Trong thời gian qua những tác động thiếu ý thức của con người đã làm cho quần thể sinh vật bị giảm sút, số lượng loài có giá trị đã bị suy giảm đáng kể, cấu trúc rừng phần nào bị đảo lộn
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRỌNG BÌNH
Hà Tây 2007
Trang 3Đề tài nghiên cứu: “ Đánh giá tính đa dạng sinh học và một số đặc điểm cấu trúc của quần xã thực vật thân gỗ tại Khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu tỉnh
Bà Rịa - Vũng Tàu ” là kết quả đánh giá sau 3 năm đào tạo cao học Lâm nghiệp
Để hoàn thành bản luận văn này, tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến lãnh đạo, Khoa Đào tạo Sau đại học và toàn bộ giảng viên hai Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam và Trường Đại học Tây Nguyên đã giảng dạy, hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại Trường
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Trọng Bình, người
đã trực tiếp hướng dẫn, và PGS.TS Bảo Huy đã tận tình tư vấn, đóng góp ý tưởng giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin trân trọng tỏ lòng cảm ơn tới Ban Giám đốc, Phòng Kỹ thuật và toàn bộ anh, chị Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu-Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
đã hỗ trợ, cung cấp các tài liệu liên quan, tích cực giúp đỡ trong các chuyến đi khảo sát thực tế
Tuy có nhiều cố gắng song bản thân còn hạn chế về kinh nghiệm nghiên cứu nên chắc chắn đề tài còn có nhiều thiếu sót về nội dung, phương pháp và hình thức trình bày Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến, và bổ sung các ý tưởng của Thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Tây, ngày tháng năm 2007
Tác giả
Phạm Thị Hiếu
Trang 4Trang
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
MỘT SỐ KÝ HIỆU DÙNG TRONG LUẬN VĂN iv
KÝ HIỆU LOÀI CÂY TRONG ĐỀ TÀI v
DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Nghiên cứu tính đa dạng 3
1.1.2 Về nghiên cứu cấu trúc rừng 4
1.2 Ở Việt Nam 7
1.2.1 Nghiên cứu tính đa dạng của QXTV: 7
1.2.2 Nghiên cứu cấu trúc rừng: 8
1.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu 12
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Mục tiêu nghiên cứu: 13
2.1.1 Về lý luận: 13
2.1.2 Về thực tiễn: 13
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu: 13
2.2.1 Về khu vực nghiên cứu: 13
2.2.2 Về đối tượng nghiên cứu: 13
2.2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu: 13
2.3 Nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu 13
2.3.1 Nội dung nghiên cứu 13
2.3.1.1 Đánh giá tính đa dạng về cấu trúc tổ thành quần xã thực vật thân gỗ: 13
2.3.1.2 Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc và tái sinh QXTV thân gỗ rừng thường xanh ven biển: 14
2.3.1.3 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi và phát triển rừng thường xanh ven biển tại tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu: 14
Phương pháp nghiên cứu: 14
2.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu luận 14
2.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu 15
CHƯƠNG 3 ÐẶC ÐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU 25
3.1 Ðiều kiện tự nhiên 25
3.1.1 Vị trí hành chính 25
3.1.2 Ðịa hình, địa mạo 25
3.1.3 Ðịa chất , thổ nhưỡng 26
3.1.4 Khí hậu thuỷ văn 27
3.2 Ðất đai và tài nguyên rừng 29
Trang 53.3 Ðiều kiện kinh tế xã hội 32
CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 35
4.1 Tính đa dạng sinh học về cấu trúc thành phần thực vật thân gỗ 35
4.1.1 Khái quát đặc điểm đa dạng thành phần thực vật Khu BTTN BC – PB.[15] 35
4.1.2 Chỉ số đa dạng sinh học 41
4.1.3 Các đặc trưng đa dạng thành phần thực vật 42
4.1.4 Cấu trúc sinh thái quần xã thực vật 43
4.1.4.1 Tổ thành 44
4.1.4.2 Cấu trúc sinh thái loài khu BTTN 47
4.2 Một số đặc điểm cấu trúc rừng tại Khu BTTN BC – PB 54
4.2.1 Kiểm tra thuần nhất các ô tiêu chuẩn: 54
4.2.2 Phân bố cấu trúc không gian 3 chiều của quần xã thực vật 55
4.2.2.1 Phân bố số cây theo đường kính (N – D1.3 ) 55
4.2.2.2 Phân bố số cây theo chiều cao (N-Hvn) 57
4.2.4 Mối quan hệ sinh thái loài trong quần xã thực vật: 59
4.2.5 Hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất 60
4.3 Đặc điểm tái sinh tại khu bảo tồn 61
4.3.1 Tổ thành tầng cây tái sinh 61
4.3.2 Sức sinh trưởng của tầng cây tái sinh theo cấp chiều cao 64
4.3.3 Nguồn gốc tái sinh 67
4.4 Đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh bảo tồn loài và phục hồi rừng tại khu BTTN Bình Châu – Phước Bửu 71
4.4.1 Về lý luận: 71
4.4.2 Về biện pháp kỹ thuật đối với từng đối tượng rừng cụ thể: 72
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
5.1 Kết luận 75
Đa dạng thành phần thực vật Khu BTTN BC – PB 75
5.1.2 Đặc điểm cấu trúc rừng tại khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu 76
5.2 Tồn tại 77
5.3 Khuyến nghị: 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6BC-PB : Bình Châu - Phước Bửu
Khu BTTN : Khu bảo tồn thiên nhiên
CRES : Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường
BĐ : Biểu đồ
C/ha : Cây/ha
D1.3 : Đường kính thân cây tại vị trí 1,3m (cm)
ĐDSH : Đa dạng sinh học
G : Tổng tiết diện ngang lâm phần (m2/ha)
G% : % tiết diện ngang
N-D1.3 : Phân bố số cây theo cỡ kính
N-Hvn : Phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn
Nl-D1.3 : Phân bố số loài theo đường kính thân cây
Nlts – H : Phân bố số loài cây tái sinh theo cấp chiều cao
Nts – H : Phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao
Nl-Hvn : Phân bố số loài theo chiều cao vút ngọn
OTC : Ô tiêu chuẩn
ODB : Ô dạng bản
QXTV : Quần xã thực vật
IUCN : Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên
UNDP : Chương trình phát triển Liên hợp quốc,
WB : Ngân hàng thế giới
WWF : Quỹ quốc tế Bảo vệ thiên nhiên
Trang 7TT Ký hiệu Tên loài
Trang 8Danh mục các bảng
4.4 Tổ thành thành phần thực vật thân gỗ sinh cảnh ven lộ giới (30 – 50m) 46
4.5 Tổ thành thành phần thực vật thân gỗ sinh cảnh ven lộ giới (60 – 80m) 47
4.10 Kết quả kiểm tra thuần nhất 2 chỉ tiêu số loài theo Hvn 56
4.15 Sức sinh trưởng ở Sinh cảnh phục hồi sau khai thác 65
4.16 sức sinh trưởng ở sinh cảnh ven lộ giới (30 – 50m) 66
4.17 Sức sinh trưởng ở Sinh cảnh thực vật ven lộ giới (60 – 80m) 66
4.19 Kết quả kiểm tra độ thuần nhất cây tái sinh theo cấp chiều cao (Nts-H) 70
4.20 MHH phân bố số cây tái sinh theo cấp chiều cao (Nts-H) 70
Trang 9T.tự Biểu đồ Trang
4.8 Biểu đồ phân bố N lts - H – Sinh cảnh thực vật ven lộ giới (30 – 50m) 54
4.9 Biểu đồ phân bố N lts - H – Sinh cảnh thực vật ven lộ giới (60 – 80m) 54
4.10 Biểu đồ phân bố N-D – Kiểu rừng phục hồi sau khai thác 57
4.11 Biểu đồ phân bố N-D Sinh cảnh thực vật ven lộ giới (30 – 50m) 57
4.12 Biểu đồ phân bố N-D – Sinh cảnh thực vật ven lộ giới (60 - 80m) 58
4.13 Biểu đồ phân bố N-Hvn – Sinh cảnh thực vật ven lộ giới (30 – 50m) 60
4.14 Biểu đồ phân bố N-Hvn – Sinh cảnh thực vật ven lộ giới (60 – 80m) 60
4.15 Biểu đồ phân bố sức sinh trưởng - sinh cảnh phục hồi sau khai thác 67
4.16 Biều đồ phân bố sức sinh trưởng - sinh cảnh thực vật ven lộ giới 30 -50 m 67
4.17 Biều đồ phân bố sức sinh trưởng - sinh cảnh thực vật ven lộ giới 60 -80 m 67
4.18 Phân bố cây tái sinh (Nts-H) – Phục hồi sau khai thác 71
4.19 Phân bố Nts-H – sinh cảnh thực vật ven lộ giới (60 – 80m) 71
Trang 10MỞ ĐẦU
Thế kỷ XXI, loài người đang và sẽ đứng trước những thách thức lớn, ngôi nhà chung của thế giới đang bị quá tải bởi những tác động ghê gớm: dân sô tăng lên nhanh chóng, các trung tâm công nghiệp hiên đại, các hầm mỏ, các hệ thống giao thông, các thành phố hiện đại mọc lên khắp nơi và đó là lý do hành tinh sống của chúng ta bị ô nhiễm nặng Tất cả những điều đó đang tác động rất mạnh đến các hệ sinh thái làm cho số phận các loài sinh vật bị lâm nguy Việc bảo vệ các loài, các hệ sinh thái, môi trường mà chúng ta sống tức là bảo vệ đa dạng sinh học là một nhiệm
vụ đặt ra hết sức cấp bách Sức khoẻ của hành tinh chúng ta tuỳ thuộc hoàn toàn vào
sự sinh tồn hay diệt vong của sự đa dạng các sinh vật trong đó thực vật là quan trọng nhất bởi nó là nhà máy sản xuất đầu tiên tạo ra vật chất nuôi sống các sinh vật khác
Hiện nay tất cả các nước Đông Nam Á đều tỏ mối quan tâm lo lắng về suy thoái đa dạng sinh học vì hiện tượng thoái hoá rừng và mất rừng trên diện rộng và nhanh chống trong những năm gần đây Để góp phần làm dừng hiện tượng thoái hoá, rõ ràng cần có các hình thức phục hồi rừng khác nhau nhằm khôi phục năng suất và chức năng phòng hộ của hệ sinh thái
Việt Nam may mắn là một trong những nước trên thế giới có khu hệ thực vật hết sức đa dạng và đây là di sản có giá trị, nó phải được duy trì cho các thế hệ mai sau Đã có nhiều giải pháp bảo vệ rừng, bảo tồn ĐDSH có hiệu quả nhất là việc xây dựng các khu rừng đặc dụng Tuy nhiên, điều khó khăn gặp phải là hệ thống các khu rừng đặc dụng ở Việt Nam hiện có diện tích nhỏ, rừng bị chia cắt lại có nhiều dân cư sinh sống, thậm chí ngay cả vùng lõi nơi cần được bảo vệ nghiêm ngặt Các hoạt động sống của họ đã làm tổn thất tài nguyên thiên nhiên và ảnh hưởng tới mục tiêu đặt ra của khu bảo tồn
Chính phủ đã có nhiều chương trình, dự án ưu tiên phát triển lâm nghiệp như: Chương trình 327, dự án 661 trồng mới 5 triệu ha rừng là dự án quốc gia nhằm nâng
độ che phủ của rừng lên 43%, Chương trình phát triển và quản lý rừng bền vững … tất cả các biện pháp trên đóng phần quan trọng trong phủ xanh các diện tích trống,
Trang 11đồi núi trọc, rừng nghèo, nghèo kiệt được phục hồi góp phần xoá đói giảm nghèo, giảm áp lực của cộng đồng dân cư sống phụ thuộc vào rừng
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu là khu rừng tự nhiên ven biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu mang đặc trưng của kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới Trong thời gian qua những tác động thiếu ý thức của con người đã làm cho quần thể sinh vật bị giảm sút, số lượng loài có giá trị đã bị suy giảm đáng kể, cấu trúc rừng phần nào bị đảo lộn, quá trình tái sinh, diễn thế có chiều hướng tiêu cực, công tác phục hồi rừng tại phân khu phục hồi sinh thái thuộc Khu bảo tồn cũng như trong khu vực vùng đệm chưa được chú trọng nghiên cứu Từ những vấn đề nêu trên, yêu cầu đặt ra cấp thiết là phải định hướng lại rừng trong quá trình quản lý, đảm bảo các chức năng của rừng Với ý nghĩa đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề
tài: “ Đánh giá tính đa dạng sinh học và một số đặc điểm cấu trúc của quần xã thực vật thân gỗ - Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu – tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu” nhằm đánh giá tính đa dạng sinh học, xác định các loài cây ưu thế,
có giá trị và tìm hiểu các quy luật cấu trúc của rừng hiện có, làm cơ sở cho việc đề xuất các giải pháp nuôi dưỡng làm giàu rừng
Về mặt thực tiễn: Góp phần bảo vệ vùng ven biển khỏi bão lũ, bảo vệ các đầm nước sôi – suối nước nóng xung quanh vùng có ý nghĩa rất lớn về phát triển du lịch của tỉnh
Về mặt khoa học: Góp phần bổ sung những hiểu biết về tính đa dạng sinh vật, cấu trúc và tái sinh tự nhiên quần xã thực vật rừng, và hướng phát triển ổn định hệ sinh thái rừng ven biển tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
Trang 12CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu tính đa dạng
Vấn đề đa dạng sinh học và bảo tồn đã trở thành một chiến lược toàn cầu, nhiều tổ chức ra đời để giúp đỡ, hưỡng dẫn và tổ chức việc đánh giá, bảo tồn, phát triển đa dạng sinh học trên phạm vi toàn thế giới: Hiệp hội tổ chức Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), chương trình môi trường liên hợp quốc (UNEP), Quỹ bảo tồn
và bảo vệ thiên nhiên (WWF)…Nhu cầu cơ bản và sự sống còn của chúng ta phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu nguồn tài nguyên đó giảm sút thì cuộc sống của chúng ta và con cháu chúng ta sẽ bị de doạ Để tránh hiểm hoạ đó chúng ta phải tôn trọng trái đất và sống một cách bền vững, dù muộn còn hơn không còn chú ý, vì thế Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh học đã tổ chức tại Rio de Janeiro (Brazil) tháng 06 năm 1992, 150 nước đã ký công ước về đa dạng
và bảo vệ chúng Năm 1990 WWF đã xuất bản cuốn sách nói về tầm quan trọng về
đa dạng sinh học hay IUCN, UNEP và WWF đưa ra chiến lược bảo tồn thế giới
…tất cả các cuốn sách đó nhằm hướng dẫn và đề ra các phương pháp để bảo tồn đa dạng sinh học, làm nền tảng cho công tác bảo tồn và nền tảng trong tương lai (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn) [23]
Theo WWF (1989), đã định nghĩa về ĐDSH: “Đa dạng sinh học là sự phồn
thịnh của sự sống trên Trái đất, là hàng triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật,
là những gen chứa đựng trong các loài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường” Quan điểm này giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện
và có các cách tiếp cận rõ ràng hơn về ĐDSH
Việc nghiên cứu các hệ thực vật và thảm thực vật trên thế giới với nhiều bộ thực vật chí của các nước đã hoàn thành, những công trình nghiên cứu có giá trị xuất hiện vào đầu thế kỷ XIX – XX như: Thực vật chí Hồng Kong (1861); Thực vật chí Australia (1866); Thực vật chí Ấn Độ (7 tập, 1872 – 1897); Thực vật chí Miến Điện (1877); Thực vật chí Malayxia (1892 – 1925)… Đây là những đóng góp quan trọng để đánh giá tính đa dạng sinh học của hệ thực vật trên thế giới [5], [6]
Trang 13Theo Tolmachop.L: “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao
trùm được sự phong phú của sự sống nhưng không có sự phân hoá về sự phân hoá
về mặt địa lý” Ông gọi đó là hệ thực vật cụ thể Ông đưa ra nhận định số loài của
một hệ thực vật cụ thể vùng nhiệt đới ẩm thường là: 1.500 – 2.000loài [5]
Bên cạnh đó có nhiều công trình khoa học khác nhau ra đời và hàng ngàn cuộc hội thảo được tổ chức nhằm thảo luận về quan điểm, về phương pháp luận và thông báo các kết quả đã đạt được ở khắp nơi trên toàn Thế giới Nhiều tổ chức quốc tế và khu vực được nhóm họp tạo thành mạng lưới phục vụ cho việc đánh giá bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học [23], [29]
1.1.2 Về nghiên cứu cấu trúc rừng
« Để mở đầu cho cuốn sách rất nổi tiếng của mình, Cuốn: « Rừng mưa nhiệt đới » (The Tropical Rain Forest) P W Richard (1952) đã trích dẫn một nhân xét
của H Meusel như sau : « Một quần thể thực vật chưa được coi là « đã được hiểu
rõ » nếu chỉ mới dựa vào những hiểu biết về điều kiện để hình thành nó Điều quan
trọng hơn cả, đầu tiên phải khám phá ra nó đã hình thành như thế nào và cấu trúc
nó là gì ? » Trích dẫn này cho thấy tầm quan trọng của tìm hiểu các quy luât hình
thành quần xã thực vật khác nhau và cấu trúc của hệ sinh thái đó [16, tr9]
Rừng VN bị mất bởi rất nhiều lý do khác nhau và những nổ lực để ngăn cản sự mất rừng ngày càng gia tăng mà không chỉ đòi hỏi tiền của, công sức mà còn đòi
hỏi cả những hiểu biết mới hơn để trả lời câu hỏi mà H Muesel đã đặt ra là : « rừng
đã hình thành và vận động như thế nào ? » Nếu không tìm hiểu bản chất của vấn
đề này, hiệu quả của những nổ lực trên trở nên vô nghĩa [16, tr29]
Rất nhiều nhà khoa học đã dày công nghiên cứu về cơ sở sinh thái cấu trúc rừng, tiêu biểu là Baur G.N (1964) và Odum E.P (1971) các tác giả đã tập trung nghiên cứu các vấn đề sinh thái nói chung và cơ sở sinh thái cho kinh doanh rừng mưa nói riêng, làm sáng tỏ khái niệm về hệ sinh thái rừng Đây là cơ sở nghiên cứu các nhân tố cấu trúc đứng trên quan điểm sinh thái học [1]
Về mô tả hình thái cấu trúc rừng
Trang 14Davit, PW Richards (1933-1934) đề xướng và sử dụng lần đầu tiên tại Guyana, đến nay vẫn là phương pháp có hiệu quả để nghiên cứu cấu trúc rừng, phương pháp này có nhược điểm chỉ minh họa được các sắp xếp theo hướng các loài cây gỗ trong một diện tích có hạn Cusen (1951) đã khắc phục bằng cách vẽ một số dãi kề nhau và đưa lại một loại hình tượng về không gian ba chiều [13] Richards P.W (1952) đã phân biệt tổ thành thực vật của rừng mưa thành hai loại: rừng mưa hỗn hợp có tổ thành loài cây phức tạp và rừng mưa đơn ưu có tổ thành loài cây đơn giản, trong những lập địa đặc biệt rừng mưa đơn ưu chỉ bao gồm một loài cây [13], [16]
Nghiên cứu định lượng cấu trúc rừng
Trong nghiên cứu về rừng tự nhiên, vấn đề nghiên cứu định lượng quy luật phân bố số cây theo chiều cao và phân bố số cây theo đường kính, phân chia tầng thứ được nhiều tác giả thực hiện có hiệu quả Ngoài việc phản ánh cấu trúc nội tại của lâm phần làm căn cứ đề xuất các biện pháp kinh doanh còn làm cơ sở để xây dựng các phương pháp điều tra, thống kê rừng [20]
Cấu trúc tầng thứ
Nghiên cứu cấu trúc tầng thứ rừng tự nhiên có nhiều ý kiến khác nhau: có tác giả cho rừng nghiên cứu ở kiểu rừng này chỉ có một tầng mà thôi, ngược lại có nghiều tác giả cho rằng rừng lá rộng thường xanh thường có 3 – 5 tầng Richard (1939) phân chia rừng ở Nigeria thàng 5 – 6 tầng [24] hầu hết các tác giả khi nghiên cứu cấu trúc rừng tự nhiên đều nhắc đến sự phân tầng nhưng chỉ dừng lại ở mức độ nhận xét, mang tính định tính chưa phản ánh được sự phân tầng phức tạp của rừng tự nhiên
Phân bố số cây theo đường kính (N-D) là quy luật kết cấu cơ bản của lâm phần Mayer (1934) đã mô tả phân bố N-D bằng phương trình toán học có dạng đường cong giảm liên tục Balley (1973) [8] sử dụng hàm Weibull, Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc Nhiều tác giả dùng hàm Logarit, hàm Hyperbol…
Nghiên cứu về tái sinh rừng
Trang 15Theo quan điểm của các nhà Lâm học, hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố… Vai trò của cây con tái sinh là thay thế các cây già cỗi Vì vậy hiểu theo nghĩa hẹp, tái sinh rừng là quá trình phục hồi lại thành phần cơ bản của rừng, chủ yếu là tâng cây gỗ Sự xuất hiện lớp cây con là nhân tố làm phong phú thêm thành phần quần xã thực vật [12], [13]
P W Richard tổng kết quá trình nghiên cứu tái sinh cho thấy, cây tái sinh có dạng phân bố cụm, một số có dạng phân bố Poisson Van Steens (1956) đã nghiên cứu hai đặc điểm tái sinh phổ biến của rừng mưa nhiệt đới, đó là tái sinh phân tán liên tục của loài cây chịu bóng và tái sinh vệt của loài cây ưu sáng [11], [24]
Theo Taylo (1954), Berwad (1955) số lượng cây tái sinh trong rừng thiếu hụt cần thiết phải bổ sung bằng tái sinh nhân tạo Ngược lại, ở Châu Á theo Budowski (1956), Bava (1954), Atinốt (1965) nhận định dưới tán rừng nhiệt đới nhìn chung có
đủ số lượng cây tái sinh có giá trị kinh tế (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn)[29]
Dawkins (1958) đã nói: “Dù cho kinh doanh được đưa vào như thế nào, điều suy xét đầu tiên là lâm sinh là phải tái sinh ” Như vậy, có thể nói, vấn đề tái sinh được bàn nhiều, nhất là cách thức xử lý lâm sinh liên quan đến tái sinh của các loài cây mục đích ở các kiểu rừng [22] Từ đó các nhà Lâm sinh học đã xây dựng thành công nhiều phương thức chặt tái sinh: Công thức cua Bernard (1954, 1959), Wyatt Smit (1961, 1963) với phương thức rừng đều tuổi ở Mã Lai, Barnarji (1959) với phương thức chặt dần nâng cao vòm lá ở Andamann
Trong nghiên cứu tái sinh rừng, người ta nhận thấy tầng cao và tầng cây bụi qua quá trình sinh trưởng thu nhận ánh sáng, các chất dinh dưỡng sẽ ảnh hưởng đến cây tái sinh Những lâm thưa bị khai thác nhiều, tạo ra nhiều khoảng trống lớn, tạo điều kiện cho cây bụi thảm tươi phát triển mạnh Trong điều kiện đó chúng là nhân
tố cản trở sự phát triển và khả năng sinh tồn của các cây tái sinh Nếu lâm phần kín, đất khô, nghèo dinh dưỡng cây bụi thảm tươi phát triển chậm tạo điều kiện cho cây tái sinh vươn lên (Xannikow, 1967; Vipper 1973) (dẫn theo Nguyễn Văn Thêm, 1992) [26]
Trang 16Như vậy, đánh giá tính đa dạng quần xã thực vật, đặc điểm cấu trúc rừng trên thế giới cho chúng ta hiểu biết tổng quan về tính đa dạng sinh học thành phần thực vật và quy luật phát triển của chúng làm cơ sở cho các phương pháp nghiên cứu rừng ở Việt Nam
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu tính đa dạng của QXTV:
Dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [28] Vấn đề nghiên cứu đa dạng sinh học
ở Việt Nam cũng như trên thế giới được bắt đầu từ những công trình phân loại về động vật, thực vật, nấm đã được bắt đầu từ rất sớm, còn những vấn đề nghiên cứu
đa dạng phục vụ cho công tác bảo tồn mới chỉ bắt đầu từ những năm 80 đến nay Ngoài những tác phẩm cổ điển của Loureiro (1790) của Prerri (1879 – 1907)
là nền tảng cho việc đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam Bộ Thực vật chí đại cương Đông Dương do Lecomte chủ biên (1907 – 1952) trong công trình này các tác giả người Pháp đã thu mẫu và định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương
Trên cơ sở Bộ Thực vật chí Đông Dương, Thái Văn Trường (1978) đã thống
kê Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ Ngành hạt kín có 6.366 loài (90,9%), 1.727 chi (93,4%) và 239 họ (82,7%) trong hệ thực vật Việt Nam Công trình này về sau được Humbert chủ biên (1938 – 1950) bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện việc đánh giá thành phần loài cho toàn vùng và gần đây nổi bật là Bộ thực vật chí Campuchia – Lào - Việt Nam do Aubreville khởi xướng và chủ biên
Để phục vụ cho công tác khai thác tài nguyên Viện Điều tra quy hoạch rừng
đã công bố 07 tập cây gỗ rừng Việt Nam (1971 – 1989) giới thiệu khá chi tiết các loài cây gỗ rừng cùng với hình vẽ
Về đánh giá đa dạng phân loại cho các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn làm cơ
sở cho việc hoạch định các chính sách bảo tồn, được mở đầu các công trình của Phan Kế Lộc (1992) về cấu trúc hệ thực vật Cúc Phương, Nguyễn Nghĩa Thìn (1992 – 1994) về đa dạng thực vật Cúc Phương, từ năm 1995 – 2002 Nguyễn Nghĩa Thìn cùng các tác giả khác đã công bố nhiều bài báo về đa dạng về thành phần của Vườn
Trang 17quốc gia Cúc Phương, vùng núi đá vôi Hoà Bình, Khu bảo tồn Na hang, Khu mỏ vàng ở Bồng Miên (Tam Kỳ- Quảng Nam) Vùng núi Sapa – Phan xi pan, vùng ven biển Nam trung Bộ, Vùng núi Quảng Ninh, lưu vực Sông Đà, các Vừơn quốc gia Cát Bà, Bến En, Cát Tiên, Pù Mát, Phong Nha, Ba Bể, Yôk Đôn Qua quá trình nghiên cứu tác gỉa đã công bố cuốn Cẩm nang nghiên cứu đa dạng sinh vật nhằm hướng dẫn cách đánh giá tính đa dạng thực vật của vùng nghiên cứu cho các Vườn quốc gia và Khu bảo tồn trong cả nước [23],[28], [29]
Một số chương trình, dự án của chính phủ và các tổ chức thế giới như: Birdlife, WWF, IUCN, WB đã có nhiều chương trình hành động nghiên cứu bảo
vệ và bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam đóng góp một phần đáng kể cho công tác nghiên cứu tiếp theo
1.2.2 Nghiên cứu cấu trúc rừng:
Cấu trúc rừng là quy luật sắp xếp tổ hợp của các thành phần cấu tạo nên quần thể thực vật rừng theo không gian và thời gian (Phùng Ngọc Lan, 1986) Cấu trúc rừng bao gồm các nội dung cả về sinh thái lẫn hình thái quần thể thực vật Nghiên cứu cấu trúc rừng là một nội dung quan trọng để phục vụ cho việc áp dụng các giải pháp lâm sinh, lập kế hoạch kinh doanh rừng lâu dài [12], [13]
Cấu trúc rừng là một vấn đề có nội dung, phương pháp và đa dạng, những đặc trưng này thường được mô tả theo đơn vị lâm phần của Đồng Sỹ Hiền (1974) theo tác giả rừng tự nhiên nhiệt đới nước ta chỉ cần có những cây dù khác loài, khác tuổi mọc thành rừng nghĩa là cùng nhau sinh trưởng trên một diện tích nào đó với mật
độ nhất định hình thành một đơn vị sinh học, một lâm phần có quy luật xác định [25]
Trang 18Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật tự nhiên Đây là cơ sở lý luận làm nền tảng nghiên cứu cho từng đối tượng cụ thể rừng ở Việt Nam [30]
Nguyễn Văn Trương (1983) khi nghiên cứu cấu trúc rừng hỗn loài đã xem xét
sự phân tầng theo hướng định lượng phân tầng theo cấp chiều cao một cách cơ giới nên phần nào chưa phản ánh đúng tính phức tạp của cấu trúc rừng mưa nhiệt đới [32]
Để có cái nhìn toàn diện hơn về cấu trúc rừng nhiệt đới các nghiên cứu cấu trúc rừng được chuyển dần từ mô tả định tính sang định lượng với sự hỗ trợ của thống kê toán học và tin học, trong đó việc mô tả cấu trúc rừng, xác lập mối quan hệ giữa các nhân tố cấu trúc rừng đã được nhiều tác giả nghiên cứu có kết quả Vấn đề
về cấu trúc không gian và thời gian của rừng được các tác giả tập trung nghiên cứu nhiều nhất
Về phân bố số cây theo đường kính (N-D)
Đồng Sỹ Hiền (1974) [8]với rừng tự nhiên hỗn giao khác tuổi phân bố N-D là phân bố giảm nhưng do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc nên đường thực nghiệm thường có dạng hình răng cưa và ông đã chọn hàm Mayer để mô phỏng cấu trúc đường kính cây rừng Nguyễn Hải Tuất (1986) sử dụng phân bố mô
tả thực nghiệm dạng một đỉnh ngay sát cỡ đường kính bắt đầu đo Bảo Huy (1993) [9] cho rằng phân bố khoảng cách thích hợp hơn các dạng phân bố khác Qua khảo sát các tài liệu liên quan cho thấy việc nghiên cứu phân bố N-D không chỉ dừng lại
ở mục đích phục vụ công tác điều tra mà còn xây dựng cơ sở khoa học cho các giải pháp kỹ thuật lâm sinh trong nuôi dưỡng làm giàu rừng
Về phân bố số cây theo chiều cao (N-H)
Đồng Sỹ Hiền (1974) phân bố N/H ở các lâm phần tự nhiên hay trong từng loài cây thường có nhiều đỉnh phản ánh cấu trúc phức tạp của rừng chặt chọn Thái Văn Trừng (1978), Bảo Huy (1993), Lê Sáu (1996) đã nghiên cứu phân bố N-H để tìm tầng tụ tán cây, các tác giả nhận xét chung: phân bố số cây theo chiều cao N-H
có dạng đường cong 1 đỉnh, nhiều đỉnh phụ hình răng cưa và mô tả hàm Weibull là thích hợp [8], [9], [25], [30]
Trang 19Nghiên cứu về tái sinh
Phát triển, lợi dụng tài nguyên rừng lâu bền là một phạm trù trong phát triển bền vững vì rừng là một “ Cơ sở tài nguyên” Trong Lâm sinh học nhiệt đới, mục tiêu của phát triển bền vững là mục tiêu được đặt ra ở vị trí chiến lược cho dù giải pháp kỹ thuật lâm sinh đó tác động vào đối tượng rừng như thế nào Tái sinh rừng luôn được đánh giá là:” Sợi chỉ đỏ xuyên suốt” trong toàn bộ hoạt động của hệ thống lâm sinh [11, tr33]
Thái Văn Trừng (1963, 1970, 1978) khi nghiên cứu thảm thực vật rừng VN
đã kết luận nhân tố ánh sáng là nhân tố sinh thái khống chế và ảnh hưởng đến quá trình tái sinh tự nhiên trong rừng [30]
Khi nghiên cứu ở Tây Bắc, Trần Xuân Thiện (1995) đã cho rằng khả năng tái sinh tốt thường đạt 5000 – 8000cây/ha Các trạng thái thứ sinh cũng đạt tương đương nhưng chất lượng kém hơn Dù ở vùng thấp hay cao, nhóm cây chịu hạn, thân nhỏ ưu thế tuyêt đối
Tái sinh ở hệ sinh thái rừng thứ sinh ở nước ta có tổ thành loài cây phong phú,
do nguồn gốc tích lũy trong đất và do khả năng phát tán hạt giống có hiệu quả của các loài cây rừng thứ sinh, hiện tượng “nẩy mầm” đồng thời tạo ra thế hệ hệ sinh thái sinh tiên phong, thuần loài tương đối điều tuổi (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn – 2004) [29]
Đinh Quang Diệp (1993) Nghiên cứu tái sinh tự nhiên ở rừng Khộp vùng Ea sup – Đăklăk kết luận: Độ tàn che, thảm mục, độ dày tầng thảm mục, điều kiện lập địa là nhân tố ảnh hưởng số lượng, chất lượng cây con tái sinh dưới tán rừng, qua nghiên cứu tác giả cho biết tái sinh trong khu vực có dạng phân bố cụm [4]
Phạm Ngọc Tường (2003) Nghiên cứu tái sinh rừng sau nương rẫy tại tỉnh Thái Nguyên và Bắc Cạn nhận xét: Phân bố tái sinh cây gỗ theo cấp chiều cao có dạng một đỉnh và sử dụng hàm phân bố Weibull để mô phỏng quy luật đó Ngoài ra tác giả còn cho thấy mật độ cây tái sinh giảm dần theo thời gian phục hồi rừng Trần Ngũ Phương (1965 - 1966) khi nghiên cứu các quy luật phát triển rừng tự nhiên miền Bắc Việt Nam đã nhấn mạnh quá trình diễn thế thứ sinh của rừng tự
Trang 20nhiên như sau: "Trường hợp rừng tự nhiên có nhiều tầng khi tầng trên già cỗi, tàn
lụi rồi tiêu vong thì tầng kế tiếp sẽ thay thế; trường hợp nếu chỉ có một tầng thì trong khi nó già cỗi một lớp cây con tái sinh xuất hiện và sẽ thay thế nó sau khi nó tiêu vong, hoặc cũng có thể một thảm thực vật trung gian xuất hiện thay thế, nhưng
về sau, dưới lớp thảm thực vật trung gian này sẽ xuất hiện một lớp cây con tái sinh lại rừng cũ trong tương lai và sẽ thay thế thảm thực vật trung gian này, lúc bấy giờ rừng cũ sẽ được phục hồi" Tuy nhiên, sau một thời gian nghiên cứu tìm hiểu quy
luật phát triển của các loại hình rừng tự nhiên, xây dựng bảng cân đối giữa một bên
là mặt thoái hoá và một bên là mặt phục hồi tự nhiên, tác giả này và các cộng tác
viên đã kết luận: "mặt phục hồi tự nhiên không bao giờ cân đối được với mặt thoái
hoá về số lượng cũng như chất lượng, nên muốn đảm bảo cho đất nước một độ che phủ thích hợp, chúng ta không thể trông cậy vào quy luật tái sinh tự nhiên mà chỉ
có thể đi theo con đường tái sinh nhân tạo, và phương thức chặt tỉa kết hợp với tái sinh tự nhiên hiện nay phải bị lên án" [20]
Thực tế cho thấy với điều kiện nước ta hiện nay, nhiều khu vực vẫn phải trông cậy vào tái sinh tự nhiên còn tái sinh nhân tạo mới chỉ được triển khai trên quy mô hạn chế Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ về tái sinh tự nhiên cho từng đối tượng rừng cụ thể là hết sức cần thiết nếu muốn đề xuất biện pháp kỹ thuật chính xác Như vậy, tái sinh rừng nhiệt đới là một vấn đề đa dạng và phong phú Quá trình này bị chi phối bởi nhiều nhân tố như: vị trí địa lý, biện pháp tác động đến tầng cây cao, nguồn gốc hình thành rừng do vậy, dù tái sinh có những quy luật nhất định, vốn có
và tồn tại khách quan nhưng do tác động làm cho chúng trở nên phức tạp Tái sinh
là vấn đề quan trọng quyết định đến kinh doanh rừng bền vững, vì vậy, nghiên cứu tái sinh rừng là một việc làm không thể thiếu trong các nghiên cứu về cấu trúc rừng
Kết luận: Khái quát những nghiên cứu đa dạng sinh học thành phần thực vật
và đặc điểm cấu trúc rừng tự nhiên trên thế giới cũng như những công trình nghiên cứu trong nước là những công trình nghiên cứu mang tính khoa học cao và rất cấp thiết về lý luận cũng như thực tiễn đặc biệt trong quản lý rừng ổn định Cơ sở khoa
Trang 21học để nghiên cứu đa dạng sinh học và cấu trúc rừng trong và ngoài nước hết sức phong phú có thể vận dụng để tiếp cận xây dựng mô hình cho một đối tượng quản
lý rừng
Đã có nghiên cứu về đa dạng sinh học và đặc điểm cấu trúc rừng Tuy nhiên, các nghiên cứu này cần được phát triển phù hợp với từng điều kiện, sinh thái, nhân văn cụ thể để phục hồi và phát triển rừng Do vậy, đề tài đóng góp vào việc bổ sung
cơ sở khoa học cho việc phục hồi rừng và phát triển rừng hỗ trợ cho bảo vệ và phát triển rừng tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu là rất cần thiết
1.3 Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu
Khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu đặc trưng của kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới miền Đông Nam Bộ Đã có nhiều đoàn nghiên cứu trong
và ngoài nước đến khảo sát, nghiên cứu đánh giá tài nguyên động vật rừng và đa dạng sinh học khu BTTN Xây dựng luận chứng khoa học kỹ thuật rừng cấm Bình Châu - Phước Bửu (1989) do Phân viện Điều tra quy hoạch rừng II (Bộ Lâm nghiệp cũ); Năm 2000 Phân viện Ðiều tra Quy hoạch rừng II điều tra, khảo sát và nghiên cứu xây dựng danh lục và tiêu bản thực vật rừng, bản đồ thảm thực vật rừng Khu Bảo tồn thiên nhiên BC-PB Hoạt động điều tra xây dựng vườn thực vật của khoa Lâm nghiệp Trường Ðại học Nông - Lâm thành phố Hồ Chí Minh Các hoạt động điều tra nghiên cứu Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật về đánh giá tài nguyên và lập danh lục động vật hoang dã; Đoàn điều tra của Viện sinh nhiệt đới; Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (1995)…Tuy nhiên, khu BTTN Bình Châu - Phước Bửu
có diện tích không lớn 11.392ha được bao bọc xung quanh bởi các khu dân cư và biển, do vậy tác động của con người vào khu bảo tồn đến nay vẫn chưa chấm dứt
Để quản lý và phát triển tài nguyên rừng, bảo vệ đa dạng sinh học Đề tài tiến hành đánh giá đa dạng sinh học và một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng tại khu bảo tồn nhằm bổ sung cơ sở khoa học về tính đa dạng sinh học thành phần quần
xã thực vật, các quy luật cấu trúc trên cơ sở định lượng phục vụ cho việc phục hồi
và phát triển rừng ven biển tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu
Trang 22CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, GIỚI HẠN, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu:
2.1.1 Về lý luận:
Bổ sung cơ sở khoa học về tính đa dạng sinh học thành phần thực vật (Quần
xã thực vật), các quy luật cấu trúc trên cơ sở định lượng phục vụ cho việc phục hồi
và phát triển rừng ven biển
2.1.2 Về thực tiễn:
Đánh giá tính đa dạng và nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc, tái sinh QXTV thân gỗ rừng thường xanh ven biển làm cơ sở đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm phục hồi và phát triển rừng thường xanh ven biển tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu
2.2 Đối tượng, phạm vi và giới hạn nghiên cứu:
2.2.1 Về khu vực nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu theo kiểu phụ nhân tác thuộc khu Bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu
2.2.2 Về đối tượng nghiên cứu:
Là các sinh cảnh thực vật hiện phân bố trong khu BTTN BC – PB
2.2.3 Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung đánh giá sơ bộ tính đa dạng và nghiên cứu một vài đặc điểm cấu trúc tại các sinh cảnh có phân bố thực vật thân gỗ tại khu bảo tồn
2.3 Nội dung nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu đã đặt ra về lý luận cũng như thực tiễn, đề tài nghiên cứu theo các nội dung sau:
2.3.1.1 Đánh giá tính đa dạng về cấu trúc tổ thành quần xã thực vật thân gỗ:
o Tính đa dạng sinh học của thành phần thực vật thân gỗ về mặt phân bố
o Quan hệ sinh thái loài thân gỗ
Trang 23o Đặc điểm cấu trúc tổ thành loài cây: Tổ thành tầng cây cao, phân bố số loài cây theo đường kính, chiều cao thân cây (NL-D1.3, NL-HVN), tổ thành loài tầng cây tái sinh, xác định các chỉ số đa dạng sinh học, phân bố số cây tái sinh theo cấp
o Hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất
o Đặc điểm tái sinh rừng: Mật độ cây tái sinh, số lượng cây tái sinh theo cấp chiều
o Nghiên cứu phương pháp điều chỉnh cấu trúc để rừng phục hồi và ổn định
Phương pháp nghiên cứu:
2.3.2.1 Phương pháp nghiên cứu luận
o Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu có liên quan của các tác giả đi trước, các tài liệu về khí hậu, đất và các thông tin liên quan khác,
o Phương pháp điều tra thực địa, điều tra điển hình về cấu trúc, sinh thái ở khu vực nghiên cứu
o Phương pháp định tính và định lượng thông qua kết hợp giữa mô tả sinh thái và định lượng các nhân tố cấu trúc và phương pháp mô hình hoá
o Phương pháp tư vấn ý kiến chuyên gia, phương pháp phân tích đối chiếu so sánh, xác định mẫu tiêu bản với các tài liệu tin cậy để xác định tên thực vật
Trang 24o Sử dụng các phương pháp truyền thống trong nghiên cứu điều tra rừng để thu thập số liệu, phương pháp trong thống kê toán học để xử lý, phân tích, tổng hợp tài liệu và tính toán đảm bảo độ chính xác trong nghiên cứu khoa học
2.3.2.2 Phương pháp nghiên cứu
Ngoại nghiệp
Sử dụng phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây kết hợp với điều tra chuyên đề và phỏng vấn để thu thập số liệu về các loài có giá trị, loài có nguy cơ đe dọa tuyệt chủng để bổ sung vào danh mục thực vật của Khu bảo tồn Điều tra chuyên đề: Điều tra theo chọn ô tiêu chuẩn điển hình
Thống kê các loài thực vật, đặc điểm các kiểu rừng/quần xã thực vật hoặc các sinh cảnh và ảnh hưởng của nhân tố, nhân tác lên QXTV
Sử dụng phương pháp điều tra trên các ô tiêu chuẩn điển hình: Lập 5 – 6 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000m2
/ô (20m x 50m), chia thành 10 ô đơn vị diện tích 100
m2/ô (10 m x 10m) các ô tiêu chuẩn được xác định theo quy định của công tác điều tra rừng
a Điều tra đo đếm tầng cây cao:
Xác định tên loài cây (Địa phương/ Khoa học); Đo đường kính thân cây tại vị trí ngang ngực (1.3m) của các cây có đường kính D > = 10cm bằng thước kẹp lấy số tròn đến 0,1 cm, đo chiều cao vút ngọn (Hvn), dưới cành (Hdc) bằng thước đo cao Blumleiss lấy số tròn đến 0.1m, đo đường kính tán (DT) 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc bằng thước dây lấy số tròn đến 0.1m
Xác định độ tàn che chung của ô tiêu chuẩn.(1/10)
Xác định toạ độ cây X – Y độ chính xác 0,1m để vẽ trắc dọc, trắc ngang xác định cấu trúc tầng tán cây rừng theo mặt cắt ngang và mặt cắt đứng
Xác định vị trí cây trong từng tầng tán (A1: Tầng vượt tán; A2: Tầng ưu thế sinh thái; A3: Tầng dưới tán )
Đánh giá phẩm chất của từng cây qua mục trắc: Tốt A; Trung bình: B; Xấu: C
Trang 25b Hình thái phân bố cây rừng trên mặt đất:
Theo phương pháp đánh giá khoảng cách bình quân đến cây gần nhất để xác định dạng phân bố Trên mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành đo khoảng cách của >30 cây theo phương pháp đo khoảng cách của cây được chọn là ngẫu nhiên đến cây gần nhất
c Điều tra cây tái sinh:
Trong mỗi ô tiêu chuẩn lập 5 ODB với diện tích 4m2
/ô ( 2m x 2m) các ô được
bố trí ở 4 gốc và 1ô ở chính giữa OTC Trong ô dạng bản tiến hành thống kê các chỉ tiêu sau: Tiến hành đo đếm tất cả các cây tái sinh có H > = 1,3 m đến D < 10cm, ghi phân biệt theo loài cây, nguồn gốc tái sinh, chiều cao và cấp sinh trưởng (khoẻ, trung bình, yếu)
Nội nghiệp
Phương pháp xử lý số liệu:
Toàn bộ số liệu được xử lý trên máy vi tính theo các chương trình phần mềm ứng dụng như Excel, SPSS
Phân loại thảm thực vật: Việc phân loại các đơn vị thảm thực vật rừg thực hiện theo
phương pháp phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới của Thái Văn Trừng (1978) như sau:
o Kiểu thảm thực vật là những quần thể thực vật được hình thành dưới các chế độ khí hậu khác nhau
o Đơn vị dưới kiểu là kiểu phụ có thành phần thực vật do những nhân tố khác nhau của các yếu tố sinh thái quyết định sự phát sinh và phát triển của nó là khu hệ thực vật, đá mẹ thổ nhưỡng, sinh vật – con người
Đơn vị phân loại là quần hợp, ưu hợp hay phức hợp Đây là 3 kiểu tổ hợp thực vật đồng đẳng nhưng được phân biệt do mức độ tổ thành của những cây ưu thế trong xã hợp thực vật Đây cũng là cơ sở của thảm thực vật
o Quần hợp (Associations) có độ ưu thế tuyệt đối số cá thể của 1 – 2 loài
(hoặc chi) chiếm trên 90% tổng số các thể loài trong tầng lập quần (tầng A) trên đưon vị diện tích điều tra
Trang 26o Ưu hợp (Domination): có độ ưu thế tuyệt đối số cá thể của dưới 10 loài
(hoặc chi) chiếm từ 40 – 50% trở lên của tầng lập quần trong quần thể (tầng A2) trên đơn vị diện tích điều tra (cá thể mỗi loài chiếm 4 – 5%)
o Phức hợp (Complexions) có độ ưu thế của các loài phân hóa chưa rõ (số loài
cây quá nhiều, không có loài hoặc chi, họ nào chiếm ưu thế trên 4%)
Phương pháp cụ thể
Lập phân bố thực nghiệm: Tần số thực nghiệm được sắp xếp theo tổ, với cự ly tổ
theo công thức thực nghiệm của Brooks và Carruther, Nguyễn Hải Tuất (1982)
Gộp ô tiêu chuẩn: Dùng tiêu chuẩn n2 của Pearson cho k mẫu độc lập để kiểm tra thuần nhất của các ô tiêu chuẩn, theo từng sinh cảnh để tính các chỉ tiêu liên quan,
bỏ các ô không thuần nhất
Phương pháp tiến hành kiểm tra như sau:
Giả sử có k mẫu, tương ứng với k biến độc lập lấy giá trị từ Z1 Zm với xác suất Pij=P(xi=zi) với (j=1, 2, m; i=1, 2, k)
zi x1 xi xk fij=fj
1
2
fim
fk1
fk2
fkm
f1
f2
i j ij n
n f
n n f f n
Tính toán tỷ lệ tổ thành tầng cây cao: tỷ lệ tổ thành của từng loài cây trên 1ha được
tính toán theo phương pháp của Daniel Marmillod, Vũ Đình Huề (1984), Đào Công
Trang 27Khanh (1996) thông qua 2 chỉ tiêu: tỷ lệ % mật độ (N%) và tiết diện ngang (G%) Mỗi loài được xác định tỷ lệ tổ thành IV% (chỉ số quan trọng: Important Value):
*10
n
m
A (2-3) Trong đó : A: Hệ số tổ thành tầng cây cao hoặc cây tái sinh; m: Số cá thể mỗi loài trong ô tiêu chuẩn; n: Tổng số cây trong ô tiêu chuẩn
i
P D
/ [(ni N Lg ni N
Trong đó: N là tổng số cá thể điều tra; Pi là độ nhiều tương đối của loài thứ i,
Pi = ni/N với ni là số cá thể của loài thứ i (i chạy từ 1 đến S), S là tổng số loài
Nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc lâm phần
Mô phỏng các kiểu cấu trúc lâm phần:
Sau khi sắp xếp tần số thực nghiệm theo tổ, tính toán một số đặc trưng mẫu, xem xét kiểu dạng phân bố, từ đó lựa chọn các hàm phân bố lý thuyết để mô phỏng Một số phân bố lý thuyết được sử dụng:
Trang 280 x Víi α
α 1 γ 1
γ
) (
xi fi
f n
Trong đó: fo là tần số ứng với cỡ kính đầu tiên (x=0)
n là tổng số cây của các cỡ Khi 1 thì phân bố khoảng cách trở về dạng phân bố hình học
x
x
P( ) ( 1 ) * với x0 (2-9) Nếu gọi Di là giá trị giữa của cỡ kính, Dmin là cỡ kinh nhỏ nhất, K là cự ly tổ thì xi
đƣợc xác định nhƣ sau:
K
D Di
Trang 29X=Y-Ymin (2-13) Trong đó: Ymin là giá trị đường kính hay chiều cao bé nhất trong dãy quan sát sau khi đã được chỉnh lý số liệu
Khi các tham số của phân bố Weibull thay đổi thì dạng đường cong cũng thay đổi, trong đó là tham số biểu thị độ nhọn còn là tham số biểu thị độ lệch Khi
3
phân bố có dạng đối xứng, 3 phân bố có dạng lệch phải, 3 phân bố
có dạng lệch trái
Các tham số của phân bố Weibull được xác định theo các bước sau:
Tuỳ theo độ lệch của phân bố thực nghiệm mà chọn giá trị của tham số cho phù hợp, sau đó ước lượng tham số theo công thức :
1
(2-14)
x i là trị số giữa tổ đã được chuẩn hoá theo (2-13)
Kiểm tra giả thuyết về luật phân bố theo tiêu chuẩn 2
ll
ll t n
Trang 30Quá trình tính theo (2-15) cần lưu ý:
- Nếu tổ nào có tần số lý thuyết fll < 5 thì phải ghép với tổ trên hoặc tổ dưới nó
thì tuỳ thuộc vào phân bố thực nghiệm
mà có thể chọn phân bố lý thuyết khác để mô hình hoá Khi đó trình tự các bước nắn và kiểm tra giả thuyết về luật phân bố được lặp lại từ đầu
Phương pháp xác định kiểu phân bố cây rừng trên mặt đất
Phương pháp xác định kiểu phân bố cây rừng trên mặt đất theo phân bố khoảng cách từ một cây chọn ngẫu nhiên đến cây gần nhất là kết quả nghiên cứu của Nguyễn Hải Tuất (1990) Chỉ tiêu Q của Klark và Evans được sử dụng để đánh giá kiểu phân bố:
Trang 31U X n
26136 , 0
) 5 , 0
*
(2-17) Nếu: |U| 1.96 tổng thể cây rừng có phân bố ngẫu nhiên
U > 1.96 tổng thể cây rừng có phân bố cách đều
U < -1.96 tổng thể cây rừng có phân bố cụm
Đánh giá tái sinh của rừng phục hồi
Các chỉ tiêu được xác định cụ thể là: Mật độ cây tái sinh trên ha, cấp chất lượng, phân theo cấp chiều cao
Từ số liệu thu thập, -Xác định tổ thành cây tái sinh:
Nếu IV % > 5% thì loài đó được tham gia vào công thức tổ thành
Nếu IV % < 5% thì loài đó không tham gia vào công thức tổ thành
Phân tích mối quan hệ sinh thái loài trong quần xã thực vật:
Rừng hỗn loài nhiệt đới bao gồm nhiều loài cây cùng tồn tại về không gian và thời gian Một số loài phụ thuộc vào mức độ phù hợp hay đối kháng giữa chúng với nhau trong quá trình lợi dụng những yếu tố môi trường Quan hệ của chúng trong quần xã thực vật được chia làm 3 loại liên kết:
- Liên kết dương: Là trường hợp những loài cây có thể cùng tồn tại suốt quá trình sinh trưởng
- Liên kết âm: Là trường hợp những loài cây không thể tồn tại lâu dài bên cạnh nhau được do có những đối kháng quyết liệt trong quá trình lợi dụng các yếu
tố môi trường
Trang 32- Quan hệ ngẫu nhiên: Là trường hợp những loài cây tồn tại tương đối độc lập với nhau
Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài nhằm định hướng trong việc lựa chọn nhóm loài cây hỗn giao trong trồng rừng, làm giàu rừng
Chọn những loài quan trọng, loài ưu thế sinh thái theo chỉ số IV%, và dựa vào quan điểm của Thái Văn Trừng để xác định loài ưu thế sinh thái là loài có IV% > 5%
Từ các ô tiêu chuẩn rút ngẫu nhiên, tiến hành kiểm tra quan hệ cho từng cặp loài theo tiêu chuẩn và 2:
Sử dụng các tiêu chuẩn thống kê sau để đánh giá quan hệ theo từng cặp loài:
) ( 1 ).(
( )).
( 1 ).(
(
) ( ).
( ) (
B P B
P A P A P
B P A P AB P
0 < 1: loài A và B liên kết dương
-1 < 0: loài A và B liên kết âm (bài xích nhau)
Với : nA: số ô tiêu chuẩn chỉ xuất hiện loài A
nB: số ô tiêu chuẩn chỉ xuất hiện loài B
nAB: số ô tiêu chuẩn xuất hiện đồng thời 2 loài A và B
n: tổng số ô quan sát ngẫu nhiên
P(AB): Xác suất xuất hiện đồng thời của 2 loài A và B
P(A): Xác suất xuất hiện loài A
P(B): Xác suất xuất hiện loài B
) (
n
n n B
:
Trang 33) )(
)(
)(
(
) 5 0
2
d b c a d c b a
n bc
t2
0.05 = 3.84 thì mối quan hệ giữa 2 loài là ngẫu nhiên
Nếu 2
t > 2
0.05 = 3.84 thì giữa 2 loài có quan hệ với nhau
Tóm lại để xem xét mối quan hệ theo từng cặp loài, đề tài sử dụng đồng thời 2 tiêu chuẩn và 2
:
2: để kiểm tra mối quan hệ từng cặp loài
: trong trường hợp kiểm tra bằng 2 cho thấy có quan hệ, thì sẽ cho biết chiều hướng mối quan hệ đó theo dấu của (- hay +) và mức độ quan hệ qua giá trị
||
Trang 34CHƯƠNG 3 ÐẶC ÐIỂM KHU VỰC NGHIÊN CỨU [18], [19]
3.1 Ðiều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí hành chính
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu - Phước Bửu thuộc huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nằm trong địa phận hành chính 05 xã: Phước Thuận, Xuyên Mộc, Bông Trang, Bưng Riềng và Bình Châu
Tọa độ địa lý:
Từ 10o27'57" đến 10o37'46" vĩ độ Bắc
Từ 107o24'31" đến 107o36'07" kinh độ Ðông
Phía Bắc khu bảo tồn giáp Lâm trường Xuyên Mộc
Phía Nam là biển Ðông từ ấp Hồ Tràm đến Bến Lội xã Bình Châu
Phía Ðông giáp huyện Hàm Tân thuộc tỉnh Bình Thuận
Phía Tây giáp sông Hoả và lộ 328
Tổng diện tích tự nhiên của khu bảo tồn là 11.392 ha Khu bảo tồn được chia làm 2 phần rõ rệt do đường quốc lộ 55, bao gồm 11 tiểu khu rừng
3.1.2 Ðịa hình, địa mạo
Nhìn chung toàn bộ khu bảo tồn có dạng địa hình đồi thấp trên nền phù sa cổ
và trầm tích biển là dạng chiếm diện tích chủ yếu, mang những nét đặc trưng của địa hình miền Ðông Nam Bộ là đồi thấp bề mặt lượng sóng, địa hình tương đối bằng phẳng, thoai thoải từ 4 phía đổ vào trung tâm, tạo thành 4 vùng địa hình khác nhau như sau :
- Vùng bằng phẳng: Chiếm diện tích 9.902 ha, trải rộng từ phía bắc đến phía nam, độ cao từ 20 – 50 m so với mặt biển, độ dốc bình quân từ 3 – 5 độ
- Vùng đồi: Bao gồm một số ngọn đồi có độ cao tuyệt đối từ 60 đến 160m như: Hồng Nhung (118m) nằm ở phía bắc thuộc phân trường I lâm trường Xuyên Mộc, cụm hồ Linh (cao từ 100 – 162m) nằm ở ven biển thuộc tiểu khu 51 Khu vực
Trang 35mộ Ông, gái Ma ở phía Tây nam thuộc tiểu khu 49 Tổng diện tích của vùng có địa hình đồi là 350 ha
- Vùng hồ lòng chảo: Có diện tích khoảng 200 ha gồm các hồ trũng ven sông suối thường ngập nước mùa mưa và các hồ có nước quanh năm như: hồ Linh, hồ Tràm, hồ Cốc, hồ Nhám, hồ Tròn và hồ Núi Le
- Vùng cồn cát ven biển: Diện tích 940 ha, chạy dọc trên 12 km bờ biển, ở khu bảo tồn thiên nhiên từ ấp Thuận Biên xã Phước Thuận đến bến lội xã Bình Châu Dạng địa hình này bao gồm các cồn cát di động đã ổn định có thảm thực vật che phủ và cồn cát di động chưa có thảm thực vật che phủ có độ cao từ 30 – 60 m so mặt nước biển
Các dạng địa hình khác nhau tạo cho khu bảo tồn cảnh quan sinh động với các dạng: Núi, rừng, suối, hồ, biển từ đó hình thành các khu cư trú rất đa dạng cho các loài sinh vật Ðồng thời, cũng là địa bàn thuận lợi cho các hoạt động nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và tham quan du lịch
Trang 36 Ðất Feralit màu đỏ: Phát triển trên đá Bazan có màu nâu vàng đến nâu đỏ, tầng đất dày, thành phần cơ giới thịt nhẹ (sét tới 60%) hàm lượng NPK cao
Ðất màu xám và vàng nâu phát triển trên phù sa cổ
Ðất phèn: Ðất phèn tiềm tàng nông chiếm diện tích khá lớn được hình thành trên bưng ngập nước vào mùa mưa Ðất có màu xám trắng đến xám đen, độ pH từ 4 – 4,5 Thành phần cơ giới nhẹ (cát từ 50 – 60%)
Ðất cát ven biển: Chạy dọc theo bờ biển hình thành 2 dạng đất khác nhau: Cồn cát di động không ngập nước biển Ðất cát ướt thường bị ngập nước thủy triều dâng Cả hai loại đất này đều có tỷ lệ cát từ 60 – 70%, tầng mùn hầu như không có, hàm lượng NPK rất thấp, hút và thoát nước mạnh, độ che phủ thực vật rất thấp dưới 10%
Ðất cát trắng và cát vàng trong nội địa: Có tỷ lệ khá cao trên 70%, hàm lượng NPK rất thấp
3.1.4 Khí hậu thuỷ văn
Khí hậu
Về mặt khí hậu thuỷ văn, khu bảo tồn thiên nhiên BC-PB nằm trong vùng ảnh hưởng của chế độ khí hậu nhiệt đới mưa mùa Số liệu theo dõi năm 2006 tại trạm khí tượng Vũng Tàu ghi nhận như sau:
Nhiệt độ bình quân hàng năm của không khí là 25,80C, cao nhất (Tmax) là
380C vào tháng 4 – 5 , thấp nhất (Tmin) là 150C vào tháng 12 Biên độ nhiệt 30C
Lượng mưa bình quân hàng năm là 1.396 mm, cao nhất (Pmax) là 1.877 mm (năm 1917) và thấp nhất (Pmin) là 704 mm vào năm 1907 Số ngày mưa bình quân trong năm là 124 ngày
Số tháng mưa là 6 tháng (từ tháng 5 – 10) nhưng thường tập trung vào tháng 7,
8, 9 hàng năm Mùa nắng kéo dài từ tháng 11 – 4 năm sau (6 tháng) có khi tới 7 tháng Số tháng khô từ 1 – 3 tháng Số tháng hạn từ 2 – 3 tháng Số tháng kiệt từ 0 –
1 tháng
Ðộ ẩm của không khí :
Trang 37Ðộ ẩm tuyệt đối bình quân hàng năm là 85,2%
Ðộ ẩm tuyệt đối (max) hàng năm tới 100%
Ðộ ẩm tuyệt đối (min) là 36% vào tháng 12 và tháng 1
Lượng bốc hơi cao nhất (max) là 43,7% vào tháng 3
Chế độ gió
Khu bảo tồn thiên nhiên Bình Châu – Phước Bửu thường chịu ảnh hưởng của
2 hướng gió thịnh hành theo 2 mùa chính liên tục là
Gió Tây Nam thổi vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11
Gió Ðông Bắc thổi vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Tốc độ trung bình của gió là 8 – 10km/h Vào những ngày mưa bão gió xoáy lốc có thể đến 50 – 70km/h
Hình 3.1 Biểu đồ Gaussen-Water
Hai hướng gió này đều từ ngoài biển Ðông thổi vào và suốt dọc vùng ven biển đều không có cây cao chắn gió, cho nên có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự phân bố thực vật cũng như quá trình sinh trưởng, phát triển và tái sinh rừng
Thủy văn
Hệ thống sông suối trong khu bảo tồn nhìn chung không đáng kể, chỉ có các suối cát, suối đá, Rải rác trong khu bảo tồn cũng có các bàu và hồ như bàu Nhám, bàu Tròn, hồ Cóc, hồ Linh có nước quanh năm, diện tích mặt nước thay đổi theo mùa (mùa mưa rộng ra, mùa khô thu hẹp lại)
Trang 38Trong Khu bảo tồn thiên nhiên BC– PB có khoảng 43 km sông suối lớn, nhỏ thường có nước quanh năm nhưng ngắn dưới 10 km như sông Hỏa, suối Cát, suối Nhỏ, suối Bang Ngoài ra còn có một số bàu và hồ có nước quanh năm như : bàu Nhám, bàu Bàng, hồ Cốc, hồ Tràm, hồ Linh, hồ Tròn và hồ Núi Le Ðặc biệt ở phía đông bắc Khu bảo tồn thiên nhiên BC-PB có suối nước khoáng Bình Châu có nhiệt độ từ 60 – 800C đây là khu du lịch rất có giá trị Nhìn chung mực nước ngầm trong Khu bảo tồn thiên nhiên BC-PB là tương đối thấp, thuận lợi cho sự phát triển của thực vật
3.2 Ðất đai và tài nguyên rừng
3.2.1 Ðất đai
Bảng 3.1 Hiện trạng đất đai ở khu Bảo tồn thiên nhiên BC-PB
Nội dung Đơn vị tính Tổng số Tỷ lệ (%)
là 1.754 ha (Trạng thái IC) chiếm 15.4% tổng diện tích tự nhiên Rừng khoanh nuôi
Trang 39kết hợp trồng rừng bổ sung hầu hết trạng thái (IC), chất lượng rừng nhìn chung kém, số cây tạp nhiều Cây có giá trị kinh tế như Dầu cát, Sến cát, Chò chai rất ít Tuy nhiên, rừng còn có độ tàn che trên 0,5 vẫn còn giữ được tiểu hoàn cảnh rừng, đất còn tính chất đất rừng, diện tích rừng tập trung liền lô, liền khoảnh Do đó, nếu rừng được khoanh nuôi bảo vệ, xúc tiến tái sinh tự nhiên, khoanh nuôi tái sinh kết hợp trồng bổ sung, rừng sẽ được phục hồi và phát triển tốt
3.2.2 Tài nguyên rừng
Về tài nguyên thực vật rừng: Theo kết quả điều tra khảo sát xây dựng
bản đồ thảm thực vật rừng khu Bảo tôn thiên nhiên BC-PB của Phân viện Ðiều tra Quy hoạch rừng II năm 2000 [15] đã xác định hệ thực vật rừng của khu bảo tồn thiên nhiên BC-PB có các yếu tố đặc trưng của "kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới" với 3 kiểu phụ và 21 thảm thực vật, đặc biệt có các tổ hợp thực vật thân thuộc với khu hệ thực vật Malayxia-Indonexia và khu hệ Ấn độ-Miến điện Các tổ hợp
thực vật trong đó Tràm (Melaleuca cajuputi), Dầu lông (Dipterocarpus intricatus),
chiếm ưu thế trên đất cát hoặc đất cát pha ngập nước theo mùa là những cảnh quan độc đáo ít thấy xuất hiện ở các khu vực khác
Về tài nguyên động vật rừng: Kết qủa nghiên cứu đánh giá tài nguyên động vật
hoang dã tại khu bảo tồn thiên nhiên BC-PB, Lê Xuân Cảnh, Hoàng Minh Khiên,
Lê Ðình Thuỷ, Nguyễn Văn Sáng (2000)[4] đã thống kê được 205 loài thuộc các lớp Ếch nhái, Bò sát, Chim và Thú
- Lớp Ếch nhái: Có 12 loài thuộc 04 họ, 1 bộ
- Lớp bò sát có 38 loài thuộc 14 họ, 3 bộ.Kết qủa bước đầu đã xác định 15 loài
bò sát và ếch nhái qúy hiếm đã được ghi vào sách đỏ Việt Nam, chiếm 30 % tổng số
loài Trong đó rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah) là loài đặc hữu của Việt Nam
- Lớp chim: Có 106 loài, trong đó có 05 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam
là những loài qúy hiếm cần được bảo vệ ở nước ta, chiếm 4,7% tổng số loài Ðó là
các loài: Gà lôi vằn (Lophura nycthemera), Gà lôi hông tía (Lophura diardi), Bồ câu nâu (Colum pucicea), Cú lợn rừng (Phodius badis), Yến núi (Collocalla
Trang 40- Lớp thú: Trong số 49 loài thú đã thống kê có 10 loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam (năm 1992) chiếm 20,4 % tổng số loài; 08 loài được ghi vào sách đỏ thế giới chiếm 16,3 %.; 18 loài được ghi vào công ước CITES cấm buôn bán trên thế giới chiếm 36,7 %
Ðiều đó chứng tỏ rằng Khu bảo tôn thiên nhiên BC-PB không chỉ là nơi bảo tồn nguồn gen cây lá rộng của rừng nhiệt đới ven biển, nơi cung cấp giống cây họ dầu, họ đậu qúy hiếm, mà còn là một khu vực có quan trọng có tầm cỡ quốc tế trong việc bảo tồn thiên nhiên bảo vệ nguồn gen các loài thú qúy hiếm của thế giới
Về phòng hộ môi trường và du lịch sinh thái, Khu BTTN Bình Châu Phước Bửu nằm ở hạ lưu vực sông Ðồng Nai Hệ sinh thái rừng của khu rừng đặc dụng là
lá phổi xanh cung cấp dưỡng khí trong lành cho các khu công nghiệp; lọc sạch khí thải và chất ô nhiễm từ các khu công nghiệp và các khu dân cư Góp phần hạn chế những tác hại môi trường, giảm hiệu ứng nhà kính, góp phần hạn chế quá trình nóng lên của trái đất
Vai trò của Khu bảo tồn đối với kinh tế môi trường: Khu bảo tồn BC-PB là khu rừng tự nhiên duy nhất còn lại ở vùng ven biển phía Nam nước ta từ bán đảo Sơn Trà trở vào Khu bảo tồn thiên nhiên BC-PB có nhiều sinh cảnh đa dạng từ vùng đồi núi thấp đến bình nguyên và các vùng đầm lầy rừng tràm, các hồ nước ngọt tạo nên sự đa dạng phong phú về thành phần đa dạng loài thực vật, động vật rừng Khu bảo tồn nằm dọc ven biển tạo thành tấm bình phong che chắn hạn chế các thảm họa của thiên nhiên như gió bão, cát bay, sóng biển, bảo vệ tầng nước ngọt, bảo vệ môi trường sống của nhân dân trong khu vực Khu bảo tồn cách thành phố Vũng Tàu, Biên Hòa và thành phố Hồ Chí Minh với cự ly khoảng 100km; lại
có giao thông thuỷ bộ thuận lợi, cảnh quan xanh đẹp, hấp dẫn là điều kiện rất thuận lợi để xây dựng và phát triển các hoạt động du lịch sinh thái ở Khu bảo tồn Do đó, việc đầu tư xây dựng và phát triển Khu bảo tồn BC-PB là rất cần thiết, nhằm bảo tồn thiên nhiên, sinh cảnh rừng nhiệt đới cây họ dầu nằm ở ven biển duy nhất còn lại ở miền Nam nước ta Bảo vệ môi trường sinh thái vùng ven biển và là nơi nghỉ dưỡng, du lịch và nghiên cứu khoa học cho cộng đồng trong khu vực