1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu mối quan hệ giữa một số chỉ tiêu sinh trưởng của quế một số tính chất lí, hoá học của đất làm cơ sở phân hạng đất trồng quế tại văn yên yên bái​

67 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Mối Quan Hệ Giữa Một Số Chỉ Tiêu Sinh Trưởng Của Quế Với Một Số Tính Chất Lí, Hoá Học Của Đất Làm Cơ Sở Phân Hạng Đất Trồng Quế Tại Văn Yên – Yên Bái
Tác giả Nguyễn Hoàng Hương
Người hướng dẫn TS. Hà Quang Khải
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

NGUYỄN HOÀNG HƯƠNG NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG CỦA QUẾ Cinamomum cassia Nees ex Blume VỚI MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÍ, HOÁ HỌC CỦA ĐẤT LÀM CƠ SỞ PHÂN HẠNG ĐẤT TRỒNG Q

Trang 1

NGUYỄN HOÀNG HƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG CỦA QUẾ (Cinamomum cassia Nees ex Blume) VỚI MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÍ, HOÁ HỌC CỦA ĐẤT LÀM CƠ SỞ PHÂN HẠNG ĐẤT TRỒNG QUẾ TẠI

VĂN YÊN – YÊN BÁI

Trang 2

NGUYỄN HOÀNG HƯƠNG

NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA MỘT SỐ CHỈ TIÊU SINH TRƯỞNG CỦA QUẾ (Cinamomum cassia Nees ex Blume) VỚI MỘT SỐ TÍNH CHẤT LÍ, HOÁ HỌC CỦA ĐẤT LÀM CƠ SỞ PHÂN HẠNG ĐẤT TRỒNG QUẾ TẠI

VĂN YÊN – YÊN BÁI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

CHUYÊN NGÀNH: LÂM HỌC

Hà Tây, năm 2008

Trang 3

theo hình thức đào tạo không tập trung thuộc hệ đào tạo cao học Lâm nghiệp.

Để hoàn thành luận văn thạc sĩ, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

tới TS Hà Quang Khải, người đã trực tiếp hướng dẫn, dìu dắt và giúp đỡtrong suốt quá trình triển khai nghiên cứu và hoàn thiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Bộ môn đất Lâm nghiệp, Trung tâm thựchành thí nghiệm Khoa Lâm học đã nhiệt tình giúp đỡ trong quá trình xử lí,phân tích số liệu và đóng góp các ý kiến quý báu đối với các nội dung thựchiện trong đề tài

Xin gửi tới Hạt kiểm lâm huyện Văn Yên, Uỷ ban nhân dân xã Đại

Sơn, Trung tâm khuyến nông, khuyến lâm huyện Văn Yên – Yên Bái lời cảm

tạ sâu sắc vì đã tạo điều kiện giúp đỡ giúp tôi trong công tác thu thập số liệungoại nghiệp cũng như các tài liệu nghiên cứu cần thiết khác phục vụ quátrình viết luận văn

Xin ghi nhận những đóng góp nhiệt tình, quý báu của gia đình, bạn bè,

đồng nghiệp trong việc thu nhận và hoàn thiện những thông tin về đề tài

Xin trân trọng cảm ơn

Trang 4

ĐẶT VẤN ĐỀ

Quế (Cinamomum cassia) là loài cõy đa tỏc dụng Ở Việt Nam, Quế cú

phõn bố tự nhiờn trong rừng hoặc được nhõn dõn gõy trồng trờn nhiều tỉnh của

nước ta Trải qua nhiều thời điểm kinh doanh khỏc nhau, Việt Nam đó cú

những thành cụng nhất định trong cụng tỏc trồng rừng Quế tại cỏc địa

phương, diện tớch trồng Quế khụng ngừng tăng lờn, nguồn thu nhập mang lại

từ cõy Quế đó từng bước nõng thu nhập của đồng bào miền nỳi núi riờng và

đúng gúp vào thu nhập của nền kinh tế quốc dõn núi chung Trong cỏc loài

cõy lõm sản ngoài gỗ của rừng nhiệt đới nước ta, cõy Quế cú thể tổ chứcthành nguồn hàng hoỏ lớn, ổn định lõu dài và cú giỏ trị, nhất là giỏ trị xuấtkhẩu Giỏ trị lớn nhất của Quế tập trung ở bbộ phận vỏ, vỏ Quế cú vị cay, cú

hương thơm và cú rất nhiều cụng dụng Ở cỏc bộ phận khỏc nhau như thõn, rễ,

cành của Quế đều cú thể lấy vỏ Lỏ và cỏc bộ phận khỏc cú thể sử dụng để

chưng cất tinh dầu Gỗ Quế được sử dụng để làm gỗ trụ mỏ và cỏc đồ gia

dụng thụng thường khỏc Trong y học, Quế cũn được coi là một biệt dược, làmột mặt hàng xuất khẩu cú giỏ trị kinh tế cao Ngoài ra trong cụng nghiệpthực phẩm Quế cũn được sử dụng làm hương liệu, chất thơm, làm hương liệucho cỏc ngành mĩ phẩm Ngoài lợi ích về mặt kinh tế, cây Quế còn đóng gópvào bảo vệ môi trường sinh thái, làm tăng độ che phủ rừng, giữ đất, giữ nước ởcác vùng đất đồi núi dốc, bảo tồn và phát triển sự đa dạng các nguồn gen quý.Cây Quế còn đóng góp vào định canh - đinh cư, xoá đói giảm nghèo tạo thêmcông ăn việc làm cho nông dân miền núi nước ta.Cõy Quế là nguồn lợi kinh tế

lớn và gắn liền với đời sống của nhõn dõn cỏc dõn tộc ớt người như Dao (YờnBỏi), Thỏi, Mường (Nghệ An, Thanh Hoỏ), Cà Tu, Cà Toong (Quảng Nam,Quảng Ngói) và Thanh Y, Thanh Phỏn (Quảng Ninh) Theo cỏc tài liệunghiờn cứu, Quế Việt Nam cú nhiều loài, song chủ yếu loài Quế cú tờn khoa

Trang 5

học Cinamomum cassia Blume, là một trong những loài cú chất lượng tinh

dầu hàng đầu trờn thế giới

Cõy Quế (Cinamomum cassia Blume) đại diện cho loài Quế cú vựng

phõn bố ở miền Bắc Việt Nam Loài này cũn cú tờn gọi khỏc là Quế đơn, QuếTrung Quốc, Quế bỡ, Quế nhục, đõy là loài Quế được gõy trồng chủ yếu ởYờn Bỏi, Thanh Hoỏ, Quảng Ninh, Ninh Bỡnh…và một số địa phương khỏctrong cả nước Đối với cỏc tỉnh miền Bắc, Quế thường phõn bố ở độ cao200m, cũn ở miền Nam là 800m Quế thớch hợp ở cỏc vựng khớ hậu ụn hoà,nhiệt độ từ 20 – 290C, trong đú khoảng nhiệt độ thớch hợp nhất đối với sự phỏttriển của Quế từ 20 -250C Quế cú thể chịu được ở điều kiện nhiệt độ tối thấp

đến 10C, hoặc cú thể lờn tới 37 – 380C ở miền Nam, độ ẩm khụng khớ trờn85%, lượng mưa bỡnh quõn năm từ 2000- 4000mm

Đối với người dõn miền nỳi Việt Nam, Quế là một trong cỏc loài cõy cú

giỏ trị đang được phỏt triển mạnh mẽ, rộng khắp và là đối tượng phục vụ làmgiàu của nhiều hộ gia đỡnh Ở Văn Yờn – Yờn Bỏi, Quế được coi là cõy trồngchớnh, phủ xanh đất trống, đồng thời lại cú giỏ trị kinh tế cao, đõy là tỉnh cúdiện tớch trồng Quế được coi là lớn nhất trong cả nước Theo số liệu của SởNụng nghiệp và phỏt triển nụng thụn Yờn Bỏi, tổng diện tớch Quế ở Yờn bỏi

tớnh đến năm 1998 là 20.837 ha, trong đú diện tớch trồng Quế lớn nhất tậptrung ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn và Trấn Yên Vựng Quế Văn

Yờn tập trung ở một số xó như: Đại Sơn, Viễn Sơn, Châu Quế, Phong Dụ,Xuân Tầm, Mỏ Vàng,… có diện tích trồng Quế và sản lượng vỏ Quế chiếmkhoảng 70% của cả vùng Riờng xó Đại Sơn hiện nay cú khoảng 1500 ha Quế

cú độ tuổi khỏc nhau từ mới trồng tới hơn 20 tuổi Sinh sống trên vùng QuếYên Bái chủ yếu là đồng bào Dao, họ có nghề trồng Quế từ lâu đời Đặc điểmchung của vùng quế Yên Bái là vùng rừng núi chia cắt, hiểm trở, nằm phía

