1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Tài liệu Chăn nuôi bò sinh sản - Chương 3 ppt

15 603 12
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tài Liệu Chăn Nuôi Bò Sinh Sản - Chương 3 ppt
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên
Chuyên ngành Chăn Nuôi
Thể loại Tài liệu
Thành phố Thái Nguyên
Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 453,33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giai đoạn phát triển của bê Giai đoạn bú sữa Trong giai đoạn này bê sinh trưởng rất nhanh.. Trong trong giai đoạn này bê lớn nhanh về tầm vóc, các cơ quan sinh dục và sinh sản phát

Trang 1

Chuong 3

CHAM SOC VA NUOI DUONG BE

I SU PHAT TRIEN CUA BE

1 Các giai đoạn phát triển của bê

Giai đoạn bú sữa

Trong giai đoạn này bê sinh trưởng rất nhanh Lúc đầu cơ năng tiêu hoá chủ yếu là

dạ múi khế Về sau cùng với sự tiếp nhận thức ăn thực vật tăng lên dạ cỏ phát triển nhanh chóng Sữa là thức ăn chính của bê và được thay thế dần bằng các loại thức ăn thực vật Đến cuối kỳ này thức ăn thực vật chiếm chủ yếu trong khẩu phần

Trong giai đoạn nuôi bê bú sữa cần đặc biệt chú ý đến thời kỳ sơ sinh Bê sơ sinh có

một số đặc điểm đáng chú ý sau:

- Điều kiện sống của cơ thể hoàn toàn thay đổi

Từ chỗ ở trong cơ thể mẹ với các điều kiện sống ổn định, tác động của các yếu tố ngoại cảnh chỉ gián tiếp thông qua cơ thể mẹ, dinh dưỡng và trao dối chất thông qua máu

mẹ, sau khi sinh bê phải chuyển sang tự dinh dưỡng, hô hấp, tuần hoàn, điều tiết thân nhiệt, nhận cảm trực tiếp các tác động của ngoại cảnh và tự phản ứng với các tác động đó Thời gian thích nghi của bê với các điều kiện ngoại cảnh ngoài tử cung mất 7-10 ngay

- Kha nang tu vé còn thấp

Khi so sinh hồng cầu nhiều, nhưng bạch cầu, đặc biệt là bạch cầu da nhân trung tính

ít, chỉ số A/G cao, gamma globulin và kháng thể hầu như không có, chỉ sau khi bú sữa đầu mới tăng lên Cơ chế dung dãi vật lạ của gan chưa có Khả năng điều tiết thân nhiệt kém Do đó trong thời kỳ này cần phải có những biện pháp đặc biệt để đề phòng cho bê khỏi bị bệnh tật và tạo diều kiện để cho chúng phát triển các chức năng bảo vệ Phải cho

bê bú sữa đầu ngay sau khi đẻ vì nó có ý nghĩa hết sức quan trọng: làm tăng kháng thể cho co thé, tang vitamin A, tăng khả năng chống bệnh đường tiêu hoá va tăng cường các

quá trình trao đổi chất

- Cơ năng tiêu hoá còn rất yếu

Axit HCl trọng dạ khế lúc dầu không có, các tuyến tiêu hoá phát triển chưa hoàn chinh, chủ yếu tiết các men tiêu hoá sữa, còn hoạt lực của các men khác thấp Dạ cỏ và các chức năng tiêu hoá thức ăn thực vật chưa phát triển (lúc sơ sinh dạ cỏ chỉ bằng 1/2 dạ múi khé)

b Thời kỳ sau cai sữa

Thời kỳ này được tính từ khi cai sữa đến khi thành thục về tính (10-12 tháng tuổi) Trong giai đoạn này bê có tăng trọng cao khi nuôi dưỡng bằng thức ăn tthực vật Tuyến sinh dục, tuyến sữa bắt đầu phát triển Chính vì vậy để làm tốt công tác bồi dục có định hướng cho bê nghé cần phải bắt đầu từ thời kỳ này

