Chương trình toán lớp Một là nền móng để học sinh học Toán ở các lớptrên và góp phần không nhỏ trong việc học các môn học khác.. Dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh: - Bước đầu
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
PHÒNG GD&ĐT THÀNH PHỐ THANH HÓA
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ KINH NGHIỆM DẠY GIẢI TOÁN CÓ LỜI VĂN CHO HỌC SINH LỚP 1
Trang 2MỤC LỤC
1.1 Lý do chọn đề tài: 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 1
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5.Những điểm mới của SKKN 2 2 Nội dung 2.1 Cơ sở lý luận: 3
2.2 Thực trạng việc dạy giải toán có lời văn ở trường Tiểu học Đông Thọ và ở lớp 1A3 3 2.3 Một số kinh nghiệm đã áp dụng trong thực tế giảng dạy 5
2.4 Hiệu quả 18
3 Kết luận và kiến nghị 19 3.1 Kết luận: 19
3.2 Kiến nghị 19
Tài liệu tham khảo
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lí do chọn đề tài.
Môn Toán lớp Một là một bộ phận của chương trình môn Toán ở tiểuhọc Chương trình toán lớp Một là nền móng để học sinh học Toán ở các lớptrên và góp phần không nhỏ trong việc học các môn học khác Vì vậy, mônToán lớp Một có vai trò vô cùng quan trọng trong chương trình học phổ thôngnói chung và trong chương trình lớp Một nói riêng
Dạy học môn Toán ở lớp Một nhằm giúp học sinh:
- Bước đầu có một số kiến thức cơ bản, đơn giản, thiết thực về phépđếm, về các số tự nhiên trong phạm vi 100, về độ dài và đo độ dài trong phạm
vi 20, về tuần lễ và ngày trong tuần, về giờ đúng trên mặt đồng hồ; về một số
hình học (Đoạn thẳng, điểm, hình vuông, hình tam giác, hình tròn); về bài toán
có lời văn Phép cộng, phép trừ và không nhớtrong phạm vi 100; đo và ướclượng độ dài đoạn thẳng Nhận biết hình vuông, hình tam giác, hình tròn,điểm, đoạn thẳng.Giải một số dạng bài toán đơn về cộng, trừ; bước đầu biếtbiểu đạt bằng lời, bằng kí hiệu một số nội dung đơn giản của bài học, rèn luyệncác kĩ năng thực hành đọc, viết, đếm, so sánh các số trong phạm vi 100 Trừutượng hoá, khái quát hoá trong phạm vi của những nội dung có nhiều quan hệvới đời sống thực tế của học sinh
Với rất nhiều phương pháp dạy học toán cho học sinh lớp Một, trong đódạy theo hướng phát huy tính tích cực cũng không còn là mới mẻ Nhưng đểvận dụng phương pháp này cùng với các kĩ thuật dạy học mang lại hiệu quảcho việc học toán của học sinh lớp Một cũng là việc vô cùng khó khăn vì độtuổi các em còn nhỏ, việc tự tìm tòi nắm kiến thức là việc làm mà các em mớiđược tiếp xúc lần đầu, đòi hỏi người giáo viên phải biết vận dụng sao cho phùhợp đối tượng, phù hợp với từng dạng bài học và phù hợp với từng hoạt độnghọc tập của học sinh
Là một người giáo viên trực tiếp dạy lớp Một đã nhiều năm Thực hiệnchương trình môn Toán học lớp Một, tôi rất trăn trở và suy nghĩ làm sao đểhọc sinh tiếp thu bài một cách tốt nhất, các em có thể làm thành thạo các phéptính cộng, trừ và áp dụng để giải toán có lời văn đúng Đối với học sinh lớpMột, giải toán có lời văn là vấn đề rất khó khăn, đòi hỏi người giáo viên phảitìm tòi, nghiên cứu các phương pháp, biện pháp phù hợp với lứa tuổi, với đối
tượng học sinh trong lớp, nên tôi đi sâu về nghiên cứu :“ Một số Biện pháp
dạy Giải toán có lời văn cho học sinh lớp Một áp dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực”.