Đông và Đông Nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn, có độ cao tuyệt đối khoảng

Trang 6

300 – 700 m; nhiệt độ trung bình năm là 22,7oC, lượng mưa bình quân nămtrên 2000 mm, có nơi như Phong Dụ lượng mưa bình quân năm đạt đến trên

3000 mm; độ ẩm bình quân là 84% Đất đai phát triển trên đá Sa thạch, Phiếnthạch, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn và thoát nước Theo cỏc tài liệu nghiờn

cứu thỡ Quế là loài cú thể sinh trưởng trờn hầu hết cỏc loai đất Feralit mựntrờn nỳi phỏt triển trờn đỏ Para gnai, Granit, đỏ phiến mica, đỏ vụi, một điều

cơ bản là cỏc loại đất đú phải cũn tớnh chất đất rừng

Quế là loài cõy được gõy trồng thuần loài theo phương thức hộ gia đỡnhhoặc đồi rừng do cỏc trang trại hay cỏ nhõn hộ nụng dõn quản lớ Mặc dự Quế

được phỏt triển mạnh ở nhiều địa phương với diện tớch trồng lớn, đồng thờiđược coi là loài cõy đặc sản cú giỏ trị về kinh tế cũng như cỏc giỏ trị khỏc vềmụi trường sinh thỏi, song hiện nay, mức độ sinh trưởng và chất lượng sản

phẩm từ Quế ở một số nơi cũn chưa cao Nguyờn nhõn cú thể là do cụng tỏcgiống chưa tốt, do việc gõy trồng ồ ạt khụng theo quy hoạch tổng thể, vượt rangoài vựng phõn bố tự nhiờn của nú, do chưa cú kĩ thuật trồng, hoặc do chưanghiờn cứu kĩ về tớnh chất đất thớch hợp đối với việc gõy trồng loài cõy này

Với mong muốn đúng gúp vào việc gõy trồng loài cõy đặc sản cú giỏ trịkinh tế, bằng việc nghiờn cứu đất trồng Quế, xỏc định mối quan hệ giữa tớnhchất đất với cỏc chỉ tiờu sinh trưởng của loài cho từng cấp tuổi khỏc nhau, từ

đú lựa chọn cỏc chỉ tiờu thớch hợp phục vụ cho cụng tỏc trồng rừng Quế tạiVăn Yờn – Yờn Bỏi núi chung và xó Đại Sơn núi riờng, nhằm nõng cao hiệu

quả trồng rừng Quế tại địa phương, tỏc giả mạnh dạn nghiờn cứu luận văn với

tờn: “Nghiờn cứu mối quan hệ giữa một số chỉ tiờn sinh trưởng của cõy

Qu ế (Cinamomum cassia Blume) với một số tớnh chất lớ, hoỏ học của đất làm cơ sở phõn hạng đất trồng Quế tại huyện Văn Yờn – Yờn Bỏi”.

Trang 7

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐẾ NGHIÊN CỨU VÀ ĐẶC ĐIỂM ĐỐI

TƯỢNG NGHIÊN CỨU

1.1 Lịch sử về vấn đề nghiên cứu:

1.1.1 Trên th ế giới:

1.1.1.1 Nghiên cứu về cây Quế:

Năm 1928, J.Lan trong tác phẩm “Cây trồng phổ biến ở Đông Dương”

đã đề cập đến cây Quế [20] Theo ông, Quế được phân thành ba loài chủ yếu

đó là:

Cinnamomum zeylanicum (còn gọi là Quế Quan, Quế Xây Lan)

Cinnamomum loureirii Ness (Quế Việt Nam)

Cinnamomum cassia ( Quế Trung Hoa)

Năm 1954, Sery.R.Wtrong tác phẩm “Cây cho người” cho biết: Cassiahay còn gọi là Quế Trung Quốc, là một loại dầu quý lấy từ thân cây

Cinnamomum cassia ở châu Á thuộc họ Long não (Lauraceae).

Khẳng định thêm một lần nữa về nguồn gốc cây Quế, năm 1969,Vulph E.V và Maleva O.P khi nghiên cứu họ Long não (Lauraceae) cũng đã

đề cập đến cây Quế Trung Quốc (Cinnamomum chinese Blume) phân bố ở

vùng nhiệt đới Châu Á được sử dụng để làm thuốc và làm gia vị

Năm 1981, Nguyễn Hải Khoát đã giới thiệu khái quát về Quế trên thịtrường quốc tế, tác giả cho biết ở phương Tây, Quế là một trong những gia vịđược quen dùng từ lâu…Ở châu Á, Quế còn được sử dụng làm thuốc chữa

bệnh và làm dầu xoa bóp Các sản phẩm khác của Quế như tinh dầu, bột Quế

được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực công nghiệp, thực phẩm, sử dụng làm

bánh kẹo, đồ uống cao cấp Sản lượng Quế (Cinnamomum Cassia Blume) đạt

được trên 10.000 tấn/năm, tập trung ở một số quốc gia như: Inđônêxia,Việt

Trang 8

Nam,Trung Quốc Quế (Cinnamomum Zeylanicum Nees) đạt khoảng 6000

tấn/năm, tập trung nhiều ở Xirilanca

Trên thị trường thương mại quốc tế (Cinnamomum cassia Blume) được

ưa chuộng và tiêu thụ mạnh ở các nước phát triển như: Nhật Bản, Mĩ,

Mêhicô, Cộng hoà liên bang Đức, Liên Xô, Hà Lan…

1.1.1.2 Những nghiên cứu về công tác đánh giá phân hạng đất:

Đánh giá đất đai là công tác quan trọng trong việc xác định độ phì

nhiêu của đất, là cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp phát triển, quy hoạchvùng trồng, cũng như các biện pháp duy trì, bảo vệ và cải tạo độ phì của đất

Có thể hiểu đánh giá đất là quá trình ước lượng tiềm năng của đất cho sự sửdụng hay một số sự sử dụng đã lựa chọn Đánh giá đất là một nhánh trongphân hạng đất, ở đó cơ sở của sự phân hạng là mức độ thích hợp đối với việc

sử dụng đất

Công tác đánh giá đất đai được coi như một khoa học đã được hìnhthành hàng trăm năm Hiện nay, trên thế giới việc đánh giá đất đai có rấtnhiều quan điểm và phương pháp khác nhau

Hệ thống đánh giá đất được sử dụng rộng rãi nhất hiện nay là hệ thốngphân loại đất theo tiềm năng của USDA ( theo Klingebiel and Montgomery,1961) Mặc dù đây là hệ thống đánh giá đất xây dựng cho các bang của Mĩnhưng nó vẫn thích hợp áp dụng đối với các nước chậm phát triển Bản đồtheo hệ thống này lấy số La Mã để đánh số cho các lớp đất đai Phương pháp

đánh giá của hệ thống này là nhóm họp các đơn vị đất đai trên bản đồ lại

Trong đó các yếu tố được chú ý trong đánh giá đó là các yếu tố hạn chế của

đất, những đặc tính xấu của đất ảnh hưởng đến việc sử dụng Trong đó nhóm

yếu tố hạn chế lâu dài thuộc về các yếu tố như: Độ dốc, độ dày tầng đất, khíhậu Còn yếu tố hạn chế tạm thời như chế độ dinh dưỡng, nước Đây là hệ

Trang 9

thống đánh giá có tính dễ hiểu đối với người sử dụng, có thể thay đối để phùhợp với từng quốc gia.