Trang 2

3 Thoi ky phat duc

Day là thời kỳ từ khi bắt đầu xuất hiện động dục đến khi đẻ lứa đầu tiên ở bò cái tơ

và bắt đầu lấy tỉnh ỏ bê đực Trong trong giai đoạn này bê lớn nhanh về tầm vóc, các cơ

quan sinh dục và sinh sản phát triển mạnh để chuẩn bị phối giống và sinh đẻ, đặc biệt là

tuyến sữa Các hướng sản xuất khác nhau được hình thành trong giai đoạn này Do vậy mà cách nuôi dưỡng chăm sóc tốt hay xấu sẽ có ảnh hưởng mạnh đến khả năng sản xuất và

sinh sản về sau

2 Quy luật phát triển không đồng đều của bê

a Co quan tiéu hoa

Lúc sơ sinh các dạ trước rất nhỏ, chứng tỏ sự phát triển chậm của chúng trong giai đoạn tử cung Trái lại, dạ múi khế có tốc độ sinh trưởng tuyệt đối cũng như tương đối đều cao trong giai đoạn tử cung Sau khi sinh sự phát triển ngược lại hẳn; dạ trước tăng khoảng 100-120 lần, trong khi đó dạ khế chỉ tăng 4-8 lần

Trong 1-2 tháng tuổi đầu dạ khế tăng trưởng rất nhanh và tuỳ thuộc vào lượng sữa

nhiều hay ít Lượng sữa càng nhiều thì dạ khế phát triển càng nhanh

Tháng thứ 3-4 dạ dày trước phát triển mạnh và cũng tuỳ thuộc vào loại thức ăn Tập

ăn thức ăn thô sớm, nhiều thì dạ cỏ phát triển càng nhanh

Sự thay đổi tương đói giữa dạ cỏ và dạ khế qua các tuần tuổi của bên như sau: Tuổi bê Tỷ lệ dạ colda khé

Tuần thứ 5-9 hàm lượng axit béo ở dạ cỏ và dạ tổ ong đã giống như ở bò lớn, nhưng

ở dạ lá sách và múi khế lại ít, đến manh tràng mới xuất hiện

b Thể vóc

Thể vóc chủ yếu là do hệ xương và cơ tạo nên Trong thời kỳ trong tử cung mô xương có cường độ phát triển mạnh nhất, còn sau khi sơ sinh tốc độ phát triển của mô xương giảm xuống nhưng mô cơ lại tăng Ví dụ, từ sơ sinh đến 18 tháng tuổi thể trọng bê lang trắng đen tăng 16 lần, khối lượng xương tăng 8,7 lần, còn cơ tăng 18,6 lần Các phần khác nhau của mô xương cũng có đặc điểm phát triển riêng Trước khi sinh xương ngoại

vi phat triển mạnh hơn xương trục làm cho bê phát triển chiều cao và chiều rộng, nhưng chiều dài chưa phát triển Ngược lại sau khi sinh hệ xương trục phát triển mạnh làm cho

cơ thể dài ra

Mô cơ phát triển mạnh ở 12-14 tháng tuổi đầu Sau đó cường độ sinh trưởng và tăng trọng tuyệt đối của mô cơ giảm Mô mỡ được tích luỹ trong cơ thể ở độ tuổi muộn

hơn

Trang 3

c Trao doi chat

Cơ thể non có cường độ tổng hợp protein mạnh Tuổi càng tăng thì khả năng này

giảm xuống cùng với sự thay đổi cơ cấu của các loại protein: ở con vật non nucleoproteit chiếm tÿ trọng lớn, khi tuổi tăng lên cơ thể tích luỹ nhiều các proteit có chức năng đặc

hiệu với khả năng tự đổi mơí thấp

Độ tuổi càng cao mỡ chiếm chủ yếu trong thành phần tăng trọng Các giống sớm thành thục mỡ sớm tích luỹ hơn

3 ảnh hưởng của nuôi dưỡng, chăm sóc đến sự phát triển của bê và sức sản xuất

về sau

a Mức độ dinh dưỡng

Nếu nuôi dưỡng bê quá thấp hoặc quá cao trong một thời gian dài sẽ gây ra những

rối loạn nghiêm trọng trong sự phát triển của cơ thể, ảnh hưởng đến sự phát triển và hoàn

thiện các cơ quan chức năng cũng như sức sản xuất về sau

Sự hình thành sức sản xuất thịt cao ở bê nuôi lấy thịt chỉ đạt được khi dinh dưỡng đồi dào vì chỉ khi đó mô cơ và mỡ mới tích luỹ mạnh được