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Dạy cho học sinh nhận biết về cấu tạo của bài toán có lời văn
- Phân tích - tóm tắt bài toán
- Giải toán đơn về thêm (bớt ) bằng một phép tính cộng ( trừ)
- Trình bày bài giải gồm câu lời giải, phép tính, đáp số
- Tìm lời giải phù hợp cho bài toán bằng nhiều cách khác nhau
- Rút ra được những bài học kinh nghiệm từ việc trải nghiệm thực tế
- Vận dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực nâng cao hiệu quảhọc giải toán có lời văn cho học sinh lớp Một
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
Trang 4- Các bài tập thuộc mạch kiến thức “Giải toán có lời văn” trong chương
trình Toán 1
- Học sinh Lớp 1A3 trường Tiểu học Đông Thọ.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận:Thu thập những thông tin lý luận về
thuận lợi và khó khăn của Giáo viên và học sinh trong dạy – học Giải toán cólời văn
- Phương pháp quan sát: Quan sát tinh thần, thái độ tham gia hoạt động
học tập, các kĩ năng hợp tác, chia sẻ, tự học … của học sinh khi học giải toán
có lời văn
- Phương pháp vấn đáp:Phỏng vấn đối tượng học sinh trong lớp về kiến
thức của bài học, những điều các em muốn biết trong giờ học toán Phát hiệnnhững kĩ năng đã có hoặc chưa có của học sinh về Giải toán có lời văn
- Phương pháp điều tra:
+ Trò chuyện, trao đổi với phụ huynh HS để biết thêm về khả năng tựhọc ở nhà của học sinh và phương pháp dạy giải toán của phụ huynh cho conmình
+ Tìm hiểu, tham khảo những kinh nghiệm của các giáo viên khác trongtrường mình
- Phương pháp thử nghiệm:
+ Thử áp dụng các giải pháp vào việc dạygiải toán có lời văn Hiệu quả
và những điều cần rút kinh nghiệm
1.5 Những điểm mới của sáng kiến kinh nghiệm:
- Áp dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực trong dạy Giải toán
có lời văn cho học sinh lớp Một
2 Nội dung
2.1.Cơ sở lý luận:
Trong các mạch kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu học thì mạch
kiến thức “Giải toán có lời văn” là mạch kiến thức khó khăn nhất đối với học
sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một Do đặc điểm tâm sinh lícủa học sinh lớp Một là khả năng tư duy trừu tượng hạn chế, sự tập trung chú ýchưa cao Mặt khác, vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu, khả năng tínhtoán… mới ở giai đoạn đầu tiên của đời người Các em chưa biết cách tự học,chưa học tập một cách tự giác và tích cực Nhiều em còn chưa hiểu rằng đi học
là gì, học để làm gì? Để giúp các em có mục tiêu học tập tích cực, người giáoviên cần phải có phương pháp và hình thức tổ chức dạy học phù hợp
Giải toán có lời văn tốt hay chưa tốt chính là phản ánh năng lực vận dụng kiếnthức của học sinh Học sinh hiểu về mặt nội dung kiến thức toán học, kết hợpvới kíến thức Tiếng Việt để vận dụng vào giải toán, giải quyết vấn đề trongtoán học Từ ngôn ngữ thông thường trong các đề toán đưa ra cho học sinhđọc, hiểu rồi biết hướng giải, lựa chọn phép tính kèm câu lời giải và đáp số củabài toán Giải toán có lời văn góp phần củng cố kiến thức môn Toán, rèn luyện
kỹ năng diễn đạt, tích cực góp phần phát triển tư duy cho học sinh tiểu học
Trang 5Với học sinh lớp Một, để học sinh đọc và hiểu bài toán có lời văn quảkhông dễ dàng Việc viết lên một câu lời giải phù hợp với câu hỏi của bài toáncũng là vấn đề không đơn giản Vậy làm thế nào để giáo viên nói, học sinhhiểu, học sinh thực hành, diễn đạt đúng yêu cầu của bài toán?