Đánh giá đất theo mức độ thích hợp cũng là một dạng trong đánh giáđất Một ví dụ về cách đánh giá đất theo mức độ thich hợp được đưa ra ở New

Guinea bởi Haantjens ( 1965) Trong đó đưa ra mức độ đánh giá thích hợpcho 4 loại hình sử dụng đất: Cây hàng năm, cây gỗ, đồng cỏ và lúa nước.Nguồn gốc của phương pháp này nắm giữ phương pháp giới hạn và phươngpháp số học gần đúng Mỗi nhân tố trong 14 nhân tố của môi trường được đưa

ra đánh giá theo mức độ phù hợp của nó với 4 loại hình sử dụng đất Sự thíchhợp tổng quát nhận biết từ sự biến đổi tổng quát của các nhân tố đơn lẻ thấpnhất hoặc một nhóm các giá trị đơn lẻ hơi thấp có thể ảnh hưởng giống nhau

đến sự thích hợp chung

Theo số liệu dự trữ của TREE CD – ROM ( Cab, International forAsia) từ năm 1939 đến tháng 4 năm 1995, có 48 công trình đánh giá hiệu quảkinh tế trong lâm nghiệp Trong đó có 19 công trình đánh giá hiệu quả kinh tếcho lâm nghiệp nhiệt đới, 9 công trình đánh giá hiệu quả kinh tế rừng trồng.Trong đó, tập trung vào đánh giá hiệu quả của việc áp dụng các biện pháp kĩthuật lâm sinh đưa lại như:

- Đánh giá hiệu quả do quá trình cải thiện gen cây trồng loài cây Chirst

– tree ở Donglas – Mĩ (1974)

- Đánh giá hiệu quả biện pháp phòng chống cháy rừng ở Anh,Colombia (1968)

- Đánh giá hiệu quả biện pháp bón phân cho rừng ở Đức (1963),

Nhằm làm rõ hơn về vai trò của phân hạng đánh giá đất đai làm cơ sởcho việc quy hoạch sử dụng đất, tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO) đãtập hợp trí tuệ của các nhà khoa học đất và các chuyên gia đầu ngành về nôngnghiệp của FAO và Hà Lan tổng hợp kinh nghiệm của nhiều quốc gia để xây

Trang 10

dựng lên cuốn tài liệu chung: “Đề cương đánh giá đất đai” [FAO -1976] Tàiliệu này đã được các nước trên thế giới vận dụng, thử nghiệm vào công tác

đánh giá đất đai và được coi như một “cẩm nang” đánh giá đất cho riêng

mình Cho đến năm 1983, đề cương được bổ sung, chỉnh sửa cùng với hàngloạt các tài liệu hướng dẫn đánh giá về đất chi tiết hơn cho các vùng sản xuấtkhác nhau như:

- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp có tưới (Land Evaluation forIrrigated Agriculture [FAO - 1980].

- Đánh giá đất đai cho nền nông nghiệp nhờ mưa (Land Evaluation forRaifed Agriculture [FAO - 1983]

- Đánh giá đất đai cho trồng trọt thâm canh (Land Evaluation forExtensive grazing) [FAO - 1990].

- Đánh giá đất đai và phân tích hệ thống canh tác cho quy hoạch sửdụng đất (Land Evaluation and farming system analysis for land use planning)[FAO - 1992]

Các phương pháp đánh giá đất đai của FAO dựa trên cơ sở phân loại

đất thích hợp (Land suitability Classification) Cơ sở của phương pháp này

dựa trên sự so sánh giữa yêu cầu sử dụng đất với chất lượng của đất, gắn vớicác khía cạnh kinh tế, xã hội, môi trường để lựa chọn phương án sử dụng đấttối ưu

Các phương pháp đánh giá đất đai đã được FAO đề cập khá đầy đủ và

được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới, đây chính là cơ sở đểđưa ra các quyết định cho việc quản lí và sử dụng hợp lí tài nguyên đất đai,

một dạng tài nguyên mà tự nhiên không thể tái sinh được

1.1.2 Ở Việt Nam

1.1.2.1 Nghiên cứu về cây Quế:

- Những nghiên cứu về phân loại Quế:

Trang 11

Theo tác giả Đỗ Tất Lợi, Quế có ba loài chính như sau:

+ Quế Thanh Hoá, Quế Nghệ An (Cinnamomum loureirii Nees).

+ Quế Trung Quốc (Cinnamomum cassia Blume).

+ Quế quan (Cinnamomum zeylanicum Nees).

Riêng loài Quế Thanh Hoá là loài mọc hoang và được gây trồng ởkhắp vùng rừng núi Việt nam, trong đó vùng Quế chủ yếu phân bố ở dọc dãy

Trường Sơn từ bắc Thanh Hoá - Nghệ An tới Nam Quảng Nam - Quảng Ngãi

Theo kết quả nghiên cứu về cây Quế miền Bắc Việt Nam của tác giảTrần Hợp khi đo đếm hơn 100 tiêu bản Quế của Yên Bái, Thanh Hoá, QuảngNinh cho thấy: Các mẫu tiêu bản Quế miền Bắc Việt Nam xếp vào một liên

loài là Cinnamomum cassia Blume [34].

Kết quả nghiên cứu về đặc điểm sinh thái và tăng trưởng của cây QuếThanh Hoá của các tác giả Thạch Bích và Hoàng Minh Tuấn cũng đã khẳng

định tên khoa học của cây Quế được trồng tại Thanh Hoá hiện nay phù hợp

với tài liệu của LiouHo trong “Phân loại và phân bố địa lí của họ Re ở TrungQuốc và Đông Dương” Như vậy, loài Quế Thanh Hoá đang trồng hiện nay

cùng loài với Quế bì ở Trung Quốc là loài Cinnamomum cassia Blume.

Ngoài ra, cây Quế còn được phân loại theo trồng trọt và kinh nghiệmcủa nhân dân có: Quế lá to, Quế lá nhỏ, Quế đắng, Quế ngọt, trong đó thì Quế

lá nhỏ là loài có nhiều tinh dầu nhất

Các tài liệu nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy chi lớn nhất trong họ

Lauraceae là chi Cinnamomum với 14 loài [12] Riêng loài Cinnamomum

cassia Blume được trồng rộng rãi nhất ở các địa phương và là một trong các

loài có trữ lượng tinh dầu cao [31]

- Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học và sinh thái học của loàiQuế:

Trang 12

Đặc điểm sinh thái học và sinh học của loài Quế đã được nghiên cứu

trong một số công trình sau:

Theo nghiên cứu của Viện Điều tra quy hoạch rừng và các tác giả TrầnNguyên Hữu, Lâm Công Định, Khanh Xuân, Lê Khả Kế, cây Quế đã đượcnghiên cứu ở các mặt như: Đặc điểm hình thái, phân bố địa lí, giá trị kinh tế

và kĩ thuật gieo trồng [34]

Tác giả Trần Hợp (1992) đã nghiên cứu và tìm hiểu đặc tính sinh vậthọc và khả năng gây trồng cây Quế nhằm làm cơ sở cho việc nhân rộng phạm

vi gây trồng cây Quế [36]

Khi nghiên cứu về khả năng giữ nước và bảo vệ đất của các phươngthức canh tác trong kinh tế hộ gia đình tại Hàm Yên – Tuyên Quang, TS.Vương Văn Quỳnh và TS Phùng Ngọc Lan (1994), cho rằng: Trong cácphương thức canh tác thì mô hình canh tác cây Quế có tác dụng phòng chốngxói mòn và bảo vệ đất rất tốt Từ đó, các tác giả đưa ra nhiều phương pháp vàcông thức xác định lượng xói mòn đất cho vùng nghiên cứu [26]

Nguyễn Thanh Phương (1994) đã nghiên cứu đề tài: “Di thực cây Quế

từ Trà Bồng – Quảng Ngãi về vùng An lão” Tác giả nghiên cứu khả năng dithực của cây Quế ở Trà Bồng và hàm lượng tinh dầu trong vỏ thay đổi khi dithực cây Quế từ vùng này sang vùng khác Đề tài đã giúp cho các nhà đầu tư,sản xuất, quản lí làm cơ sở cho việc mở rộng vùng trồng Quế tại các khu vựckhác nhau [24]

- Những nghiên cứu về sản lượng và tinh dầu Quế:

Năm 1977, TS Uhlig (Đức) tiến hành nghiên cứu đối với loài Quế

Cinnamomum cassia Blume ở miền Bắc Việt Nam Ông tiến hành nghiên cứu

Quế về các nội dung như:

+ Nghiên cứu mối tương quan giữa độ dày của vỏ với đường kính D1.3

của cây

Trang 13

+ Nghiên cứu mối tương quan giữa sản lượng vỏ với đường kính trungbình D1.3.

