Dưới tác động của các hocmôn buồng trứng, cơ thể bắt đầu phát triển, các cơ quan sinh dục cũng phát triển nhanh, và các đặc tính sinh dục thứ cấp xuất hiện rõ nét hơn.. Một số tác giả ch
Trang 1Chương 2
CHĂN NUÔI BÒ CÁI SINH SAN
| GIẢI PHẨU CƠ QUAN SINH DUC BO CAI
Bộ máy sinh dục của bò cái từ ngoài vào gồm có âm hộ, âm vật, âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng và buồng trứng (Hình 2-1)
Niệu quản
Âm đạo Manh nang Se => Tr trang Than T.cung Hau “TS
Âm môn
Buồng trứng
Xương chậu e— is Màng treo lớn
Voi Falop
COW
Hinh 2-1: Giai phau dinh vi co quan sinh duc bo cai
Các bộ phận bên trong đường sinh dục có ý nghĩa thực tiễn quan trọng gồm:
1 Am dao
Âm đạo có chiều dài từ 24-30cm với nhiều lớp vách cơ Cách mép âm hộ 10 cm về
phía trong dọc theo đáy âm đạo là ống dẫn nước tiểu từ bóng đái, đổ vào trong âm đạo øần túi thừa niệu đạo
2 Cổ tử cung
Cổ tử cung là nơi nối giữa âm đạo và tử cung (Hình 2-2) Cổ tử cung có kích thước
tăng cùng với độ tuổi, thường dài từ 3-10cm, đường kính từ 1,5-6cm Nó hơi cứng hơn so với các bộ phận khác của cơ quan sinh sản và thường được định vị bằng cách sờ nhẹ xung
quanh vùng đáy chậu Vị trí của cổ tử cung sẽ thay đổi theo tuổi của bò và giai đoạn có
chửa Đối với bò không có chửa, để khám cổ tử cung và các phần còn lại của cơ quan sinh
Trang 2sản không cần phải đưa tay vào sâu quá khuỷu tay Ở bò tơ, có thể cầm được cổ tử cung khi đưa tay vào sâu đến cổ tay Tuy nhiên, nó có thể bị kéo ra khỏi tầm tay với do sức kéo
của khối lượng thai khi bò có chửa
Miệng Cổ tử cung
Nếp gấp Manh nanc - - Thân tử cung
=1
Hình 2-2: Cấu tric chi tiết của sừng tử cung
Có một đường ống hẹp xuyên qua giữa cổ tử cung Ống này có dạng xoắn và thường khép chặt Đường ống này hé mở khi bò động dục và mở rộng khi bò đẻ Điểm bắt đầu của đường ống này được gọi là miệng (lỗ) cổ tử cung Nó nhô vào phía trong âm đạo tạo nên manh nang
3 Tử cung
Tử cung bao gồm thân và 2 sừng tử cung Thân tử cung dài 2-3 cm sau đó tách ra thành 2 sừng Khi sờ khám nó có cảm giác dài hơn vì các sừng được liên kết với nhau bởi dây chằng trong khoảng 12cm sau đó mới tách làm hai Hai sừng tử cung dài khoảng 35-
40 cm, có đường kính từ 2 cm trở lên Sừng tử cung có thành dày, đàn hồi và có nhiều
mạch máu để nuôi thai
4 Ống dẫn trứng
Ống dan trứng, hay vòi Fallop, dài 20-25 cm với đường kính khoảng 1-2 mm Nó chạy dài từ đầu mút của sừng tử cung đến phần loa kèn hứng trứng bao quanh buồng trứng Ống dan trứng rất khó phát hiện khi sờ khám Sự thụ tỉnh được xảy ra ở 1/3 phía trên của ống dẫn trứng
5 Buồng trứng
Bò cái có hai buồng trứng hình trái xoan, kích thước trung bình khoảng 4cm x 3cm x 1,5cm, thay đổi tuỳ thuộc vào tuổi và giống Buồng trứng có hai chức năng: ngoại tiết (sản sinh ra tế bào trứng) và nội tiết (sản sinh ra các hóc-môn tham gia điều tiết hoạt động sinh sản của bò)
Buồng trứng có thể dễ dàng sờ thấy dọc theo phía bên cạnh sừng tử cung (thường có hình dáng giống quả hạch) Những người có kinh nghiệm có khả năng phát hiện các cấu trúc trên buồng trứng (Hình 2-3) Trứng phát triển trong các noãn bao (hay nang trứng)
Trang 3năm trên bề mặt của buồng trứng Lúc trứng sắp rụng, các bao noãn rất mềm và linh động, với kích thước đường kính khoảng 2cm
Noan bao chin
Noan bao dang 5 aoe Tring rung
mon progesteron
ll HOAT DONG CHU KY TINH
1 Su thanh thuc vé tinh
Thành thục sinh dục là thời điểm con vật bắt đầu có các biểu hiện hoạt động sinh dục,
có hiện tượng động dục và rụng trứng Trong thực tế sự thành thục tính dục ở bò xuất hiện
sớm hơn rất nhiều so với thành thục về thể vóc
Tuổi xuất hiện thành thục tính dục ở bò tơ phụ thuộc vào nhiều yếu tố Các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính gồm có:
a Gidng
Động dục lần đầu xuất hiện ở những con bò tơ hướng sữa thường sớm hơn so với những con thuộc các giống hướng thịt Bò sữa ôn đới có tuổi xuất hiện động dục lần đầu tiên vào khoảng 10 tháng tuổi (4-18 tháng), sớm hơn so với các giống bò nhiệt đới (18-24
tháng tuổi)
b Mức dinh dưỡng
Bò được nuôi dưỡng tốt thường cho động dục sớm hơn so với những con được nuôi dưỡng kém
c Khi hau va mua vu
Mùa bê sinh ra và nhiệt độ môi trường trong qua trình sinh trưởng của nó có ảnh
hưởng lên tuổi xuất hiện động dục lần đầu
d Cham soc quan ly
Sự hiện diện của những con bò cái trưởng thành khác và của bò đực trong đàn làm cho bò tơ xuất hiện thành thục sinh dục sớm hơn
Trang 42 Chu kỳ và hiện tượng động dục
Khi bò cái đã thành thục sinh dục các buồng trứng có hoạt động chức năng và con
vật có biểu hiện động dục theo chu kỳ Chu kỳ này bao gồm các sự kiện để chuẩn bị cho
việc ø1ao phối, thụ tĩnh và mang thai Nếu sự mang thai không Xây ra, chu kỳ lại được lặp
tiếp theo
Rung tritng
Hình 2-4: Các giai đoạn của chu kỳ động dục ở bò
Thời gian của một chu kỳ động dục ở bò trung bình là 2l ngày, dao động trong khoảng 18-24 ngày Nhiều nhà nghiên cứu đã chia chu lỳ động dục của bò thành 4 giai đoạn (Hình 2-4) với những đặc trưng cơ bản như sau:
a Tiền động dục (proesfrus)
Đây là giai đoạn diễn ra ngay trước khi động dục Trong giai đoạn này trên buồng trứng một noãn bao lớn bắt lớn nhanh (sau khi thể vàng của chu kỳ trước bị thoái hoá) Vách âm đạo dày lên, đường sinh dục tăng sinh, xung huyết Các tuyến sinh dục phụ tăng tiết dịch nhờn trong suốt, khó đứt Âm môn hơi bóng mọng Cổ tử cung hé mở Bỏ ăn, hay
kêu rống và đái rắt Có nhiều bò đực theo trên bãi chăn, nhưng chưa chịu đực
b Dong duc (oestrus)
Đây là một thời kỳ ngắn biểu hiện hiện tượng "chịu duc" của bò cái Thời gian chịu đực dao động trong khoảng 6-30 giờ, bò tơ trung bình 12 giờ, bò cái sinh san l8 giờ Lúc này niêm dịch chảy ra nhiều, càng về cuối càng trắng đục như hồ nếp, độ keo dính tăng
Âm môn màu hồng đỏ, càng về cuối càng thẩm Cổ tử cung mở rộng, hồng đỏ Chịu đực cao độ
c Hau dong duc (metoestrus)
Tính từ lúc con vật thôi chịu đực đến khi cơ quan sinh dục trở lại trạng thái bình
thường (khoảng 5 ngày) Con cái thờ ơ với con đực và không cho giao phối Niêm dịch trở thành bã đậu Sau khi thôi chịu đực 10-12 giờ thì rụng trứng Khoảng 70% số lần rụng trứng vào ban đêm Có khoảng 50% bò cái và 90% bò tơ bị chảy máu trong giai đoạn này
d Giai doan yén tinh (dioestrus)
Đây là giai đoạn yên tĩnh giữa các chu kỳ động dục được đặc trưng bởi sự tồn tại của /hể vàng (corpus luteum) Néu không có chửa thì thể vàng sẽ thành thục khoảng 8
Trang 5ngày sau khi rụng trứng và tiếp tục hoạt động (tiết progesteron) trong vòng 8-9 ngày nữa
và sau đó thoái hoá Lúc đó một giai đoạn tién déng duc của một chu kỳ mới lại bắt đầu Nếu trứng được thụ tính thì giai đoạn này được thay thế bằng thời kỳ mang thai (thể vàng tồn tại và tiết progesteron), đẻ và một thời kỳ không có hoạt động chu kỳ sau khi đẻ trước khi bò cái trở lại có hoạt động chu kỳ tiếp
3 Điều hoà chu kỳ động dục
a Liên hệ thần kinh-nội tiết giữa vùng dưới đồi-tuyến yên-buông trứng
Hoạt động sinh dục của bò cái được điều hoà sự phối hợp thần kinh-nội tiết trong
trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng (Hình 2-5) Thông tin nội tiết được bắt đầu bằng việc
tiết GnRH (Gonadtrophin Releasing Hormone) từ vùng dưới đồi (Hypothalamus) GnRH
tác động làm chuyển đổi thông tin thần kinh trong não thành tín hiệu nội tiết để kích
thích thuỳ trước tuyến yên tiét hai loai héc-m6n gonadotropin 14 FSH (Follicle
Stimulating Hormone) va LH (Luteinizing Hormone) FSH va LH duoc tiét vao hé tuan
hoàn chung và được đưa đến buồng trứng, kích thích buồng trứng phân tiết estrogen, progesteron va inhibin
Thay đổi hành vi
Hình 2-5: Trục dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng
Đồng thời các hóc-môn buồng trứng cũng ảnh hưởng đến việc tiết GnRH, FSH và
LH thông qua cơ chế tác động ngược Progesteron chủ yếu tác động lên vùng dưới đồi để
ức chế tiết GnRH, trong khi đó estrogen tác động lên thuỳ trước tuyến yên để điều tiết FSH và LH Inhibin chỉ kiểm soát (ức chế) việc tiết FSH
b Điều hoà sự thành thục về tính
Sự thành thục sinh dục ở bò cái là một quá trình phức tạp Vào giai đoạn trước khi
thành thục sinh dục độ mẫn cảm của tuyến yên đối với tác động của GnRH tăng lên Việc thay đổi này là do giảm tác động kìm hãm lên các tế bào tiết thuỳ trước tuyến yên của các
Trang 6estrogen do buồng trứng tiết ra vào thơì kỳ này, dù với lượng rất nhỏ Đó có thể là sự thay đổi có ý nghĩa nhất, đặc trưng nhất vào thời kỳ thành thục sinh dục Với việc giảm hoặc loại trừ ảnh hưởng kìm hãm của các estrogen, dưới tác động kích thích của GnRH, tuyến yên bắt đầu tiết vào máu hóc môn LH và FSH với lượng lớn hơn Các hóc-môn này tác động lên buồng trứng làm cho các noãn bao phát triển và bắt đầu tiết một lượng estrogen lớn hơn Tiếp theo là rụng trứng và sự phát triển của thể vàng (tiết progesteron) Dưới tác động của các hocmôn buồng trứng, cơ thể bắt đầu phát triển, các cơ quan sinh dục cũng phát triển nhanh, và các đặc tính sinh dục thứ cấp xuất hiện rõ nét hơn
Như vậy, vấn đề mấu chốt cho việc xuất hiện thành thục sinh dục là loại bỏ tác động kìm hãm của các estrogen lên tuyến yên Một số tác giả cho rằng tác nhân có nguồn gốc
từ các cấu trúc thần kinh cao cấp là tác nhân tiên phát duy nhất cho sự xuất hiện thành thục sinh dục, còn tất cả các biến đối khác trong mối quan hệ tương hỗ giữa hệ thống dưới đồi-tuyến yên-buồng trứng là thứ phát Theo thuyết này thì quá trình thành thục sinh dục được đặc trưng bằng việc hoàn thiện dần dần các mối quan hệ phức tạp trong hệ thống dưới đồi-tuyến yên dưới ảnh hưởng của tác nhân thần kinh trung ương Kết quả là tuyến
yên được kích hoạt và bắt đầu tiết FSH và LH vào máu
c Điều hoà hoạt động chu kỳ tính và động dục
Chu kỳ động dục ở bò cái có liên quan đến những sự kiện kế tiếp nhau trong buồng trứng, tức là sự phát triển noãn bao, rụng trứng, sự hình thành và thoái hoá của thể vàng, dẫn đến hiện tượng động dục Các sự kiện này được điều hoà bởi trục dưới đồi-tuyến yên- buồng trứng thông qua các hóc-môn (Hình 2-5)
Trước khi động dục xuất hiện (/iên động dục), dưới tác dụng của FSH do tuyến yên tiết ra, các noãn bao buồng trứng phát triển nhanh chóng và sinh tiết estradiol với số lượng tăng dần Estradiol kích thích huyết mạch và tăng trưởng của tế bào đường sinh dục
để chuẩn bị cho quá trình giao phối và thụ tinh FSH cùng với LH thúc đẩy sự phát triển
của noãn bao đến giai đoạn cuối
Khi hàm lượng estradiol trong máu cao sẽ kích thích thần kinh gây ra hiện tượng động đục Sau đó (hậu động dục) trứng sẽ rụng sau một đợt sóng tăng tiết LH (LH surge)
từ tuyến yên Sóng này hình thành do hàm lượng estradiol trong máu cao kích thích vùng dưới đôì tăng tiết GnRH Sóng LH cần cho sự rụng trứng và hình thành thể vàng vì nó kích thích trứng chín, làm tăng hoạt lực các enzym phân giải protein để phá vỡ các mô liên kết trong vách noãn bao, kích thích noãn bao tổng hợp prostaglandin là chất có vai trò rất quan trọng trong việc làm vỡ noãn bao và tạo thể vàng
Sau khi trứng rụng thể vàng được hình thành trên cơ sở các tế bào ở đó được tổ chức
lại và bắt đâù phân tiết progesteron Hóc-môn này ức chế sự phân tiết gonadotropin của tuyến yên thông qua hiệu ứng ức chế ngược, do đó mà ngăn cản động dục va rụng trứng
cho đến chừng nào mà thể vàng vẫn còn hoạt động (pha thể vàng của chu kỳ).
Trang 7Ngày của chu kỳ
Hình 2-6: Biến đổi hàm lượng các hóc môn trong chu kỳ động dục của bò cái
Tuy nhiên, trong pha thể vang (/uteal phase) các hóc-môn FSH và LH vẫn được tiết
ở mức cơ sở (tonIc) dưới kích thích cuả GnRH và ức chế ngược của các hocmôn steroid và inhibin từ các noan bao dang phat triển FSH ở mức cơ sở (thấp) này kích thích sự phát triển của các noãn bao buồng trứng và kích thích chúng phân tiết inhibin Mức LH cơ sở cùng với FSH cần cho sự phân tiết estradiol từ các noãn bao lớn và progesteron từ thể vang trong thoi ky “yén tinh” cua chu ky
Pha tiền động dục Não
Thê vàng hoá
Hình 2-7: Các môn và sự kiện chính trong các giai đoan của chu kỳ động dục
Diễn biến nồng độ các hóc môn chính trong chu kỳ động dục được thể hiện trong Hình 2-6 Vài trò của các hóc môn và các sự kiện chính diễn ra trong các giai doan khac
nhau của chu kỳ động dục được thể hiện qua Hình 2-7 Những biến đổi về nội tiết, sinh lý
và hành vi liên quan đến hiện tượng động dục được phác hoa ở Hình 2-8
Trang 8Hình 2-8: Những biến đổi về nội tiết, sinh lý và hành vi liên quan đến hiện tượng động dục 6 bd
cái Thực ra trong mỗi chu kỳ động dục không phải chỉ có một noãn bao phát triển mà
có nhiều noãn bao phát triển theo từng đợt sóng với khoảng cách đều nhau Đối với bò thường có 2-3 đợt sóng/chu kỳ Mỗi đợt sóng như vậy được đặc trưng bởi một số noãn bao
có nang nhỏ cùng bắt đầu phát triển, sau đó 1 noãn bao được chọn thành noãn bao trội, noãn bao trội này sẽ ức chế sự phát triển tiếp theo của các noãn bao cùng phát triển còn lại trong nhóm đó Sự ức chế của noãn bao trội này thông qua Inhibin do nó tiết ra làm ức chế tiết FSH của tuyến yên Tuy nhiên, chừng nào còn có mặt của thể vàng (hàm lượng progesferon trong máu cao) thì noãn bao trội không cho trứng rụng được mà bị thoái hoá
và một đợt sóng phát triển noãn bao mới lại bắt đầu (Hình 2-9)
Trang 92¬ Nguồn noãn bao mẫn cảm gonadotropin
|_ Hậu Ð dục im Ngày của chu kỳ 3c | Đông duc
Ngày của chu kỳ
2-9: Các sóng phát triển noãn bao trong một chu kỳ
Nếu trứng rụng của chu kỳ trước không được thụ thai thì đến ngày 17-18 của chu kỳ nội mạc tử cung sẽ tiết prostaglandin F 2 alpha, hóc-môn này có tác dụng làm tiêu thể vàng
và kết thúc pha thể vàng của chu kỳ Noãn bao trội nào có mặt tại thời điểm này sẽ có khả năng cho trứng rụng nhờ có hàm lượng progesteron trong máu thấp Việc giảm hàm lượng progesteron sau khi tiêu thể vàng làm tăng mức độ và tần số tiết GnRH và do đó mà tăng tiết LH của tuyến yên Kết quả là noãn bao tiền rụng trứng (trội) tăng sinh tiết estradiol và gây ra giai đoạn tiền động dục (pha noãn bao) của một chu kỳ mới
Tuy nhiên, nếu trứng rụng trước đó đã được thụ tinh thì thể vàng không tiêu biến và không có trứng rụng tiếp Thể vàng trong trường hợp này sẽ tồn tại cho đến gần cuối thời gian có chửa để duy trì tiết progesteron cần cho quá trình mang thai Thể vàng thoái hoá trước khi đẻ và chỉ sau khi đẻ hoạt động chu kỳ của bò cái mới dần dần dược hồi phục
II MANG THAI
1 Quá trình phát triển của phôi thai
Quá trình phát triển của bào thai bò diễn ra trong khoảng 280 ngày và được chia ra các thời kỳ cơ bản như sau:
- Thời kỳ phôi (ngày T-34)
Trong giai đoạn này diễn ra các quá trình phức tạp biệt hoá các mô bào kèm theo việc hình thành các hệ thống và cơ quan chính
Bảy ngày đầu: hợp tử hình thành và và phát triển trong ống dẫn trứng Sau 7 ngày phôi mới chuyển dần xuống ở sừng tử cung
Ngày 8-19: thai bắt đầu cố định ở sừng tử cung
Ngày 20-22: hệ thống tuần hoàn bắt đầu hình thành
Ngày 23-26: tim, gan, thận, phổi hình thành
Trong thời kỳ này phôi phát triển mạnh, khối lượng của nó tăng khoảng 600 lần
- Thời kỳ tiên thai (ngày 35-60)
Trang 10Cơ quan nội tạng, các mô, tổ chức thần kinh, sụn, tuyến sữa, cơ quan sinh dục và
đặc trưng của giống bắt đầu hình thành
Như vậy kể cả thời kỳ phôi, sau 60 ngày toàn bộ các cơ quan đã được hình thành và phát triển Hợp tử bình quân nặng 3 microgam, sau 60 ngày nặng 8-15g, tức là đã tăng 3-5 triệu lần
- Thời kỳ bào thai (ngày 61-đẻ)
Trong giai đoạn này chủ yếu là quá trình sinh trưởng Cường độ sinh trưởng so với giai đoạn trước có giảm đi nhiều, nhưng khối lượng tuyệt đối tăng rất nhanh, nhất là từ tháng thứ 7 đến khi đẻ:
Như vậy trong 2-2,5 tháng cuối khối lượng của thai tang 13-24 kø, tức là bằng khoảng 2/3 đến 3/4 khối lượng sơ sinh
2 Những biến đổi của cơ thể bò mẹ trong thời gian mang thai
Bo cái mang thai có một số biến đổi trong cơ thể cần được chú ý như sau:
- Khối lượng cơ thể tăng
Khối lượng bò tăng lên là do sự phát triển của thai, đặc biêt là giai đoạn 2 tháng có thai cuối cùng Khối lượng bò mẹ tăng còn do sự phát triển của tử cung, hệ thống nhau thai; mặt khác còn do trong thời gian mang thai khả năng tích luỹ dinh dưỡng của bò mẹ tăng lên
- Trao đổi chất và năng lượng tăng
Khi có thai ở tháng thứ 8 trao đổi chất đạt 129%, còn khi để đạt 141% so với lúc
bình thường Sự tích luỹ ÑN trong 6 tháng đầu cao hơn bò tơ 40%, dẫn đến hàm lượng N trong máu giảm, đặc biệt là ở giai đoạn cuối Hàm lượng Ca và P trong máu giảm thấp, K
có xu hướng tăng Lượng kiềm dự trữ giảm, máu dễ đông hơn Chỉ số A/G tăng lên đạt
cực đại lúc thai 6-7 tháng, sau đó có xu hướng giảm đi và tăng lên trước khi đẻ nửa tháng
- Thay đổi trong hệ thống nội tiết
Thể vàng được hình thành và tiết progesteron trong suốt thời gian mang thai Hóc- môn này có tác dụng ức chế rụng trứng, kích thích sự phát triển của màng nhầy tử cung, giảm thấp nhu động của cơ trơn để duy trì sự mang thai Vào tháng 9 hàm lượng progesteron có xu hướng giảm
Nhau thai tiét estrogen tăng dần ở tháng thứ 2-3 và cao nhất ở thang 8-9 Estrogen
có tác dụng kích thích mạnh trao đổi protein, kích thích tăng sinh tử cung và hoạt hoá một
số men Đến khi đẻ lượng estogen giảm nhưng vẫn đủ để kích thích tuyến yên tiết prolactin can cho quá trình tiết sữa Ngoài ra nhau thai còn tiết ra các hocmôn
gonadotropin để duy trì chức năng tối thiểu của buồng trứng.
Trang 11- Thay đổi hoạt động của các cơ quan nội tạng
Các cơ quan nội tạng, đặc biệt là cơ quan tiêu hoá, tuần hoàn, hô hấp, bài tiết có sự
thay đổi thích ứng Do sự phát triển của thai mà dung tích dạ cỏ thu hẹp lại Hô hấp nông, nhanh và hoạt lượng phổi giảm Tần số tim nhanh, nhưng lượng hồng cầu và Hb biến đổi không nhiều Bạch cầu chỉ tăng ở giai đoạn cuối và cao nhất trước lúc đẻ Số lần thải phân
và nước tiểu tăng lên
3 Chẩn đoán có thai
a Phương pháp quan sát bên ngoài
Khi quan sát bên ngoài, trước hết cần chú ý vào thành bụng để phát hiện sự máy động của bào thai Đồng thời xác định hiện tượng phù thũng ở tứ chi và ở phía dưới thành bụng Đặc điểm, trạng thái tuyến sữa, số lượng và tính chất của sữa Thể tích của bụng và
sự cân đối hai bên
Trường hợp bò có thai ở thời kỳ thứ hai thì quan sát vào chỗ lõm bên dưới thành bụng bên phải, sẽ phát hiện được tính chất mất đối xứng của chúng Nếu quan sát phía sau của bò thì thấy vòng cung rõ được nổi lên thành bụng
b Phương pháp sờ nắn
Dùng nắm tay ấn vào phía bụng bên phải, ở chỗ lõm phía dưới thành bụng Trường hợp thành bụng không quá dày thì có thể phát hiện được đầu và cổ của bào thai Phương pháp sờ nắn thường áp dụng vào thời gian sáng sớm, khi vật chưa ăn uống Nên tiến hành
chẩn đoán một số lần mới có thể kết luận chính xác
c Phương pháp gố nghe
Nghe tim thai chỉ có thể áp dụng trong các trường hợp: Khi bào thai nằm dọc theo phía lưng hay phía hông thành bụng của bò mẹ và khi ở giữa bào thai với thành tử cung có những màng thai không quá dày
Trong nhzng tr-êng hp kh,c nh- thai qu, Ýt nguy, thụnh tö cung qu, diy, c,c mụng thai còng qu, duy vụ dbch thai nhiÒu thx kh«ng thÓ nghe ®-?c tim thai T@n se tim ®Ep cfia buo thai th-éng gEp hai ICn tCn sé tim ®Ep cfia mN Nghe tim thai th-éng p dong cho nh+ng buo thai t6 th ng 6 trẻ ®1
d Chan doan qua dm dao
Phương pháp chẩn đoán có thai qua âm đạo chủ yếu là quan sát, xác định đặc điểm,
tính chất, trạng thái của niêm mạc âm đạo, miệng ngoài cổ tử cung và niêm dịch âm đạo
Quan sát âm đạo thông qua mỏ vịt và hệ thống gương soi Khi áp dụng phương pháp này cần thiết phải rửa sạch bộ phận sinh dục bên ngoài bằng các dung dịch sát trùng và có kỹ thuật đưa mỏ vịt vào âm đạo
- Trường hợp bò có thai ở tháng thứ nhất thì kích thước cổ tử cung không lớn lắm,
có dạng hình chóp, lòng cổ tử cung được đóng kín Lượng niêm dịch ít, đặc Niêm mạc
âm đạo nhợt nhạt, khô và không có ánh
- Bò có thai ở tháng thứ hai thì lòng cổ tử cung đóng kín, có dạng như nút chai,
niêm mạc âm đạo tiết ra nhiều dịch nhờn
Trang 12- Thời kỳ có thai cuối tháng thứ tư thì cổ tử cung và thành âm đạo tiết ra dịch màu
trắng đục và số lượng niêm dịch tăng dần theo tuổi thai Quan sát nêm mạc âm đạo có hình dạng như nhung, những tế bào niêm mạc âm đạo được phát triển mạnh
- Bào thai cuối tháng thứ 7, đầu tháng thứ 8 thì niêm dịch được tiết ra rất nhiều Trường hợp bò không có thai thì nêm mạc âm đạo có màu hồng, ẩm ướt, bóng loáng, lượng niêm dịch rất ít và có màu trong suốt hay hơi đục, lòng cổ tử cung không có dang hinh chai
e Chan đoán qua trực tràng
Chẩn đoán qua trực tràng có thể áp dụng để chẩn đoán sớm thời gian có thai, bắt đầu
4-5 tuần sau khi cho bò phối giống Phương pháp này được áp dụng rộng rãi trong thực tế sản xuất và là phương pháp chủ yếu để chẩn đoán sự có thai ở bò Điều cơ bản của phương pháp khám thai qua trực tràng là phát hiện sự thay đổi về hình thái, đặc điểm, tính chất và vị trí của các bộ phận: buồng trứng, các phần của tử cung, rãnh giữa tử cung, động mạch tử cung, thai và nhau thai v.v
Sự thay đổi toàn bộ cơ quan sinh dục khi có thai hoàn toàn phụ thuộc vào từng giai đoạn phát triển của bào thai, vào giống bò và từng lứa thai khác nhau Cùng một thời gian
có thai như nhau nhưng vị trí và kích thước của tử cung ở những bò có chửa lần đầu bao giờ cũng khác và nhỏ hơn những bò đã sinh đẻ nhiều lần
Buộc đuôi con vật sang một bên, thụt nước ấm vào trực tràng để kích thích thải hết phân Làm trơn bên ngoài găng tay sản khoa bằng nước xà phòng Khi đưa vào trực tràng phải chụm đầu các ngón tay lại Trường hợp thành trực tràng co bóp mạnh, gia súc rặn nhiều thì cần phải chờ đợi, khi vật ngừng rặn mới tiếp tục cho tay sâu vào trực tràng Sau đó nhẹ
nhàng và cẩn thận để tìm, xác định trạng thái và đặc điểm các bộ phận của cơ quan sinh dục
bên trong
- Buông trứng: Buồng trứng thường nằm ở phía trước sừng tử cung Nó có dạng hình bầu dục hay gần tròn Dùng ngón tay nhẹ nhàng giữ buồng trứng và xác định tính chất bề mặt của buồng trứng Đặc biệt nhất, cần phải phát hiện trên buồng trứng có noãn bao chín, có thể vàng hay có các trạng thái bệnh lý nào không Với những bò đã sinh sản
thường một buồng trứng to hơn buồng trứng kia Buồng trứng thường ở vị trí phía trước và
dưới sừng tử cung, cách thân tử cung 6-8cm bên phải và bên trái
- Động mạch giữa tử cung: Trong thời gian có thai, hiện tượng trao đổi chất giữa
mẹ và con càng được tăng cường Vì vậy hệ thống mạch quản tử cung phát triển mạnh, đặc biệt nhất là sự thay đối hoạt động của động mạch giữa tử cung Đường kính của động mạch này khi gia súc không có thai chỉ 4-4,5mm Vào giai đoạn có thai kỳ cuối,
nó có thể tới 10-15mm Kích thước và tính chất hoạt động của động mạch giữa tử cung
thay đổi từ từ theo quá trình phát triển của bào thai và cũng là điều kiện thuận lợi để xác định tuổi thai
- Tử cung: Bình thường cổ, thân, sừng tử cung và cả hai buồng trứng đều nằm trong xoang chậu, trên khớp bán động háng Với những bò đã sinh sản nhiều lần, bò đã già thì một phần đầu mút sừng tử cung đã rơi vào xoang bụng và một sừng tử cung (thường bên phải) to hơn sừng tử cung bên kia Khi xoa bóp, kích thích nhẹ nhàng tử cung, có thể phát