Tuy nhiên người ta đã xác định rằng bê có khả năng bù đắp lại sự đình trệ sinh trưởng tạm thời (do nuôi dưỡng hạn chế gây ra) sau khi được cải thiện điều kiện nuôi dưỡng và chăm sóc Mức độ và thời gian để bù đắp lại phụ thuộc vào tuổi của con vật và mức độ rối loạn sự phát triển bình thường của cơ thể và sự hình thành các cơ quan mô bào Nếu như mức nuôi dưỡng thấp và diễn ra trong một thời gian dài thì về sau dù cho nuôi dưỡng chăm sóc tốt cũng không bù đắp lại được và khi trưởng thành con vật có dấu hiệu phát triển không hoàn chỉnh và có sức sản xuất thấp

Khả năng bù đắp này được giải thích là trong cơ thể sau khi bị kìm hảm sinh trưởng

ở một mức độ nào đó thì sẽ tạo ra những điều kiện để tổng hợp chất mạnh hơn Sự bù đắp

sinh trưởng là một đặc tính tự nhiên của tất cả các gia súc bắt nguồn từ các quy luật phát triển cá thể cơ bản của chúng và chịu sự chi phối bởi các yếu tố di truyền Đặc tính này đã được ứng dụng trong thực tiễn ngành chăn nuôi của nhiều nước Ví dụ trong khi nuôi bê cái trong những tháng đầu cho tăng trọng thấp thì về sau có sự bù đắp lai Tuy nhiên nếu nuôi bê đực giống mà tăng trọng trong những tháng đầu thấp sẽ gây ra những rối loạn sâu

sắc về sự phát triển

Mức nuôi dưỡng có ảnh hưởng nhiều đến sự tích luỹ protein và mỡ trong cơ thể bê

Nếu nuôi dưỡng ở mức thấp thì tỷ lệ giữa protein và mỡ ít bị thay đổi theo tuổi Ngược lại

nếu cho bê ăn đồi dào trong cơ thể tích luỹ nhiều mỡ ngay cả lúc còn non Tăng tích luỹ

mỡ ở tuổi còn non sẽ không có lợi cho sự hình thành sức sản xuất sữa và hoạt động sinh sản của chúng, trong khi đó lại tạo ra khả năng phát triển thịt tốt hơn Do đó mà nuôi bê cái ở mức quá cao là không nên

Nuôi dưỡng bê ở mức cao sẽ làm tưng mức độ thành thục về sinh lý và cho phép đưa vào sử dụng sớm hơn Tuy nhiên nếu nuôi dưỡng quá cao sẽ gây ra hiện tượng nân sối nên khó thụ thai

Trang 4

b Loại hình thức ăn

Nếu bê được tập thức ăn thực vật sớm thì sẽ tạo điều kiện phát triển nhanh các cơ quan tiêu hoá và khi trưởng thành sẽ có khả năng tiêu hoá và sử dụng được tốt hơn các loại thức ăn thô

Mức độ tiếp nhận thức ăn thực vật sớm của bê phụ thuộc vào lượng sữa cho ăn và

số lần cho ăn Nếu cho bê ăn nhiều sữa thì sự phát triển của cơ quan tiêu hoá bị hạn chế

và chúng bắt đầu ăn thức ăn thực vật sẽ chậm hơn

Nuôi bò sữa với lượng thức ăn tính cao sẽ không hợp lý và không kinh tế vì nó sé gây ra những rôí loạn về trao đổi chất và chức năng sinh sản, làm rút ngắn thời gian sử dụng bò Sử dụng thức ăn tính nhiều sẽ cản trở sự hình thành sức sản xuất sữa và tạo điều kiện cho sự tichs luỹ nhiều mỡ ở trong cơ thể

c Chăm sóc

Các yếu tố vệ sinh gia súc như nhiệt độ, ánh sáng chuồng nuôi, độ 4m không khí và thành phần không khí, cũng như sự vận động tích cực có tác động trực tiếp đến sự phát triển và hoạt động của các cơ quan nội tiết và chi phối mạnh đến cường độ và chiều hướng

trao đổi chất

Nhiệt độ thích hợp trong chuồng bê về mùa đông là 10-12°C với độ ẩm tương đối

75-85% Đồng thời cần phải ổn định nhiệt độ trong cả ngày

ánh sáng, đặc biệt là tia tử ngoại có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của bê Dưới tác động của các tia đó dưới da sẽ hình thành chất có hoạt tính sinh học và vitamin D Các chất này thúc đẩy các quá trình oxy hoá, tăng hàm lượng Hb và bạch cầu trong máu, điều hoà trao đổi khoáng, tăng lưu thông máu và bạch huyết, nâng cao phản ứng phòng vệ