+ Nghiên cứu mối quan hệ giữa sản lượng vỏ bình quân một cây với

đường kính D1.3

+ Nghiên cứu hàm lượng tinh dầu trong vỏ với độ dày của vỏ

Ngoài các nội dung trên, tác giả còn nghiên cứu về kĩ thuật gây trồng,phạm vi phân bố và công dụng của cây Quế Đây là một công trình nghiêncứu khá đầy đủ về cây Quế ở miền Bắc Việt Nam và được đánh giá cao [36]

TS Nguyễn Mê Linh, Phùng Cẩm Thạch và Ngô Duy Bình đã tiếnhành khảo sát hàm lượng tinh dầu Quế ở Việt Nam giai đoạn 1976 – 1980[22] Các nội dung thể hiện như sau:

+ Xác định hàm lượng tinh dầu ở vỏ Quế

+ Xã định hàm lượng tinh dầu vỏ Quế lấy ở các độ cao khác nhau trênthân cây

+ Xác định hàm lượng tinh dầu trong một số bộ phận của cây: Vỏ, lá,quả, thân, cành, rễ

+ Xác định hàm lượng tinh dầu qua nguyên liệu ở trạng thái tươi vàkhô

Từ các nội dung trên, các tác giả đã đưa ra một số kết luận như sau:+ Quế Yên Bái, Quảng Ninh từ 7 - 8 tuổi đã có hàm lượng tinh dầu đạttiêu chuẩn Quế gia vị, làm thuốc và chưng cất tinh dầu

+ Hàm lượng tinh dầu Quế có xu hướng tăng dần tứ gốc lên ngọn.+ Hàm lượng tinh dầu Quế tăng lên theo tuổi

Đây là một trong các công trình nghiên cứu được đánh giá tương đốiđầy đủ về nghiên cứu hàm lượng tinh dầu, có thể sử dụng làm cơ sở khoa học

cho các nghiên cứu tiếp theo

Trang 14

Tác giả Phạm Xuân Hoàn năm 1994 – 1995 đã tiến hành xây dựng biểucấp đất, biểu dự đoán sản lượng vỏ Quế theo các cấp đất và theo các độ tuổicho lâm phần Quế thâm canh thuần loài ở Văn Yên– Yên Bái [16].

Phạm Xuân Hoàn, Hoàng Xuân Y (1999) đã nghiên cứu ứng dụngphương trình đường sinh thân cây để lập biểu sản lượng sản phẩm vỏ Quếtrồng ở Yên Bái [16] Kết quả đề tài đã lập được biểu thể tích vỏ Quế và biểukhối lượng vỏ Quế khô theo chiều cao vút ngọn (Hvn) và đường kính ngangngực (D1.3) làm cơ sở cho việc xác định sản lượng và phân loại vỏ Quế trongsản xuất kinh doanh

GS.TS Vũ Tiến Hinh, TS Phạm Ngọc Giao, PGS.TS Ngô Kim Khôi

và PGS.TS Phạm Xuân Hoàn đã nghiên cứu đề tài: “Lập biểu sản lượng rừngQuế tại văn Yên – Yên Bái” Công trình được đánh giá là một trong cácnghiên cứu về sản lượng Quế khá hoàn chỉnh ở Việt Nam Rừng Quế đượcnghiên cứu có tuổi từ 5 – 15 và sản lượng vỏ được phân thành 3 loại chính là:Loại 1, Loại 2, Loại 3 [15]

- Những nghiên cứu về chính sách, kinh tế:

Năm 1980, Phạm Anh Tuấn đã cho xuất bản cuốn sách: “Phát triểnnghề trồng Quế ở Việt Nam” Tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu và đúc rútkinh nghiệm của nhân dân trong quá trình gây trồng và phất triển cây Quế

Đồng thời nêu lên vị trí của sản phẩm Quế Việt Nam trên thị trường quốc tế

[29]

Năm 1981, nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành tiêuchuẩn nhà nước về: “Quế xuất khẩu – Yêu cầu kĩ thuật” (TCVN 3230 – 79).Quy định chất lượng vỏ Quế được gia công để xuất khẩu [22]

Năm 1990, Bộ Lâm nghiệp ban hành Quy phạm tạm thời về trồng câyQuế Đây là văn bản pháp quy đầu tiên, quy định các chỉ tiêu kĩ thuật về gâytrồng Quế [1]

Trang 15

Ngày 25/1/2000, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ra Quyết

định số 05/2000/QĐ- BNN/ KHCN, ban hành tiêu chuẩn ngành 04 TCN – 23– 2000 Quy phạm kĩ thuật gây trồng Quế Đây là quy phạm chính thức cho

việc gây trồng Quế Cinnamomum cassia Blume ở Việt Nam Quy phạm kĩ

thuật đã quy định điều kiện gây trồng, thu hái và bảo quản hạt giống, tạo câycon, trồng chăm sóc và bảo vệ rừng [2]

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu từ trước tới nay mới chỉ tậptrung vào việc nghiên cứu các biện pháp kĩ thuật lâm sinh để đề xuất các biệnpháp gây trồng loài Quế có giá trị Song bên cạnh đó vấn dề nghiên cứu về đấttrồng Quế, đánh giá khả năng sản xuất của đất đối với quá trình sinh trưởng

và phát triển của loài còn ít Đây cũng chính là một trong các lí do mà tác giảlựa chọn đề tài nghiên cứu

1.1.2.2 Những nghiên cứu về đánh giá phân hạng đất đai và quan

hệ giữa thực vật với đất rừng:

Đất lâm nghiệp được hiểu, gồm đất có rừng che phủ và đất không có

rừng Việc nghiên cứu đất rừng luôn được xem xét và đặt trong mối quan hệvới loại hình rừng và với thực vật rừng Vấn đề nghiên cứu đất rừng luôn

được đặt nằm trong mối quan hệ: Ảnh hưởng của đất rừng tới rừng và ảnh

hưởng ngược lại của rừng tới đất

Thành tựu nghiên cứu đất rừng theo phương pháp luận kể trên phải đềcập đến những đóng góp đầu tiên của tác giả Nguyễn Ngọc Bình (1986, 1970,1979) Tác giả đã tổng quát hoá những đặc điểm của đất dưới các đai rừng vàchuỗi diễn thế rừng ở miền Bắc Về vấn đề phát sinh đất đã đề cập tới đấtvàng allit potzon hoá và đất vàng nhiệt đới [4]

Các kết quả nghiên cứu về chất hữu cơ dưới rừng (Fritland, 1964;Nguyễn Ngọc Bình, 1970; Nguyễn Tử Siêm, 1976; Ngô Văn Phụ, 1979; Đỗ

Đình Sâm 1985, 1990,…) đã chứng minh rõ vai trò của chất hữu cơ trong quá

Trang 16

trình hình thành đất và phát triển độ phì ở nước ta Trên thực tiễn, nhân tốmùn trở thành một trong những nhân tố quan trọng trong việc đánh giá độ phìcủa đất, chọn đất trồng rừng.

Kết quả nghiên cứu đầu tiên về vòng tuần hoàn sinh học dưới rừng Bồ

Đề của nhóm tác giả Hoàng Xuân Tí, Nguyễn Đức Minh (1978) đã phát hiện

thấy sự “mở” chu trình chuyển hoá mùn, đạm do phương thức gây trồng Bồ

Đề không hợp lí Tiếp theo đó là các nghiên cứu đối với rừng trồng Thông ba

lá ở Lâm Đồng của các tác giả Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế (1990) đã chỉ rõchu trình chuyển hoá vật chất trong rừng có thể hoàn toàn đảm bảo kinhdoanh rừng trồng Thông lâu dài và ổn định

Vấn đề quan hệ giữa đặc tính đất và sinh trưởng của cây trồng đã đượcnghiên cứu bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới Nhiều quan điểm cho rằng:

Ở vùng ôn đới, phản ứng của đất (pH), hàm lượng CaCO3 và các chất bazơkhác, thành phần cấp hạt và điện thế OXH – K ( Eh) của đất ( Richard, 1984)

là những yếu tố quan trọng nhất Điều đó có nghĩa là yếu tố hoá học quantrọng hơn yếu tố vật lí Còn ở những vùng nhiệt đới thì khả năng giữ nước, độsâu của đất, độ thông khí của đất lại là các yếu tố quan trọng, có nghĩa là cácyếu tố vật lí quan trọng hơn các yếu tố hoá học ( Harry 1936, Bead 1946,Richard 1948)

Về nghiên cứu đất lâm nghiệp, kết quả nghiên cứu về khoáng sét cũng

đóng góp những giá trị to lớn về mặt lí luận và thực tiễn (Ngô Nhật Tiến,

1979) Tác giả đã đề cập tới vai trò của các tầng BC, C ở đất trống đồi núitrọc, đất phát triển yếu…có nhiều khoáng nguyên sinh là nguồn cung cấp chấtdinh dưỡng tốt cho cây trồng

Những công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của rừng trồng tới đất nhưrừng Bạch Đàn (Đỗ Đình Sâm, 1968, 1990; Hoàng Xuân Tý, 1975), RừngThông nhựa (Ngô Đình Quế, 1978), Thông ba lá (Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình

Trang 17

Quế, 1983,1990), Tre Luồng (Nguyễn Ngọc Bình, 1978)… đã có những ýnghĩa thực tiễn rất to lớn trong việc xác định vùng trồng, phân hạng đất trồngrừng và góp phần xây dựng các biện pháp kĩ thuật thích hợp.

Về mối quan hệ giữa đất và rừng phải đề cập tới một khuynh hướng lớntrong nghiên cứu và ứng dụng là xác định các cấp lập địa rừng Việt Nam đãvận dụng khoa học lập địa của Đức áp dụng ở Quảng Ninh và Lâm Đồng,

được xây dựng và hoàn thiện bởi Viện Điều tra quy hoạch rừng (Nguyễn

Ngọc Phụ, Võ Văn Du, 1971; Nguyễn Khánh, 1991) Những năm gần đây,việc vận dụng phân loại lập địa ở Liên Xô vào Việt Nam (Che-rôtop, 1978 –1992) và được hoàn thiện về tiêu chuẩn cho phù hợp với điều kiện ở nước ta(Đỗ Đình Sâm, 1990) Đó là việc đề cập tới yếu tố sinh khí hậu và nhân tốsinh thái rất quan trọng đó là chế độ nước, thể hiện ở mức độ khô hạn trongmùa khô là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp tới sự hình thành rừng cũng như năngsuất rừng

Trong thời gian gần đây, gắn liền với đòi hỏi thực tiễn sản xuất, việcnghiên cứu đất rừng đã đi theo hướng sử dụng đất đai (Land use) Trước hết,

đó là sự đánh giá phân hạng đất đai cho một loại rừng trồng, như Rừng Bồ Đề

(Hoàng Xuân Tý, 1978), rừng Thông ba lá (Đỗ Đình Sâm, Ngô Đình Quế,1983,1990), rừng Thông nhựa (Ngô Đình Quế, 1985), Tre luồng ( NguyễnNgọc Bình, Đàm Danh Liêm, 1975-1980), rừng Bồ Đề (Nguyễn Ngọc Bình,1968; Hoàng Xuân Tý, Nguyễn Đức Minh, 1980), rừng Hồi (Nguyễn NgọcBình, 1980)

Một vấn để mới trong công tác đánh giá đất đai là ứng dụng các phầnmềm tin học như GIS, Mapinfor, Microstation trên máy vi tính để xây dựngcác bản đồ đánh giá tiềm năng sử dụng đất trong lâm nghiệp của tác giả Đỗ

Đình Sâm và các cộng sự (1995) Phương pháp này cho phép lợi dụng các

thông tin sẵn có và có ý nghĩa thực tiễn là mang tính chiến lược và dự báo

Trang 18

Năm 1997, Ngô Đăng Duyên trong luận văn thạc sĩ khoa học lâmnghiệp tiến hành phân hạng đất trồng Tếch ở ĐakLak, tác giả đã đề xuất sửdụng các chỉ tiêu là pHKCl và độ no bazơ làm các chỉ tiêu chính trong phânhạng Đây là các yếu tố chi phối nhiều đến sinh trưởng của loài cây này [10].

Theo kết quả nghiên cứu của tác giả Hà Quang Khải (1999) cho thấytính chất đất ở xung quanh vùng rễ ở vị trí gần gốc và xa gốc của Keo TaiTượng và Thông Mã Vĩ là khác nhau Những chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D1.3

của hai đối tượng nghiên cứu có tương quan với các chỉ tiêu của đất trong khuvực nghiên cứu một cách tổng hợp chứ không phải riêng lẻ từng chỉ tiêu,trong đó sinh trưởng về đường kính ngang ngực D1.3 của cả Keo và Thông

đều thể hiện tương quan với các tính chất của đất và mức độ tương quan chặt

hơn so với sinh trưởng về chiều cao vút ngọn [18]

Năm 1998 – 2000, trong khuôn khổ đề tài cấp nhà nước “Nghiên cứucác vấn đề kĩ thuật lâm sinh nhằm thực hiện có hiệu quả dự án trồng mới 5triệu ha rừng và hướng tới đóng cửa rừng tự nhiên”, Ngô Đình Quế, Đỗ ĐìnhSâm và các cộng sự đã nghiên cứu xác định tiêu chuẩn phân chia lập địa (cấp

vi mô) cho rừng trồng công nghiệp tại một số vùng sinh thái Việt Nam Tácgiả đã lựa chọn các yếu tố chủ đạo cho mỗi vùng cụ thể Tuy nhiên việc ứngdụng phương pháp điều tra lập địa phải phụ thuộc vào điều kiện đặc thù củatừng vùng, từng loài cây và yêu cầu của từng dự án

Năm 2001,Trần Hữu Dào trong luận văn tiến sĩ nông nghiệp cấp nhànước đã tiến hành đánh giá hiệu quả đất trồng Quế thuần loài tại Việt Nam,trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp kinh tế - kĩ thuật để phát triển nghề trồngQuế Tác giả cho thấy các lâm phần Quế trồng thuần loài, chuyên canh đã có

ảnh hưởng lớn và tác động tốt đối với môi trường sinh thái Việc kinh doanh

rừng Quế trồng thuần loài không làm cho đất xấu đi so với nơi trống , mà còn

Trang 19

ảnh hưởng tốt tới khả năng tăng độ phì cho đất, hàm lượng mùn, NPK dễ tiêu

tương đối lớn [9]

Năm 2001, Vũ Tấn Phương khi nghiên cứu mối quan hệ giữa Keo laivới một số tính chất của đất cho thấy: Độ phì nhiêu của đất dưới rừng Keo laituổi 2 – 6 có sự cải thiện rõ rệt so với đối chứng, độ phì nhiêu của đất tăng khituổi rừng tăng Hai tính chất vật lí đất là dung trọng và độ ẩm đất thay đổitheo hướng tích cực khi tuổi rừng tăng và càng rõ nét so với đối chứng, đặcbiệt ở tầng đất từ 0 – 20cm Tính chất hoá tính của đất chưa có sự thay đổi rõnét khi tuổi rừng tăng, giữa nơi có rừng và nơi không có rừng, trừ hai yếu tố

là hàm lượng mùn và đạm tổng số Tuy nhiên, hàm lượng mùn tổng số lại có

sự biến động mạnh hơn so với hàm lượng đạm tổng số và tỷ lệ thuận với tuổirừng Tác giả cũng chứng minh được mối quan hệ giữa hai đại lượng là mùn

và đạm [25]

1.1.3 Th ảo luận:

Qua việc tham khảo và nhìn nhận một số công trình nghiên cứu về Quế

ở trong và ngoài nước cho thấy: có thể sử dụng nguồn là các công trình khác

nhau về đối tượng nghiên cứu Hiện nay, ở Việt Nam, Quế vẫn đang là mộttrong các loài cây đặc sản có giá trị kinh tế và giá trị xuất khẩu cao, đặc biệt là

được nhân dân các tỉnh miền núi ưa chuộng trong cơ cấu cây trồng của mình

Chính vì thế, việc nghiên cứu về đất trồng Quế, mức độ thích ứng của Quếvới các trạng thái đất khác nhau, từ đó đề xuất hướng sử dụng đất có hiệu quả

đối với loài Quế là vấn đề cần thiết

1.2 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu

1 2.1 Đặc điểm hình thái:

Quế là cây gỗ trung bình hay gỗ lớn, có thể cao từ 35 – 40m, đườngkính thân có thể từ 60 - 80cm Khi tuổi non vỏ thường nhẵn, khi già vỏ cómàu nâu đến nâu sẫm, dày từ 0,4 – 0,6cm, cũng có thể bề dày đạt tới 1,5cm

Trang 20

Lá mọc cách hoặc mọc đối, có 3 gân song song cả hai mặt, chạy từ đầu đếncuống lá Phiến lá đơn nguyên hình bầu dục, trung bình dài từ 12– 15cm, rộng

5 - 7cm, mặt trên màu xanh đậm, nhẵn bóng, mặt dưới có lông Hoa tự chuỳ ởnách lá hoặc gần ngọn màu trắng hay vàng nhạt Quả hạch hình trứng đínhtrong chén thuỳ hoặc không, dài từ 1- 1,5cm, quả Quế là dạng quả thịt, quảchưa chín có màu xanh lục, khi chín chuyển sang tím sẫm, có vị ngọt, rụng đểlại dấu trên cây

1 2.2 Đặc điểm sinh thái và vật hậu:

1.2.2.1 Yêu cầu về khí hậu, đất đai:

Ở Việt Nam, Quế được trồng rộng rãi từ miền núi dọc biên giới phía

Bắc đến các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên Phân bố ở độ cao từ 200m ở phíaBắc đến 800m ở phía Nam, thích hợp ở những vùng có khí hậu ôn hoà, nhiệt

độ từ 20 – 200C, ẩm độ không khí trên 85%, lượng mưa bình quân năm từ

2000 – 4000mm

Quế là cây trung tính, lúc nhỏ cần che bóng, từ năm thứ 3, thứ 4 trở đithì ưa sang hoàn toàn Quế là loài có thể sống theo phương thức thuần loàihoặc hỗn loài, sinh trưởng tốt trên các loại đất Feralit, đất đá vôi

1.2.2.2 Đặc điểm vật hậu:

Sau khi trồng từ 7 – 8 năm Quế mới ra hoa, kết quả Năm có thời tiếtnắng nhiều, tổng lượng nhiệt cao thì quả chín sớm hơn và ngược lại Ở miềnBắc, Quế thường ra hoa vào tháng 2 đến tháng 3, kết quả vào tháng 4 - 5, quảchín từ tháng 12 âm lịch đến tháng 2 năm sau Hạt Quế có dầu Sản phẩmchính của cây Quế là vỏ Một năm có hai mùa thu vỏ vào tháng 3 và tháng 8,trong đó vụ chính vào tháng 3

1.2.3 Phân b ố:

Nước ta cây Quế mọc hỗn giao trong các khu rừng tự nhiên nhiệt đới

ẩm, có phân bố từ Bắc vào Nam Tuy nhiên, cho đến nay Quế tự nhiên hầu

Trang 21

như đã không còn nữa, thay vào đó cây Quế đã được thuần hoá thành câytrồng.

Ở Việt Nam, Quế có 4 vùng phân bố chính là:

a Vùng quế Yên Bái (Hoàng Liên Sơn).

Tập trung ở các huyện Văn Yên, Văn Chấn, Văn Bàn và Trấn Yên.Trong đó, Quế được trồng tập trung nhiều ở một số xã như Đại Sơn, Viễn

Sơn, Châu Quế, Phong Dụ, Xuân Tầm, tại các xã này có diện tích trồng Quế

và sản lượng vỏ Quế chiếm khoảng 70% của cả vùng Sinh sống trên vùngQuế Yên Bái chủ yếu là đồng bào Dao, người dân ở đây có nghề trồng Quế từlâu đời Đặc điểm của vùng Quế Yên Bái là vùng rừng núi chia cắt, hiểm trở,nằm phía Đông và Đông Nam của dãy núi Hoàng Liên Sơn, có độ cao tuyệt

đối khoảng 300 – 700 m; nhiệt độ trung bình năm là 22,7oC, lượng mưa bìnhquân năm trên 2000 mm, có nơi như Phong Dụ lượng mưa bình quân năm đạt

đến trên 3000 mm; độ ẩm bình quân là 84% Đất đai phát triển trên đá Sa

thạch, Phiến thạch, Gnai, có tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn và thoát nước VùngQuế Yên Bái được coi là vùng có diện tích và sản lượng vỏ Quế cao nhấttrong cả nước

b/ Vùng Quế Trà Mi, Trà Bồng (Quảng Nam, Quảng Ngãi).

Các huyện Trà Mi (tỉnh Quảng Nam) và Trà Bồng (tỉnh Quảng Ngãi)cùng nằm về phía Đông của dãy Trường Sơn Thượng nguồn phía Tây là đỉnhNgọc Linh cao khoảng 1500m thấp dần về phía Đông Vùng quế Trà Mi, TràBồng có độ cao khoảng 400 – 500 m, nhiệt độ bình quân năm 22oC, lượng

mưa bình quân là 2300mm/năm, ẩm độ bình quân 85% Đất đai phát triển trên

các loại đá mẹ như: Sa thạch hoặc Phiến thạch có tầng đất dày ẩm, thoát nước,thành phần cơ giới trung bình Quế là nguồn lợi và gắn bó với đồng bào cácdân tộc ít người như Cà Tu, Cà Toong, Bu từ lâu đời nay Các xã như TràQuân, Trà Hiệp, Trà Thuỷ (Trà Bồng), Trà Long, Trà Giác, Trà Mai (Trà Mi)

Trang 22

là các xã có nhiều Quế nhất trong vùng.Vùng Quế Trà Mi, Trà Bồng đến nay

đã được mở rộng ra các huyện xung quanh như Quế Sơn, Phước Sơn, Sơn

Tây, Sơn Hà

c Vùng Quế Quế Phong, Thường Xuân (Thanh Hoá, Nghệ An)

Các huyện Quế Phong, Quỳ Châu (tỉnh Nghệ An) và Thường Xuân,Ngọc Lặc (tỉnh Thanh Hoá) là một vùng liền giải nằm về phía Đông dãy

Trường Sơn, có vĩ độ từ 19o đến 20ovĩ độ Bắc Phía Tây thượng nguồn là cácdãy núi cao khoảng 1500 – 2000 m, án ngữ biên giới Việt Lào và thấp dần vềphía Đông Vùng Quế Quế Phong, Thường Xuân kẹp giữa lưu vực sông Chu

và sông Hiếu Có độ cao bình quân khoảng 300 – 700m Địa hình chia cắt và

đón gió Đông – Nam nên lượng mưa của vùng rất cao, trên 2000 mm/năm,

nguồn nước dồi dào, nhiệt độ bình quân năm 23,1oC, ẩm độ bình quân là85% Thực vật trong vùng đa dạng và phong phú, có rất nhiều loài lâm sảnngoài gỗ có giá trị như Song, Mây, Tre, Trúc và các cây làm thuốc, cây chothực phẩm…Tại đây, hai loài là Quế Thanh và Quế Quỳ được gây trồng phổbiến Đây là hai loài Quế được đánh giá cao vì hàm lượng và chất lượng tinhdầu nổi tiếng trong cả nước, được đồng bào các dân tộc Thái, Mường, Mánsinh sống trong vùng trồng Những vườn Quế, đồi Quế ở Châu Kim, ThôngThụ, Thái Vạn Trình, Thắng Lộc đã đem lại nguồn lợi kinh tế và môi sinh chokhu vực

d Vùng Quế Quảng Ninh

Các huyện Hải Ninh, Hà Cối, Đầm Hoà, Tiên Yên và Bình Liêu(Quảng Ninh) là vùng đồi núi san sát nhau thuộc cánh cung Đông Bắc kéo dài

về phía biển Các dãy núi theo hình cánh cung Đông Bắc – Tây Nam là địahình chắn gió, vì vậy lượng mưa trong vùng rất cao khoảng trên 2300mm/năm, nhiệt độ bình quân năm là 23oC Quế được gây trồng trên đai caokhoảng 200 – 400 m Quế Quảng Ninh là nguồn lợi đáng kể của đồng bào

Trang 23

Thanh Y, Thanh Phán sinh sống trong vùng Các vườn Quế, đồi Quế ở QuảngLâm, Hoàng Mô, Pò Hèm, Lục Phủ, Quất Động đã nhiều năm cung cấp sảnphẩm cho thị trường trong nước và xuất khẩu.

1.2.4 Công d ụng:

Quế là một trong các loài cây đa tác dụng, các bộ phận khác nhau củacây đều có công dụng riêng Quế thường được sử dụng trong công nghệ thựcphẩm, làm bánh kẹo, đồ mĩ phẩm, hương liệu Ngoài ra trong y học, Quế còn

được coi là một dược phẩm có tác dụng chữa bệnh rất tốt “Nhục Quế có vị

ngọt cay, tính nóng, thông huyết mạch, làm mạnh tim, tăng sức nóng, chữacác chứng hàn, hôn mê, mạch chạy chậm, nhỏ, tim yếu…” [11] Gỗ Quế sửdụng làm đồ gia dụng hoặc ván ép

Trang 24

Chương 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, DÂN SINH, KINH TẾ

KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Vị trí nghiên cứu chính của đề tài nằm trong địa bàn huyện Văn Yên –Yên Bái

Văn Yên là một huyện vùng núi của tỉnh Yên Bái, được thành lập ngày01/3/1965 trên cơ sở tách 19 xã của huyện Trấn Yên và 6 xã của huyện VănBàn Huyện có 26 xã và một thị trấn huyện lị là Mậu A, cách thành phố YênBái khoảng 40km, cách Hà Nội khoảng trên 200km về phía Bắc

2.1 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của huyện Văn Yên:

2.1.1 Điều kiện tự nhiên:

* Vị trí địa lí:

Huyện Văn Yên nằm ở toạ độ 104023’ đến 104060’ độ Kinh Đông, và

21035’ đến 22010’ độ Vĩ Bắc

- Phía Bắc giáp huyện Văn Bàn, huyện Bảo Yên - tỉnh Lào Cai

- Phía Nam giáp huyện Trấn Yên

- Phía Đông giáp huyện Lục Yên và Yên Bình

- Phía Tây giáp huyện Văn Chấn và Mù Cang Chải

Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 1.391,54 km2, đây là huyện cótổng diện tích lớn nhất tỉnh Yên Bái.Văn Yên có hệ thống sông Hồng chảygiữa, chia huyện thành hai khu vực tả ngạn và hữu ngạn, hai bên được nối liềnbởi các cầu Chiều dài sông Hồng chảy qua địa phận Văn Yên dài 70km, cácphụ lưu của sông Hồng trên địa bàn huyện có tới 40 con ngòi và các suối lớn,nhỏ chảy ra sông Hồng Trong đó lớn nhất là ngòi Thia và ngòi Hút, chảy từhuyện Văn Chấn qua địa phận huyện có chiều dài tổng cộng hơn 150km

Trang 25

* Địa hình:

Địa hình, địa thế của huyện Văn Yên có dạng núi đồi liên tiếp, cao dần

từ Nam lên Bắc, nằm lọt giữa hai dãy núi con Voi và Hoàng Liên Sơn – PúLuông với đứt gãy sông Hồng Huyện có đỉnh núi cao nhất là 1900m, địa hìnhcủa Văn Yên chia thành 3 vùng:

Có 12 xã, thị trấn nằm dọc hai bên bờ sông Hồng, đây là vùng chuyêncanh lúa nước lớn và có tiềm năng về trồng cây công nghiệp dài ngày như:Chè, Cà phê…thuận tiện cho việc trồng màu và các loài cây rau đậu Dân cưsinh sống chủ yếu là người dân tộc Kinh, Tày, Mường…

Có 7 xã nằm dọc hai bên bờ sông Hồng, dưới chân dãy núi con Voi vàdãy Pú Luông Đây là vùng có núi đồi tương đối thấp, dân cư sinh sống chủyếu là người dân tộc Kinh và Tày…khí hậu có ảnh hưởng của gió Lào, làvùng có tiềm năng sản xuất cây công nghiệp và cây ăn quả

Có 8 xã, địa hình bị chia cắt mạnh, dân cư sinh sống chủ yếu là ngườiDao, Mông, Phù Lá và các dân tộc khác Đây là vùng có tiềm năng về rừng tựnhiên và trồng các loài cây công nghiệp, đặc biệt là cây đặc sản như Quế

* Khí hậu:

Khí hậu huyện Văn Yên thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng nóng,mưa nhiều Nhiệt độ trung bình năm từ 220C – 230C, mùa đông có thể xuốngtới 30C, mùa hè cao nhất là 400C, độ ẩm bình quân năm là 88%, lượng mưatrung bình từ 1400 – 1500mm Khí hậu Văn Yên được chia thành hai tiểuvùng khí hậu tương đối khác nhau: Tiểu vùng Nam Trái Hút, khí hậu giốngvùng Yên Bái, Tiểu vùng Bắc Trái Hút, khí hậu khô và chịu ảnh hưởng của

Trang 26

gió Lào, độ ẩm không khí cao hơn Nói chung, khí hậu Văn Yên rất đa dạng,

có thể thích ứng đối với nhiều loài cây trồng và vật nuôi

Bảng 2.1: Tổng hợp điều kiện khí hậu của khu vực nghiên cứu

Nguồn: Trạm Văn Chấn – Yên Bái, 2005

Tài nguyên:

Văn Yên là huyện đa dạng về các nguồn tài nguyên, điển hình như tàinguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên khoáng sản, tài nguyên nhân văn, tàinguyên du lịch…

Huyện Văn Yên có tổng diện tích đất tự nhiên là 139.154,11ha, trong

đó đất được sử dụng trồng cây lâm nghiệp là 104.403,94ha Đất rừng đặc

dụng (trồng cây đặc sản Quế là 15.345.2ha)

Về thổ nhưỡng, huyện có một số nhóm đất chính sau:

+ Nhóm đất phù sa phân bố chủ yếu dọc theo sông Hồng, sông Thia vàcác suối trên địa bàn huyện, đây là nhóm đất có độ phì tự nhiên khá cao, thíchhợp với các loài cây công nghiệp, cây lương thực…

+ Nhóm đất đồi (gồm có đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ) phân bố rộngkhắp trên địa bàn, đây cũng là nhóm đất có độ phì tự nhiên khá cao, thích hợpvới các loài cây công nghiệp dài ngày như Chè, Dứa, Mía, Quế…

2.1 2 Điều kiện dân sinh, kinh tế.

Huyện Văn Yên có 11 dân tộc, trong đó dân tộc kinh chiếm 62%, dântộc Dao chiếm 19%, dân tộc Tày chiếm 14%, còn lại là các dân tộc khác

Trang 27

Hoạt động kinh tế trên địa bàn huyện rất đa dạng, tập trung vào các lĩnhvực chính như: nông nghiệp, lâm nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,chăn nuôi, thương mại, dịch vụ,…Từ các lợi thế về kinh tế, để từng bước hộinhập và phát triển kinh tế của huyện và khu vực, huyện đã có chủ trương quyhoạch để hình thành nên các trục động lực kinh tế dựa trên cơ sở lợi dụng cáctuyến đường giao thông liên tỉnh, ví dụ trục Yên Bình - Lục Yên, Bảo Yên –Lào Cai

Với điều kiện tự nhiên về địa lí, địa hình và khí hậu khá thuận lợi, đồngthời huyện có lợi thế về địa lí kinh tế: Có tuyến đường sắt, đường sông, đường

bộ tạo nên mạng lưới giao thông vận tải gắn kết giữa trung tâm các xã vớitrung tâm huyện và các huyện bạn, tỉnh bạn Tiềm năng lớn của huyện VănYên là có nguồn nhân lực dồi dào, nguồn tài nguyên đất, nước, khoáng sản,cây đặc sản phong phú, tạo điều kiện thuận lợi cho huyện trong vấn đề pháttriển kinh tế

2.2 Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã Đại Sơn:

2.2.1 Điều kiện tự nhiên:

* Vị trí địa lí:

Xã Đại Sơn là một xã vùng cao, nằm ở phía Tây của huyện Văn Yên,tỉnh Yên Bái

- Phía Bắc giáp với xã Nà Hẩu

- Phía Nam giáp với xã An Thịnh

- Phía Đông giáp với xã Tân Hợp

- Phía Tây giáp với xã An Lương – Văn Chấn

Xã cách trung tâm huyện 12km, nằm ở trục đường Mậu A đi Mỏ Vàng,toàn khu vực xã có 8 thôn

* Địa hình:

Trang 28

Địa hình của xã tương đối phức tạp, đồi núi cao dần từ Tây lên phíaĐông Có nhiều dạng địa hình khác nhau Xã có nhiều suối nhỏ, hướng chảy

chính từ Đông sang Tây

* Khí hậu:

Đại Sơn có nhiệt độ trung bình năm là 250C, độ ẩm không khí là 86%.Mùa nóng thường tập trung vào tháng 7 và tháng 8, trong đó nóng nhất tậptrung vào tháng 8 với nhiệt độ là 380C

Lượng mưa bình quân năm từ 1800 – 2000mm Xã thường thấy xuấthiện gió xoáy và lũ quét

Mùa lạnh từ tháng 11 năm trước đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ thấpnhất là 16 – 200C, thường xuất hiện sương muối và mưa phùn vào tháng 1

* Đất đai:

Tổng diện tích đất toàn xã là 8389ha, trong đó diện tích đất có rừng là5042,4ha Đất rừng chủ yếu được sử dụng để trồng rừng đặc sản Quế, Vầu vàrừng gỗ

Nhận xét:

Từ điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế của xã Đại Sơn cho thấy có rấtnhiều thuận lợi cho việc phát triển nghề trồng Quế tại khu vực, đặc biệt là có

điều kiện tốt về thuỷ lợi, điều đó đã giúp cho nhân dân trong xã vận chuyển

lâm đặc sản dễ dàng Bên cạnh đó, độ ẩm không khí cao, cộng với thườngxuyên có mưa phùn, nên đã góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc pháttriển cây đặc sản Quế tại địa phương

2.2.2 Dân sinh, kinh t ế:

Đại Sơn có trên 600 hộ dân và 8 thôn bản, trong đó tập trung chủ yếu là

dân tộc Dao chiếm 98%, còn lại 2% là dân tộc Kinh, Tày, HMông

Nhân dân trong xã nói riêng và toàn huyện nói chung có truyền thốngtrong việc phát triển cây đặc sản Quế Hàng năm, diện tích Quế được trồng

Trang 29

mới từ 50 – 80ha, khai thác vỏ Quế đạt trên 120 tấn/năm Lĩnh vực sản xuấtchính của người dân Đại Sơn là lâm nghiệp, còn lại là dịch vụ và thương mại.

2.3 Thảo luận:

Dựa trên các đặc tính sinh học và điều kiện sinh thái của cây Quế, chothấy một số yêu cầu về các điều kiện khí hậu, địa hình, đất đai thổ nhưỡng đốivới cây Quế như sau:

* Về khí hậu:

- Lượng mưa trung bình năm: 2000 – 3000mm

- Nhiệt độ trung bình năm: 23 – 250C

- Điều kiện nhiệt độ tối thấp: 10C

- Điều kiện nhiệt độ tối cao: 380C

là vùng có lượng mưa cao từ 2000mm/năm trở lên, nhiệt độ bình quân năm từ

210C – 230C, ẩm độ bình quân trên 80% Quế sinh trưởng tốt trên đất đồi núi

có độ dốc thoải, tầng đất dày, ẩm, nhiều mùn nhưng phải thoát nước Độ pH

Trang 30

khoảng 5 – 6, đất phát triển trên các loại đá Phiến Thạch, Sa Thạch, Granit,Riolit Quế không thích hợp với các loại đất đã thoái hoá, tầng đất mỏng, khô,nghèo chất dinh dưỡng, đất đá ong hoá, đất chua phèn, đất ngập nước và đất

đá vôi khô Độ cao thích hợp thường thấy từ 300 – 700m ( độ cao tuyệt đối)

Lên cao hơn, Quế thường có xu hướng thấp lùn, chậm lớn nhưng vỏ Quế lạidày và có nhièu tinh dầu, xuống thấp hơn, Quế thường bị sâu bệnh, vỏ mỏng,hàm lượng tinh dầu giảm, đời sống cây cũng thấp hơn

T ừ các điều kiện trên một lần nữa cho thấy:

Quế trồng ở khu vực xã Đại Sơn có điều kiện thích hợp đối với các yêucầu về các mặt kể trên Đồng thời, khi nghiên cứu về điều kiện tự nhiên của

xã cho thấy có sự tương đồng với điều kiện tự nhiên chung của huyện VănYên Nhưng tại đây, khi đánh giá về sinh trưởng của Quế lại có sự vượt trộihơn hẳn Điều đó có thể được giải thích bằng nhiều nguyên nhân khác nhau,một trong các yếu tố đó có thể là do đặc tính của đất tại đây chi phối Đó cũngchính là nội dung mà tác giả muốn đề cập tới trong đề tài Bên cạnh đó, tậpquán canh tác chính của người dân ở đây phần lớn là nghề rừng, đặc biệt làtrồng rừng đặc sản Quế Cây Quế được xem là cây cho giá trị kinh tế cao, lâudài và mang tính truyền thống đối với mỗi hộ gia đình, chính vì vậy đã phầnnào mang lại các thuận lợi đối với việc gây trồng loài cây này trên địa bàn xã

Trang 31

Chương 3

MỤC TIÊU - ĐỐI TƯỢNG - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 3.1 Mục tiêu nghiên cứu

3.1.1 V ề lí luận, khoa học

Giữa đất và cây luôn có mối quan hệ với nhau Mức độ quan hệ phụthuộc vào tuổi cây, vào tính chất đất và các yếu tố khách quan khác Qua việcthu thập số liệu về sinh trưởng của cây Quế và tính chất của đất dưới rừngQuế, từ đó thiết lập mối quan hệ giữa các chỉ tiêu sinh trưởng với các tínhchất của đất dưới rừng Quế Làm cơ sở để đề xuất một số chỉ tiêu phục vụ chocông tác phân hạng đất

3.1.2 V ề mặt thực tiễn

Trên cơ sở nghiên cứu mối quan hệ giữa một số tính chất của đất vớicác chỉ tiêu sinh trưởng của cây Quế nhằm góp phần cho việc phân hạng đấttrồng Quế hiệu quả hơn

3.2 Đối tượng và giới hạn nghiên cứu:

3 2.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cây Quế (Cinamomum cassia.

Blume) thuộc họ Re (Lauraceae) trồng thuần loài và tính chất của đất dưới tánrừng Quế tại Văn Yên – Yên Bái

3.2.2 Gi ới hạn nghiên cứu:

Do đề tài được thực hiện trong một thời gian ngắn, mong muốn của tácgiả chỉ bước đầu tìm hiểu về đặc tính sinh thái của loài và mối quan hệ củaloài với một số tính chất đất Vì thế giới hạn của đề tài như sau:

* Giới hạn về đối tượng nghiên cứu:

Trang 32

Đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu các lâm phần Quế trồng thuần loài,

khác tuổi và một số tính chất lý hoá học đất dưới tán rừng Quế tại huyện VănYên - Yên Bái

* Giới hạn về địa điểm nghiên cứu:

Địa điểm nghiên cứu chính của đề tài nằm trong diện tích trồng Quế

thuộc địa phận xã Đại Sơn Đây là một trong các xã vùng Quế chính ở huyệnVăn Yên – Yên Bái

Lí do tác giả lựa chọn khu vực nghiên cứu như sau:

Khi nghiên cứu các tài liệu của địa phương và thông qua những nghiêncứu của các tác giả trước cho thấy Đại Sơn là xã có diện tích trồng Quế tậptrung trên quy mô lớn, tại đây Quế được trồng với nhiều cấp tuổi khác nhau.Trên nhiều dạng lập địa khác nhau Bên cạnh đó, khi so sánh về chất lượng,hàm lượng tinh dầu, sản lượng vỏ, mức độ sinh trưởng và phát triển của Quế

ở xã Đại Sơn so với các vùng Quế khác tại Văn Yên khi tác giả tham khảo các

tài liệu, công trình nghiên cứu khác đều thấy có sự vượt trội hơn cả Một yếu

tố nữa là xã lại có điều kiện khí hậu tương đồng so với các vùng lân cận, điềukiện đi lại thuận lợi…Đó là các lí do giải thích tại sao tác giả lại lựa chọn vịtrí nghiên cứu này

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Nghiên c ứu các chỉ tiêu sinh trưởng của Quế (Cinnamomum

3.3.2 Nghiên c ứu một số tính chất của đất trồng Quế

+ Mô tả phẫu diện đất tại vị trí nghiên cứu

Trang 33

- Độ chua trao đổi E (lđl/100gđất)

- Độ chua thuỷ phân H (lđl/100gđất)

- Tổng kiềm trao đổi S(lđl/100gđất)

- Các chất dễ tiêu: NH4+,P2O5, K2O (mg/100gđất)

3.3.3 Nghiên c ứu mối quan hệ giữa một số tính chất của đất với chỉ

tiêu sinh tr ưởng của cây Quế

3.3.4 L ựa chọn một số chỉ tiêu phục vụ cho công tác phân hạng đất

tr ồng Quế tại Văn Yên- Yên Bái.

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Quan điểm và phương pháp luận:

Giữa đất và cây trồng luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các tínhchất của đất ảnh hưởng tới sự sinh trưởng của cây, và ngược lại trong quátrình sinh trưởng của mình cây sẽ làm thay đổi các tính chất của đất Một loại

đất có thể thích hợp với nhiều loại cây nhưng không phải là tất cả Trên thực

tế cho thấy không phải một loài cây trồng trên đất nào cũng cho năng suấtcao, tức là một loài cây có thể thích hợp với loại đất này nhưng lại khôngthích hợp với loại đất kia và ngược lại Do vậy, giữa cây và đất luôn có mốiquan hệ chặt chẽ với nhau như câu nói “Đất nào, cây ấy” Chính vì vậy, khihiểu biết và nắm được các yêu cầu về đất đai của một loài cây nào đó, vàngược lại, từ kết quả nghiên cứu về đất thì sẽ xác định được mức độ thích hợp

Ngày đăng: 19/06/2021, 21:51

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w