1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Sử Dụng Thông Tin Trên BCTC Chưa Kiểm Toán

88 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sử Dụng Thông Tin Trên BCTC Chưa Kiểm Toán Để Dự Đoán Ý Kiến Không Phải Ý Kiến Chấp Nhận Toàn Phần Trên BCKIT - Nghiên Cứu Thực Nghiệm Tại Các Công Ty Niêm Yết Tại Việt Nam
Tác giả Lê Thiên Hương
Người hướng dẫn PGS. TS. Trần Thị Giang Tân
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kế toán
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2017
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC (12)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT (18)
    • 2.1 Ý kiến kiểm toán (18)
      • 2.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán (18)
        • 2.1.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính (18)
        • 2.1.1.2 Ý kiến kiểm toán (18)
      • 2.1.2 Các dạng ý kiến kiểm toán (18)
    • 2.2 Báo cáo tài chính và vai trò của báo cáo tài chính (21)
      • 2.2.1 Khái niệm báo cáo tài chính (21)
      • 2.2.2 Vai trò của báo cáo tài chính (21)
    • 2.3 Khái niệm và đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính (22)
      • 2.3.1 Thông tin trên báo tài chính (22)
      • 2.3.2 Đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính (23)
    • 2.4 Tỷ số tài chính (24)
      • 2.4.1 Khái niệm tỷ số tài chính (24)
      • 2.4.2 Các nhóm chỉ số tài chính (24)
    • 2.5 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính (28)
      • 2.5.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động sản xuất (28)
      • 2.5.2 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính. 22 (29)
    • 2.6 Các lý thuyết nền tảng (30)
      • 2.6.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory) (30)
      • 2.6.2 Lý thuyết triển vọng (Prospect theory) (31)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (33)
    • 3.1 Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu (33)
    • 3.2 Phương pháp kiểm định (41)
    • 3.3 Chọn mẫu nghiên cứu (43)
  • CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN (45)
    • 4.1 Thống kê mô tả (45)
      • 4.1.1 Mô tả mẫu quan sát (45)
      • 4.1.2 Mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và các biến độc lập (45)
    • 4.2 Kết quả nghiên cứu mô hình (47)
    • 4.3 Thảo luận về kết quả nghiên cứu (53)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ NGHIÊN CỨU (57)
    • 5.1 Tóm tắt nghiên cứu thực hiện (57)
    • 5.2 Đề xuất kiến nghị dựa vào kết quả nghiên cứu (58)
      • 5.2.1 Đối với người sử dụng thông tin (59)
      • 5.2.2 Đối với Kiểm toán viên (60)
    • 5.3 Ứng dụng của mô hình dự báo vào thực tế (62)
    • 5.4 Những hạn chế và nêu đề xuất cho hướng nghiên cứu sau này (64)
      • 5.4.1 Hạn chế trong nghiên cứu (64)
      • 5.4.2 Đề xuất cho hướng nghiên cứu sau này (65)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (67)
  • PHỤ LỤC (71)

Nội dung

TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC

1.1 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN Ở NƯỚC NGOÀI

Đến nay, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trên toàn cầu về việc sử dụng báo cáo tài chính (BCTC) để dự đoán ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần Trong số đó, nhiều nghiên cứu đã phát triển các mô hình xác định những nhân tố ảnh hưởng đến dự đoán này.

Nghiên cứu của Dopuch và cộng sự (1987) đã xây dựng một mô hình dự đoán YKKT dựa trên các biến tài chính và biến thị trường Mô hình bao gồm năm biến tài chính quan trọng: sự thay đổi tỷ số tổng nợ/tổng tài sản, giá trị sổ sách của tài sản, sự thay đổi tỷ số hàng tồn kho/tổng tài sản, sự thay đổi tỷ số tổng phải thu/tổng tài sản và lãi lỗ năm hiện tại Các biến thị trường được xem xét gồm thời gian niêm yết, mức chênh lệch giữa lợi nhuận công ty và lợi nhuận trung bình ngành, cùng với sự thay đổi hệ số rủi ro beta Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tất cả các biến này đều có vai trò quan trọng trong việc dự đoán YKKT, đặc biệt là biến lỗ năm hiện tại, sự thay đổi tỷ số tổng nợ/tổng tài sản và mức chênh lệch lợi nhuận.

Nghiên cứu của Keasey và cộng sự (1988) sử dụng mô hình hồi quy logistic với 12 biến tài chính và phi tài chính độc lập để phân tích khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần của các công ty quy mô nhỏ Kết quả cho thấy, khả năng này tăng lên khi công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn, số lượng thành viên Hội đồng Quản trị (HĐQT) ít, có ít chủ sở hữu tham gia quản lý, và khi có các khoản vay thế chấp hoặc thời gian giữa ngày kết thúc năm tài chính và ngày ký YKKT kéo dài.

Nghiên cứu của Laitinen và Laitinen (1998) chỉ ra rằng khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần của các công ty quy mô lớn phụ thuộc vào 17 biến tài chính và phi tài chính Kết quả cho thấy các công ty có tỷ lệ tăng trưởng thấp, tỷ số vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản thấp và số lượng nhân viên ít có khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần cao hơn.

Spathis (2003) đã áp dụng phương pháp phân tích hồi quy logistic và hồi quy tuyến tính (OSL regression model) để nghiên cứu tác động của các vụ kiện và yếu tố tài chính đến YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần, với độ chính xác dự đoán đạt 78% Trong một nghiên cứu khác, Spathis và cộng sự đã sử dụng phương pháp phân loại UTADIS, cho thấy các biến tài chính như tỷ số phải thu/doanh thu, tỷ số lợi nhuận/tổng tài sản, vốn lưu chuyển/tổng tài sản và doanh thu/tổng tài sản có khả năng phân biệt YKKT cao nhất Ngoài ra, thông tin về vụ kiện tụng của doanh nghiệp cũng là một yếu tố phi tài chính quan trọng Kết quả cho thấy phương pháp UTADIS có khả năng dự đoán cao nhất với tỷ lệ chính xác đạt 80%.

Nghiên cứu của Caramanis và cộng sự (2006) đã phát triển mô hình dự đoán khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải toàn phần bằng cách kết hợp bốn tỷ số tài chính và một số biến phi tài chính như đặc điểm công ty và phí kiểm toán Sử dụng mô hình hồi quy logistic với cỡ mẫu 185 công ty, kết quả cho thấy mô hình có độ chính xác cao khoảng 90% Các biến quan trọng để dự đoán khả năng nhận ý kiến không phải toàn phần bao gồm tỷ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản và tỷ số tài sản ngắn hạn trên nợ ngắn hạn Cụ thể, công ty có tỷ số lợi nhuận ròng/tổng tài sản và tỷ số tài sản ngắn hạn/nợ ngắn hạn thấp sẽ có khả năng cao hơn trong việc nhận ý kiến kiểm toán không phải toàn phần.

Ahmet Ozcan (2016) đã phát triển một mô hình nghiên cứu về các yếu tố tài chính và phi tài chính ảnh hưởng đến YKKT, sử dụng phương pháp hồi quy logistic Nghiên cứu cho thấy rằng các công ty có tính thanh khoản cao, hoạt động hiệu quả, lợi nhuận lớn và tỷ lệ đòn bẩy tài chính thấp thường nhận được ý kiến chấp nhận toàn phần từ kiểm toán viên Thêm vào đó, thời gian niêm yết dài và tỷ lệ thành viên độc lập cao trong hội đồng quản trị cũng làm tăng khả năng BCTC nhận YKCNTP.

1.2 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC HIỆN Ở TRONG NƯỚC

Các nghiên cứu thực nghiệm về mô hình dự đoán ý kiến kiểm toán viên (KTV) tại Việt Nam còn hạn chế Một nghiên cứu đáng chú ý là luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thiên Tú (2012), phân tích mối quan hệ giữa ý kiến KTV và các tỷ số tài chính của các công ty niêm yết trong giai đoạn 2006 – 2010 Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích phi tham số Kruskall Wallis để xem xét mối tương quan giữa các biến tài chính, bao gồm tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, và các tỷ số khác Kết quả cho thấy bốn biến có khả năng dự đoán tốt ý kiến KTV là tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản, suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ số doanh thu trên tổng tài sản và sự thay đổi tài sản hằng năm trên tổng tài sản năm trước.

Nghiên cứu năm 2013 của học viên cao học Hà Thị Thủy đã phân tích tám biến tài chính, bao gồm tỷ số đòn bẩy tài chính, tỷ số khả năng thanh toán hiện hành, tỷ số khả năng thanh toán nhanh, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu, tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu, tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản, tỷ suất lợi nhuận trước thuế và lãi vay trên doanh thu, cùng với vòng quay hàng tồn kho Ngoài ra, nghiên cứu còn xem xét ba biến phi tài chính, bao gồm ý kiến của kiểm toán năm trước và công ty kiểm toán.

Nghiên cứu đã kiểm tra mối liên hệ giữa các biến phụ thuộc và độc lập trong quy mô công ty được kiểm toán bằng phương pháp Mann - Whitney U và Chi bình phương Sau đó, phương pháp phân tích hồi quy Binary logistic được áp dụng để xây dựng mô hình dự đoán YKKT cho lĩnh vực xây dựng Kết quả cho thấy có bốn biến độc lập có khả năng đóng góp vào mô hình, bao gồm YKKT năm trước, tỷ suất LNST trên doanh thu, tỷ số đòn bẩy tài chính và tỷ suất LNTT trên doanh thu.

1.3 NHẬN XÉT CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Nghiên cứu quốc tế cho thấy các yếu tố tài chính và phi tài chính ảnh hưởng đến khả năng BCTC nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Các tỷ số có tác động tích cực bao gồm mức lỗ trong năm hiện tại, tỷ số tổng nợ/tổng tài sản tăng, tỷ lệ tăng trưởng thấp, và tỷ số VCSH/tổng tài sản thấp Ngược lại, một số tỷ số như sự tăng trưởng đơn vị, tỷ số lợi nhuận ròng/VCSH cao, và tỷ số tổng nợ trên tổng tài sản thấp lại có ảnh hưởng tiêu cực đến YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Ngoài ra, các yếu tố phi tài chính như công ty được kiểm toán bởi CTKT lớn, số lượng thành viên Hội đồng Quản trị ít, và thời gian giữa kết thúc năm tài chính và ngày ký YKKT dài cũng có tác động tích cực đến YKKT này.

Nghiên cứu cho thấy, các công ty có số lượng nhân viên ít, thông tin về vụ kiện tụng, tỷ lệ thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị thấp và thời gian niêm yết ngắn thường gặp nhiều thách thức trong quản lý Hơn nữa, việc kết hợp hợp lý các yếu tố tài chính và phi tài chính đã được chứng minh là cung cấp công cụ hữu ích cho kiểm toán viên và người sử dụng báo cáo tài chính trong việc dự đoán rủi ro trên báo cáo kiểm toán.

Các nghiên cứu trước đây về mô hình dự đoán ý kiến KTV đã phổ biến trên toàn cầu, chủ yếu tập trung vào các mô hình dự đoán YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Tuy nhiên, tại Việt Nam, các nghiên cứu liên quan còn hạn chế và gặp một số vấn đề cần khắc phục.

Một là, các biến nghiên cứu đưa vào mô hình chưa được đa dạng

Hiện nay, các nghiên cứu đồng thời về tỷ số tài chính và phi tài chính còn hạn chế Hơn nữa, những nghiên cứu này thường chỉ tập trung vào một số công ty trong lĩnh vực cụ thể, do đó chưa thể xây dựng được mô hình tổng quát như các nghiên cứu quốc tế đã thực hiện.

Tác giả đã chọn nghiên cứu mô hình kết hợp thông tin tài chính và phi tài chính để dự đoán ý kiến chấp nhận BCTC của các công ty niêm yết tại Việt Nam Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy Binary Logistic, với hy vọng cung cấp công cụ hỗ trợ hiệu quả cho người sử dụng trong việc dự đoán ý kiến của kiểm toán viên Thủ tục này không chỉ giúp đánh giá rủi ro mà còn hỗ trợ lập kế hoạch cho quá trình kiểm toán.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Ý kiến kiểm toán

2.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính và ý kiến kiểm toán

2.1.1.1 Kiểm toán báo cáo tài chính

Kiểm toán BCTC là quá trình mà các kiểm toán viên xác minh tính trung thực, hợp lý và sự tuân thủ các quy định chuẩn mực đối với thông tin trong báo cáo tài chính của các đơn vị được kiểm toán.

Mục đích của kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) là tăng cường độ tin cậy cho người sử dụng thông qua việc kiểm tra và xác nhận rằng BCTC được lập đúng theo các quy định quan trọng Kiểm toán BCTC tuân theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam và các quy định về đạo đức nghề nghiệp, giúp kiểm toán viên hình thành ý kiến kiểm toán chính xác.

2.1.1.2 Ý kiến kiểm toán Ý kiến KTV là kết quả cuối cùng của cuộc kiểm toán, được KTV đưa ra trong BCKiT nhằm xác nhận về tính trung thực và hợp lý cũng như tính tuân thủ chuẩn mực và các quy định pháp luật có liên quan của các BCTC Ý kiến KTV chỉ cung cấp cho người sử dụng BCKiT sự đảm bảo hợp lý và làm gia tăng sự tin cậy của BCTC Do đó, người sử dụng BCKiT không thể cho rằng ý kiến kiểm toán là sự đảm bảo về khả năng DN tồn tại trong tương lai hay đánh giá về năng lực điều hành của bộ máy quản lý DN có hiệu quả hay không 2.1.2 Các dạng ý kiến kiểm toán

Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam: Ý kiến kiểm toán bao gồm các dạng sau:

- Ý kiến chấp nhận toàn phần

- Ý kiến không phải chấp nhận toàn phần

+ Ý kiến kiểm toán trái ngược

+ Ý kiến kiểm toán ngoại trừ

+ Từ chối đưa ra ý kiến

Kiểm toán viên có thể đưa ra ba loại ý kiến kiểm toán khác nhau dựa trên kết quả kiểm tra báo cáo tài chính Ý kiến chấp nhận toàn phần được đưa ra khi báo cáo tài chính phù hợp với khuôn khổ lập và trình bày báo cáo tài chính, theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 700, 2012 Trong khi đó, ý kiến không chấp nhận toàn phần bao gồm ý kiến ngoại trừ và ý kiến trái ngược Ý kiến ngoại trừ được trình bày khi có sai sót trọng yếu nhưng không lan tỏa, hoặc khi không thể thu thập đủ bằng chứng kiểm toán, theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705, 2012 Ngược lại, ý kiến trái ngược được đưa ra khi có các sai sót trọng yếu và lan tỏa ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.

Kiểm toán viên cần từ chối đưa ra ý kiến khi không thể thu thập đủ bằng chứng kiểm toán thích hợp, dẫn đến khả năng ảnh hưởng trọng yếu của sai sót chưa phát hiện đối với báo cáo tài chính Trong những trường hợp hiếm hoi liên quan đến nhiều yếu tố không chắc chắn, kiểm toán viên cũng phải từ chối ý kiến nếu không thể đưa ra kết luận do những ảnh hưởng tương tác của các yếu tố này Nếu kiểm toán viên nhận thấy cần nhấn mạnh một vấn đề quan trọng trong báo cáo tài chính, họ phải thêm đoạn “Vấn đề cần nhấn mạnh” để xác nhận đã thu thập đủ bằng chứng cho vấn đề đó Ngoài ra, nếu có vấn đề khác cần trao đổi để người sử dụng hiểu rõ hơn về cuộc kiểm toán, trách nhiệm của kiểm toán viên hoặc báo cáo kiểm toán, kiểm toán viên phải trình bày vấn đề đó với tiêu đề “Vấn đề khác” hoặc “Các vấn đề khác”.

(Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 706, 2012)

Trong đề tài này, YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần bao gồm: ý kiến ngoại trừ, ý kiến trái ngược và từ chối đưa ra ý kiến

Theo quy định của chuẩn mực kiểm toán Quốc tế:

Theo ISA 700, ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính bao gồm hai dạng chính:

Ý kiến chấp nhận toàn phần (Unqualified opinion) được đưa ra khi báo cáo tài chính (BCTC) không có sai sót trọng yếu, thể hiện sự trung thực và hợp lý, đồng thời tuân thủ các quy định liên quan Ý kiến này có thể kèm theo đoạn nhấn mạnh để làm rõ một vấn đề cụ thể, nhưng không ảnh hưởng đến kết luận kiểm toán.

Ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần (Qualified opinion) được đưa ra khi báo cáo tài chính (BCTC) có sai sót trọng yếu, hoặc khi kiểm toán viên gặp phải giới hạn trong phạm vi kiểm toán, ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán Ngoài ra, sự bất đồng giữa kiểm toán viên và quản lý đơn vị kiểm toán về các vấn đề quan trọng cũng có thể tác động đến kết quả kiểm toán.

Báo cáo tài chính và vai trò của báo cáo tài chính

2.2.1 Khái niệm báo cáo tài chính

Báo cáo tài chính là sự trình bày có hệ thống về thông tin tài chính trong quá khứ, bao gồm các thuyết minh liên quan, nhằm công bố tình hình tài chính và nghĩa vụ của đơn vị tại một thời điểm hoặc trong một khoảng thời gian nhất định, theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 200 Để trở thành công cụ quan trọng trong quản lý kinh tế, báo cáo tài chính cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản.

Báo cáo tài chính cần được lập một cách chính xác và trung thực, tuân thủ mẫu biểu quy định Nó phải có đầy đủ chữ ký của các cá nhân liên quan và được xác nhận bằng dấu của cơ quan, đơn vị để đảm bảo tính pháp lý.

Báo cáo tài chính cần đảm bảo tính nhất quán về nội dung, trình tự và phương pháp lập theo quy định của nhà nước, giúp người dùng dễ dàng so sánh và đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp qua các thời kỳ hoặc giữa các doanh nghiệp khác nhau.

2.2.2 Vai trò của báo cáo tài chính

BCTC đóng vai trò quan trọng trong quản lý doanh nghiệp và hỗ trợ các cơ quan chủ quản cùng những đối tượng liên quan Sự quan trọng này được thể hiện qua nhiều khía cạnh khác nhau.

BCTC đóng vai trò quan trọng trong việc phân tích và nghiên cứu, giúp phát hiện những tiềm năng có sẵn Nó cũng là cơ sở thiết yếu để đưa ra các quyết định liên quan đến quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng như các quyết định đầu tư của chủ sở hữu, nhà đầu tư và các chủ nợ hiện tại và tương lai.

BCTC là báo cáo tổng hợp phản ánh tình hình tài sản, nợ phải trả, nguồn hình thành tài sản, tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ.

BCTC là cơ sở quan trọng để xây dựng kế hoạch kinh tế - kỹ thuật và tài chính của doanh nghiệp, cung cấp dữ liệu khoa học nhằm đề ra các biện pháp xác thực Những biện pháp này giúp tăng cường quản trị doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, cải thiện hiệu quả sản xuất kinh doanh và gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp.

BCTC cung cấp thông tin kinh tế và tài chính quan trọng để đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng tài chính của doanh nghiệp trong kỳ trước Điều này hỗ trợ việc kiểm tra và giám sát tình hình sử dụng vốn cũng như khả năng huy động nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Khái niệm và đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính

DN, người cho vay, các cơ quan quản lý cấp trên và toàn bộ cán bộ, công nhân viên của DN.

2.3 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM THÔNG TIN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH

2.3.1 Thông tin trên báo tài chính

Báo cáo tài chính cung cấp thông tin tài chính và phi tài chính liên quan đến tình hình tài chính, hoạt động kinh doanh và luồng tiền của doanh nghiệp Những thông tin này được trình bày nhằm phục vụ nhu cầu quản lý của doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước, và hỗ trợ người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế hiệu quả.

Những thông tin của một doanh nghiệp được cung cấp từ báo cáo tài chính:

- Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác

- Lãi lỗ và phân chia kết quả kinh doanh

Bản thuyết minh Báo cáo tài chính cần trình bày đầy đủ các thông tin cụ thể để giải thích các chỉ tiêu đã được phản ánh trong báo cáo tài chính tổng hợp Đồng thời, nó cũng nêu rõ các chính sách kế toán đã được áp dụng trong việc ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, cũng như trong quá trình lập và trình bày báo cáo tài chính.

Thông tin trên báo cáo tài chính giúp người sử dụng đánh giá tình hình hoạt động và sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua các tỷ số tài chính Đồng thời, báo cáo cũng cung cấp thông tin phi tài chính quan trọng như chính sách kế toán áp dụng, thay đổi trong chính sách kế toán, cơ cấu tổ chức quản lý, nợ tiềm tàng và cam kết vốn của doanh nghiệp, tất cả đều tuân thủ chuẩn mực kế toán và các quy định pháp luật liên quan.

2.3.2 Đặc điểm thông tin trên báo cáo tài chính

Quan điểm theo chuẩn mực kế toán Việt Nam VAS 01, thông tin bao gồm những đặc điểm:

Thông tin và số liệu kế toán cần được trình bày trung thực, ghi chép và báo cáo dựa trên bằng chứng đầy đủ, khách quan Điều này đảm bảo phản ánh đúng thực tế về hiện trạng, bản chất, nội dung và giá trị của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh.

- Khách quan: các thông tin và số liệu kế toán phải được ghi chép và báo cáo đúng với thực tế, không xuyên tạc, không bị bóp méo

Mọi nghiệp vụ kinh tế và tài chính liên quan đến kỳ kế toán cần được ghi chép và báo cáo một cách đầy đủ, không được bỏ sót bất kỳ thông tin nào.

Thông tin và số liệu kế toán cần được ghi chép và báo cáo một cách kịp thời, đúng hạn hoặc trước thời hạn quy định, nhằm tránh sự chậm trễ trong quá trình xử lý.

Báo cáo tài chính cần trình bày thông tin và số liệu kế toán một cách rõ ràng, dễ hiểu cho người sử dụng có kiến thức trung bình về kinh doanh, kinh tế, tài chính và kế toán Đối với những vấn đề phức tạp, cần có phần thuyết minh để giải thích chi tiết hơn, giúp người đọc nắm bắt thông tin một cách hiệu quả.

Để so sánh thông tin và số liệu kế toán giữa các kỳ trong một doanh nghiệp và giữa các doanh nghiệp, việc tính toán và trình bày cần phải nhất quán Nếu có sự không nhất quán, cần phải giải trình trong phần thuyết minh, giúp người sử dụng báo cáo tài chính có thể so sánh thông tin giữa các kỳ kế toán, giữa các doanh nghiệp, hoặc giữa thông tin thực hiện và thông tin dự toán, kế hoạch.

Tỷ số tài chính

2.4.1 Khái niệm tỷ số tài chính

Hoạt động tài chính và sản xuất kinh doanh có mối quan hệ chặt chẽ, với tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh ảnh hưởng đến tình hình tài chính của doanh nghiệp Tình hình tài chính tốt hay xấu có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm quá trình sản xuất Do đó, phân tích tình hình tài chính rất quan trọng cho cả chủ doanh nghiệp và các bên liên quan Tỷ số tài chính là công cụ hữu ích cho các nhà phân tích và kiểm toán viên trong việc đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

Có bốn nhóm chỉ số tài chính chủ yếu:

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng thanh khoản

- Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính

- Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động

- Nhóm chỉ tiêu về khả năng sinh lời (tăng trưởng)

Khả năng thanh khoản là năng lực tài chính của doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu thanh toán nợ đúng hạn Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các tỷ số tài chính quan trọng như tỷ số thanh toán nhanh, tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ số thanh toán tiền mặt, và tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản.

Các nhà phân tích thường sử dụng tỷ số thanh toán nhanh và tỷ số thanh toán hiện hành để đánh giá khả năng thanh khoản của doanh nghiệp Cách tính toán các tỷ số tài chính này được trình bày chi tiết trong phụ lục 3.

- Tỷ số thanh toán hiện hành (Current ratio)

Tỷ số thanh toán hiện hành cho biết khả năng của công ty trong việc sử dụng các tài sản ngắn hạn như tiền mặt, hàng tồn kho và các khoản phải thu để chi trả nợ ngắn hạn Tỷ số này càng cao, chứng tỏ công ty có khả năng hoàn trả nợ tốt hơn Nếu tỷ số thanh toán hiện hành nhỏ hơn 1, điều này có thể cho thấy rủi ro trong việc thanh toán các khoản nợ ngắn hạn.

Công ty đang đối mặt với tình trạng tài chính tiêu cực, có khả năng không thể thanh toán các khoản nợ khi đến hạn Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc công ty sẽ phá sản, vì vẫn còn nhiều cách để huy động vốn Ngược lại, nếu tỷ số nợ quá cao cũng không phải là dấu hiệu tích cực, vì điều này cho thấy doanh nghiệp đang sử dụng tài sản một cách kém hiệu quả.

- Tỷ số thanh toán nhanh (Quick ratio)

Tỷ số thanh toán nhanh đánh giá khả năng của công ty trong việc sử dụng tài sản ngắn hạn để thanh toán các khoản nợ ngắn hạn mà không cần bán hàng tồn kho Tỷ số này cung cấp cái nhìn chính xác hơn so với tỷ số thanh toán hiện hành Nếu tỷ số thanh toán nhanh dưới 1, công ty có thể gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ ngắn hạn và cần được xem xét kỹ lưỡng Hơn nữa, nếu tỷ số này thấp hơn nhiều so với tỷ số thanh toán hiện hành, điều đó cho thấy doanh nghiệp quá phụ thuộc vào hàng tồn kho để đảm bảo tài sản ngắn hạn.

Nhóm chỉ tiêu về cơ cấu tài chính đóng vai trò như một chính sách tài chính, sử dụng các khoản nợ vay để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp Các phép đo đòn bẩy tài chính giúp xác định khả năng thanh toán của doanh nghiệp Nhóm chỉ tiêu này bao gồm các tỷ số tài chính quan trọng như hệ số nợ (tỷ số nợ trên tổng tài sản) và tỷ số khả năng trả nợ.

Tổng số nợ bao gồm nợ ngắn hạn và nợ dài hạn phải trả, với tỷ số nợ thấp được chủ nợ ưa chuộng vì cho thấy khả năng trả nợ cao hơn Ngược lại, cổ đông lại mong muốn tỷ số nợ cao để tăng khả năng sinh lợi Để đánh giá tỷ số nợ là cao hay thấp, cần so sánh với tỷ số nợ trung bình của ngành.

Tỷ số nợ thấp mang lại sự bảo vệ cao hơn cho các chủ nợ khi doanh nghiệp gặp khó khăn và phải thanh lý tài sản trong trường hợp phá sản.

Tỷ số nợ phụ thuộc rất nhiều yếu tố: loại hình doanh nghiệp, quy mô của doanh nghiệp, lĩnh vực hoạt động, mục đích vay

Nhóm chỉ tiêu về hiệu quả hoạt động bao gồm các tỷ số tài chính quan trọng để đánh giá khả năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp, cũng như tình hình sử dụng tài sản Một số tỷ số đáng chú ý là hệ số vòng quay hàng tồn kho, hệ số vòng quay các khoản phải thu, và hệ số vòng quay tổng tài sản Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào hệ số vòng quay tổng tài sản (tỷ số doanh thu trên tổng tài sản) và tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu để phân tích hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

- Hệ số vòng quay tổng tài sản (Asset Turnover Ratio)

Hệ số vòng quay tổng tài sản là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng tài sản của công ty Chỉ số này cho phép chúng ta xác định doanh thu được tạo ra từ mỗi đồng tài sản, từ đó giúp cải thiện chiến lược quản lý tài sản và tối ưu hóa hiệu suất kinh doanh.

Hệ số vòng quay tổng tài sản cao cho thấy công ty sử dụng tài sản một cách hiệu quả trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.

Để đưa ra kết luận chính xác về hiệu quả sử dụng tài sản của một công ty, cần phải so sánh hệ số vòng quay tài sản của công ty đó với hệ số vòng quay tài sản trung bình của ngành.

- Tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu

Tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của công ty Chỉ số này cho biết mỗi đồng vốn đầu tư tạo ra bao nhiêu doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh Tỷ số càng cao chứng tỏ việc sử dụng vốn trong các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp càng hiệu quả.

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản mà doanh nghiệp sở hữu Phân tích nhóm chỉ tiêu này giúp đánh giá hiệu quả tài chính của doanh nghiệp thông qua các tỷ số phổ biến như tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận gộp và tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (ROE).

- Tỷ suất sinh lời trên tài sản (ROA)

Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính

2.5.1 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 705, kiểm toán viên và kiểm toán trưởng sẽ đưa ra ý kiến không hoàn toàn chấp nhận nếu báo cáo tài chính sau kiểm toán không phản ánh trung thực và hợp lý về tình hình tài chính của đơn vị, cũng như không tuân thủ các chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành tại Việt Nam.

Trong nền kinh tế khó khăn, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng đáng kể, buộc họ phải điều chỉnh chiến lược, quy mô và vấn đề tài chính Đối với các công ty niêm yết, áp lực đạt chỉ tiêu lợi nhuận có thể dẫn đến việc sử dụng thủ thuật "làm đẹp" báo cáo tài chính để ổn định giá cổ phiếu và thu hút vốn từ cổ đông Vì vậy, kiểm toán viên cần xem xét kỹ lưỡng áp lực mà các công ty đang gặp phải và ảnh hưởng của nó đến tình hình hoạt động kinh doanh để đưa ra nhận định chính xác.

Thủ tục phân tích là công cụ hữu ích giúp KTV thu thập bằng chứng kiểm toán và đưa ra kết luận phù hợp, giảm thiểu rủi ro kiểm toán cho các công ty kiểm toán Việt Nam Phân tích tình hình hoạt động của công ty là một quy trình đơn giản, tiết kiệm thời gian và chi phí, giúp KTV và các công ty kiểm toán thực hiện kiểm toán một cách khoa học và hiệu quả.

Theo VSA 520, thủ tục phân tích là quá trình đánh giá thông tin tài chính thông qua việc phân tích các mối quan hệ hợp lý giữa dữ liệu tài chính và phi tài chính.

Quá trình đánh giá thông tin tài chính bao gồm việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính, cũng như so sánh số liệu trên sổ sách với ước tính của kiểm toán viên (KTV) KTV sẽ phân tích các biến động và mối quan hệ không nhất quán với thông tin liên quan khác, đồng thời xem xét sự chênh lệch đáng kể so với giá trị dự tính, dựa trên ảnh hưởng của các yếu tố môi trường kinh doanh đến hoạt động của doanh nghiệp.

Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong cả ba giai đoạn của kiểm toán BCTC Trong giai đoạn lập kế hoạch, kiểm toán viên (KTV) sử dụng phân tích này để đánh giá rủi ro và xác định các rủi ro có sai sót trọng yếu Trong giai đoạn thực hiện, KTV áp dụng phân tích để xử lý các rủi ro đã xác định Cuối cùng, trong giai đoạn kết thúc kiểm toán, KTV tiếp tục sử dụng phương pháp này để đánh giá sự biến động của các khoản mục trên BCTC, nhằm đảm bảo tính nhất quán với hiểu biết của mình và đưa ra kết luận cuối cùng.

Tình hình hoạt động của doanh nghiệp được kiểm toán viên (KTV) đánh giá thông qua thông tin tài chính và phi tài chính trên báo cáo tài chính (BCTC) Thủ tục phân tích đóng vai trò quan trọng trong việc xem xét của KTV trong suốt quá trình kiểm toán và đưa ra ý kiến kiểm toán.

2.5.2 Mối quan hệ giữa ý kiến kiểm toán và thông tin trên báo cáo tài chính

Mối quan hệ giữa thông tin tài chính, đặc biệt là tỷ số tài chính, và các yếu tố phi tài chính có ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Hệ thống các nhóm nhân tố tài chính là nền tảng quan trọng trong phân tích tài chính, được sử dụng bởi các nhà phân tích và kiểm toán viên Phân tích thông tin từ báo cáo tài chính cung cấp cái nhìn tổng quan về hoạt động của doanh nghiệp, giúp đánh giá cấu trúc tài chính, khả năng thanh toán và hiệu quả hoạt động, từ đó hỗ trợ nhà quản trị đưa ra quyết định chính xác Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh điều này.

Các lý thuyết nền tảng

Một số lý thuyết cơ bản như lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết triển vọng có thể được áp dụng để giải thích việc sử dụng thông tin từ báo cáo tài chính (BCTC) trong việc dự đoán ý kiến của kiểm toán viên (KTV).

2.6.1 Lý thuyết ủy nhiệm (Agency theory)

Lý thuyết đại diện, được xây dựng bởi Ross (1973) và phát triển bởi Jensen & Meckling (1976), nghiên cứu mối quan hệ giữa bên ủy nhiệm (cổ đông) và bên được ủy nhiệm (nhà quản lý) thông qua hợp đồng Bên được ủy nhiệm thực hiện các công việc để đại diện cho bên ủy nhiệm, trong đó nhà quản lý được thuê bởi cổ đông nhằm kiểm soát và ra quyết định tối ưu hóa lợi ích cho cổ đông trong công ty cổ phần.

Lý thuyết ủy nhiệm chỉ ra rằng cổ đông và nhà quản lý đều có mục tiêu tối đa hóa lợi ích cá nhân, nhưng xung đột lợi ích có thể phát sinh khi nhà quản lý đưa ra quyết định chỉ vì lợi ích của bản thân, bỏ qua lợi ích của cổ đông (Jensen và Meckling, 1976) Sự bất đồng này thường rõ nét ở các công ty lớn (Gayle và Miller, 2009), nơi nhà quản lý với kiến thức chuyên môn có thể lợi dụng chủ sở hữu khi giám sát không hiệu quả (Miller và Sardais, 2011) Do đó, cần thiết phải thiết lập hệ thống giám sát hiệu quả để bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đảm bảo thông tin từ nhà quản lý là đáng tin cậy Một số phương pháp giám sát bao gồm tăng cường số lượng thành viên độc lập trong Hội đồng Quản trị (Nicholson và Kiel, 2007) và yêu cầu kiểm toán báo cáo tài chính (BCTC) để nâng cao độ tin cậy và hạn chế lạm quyền của nhà quản lý (Arnold & Lange, 2004) Kiểm toán BCTC không chỉ giúp giảm thiểu chi phí ủy nhiệm mà còn cho phép kiểm toán viên phát hiện các hành vi sai lệch của nhà quản lý, đặc biệt khi BCTC không phản ánh trung thực và hợp lý, dẫn đến việc kiểm toán viên đưa ra ý kiến không chấp nhận toàn phần.

2.6.2 Lý thuyết triển vọng (Prospect theory)

Lý thuyết hành vi kinh tế, được phát triển bởi Daniel Kahneman và Amos Tversky vào năm 1979 và 1992, giải thích cách con người đưa ra quyết định khi đối mặt với rủi ro Theo lý thuyết này, khi đối diện với rủi ro, cá nhân có xu hướng ưu tiên bù đắp các khoản lỗ thay vì tìm kiếm lợi nhuận tối đa Cụ thể, khi khoản đầu tư có khả năng mang lại lợi nhuận cao, họ thường chọn giữ lợi nhuận hiện tại thay vì tiếp tục đầu tư Ngược lại, nếu khoản đầu tư có khả năng thua lỗ, họ sẽ cố gắng duy trì để hy vọng bù đắp khoản lỗ, mặc dù rủi ro thua lỗ cao hơn Lý thuyết này cũng chỉ ra rằng người sử dụng báo cáo tài chính thường dự đoán rủi ro liên quan đến đầu tư để đưa ra quyết định, do đó họ quan tâm đến yếu tố không chắc chắn hơn là chấp nhận toàn phần.

Bài viết nhấn mạnh tầm quan trọng của BCKiT trong việc hỗ trợ người sử dụng đưa ra quyết định và dự đoán YKKT Lý thuyết ủy nhiệm làm rõ vai trò của kiểm toán và sản phẩm kiểm toán, như báo cáo kiểm toán, trong việc giám sát hành vi của nhà quản lý và đảm bảo thông tin BCTC phản ánh trung thực Người sử dụng BCTC, đặc biệt là trong việc đánh giá YKKT, không chỉ tìm kiếm ý kiến chấp nhận toàn phần mà còn quan tâm đến các tỷ số tài chính và thông tin phi tài chính để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp Tầm quan trọng này tạo nền tảng cho mô hình nghiên cứu liên quan đến tỷ số tài chính và thông tin bổ sung.

Bài viết tóm tắt lý thuyết về YKKT và phân tích hai lý thuyết nền tảng là lý thuyết ủy nhiệm và lý thuyết triển vọng, nhấn mạnh tầm quan trọng của cơ chế giám sát thông qua kiểm toán BCTC và ý nghĩa của YKKT đối với người sử dụng BCKiT Ngoài ra, mô hình kết hợp thông tin tài chính và phi tài chính sẽ cung cấp một mô hình dự đoán ý kiến KTV hiệu quả.

Trong chương tiếp theo, tác giả sẽ phát triển giả thuyết và mô hình nghiên cứu phù hợp, đồng thời xem xét tổng thể các chỉ số tài chính và phi tài chính để tích hợp vào mô hình.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên cứu

Các nghiên cứu toàn cầu đã chỉ ra rằng thông tin tài chính và phi tài chính có thể dự đoán khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Kết quả nghiên cứu cho thấy hai nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến khả năng này: nhóm nhân tố tài chính, bao gồm các chỉ số như công ty lỗ năm hiện tại, chênh lệch lợi nhuận so với trung bình ngành, và tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản cao, làm tăng khả năng nhận ý kiến không chấp nhận toàn phần Ngoài ra, mối quan hệ ngược chiều giữa các tỷ số tài chính và khả năng này cũng được xác định, chẳng hạn như tỷ số lợi nhuận cao và tỷ lệ nợ thấp Nhóm nhân tố phi tài chính cũng đóng vai trò quan trọng, với các yếu tố như công ty được kiểm toán bởi các công ty kiểm toán lớn, số lượng thành viên Hội đồng Quản trị ít, và thời gian giữa ngày kết thúc năm tài chính và ngày ký ý kiến kiểm toán dài, làm tăng khả năng nhận ý kiến không chấp nhận toàn phần.

Nghiên cứu của Nguyễn Thiên Tú (2012) cho thấy các biến như tỷ số vốn lưu chuyển trên tổng tài sản, tỷ số doanh thu trên tổng tài sản, ROA, và sự thay đổi tài sản hằng năm trên tổng tài sản năm trước có khả năng dự đoán tốt trong mô hình Bên cạnh đó, nghiên cứu của Hà Thị Thủy (2013) đã xác định bốn biến quan trọng trong mô hình dự đoán, bao gồm YKKT năm trước, tỷ suất lợi nhuận sau thuế trên doanh thu, tỷ số đòn bẩy tài chính, và tỷ suất lợi nhuận trước thuế trên doanh thu.

Trong nghiên cứu này, tác giả dựa vào nghiên cứu nền của Ahmet Ozcan để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc dự đoán YKKT.

Nghiên cứu này kết hợp các yếu tố từ các nghiên cứu trước đây của Caramanis và cộng sự (2006), Spathis và cộng sự (2003) cùng Keasey và cộng sự (1988) Nhóm nhân tố tài chính bao gồm khả năng thanh khoản, cơ cấu tài sản, khả năng hoạt động và khả năng sinh lời, trong khi nhóm nhân tố phi tài chính bao gồm thời gian niêm yết và quy mô hội đồng quản trị Biến phụ thuộc trong nghiên cứu là "Ý kiến kiểm toán", được mã hóa thành hai giá trị: YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần là 1, còn YKKT là ý kiến chấp nhận toàn phần là 0.

Trong chương 2, tác giả phân tích ý nghĩa của các tỷ số tài chính, được chia thành 4 nhóm nhân tố chính để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Quyết định lựa chọn các biến tỷ số tài chính cho mô hình nghiên cứu dựa trên những tiêu chí cụ thể.

Các biến này đã được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu trước đây và chứng minh rằng chúng có tác động đến việc hình thành ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần.

Thứ hai, các biến này có thể được đo lường và tính toán dễ dàng dựa vào các thông tin trên BCTC của các công ty niêm yết

Các biến tài chính phổ biến cần phải phản ánh một cách tổng quát nhất về tình hình đánh giá của các công ty niêm yết trong các ngành khác nhau tại Việt Nam.

Khả năng thanh khoản của công ty được đánh giá qua tỷ số thanh toán nhanh (T1) và tỷ số thanh toán hiện hành (T2) Nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016) cho thấy các công ty nhận YKCNTP có tỷ số thanh toán nhanh và tỷ số thanh toán hiện hành cao hơn so với các công ty nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần.

Biến tỷ số thanh toán nhanh (T1) và tỷ số thanh toán hiện hành (T2) dự kiến có mối quan hệ nghịch biến với khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Do đó, giả thuyết được đề xuất như sau:

H1: Các công ty có khả năng thanh khoản thấp thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ càng cao

Cơ cấu tài chính được đo lường bằng tỷ số giữa Nợ trên Tổng tài sản (T3)

Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp (DN) phản ánh việc sử dụng vốn vay hay vốn chủ sở hữu (VCSH) để tài trợ cho hoạt động Tỷ số nợ trên tổng tài sản (T3) cao cho thấy DN phụ thuộc nhiều vào nguồn tài trợ bên ngoài thay vì VCSH Nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016) chỉ ra rằng tỷ số nợ cao làm tăng khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần Tương tự, Caramanis và cộng sự (2006) cũng cho rằng tỷ lệ tài trợ bên ngoài cao có liên quan đến việc gia tăng khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần.

Tỷ số nợ trên tổng tài sản (T3) được kỳ vọng có mối quan hệ thuận với khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần Do đó, giả thuyết được đưa ra là mối liên hệ này sẽ ảnh hưởng đến kết quả kiểm toán.

H2: Các công ty có tỷ số nợ trên tổng TS càng cao thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ càng cao

Để đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, chúng ta sử dụng tỷ số doanh thu trên tổng tài sản (T4) và tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu (T5) Nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016) cho thấy các công ty có tỷ số doanh thu/tổng tài sản và vòng quay vốn chủ sở hữu thấp thường nhận được ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần cao hơn Tương tự, nghiên cứu của Spathis và các cộng sự (2003) cũng xác nhận kết luận này.

Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản (T4) và tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu (T5) được kỳ vọng có mối quan hệ nghịch chiều với khả năng nhận ý kiến kiểm toán không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần Điều này dẫn đến giả thuyết rằng khi T4 và T5 tăng, khả năng nhận ý kiến kiểm toán không chấp nhận toàn phần sẽ giảm.

H3: Các công ty có hiệu quả hoạt động càng thấp thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần càng cao

Khả năng sinh lời của doanh nghiệp được đo lường qua suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số biên lợi nhuận gộp Nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016) cho thấy các công ty nhận YKCNTP có khả năng sinh lời cao hơn, với ROA, ROE và hệ số biên lợi nhuận gộp vượt trội so với các công ty nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần.

Tỷ số suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số biên lợi nhuận gộp được kỳ vọng có mối quan hệ nghịch biến với khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không phải chấp nhận toàn phần Do đó, giả thuyết được đặt ra là sự giảm sút của các chỉ số này sẽ liên quan đến khả năng nhận được ý kiến kiểm toán không thuận lợi.

H4: Các công ty có khả năng sinh lời thấp thì khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần sẽ càng cao

- Nhóm nhân tố phi tài chính

Phương pháp kiểm định

Trong các nghiên cứu xây dựng mô hình dự đoán, nhiều phương pháp kiểm định đã được áp dụng, mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và nhược điểm riêng Sự lựa chọn phương pháp phụ thuộc vào đặc điểm của các biến được chọn và các giả định cần thỏa mãn trong mẫu nghiên cứu.

Các phương pháp nghiên cứu trước đây chủ yếu bao gồm: phương pháp phân tích phân loại đa tiêu chí UTADIS và phương pháp Logit của Spathis và cộng sự (2003), phân tích biệt số (Discriminant Analysis) của Alpaslan Yasar và cộng sự (2015), phân tích Probit (mô hình xác suất đơn vị) của Dopuch và cộng sự (1987), cùng với phân tích hồi quy Logistic đa thức (Multinomial logistic regression) của Keasey và cộng sự.

(1988) và Laitinen (1998), phân tích hồi quy Logistic của Caramanis và cộng sự

Nghiên cứu của Spathis và các cộng sự đã áp dụng nhiều phương pháp, bao gồm cả thống kê truyền thống và hiện đại UTADIS, để so sánh và tìm ra phương pháp tối ưu với khả năng dự đoán cao nhất Kết quả cho thấy phương pháp phân loại đa tiêu chí UTADIS hiện đại mang lại hiệu quả dự đoán tốt nhất.

Năm 2015, nhiều phương pháp phân tích như hồi quy Logistic, phân tích biệt số và Data Mining đã được áp dụng để phát triển các mô hình dự đoán khác nhau, với mục tiêu tìm ra mô hình có khả năng dự đoán tốt nhất.

Mặc dù một số nghiên cứu trước đây cho thấy phương pháp phân loại đa tiêu chí UTADIS và phân tích biệt số có thể mang lại kết quả dự đoán tốt hơn so với các phương pháp thống kê truyền thống, việc áp dụng các phương pháp hiện đại này đòi hỏi một mẫu khảo sát chất lượng cao và thời gian đầu tư đáng kể để chọn mẫu phân tích phù hợp Ngoài ra, việc lựa chọn phương pháp kiểm định cũng cần phải dựa vào đặc điểm của các biến nghiên cứu Vì vậy, trong nghiên cứu này, tác giả sẽ áp dụng phương pháp hồi quy Logistic, tương tự như nghiên cứu của Ahmet Ozcan (2016), để thực hiện phân tích một cách phổ biến hơn.

Biến phụ thuộc “Ý kiến kiểm toán” có dạng nhị phân với hai biểu hiện Hồi quy Binary Logistic được sử dụng để ước lượng xác suất xảy ra của sự kiện (YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần) dựa trên các thông tin từ biến độc lập.

Khi sử dụng phương pháp phân tích Binary Logistic, ta cần lưu ý một số yêu cầu như sau:

Hồi quy Logistic yêu cầu đánh giá mức độ phù hợp của mô hình thông qua tiêu chí -2LL (-2 log likelihood), trong đó giá trị -2LL nhỏ hơn thể hiện độ phù hợp cao hơn Ngoài ra, mức ý nghĩa Sig trong kết quả Kiểm định Omnibus sẽ hỗ trợ kiểm định giả thuyết rằng các hệ số hồi quy khác không.

Trong mô hình hồi quy, cần kiểm tra ý nghĩa của tổ hợp liên hệ tuyến tính giữa các hệ số, ngoại trừ hằng số, để xác định xem chúng có thực sự giúp giải thích biến phụ thuộc hay không Kiểm định Wald được sử dụng để đánh giá ý nghĩa của các hệ số hồi quy trong mô hình này.

Từ những biến và phương pháp ước lượng đựợc lựa chọn, tác giả khái quát mô hình hồi quy Logistic có dạng như sau:

P (Y = 1) = P0: Xác suất xảy ra sự kiện Trong nghiên cứu này là xác suất nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần

P (Y = 0) = 1 – P0: Xác xuất không xảy ra sự kiện Trong nghiên cứu này là xác suất nhận YKCNTP

Ln: Log của cơ số e (e = 2,714)

Bi: Là hệ số ước lượng cho biến độc lập thứ i

T1: Tỷ số thanh toán nhanh

T2: Tỷ số thanh toán hiện hành

T3: Tỷ số nợ trên tổng tài sản

T4: Tỷ số doanh thu trên tổng tài sản

T5: Tỷ số vòng quay vốn chủ sở hữu

T6: Tỷ số suất sinh lời trên tổng tài sản (ROA)

T7: Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở (ROE)

T8: Hệ số biên lợi nhuận gộp

T10: Quy mô Hội đồng Quản trị

Hệ số Bi trong phương trình hồi quy cho thấy rằng khi biến Ti tăng lên 1 đơn vị, log của tỷ lệ (Pi/1-Pi) sẽ tăng lên Bi đơn vị Nếu Bi dương, các biến độc lập Ti sẽ tăng khả năng Y nhận giá trị 1, tức là tăng khả năng nhận YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Ngược lại, nếu Bi âm, khả năng này sẽ giảm.

Chọn mẫu nghiên cứu

Mẫu khảo sát được chọn là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013 – 2015, bao gồm HNX, HSX, Upcom và OTC Việc lựa chọn các công ty niêm yết giúp tác giả dễ dàng thu thập dữ liệu nghiên cứu, vì các công ty này phải công khai thông tin tài chính đầy đủ trên trang web chứng khoán.

Tổng số công ty niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam vào năm 2017 là 1.028, trong đó có 888 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính, theo số liệu từ trang Stockbiz.

Trong số 888 doanh nghiệp phi tài chính niêm yết, có 369 doanh nghiệp bị loại do công bố thông tin không đầy đủ, chủ yếu do lỗi kỹ thuật và chất lượng hình ảnh báo cáo tài chính kém Điều này dẫn đến việc chỉ còn lại 519 công ty trong các năm 2013, 2014 và 2015, tạo thành tổng số 1557 mẫu quan sát hợp lệ Tác giả đã áp dụng phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên để chọn 140 công ty mỗi năm, tổng cộng 420 mẫu quan sát trong ba năm, với 134 mẫu không nhận ý kiến chấp nhận toàn phần và 286 mẫu nhận ý kiến chấp nhận toàn phần Cuối cùng, tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện để xác định 268 mẫu quan sát chính thức cho giai đoạn 2013 – 2015, bao gồm 134 mẫu không nhận ý kiến chấp nhận toàn phần và 134 mẫu nhận ý kiến chấp nhận toàn phần.

Theo Tahachnick & Fidell (2007), kích thước mẫu tối ưu cho hồi quy là n > P + 8*m, trong đó m là số biến độc lập Với 10 biến độc lập trong nghiên cứu, cỡ mẫu tối thiểu cần thiết là 50 + 8*10 = 130 mẫu Do đó, mẫu được lựa chọn trong nghiên cứu được xem là đủ lớn để đại diện cho tổng thể.

Dựa trên các nghiên cứu trước, bài viết này lựa chọn 10 biến độc lập từ hai nhóm nhân tố tài chính và phi tài chính để phân tích ảnh hưởng của chúng đến việc dự đoán YKKT không phải ý kiến chấp nhận toàn phần Mục tiêu là làm rõ quy trình nghiên cứu và ý nghĩa của kết quả từ phương pháp ước lượng phân tích hồi quy Logistic Chương tiếp theo sẽ mô tả quá trình thu thập và xử lý dữ liệu, sau đó trình bày kết quả nghiên cứu.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN

Ngày đăng: 19/06/2021, 23:18

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
6. Bộ Tài chính, 2012. Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 706, Đoạn “ Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác” trong báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề cần nhấn mạnh” và “Vấn đề khác
7. Hà Thị Thủy, 2013. Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của các nhân tố đến ý kiến kiểm toán đối với BCTC của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng và bất động sản tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2010. Luận văn Thạc sĩ.Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu thực nghiệm ảnh hưởng của các nhân tố đến ý kiến kiểm toán đối với BCTC của các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực xây dựng và bất động sản tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2010
8. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc, 2008. Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS. Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
9. Nguyễn Năng Phúc, 2011. Phân tích tài chính doanh nghiệp. Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích tài chính doanh nghiệp
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh tế Quốc Dân
12. Nguyễn Xuân Tiến, 2015. Tài Chính – Tiền tệ ngân hàng. Nhà xuất bản Thống Kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài Chính – Tiền tệ ngân hàng
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống Kê
4. Arnold, B. & Lange, P., 2004. “Enron: an examination of agency problems”. Cristical Perpective on Accounting, 15, pp.751-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Enron: an examination of agency problems”. "Cristical Perpective on Accounting
6. Caramanis and Spathis Ch, 2006. Auditee and audit firm characteristics as determinations of audit qualifications Evidence from the Athens stock exchange. Managerial Auditing Journal, Vol. 21 No. 9: 905 – 920 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Managerial Auditing Journal
7. Dopuch N, Holthausen R – W and Leftwwich R – W, 1987. Predicting audit qualifications with financial and market variables. The Accounting Review 62(3), pp. 431-453 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Accounting Review 62(3)
9. Ireland, J., 2003. “An empirical investigation of determinants of audit reports in the UK”. Journal of Business Finance & Accounting, Vol. 30 Nos 7/8, pp.975-1015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An empirical investigation of determinants of audit reports in the UK”. "Journal of Business Finance & Accounting
11. Jensen, M.C. & Meckling, W.H., 1976. “Theory of the Firm: Managerial Behaviour, Agency Costs and Capital Structure”. Journal of Financial Economics, 3, pp. 305-360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Theory of the Firm: Managerial Behaviour, Agency Costs and Capital Structure”. "Journal of Financial Economics
12. Kahneman, D. and A. Tversky, 1992. Advances in prospect theory: Cumulative representation of uncertainty. Journal of Risk and Uncertainty, 5, pp. 297-323 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Risk and Uncertainty
14. Keasey, K., Watson, R., & Wynarczyk, P., 1988. The small company audit qualification: a preliminary investigation. Accounting and Business Research, 18(72), pp. 323-334 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting and Business Research
15. Laitinen, E. K., & Laitinen, T., 1998. Qualified audit reports in Finland: evidence from large companies. European Accounting Review, 7(4), pp. 639- 653 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Accounting Review
16. Lim, R., 2011. Are corporate governance attributes associated with accounting conservatism. Accounting & Finance, 51(4), pp. 1007-1030 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Accounting & Finance
17. Mutchler J – F, 1985. A multivariate analysis of the auditor’s going – concern opinion decision, Journal of Accounting Research 23(2), pp. 668- 682 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Accounting Research 23(2)
18. Mutchler J – F, 1986. Empirical evidence regarding the auditor’s Going – concern opinion decision. Auditing: A Journal of Practice & Theory 6 (1), pp. 148-163 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Auditing: A Journal of Practice & Theory 6 (1)
19. Mutchler J – F, 1997. The Influence of Contrary Information and Mitigating Factors on Audit Opinion Decisions on Bankrupt Companies. Journal of AccountiAng Research 35(2), pp. 295-310 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of AccountiAng Research 35(2)
20. Spathis C, 2003. Audit qualification, firm litigation, and financial information: an empirical analysis in Greece. International Journal of Auditing 7 (1). Pp. 71-85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Journal of Auditing 7 (1)
21. Spathis C, Doumpos M and Zopounidis C, 2003. Using client performance measures to identify pre-egagement factors associated with qualified audit reports in Greece. The International Journal of Accounting, 38(3), pp. 267- 284 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The International Journal of Accounting
1. Bộ Tài chính, 2002. Chuẩn mực kế toán Việt Nam, VAS 01 – Chuẩn mực chung Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w