2.2 Thực trạng dạy - học Giải toán có lời văn tại trường Tiểu học Đông
Thọ, và lớp 1A3
2.2.1 Về phía giáo viên:
- Giáo viên dạy lớp Một trường Tiểu học Đông Thọ năm học này đa số làgiáo viên mới chuyển từ khối trên xuống, kinh nghiệm dạy giải toán có lời văn
ở lớp Một còn hạn chế, giáo viên gặp khó khăn trong việc hướng dẫn học sinhcách viết câu lời giải và lựa chọn phép tính
- Hiện nay giáo viên trong khối đang vận dụng phương pháp và kĩ thuậtdạy học tích cực vào dạy các môn học nói chung và trong dạy môn Toán nóiriêng bước đầu sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực nên còn bỡ ngỡ
2.2.2 Về phía học sinh:
Năm học 2017 – 2018, tôi được phân công dạy lớp 1A3 - Trường Tiểu họcĐông Thọ - thành phố Thanh Hóa Lớp có sĩ số là 40 học sinh Trong đó, sốhọc sinh nữ là 19, học sinh Nam là 22 em
Sau khi nhận lớp tôi thấy học sinh lớp mình khả năng diễn đạt, tư duycòn nhiều hạn chế, vốn từ lại ít ỏi, nghĩa của nhiều từ học sinh chưa hiểu Song
song với chương trình môn Tiếng Việt, khi các em học Bài toán có lời văn thì
môn Tiếng Việt đang học phần vần, có nghĩa là các em chưa học hoàn chỉnh
Phần Vần Tiếng Việt Tiếp xúc với Bài toán có lời văn khi các em còn chưa
đọc thông, viết thạo
Ở Tiểu học, đặc biệt dạy lớp Một, học sinh rất lúng túng khi nêu câu lờigiải, thậm chí nêu sai câu lời giải, viết sai phép tính, viết sai đáp số Những tiết
đầu tiên họcBải toán có lời văn chỉ có khoảng 15 % đến 17 % số học sinh biết
nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số Số còn lại là rất mơ hồ, các em chỉ
có thể làm miệng, làm theo mẫu Khi viết các em lại rất lúng túng, làm sai Kể
cả cách trình bày Bài giải, giáo viên cũng gặp không ít khó khăn khi hướngdẫn học sinh vì các em chưa hiểu thấu đáo, nắm một cách chắc chắn cách giảibài toán có lời văn
Khi áp dụng phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực đối với học sinhlớp Một thì vô cùng khó khăn Các em còn nhỏ, việc trao đổi nhóm, tự tìm tòikiến thức, giúp đỡ bạn trong nhóm là việc làm mới mẻ và khó khăn đối với đa
số học sinh trong lớp Bên cạnh đó để các em biết đặt câu hỏi và trả lời đúng
nội dung bài tập cũng cần có thời gian tương đối dài Trong khi đó phần Giải toán có lời văn lớp Một được học vào cuối năm học cũng là khó khăn cho giáo
viên và học sinh
Lứa tuổi này, mới đến trường phổ thông tiếp xúc với các bài học, các
em thường nhút nhát, kém tự tin, nói lí nhí, nói không rõ ràng Các emđang
Trang 6cần rất nhiều sự hỗ trợ từ giáo viên.Vì vậy việc tự giải đáp các những điều các
em cần biết và muốn biết hay việc học sinh tự điều hành nhóm làm việc cũnggặp không ít khó khăn
Các kĩ năng đọc, nói, viết, tính toán còn rất hạn chế Để đọc được một
đề toán thường thì giáo viên phải đọc hoặc gọi 1- 2 học sinh học tốt đọc trước,sau đó mới cho học sinh khác đọc lại Nếu để các em tự đọc thầm thì có emđọc xong đề toán mà vẫn chẳng hiểu bài toán cho biết gì và hỏi gì
2.2.3 Về phía phụ huynh:
- Đa số phụ huynh không biết cách hướng dẫn con Giải toán có lời văn.
Thường thì phụ huynh hướng dẫn contheo cách học cũ Vì vậy học sinh khônghiểu bài, có khi còn làm sai
Chẳng hạn: Để giải bài toán có liên quan đến tìm số đo độ dài (cm) thì phụ
huynh thường hướng dẫn con ghi phép tính là: 5cm + 4cm = 9cm, mà lẽ ra HSphải trình bày là: 5 + 4 = 9 (cm) Bố mẹ hướng dẫn con như vậy nên các conlàm thành thói quen, khi đến lớp giáo viên sửa lại rất khó
- Số ít phụ huynh không quan tâm đế việc hỗ trợ cho con, cho rằng lớpmột chưa cần thiết, để các con thoải mái
Một số sai sót của học sinh lớp tôi chủ nhiệm còn mắc phải, đó là:
- Đọc đề toán chưa rõ ràng Chưa biết phân tích đề tìm cách giải
- Không biết viết câu lời giải hoặc viết câu lời giải giống hệt câu hỏi củabài toán
- Viết câu lời giải không phù hợp với phép tính
- Ghi tên đơn vị tính không phù hợp hoặc chỉ ghi phép tính mà không cótên đơn vị
- Trình bày bài giải chưa đẹp, chưa khoa học
Kết quả khảo sát đầu năm
Khả năng học tập tích cực của học sinhtháng 10/2017:
Số
HS
KS
Tinh thần thái độ tham gia hoạt động
Năng lực tổ chức và thamgia hoạt động nhóm
HS chưa linhhoạt trong vaitrò làm nhómtrưởng
HS biết tổchức, quản
lí nhóm tốt
HS tự giácchia sẻ, giúp
đỡ bạn trongnhóm
HS viết đúng câu lời giải và phép tính
HS làm đúng
cả lời giải, phép
Trang 7- Do HS mới bắt đầu làm quen với dạng toán này
- Tư duy của HS lớp Một còn mang tính trực quan là chủ yếu
- Giai đoạn này các em chưa đọc thông viết thạo, có nhiều từ ngữ các
em chưa hiểu nghĩa hoặc chưa đọc được, các em đọc còn đánh vần nên khi đọcxong bài toán rồi nhưng các em không hiểu bài toán nói gì
- Tự tìm tòi cách giải khi chưa đọc thông, viết thạo thì rất khó Học sinhchưa tự tin trình bày ý kiến cá nhân
- Việc chia sẻ với bạn còn bỡ ngỡ và mới lạ
Trước thực trạng trên, tôi đã nghiên cứu, lựa chọn, áp dụng một số biệnpháp nhằm nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh trong lớpmình phụ trách
2.3 Một số kinh nghiệm dạy Giải toán có lời văn cho học sinh lớp Một áp dụng phương pháp và kĩ thuât dạy học tích cực.
Dạy Giải toán có lời văn cho Học sinh lớp Một được phát triển nâng cao dầntheo 2 giai đoạn
- Giai đoạn 1: Viết phép tính thích hợp ( theo nội dung tranh vẽ)
- Giai đoạn 2: Giải toán có lời văn ( dạng toán đơn có 1 phép cộng hoặc 1 phép trừ)
Trong giới hạn bài viết này, tôi nghiên cứu, trình bày một số kinh nghiệmdạy
giải toán có lời văn dưới dạng các mức độ trong giải toán có lời văn ở lớp Một
Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ
- Ví dụ 1: Bài tập1(trang 45): Yêu cầu HS nhìn tranh, nêu thành bài
toán: Có 2 con thỏ, thêm 1 con thỏ Hỏi có tất cả mấy con thỏ? ( hoặc: Có 1 con thỏ, thêm 2 con thỏ Hỏi có tất cả mấy con thỏ?) Sau đó GV giúp HS
chọn số phù hợp ghi vào ô trống
Trang 8+ =
+ =
Bài này đã cho sẵn dấu phép tính, chỉ cần học sinh điền được số phù hợp
rồi nêu được phép cộng tương ứng với bài toán đã nêu.2 + 1 = 3 hoặc 1 + 2
= 3
Tôi giúp học sinh lấy số con thỏ nhóm bên trái cộng số con thỏ nhómbên phải sau đólấy số con thỏ nhóm bên phải cộng với số con thỏ nhóm bêntrái
( Như vậy chủ yếu hướng dẫn học sinh dựa vào hình ảnh để viết được các số).
- Ví dụ 2: Bài 4 (trang 47): Viết phép tính thích hợp:
tranh nêu thành bài toán: Trên cành có 3 con chim đậu, 1 con chim bay tới Hỏi trên cành có tất cả bao nhiêu con chim?
Với bài này, học sinh phải viết được phép tính tương ứng bao gồm cả số
và dấu phép tính: 4 + 1 = 5
Tôi đã giúp học sinh nhận ra phép tính Cộng bằng cách nhìn vào hình vẽ
có 1 con chim bay vào( tức là thêm vào) Bài toán có chữ Thêm thì làm tính
Trang 9( những em tiếp thu bài nhanh) cách hỏi – đáp về tìm hiểu nội dung hình vẽ để
hình thành phép tính và bài toán như sau:
+ Cho 1 học sinh ( HS) hỏi, một HS trả lời theo cặp: Chẳng hạn:
HS1: Nhìn tranh vẽ bạn thấy có mấy con chim đậu trên cành?
HS2: Tôi thấy có 4 con đậu trên cành
HS1: Bạn thấy có mấy con chim đang bay tới?
HS2: Tôi thấy có 1 con chim đang bay tới
HS1: Tất cả có mấy con chim?
HS2: Tất cả có 5 con chim
HS1 Vậy bạn nêu được phép tính như thế nào?
HS2: 4 + 1 = 5 ( con chim)
HS1: Bạn nêu bài toán như thế nào để có phép tính đó?