miễn dịch của cơ thể

Thiếu ánh sáng tử ngoại, con vật sẽ bị bệnh thiếu vitamin D và thường kéo theo rối loạn hoạt động của cơ quan tiêu hoá (rối loạn tiêu hoá, đôi lúc mất tính ngon miệng, mất trương lực dạ trước theo từng thời kỳ), bệnh xương trầm trọng thêm, con vật dễ bị bại liệt Vận động tích cực lúc ít tuổi có vai trò lớn trong sự phát triển của bê và sự hình

thành sức sản xuất Vận động làm tăng tính thèm ăn và sự phát triển tốt của các cơ quan bên trong Theo nhiều thực nghiệm bê dưới 6 tháng tuổi cho vận động tích cực có tăng trọng cao hơn 8-15%, nhưng cho bê lớn vận động sẽ làm giảm tăng trọng Cho nên nuôi

bê thịt vận động tích cực sau 6 tháng tuổi là không hợp lý

Ngược lại, cho bê cái vận động tích cực lại có ảnh hưởng tốt đến sự hình thành sức sản xuất sữa Sản lượng sữa trong chu kỳ đầu của những bò cái cho vận động tích cực cao hơn bò đối chứng 15-20%

Xoa bóp bầu vú từ khi bê thành thục về tính (9-12 tháng tuổi) kích thích sự phát triển của vú và về sau nâng cao được sức sản xuất sữa của chúng Những bê được xoa bóp bầu vú trong thời gian 8-12 tháng tuổi có tý trọng mô tuyến trong tuyến sữa lúc 20-24 tháng tuổi cao hơn 25-35% so với bê đối chứng Sức sản xuất sữa của bò thí nghiệm cao hơn 11-27% Xoa bóp bầu vú cho bò tơ có chửa giai đoạn sau cũng có tác dụng tốt đến sức sản xuất sữa

Trang 5

II NUOI DUGNG VA CHAM SOC BE

1 Bé so sinh

a Thức ăn

- Sữa đầu và sữa nguyên

Thức ăn chủ yếu của bê sơ sinh là sữa đầu và sữa thường Sữa đầu đáp ứng được yêu cầu của bê trong giai đoạn này vì nó có thành phần hoá học và bản chất sinh học đặc thù

mà không thể thay thế bằng thức ăn nào khác Sữa đầu có hàm lượng VCK cao (250- 300g/kg) với thành phần như trong Bảng 3-1

Bảng 3-1: Thành phần của sữa

VắtlầnI Vắtlân2 10

Như vậy, so với sữa thường sữa đầu trội hơn hẳn về thành phần mỡ (1,5 lần), protein (5 lần), khoáng (2 lần), caroten (Š lần)

Trong sữa đầu tỷ lệ albumin cao (2-3%) nén dé tiéu hoá, phù hợp với bê (sữa thường chỉ có 0,5%)

Sữa đầu có độ chua cao có tác dụng kích thích tuyến tiêu hoá, ức chế vi khuẩn, kích thích tiết dịch mật

Trong sữa đầu có hàm lượng y-globulin cao (5% vs 0,1%) có tác dụng làm tăng sức

đề kháng của bê lên vì trước khi bú sữa đầu trong máu bê hầu như không có globulin, nhưng sau khi bú sữa đầu thì loại protein này và kháng thể xuất hiện Chỉ số A/G = 0,44- 0,48, thấp hơn cả ở bò là 0,5-0,6 Đó là do bê sơ sinh có khả năng hấp thu nguyên vẹn y- ølobulin từ sữa đầu vào máu Khả năng này càng lâu càng giảm xuống:

Thời gian sau đẻ (h) Tỷ lệ hấp thu y-globulin (%)

Trang 6

Trong sữa đầu còn có hàm lượng MgSO, cao (0,37% vs 0,017%) tao thanh chất tẩy

nhẹ để đẩy cút su ra ngoài

Do có các yếu tố trên mà bê cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt và tỷ lệ mắc bệnh càng thấp Thí nghiệm cho thấy sau 1 giờ cho bú tỷ lệ mắc bệnh là 7,9%, còn nếu sau khi đẻ 7 giờ mới cho bú thì tỷ lên này lên tới 42%

Như vậy sữa đầu đã nâng cao sức sống của bê sơ sinh nhờ 2 nhân tố:

- Dinh dưỡng cao và dễ đồng hoá,

- Tăng khả năng đề kháng nhờ y-globulin, MgSO, và độ chua cao

Trong trường hợp thiếu sữa đầu người ta có thể làm sữa đầu nhân tạo cho bê bú với thành phần như sau:

1 lít sữa nguyên

10ml dầu cá

5-10g muối

2-3 quả trứng

Nếu táo bón cho thém 5-10g MgSO,

Sữa nguyên sau khi thanh trùng hạ nhiệt độ xuống 38-39°C, đập trứng và cho dầu

cá, muối vào, đánh thật đều

Sau khi bú sữa đầu bê dược cho uống sữa thường, tốt nhất của chính mẹ nó, nếu không cũng phải của những con khoẻ mạnh, không viêm vú

- Các thức ăn khác:

Thời gian cuối bê phải được tập ăn thức ăn thô: cỏ khô, rơm

Từ ngày thứ 5 trở đi có thể cho ăn thêm khoáng bổ sung

b Cách cho bú sữa

Yêu cầu bê phải được bú sữa đầu sau khi đẻ chậm nhất là 1 giờ Sữa đầu dùng cho

bê đến đâu thì vắt đến đó (vắt thừa làm mất sữa đầu của bê và dễ gây sốt sữa cho bò mẹ)

Sữa phải đảm bảo vệ sinh, nhưng tuyệt đối không dùng nhiệt để xử lý vì dễ gây đông vón

do có hàm lượng albumin cao (2-3% so với sữa thường chỉ 0,5%) Không được cho bê bú sữa vú viêm Sữa phải có nhiệt độ thích hợp, tốt nhất là 35-37°C Sữa càng lạnh thì khả năng đông vón ở dạ múi khế càng kém nên sẽ khó tiêu hoá

Lượng sữa mỗi lần cho bú không được quá 8% so với khối lượng bê vì nó phụ thuộc vào dung tích dạ múi khế Nếu sữa bú quá nhiều sẽ tràn xuống dạ cỏ trong khi nhu động

dạ cỏ còn yếu nên vi sinh vật gây thối sẽ phát triển Lượng sữa cho bú mỗi ngày bằng 1/5- 1/6 khối lượng sơ sinh Số lần cho bê bú bằng số lần vắt sữa mẹ Thường lúc đầu cho bú 3-4 lần/ngày, về sau giảm xuống Tuy nhiên ở các trại chăn nuôi công nghiệp bê chỉ được

ăn sữa 2 lần/ngày Cho bê bú phải từ từ

Trong thời kỳ này có thể cho bê bú trực tiếp hay gián tiếp:

- Cho bú trực tiếp: Sau khi đẻ bê được trực tiếp bú mẹ hàng ngày Thường cách này

áp dụng trong chăn nuôi bò thịt và cả ở một số cơ sở chăn nuôi bò sữa Lượng sữa bê bú

không hết sẽ được vắt.

Trang 7

Trước khi cho bê nghé bú cần phải làm vệ sinh chuồng trại, vú bò mẹ phải được lau sạch Trường hợp ,bò mới đi làm về thì nên cho nghỉ ngơi 30-45 phút mới cho con bú Nếu vú bị viêm phải chữa trị để tránh bê nghé viêm ruột Thời kỳ này không cho bê nghé

đi theo mẹ mà phải nuôi ở chuồng

Cách cho bú này có ưu điểm là: tỷ lệ sống của bê cao, đề phòng viêm vú ở bò mới

đẻ, không ảnh hưởng xấu đến khả năng sinh sản và sức sản xuất

- Cho bú gián tiếp: Phương thức này áp dụng cho những cơ sở nuôi bò chuyên lấy sữa Khi đẻ tách con ra ngay, sau đó vắt sữa đầu cho vào bình có núm vú cao su có đường

kính lỗ tiết < 2mm nhằm đảm bảo một lần mút không quá 30 mm sữa để cho rãnh thực

quản hoạt động tốt Khi cho bú đặt bình nghiêng góc 30” Sau mội vài ngày cho bú bình bắt đầu chuyển sang tập cho bê uống sữa trong xô

Phương pháp tập cho bê uống sữa trong xô: rửa sạch tay và ngâm vào trong sữa, thò

2 ngón tay lên làm vú giả Tay kia ấn mm bê xuống cho ngậm mút 2 đầu ngón tay Sữa

sẽ theo kế ngón tay lên Làm vài lần như vậy bê sẽ quen và tự uống sữa

c Chăm sóc quản lý

- Sau khi sinh, trước lúc cho bê bú sữa đầu cần tiến hành cân khối lượng của bê Những thao tác này phải làm rất nhanh chóng để bê được bú sữa đầu sớm

- Cần quan sát đặc điểm lông,da, phản xạ mút bú, răng, niêm mạc miệng, tình hình sức khoẻ, ăn uống, đi đứng để có chế độ nuôi dưỡng cho thích đáng và xác định hướng

sử dụng về sau

- Bê sơ sinh rất yếu, khả năng chống đỡ bệnh tật kém nên cần được nuôi ở chuồng cách ly, trong đó mỗi con được nuôi trong một cũi cá thể (Hình 3-1) Cũi có kích thước: dài 1,2-1,4m, cao Im, rộng 0,7m, sàn cách mặt đất 0,15m Cũi này có thể làm bằng gõ,

tre hay bằng thép Sàn nên làm bằng gỗ như rát giường Cũi phải được đặt nơi thoáng

nhưng không có gió lùa, hàng tuần được tiêu độc, hàng ngày được lau sàn và làm vệ sinh Thời gian nuôi bê trong cũi này chị cho phép trong 30 ngày

Se

Hình 3-1: Cũi nuôi bê sơ sinh bằng tre

- Trên cũi này phải đặt xô chứa nước cho bê uống và xô để cỏ khô cho bê tập ăn

- Mỗi ngày sát trùng rốn cho bê một lần bằng các dung dịch sát trùng đến khi rốn khô mới thôi

Trang 8

- Hàng ngày cho bê xuống cũi để được vận động tự do trong 3-4 giờ, thường mùa hè sáng vào lúc 8-10 giờ, chiều từ 3-5 giờ, mùa đông chậm hơn 30 phút

- Hàng ngày phải kiểm tra tình hình sức khoẻ bệnh tật của bê, vệ sinh tiêu độc chuồng nuôi và cũi bê Mùa đông treo rèm che chuồng nuôi để bê được ấm, mùa hè phải thoáng mắt

- Để cung cấp tia tử ngoại cho bê trong chuồng nên mắc bóng điện và cho sáng gián

đoạn: sáng 3-4 giờ/tắt 1-2 giờ

2 Bê từ sơ sinh đến cai sữa

a Tiêu chuẩn ăn

- Nhu cầu năng lượng

+ Nhu cầu duy trì : Dựa vào thể trọng của bê Trong giai đoạn này bê tăng trọng rất nhanh nên nhu cầu duy trì cũng thay đối nhanh chóng, do đó cứ sau 10 ngày phải xây dựng lại tiêu chuẩn ăn một lần căn cứ vào khối lượng đầu kỳ

+ Nhu cầu tăng trọng: Dựa vào mức tăng trọng dự kiến hàng ngày để tính Mức này phụ thuộc vào giống, tuổi và quy trình nuôi dưỡng bê

- Nhu cầu protein

Sự tích luỹ nitơ giảm dần theo tuổi nên mức protein trong khẩu phần tính trên mỗi đơn vị thức ăn (năng lượng) cũng thấp dần:

Trong giai đoạn đầu cần cung cấp cho bê những loại thức ăn có đầy đủ và cân đối các axitamin không thay thế vì trong giai đoạn đầu khả năng tiêu hoá protein thực vật rất thấp nên nguồn protein vi sinh vật còn hạn chế

- Lipit: đây là nguồn cung cấp năng lượng và là dung môi hoà tan một số vitamin, đồng thời còn cung cấp một số axit béo không no không thay thế được Do vậy, trong khẩu phần ăn cần có một tỷ lệ mỡ thích hợp Theo nhiều tác giả thì tỷ lệ này nên bằng I- 1,5% VCK của khẩu phần Tuy nhiên trong giai đoạn đầu yêu cầu mỡ cao hơn ở gia súc trưởng thành

- Gluxit: Trong 4 tuần tuổi đầu bê chỉ tiêu hoá được đường đơn và đường đôi, 4-9 tuần tuổi tiêu hoấ duoc mantoza ma chưa tiêu hoá được tinh bột Vì vậy thức ăn trong giai đoạn này cần hạn chế tính bột

- Khoang: 1-3 thang 6-8g Ca, 3-5g P/DVTA

4-6thang 7-8 g Ca, 4-5g P/DVTA

vé sau 8-92 Ca, 5-6 g P/DVTA

Mức cung cấp Ca và P tăng lên theo tuổi không phải do nhu cầu tăng mà là do trong những tháng đầu thức ăn chủ yếu là sữa nên Ca và P dễ hấp thu hơn, còn trong thức ăn thực vật về sau Ca và P được hấp thu kém hơn

Trang 9

- Vitamin: Can chú ý nhiều đến vitamin Avà D

Vitamin D: dưới 6tháng 500 - 2000 UI/100 kg P

trén 6 thang 1000-1500 UI/100 kg P Vitamin A: dudi 3 thang 20 mg caroten/DVTA

3-6 tháng 25-30mg caroten /DVTA trén 6 thang 30-35 mg caroten /DVTA

b Các loại thức ăn và cách sử dụng

- Sữa nguyên:

Đây là loại thức ăn quan trọng nhất đối với bê trong giai đoạn này Khả năng tiêu hoá các thành phần dinh dường thường trên 95% Các chất dinh dưỡng ở trong sữa tương đối hoàn chỉnh và phù hợp với yêu cầu sinh lý của bê Cho nên trong bất kỳ phương thức nuôi dưỡng nào cũng cần phải có sữa nguyên Tuy nhiên số lượng sữa nguyên cho ăn tuỳ thuộc vào giống, tầm quan trọng của bê, khả năng sản xuất sữa thay thế Trong cả thời kỳ

bú sữa lượng sữa cho ăn khoảng 180-720 kø/con

Trong tháng đầu tiên chủ yếu cho bê ăn sữa nguyên còn các thức ăn khác chỉ là tập

ăn Từ tháng thứ 2 về sau tuỳ theo mức độ sử dụng thức ăn thực vật của bê mà có thể giảm dần lượng sữa nguyên xuống Cũng có thể thay thế dần bằng sữa khử bơ Đến gần giai đoạn cắt sữa cần có thời gian chuyển tiếp bằng cách giảm dần số lượng và thời gian cho

ăn sữa để đến khi ngừng cho ăn sữa bê không bị thay đổi đột ngột ảnh hưởng xấu đến tiêu

hoá

Phải cho bê bú sữa từ từ để cho rãnh thực quản khép kín đưa được hết sữa xuống dạ múi khế Cho bú từ từ còn đảm bảo thời gian phân tiết nước bọt và các dịch tiêu hoá khác Nước bọt nhiều thì pH dạ khế sẽ tăng thích hợp cho men kimozin hoạt động nên sữa sẽ được tiêu hoá tốt

Sữa cho bê ăn phải đảm bảo vệ sinh và có nhiệt độ thích hợp: tháng đầu 35-37°C, tháng thứ hai 3-35°C, những tháng sau 20-25°C Nếu có điều kiện nên tiến hành lọc sữa, sau đó đung lên nhiệt độ 80°C để thanh trùng rồi hạ xuống nhiệt độ cần thiết

Số lần cho bú/ngày = lượng sữa cho bú trong ngày/ lượng sữa 1 lần Trong đó lượng sữa cho bú/ngày = 1/5-1/6 khối lượng sơ sinh Lượng sữa cho bú/lần = 8% khối lượng sơ sinh

Khoảng cách giữa các lần cho bú phải gần đều nhau bởi vì dịch vị tiết tương đối ổn định nên cường độ tiêu hoá gần đều nhau theo thời gian Tuy nhiên lần bú cuối cùng trong ngày không nên muộn quá 8-9 giờ đêm

Cách cho bú: Cho bú bằng bình có núm vú cao su hay bằng xô như đã giới thiệu ở phần trước

- Sữa khử mỡ

Có thể dùng loại sữa này thay thế cho một phần sữa nguyên Về mặt giá trị năng lượng sữa khử mỡ chỉ bằng 50% so với sữa nguyên, nhưng giá trị sinh vật học của nó cao

Sữa khử mỡ có thể dùng từ tuần tuổi thứ 3-4 trở đi Cách dùng tương tự sữa nguyên,

nhưng không được hỗn hợp với sữa nguyên, mà phải cho ăn xen kẻ nhau trong ngày trong

Trang 10

một thời gian, sau đó dùng sữa khử mỡ thay hẳn cho sữa nguyên Thường dùng sữa khử

mỡ thay hẳn sữa nguyên từ 40-45 ngày tuổi trở đi

- Sữa thay thế

Đây là loại thức ăn chế biến có thành phần tương tự sữa nguyên nhằm thay thế một phần sữa nguyên Yêu cầu chất lượng sữa thay thế như sau:

Thành phần dinh dưỡng phải đảm bảo đạt tỷ lệ tiêu hoá cao và phù hợp với đặc tính tiêu hoá dạ khế của bê, trong đó có :

+ Protein 12-15% VCK, trong đó ít nhất có 50% protein có nguồn gốc động vật có

đủ các axit amin không thay thế với tỷ lệ cân đối

+ Mỡ 12,5-25% VCK Mỡ đưa vào cơ thể phải có nhiệt độ nóng chảy thấp hon thân nhiệt Thông thường người ta dùng dầu thảo mộc vì nó kinh tế nhất, nhưng dầu thảo mộc thường có nhiều axit béo không no nên cần hydro hoá để giảm bớt mạch nối đôi Ngoài ra người ta còn dùng mỡ lợn Mỡ trong sữa phải đảm bảo được điều kiện nhũ hoá bền vững khi hoà thành dạng sữa Trong mỡ đó phải có các axit béo không no không thay thế được: linoleic, arachinoic, linoic Cac axit nay có liên quan chặt chẽ với vitamin E, đồng thời nó

có hoạt động như những chất xúc tác sinh học

Để cho sữa có thể bảo quản được lâu dài thì trong đó cần có những chất chống oxi hóa Thường người ta dùng photphatit vì nó có 2 tác dụng: nó là chât bị oxy hoá đầu tiên

để chiếm các tác nhân oxy hoá và làm giảm sức căng bề mặt của mỡ nên làm cho mỡ dễ nhũ hoá

+ Tinh bột: cần giảm tới mức tối thiểu vì trong 2 tháng đầu kha năng tiêu hoá tinh bột của bê còn kém

+ Đường dễ tiêu: 5-10%

+ Xenluloza : 0,5-1%

+ Khoáng : 9-10%

+ Vitamin : 30 UI vitaminA, 8-10 UI vitamin D/kg VCK

+ Khang sinh : 50mg biomixin/kgVCK

Tuy theo chat lượng của sữa thay thế mà quyết định thời gian bắt đầu cho ăn Sữa tốt càng gần giống sữa nguyên càng cho ăn sớm, có thể bắt đầu từ 15-20 ngày tuổi Các nước tiên tiến dùng sữa khử mỡ làm nền để sản xuất sữa thay thế

Ví dụ: sữa khử mỡ 80%, dầu thực vật hydro hoá 15%, Photphatit 5%, chế phẩm vitamin (A+D), khang sinh Vé giá trị dinh dưỡng 1,2kg sữa này tương đương IOkg sữa

nguyên Nó có thể bắt đầu sử dụng từ 11 ngày tuổi

Có thể dùng sữa đậu tương làm sữa thay thế Cách làm như sau: chọn loại đậu tương tốt ngâm trong nước 8-l0 giờ, sau dùng cối xay bột xay thành bột nước Cứ 1 kg đậu hạt xay thành 8-10 kg đậu nước, rồi đem lọc lấy nước, đun cách thuỷ cho kỹ, để nguội đến 37-39°C thì cho bú Vì trong đậu tương có hàm lượng tinh bột cao nên không cho ăn quá sớm dé gây ia chảy Thường chỉ bắt đầu cho ăn từ cuối tháng thứ 2

- Thức ăn tỉnh hỗn hợp

Có thể cho bê tập ăn từ 15-20 ngày tuổi Vì dạ cỏ phát triển chưa hoàn thiện nên

loại thức ăn tính hỗn hợp tập ăn phải có chất lương tốt, hàm lượng protein cao

Ngày đăng: 14/12/2013, 11:15

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm