcấp nghề Cơ điện và Kỹ thuật Nông Lâm Đông Bắc đối với tác giả trong quátrình thu thập số liệu ngoại nghiệp và các tài liệu cần thiết khác
Cuối cùng, xin bày tỏ lòng biết ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và ngườithân trong gia đình đã giúp đỡ về vật chất cũng như tinh thần trong suốt quátrình học tập và thực hiện luận văn này
Xin chân thành cảm ơn!
Lạng Sơn, ngày 05 tháng 9 năm 2008
Tác giả
Lê Xuân Chinh
Trang 4liệu và kết quả tính toán trong luận văn này chính xác, trung thực và chưa cótác giả nào công bố; những nội dung tham khảo, trích dẫn trong luận văn đều
được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả luận văn
Lê Xuân Chinh
Trang 5D1.3 : Tăng trưởng đường kính tại vị trí 1,3 m bình quân năm (cm/năm)
HVN : Tăng trưởng chiều cao vút ngọn bình quân năm (m/năm)
HDC : Tăng trưởng chiều cao dưới cành bình quân năm (m/năm)
DT : Tăng trưởng đường kính tán bình quân năm (m/năm)
S2 : Phương sai
S : Sai tiêu chuẩn
S% : Hệ số biến động
T : Cây có chất lượng sinh trưởng tốt
TB : Cây có chất lượng sinh trưởng trung bình
X : Cây có chất lượng sinh trưởng xấu
M : Cây có tính kháng sâu bệnh mạnh
TB : Cây có tính kháng sâu bệnh trung bình
Y : Cây có tính kháng sâu bệnh yếu
Trang 62.1 Một số chỉ tiêu Khí hậu, Thủy văn khu vực Hữu Lũng 142.2 Hiện trạng sử dụng đất rừng của Trại thực nghiệm 163.1 Điều tra sinh trưởng của cây trồng bản địa 243.2 Phân cấp tăng trưởng đường kính ngang ngực cây bản địa 263.3 Phân cấp tăng trưởng chiều cao vút ngọn cây bản địa 263.4 Đánh giá tổng hợp và phân cấp cây trồng bản địa 28
4.2 Đánh giá sinh trưởng đường kính ngang ngực của các loài cây bản địa. 304.3 Đánh giá sinh trưởng chiều cao vút ngọn 334.4 Sinh trưởng đường kính tán của các loài cây bản địa 354.5 Sinh trưởng chiều cao dưới cành của các loài cây bản địa 374.6 Kết quả đánh giá cây trồng bản địa theo hình thái thấn cây và tính
kháng sâu bệnh
39
4.7 Giá trị thị trường hiện nay (gỗ hộp) của 34 loại cây gỗ (đồng/m 3 ) 414.8 Bảng phân cấp gỗ theo khối lượng thể tích 434.9 Phân loại giá trị gỗ theo nhóm thương phẩm 444.10 Hệ thống các tiêu chuẩn và tiêu chí để đánh giá lựa chọn loài cây
bản địa gây trồng tại khu vực nghiên cứu
45
4.11 Bảng đánh giá tổng hợp và phân cấp cây trồng bản địa tại mô hình
rừng mẫu Trại thực nghiệm
46
4.13 Kết quả xếp loại ưu tiên chọn cây trồng cho vùng Đông Bắc 49 4.14 Khả năng sinh trưởng của Lim xanh ở các tuổi khác nhau 514.15 So sánh tốc độ sinh trưởng của Lim xanh với các loài khác ở tuổi 15 524.16 Khả năng sinh trưởng của Dẻ xanh ở các tuổi khác nhau 544.17 Khả năng sinh trưởng của Dẻ cau ở các tuổi khác nhau 56
Trang 74.21 So sánh sinh trưởng của Gội nếp với các loài khác ở tuổi 8 634.22 Khả năng sinh trưởng của Đinh ở các tuổi khác nhau 664.23 Khả năng sinh trưởng của Dẻ đỏ ở các tuổi khác nhau 684.24 Khả năng sinh trưởng của Lim xẹt ở các tuổi khác nhau 704.25 Khả năng sinh trưởng của Kháo vàng ở các tuổi khác nhau 734.26 Khả năng sinh trưởng của Trám trắng ở các tuổi khác nhau 75
Trang 84.1 Cây Lim xanh trồng năm 1993, chụp tháng 8 năm 2008 524.2 Lâm phần phục hồi Lim xanh, chụp tháng 8 năm 2008 52
4.4 Dẻ cau trồng năm 1993, chụp tháng 8 năm 2008 574.5 Dẻ cau trồng hỗn giao với Dẻ đá, Dẻ gai, Lim xanh năm 1993 574.6 Dẻ cau trồng hỗn giao với Dẻ đá, Dẻ gai, Lim xanh năm 1993
Lim xanh và các loài Dẻ chiếm ưu thế tầng vượt tán
57
4.7 Cây Sồi phảng trồng năm 1997, chụp tháng 8 năm 2008 614.8 Cây Sồi phảng trồng năm 1997, hỗn giao theo hàng 614.9 Cây Gội nếp trồng năm 1994, hỗn giao theo hàng 624.10 Gội nếp trồng năm 1994, chụp tháng 8 năm 2008 64
4.12 Đinh trồng năm 1995, chụp tháng 8 năm 2008 664.13 Cây Lim xẹt trồng năm1997, chụp tháng 8 năm 2008 714.14 Cây Trám trắng trồng năm 1996, chụp tháng 8 năm 2008 75
Trang 9Chương 2: Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu 13
Chương 3: Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 21
Trang 103.2.1 Điều tra, đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng trồng cây bản
địa từ năm 1993 đến nay tại Trại thực nghiệm
21
3.2.2 Nghiên cứu, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá và lựa chọn
tập đoàn cây trồng bản địa cho vùng Đông Bắc
3.3.2 Phương pháp điều tra sinh trưởng rừng trồng cây bản địa 22
3.3.3 Xây dựng các hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá 24
4.1 Kết quả điều tra sinh trưởng của cây trồng bản địa tại rừng mẫu 29 4.1.1 Đánh giá sinh trưởng đường kính ngang ngực (D1.3), chiều cao vút
ngọn (H VN ), đường kính tán (D T ) và chiều cao dưới cành (H DC )
4.1.3 Giá trị thị trường, phân cấp gỗ theo khối lượng thể tích và theo
nhóm thương phẩm của 34 loài nghiên cứu
41 4.1.3.1 Giá thị trường của một số loại gỗ (gỗ hộp) 41
Trang 114.2.1 Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và tiêu chí để đánh giá lựa chọ 45 4.2.2 Đề xuất, giới thiệu kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa có
nhiều triển vọng cho trồng rừng vùng Đông Bắc
50
4.2.2.1 Cây Lim xanh (Erythrophloeum fordii) 50 4.2.2.2 Cây Dẻ xanh (Lithocarpus pseudosundaicus Hickel et a camus) 53 4.2.2.3 Cây Dẻ cau (Quercus platycalyx Hickel et a camus) 55 4.2.2.4 Cây Sồi phảng (Pasania cerebrina Hicket et.camus) 58
4.2.2.7 Cây Dẻ đỏ (Lithocarpus ducampii A camus) 67 4.2.2.8 Cây Lim xẹt (Peltophrum dasyrhachis var.) 69 4.2.2.9 Kháo vàng (Machilus odoratissma Ness) 72 4.2.2.10 Cây Trám trắng (Canarium album Raeusch) 74
Trang 12Giải pháp khoa học công nghệ không thể không nhắc đến là chútrọng phát triển các loài cây bản địa rất phong phú và đa dạng về loàilại thích nghi tốt với điều kiện lập địa từng địa phương và có giá trịkinh tế cao, đúng như câu nói “ Đất nào cây ấy” Vì vậy trồng rừngbằng cây bản địa phù hợp với điều kiện sinh thái cụ thể của địa phương
và mục đích kinh doanh là một trong những hướng đi đúng đắn và lâudài của chúng ta, đảm bảo thành công cho sự nghiệp trồng cây gây rừngcủa đất nước
Tập đoàn cây bản địa rất đa dạng và phong phú rất nhiều loài cây
có giá trị về nhiều mặt như: Trám trắng, Lim xanh, Quế, Hồi, Lát hoa…Tuy nhiên việc gây trồng cây bản địa còn gặp nhiều khó khăn do câysinh trưởng chậm, chu kỳ sản xuất dài, đầu tư lớn, hơn nữa chúng tachưa có nhiều kinh nghiệm, kiến thức gây trồng những loài cây này
Vùng Đông Bắc cũng đã có rất nhiều mô hình trồng và nghiêncứu thử nghiệm cây bản địa như: Trung tâm Khoa học sản xuất ĐôngBắc Bộ - Đại Lải, Trung tâm nghiên cứu thực nghiệm Cầu Hai- PhúThọ Tuy nhiên việc nghiên cứu về các cây bản địa còn tản mát, lẻ tẻ
và chưa hoàn chỉnh
Trường trung cấp nghề Cơ điện và Kỹ thuật Nông Lâm Đông Bắc
có diện tích đất tự nhiên 499,95 ha Trong đó đất lâm nghiệp 473,21 ha
Từ năm 1993 đến nay Nhà trường đã trồng được 64,42 ha mô hình rừng hỗn
Trang 13loài cây bản địa như Lim xanh (Erythrophloeum fordii Oliv), Dẻ xanh
(Lithocarpus pseudosundaicus Camus), Lim Xẹt (Peltophorum tonkinense A.Chev), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina Barnett), Trám trắng (Canarium album Raeusch )…với mục tiêu phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và học
tập của cán bộ giáo viên và sinh viên Kết quả bước đầu ở mô hình cho thấycác loài cây này đã tỏ ra sinh trưởng rất tốt
Xuất phát từ các yêu cầu thực tiễn đặt ra, tôi đã lựa chọn đề tàinghiên cứu với tên gọi “Đánh giá tổng hợp và lựa chọn cây trồng bản địa tại Trại thực nghiệm Trường Trung cấp nghề Cơ điện và kỹ thuật Nông Lâm
Đông Bắc - Hữu Lũng - Lạng Sơn”
Kết quả đề tài sẽ góp phần tạo cơ sở khoa học cho việc chọn loạicây trồng phù hợp và đề xuất được một số loài cây bản địa cho trồngrừng vùng Đông Bắc
Trang 14ChƯƠng i Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1.1 Trên thế giới
Trong những năm gần đây, rất nhiều nơi trên thế giới đã và đangnghiên cứu, thử nghiệm và trồng thành công bằng những loài cây bản địa.Trong nhiều loài cây trồng, các cây thuộc chi Paulownia đang được sự quan
tâm của nhiều nước trên thế giới Theo Trần Quang Việt) [34], từ những năm
1960 cùng với phong trào lục hoá đất nước và xây dựng các đai rừng phòng
hộ bảo vệ đồng ruộng, chi Paulownia được tiếp tục nghiên cứu và phát triển ở
Trung Quốc Viện Hàm lâm Lâm nghiệp Trung Quốc (CAF) đã tiến hànhnghiên cứu một cách có hệ thống từ phân loại, đặc tính sinh thái, phân bố đến
kỹ thuật gây trồng và sử dụng các loài cây gỗ trong chi Paulownia.
Theo nguyễn Ngọc Lung (1993), cây Tếch phân bố tự nhiên ở cácnước là ấn Độ, Miến Điện, Thái Lan và Lào Tại Châu á Thái Bình Dươngnhiều nước đã trồng thành công và biến vùng này thành thị trường truyềnthống gỗ Tếch trên thế giới với sản lượng trung bình 4 triệu m3/năm lấy từ gỗ
có đường kính 6 cm trở lên.[15]
Riêng ở Thái Lan tại Hoai Sompoi đã khảo nghiệm 8 xuất xứ của Tếch
và lựa chọn 2 xuất xứ sinh trưởng tốt nhất là:
- Xuất sứ Hoai Sompoi (toạ độ địa lý 180vĩ độ Bắc, 99,550kinh độ Đông)
- Xuất sứ Phayao (toạ độ địa lý 190,03’ vĩ độ Bắc, 99,550 kinh độ
Đông).[36]
Liễu sam (Crytomeria japonica) là một trong những loài cây bản địa
của Nhật Bản, nó đã được trồng từ cây hom từ thế kỷ XV và vào năm 1987.Nhật Bản đã sản xuất 49 triệu cây hom loại này phục vụ trồng rừng Bằng cácdòng chọn lọc, đào thải liên tục lập lại từ khâu khảo nghiệm, chọn lọc, kếtquả gây trồng và tiếp tục chọn lọc nên tới nay Nhật Bản đã chọn được 32
Trang 15dòng vô tính khác nhau phù hợp với yêu cầu cơ bản là: Khả năng rất cao củahom, phạm vi gây trồng rộng, khả năng thích nghi cao.[35]
Dự án xây dựng rừng nhiều tầng ở Malaysia năm 1999 đã giới thiệucách thiết lập mô hình trồng rừng hỗn loài trên 3 đối tượng: Rừng tự nhiên,rừng trồng Keo tai tượng (Acacia magium) 10 – 15 tuổi và 2 – 3 tuổi Dự án
sử dụng 23 loài cây bản địa có giá trị, trồng theo băng 30 m mở ra trong rừng
tự nhiên Trên băng trồng 6 hàng cây bản địa Trồng 14 hàng cây bản địa dướitán rừng Keo tai tượng theo 2 khối thí nghiệm:
Khối A: Mở băng 10 m trồng 3 hàng cây bản địa;
Mở băng 20 m trồng 7 hàng cây bản địa;
Mở băng 40 m trồng15 hàng cây bản địa;
Khối B: Chặt 1 hàng keo trồng 1 hàng cây bản địa;
Chặt 2 hàng keo trồng 2 hàng cây bản địa;
Chặt 4 hàng keo trồng 4 hàng cây bản địa;
Kết quả cho thấy, trong 14 loài cây trồng trong khối A, có 3 loài
S.roxburrghii; S.ovalis; S.leprosun sinh trưởng chiều cao và đường kính tốt
nhất Tỷ lệ sống không khác biệt, sinh trưởng chiều cao cây trồng tốt ở băng
10 m và băng 40 m Băng 20 m không thoả mãn điều kiện sinh trưởng chiềucao Khối B có tỷ lệ sống, sinh trưởng chiều cao tốt khi trồng 1 hàng; sinhtrưởng đường kính tốt cho công thức trồng 6 và 16 hàng.[38]
Trồng rừng dưới tán theo đám hoặc theo băng với cự ly cách đều đã tạo
ra các lâm phần hỗn loài khác nhau trong tự nhiên sau khai thác Theo HoàngVăn Thắng (2002), tại Cote d lvoire phương thức trồng rừng dưới tán này
được thiết lập với các loài cây gỗ như: Hertiera utilis, khaya invorensis, Terminalia invorensi… Sau đó vào những năm 1960 việc trồng rừng đã được
phát triển và mở rộng, nhiều loài cây khác đã được sử dụng vào trồng rừnghỗn loài như: Entandrophragm cylindricum, Terminalia superba, Triplochiton scleroxylon, Thieghenmell heckelli, Acacia auriculiformis,
Trang 16Cassia siamea var Eucalyptus Trong phần lớn các trường hợp, sự kết hợp các
loài cây cho gỗ lớn và loài cây cung cấp gỗ nhỏ làm nguyên liệu Khoảng14.000 ha rừng hỗn loài đã được trồng ở Cute d voire từ năm 1930.[25]
Tại Đài Loan và một số nước Châu á sau khi đã trồng phủ xanh đấttrống đồi núi trọc bằng cây lá kim đã tiến hành gây trồng cây bản địa dưới tánrừng này Kết quả đã tạo ra mô hình rừng hỗn giao bền vững, đạt năng suấtcao, có tác dụng tốt trong việc bảo vệ trống xói mòn đất
Qua nghiên cứu trên cho thấy, cây bản địa đã được rất nhiều tác giảquan tâm Rất nhiều loài cây có giá trị như Tếch, Liễu sam… đã được chọn đểphục vụ trồng rừng, về phương thức trồng cây bản địa được áp dụng là trồngtheo băng, hoặc theo đám, các nghiên cứu về sự ảnh hưởng lẫn nhau khi trồnghỗn giao Tuy nhiên các nghiên cứu trên chưa đưa được biện pháp, kỹ thuậtgây trồng của một số loài cây bản địa
Nghiên cứu cơ sở khoa học chọn loài cây bản địa trồng rừng phòng hộ
đầu nguồn điển hình là công trình của Trần Xuân Thiệp (1997) [26] Theo tácgiả có 2 phương pháp để chọn loài cây bản địa phục vụ công tác trồng rừng
đó là thứ nhất: Bố trí thực nghiệm và thử nghiệm (bán sản xuất) rồi đưa ratrồng rừng; thứ hai: Tổng kết kinh nghiệm gây trồng trong nhân dân để trồngthử nghiệm hoặc đưa ra thành quy trình kỹ thuật Tuy nhiên Nguyễn HoàngNghĩa (1997) [19], lại đưa ra nghịch lý của cây bản địa đó là: Thiếu sự hiểubiết của từng loài cây bản địa cụ thể: Nhu cầu về khí hậu, đất đai, ánh sáng ởcác giai đoạn khác nhau, mối liên hệ giữa các loài trong quần thể đa loài, khả
Trang 17năng tái sinh tự nhiên, khả năng gây trồng, vật hậu…Do đó khó có thể pháttriển cây bản địa trên diện rộng.
Trong nghiên cứu phục hồi rừng tự nhiên, Trần Xuân Thiệp (1997) [26]cho rằng trồng cây bản địa là một quá trình rút ngắn chu trình phát triển rừng
mà theo nhà sinh thái học người Đức Lalle (1980) nếu để tự nhiên có khi đếnhàng trăm năm Nếu rừng bị phá nhưng còn một độ tàn che nào đó, đem trồngcác cây gỗ bản địa dưới tán rừng và làm như vậy đã vượt qua được rất nhiềugiai đoạn diễn thế đi lên mà để tự nhiên phải mất 50 – 70 thậm chí tới 100năm
Năm 1994 [21], trong Hội thảo về “Tăng cường các chương trình trồngrừng ở Việt Nam với sự phối hợp giữa Bộ Lâm nghiệp, Dự án tăng cườngchương trình trồng rừng ở Việt Nam (STRAP) và cơ quan hợp tác quốc tếNhật Bản (JICA)” đã đưa ra khuyến nghị quan trọng là cần có nhiều thông tinhơn về loài cây bản địa để giúp cho các địa phương tham khảo và chọn loàicây phục vụ cho trồng rừng Nhằm đáp ứng được nhu cầu trên, dự án STRAP
đã cùng với Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam thực hiện dự án “Xác địnhcác loài cây bản địa chất lượng cao để trồng rừng ở Việt Nam” Kết quả đã
đưa ra những thông tin có hệ thống và tổng hợp 210 loài cây gỗ chất lượngcao dùng để làm nhà ở và đồ mộc cao cấp Qua đó cũng cho thấy tiềm năngcủa cây bản địa ở từng vùng cũng như trong cả nước rất phong phú nhưng sốloài cây bản địa có kỹ thuật, có mô hình, khả năng trồng rừng còn quá ít Dovậy cần phải đẩy mạnh nghiên cứu thử nghiệm những loài cây còn lại mới cóthể biến tiềm năng thành hiện thực
Trần Quang Việt, Nguyễn Bá Chất khi nghiên cứu đề tài “Xác định cơcấu cây trồng và xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng cho một số loài cây chủyếu phục vụ chương trình 327”, trong 2 năm 1997 – 1998 [16] đã chọn đượctập đoàn cây trồng gồm 70 loài và xây dựng được quy trình, hướng dẫn kỹ
Trang 18thuật cho 20 loài như: Lát hoa (Chukrasia tabularis), Muồng đen (Cassia siamea), Tếch (Tecktona grandis)
Nguyễn Bá Chất (1995) [4] khi nghiên cứu phục hồi rừng Sông Hiếu(1981 – 1985) đã thí nghiệm gây trồng hỗn loài Lát hoa (Chukrasia tabularis) với các loài cây lá rộng bản địa khác: Lim xẹt (P tonkinensis),
Giổi (Michelia sp), Thôi chanh (Evodia bodinieri), Lõi thọ (Gmelina arborea) nhằm tạo cấu trúc hợp lý Theo dõi mô hình rừng hỗn loài đến năm
thứ 10 thấy rõ sinh trưởng rừng Lát hoa hỗn loài tốt hơn rừng Lát hoa thuầnloài … Kiểu cấu trúc rừng Lát hoa hỗn loài có sử dụng lớp thực bì phục hồi tựnhiên đã được tạo lập có nhiều ưu điểm về sinh trưởng và phục hồi đất
Trong báo cáo chuyên đề của cây Huỷnh (Tarrietia javannica Kost),
Bùi Đoàn [33] đã có nhận xét: “Huỷnh được coi là một trong những cây bản
địa chủ yếu trong công tác trồng rừng ở Trung Trung bộ, đặc biệt là ở QuảngBình
Phùng Ngọc Lan (1994) [12], nghiên cứu một số đặc tính sinh thái loàiLim xanh(E fordii) đã xác nhận: vùng phân bố của loài Lim xanh rất rộng và
có mặt hầu hết ở các tỉnh Miền Bắc nước ta (từ đèo Hải Vân trở ra) với độ caophân bố từ 900 m trở xuống ở phía Nam và 500 m trở xuống ở phía Bắc, sinhtrưởng thích hợp ở đồi bát úp, độ dốc nhỏ hơn 200 hoặc ở chân đồi, chân núinơi dốc tụ
Tóm lại: việc gây trồng loài cây bản địa là việc làm đúng đắn và có cơ
sở khoa học, tuy nhiên mỗi loài cây bản địa lại đòi hỏi một môi trường sốngkhác nhau và một biện pháp kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và nuôi dưỡng khácnhau Vì vậy, việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật phù hợp đối với từngloài là việc làm thiết thực trong giai đoạn hiện nay
1.2.2 Các nghiên cứu về cây bản địa để trồng rừng và làm giàu rừng
Lưu Phạm Hoành, Lê Cảnh Nhuệ, Trần Nguyên Giảng… (1960) [28]
đã tiến hành nghiên cứu thử nghiệm và làm giàu rừng bằng những loài cây
Trang 19bản địa như Lim xanh (Erythrophloeum fordii), Chò nâu (Dipterocarpus retusus), Ràng ràng mít (Ormasia balansea), Vạng trứng (Endospermum chinense) … theo phương thức cải tạo chặt trắng, cải tạo theo băng, trồng
dưới tán
Lâm Phúc Cố (1995) [7] khi nghiên cứu một số loài cây bản địa đượcchọn trồng rừng phòng hộ đầu nguồn Sông Đà ở Púng Luông, Mù Căng Chải
đã chọn được 4 loài cây bản địa là: Pơ mu (Fokienia hodginsic Henry et
Thomas), Tô hạp hương (Altingia takhtadjanii), Giổi (Tahama Gioi A Chev)
và cây song mật (Calamus ealusetris) có thể trồng làm giàu rừng theo phương
thức trồng xen dưới tán rừng hay làm giàu rừng theo băng
Chương trình 327 [23] với định hướng trồng rừng phòng hộ theo hướnghỗn loài 500 cây bản địa + 1100 cây phụ trợ Khi thực thi có hơn 60 tỉnh,thành phố có dự án đã trồng rất nhiều mô hình rừng trồng hỗn loài khác nhauvới hơn 70 loài cây
Triệu Việt Hùng (1993) [10] đã nghiên cứu về “Đặc tính sinh vật họccủa một số loài cây làm giàu rừng như: Trám trắng (Canarium album), Lim
xẹt (Peltorphrum tonkinense A.Chev)” có nhận xét: Trong tổ thành rừng tự
nhiên, Trám trắng chỉ đạt trung bình 3,87% về số cây và 6,84% về trữ lượng ôtiêu chuẩn Xét ở trạng thái rừng IIIA1, Trám trắng chiếm tỷ lệ cao hơn so vớiIIIA2 Trong rừng rất hay gặp Trám trắng với một số cây bạn như Kháo vàng(Machilus bosii), Dẻ (Castanopis sp), Lim xẹt (P tonkinense), Hu đay (Trema orientalis), Sau sau (Liquidambar formosana), Xoan ta (Melia azedarach
Linn), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris) , Vối thuốc (Schima wallichii)…
Công trình nghiên cứu làm giàu rừng bằng cây Lim xẹt (P tonkinense)
theo băng trên trạng thái rừng nghèo kiệt sau khi đã khai thác hết các loài cây
gỗ có giá trị ở Nghĩa Đàn (Nghệ An) của Lê Văn Thịnh (2000) [33] đã chothấy sau một năm trồng, tỷ lệ sống đạt 90% Cây sinh trưởng khá, phân hoá
đường kính khá rõ, có 60% số cây có đường kính bằng hoặc lớn hơn đường
Trang 20kính cây trung bình, 30% cây có chiều cao dưới cành bằng 50% chiều cao vútngọn trở lên, hình thân thẳng, sau 20 năm thì cành phát triển mạnh khả năngsinh trưởng chậm lại.
Viện khoa học Lâm nghiệp Việt Nam (2000) [33] khi nghiên cứu cảitạo rừng nghèo kiệt tại Vũ Mễ (Bắc Sơn) và Đồng Hỷ (Thái Nguyên) bằngcách trồng bổ sung 2 loài cây bản địa là Dẻ đỏ (Castanopsis hystrix) và Kháo
vàng (Machilus bosii) theo phương thức trồng theo băng hoặc theo đám Từ
những năm 1972 đến những năm sau 1975, một số lâm trường như Bắc Sơn,
Võ Nhai, Đồng Hỷ đã nhân rộng mô hình trên Tuy nhiên, cho đến nay việc
đánh giá các mô hình này gặp rất nhiều khó khăn vì đã bị tàn phá
Một công trình nghiên cứu khác tại Cầu Hai - Phú Thọ (Viện khoa họcLâm nghiệp Việt Nam) [33] cũng đã đưa cây Lim xẹt (P tonkinense) trồng
theo băng trên thảm cây bụi có chiều cao khoảng 3 m Mở rạch 2m, trồng từcây con có bầu được tạo từ hạt nuôi dưỡng trong vườn ươm 6 tháng tuổi Sau
3 năm tỷ lệ sống đạt xấp xỉ 90%, khả năng sinh trưởng khá, tăng trưởng bìnhquân đạt 2,3 cm/năm về đường kính và 2,0 m/năm về chiều cao Nhưng đếnnăm thứ 4 trở đi thì khả năng sinh trưởng chậm lại Các loài cây tái sinh trongrạch chừa sinh trưởng khá nhanh, vượt chiều cao cây Lim xẹt trồng trongrạch Tán cây trong rạch chừa đã lấn át nên ở giai đoạn 6 – 7 năm tuổi khảnăng sinh trưởng của Lim xẹt kém hẳn Điều này rất phù hợp với đặc điểmsinh thái của Lim xẹt đã được xác định trong nhiều công trình nghiên cứutrước đây Vì cây Lim xẹt là cây ưa sáng do đó không nên trồng làm giàubằng cây Lim xẹt trong rạch khi thảm thực bì phát triển quá nhanh
Cũng tại Cầu Hai – Phú Thọ đã nghiên cứu thử nghiệm trồng cây Limxanh trên 3 trạng thái thực bì khác nhau:
1.Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt có chiều cao lớp thảm tự nhiên3m Trồng Lim xanh trên băng chặt rộng 20,30,40 m; Băng chừa 20m Trênbăng chặt lại tiến hành trồng cốt khí để che phủ đất
Trang 212 Trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt được chặt trắng, đốt dọn sạch,giữ lại cây cỏ phục hồi trong quá trình chăm sóc.
3 Trạng thái đất trống đã có lớp tiên phong phục hồi với chiều cao từ 3– 4m, mở rạch rộng 1,5 m, hàng cách nhau 4 m, cây cách cây 2m
Trần Nguyên Giảng (1985) [33] nhận xét rừng Lim xanh được trồngtheo băng hoặc theo rạch (công thức 1 và công thức 3) có khả năng sinhtrưởng tốt và hình thân đẹp Cây Lim xanh là loài cây không có trục chính,thường ra cành sớm được sự hỗ trợ của băng chừa thu hẹp ánh sáng của băngtrồng, đã hạn chế được cành ngang, làm cho đoạn thân dưới cành có chiều dài
5 -7 m, có cây trên 10m, không bị sâu nấm Cây Lim xanh trồng trên đấttrống (công thức 2), thiếu cây phù trợ nên đã trở thành rừng thuần loài và lộ
rõ nhược điểm: Thân ngắn, cong queo, sâu nấm nhiều
Vi Hồng Khánh (1003) [11] khi đánh giá sinh trưởng cuủa một só loàicây bản địa phục vụ công tác bảo tồn và phát riển rừng ở Cầu Hai – Phú Thọ
đã kết luận: Phần lớn các xuất xứ Lim xanh (E fordii) đều có tỷ lệ sống cao
và sinh trưởng tốt, đồng thời trong 34 loài cây bản địa nghiên cứu đã chọn
được các loài: Lim xanh (E fordii), Re gừng (C zeylanicum), Xoan đào
(Pygeum arboreum), Sồi phảng (Castanopsis cerebrina), Chiêu liêu (Terminalia chebula), Giổi xanh (Michelia mediocris), là những cây mọc
nhanh, phát triển tốt, ít sâu bệnh và có khả năng nhân rộng và phát triển chocác điều kiện lập địa tương tự
Qua nhiều năm nghiên cứu Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam(2000) [33] đã đề xuất trên 100 loài cây bản địa cho các chương trình trồngrừng phục vụ cho cả 3 loại rừng là rừng sản xuất, rừng phòng hộ và rừng đặcdụng Qua quá trình khảo sát, dựa vào các tài liệu đã có và số liệu mới thuthập, 31 loài cây bản địa đã được chọn và có báo cáo chuyên đề cho từng loài.Các loài cây bản địa đó được đánh giá theo 3 mức độ:
Trang 22- Các loài đã được đưa vào sản xuất lớn, diện tích lên đến hàng nghìn
ha, tối thiểu cũng hàng trăm ha, có đủ quy trình quy phạm hướng dẫn kỹ thuậtnhư: Mỡ (Manglietia conifera), Quế(Cinnamomum cassia), Thông đuôi ngựa (Pinus massoniana), …
- Các loài cây đã đưa vào sản xuất với quy mô nhỏ song các mô hìnhrừng trồng đủ lớn để đánh giá như: Lim xẹt (P tonkinense), Lát hoa
(Chukrasia tabularis), Giổi xanh (Michelia mediocris), Dó giấy (Rhamnoneuron balansae)…
- Các loài đã và đang được nghiên cứu, mô hình thực nghiệm nhỏ như:Lim xanh (E fordii), Giẻ đỏ (C hystrix), Kháo vàng (M bosii), Vên vên (Anisoptera costaat)…
1.2.3 Các nghiên cứu về cây bản địa dưới tán rừng trồng
Ngoài các nghiên cứu về cơ sở chọn loài và các nghiên cứu làm giàurừng bằng cây bản địa thì tại Việt Nam còn có rất nhiều nghiên cứu về việctrồng cây bản địa dưới tán rừng trồng thuần loại và đã có những kết quả đángquan tâm như:
Trần Nguyên Giảng (1966) [14] đã nghiên cứu trồng 10 loài cây bản
địa dưới tán rừng Keo lá tràm (A auriculiformis) và Keo tai tượng (A mangium) tại Vườn Quốc gia Cát Bà - Hải Phòng Sau 1 năm trồng, kết quả
bước đầu cho thấy cây bản địa có vẻ thích hợp và sinh trưởng tốt Nhưng đếnnăm 1998 thì mô hình này lại có những kết quả khác nhau: cây bản địa trồngdưới tán rừng Keo lá tràm có tỷ lệ sống cao, sinh trưởng và phát triển tốt,trong khi đó cây bản địa trồng ở rừng Keo tai tượng có tỉ lệ sống thấp, sinhtrưởng, phát triển kém và không có triển vọng Tác giả cho rằng có thể do nhucầu nước của Keo tai tượng trong giai đoạn này lớn và làm cho đất luôn luônkhô cứng nên cây bản địa dưới tán sinh trưởng rất kém
Hoàng Vũ Thơ (1998) [30] khi nghiên cứu ảnh hưởng của một số nhân
tố sinh thái đến sinh trưởng của Lim xanh trồng 5 tuổi dưới tán rừng đã cho
Trang 23thấy sinh trưởng của Lim xanh tốt nhất ở độ tàn che tầng cây cao từ 10 –40%.
Khi nghiên cứu ảnh hưởng một số nhân tố đến sinh trưởng và hình tháicủa cây bản địa trồng dưới tán rừng Keo lá tràm ở Bắc Hải Vân, Phạm ThanhTùng (2006) [32] đã chỉ ra rằng các loài cây bản địa có khả năng sinh trưởngtốt dưới tán rừng Keo lá tràm là Huỷnh (Tarrietia javannica), Dầu rái (Dipterocarpus alatus Roxb), Chò chỉ (Parashorea chinensis), Sao đen (Hopea odorata) 6 cây sung quanh và tầng cây trên ảnh hưởng trực tiếp đến
sinh trưởng của các loài cây bản địa trồng dưới tán
Theo kết quả nghiên cứu của Lại Hữu Hoàn (2004) [8], thì khu vựcTrung Trung Bộ có diện tích rừng trồng cây lá rộng bản địa đến năm 2003 là34.940ha chiếm 16% diện tích rừng trồng trong vùng Trong đó diện tích cácmô hình trồng thử nghiệm dưới tán rừng là 5621ha Qua 1 năm điều tra, tácgiả cũng đã đưa ra đề xuất lựa chọn 18 loài cây trồng rừng phòng hộ và đặcdụng, trong đó có 7 loài có thể đáp ứng được cho nhu cầu trồng rừng kinh tế
Trang 24độ Đông.
- Phía Bắc giáp đội Nà Lim Lâm trường Hữu lũng
- Phía Nam giáp thôn Bến lường xã Minh sơn và sông Thương - Bắc giang
- Phía Đông giáp Lâm trường - Hữu lũng
- Phía Tây giáp Lâm trường Đông sơn - Bắc Giang
2.1.2 Đặc điểm tự nhiên
2.1.2.1 Địa hình, địa thế
Khu vực nghiên cứu là vùng chuyển tiếp giữa trung du và vùng núithấp Độ cao so với mực nước biển 100 -150 m, đỉnh núi cao nhất là đỉnhTông Chinh cao 323,6m; độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang
Đông; Độ dốc bình quân 20-250 Toàn bộ khu vực có 01 suối nhỏ và nhiềukhe cạn có lượng nước chảy ít trong năm
2.1.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn
Thu thập tài liệu khí tượng tại Trung tâm khoa học sản xuất Lâmnghiệp Đông Bắc Bộ, kết quả trung bình 10 năm cho thấy như sau: Bảng 3.1
Trang 25Bảng 2.1 Một số chỉ tiêu Khí hậu, Thủy văn khu vực Hữu Lũng (1995-2005)
(Theo Trạm khí tượng thủy văn Lạng Sơn)
Tháng
Nhiệt độ không khí (0C)
Nhiệt độ mặt đất (0C)
Lượng mưa (mm)
Số ngày mưa
Lượng bốc hơi (mm)
Độ ẩm không khí
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 có số ngày mưa là 94 ngày
so với tổng số mưa cả năm 132 ngày, chiếm 71,2 % Lượng mưa trong mùa là1349,6 mm so với tổng lượng mưa cả năm 1488,2 mm chiếm 90,6%, thángcao nhất có lượng mưa lên tới 279,7 mm (tháng 8) Đây là mùa sinh trưởngcủa cây, do đó khi tiến hành trồng rừng nên trồng khi mùa mưa bắt đầu(tháng 4) để đạt kết quả cao nhất Đây cũng là mùa sinh trưởng của cây bụi,thảm tươi do vậy phải giảm thiểu sự cạnh tranh về dinh dưỡng, khoáng vànước đối với cây trồng bằng cách phát dọn thực bì, thảm tươi
Trang 26- Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Đây là nhữngtháng có lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa Trong 5 tháng mùa khô chỉ có 38ngày mưa, chiếm 28,8% so với tổng số ngày mưa trong cả năm Lượng mưatrong mùa khô rất thấp, chỉ có 138,8 mm bằng 50% lượng mưa của tháng 8279,7 mm, chiếm 18,8% so với tổng lượng mưa cả năm, tháng có lượng mưathấp nhất chỉ có 16,4mm (tháng 1) Đây là mùa cây sinh trưởng và phát triểnchậm, do vậy không nên trồng rừng trong mùa này Trong khâu chăm sócrừng, cần phát dọn sạch thực bì, thảm tươi, cành khô lá rụng để giảm vật liệucháy gây ra nguy cơ cháy rừng.
* Chế độ nhiệt: Nhiệt độ không khí trung bình là: 22,70C Tháng có nhiệt độ caonhất là tháng 7 (28,50C); tháng có nhiệt độ thấp nhất là tháng 1 (150C) Chênhlệch nhiệt độ giữa các tháng trong năm là 13,50C Mùa đông (tháng 12 đến tháng
2 năm sau) nhiệt độ không khí xuống thấp chỉ từ 150C – 17,50C, có sương muốixuất hiện tại khu vực trong mùa này (tháng 1) nên chú ý làm giàn che cho câycon ở vườn ươm Mùa hè, nhiệt độ cũng không quá cao, tháng nóng nhất cũngchỉ có 28,50C Đây cũng là điều kiện thời tiết không quá khắc nghiệt với sự sinhtrưởng và phát triển của cây trồng đặc biệt đối với loài cây bản địa
* Độ ẩm không khí: Khu vực nghiên cứu có độ ẩm không khí tương đối cao
và phân bố tương đối đồng đều giữa các tháng trong năm Độ ẩm không khítrung bình là 82,4%, tháng có độ ẩm bình quân cao nhất là tháng 8 (86,0%),tháng có độ ẩm không khí bình quân thấp nhất là tháng 12 (78,6%), chênhlệch độ ẩm bình quân giữa các tháng trong năm chỉ là 7,4%
Điều kiện khí hậu tại khu vực nghiên cứu khá thuận lợi cho trồng rừng,tuy nhiên cũng cần chú ý một số đặc điểm như sau: mùa mưa bắt đầu từ tháng
4 đến tháng 10 do đó nên trồng rừng vào đầu mùa mưa (tháng 4 đến tháng 7).Trong mùa khô đặc biệt chú ý công tác bảo vệ phòng chống cháy rừng, vìlượng mưa rất thấp nguy cơ xảy ra cháy rừng rất cao, tháng 1 có sương muốixuất hiện tại khu vực nên chú ý làm giàn che cho cây con ở vườn ươm
Trang 272.1.2.3 Đất đai
Tổng diện tích rừng và đất rừng do Trại thực nghiệm quản lý 499,95
ha, trong đó có 25,93 ha là đất xây dựng, còn lại là rừng và đất rừng Hiệntrạng sử dụng đất của nhà trường được thống kê theo bảng sau:
Bảng 2.2: Hiện trạng sử dụng đất rừng của Trại thực nghiệm
Tổng diện tích tự nhiên của Trại thực nghiệm 499,95 100
(Nguồn: Trại thực nghiệm, năm 2007)
Đất đai khu vực nguyên cứu gồm 02 loại đất chính
+ Feralit vàng nhạt phát triển trên đá mẹ Sa phiến thạch sét
+ Feralit vàng đỏ phát triển trên Phiến thạch sét
Các kết quả nguyên cứu cho thấy đất có độ dày trung bình 60 - 70cm, ít
đá lẫn, độ ẩm đất trung bình, độ chua pHKCl từ 3,9 - 4,5 Xen lẫn các giôngnúi là các dải đất chân đồi hẹp được sử dụng làm ruộng một vụ sản xuất nôngnghiệp
Các mẫu đất được lấy và phân tích năm 2001 tại khu vực thí nghiệm
Kết quả phân tích lý tính, hóa tính (xem phụ biểu 01 và 02)
Trang 282.2 Đặc điểm kinh tế xã hội
2.2.1 Dân sinh kinh tế
Dân cư trong khu vực có 215 hộ với 768 người gồm 3 dân tộc Tày,Nùng, Kinh Số hộ là cán bộ, công nhân viên chức của Trường là 54 hộ Cònlại các hộ chủ yếu dựa vào canh tác nông nghiệp và chăn thả gia súc, thu nhậttương đối thấp, bình quân đầu người năm 2007 ước tính đạt mức 300.000
đồng/người/tháng, tình trạng thiếu lương thực diễn ra hàng năm, nhu cầu làmvườn hộ gia tăng, hiện tượng xâm canh còn diễn ra Đây là một trong nhữngyếu tố tác động theo hướng bất lợi đến chất lượng rừng trồng, nhất là hiệntượng chặt cành lấy củi và đào gốc cây làm thay đổi độ tàn che của tán rừng
2.2.2 Cơ sở hạ tầng
Dự án 661 đầu tư nâng cấp 2 đập tràn tạo điều kiện thuận lợi cho ngườidân đi lại Nhà Bảo vệ rừng được xây dựng thành Trung tâm Lâm nghiệpCộng đồng nơi tổ chức sinh hoạt, hội họp và chuyển giao kiến thức cho ngườidân
Bằng nguồn lực đóng góp của người dân và hỗ trợ Nhà trường 100% hộgia đình sử dụng điện thắp sáng phục vụ sinh hoạt và sản xuất Dịch vụ sảnxuất được từng bước mở rộng, đời sống của người dân khu vực được cải thiện.Tuy nhiên hệ thống giao thông còn ngặp nhiều khó khăn nhất là ngày mưa vìphần lớn là đường đất.
2.2.3 Tình hình phát triển lâm nghiệp
Thực hiện chương trình 327 từ năm 1993 – 1998 và chương trình 661
từ năm 1999 đến nay Trại thực nghiệm đã giao khoán bảo vệ rừng
Từ năm 1985 đến nay bằng năng lực thực hành, thực tập; hỗ trợ củachương trình 327; dự án 661 đã trồng và khoanh nuôi phục hồi được trên 206
ha rừng trong đó có 64,42 ha rừng cây mẫu
Rừng phòng hộ với loài cây trồng chính là Keo tai tượng, Thông đuôingựa chất lượng và năng suất rừng tốt
Trang 29Trình độ nhận thức về lâm nghiệp, bảo vệ rừng của người dân trước đâyrất kém Hiện nay do được phổ cập các kiến thức lâm nghiệp, do nhận thức
được lợi ích thiết thực nhiều mặt từ rừng, của phương thức nông lâm kết hợpnên ý thức bảo vệ rừng của người dân ngày càng được nâng cao
2.3 Lịch sử trồng rừng
2.3.1 Trước khi trồng rừng mẫu
Tại khu vực Hữu Lũng – Lạng Sơn trong những năm 60 của thế kỷ 20, nơi
đây đã có những cánh rừng Lim xanh tự nhiên gần như thuần loài, đường kính to
đến 1 – 1,2 m (Phùng Ngọc Lan, 1962) Rất tiếc là con người đã xóa đi những “disản thiên nhiên” quý báu của thảm thực vật cổ xưa Qua khai thác nhiều lần biếnthành trảng cây bụi, trảng cỏ guột Tại đây bắt đầu xuất hiện những loài cây có khảnăng chống lửa cao như Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Thẩu táu (Aporosa sp), sau đó đến tái sinh Sau sau (Liquidamba formosana) và hình thành nên quần
thể rừng sau sau thuần loài, một loài cây rụng lá điển hình ở vùng Đông Bắc ViệtNam Sau sau là loài cây ưa sáng, tán thưa, độ tàn che của rừng khoảng 0,4 – 0,5rất thích hợp cho tái sinh của loài Lim xanh Một thế hệ cây Lim xanh mới đượchình thành dưới tán rừng Sau sau và tham gia vào tổ thành của rừng sau này Ngoài
ra còn có các loài cây hỗn giao lá rộng khác như Kháo (Phoebe sp), Re
(Cinnamomum sp), Dẻ gai (Castanopsis sp), Dẻ đá (Lithocarpus sp) … [ 13]
(Nguồn: Hệ sinh thái rừng tự nhiên Việt Nam - GS,TS Phùng Ngọc Lan chủ biên, 2006)
Khu vực nghiên cứu là rừng Lim xanh gần như thuần loài bị khai phálàm nương trồng sắn nhiều lần trong một thời gian dài, đất đai bị thoái hóa,năng xuất cây trồng thấp rồi được bỏ hóa tự nhiên để trảng cỏ được phục hồitrở thành trảng cỏ cây bụi và trảng cây bụi Từ năm 1993 đến nay thực hiệnchương trình 327 và 661 Trại thực nghiệm đã tiến hành trồng rừng cây bản
địa trên diện tích 64,42 ha với 34 loài cây
* Điều tra bổ sung các nhân tố tự nhiên trước khi trồng:
- Độ cao tương đối tại khu vực trồng rừng từ 35 đến 54 m, độ dốc < 22 độ
Trang 30- Loại đất feralit đỏ vàng phát triển trên phiến thạch sét, thành phần cơgiới của đất thịt trung bình, độ dầy tầng đất từ 46 đến 60 cm, tỉ lệ đá lẫn ít,không có đá nổi.
- Thực bì: Chủ yếu là lau chít, chè vè, cây bụi và có ít tái sinh ưa sángmọc nhanh, độ che phủ của thực bì từ 60 đến 75%
- Tiêu chuẩn cây con:
+ Cây bản địa: Cây con trong bầu (14 x 20 cm), nuôi cấy trong vườn
ươm từ 12 tháng trở lên, cây thẳng, tán đều, không cụt ngọn, không sâu bệnh
Chiều cao cây tối thiểu 70 cm
Đường kính cổ rễ D = 1 – 1,5 cm+ Cây phù trợ: Cây con được gieo tại vườn ươm từ 3 – 4 tháng tuổi,chiều cao bình quân 30 – 40 cm, đường kính cổ rễ từ 0,5 – 0,8cm
- Thời vụ trồng: Xuân - Hè
- Xử lý thực bì: Bằng cách loại bỏ triệt để lau chít, chè vè Sử dụng câytái sinh và những cây bụi cần thiết để tạo sinh cảnh ban đầu thuận lợi cho cây trồng
- Làm đất: Làm đất cục bộ theo băng bậc thang, bề mặt băng 1,5 - 1,7
m, các băng cách nhau 4 m Trên băng cuốc hố trồng cây (cả cây chính và câyphụ trợ)
- Cuốc hố: cuốc hố bằng thủ công, kích thước hố cây trồng chính 50x50 x50 cm, hố cách nhau 4m và được bố trí theo hình nanh sấu giữa các
Trang 31băng với nhau, hố được cuốc trước 1 tháng, bón phân và lấp hố trước khitrồng 15 ngày.
- Thường xuyên kiểm tra phát hiện sâu, bệnh hại
* Bảo vệ rừng: Ngăn chặn sự phá hoại của người và gia súc, kiểm tra ngănchặn cháy rừng
Năm thứ 4 rừng non bước vào khép tán tiến hành chặt tỉa thưa cây phùtrợ đến năm thứ 6 chặt hết cây phù trợ [29]
(Nguồn: Hồ sơ thiết kế trồng rừng cây mẫu từ năm1993 đến năm 2002 của
Trại thực nghiệm)
Trang 32Chương 3 Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Đánh giá tổng hợp và so sánh sinh trưởng của 34 loài câytrồng tại rừng mẫu để tìm ra những loài có triển vọng cho trồng rừng, phụchồi rừng khu vực Đông Bắc
3.2 Nội dung nghiên cứu
3.2.1 Điều tra, đánh giá tình hình sinh trưởng của rừng trồng cây bản địa
từ năm 1993 đến nay tại Trại thực nghiệm
3.2.2 Nghiên cứu, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá và lựa chọn tập
đoàn cây trồng bản địa cho vùng Đông Bắc
Trang 333.2.3 Tổng kết kỹ thuật gây trồng một số loài cây bản địa có nhiều triển vọng trồng rừng cho vùng Đông Bắc
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp luận trong nghiên cứu
Cây trồng phải thích hợp với môi trường sinh thái của loài cây và phảiquán triệt hai nguyên tắc cơ bản là:
- Thích hợp với điều kiện đất đai, khí hậu của vùng trồng cây bản địa
- Phải đáp ứng được mục tiêu kinh tế đặt ra (bao gồm cả mục tiêu chủyếu và mục tiêu kết hợp) coi trọng cả cây mục đích và cây phù trợ phục vụcho các mục tiêu đó
Ngoài ra cây trồng phải có nguồn giống đảm bảo được số lượng và chấtlượng đồng thời cây trồng cũng phải có kỹ thuật hay kinh nghiệm gây trồngnhất định để có thể phát triển rộng rãi một cách chắc chắn
Lựa chọn loài cây trồng có hai phương pháp:
- Tổng kết kinh nghiệm gây trồng trong nhân dân để trồng thử nghiệmhoặc đưa ra thành quy trình kỹ thuật
- Bố trí thực nghiệm và thử nghiệm (bán sản xuất) rồi đưa ra trồng đạitrà
Với đề tài này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên cơ sở của haiphương pháp lựa chọn loài cây trồng trên
3.3.2 Phương pháp điều tra sinh trưởng rừng trồng cây bản địa
3.3.2.1 Điều tra tại hiện trường
- Kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên quan, các tài liệu về điều kiệncơ bản của khu vực nghiên cứu, về kỹ thuật gây trồng các loài cây bản địa
- Sơ thám toàn bộ khu vực nghiên cứu, chọn ra các diện tích điển hình
để lập tuyến điều tra
- Thu thập số liệu sinh trưởng của 34 loài cây ở các tuổi khác nhau(trên cơ sở đã lập tuyến điều tra) trên cùng một điều kiện lập địa
Trang 34* Lập tuyến điều tra: căn cứ vào mật độ trồng, công thức trồng của từng lâmphần để xác định số tuyến điều tra Mỗi lâm phần điều tra chỉ lập ba tuyến ở
vị trí đỉnh, sườn và chân đồi Bố trí tuyến theo các băng bậc thang theo đường
đồng mức, mối tuyên đi điều tra 3 hàng (rộng 12 m dài hết lâm phần), điều tratất cả các cây trồng trên tuyến (cây trên băng bậc thang)
- Điều tra trên tuyến: Nhận xét chung về các đặc điểm, vị trí, độ dốc,hướng dốc độ cao được xác định bằng bản đồ địa hình, độ dốc được xác địnhbằng địa bàn Các chỉ tiêu cần điều tra là:
+ Đo đường kính ngang ngực (D1.3) bằng thước kẹp kính theo hai chiều
Đông tây – Nam bắc rồi tính giá trị trung bình Trường hợp cây lớn quá dùngthước dây đo chu vi sau đó tính ra đường kính Đơn vị tính là cm
+ Đo đường kính tán (DT) bằng thước sào theo hai chiều Đông tây –Nam bắc rồi tính giá trị trung bình Đơn vị tính là m
+ Đo chiều cao vút ngọn (HVN) và chiều cao dưới cành (HDC) bằng sàocao 4 m (có khắc vạch đến cm) và thước Bulây Đơn vị tính là m
* Đánh giá chất lượng cây rừng: Kết hợp với điều tra sinh trưởng để phân loạiphẩm chất cây trồng theo 3 cấp bằng mục trắc:
+ Cây tốt (T): Có thân thẳng đẹp, tròn đầy, tán cây cân đối, không congqueo, không sâu bệnh, sinh trưởng tốt
+ Cây trung bình (TB): Có thân cân đối, tán đều, không cụt ngọn,không cong queo, sinh trưởng bình thường
+ Cây xấu (X): Cây cong queo, sâu bệnh, cụt ngọn, tán lệch, sinhtrưởng kém
* Đánh gía sâu bệnh: Khi tiến hành đo cây xong, đánh giá luôn tình hình sâubệnh bằng mục trắc
Trang 35* Các mẫu biểu điều tra:
Bảng 3.1: Điều tra sinh trưởng của cây trồng bản địa
Độ dốc; Người điều tra;
Phân cấp theo tính kháng sâu bệnh
ĐT NB TB ĐT NB TB ĐT NB TB T TB X M TB Y
3.2.2.2 Xử lý số liệu
* Phân tích tổng hợp
* Sử dụng phần mềm Excel để tính toán số liệu
- Xác định đặc trưng mẫu (Xtb, S2, S, S% ) cho cả 4 nhân tố điều tra:
Với X D1.3 ;H VN;D T;H DC và a là tuổi của lâm phần
3.3.3 Xây dựng các hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá
(1) Phân cấp theo tốc độ sinh trưởng, 3 cấp:
- Nhanh
- Trung bình
- Chậm
Trang 36(2) Phân cấp theo khối lượng thể tích gỗ, 6 nhóm thành 3 cấp: Nặng;Trung bình; Nhẹ [23]
- Cao: Gỗ thuộc nhóm I, nhóm II, nhóm III
- Trung bình: Gỗ thuộc nhóm VI, nhóm V, nhóm VI
- Thấp: Gỗ thuộc nhóm VII, nhóm VIII
(4) Đánh giá tổng hợp các tiêu chuẩn, phân cấp và xếp hạng các loàicây để tìm ra những loài có triển vọng cho trồng rừng, phục hồi rừng
Từ các kết quả tính toán được tiến hành phân cấp và cho điểm các chỉtiêu về đường kính và chiều cao
- Tốc độ tăng trưởng đường kính ngang ngực D1.3 của các cây bản địa
được thể hiện ở bảng sau:
Trang 37Bảng 3.2: Bảng phân cấp tăng trưởng đường kính ngang ngực cây bản địa
Bảng 3.3: Bảng phân cấp tăng trưởng chiều cao vút ngọn cây bản địa
- Cấp 1 (nhanh): ≤1.5 điểm
- Cấp 2 (trung bình): 1.6 – 2.5 điểm
- Cấp 3 (chậm): > 2.5 điểm
* Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn để so sánh và tìm ra những cây có triển vọngnhân rộng
Căn cứ vào các tiêu chuẩn sau:
(1) X1 (Tốc độ sinh trưởng: Cấp 1;2;3 tương ứng với Nhanh; Trungbình; Chậm)
(2) X2 (Giá trị king tế: Cao, nhóm I,II,III; Trung bình, nhóm IV,V,VI;Thấp, nhóm VII,VIII)
(3) X3 (Khả năng thích ứng: Cao, Trung bình, Thấp)
(4) X4 (Tính khắng sâu bệnh: Mạnh, Trung bình, Yếu)
(5) X6 (Hình thái thân cây: Tốt, Trung bình, Xấu)
Trang 38(6) X7 (Khả năng về nguồn giống: Nhiều, Trung bình, ít).
(7) X8 (Mức độ gây trồng: Dễ, Trung bình, Khó)
(8) X5 (Khối lượng thể tích gỗ: Nặng, Trung bình, Nhẹ)
* Phương pháp xác định các tiêu chuẩn để đánh giá tổng hợp
Theo nhiều chuyên gia: Lựa chọn loài cây bản địa trồng phù hợp trướchết cần căn cứ vào tốc độ sinh trưởng, hiệu ích kinh tế, tính thích ứng, tínhkháng sâu bệnh, khả năng cung cấp nguồn giống, tính mỹ quan, khả năngphát huy chức năng sinh thái của loài cây được lựa chọn…Tính thích ứng củaloài cây được thể hiện bởi tính chịu bóng, tính chịu hạn, chịu đất nghèo, khảnăng kháng bệnh, tính mỹ quan và hiệu ích sinh thái… đây cũng là 8 tiêu chíquan trọng làm cơ sở cho việc lựa chọn loài cây trồng Trong đó đánh giá vềhiệu ích sinh thái, tính thích ứng và khả năng gây trồng… được coi là đánhgiá mang tính tổng hợp
Trong 8 tiêu chuẩn đánh giá, mức độ quan trọng không như nhau vì vậycần lựa chọn trọng số cho từng tiêu chuẩn Trọng số của mỗi một tiêu chuẩnphản ánh mức độ quan trọng của tiêu chuẩn đó Trong 8 tiêu chuẩn đánh giáchọn loại cây trồng, trọng số được cho như sau:
Trang 39quan tâm đến tốc độ sinh trưởng và giá trị kinh tế, ngoài ra còn quan tâm đến khảnăng chịu đất khô và nghèo dinh dưỡng, tính mỹ quan và hiệu ích sinh thái…
* Phương pháp đánh giá tổng hợp và phân cấp các loài cây bản địa trồng tạirừng mẫu
Các loài được đánh giá thông qua cho điểm từng tiêu chí các (Xab), Pab
là trọng số của các tiêu chuẩn (cũng là trọng số của các tiêu chí), Yab là trị sốtổng hợp Trị số tổng hợp được xác định như sau:
Yab= Xab/3*PabKết quả đánh giá cho điểm được tổng hợp theo bảng sau:
Bảng 3.4 Bảng đánh giá tổng hợp và phân cấp cây trồng bản địa.
- Giá trị kinh tế : + Cao tương ứng X2 = 3 thì Y2= 3/3 * 0,2
+ Trung bình tương ứng X2 = 2 thì Y2= 2/3 * 0,2+ Thấp tương ứng X2= 1 thì Y2 = 1/3 * 0,2
* Phương pháp phân cấp: Căn cứ vào mức độ cao thấp của trị số tổng hợp (Y)tiến hành phân 4 cấp
Trang 40Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 4.1 Kết quả điều tra sinh trưởng của cây trồng bản địa tại rừng mẫu
- Mô hình rừng cây mẫu tại Trường Trung cấp nghề Cơ điện và Kỹthuật Nông Lâm Đông Bắc được xây dựng từ năm 1993 đến nay Khi trồng đã
sử dụng một cách triệt để lớp cây bụi, thảm tươi, cây tái sinh kết hợp vớitrồng các loài Keo hợp lý Đến nay mô hình rừng cây mẫu đã sưu tập trồnghơn 34 loài thân gỗ trên diện tích 64,42 ha Mô hình này không chỉ làmnhiệm vụ sưu tập, lưu giữ, bảo tồn nguồn thực vật phong phú của vùng màcòn là nơi nghiên cứu khoa học, học tập của học sinh, sinh viên và tiến tớicung cấp nguồn giống để phát triển nguồn giống lâu dài
* Tỷ lệ sống:
Sau hơn 10 năm, đa số các loài cây lá rộng bản địa đều sinh trưởngbình thường đến xanh tốt Trong 34 loài có trong mô hình có tới 29 loài sinhtrưởng bình thường đến xanh tốt (chiếm 85,29%), các loài cây này kết hợpvới những cây tái sinh đã tạo nên một quần thể rừng khá ổn định Còn lại14,71% sinh trưởng kém, sâu bệnh nặng hoặc sinh trưởng phát triển kém dokhí hậu, độ cao và đất đai không thích hợp Đây là tỷ lệ sống và thích nghikhá cao trong việc trồng rừng cây bản địa
* Tuổi cây trồng:
Do tập đoàn cây trồng ở mô hình rừng cây mẫu tiến hành trong nhiềunăm nên tuổi cây trong mô hình là khác nhau, điều này được thể hiện ở bảngsau:
Bảng 4.1: Tuổi cây rừng mẫu nghiên cứu