HS2: Trên cành có 3 con chim đậu, 1 con chim bay tới Hỏi trên cành
có tất cả bao nhiêu con chim?
+ Giáo viên tổ chức cho nhiều cặp hỏi – đáp, giáo viên giúp đỡ những học sinh còn lúng túng Tổ chức thường xuyên liên tục tạo thói quen cho HS trong mỗi giờ học.
- Ví dụ 3: Bài 3 (trang 54): HS nhìn hình vẽ, nêu bài toán rồi lựa chọn
phép tính phù hợp điền vào ô trống
Bài này tôi yêu cầu học sinhthảo luận nhóm đôi, nhìn tranh nêu thành
bài toán: Có tất cả 3 con chim, 2 con chim bay đi Hỏi còn lại bao nhiêu con chim?
Học sinh phải viết được phép tính tương ứng: 3 - 2 = 1
Tôi đã giúp học sinh nhận ra phép tính Trừ bằng cách nhìn vào hình vẽ
có 2 con chim bay ra ( tức là bớt đi) Bài toán có chữ Bớthoặc Bay đithì làm
tính trừ
Học sinh lấy tất cả số con chim trừ đi số con chim đang bay đi để được
số
con chim còn lại.( Tức 3 – 2 = 1)
Sau bài này, giáo viên giúp học sinh phân biệt được bài toán làm bằngphép tính cộng và bài toán làm bàng phép tính trừ qua các dấu hiệu: Nội dung
Trang 10- Hỏi: Trong chuồng có mấy con vịt?
Trả lời: Trong chuồng có 7 con vịt
- Hỏi: Bên ngoài chuồng có mấy con vịt?
Trả lời: Bên ngoài chuồng có 3 con vịt?
- Hỏi: Có tất cả mấy con vịt?
Học sinh suy nghĩ nêu ý kiến của mình
Chẳng hạn: Con có cách làm khác: HS nêu bài toán khác: Bên ngoài chuồng
có 3 con vịt, trong chuồng có 7con vịt Hỏi có tất cả bao nhiêu con vịt ?
Sau đó học sinh nói hoặc viết nhanh ( trên bảng hoặc trên giấy nháp)
phép tính tương ứng: 3 + 7 = 10.Trả lời: Có tất cả số con vịt là: 10 con
Việc trao đổi trong nhóm tìm cách giải Bài toán có lời văn và tự tìm ra cách giải khác được thực hiện thường xuyên trong suốt quá trình học Giải
Trang 11toán có lời văn của học sinh lớp mình,tạo thành thói quen học theo nhóm,tự tìm tòi kiến thức dưới sự hỗ trợ của giáo viên.
b) Học sinhthảo luận nhóm nêu được bài toán: Trên cành có tất cả 10 quả cam, bớt đi 2 quả cam Hỏi trên cành còn bao nhiêu quả cam?
Sau đó hỏi - đáp lựa chọn phép tính phù hợp:10 - 2 = 8
Yêu cầu học sinh trả lời: Số quả cam còn lại trên cành là: 8 quả
Giáo viên cũng hướng dẫn học sinh nêu bài toán khác rồi nêu phép tính tươngứng
( tương tự như bài a).
Khi dạy dạng bài này cần hướng dẫn học sinh nêu được nhiều bài toánkhác nhau rồi viết được phép tính phù hợp với từng bài toán để tăng cường khảnăng diễn đạt, khả năng tư duy cho học sinh
Ngay từ bài : Phép cộng trong phạm vi 3 ( tuần thứ 7), giáo viên chủ
động cho học sinh làm quen với Giải toán có lời văn và tiếp tục nâng cao dần ởcác bài tiếp theo Nhờ vậy, đến tuần 23, chính thức HS được học Giải toán cólời văn thì phần lớn các em đã nắm bắt được trình tự các bước giải toán có lờivăn
Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh được làm quen với tóm tắt bằng
hình ảnh và bằng lời:
- Ví dụ : Bài 3 ( trang 87).
a) GV hướng dẫn học sinh nhình hình vẽ nêu được bài toán
Để học sinh nêu được bài toán phù hợp, tôi hướng dẫn học sinh đếm số
thuyền từng hàng, quan sát dấu ngoặc Giải thích dấu ngoặc thay cho từ: cả hai hàng hoặc có tất cả Dấu chấm hỏi thay cho chữ bao nhiêurồi yêu cầu học
sinh nêu bài toán: