1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Phân Tích Sự Tác Động Của Các Nhân Tố Kinh Tế Vĩ Mô

138 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phân Tích Sự Tác Động Của Các Nhân Tố Kinh Tế Vĩ Mô Đến Các Chỉ Số Giá Cổ Phiếu Tại Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Võ Thị Thùy Dương
Người hướng dẫn TS. Thân Thị Thu Thủy
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài Chính – Ngân Hàng
Thể loại luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2015
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 4,71 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CAM ĐOAN

  • MỤC LỤC

  • DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ TỪ VIẾT TẮT

  • DANH MỤC BẢNG BIỂU

  • DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ VÀ HÌNH VẼ

  • LỜI MỞ ĐẦU

    • 1. Lý do chọn đề tài

    • 2. Mục tiêu nghiên cứu

    • 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

    • 4. Phương pháp nghiên cứu

    • 5. Ý nghĩa của luận văn

    • 6. Kết cấu của luận văn

  • CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU

    • 1.1 Tổng quan về chỉ số giá cổ phiếu

      • 1.1.1 Khái niệm

      • 1.1.2 Các phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu

        • 1.1.2.1 Phương pháp Passcher

        • 1.1.2.2 Phương pháp Laspeyres

        • 1.1.2.3 Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher

        • 1.1.2.4 Phương pháp số bình quân đơn giản

        • 1.1.2.5 Phương pháp bình quân nhân đơn giản

    • 1.2 Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến chỉ số giá cổ phiếu

      • 1.2.1 Lạm phát (Inflation)

      • 1.2.2 Lãi suất (Interest rate)

      • 1.2.3 Cung tiền (Money supply)

      • 1.2.4 Tỷ giá hối đoái (Exchange rate)

      • 1.2.5 Giá trị sản lượng công nghiệp (Industrial production)

      • 1.2.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign direct investment)

    • 1.3 Sự cần thiết phải nghiên cứu sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu

    • 1.4 Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu

      • 1.4.1 Nghiên cứu của Mohamed Asmy, Wisam Rohilina, Aris Hassama và Fouad

      • 1.4.2 Nghiên cứu của Adel Al-Sharkas

      • 1.4.3 Nghiên cứu của Fama và Schwert

      • 1.4.4 Nghiên cứu của Mahmudul and Salah Uddin

      • 1.4.5 Nghiên cứu của Maxwell Ogbulu và Peter Chinyer

      • 1.4.6 Nghiên cứu của Noel Dilrukshan Richards và John Simpson

      • 1.4.7 Nghiên cứu của George Filis

      • 1.4.8 Nghiên cứu của Sarbapriya Ray

      • 1.4.9 Nghiên cứu của Nguyễn Minh Kiều và Nguyễn Văn Điệp

    • 1.5 Mô hình nghiên cứu

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

  • CHƯƠNG 2THỰC TRẠNG VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    • 2.1 Các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

      • 2.1.1 Các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

        • 2.1.1.1 VN-Index

        • 2.1.1.2 VN30-Index

        • 2.1.1.3 VNMidcap-Index

        • 2.1.1.4 VN100-Index

        • 2.1.1.5 VNSmallcap-Index

        • 2.1.1.6 VNAllshare-Index

      • 2.1.2 Ý nghĩa của việc áp dụng các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

      • 2.1.3 Điều kiện sàng lọc khi tham gia vào các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.

        • 2.1.3.1 Tư cách tham gia vào chỉ số

        • 2.1.3.2 Tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng (f)

        • 2.1.3.3 Thanh khoản

        • 2.1.3.4 Giới hạn về giá trị vốn hóa

      • 2.1.4 Công thức chung để tính các chỉ số trong bộ HOSE-Index

    • 2.2 Thực trang sự biến động của các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

      • 2.2.1 VN-Index

      • 2.2.2 VN30-Index

      • 2.2.3 VNMidcap-Index

      • 2.2.4 VN100-Index

      • 2.2.5 VNSmallcap-Index

      • 2.2.6 VNAllshare-Index

    • 2.3 Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

      • 2.3.1 Lãi suất

      • 2.3.2 Lạm phát

      • 2.3.3 Cung tiền

      • 2.3.4 Tỷ giá hối đoái

      • 2.3.5 Giá trị sản lượng công nghiệp

      • 2.3.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

  • CHƯƠNG 3PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    • 3.1 Dữ liệu và các bước nghiên cứu

      • 3.1.1 Giả thuyết của mô hình nghiên cứu

      • 3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu

      • 3.1.3 Thống kê mô tả số liệu

      • 3.1.4 Các bước nghiên cứu

        • 3.1.4.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu

        • 3.1.4.2 Kiểm định đồng liên kết

    • 3.2 Kết quả nghiên cứu

      • 3.2.1 Kết quả mô hình hồi quy của VN-Index

      • 3.2.2 Kết quả mô hình hồi quy của VN30-Index

      • 3.2.3 Kết quả mô hình hồi quy của VNMidcap-Index

      • 3.2.4 Kết quả của mô hình hồi quy của VN100-Index

      • 3.2.5 Kết quả mô hình hồi quy của VNSmallcap-Index

      • 3.2.6 Kết quả mô hình hồi quy của VNAllshare-Index

    • 3.3 Đánh giá sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

  • CHƯƠNG 4GIẢI PHÁP HẠN CHẾ SỰ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

    • 4.1 Định hướng phát triển các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

    • 4.2 Một số kiến nghị với Ngân hàng Nhà nước

      • 4.2.1 Kiểm soát tốt tình hình lạm phát

      • 4.2.2 Ổn định tỷ giá hối đoái

        • 4.2.2.1 Cải thiện cán cân thương mại

        • 4.2.2.2 Đa dạng hóa các dịch vụ để thu hút nhiều hơn nguồn ngoại tệ

        • 4.2.2.3 Thu hút vốn đầu tư nước ngoài

      • 4.2.3 Điều hành linh hoạt chính sách tiền tệ

    • 4.3 Một số kiến nghị với Ủy ban Chứng khoán Nhà nước

      • 4.3.1 Minh bạch hóa các thông tin công bố trên TTCK

      • 4.3.2 Hoàn thiện khung pháp lý khi xây dựng bộ HOSE-Index

      • 4.3.3 Nâng cao hiệu quả việc quản lý, giám sát của Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh về việc tuân thủ các quy tắc xây dựng và quản lý bộ HOSE-Index

      • 4.3.4 Gia tăng hàng hoá niêm yết trên thị trường chứng khoán

      • 4.3.5 Hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin

      • 4.3.6 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

    • KẾT LUẬN CHƯƠNG 4

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC 1 THỐNG KÊ MÔ TẢ SỐ LIỆU

  • PHỤ LỤC 2: KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH

    • PHỤ LỤC 2.1 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI VN-INDEX

    • PHỤ LỤC 2.2 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI VN30

    • PHỤ LỤC 2.3 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI VNMidCap

    • PHỤ LỤC 2.4 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI VN100

    • PHỤ LỤC 2.5 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI VNSmallCap

    • PHỤ LỤC 2.6 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI VNAllShare

    • PHỤ LỤC 2.7 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI CPI

    • PHỤ LỤC 2.8 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI IR

    • PHỤ LỤC 2.9 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI M2

    • PHỤ LỤC 2.10 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI EX

    • PHỤ LỤC 2.11 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI IO

    • PHỤ LỤC 2.12 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI FDI

  • PHỤ LỤC 3 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA CÁC BIẾN TRONG MÔ HÌNH

    • PHỤ LỤC 3.1 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA VN-INDEX

    • PHỤ LỤC 3.2 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA VN30

    • PHỤ LỤC 3.3 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA VN100

    • PHỤ LỤC 3.4 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA VNSMALLCAP

    • PHỤ LỤC 3.5 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA VNALLSHARE

    • PHỤ LỤC 3.6 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA CPI

    • PHỤ LỤC 3.7 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA IR

    • PHỤ LỤC 3.8 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA M2

    • PHỤ LỤC 3.9 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA EX

    • PHỤ LỤC 3.10 KIỂM ĐỊNH NGHIỆM ĐƠN VỊ ĐỐI VỚI SAI PHÂN BẬC 1 CỦA IO

  • PHỤ LỤC 4: KIỂM ĐỊNH ĐỒNG LIÊN KẾT

  • PHỤ LỤC 5: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY CỦA VNINDEX

    • PHỤ LỤC 5.1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY VỚI VN-INDEX LÀ BIẾN PHỤ THUỘC

    • PHỤ LỤC 5.2 KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN

    • PHỤ LỤC 5.3 KIỂM ĐỊNH LIKELIHOOD RATIO

    • PHỤ LỤC 5.4 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒI QUY SAU KHI THÊM BIẾN EX

    • PHỤ LỤC 5.5 KIỂM ĐỊNH WHITE

  • PHỤ LỤC 6 KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY CỦA VN30

    • PHỤ LỤC 6.1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY VỚI VN30 LÀ BIẾN PHỤ THUỘC

    • PHỤ LỤC 6.2 KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN

    • PHỤ LỤC 6.3 KIỂM ĐINH LIKELIHOOD RATIO

    • PHỤ LỤC 6.4 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒI QUY SAU LOẠI BIẾN

    • PHỤ LỤC 6.5 KIỂM ĐỊNH WHITE

  • PHỤ LỤC 7 KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY CỦA VNMIDCAP

    • PHỤ LỤC 7.1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY VỚI VNMIDCAP LÀ BIẾN PHỤ THUỘC

    • PHỤ LỤC 7.2 KIỂM ĐỊNH LIKELIHOOD RATIO

    • PHỤ LỤC 7.3 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒI QUY SAU KHI THÊM BIẾN IO

    • PHỤ LỤC 7.4 KIỂM ĐỊNH WHITE

  • PHỤ LỤC 8: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY CỦA VN100

    • PHỤ LỤC 8.1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY VỚI VN100 LÀ BIẾN PHỤ THUỘC

    • PHỤ LỤC 8.2 KIỂM ĐỊNH WALD

    • PHỤ LỤC 8.3 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒI QUY SAU KHI LOẠI BIẾN

    • PHỤ LỤC 8.4 KIỂM ĐỊNH WHITE

  • PHỤ LỤC 9: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY CỦA VNSMALLCAP

    • PHỤ LỤC 9.1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY VỚI VNSMALLCAP LÀ BIẾN PHỤ THUỘC

    • PHỤ LỤC 9.2 KIỂM ĐỊNH LIKELIHOOD RATIO

    • PHỤ LỤC 9.3 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒI QUY SAU KHI LOẠI BIẾN IO VÀ FDI

    • PHỤ LỤC 9.4 KIỂM ĐỊNH WHITE

  • PHỤ LỤC 10: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY CỦA VNALLSHARE

    • PHỤ LỤC 10.1: KẾT QUẢ MÔ HÌNH HỒI QUY VỚI VNALLSHARE LÀ BIẾN PHỤ THUỘC

    • PHỤ LỤC 10.2 KIỂM ĐỊNH HIỆN TƯỢNG ĐA CỘNG TUYẾN

    • PHỤ LỤC 10.3 KIỂM ĐỊNH WALD

    • PHỤ LỤC 10.4 ƯỚC LƯỢNG MÔ HÌNH HỒI QUY SAU KHI LOẠI BIẾN IO VÀ FDI

    • PHỤ LỤC 10.5 KIỂM ĐỊNH WHITE

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn:

- Đúc kết lý luận tổng quan về các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến chỉ số giá cổ phiếu

Tiến hành phân tích định lượng nhằm xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến chỉ số giá cổ phiếu trên sàn HOSE.

Để hạn chế tác động tiêu cực của các nhân tố kinh tế vĩ mô lên chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE, cần triển khai các giải pháp dựa trên những kết quả đạt được.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học, bao gồm:

Phương pháp nghiên cứu định tính được áp dụng nhằm xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) thông qua việc phân tích các nghiên cứu thực nghiệm toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu định lượng sử dụng phần mềm Eviews 7.0 để thực hiện các kiểm định như kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết và kiểm định các biến cần thiết cho mô hình Qua đó, mô hình hồi quy được áp dụng nhằm đưa ra kết quả về các nhân tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE.

Ý nghĩa của luận văn

Luận văn sẽ có một số đóng góp:

Đề tài nghiên cứu đã giới thiệu một số chỉ số giá cổ phiếu mới nhằm phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến các chỉ số này tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) Đây là một đóng góp đáng kể, tạo ra sự khác biệt so với các nghiên cứu trước đây.

Việc xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô và mức độ ảnh hưởng của chúng là rất quan trọng, giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác trong việc đầu tư cổ phiếu nhằm tối đa hóa lợi nhuận.

Các nhà quản lý có thể dựa vào những yếu tố này để xác định vấn đề và tìm ra giải pháp nhằm làm cho cổ phiếu của công ty trở nên hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Ngoài việc hỗ trợ các cơ quan chức năng, việc này còn giúp đưa ra giải pháp nhằm hạn chế tác động tiêu cực của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE.

Kết cấu của luận văn

Ngoài lời mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu thành 4 chương:

 Chương 1: Tổng quan về sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu

Chương 2 phân tích sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này chỉ ra rằng các yếu tố như lạm phát, tỷ lệ lãi suất và tăng trưởng kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp đến biến động giá cổ phiếu Sự tương quan giữa các chỉ số kinh tế và giá cổ phiếu không chỉ phản ánh tình hình thị trường mà còn giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định chính xác hơn trong việc đầu tư.

Chương 3 tập trung vào việc phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này nhằm làm rõ mối liên hệ giữa các biến số kinh tế như lạm phát, tỷ lệ lãi suất và tăng trưởng kinh tế với biến động giá cổ phiếu, từ đó cung cấp cái nhìn sâu sắc cho nhà đầu tư và các bên liên quan trong thị trường chứng khoán.

Chương 4 trình bày các giải pháp nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh Những giải pháp này bao gồm việc cải thiện thông tin thị trường, tăng cường quản lý rủi ro và phát triển các công cụ tài chính mới để bảo vệ nhà đầu tư Đồng thời, việc nâng cao hiểu biết của nhà đầu tư về các yếu tố kinh tế vĩ mô cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ổn định giá cổ phiếu.

TỔNG QUAN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU

Tổng quan về chỉ số giá cổ phiếu

Chỉ số giá cổ phiếu, theo từ điển Đầu tư và tài chính, là chi phí để mua một cổ phiếu trên thị trường Giá cổ phiếu này có thể bị tác động bởi nhiều yếu tố khác nhau, bao gồm biến động thị trường, điều kiện kinh tế và uy tín của công ty.

Chỉ số giá cổ phiếu, theo Wikipedia, là giá trị bình quân của một nhóm cổ phiếu giao dịch trên thị trường chứng khoán tại một thời điểm cụ thể Các cổ phiếu này có chung đặc điểm là giao dịch trên cùng một sở và có quy mô vốn hóa thị trường tương đồng Do đó, chỉ số giá cổ phiếu đóng vai trò như một chỉ số thống kê phản ánh diễn biến của thị trường, giúp các nhà đầu tư và quản lý thị trường mô tả tình hình và so sánh lợi nhuận để đưa ra quyết định đầu tư hiệu quả.

1.1.2 Các phương pháp tính chỉ số giá cổ phiếu

Hiện nay có các phương pháp được sử dụng phổ biến trong việc tính chỉ số giá cổ phiếu

Theo phương pháp Passcher, chỉ số giá cổ phiếu được tính bằng cách sử dụng bình quân gia quyền giá trị, trong đó trọng số là số lượng cổ phiếu niêm yết tại thời điểm tính toán Công thức tính toán này giúp phản ánh chính xác sự biến động của giá cổ phiếu trong thị trường.

- : chỉ số giá cổ phiếu bằng phương pháp Passcher

- : số lượng cổ phiếu thứ i được niêm yết tại thời kỳ tính toán

- : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ t

- : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ gốc

- i : loại cổ phiếu thứ i tham gia việc tính chỉ số giá

Chỉ số giá cổ phiếu là một công cụ quan trọng để theo dõi sự biến động của thị trường, với thời điểm tính chỉ số được xác định rõ ràng Một số chỉ số giá cổ phiếu phổ biến hiện nay bao gồm S&P 500, FTSE 100, Hang Seng và VN-Index, tất cả đều áp dụng phương pháp tính toán này.

Chỉ số giá bình quân Laspeyres là một chỉ số giá bình quân gia quyền, sử dụng trọng số dựa trên số cổ phiếu niêm yết tại thời kỳ gốc Do đó, kết quả tính toán sẽ bị ảnh hưởng bởi cơ cấu quyền số trong thời kỳ gốc Công thức tính toán chỉ số này được xác định rõ ràng.

- : chỉ số giá cổ phiếu bằng phương pháp Passcher

- : số lượng cổ phiếu thứ i được niêm yết tại thời kỳ gốc

- : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ t

- : giá của loại cổ phiếu thứ i tại thời kỳ gốc

- i : loại cổ phiếu thứ i tham gia việc tính chỉ số giá

- t : thời điểm tính chỉ số giá cổ phiếu

Trên thực tế phương pháp này được sử dụng không phổ biến như phương pháp Passcher

1.1.2.3 Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher

Phương pháp chỉ số giá bình quân Fisher là sự kết hợp giữa chỉ số giá Passcher và chỉ số giá Laspayres, cho phép tính toán chỉ số giá cổ phiếu dựa trên trọng số của cả hai thời kỳ: kỳ gốc và kỳ tính toán Công thức tính toán chỉ số này được xác định rõ ràng, giúp đảm bảo tính chính xác trong việc đánh giá giá cổ phiếu.

- : chỉ số giá bình quân Laspeyres

1.1.2.4 Phương pháp số bình quân đơn giản

Là phương pháp lấy tổng trị giá của cổ phiếu chia cho số cổ phiếu tham gia tính toán Công thức tính như sau:

- : giá của cổ phiếu thứ i

- n : số lượng cổ phiếu được đưa vào để tính toán

Phương pháp tính giá bình quân giản đơn thường được sử dụng để xác định chỉ số giá cổ phiếu, điển hình là chỉ số Dow Jones của Mỹ và Nikkei 225 của Nhật Bản.

1.1.2.5 Phương pháp bình quân nhân đơn giản

- : giá của cổ phiếu thứ i

Lưu ý là chỉ nên dùng loại chỉ số này khi độ lệch chuẩn khá cao.

Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến chỉ số giá cổ phiếu

Lạm phát là sự gia tăng mức giá của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian so với một thời kỳ trước Hai nguyên nhân chính gây ra lạm phát là lạm phát do cầu kéo, khi nhu cầu tăng cao hơn cung, và lạm phát do chi phí đẩy, khi chi phí sản xuất tăng lên.

Lạm phát do cầu kéo xảy ra khi hàng hóa trở nên khan hiếm trong khi nhu cầu tăng cao, hoặc khi mức cung hàng hóa không theo kịp mức cầu Tình trạng này dẫn đến việc giá cả trên thị trường tăng cao, gây ra lạm phát.

Lạm phát ở mức độ vừa phải có thể mang lại lợi ích cho nền kinh tế bằng cách giảm chi phí thực tế của nhà sản xuất, từ đó khuyến khích mở rộng sản xuất Tuy nhiên, lạm phát cao hơn mong đợi có thể gây ra nhiều tác động tiêu cực Cụ thể, khi lạm phát gia tăng, lãi suất cũng tăng theo để duy trì lãi suất thực dương, làm cho thị trường chứng khoán trở nên kém hấp dẫn so với các kênh đầu tư khác như gửi tiết kiệm Điều này dẫn đến cung cổ phiếu vượt cầu, gây giảm giá cổ phiếu Hơn nữa, lạm phát cao làm tăng chi phí đầu vào của công ty, ảnh hưởng đến lợi nhuận và gián tiếp đẩy giá cổ phiếu giảm.

Lãi suất là chi phí mà người vay phải trả cho việc sử dụng vốn từ người cho vay, và nó đóng vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế Sự thay đổi lãi suất, dù tăng hay giảm, có tác động đáng kể đến hoạt động kinh tế tổng thể và thị trường chứng khoán.

Khi lãi suất giảm, chỉ số giá cổ phiếu sẽ tăng do chi phí vay vốn thấp hơn, giúp các công ty dễ dàng huy động vốn cho các dự án đầu tư và cải thiện lợi nhuận Ngược lại, lãi suất tăng sẽ gây ra tác động tiêu cực đến nền kinh tế, làm tăng chi phí vay mượn cho người tiêu dùng, giảm nhu cầu chi tiêu và ảnh hưởng xấu đến lợi nhuận của các công ty Hơn nữa, lãi suất cao sẽ thu hút tiền nhàn rỗi vào ngân hàng thông qua gửi tiết kiệm, làm giảm dòng vốn chảy vào các kênh đầu tư khác, bao gồm cổ phiếu.

Với các lý thuyết kinh tế cho thấy có sự tác động tiêu cực của lãi suất đến chỉ số giá cổ phiếu

Cung tiền là tổng lượng tiền được đưa vào nền kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán và cất trữ của các chủ thể Việc xác định mức cung tiền rất quan trọng, vì sự thiếu hụt hoặc dư thừa có thể ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Hiện nay, mức cung tiền trong nền kinh tế được đo lường dựa trên tính lỏng của các tài sản tài chính, với các chỉ số được ký hiệu là M1, M2, M3, v.v Các thước đo này giúp đánh giá chính xác tình hình cung tiền.

Tiền mặt là một phần của tiền giấy được phát hành bởi ngân hàng trung ương và lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng Nó được xác định bằng tổng số tiền giấy do ngân hàng trung ương phát hành trừ đi số tiền giấy mà các ngân hàng, bao gồm cả ngân hàng trung ương, đang nắm giữ.

Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm các khoản tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào theo yêu cầu, có thể tồn tại dưới dạng tài khoản phát séc hoặc không phát séc Đây là loại tiền được sử dụng cho các giao dịch thường xuyên và là đối tượng kiểm soát hàng đầu của ngân hàng trung ương các nước.

Tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng là hai hình thức đầu tư kém linh hoạt hơn, nhưng mang lại sự kiểm soát quan trọng đối với tài chính Chúng đại diện cho lượng tiền giao dịch tiềm năng và thường xuyên có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai hình thức này.

- : bao gồm , các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác ngoài ngân hàng

- L: là thước đo rộng nhất, bao gồm , các chứng khoán có giá như tín phiếu kho bạc, thương phiếu, chấp phiếu ngân hàng…

Việc lựa chọn thước đo mức cung tiền là một quyết định quan trọng, phụ thuộc vào nhiều tiêu chí nhằm hỗ trợ hiệu quả cho công tác dự báo các biến số kinh tế Hiện nay, Việt Nam đang áp dụng một thước đo cụ thể để xác định mức cung tiền.

Việc phân tích các lý thuyết kinh tế cho thấy có sự tác động của chính sách tiền tệ lên các chỉ số giá cổ phiếu

Khi thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng, lượng tiền trong lưu thông tăng lên, dẫn đến giảm lãi suất cho vay và lãi suất tái chiết khấu Điều này kích thích nhu cầu sử dụng tài sản tài chính, bao gồm cổ phiếu Hơn nữa, việc giảm lãi suất cho vay còn làm giảm lãi suất chiết khấu của cổ phiếu, từ đó nâng cao giá kỳ vọng và thu nhập cho các nhà đầu tư.

Khi thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, lãi suất sẽ tăng cao do lượng tiền lưu thông giảm, dẫn đến chi phí vốn tăng Sự gia tăng lãi suất làm giảm lượng vốn đầu tư vào cổ phiếu và ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu trong các mô hình định giá Ngoài ra, các công ty có cấu trúc tài chính nợ cao sẽ chịu chi phí lớn hơn, làm giảm lợi nhuận và khiến giá cổ phiếu trở nên kém hấp dẫn so với các kênh đầu tư khác, từ đó tác động xấu đến giá cổ phiếu.

Từ kết quả việc phân tích cơ sở lý thuyết cho thấy cung tiền có tác động tích cực lên chỉ số giá cổ phiếu

1.2.4 Tỷ giá hối đoái (Exchange rate)

Tỷ giá hối đoái là tỷ lệ giữa hai loại tiền tệ, xác định cách một đồng tiền có thể chuyển đổi thành đồng tiền khác Có hai phương pháp yết giá: yết giá trực tiếp và yết giá gián tiếp, và mỗi quốc gia sẽ lựa chọn cách yết giá phù hợp với từng loại ngoại tệ.

Theo các lý thuyết kinh tế, tỷ giá hối đoái có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu theo hai hướng Khi tỷ giá hối đoái tăng theo cách yết giá trực tiếp, đồng nội tệ mất giá, nhưng môi trường đầu tư ổn định lại thu hút vốn đầu tư nước ngoài Điều này đặc biệt đúng trong lĩnh vực chứng khoán, nơi mà dòng vốn từ nước ngoài có thể tác động tích cực đến thị trường chứng khoán và làm tăng giá cổ phiếu.

Việc tăng tỷ giá hối đoái có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán, khi điều chỉnh tỷ giá hối đoái tăng lên sẽ tác động đến hoạt động xuất khẩu Điều này gián tiếp ảnh hưởng đến mức tăng trưởng kinh tế và hoạt động sản xuất của các công ty, dẫn đến giảm lợi nhuận và giá cổ phiếu.

Qua các lý thuyết kinh tế ta thấy có sự tác động của tỷ giá hối đoái lên chỉ số giá cổ phiếu

1.2.5 Giá trị sản lượng công nghiệp (Industrial production)

Sự cần thiết phải nghiên cứu sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu

Thị trường chứng khoán (TTCK) đóng vai trò như một chỉ số phản ánh tình hình kinh tế, với các biến động trong nền kinh tế được thể hiện qua sự thay đổi điểm số của chỉ số giá cổ phiếu Những thay đổi này có thể xuất phát từ chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô hoặc các yếu tố kinh tế vĩ mô như lãi suất, lạm phát, cung tiền, tỷ giá hối đoái, giá trị sản lượng công nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài Do đó, việc nghiên cứu tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô là rất cần thiết và hữu ích cho các nhà đầu tư và các bên liên quan trên TTCK.

Việc xác định các yếu tố kinh tế vĩ mô ảnh hưởng đến chỉ số giá cổ phiếu sẽ giúp cơ quan quản lý và giám sát thị trường có biện pháp kịp thời để xử lý các tình huống xấu do nền kinh tế gây ra, từ đó bảo vệ hoạt động chung của thị trường chứng khoán.

Đối với nhà đầu tư, việc nắm bắt kịp thời các thay đổi của các nhân tố kinh tế vĩ mô là rất quan trọng để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý Điều này không chỉ giúp hạn chế rủi ro mà còn tối ưu hóa lợi nhuận cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán.

Chính phủ cần cung cấp thông tin kịp thời để các cơ quan chức năng có thể đưa ra các biện pháp khắc phục hiệu quả trước những biến động xấu trong nền kinh tế, nhằm hỗ trợ sự phát triển của thị trường chứng khoán và đạt được các mục tiêu kinh tế đã đề ra.

1.4 Các nghiên cứu trên thế giới về sự tác động của các nhân tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số giá cổ phiếu

1.4.1 Nghiên cứu của Mohamed Asmy, Wisam Rohilina, Aris Hassama và Fouad

Nghiên cứu này phân tích mối quan hệ nhân quả giữa chỉ số giá cổ phiếu Malaysia (KLCI) và các yếu tố kinh tế vĩ mô như lạm phát, cung tiền, và tỷ giá danh nghĩa trong cả giai đoạn trước và sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997.

Các phương pháp được sử dụng trong nghiên cứu là kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết, mô hình hiệu chỉnh sai số ECM

Mô hình dữ liệu được phân tích theo tháng, chia thành hai giai đoạn: từ tháng 1/1987 đến tháng 1/1995 và giai đoạn sau khủng hoảng từ tháng 1/1999 đến tháng 1/2007 Dữ liệu được thu thập từ cơ sở dữ liệu của IMF và trang web www.econstats.com Các yếu tố trong mô hình được xác định dựa trên các tiêu chí cụ thể.

- Đối với giá cổ phiếu thì lấy theo giá cuối tháng của các mã chứng khoán giao dịch trên TTCK Malaysia

- Đối với nhân tố lạm phát thì sử dụng chỉ số CPI theo từng tháng để đại diện cho nhân tố lạm phát

- Cung tiền là mức cung tiền đại diện cho biến cung tiền và thể hiện đồng nội tệ của quốc gia

- Tỷ giá hối đoái được sử dụng là tỷ giá hối đoái danh nghĩa tham chiếu với đô la Mỹ

Nghiên cứu chỉ ra rằng lạm phát có ảnh hưởng tích cực đến chỉ số giá cổ phiếu trong dài hạn Ngược lại, cổ phiếu trên thị trường Malaysia được coi là một rào cản hiệu quả đối với lạm phát, ngay cả trong giai đoạn hậu khủng hoảng.

Cung tiền ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số giá cổ phiếu, đặc biệt khi lạm phát gia tăng, dẫn đến sự giảm giá cổ phiếu Đối với tỷ giá hối đoái, phản ứng có sự khác biệt giữa giai đoạn trước và sau khủng hoảng; trước khủng hoảng, tỷ giá hối đoái tác động tích cực đến chỉ số giá cổ phiếu, nhưng sau khủng hoảng, tác động trở nên tiêu cực.

Nghiên cứu cho thấy chỉ số giá cổ phiếu chịu ảnh hưởng tích cực từ các yếu tố vĩ mô như tỷ giá hối đoái, lạm phát và cung tiền, nhưng trong dài hạn lại có tác động tiêu cực từ những yếu tố này.

1.4.2 Nghiên cứu của Adel Al-Sharkas

Nghiên cứu của Adel Al-Sharkas đã sử dụng mô hình VECM để phân tích mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Jordan (ASE) Các yếu tố kinh tế vĩ mô được xem xét bao gồm cung tiền, lạm phát, lãi suất và giá trị thực của hoạt động kinh tế Kết quả cho thấy có mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa giá cổ phiếu và các yếu tố kinh tế vĩ mô tại thị trường này.

Dữ liệu được lựa chọn theo quý bao gồm 92 quan sát từ tháng 3/1980 đến tháng 12/2003, được thu thập từ các báo cáo thống kê của Ngân hàng Jordan Các biến trong mô hình được xác định dựa trên các tiêu chí cụ thể.

- Giá cổ phiếu là trung bình theo quý giá đóng cửa của tất cả các chứng khoán niêm yết trên TTCK Jordan

- Cung tiền được chọn là cung tiền

- Lạm phát được đại diện bằng chỉ số giá CPI

- Lãi suất là lãi suất đáo hạn của tín phiếu kho bạc kỳ hạn 3 tháng

- Chỉ số sản xuất công nghiệp: được lấy theo từng quý và đại diện cho các hoạt động kinh tế thực của Jordan

Nghiên cứu đã sử dụng các kiểm định nghiệm đơn vị, kiểm định đồng liên kết và mô hình VECM để xác định mối quan hệ cân bằng dài hạn giữa các yếu tố kinh tế vĩ mô và thị trường chứng khoán Jordan Kết quả cho thấy, cung tiền và chỉ số sản xuất công nghiệp có tác động tích cực đến chỉ số giá cổ phiếu, trong khi lạm phát và lãi suất của tín phiếu kho bạc lại có ảnh hưởng tiêu cực đến chỉ số giá cổ phiếu tại thị trường chứng khoán Jordan.

1.4.3 Nghiên cứu của Fama và Schwert

Năm 1977, Fama và Schwert trong nghiên cứu “Sự phục hồi của chứng khoán, lạm phát và lý thuyết đại diện: Một cách nhìn mới về dữ liệu” đã phát hiện mối quan hệ tiêu cực giữa lạm phát và thị trường chứng khoán, thông qua việc phân tích lạm phát dự kiến và không dự kiến Tương tự, Mohammed Omran và John Pointon (2001) cũng xác nhận tác động tiêu cực của lạm phát đến thị trường chứng khoán Ai Cập trong cả ngắn hạn và dài hạn Đến năm 2011, Adel Al Sharkas và Marwan Alzoybi đã nghiên cứu “Giá cổ phiếu và lạm phát; bằng chứng thực nghiệm ở các nước như Jordan, Saudi Arabia, Kuwait, Morocco”, sử dụng mô hình VAR để củng cố giả thuyết về mối quan hệ tác động dài hạn giữa lạm phát và giá cổ phiếu.

1.4.4 Nghiên cứu của Mahmudul and Salah Uddin

Mahmudul và Salah Uddin (2009) đã thực hiện một nghiên cứu mang tên “Mối quan hệ giữa lãi suất và giá cổ phiếu: Bằng chứng thực nghiệm ở các nước phát triển và các nước đang phát triển.” Nghiên cứu này đã chỉ ra sự tồn tại của mối quan hệ giữa giá cổ phiếu và lãi suất thông qua việc khảo sát 15 quốc gia, bao gồm cả nước phát triển và đang phát triển như Úc, Bangladesh, Canada, và nhiều nước khác Kết quả cho thấy lãi suất có tác động tiêu cực đến giá cổ phiếu ở 14 quốc gia, ngoại trừ Philippines, và có 6 quốc gia cho thấy sự thay đổi lãi suất dẫn đến tác động tiêu cực đến giá cổ phiếu Nhiều nghiên cứu khác cũng xác nhận kết quả tương tự về ảnh hưởng tiêu cực của lãi suất đối với giá cổ phiếu.

Fama (1981); Mohammad và cộng sự (2009); Christopher Gan (2006); Rahman, Sidek và Tafri (2009); Nadeem Sohil and zakir Hussain (2009)

1.4.5 Nghiên cứu của Maxwell Ogbulu và Peter Chinyer

Tác giả Maxwell Ogbulu và Peter Chinyer đã thực hiện nghiên cứu vào năm

Năm 2011, nghiên cứu với đề tài “Chính sách tiền tệ và giá cổ phiếu tại Nigeria thông qua mô hình hiệu chỉnh sai số ECM” đã được thực hiện Hai tác giả đã sử dụng dữ liệu từ năm trước đó để phân tích mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và giá cổ phiếu.

Mô hình nghiên cứu

Dựa trên các lý thuyết về chỉ số giá cổ phiếu và nghiên cứu quốc tế về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đến chỉ số này, như các công trình của Adel Al-Sharkas, Mohamed Asmy và cộng sự, George Filis, Mahmudul và Salah Uddin, bài nghiên cứu đề xuất một mô hình nghiên cứu mới nhằm làm rõ mối quan hệ giữa các yếu tố kinh tế và giá cổ phiếu.

Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu

Phương trình thể hiện quan hệ giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc như sau:

- SP: các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE

- CPI: chỉ số giá tiêu dùng đại diện cho lạm phát

- EX: tỷ giá hối đoái bình quân liên ngân hàng giữa USD/VND

- IO: giá trị sản lượng công nghiệp

Chỉ số giá cổ phiếu

Giá trị sản lượng công nghiệp Đầu tư trực tiếp từ nước ngoài

- FDI: đầu tư trực tiếp nước ngoài

Chương 1 trình bày khái niệm về chỉ số giá cổ phiếu và khám phá các lý thuyết kinh tế cùng với chứng cứ thực nghiệm liên quan Nó xác định các yếu tố vĩ mô tác động đến chỉ số giá cổ phiếu, bao gồm cung tiền, lạm phát, lãi suất, tỷ giá hối đoái, giá trị sản lượng công nghiệp và đầu tư trực tiếp nước ngoài Những cơ sở lý thuyết này sẽ là nền tảng cho việc phân tích ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế vĩ mô đối với chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE.

THỰC TRẠNG VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh 20

Để đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng cao và sự phát triển của thị trường chứng khoán (TTCK), Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) đã giới thiệu bộ chỉ số mới bao gồm VN30-Index, VNMidcap-Index, VN100-Index, VNSmallcap-Index và VNAllshare-Index, gọi chung là HOSE-Index Việc áp dụng bộ chỉ số này sẽ giúp phản ánh đầy đủ hơn thông tin trên thị trường và tạo cơ sở cho sự phát triển các sản phẩm mới của TTCK Việt Nam trong tương lai.

2.1.1 Các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

VN-Index là chỉ số giá thể hiện sự biến động giá của các cổ phiếu giao dịch trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) Chỉ số này đã được áp dụng kể từ khi thị trường chứng khoán Việt Nam chính thức thành lập vào ngày 28 tháng 7 năm 2000.

VN-Index được tính dựa trên sự so sánh giữa giá trị thị trường hiện tại và giá trị thị trường cơ sở, với giá trị cơ sở được xác định vào ngày 28/07/2000 khi thị trường chứng khoán chính thức hoạt động Giá trị này sẽ được điều chỉnh trong các trường hợp như niêm yết mới, hủy niêm yết và thay đổi vốn niêm yết.

 Phương pháp chọn cổ phiếu vào chỉ số

Tính đến tháng 6/2014, sàn HOSE có tổng cộng 301 công ty niêm yết Số lượng cổ phiếu thành phần bao gồm tất cả các công ty này.

- : giá thị trường hiện hành của cổ phiếu thứ i

- : số lượng niêm yết hiện hành của cổ phiếu i

- : số lượng niêm yết vào ngày gốc của cổ phiếu i

- : giá thị trường vào ngày gốc của cổ phiếu i

Chỉ số HOSE là một chỉ số đại diện cho 30 công ty niêm yết có giá trị vốn hóa và tính thanh khoản đáp ứng các tiêu chí tham gia, bao gồm điều kiện sàng lọc và quy định về giá trị vốn hóa.

VN30-Index là một chỉ số quan trọng trong bộ HOSE-Index, được tính toán dựa trên giá trị vốn hóa thị trường với điều chỉnh tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng Để tham gia vào VN30-Index, cổ phiếu phải đáp ứng các tiêu chí về tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng và thanh khoản Số lượng cổ phiếu trong VN30-Index là cố định và không trùng lặp với các cổ phiếu trong VNMidcap-Index và VNSmallcap-Index.

 Phương pháp chọn cổ phiếu vào chỉ số

Để tham gia vào chỉ số, các cổ phiếu cần đáp ứng các yêu cầu về tư cách và điều kiện sàng lọc, bao gồm thanh khoản và tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng Những cổ phiếu này sẽ được xếp hạng theo thứ tự giảm dần dựa trên giá trị vốn hóa hàng ngày bình quân trong 6 tháng, chưa điều chỉnh tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng.

Chọn ra 50 cổ phiếu hàng đầu từ danh sách đã cung cấp, đồng thời loại bỏ những cổ phiếu có cảnh báo khác (nếu có) Những cổ phiếu bị loại sẽ được thay thế bằng những cổ phiếu tiếp theo trong danh sách để đảm bảo số lượng vẫn đủ 50 cổ phiếu.

Sắp xếp các cổ phiếu từ bước 2 theo thứ tự giảm dần dựa trên giá trị giao dịch hàng ngày bình quân, bao gồm cả giá trị giao dịch khớp lệnh và thỏa thuận trong 6 tháng gần nhất.

 Cổ phiếu đứng ở vị trí thứ 20 trở lên trong danh sách sẽ có mặt trong chỉ số;

 Cổ phiếu đứng ở vị trí thứ 41 trở xuống trong danh sách sẽ bị loại khỏi chỉ số;

Cổ phiếu nằm trong vị trí từ 21 đến 40 sẽ được ưu tiên chọn từ danh mục cổ phiếu thành phần của VN30-Index kỳ trước, trước khi xem xét các cổ phiếu mới để đảm bảo tổng số lượng cổ phiếu trong chỉ số là 30 Nếu có nhiều cổ phiếu thuộc chỉ số kỳ trước cùng vị trí, ưu tiên sẽ được dành cho cổ phiếu có giá trị vốn hóa bình quân cao hơn trong kỳ xem xét.

Sau khi lựa chọn 30 cổ phiếu tại bước 3, 5 cổ phiếu tiếp theo sẽ được đưa vào danh mục cổ phiếu dự phòng Những cổ phiếu này sẽ được sử dụng để thay thế cho các cổ phiếu thành phần của VN30-Index nếu có cổ phiếu nào bị loại khỏi chỉ số trong quá trình xem xét giữa kỳ.

Chỉ số này đại diện cho 70 công ty niêm yết trên sàn HOSE, có giá trị vốn hóa trung bình, xếp sau VN30-Index Các công ty này đáp ứng đầy đủ các yêu cầu về tư cách tham gia chỉ số và các điều kiện sàng lọc theo quy định, cùng với giá trị vốn hóa trên thị trường.

VNMidcap-Index là một chỉ số trong bộ HOSE-Index, được tính theo phương pháp giá trị vốn hóa thị trường, điều chỉnh theo tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng Để tham gia vào VNMidcap-Index, cổ phiếu phải đáp ứng các điều kiện về tỷ lệ tự do chuyển nhượng và thanh khoản Số lượng cổ phiếu trong VNMidcap-Index là cố định và không trùng với cổ phiếu của VN30-Index và VNSmallcap-Index Ngày cơ sở của chỉ số này là 24/01/2014, với giá trị cơ sở tương đương VN-Index vào ngày đó là 560,19 điểm.

 Phương pháp chọn vào chỉ số

Sau khi loại bỏ 30 cổ phiếu thành phần của VN30-Index, các cổ phiếu còn lại sẽ được sắp xếp theo thứ tự giảm dần dựa trên giá trị vốn hóa hàng ngày trung bình, chưa điều chỉnh tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng.

 Cổ phiếu đứng ở vị trí thứ 40 trở lên trong danh sách sẽ có mặt trong VNMidcap-Index;

 Cổ phiếu đứng ở vị trí thứ 81 trở xuống trong danh sách sẽ bị loại khỏi chỉ số;

Cổ phiếu nằm trong khoảng từ 41 đến 80 sẽ được ưu tiên chọn từ danh mục cổ phiếu thành phần của VNMidcap-Index kỳ trước, sau đó mới xem xét các cổ phiếu mới để đảm bảo tổng số lượng cổ phiếu đạt 70 Nếu có nhiều cổ phiếu thuộc chỉ số kỳ trước có cùng vị trí, sẽ ưu tiên chọn cổ phiếu có giá trị giao dịch bình quân cao hơn trong kỳ xem xét.

Thực trang sự biến động của các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Vào đầu năm 2009, thị trường chứng khoán ghi nhận xu hướng giảm giá rõ rệt, với VN-Index chỉ đạt 234,6 điểm vào tháng 2 Sự ảm đạm của thị trường chủ yếu do ảnh hưởng từ sự sụt giảm trong năm trước đó.

Từ tháng 3 năm 2008, TTCK Việt Nam đã có dấu hiệu khởi sắc với VN-Index tăng 14% so với tháng 2, đạt 280,7 điểm Đến cuối năm 2009, VN-Index tiếp tục tăng gần 35%, lên 494,7 điểm Tuy nhiên, năm 2010, TTCK gặp khó khăn do bất ổn kinh tế, VN-Index giảm 2,04%, chỉ đạt 484,6 điểm Sang năm 2011, TTCK phải đối mặt với nhiều vấn đề nội tại như tái cấu trúc và vi phạm báo cáo, dẫn đến xu hướng giảm chung Đến tháng 4/2011, VN-Index giảm 0,9% và trong tháng 5, sụt giảm mạnh 12%, kết thúc năm 2011 với VN-Index chỉ đạt 351,6 điểm, giảm 31% so với đầu năm.

Trong 5 tháng đầu 2012 TTCK đã có bước bức phá sau một thời gian dài giảm điểm VN–Index đã tăng 10% so với thời kỳ đầu năm và tăng gần 40% so với cùng kỳ năm 2011 Bước sang những tháng cuối năm 2012, TTCK liên tục giảm điểm Tính đến hết năm 2012, VN–Index tăng khoảng 18,21% so với đầu năm, đóng cửa ở mức 413,73 điểm Đến năm 2013 TTCK phục hồi mạnh mẽ, theo số liệu của Ủy ban chứng khoán Nhà Nước thì VN–Index tăng 22% ở mức 504,6 điểm so với năm

2012 Sự gia tăng này đã làm cho TTCK Việt Nam trở thành một trong những nước có tốc độ phục hồi mạnh nhất trên thế giới

Vào đầu năm 2014, nền kinh tế Việt Nam có những dấu hiệu tích cực như lạm phát thấp và tính thanh khoản tốt, góp phần vào sự tăng trưởng của VN-Index VN-Index đạt 607,9 điểm vào ngày 24/03/2014, mức cao nhất kể từ 22/10/2009 Đến cuối tháng 6/2014, VN-Index đã tăng khoảng 14% so với đầu năm, từ 504,5 điểm lên 578,1 điểm.

VN30-Index được HOSE chính thức áp dụng từ ngày 06/02/2012 với giá trị khởi điểm 449,41 điểm, nhằm khắc phục những hạn chế của VN-Index Đến cuối năm 2012, VN30-Index ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng, với giá trị vốn hóa vượt 578 ngàn tỷ đồng, tương đương 74% Chỉ số này đạt đỉnh 557,4 điểm vào ngày 09/05/2012 và mức thấp nhất là 441,5 điểm vào ngày 28/11/2012 Trong giai đoạn 1 năm 2012 (từ 6/2/2012 đến 16/7/2012), VN30-Index đạt 488,6 điểm, tăng 8,7% tương đương 39,19 điểm so với giá trị cơ sở ban đầu.

2 (16/7/2012 đến 15/1/2013) thì VN30-Index đạt 542,72 điểm, tăng khoảng 11% tương đương 54,1 điểm so với ngày 16/7/2012 Trong VN30-Index kỳ 2 của năm

Năm 2012, trong số 16 cổ phiếu tăng giá, HSG dẫn đầu với mức tăng khoảng 35%, trong khi đó có 14 cổ phiếu giảm giá, với PNJ giảm mạnh nhất khoảng 22,2% Sang năm 2013, sự ổn định của nền kinh tế tiếp tục được duy trì, giúp VN30-Index ghi nhận mức tăng trưởng khả quan, đạt 490,82 điểm trong các phiên giao dịch.

VN-Index đã tăng khoảng 14,7% so với đầu năm, đạt 562,9 điểm vào ngày 31/12/2013, và tăng 25% so với ngày cơ sở Trong năm 2013, VN30-Index ghi nhận mức cao nhất là 588,21 điểm vào ngày 07/6 và thấp nhất là 490,82 điểm vào ngày 02/01 Sang năm 2014, VN30-Index tiếp tục tăng trưởng mạnh, đạt đỉnh 689,3 điểm vào ngày 24/3, nhưng đã giảm xuống 560,1 điểm vào ngày 13/05 do căng thẳng tại biển Đông, mức thấp nhất trong 6 tháng đầu năm Kết thúc nửa đầu năm 2014, VN30-Index đạt 615,1 điểm so với đầu năm.

2014 chỉ tăng khoảng 9,4% Đồ thị 2.2: Diễn biến của VN30-Index giai đoạn từ 2009 – 6/2014 Đơn vị tính: Điểm

VNMidcap-Index là một chỉ số thuộc bộ HOSE-Index, bao gồm 70 cổ phiếu của các công ty niêm yết trên sàn HOSE, đáp ứng các tiêu chí về thanh khoản và tỷ lệ cổ phiếu tự do chuyển nhượng Chỉ số này đã chính thức được áp dụng trên thị trường.

VN30-Index được ra mắt vào ngày 24/01/2014 với giá trị khởi điểm là 560.19 điểm Các chỉ số giá cổ phiếu mới như VNMidcap-Index, VN100-Index, VNSmallcap-Index và VNAllshare-Index đã chính thức được áp dụng từ tháng 1/2014 Để đảm bảo tính nhất quán trong việc thu thập dữ liệu và thuận lợi cho việc so sánh sự biến động giá của các chỉ số cổ phiếu theo thời gian, nghiên cứu này không chỉ sử dụng dữ liệu thực tế từ các chỉ số niêm yết trên HOSE mà còn bổ sung dữ liệu giả định cho các chỉ số này từ tháng 1/2009 đến ngày 24/01/2014.

Kể từ khi ra mắt, VNMidcap-Index đã ghi nhận mức tăng trưởng 13,8% tính đến tháng 3/2014, đạt đỉnh 654,9 điểm vào ngày 24/3/2014 Tuy nhiên, đến tháng 5/2014, chỉ số này đã giảm xuống mức thấp nhất 508,7 điểm vào ngày 13/5/2014, giảm 9% so với đầu năm do ảnh hưởng từ tình hình kinh tế chung Đến cuối tháng 6/2014, VNMidcap-Index phục hồi lên 583,6 điểm, tăng khoảng 4% so với ngày 24/01/2014.

VN100-Index là chỉ số được hình thành từ các cổ phiếu của VN30-Index và VNMidcap-Index, chính thức ra mắt vào ngày 24/01/2014 với mức khởi điểm 560,19 điểm Đến hết quý 1 năm 2014, chỉ số này đã đạt 608,3 điểm, tăng khoảng 8,5% so với ngày giao dịch đầu tiên, với mức cao nhất ghi nhận là 619,9 điểm vào ngày 24/03/2014 Trong quý 2, VN100-Index trải qua một số điều chỉnh, với mức thấp nhất là 500,2 điểm vào ngày 13/05/2014, nhưng sự điều chỉnh này diễn ra ngắn hạn nhờ lực mua ổn định.

Trong nửa đầu năm 2014, TTCK đã hồi phục nhưng mức tăng không đạt như trước, với VN100-Index kết thúc đạt 554,5 điểm, giảm khoảng 1,5% so với ngày đầu giao dịch, tương đương 5,7 điểm Diễn biến của VN100-Index từ 2009 đến giữa năm 2014 cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong xu hướng thị trường.

VNSmallcap-Index chính thức ra mắt vào ngày 24/01/2014 với mức điểm khởi đầu là 560,19 Trong giai đoạn đầu, chỉ số này ghi nhận sự tăng trưởng ấn tượng, đạt 692,2 điểm vào cuối tháng 3/2014, tương ứng với mức tăng 23,5% so với thời điểm ra mắt Các cổ phiếu trong nhóm có vốn hóa trung bình đã có sự phát triển vượt trội, dẫn đầu thị trường trong thời gian này.

So với VNMidcap-Index, VNSmallcap-Index có mức độ tăng trưởng vượt trội hơn trong cùng khoảng thời gian Tính đến hết tháng 3/2014, VNMidcap-Index chỉ đạt 13,8% mức tăng trưởng so với đầu năm, trong khi VNSmallcap-Index ghi nhận mức tăng 23,5% Đặc biệt, mức giá cao nhất của VNSmallcap-Index được ghi nhận là 722,08 điểm vào ngày 24/03/2014.

Trong quý 2, VNSmallcap-Index đã trải qua một số phiên giảm điểm theo xu hướng chung của thị trường, nhưng nhờ vào dòng tiền đầu tư duy trì lực mua, mức giảm không đáng kể Đến hết tháng 6/2014, chỉ số VNSmallcap-Index ghi nhận mức thấp nhất khoảng 526,7 điểm, giảm 6% so với đầu năm, và mức giảm này ít hơn so với VNMidcap-Index Tuy nhiên, chỉ số này vẫn đạt 597,9 điểm vào cuối tháng 6/2014, tăng khoảng 6,7% so với ngày 24/01/2014.

Các nhân tố kinh tế vĩ mô tác động đến các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Từ tháng 1/2009 đến tháng 10/2010, lãi suất và các chỉ số giá cổ phiếu có sự tương đồng rõ rệt, với xu hướng tăng của lãi suất dẫn đến sự gia tăng của giá cổ phiếu Cụ thể, khi lãi suất tăng từ 6,9% lên 8,13% vào tháng 10/2009, các chỉ số giá cổ phiếu cũng ghi nhận sự tăng trưởng mạnh mẽ Đặc biệt, vào tháng 10/2009, VNSmallcap-Index đạt mức tăng kỷ lục khoảng 997,71 điểm, gấp 1,32 lần so với đầu năm 2009.

Từ năm 2011 trở đi, diễn biến lãi suất và chỉ số giá cổ phiếu đã có sự tương phản rõ rệt; khi lãi suất tăng, chỉ số giá cổ phiếu thường có xu hướng giảm.

VNAllshare-Index giảm cho thấy lãi suất ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu Đầu năm 2011, lãi suất cao khoảng 13% dẫn đến sự điều chỉnh sâu của các chỉ số giá cổ phiếu.

Chỉ số VNSmallcap-Index đã giảm mạnh, hiện còn 364,3 điểm, giảm khoảng 43% so với đầu năm 2011, trong khi VN-Index giảm còn 351,6 điểm, tương ứng với mức giảm 31% Tuy nhiên, vào đầu năm 2014, khi lãi suất giảm từ 5,21% vào tháng 1 xuống còn 3,4% vào tháng 6, các chỉ số giá cổ phiếu đã có sự phục hồi, với VN-Index đạt mức tăng trưởng tích cực.

Tính đến giữa năm 2014, chỉ số VN-Index đạt 578,1 điểm, tăng 3,8% so với đầu năm, trong khi VNMidcap-Index đạt 583,6 điểm, tăng 4,17% so với tháng 1/2014 Thông tin này cho thấy sự phát triển tích cực của thị trường chứng khoán tại HOSE trong giai đoạn từ 2009 đến tháng 6/2014.

(Nguồn: www.sbv.gov.vn)

Năm 2008, chỉ trong 2 tháng đầu, chỉ số CPI đã tăng 6,02% và tiếp tục tăng trên 2% mỗi tháng trong 4 tháng sau đó, đạt đỉnh điểm lạm phát gần 30% vào tháng 7 Tuy nhiên, đến năm 2009, Chính phủ đã kiểm soát tình hình lạm phát, giữ mức lạm phát ở mức 6,88% vào tháng 8/2009 Đồng thời, trong năm 2009, các chỉ số giá cổ phiếu cũng ghi nhận mức tăng cao đáng kể.

VN-Index VN30-Index VNMidcap-Index

VN100-Index VNSmallcap-Index VNAllshare-Index

Vào tháng 10/2009, chỉ số VNSmallcap-Index đạt 997,71 điểm và VN-Index đạt 587,1 điểm, tăng đáng kể so với mức 303,2 điểm vào tháng 1/2009 Sự giảm lạm phát đã đóng góp tích cực vào sự hồi phục của thị trường chứng khoán.

Năm 2011, tình hình lạm phát gia tăng mạnh mẽ, đạt 18,85%, đã tác động tiêu cực đến thị trường chứng khoán (TTCK) khi VN-Index giảm liên tục Từ mức 484,7 điểm vào cuối năm 2010, VN-Index đã tụt xuống còn 386,4 điểm vào giữa tháng 5/2011, tương ứng với mức giảm 20% chỉ trong 5 tháng Đến cuối năm 2011, VN30-Index chỉ đạt 388,60 điểm, giảm 26% so với đầu năm, trong khi tháng 1/2011 chỉ số này đã đạt 531,47 điểm Sự gia tăng lạm phát trong giai đoạn này là nguyên nhân chính dẫn đến sự sụt giảm liên tục của TTCK.

Diễn biến các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE từ năm 2009 đến giữa năm 2014 cho thấy lạm phát có tác động tiêu cực đến giá cổ phiếu Khi lạm phát gia tăng trong khi các yếu tố khác không thay đổi, nó sẽ làm giảm giá các chỉ số cổ phiếu Thống kê cho thấy mối quan hệ giữa lạm phát và các chỉ số giá cổ phiếu trong giai đoạn này.

(Nguồn: www.hsx.vn; www.gso.gov.vn)

VN-Index VN30-Index VNMidcap-Index

VN100-Index VNSmallcap-Index VNAllshare-Index CPI

Giai đoạn từ 2009 đến 2011, cung tiền trong nền kinh tế giảm mạnh, từ 40,37% vào tháng 8/2009 xuống chỉ còn 9,27% vào tháng 12/2011, ảnh hưởng tiêu cực đến thị trường chứng khoán Các chỉ số giá cổ phiếu đồng loạt giảm, với VNSmallcap-Index giảm mạnh nhất từ 651,45 điểm xuống 364,88 điểm, tức giảm khoảng 44% so với đầu năm Trong khi đó, VN100-Index giảm ít hơn, từ 471,05 điểm xuống 346,29 điểm, tương ứng với mức giảm khoảng 26%.

Trong giai đoạn từ năm 2009 đến tháng 6 năm 2014, cung tiền có ảnh hưởng tích cực đến các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE Sự giảm sút của cung tiền lưu thông dẫn đến tác động tiêu cực, làm giảm điểm các chỉ số giá cổ phiếu.

(Nguồn: www.hsx.vn; www.sbv.gov.vn)

VN-Index VN30-Index VNMidcap-Index

VN100-Index VNSmallcap-Index VNAllshare-Index M2

Trong giai đoạn 2009-2011, NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá USD/VND nhiều lần, gây ảnh hưởng tiêu cực đến TTCK Cụ thể, vào ngày 25/11/2009, tỷ giá USD/VND tăng 5,44% từ 17.034 VND/USD lên 17.953 VND/USD, dẫn đến VN-Index giảm từ 503,4 điểm xuống 442,1 điểm vào ngày 16/12/2009 VN30-Index cũng giảm 21 điểm, tương đương 4% Tuy nhiên, sau đợt điều chỉnh tăng 3,36% vào ngày 03/03/2010, VN-Index đã phục hồi từ 490,91 điểm lên 507,32 điểm Đến ngày 11/02/2011, tỷ giá bình quân liên ngân hàng tăng 9,3% lên 20.693 VND/USD, khiến TTCK ghi nhận nhiều phiên giảm điểm, với VNMidcap-Index giảm 21% so với đầu năm, chỉ đạt 371,8 điểm vào tháng 7/2011 Vào tháng 4/2013, tỷ giá tiếp tục điều chỉnh tăng từ 20.828 VND/USD lên 21.036 VND/USD, hỗ trợ tích cực cho các chỉ số giá cổ phiếu, trong đó VNMidcap-Index tăng khoảng 20% so với đầu năm.

Trong giai đoạn 2009 đến tháng 6 năm 2014, diễn biến chỉ số giá cổ phiếu và các đợt điều chỉnh tỷ giá hối đoái cho thấy mối quan hệ giữa chúng Tuy nhiên, mối liên hệ này vẫn chưa hoàn toàn rõ ràng Đồ thị 2.10 minh họa sự tương quan giữa tỷ giá hối đoái và các chỉ số giá cổ phiếu tại Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) trong thời gian này.

2009 – 6/2014 Đơn vị tính: điểm, đồng

(Nguồn: www.hsx.vn; www.sbv.gov.vn)

2.3.5 Giá trị sản lượng công nghiệp

Trong giai đoạn 2009 - 2014, giá trị sản lượng công nghiệp có xu hướng tăng dài hạn, nhưng cũng xuất hiện những đợt điều chỉnh giảm, điều này phản ánh vào diễn biến của các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE Năm 2009, giá trị sản lượng công nghiệp và các chỉ số cổ phiếu cùng tăng Tuy nhiên, từ 2010 đến 2014, mặc dù giá trị sản lượng công nghiệp tiếp tục tăng, các chỉ số giá cổ phiếu thường xuyên điều chỉnh giảm mạnh Tính đến hết tháng 12/2011, giá trị sản lượng công nghiệp tăng 80.914 tỷ đồng, tương đương gần 14% so với đầu năm, trong khi các chỉ số cổ phiếu giảm đáng kể, với VNSmallcap-Index giảm 43% xuống còn 364,3 điểm và VN-Index giảm 31% còn 351,6 điểm so với đầu năm.

VN-Index VN30-Index VNMidcap-Index

VN100-Index VNSmallcap-Index VNAllshare-Index

Phân tích diễn biến cho thấy giá trị sản lượng công nghiệp có ảnh hưởng tích cực đến các chỉ số giá cổ phiếu, tuy nhiên, sự tác động này còn bị chi phối bởi các yếu tố kinh tế vĩ mô khác Đồ thị 2.11 minh họa mối quan hệ giữa giá trị sản lượng công nghiệp và các chỉ số giá cổ phiếu tại HOSE trong giai đoạn từ 2009 đến tháng 6 năm 2014, với đơn vị tính là điểm và tỷ đồng.

(Nguồn: www.hsx.vn; www.moit.gov.vn)

2.3.6 Đầu tư trực tiếp nước ngoài

PHÂN TÍCH SỰ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ KINH TẾ VĨ MÔ ĐẾN CÁC CHỈ SỐ GIÁ CỔ PHIẾU TẠI SỞ GIAO DỊCH CHỨNG KHOÁN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

GIẢI PHÁP HẠN CHẾ SỰ TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC CỦA CÁC NHÂN TỐ

Ngày đăng: 19/06/2021, 23:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w