1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Sáng kiến kinh nghiệm) một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp một qua môn tiếng việt

24 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 635,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với phạm vi nghiên cứu của sáng kiến, tôi chỉ tập trung vào việc đưa ra những kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc rèn kĩ năng nói cho học sinh lớp Một qua môn Tiếng Việ

Trang 1

1 MỞ ĐẦU:

1.1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng để biểu đạt tri thức ,tìnhcảm,là sự khác nhau cơ bản giữa con người với động vật Ngôn ngữ là gươngmặt thứ hai,là tấm gương phản chiếu tâm hồn Từ lâu đời nay, dân gian đã cócâu: “Lời nói gói vàng, “Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừalòng nhau” Trong giao tiếp hàng ngày, có người nói hoặc trình bày một vấn đềnào đó rất dễ hiểu, thuyết phục lòng người nhưng cũng có người nói, cũng trìnhbày về vấn đề đó nhưng người nghe rất khó hiểu, thậm chí không muốn nghe.Vậy nói làm sao để người khác dễ hiểu, đi vào lòng người, thu hút người nghe.Như vậy kĩ năng nói - giao tiếp là rất quan trọng với mỗi chúng ta

Kĩ năng nói - giao tiếp là phương thức, công cụ cơ bản nhất để tổ chứchoạt động dạy và học Nếu không có nói - giao tiếp thì không thể hướng hoạtđộng sư phạm của thầy và trò vào việc đạt được mục đích giáo dục Trong cácnhà trường phổ thông luôn coi trọng đến việc rèn các kĩ năng nghe, nói, đọc, viếtcho học sinh thông qua các môn học và các hoạt động giáo dục khác

Chính vì thế để giúp HS có được ý thức, kĩ năng nói rõ ràng, gãy gọn, đủ

ý và phù hợp trong mọi tình huống là rất cần thiết Bởi thông qua hoạt động nói,các em sẽ phát huy được vốn ngôn ngữ mẹ đẻ, nói đúng cấu trúc ngữ pháp, mởrộng thêm vốn từ, làm cơ sở cho việc tiếp thu tri thức sau này Cũng nhằm hìnhthành thói quen, ý thức giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phầnhình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho các em

Trong thực tế dạy học, tôi thấy HS ở tất cả các bậc học còn yếu về kĩ năngnói, nhiều em nói - diễn đạt trước tập thể còn đang lúng túng, không rõ ràng, lưuloát vấn đề, thiếu tự tin Đặc biệt là HS Tiểu học vốn từ của các em còn ít và nhất là

HS lớp Một, kĩ năng nói là một trong những kĩ năng mà các em còn yếu Các emchưa có thói quen rèn kĩ năng nói, còn nói theo người lớn, nói không đủ ý, ngônngữ diễn đạt chưa logic Nhiều học sinh nhút nhát không muốn trình bày, chia sẻvới các bạn những điều mình nghĩ, mình biết hoặc có nói thì cũng nói trống không,không rõ nghĩa

Vậy, dạy như thế nào, học như thế nào để nâng cao kĩ năng nói cho

HS lớp Một, góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho các

em Là một giáo viên nhiều năm trực tiếp giảng dạy lớp Một, tôi thấy mìnhcần phải có trách nhiệm tích cực nghiên cứu tìm ra những biện pháp hữuhiệu nhất góp phần vào việc nâng cao rèn kĩ năng nói cho HS

Với phạm vi nghiên cứu của sáng kiến, tôi chỉ tập trung vào việc đưa

ra những kinh nghiệm: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc rèn kĩ năng

nói cho học sinh lớp Một qua môn Tiếng Việt” trong trường Tiểu học.

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Trang 2

Tìm ra những biện pháp nhằm rèn kĩ năng nói cho HS lớp Một qua mônTiếng Việt và các môn học khác cũng như các hoạt động giáo dục khác để các

em có kĩ năng nói tốt, phù hợp trong mọi tình huống

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả việc rèn luyện kĩ năng nói của HSlớp Một qua môn Tiếng Việt trong trường Tiểu học

1.4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp trực quan, quan sát, giảng giải để giải quyết vấn đề

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp luyện tập – thực hành

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận của vấn đề.

2.1.1 Khái niệm về kĩ năng nói.

Kĩ năng nói là kĩ năng sử dụng lời nói trong giao tiếp, là kĩ năng để nóisao cho đạt được hiệu quả và mục đích của cuộc giao tiếp

2.1.2 Mục đích của việc rèn kĩ năng nói trong nhà trường

Rèn kĩ năng nói cho học sinh để khơi gợi, kích thích học sinh có hứng thúbộc lộ cảm xúc, ý nghĩ của mình nhằm phát huy kĩ năng nói của các em, giúp trẻsớm có tính cách mạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn trong quá trình giao tiếp, giúpcho các em có khả năng ứng xử và nhận xét sự vật, sự việc Từ đó giúp HS mởrộng vốn từ, nói thành câu, nói lưu loát, có kĩ năng giao tiếp tốt và đạt hiệu quảcao trong học tập

2.1.3 Nội dung luyện nói cho học sinh ở Tiểu học.

Chương trình môn Tiếng Việt ở Tiểu học thể hiện rất rõ việc rèn kĩ năngnói cho HS Ở các lớp có sự lặp lại và nâng cao trong từng kĩ năng nhỏ, thể hiệntính hệ thống trong nội dung bài học, giúp học sinh từng bước nâng cao kĩ năngnói của mình qua từng năm học

Nội dung rèn kĩ năng nói được thể hiện trong nhiều bài học của mônTiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 5

Ở giai đoạn học âm - vần, các em có thời gian dành cho luyện nói theochủ đề Sau đó, kĩ năng nói là mục tiêu rèn luyện của phân môn Tập đọc, Tậplàm văn, Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả,

Kĩ năng sử dụng nghi thức lời nói, HS được luyện nói trong các tìnhhuống giao tiếp thông thường như chào gặp mặt và đáp lời chào gặp mặt; cảm

ơn, xin lỗi và đáp lời cảm ơn, xin lỗi; nói lời mời, đề nghị, yêu cầu;

Kĩ năng đặt câu hỏi và trả lời câu hỏi, HS được rèn hỏi - đáp theo chủ đềcủa bài học, trả lời câu hỏi về bản thân, người thân; trả lời câu hỏi theo tranh; trảlời câu hỏi về bài đọc; trả lời câu hỏi về bài nghe;

Kĩ năng thuật việc, kể chuyện, HS được luyện kể từng đoạn câu chuyện

đã nghe kể (có hình ảnh minh hoạ), kể từng đoạn câu chuyện (có đọc, có tranh,

Trang 3

có gợi ý), kể toàn bộ câu chuyện (có đọc, có tranh, có gợi ý), kể chuyện phân vai(có tranh); tự tìm đọc truyện, tự tìm câu chuyện đã nghe kể rồi kể lại, kể lại câuchuyện, hoạt động đã tham gia hoặc đã chứng kiến.

Kĩ năng phát biểu, thuyết trình, HS được luyện giới thiệu về bản thân, vềngười thân, về đồ vật ; trao đổi, thảo luận về một chủ đề gần gũi, báo cáo vềhoạt động của tổ, trao đổi ý kiến theo chủ đề, giới thiệu địa phương;

Nội dung dạy học của SGK Tiếng Việt Tiểu học thể hiện quan điểm dạygiao tiếp, theo hướng tích hợp nội dung và kĩ năng Đây là điều kiện thuận lợigiúp HS tiểu học được rèn luyện và phát triển kĩ năng ngôn ngữ

2.1.4 Nội dung luyện nói cho học sinh lớp Một.

Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 1, nội dung dạy luyện nóicho học sinh được coi như một nội dung độc lập, giúp học sinh bước đầuhình thành và phát triển kĩ năng nói

+ Ở giai đoạn đầu, phần luyện nói theo tranh tương đối tự do, theochủ đề của tranh, không gò bó trong các âm và thanh vừa học Phần luyệnnói trong giai đoạn này là giúp các em làm quen với không khí học tậpmới, không rụt rè, nhút nhát, dám mạnh dạn nói cho các bạn nghe, nói theohướng dẫn của giáo viên trong môi trường giao tiếp mới - giao tiếp vănhóa, giao tiếp học đường

+ Ở giai đoạn tiếp theo phần dạy – học âm vần mới, phần luyện nóidựa vào chủ đề gợi ý trong tranh, nói về chủ đề trong sách giáo khoa, chú ýđến các từ ngữ có âm, vần mới học, từ đó mở rộng sử dụng cả những từ ngữ

có âm vần chưa học Chú ý nói theo định hướng bằng những câu hỏi củagiáo viên, học sinh có thể nói được những câu đơn giản, có nội dung gần gũivới cuộc sống xung quanh trẻ Phần luyện nói thực hiện với một thời lượngvừa phải (khoảng 5 phút)

Để thực hiện được yêu cầu trên ở chương trình mới môn Tiếng Việt 1 yêucầu giáo viên khi dạy phải đảm bảo mục tiêu hình thành và phát triển cho HSđầy đủ 4 kỹ năng Trong đó kỹ năng nói được luyện tập kết hợp trong các kỹnăng đọc, nghe, viết Điển hình là trong tiết 2 của một bài học vần hay tập đọc

có hẳn một hoạt động riêng cho phần luyện nói Việc rèn kỹ năng nói đã giúpcho học sinh có khả năng giao tiếp, biết ứng xử và nhận xét sự vật, sự việc trênnhững nhận thức riêng, bằng sự cảm nhận ngây ngô của con mắt trẻ thơ Vì thế,

để học sinh luyện nói lưu loát, đạt hiệu quả, giáo viên cần phải có cách tổ chứcdạy để khơi gợi, kích thích học sinh có hứng thú bộc lộ cảm xúc, ý nghĩ củamình nhằm phát huy kỹ năng nói của các em, nhằm giúp trẻ sớm có tính cáchmạnh dạn, cởi mở và tự tin hơn, nói lưu loát trong quá trình giao tiếp

Qua đây ta thấy nội dung rèn kĩ năng nói cho học sinh Tiểu học nói chung

và học sinh lớp Một nói riêng rất có hệ thống Song để các em có một kĩ năng nóitốt thì không đơn giản chút nào Nếu dạy – học đúng theo quan điểm nội dung,chương trình sách giáo khoa và linh hoạt đổi mới phương pháp, hình thức trongquá trình dạy học thì chắc chắn sẽ giúp các em có kĩ năng nói – giao tiếp tốt

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Trang 4

2.2.1 Thực trạng về kĩ năng nói của HS lớp 1A do tôi chủ nhiệm trong năm học 2018- 2019.

Ngay từ tháng 8 sau khi nhận lớp tuyển sinh ,tôi thấy học sinh lớp tôi cònrất nhiều em nói ngọng, một số em bố mẹ đưa đến trường vẫn còn khóc nhè, có

em cô giáo hỏi cứ đứng nhìn không trả lời, hoặc có nói nhưng rất nhỏ, nói lí nhítrong miệng Từ những thực trạng trên tôi đã tiến hành khảo sát về kĩ năng nóicủa các em thông qua hình thức phỏng vấn trực tiếp các em bằng các câu hỏiđơn giản, giáo viên hỏi - HS trả lời và kết quả như sau:

2.2.2 Nguyên nhân của tình trạng HS chưa có kĩ năng nói tốt

+ Về phía giáo viên:

- Bản thân tôi và giáo viên khối Một nhiều năm trong trường ,dưới sự chỉ đạocủa chuyên môn nhà trường đã rất quan tâm đến việc rèn kĩ năng nói cho học sinh Song giáo viên chưa có nhiều biện pháp khuyến khích học sinh luyện nói hiệu quả, chưa thực sự linh hoạt trong đổi mới phương pháp dạy học Chưa triệt

để trong sửa sai cho học sinh

Từ những hạn chế và nguyên nhân như trên, với mục tiêu rèn cho HS lớpMột có kĩ năng nói tốt góp phần hình thành và phát triển nhân cách toàn diệncho các em Bản thân là giáo viên dạy lớp Một, tôi đã có nhiều trăn trở vàđưa ra các biện pháp nhằm giúp học sinh lớp Một có kĩ năng nói tốt

2.3 C¸c gi¶i ph¸p đã sử dụng để giải quyết vấn đề:

Giải pháp 1: Phân loại đối tượng học sinh.

Để có biện pháp rèn kĩ năng nói cho HS phù hợp với từng đối tượng, từkhảo sát thực tế tôi đã tiến hành phân loại đối tượng học sinh

 Phân loại học sinh qua công tác tuyển sinh

Trang 5

Vì tâm lí HS lớp Một, ngày đầu tiên đến trường còn nhiều bỡ ngỡ, háohức nhưng cũng sợ sệt (vì môi trường mới) Để tạo không khí thoải mái cho các

em, đồng thời tuyên truyền đến phụ huynh về vai trò của giao tiếp, hiểu đượctầm quan trọng của việc rèn kĩ năng nói cho các con trong trường học Khi tuyểnsinh, ngoài việc tiếp nhận hồ sơ HS, để giúp các em hòa đồng nhanh với môitrường mới, mạnh dạn, tự tin và yêu ngôi trường mà mình chuẩn bị vào học,không còn cảm giác sợ sệt Ban tuyển sinh nhà trường đã chuẩn bị một chươngtrình giao lưu, trò chuyện với các em với những câu hỏi đơn giản, gần gũi, thân thiếtbằng hình thức giao lưu với từng em

+ Ví dụ:

- Tên con là gì? Hôm nay con được đi đâu?

- Ai lai con đến trường ? Con thấy trường có đẹp không?

- Nhà con có mấy người? Con hãy nói tên từng người trong gia đình?

- Ở Mầm non con được học với cô giáo nào? Cô có yêu con không?

- Con thích bài hát nào? Con hãy hát 1 bài cho cô và các bạn cùng nghe?

Ngoài ra, cũng trong buổi tuyển sinh đồng chí Hiệu trưởng đã dành 30phút nói chuyện tập trung, giao lưu với các em rất cởi mở, thân thiện, gần gũi và

có những em mạnh dạn nói chuyện tự nhiên trước tập thể

Mặt khác để giúp các em hiểu về trường, lớp, biết và thực hiện một số kĩnăng cần thiết, tôi cùng với giáo viên khối Một đã lần lượt dẫn các em đến cácphòng để giới thiệu về hoạt động của từng phòng, các thầy cô trong trường, đưacác em đến phòng vệ sinh hướng dẫn cách sử dụng,

Qua buổi tuyển sinh, nói chuyện, giao tiếp với HS, tôi đã phần nào nắmđược các đối tượng HS và qua giao tiếp các em đã bộc lộ hết khả năng của mình

Và đây cũng là cơ sở để nhà trường biên chế các lớp được đồng đều tất cả cácđối tượng HS

 Phân loại học sinh qua khảo sát của giáo viên chủ nhiệm

Ngay sau khi tuyển sinh, nhận lớp tôi đã giao tiếp với từng em và bướcđầu khảo sát được kĩ năng nói của HS Từ đó có kế hoạch dạy – học phù hợp,hiệu quả với từng đối tượng HS

Từ kết quả tuyển sinh và khảo sát thực tế, tôi chia học sinh thành cácnhóm sau:

+ Nhóm 1: Học sinh nói và diễn đạt tốt: 3/26 em

+ Nhóm 2: Học sinh nói ngọng, nói chưa lưu loát: 6/26em

+ Nhóm 3: Học sinh nói nhỏ, rụt rè, thiếu tự tin, không dám nói: 8/26 em+ Nhóm 4: Học sinh nói chưa thành câu: 9/26 em

Sau khi phân loại được đối tượng học sinh, tôi lập ngay kế hoạch kèm cặpgiúp đỡ và bồi dưỡng theo từng nhóm:

+ Nhóm 1: Đây là nhóm HS có khả năng nói – diễn đạt tốt Tôi thường chocác em nói và làm mẫu cho các bạn học tập theo Ngoài những bài luyện nóitheo yêu cầu cần đạt chuẩn, tôi luôn cho các em nói liên kết thành bài có mởrộng các câu hỏi Từ đó giúp các em phát huy khả năng của mình

Trang 6

+ Nhóm 2: Với đối tượng HS này (do sự phát triển chưa hoàn thiện) nên dẫn đếncác em còn nói ngọng Do đó tôi kết hợp cùng với phụ huynh sửa cách phát âm chocác em bằng cách gọi học sinh trả lời nhiều, mỗi lần trả lời tôi yêu cầu các em nhắc lạinhiều lần và phát âm theo cô Trường hợp học sinh nói chưa lưu loát, khi trả lời biếtnhưng diễn đạt khó, không thoát được ý, không trôi chảy Tôi thường xuyên gọi các

em trả lời và tập nói nhanh Cho HS nói tốt làm mẫu các em nói theo Khen động viênmỗi khi các em có sự tiến bộ

+ Nhóm 3: Đây là nhóm HS tôi quan tâm nhiều nhất Bởi nhóm này còn nhiều

em rụt rè, cô hỏi không trả lời, có những em bố mẹ đưa đến lớp còn khóc, khi bố

mẹ về còn chạy theo khóc đòi về Phụ huynh rất là lo lắng, không an tâm về con,mua quà để dỗ con, đứng ngoài lớp ngóng con, có khi phải đứng ngoài cổngtrường chờ hết buổi học để đón con Nhóm HS này thường là các em ngại giaotiếp Chính vì vậy tôi đã tìm hiểu nguyên nhân, kết hợp với gia đình để rèn các emthể hiện nói được tự tin, mạnh dạn Nếu không dám nói do các em sợ, nhút nhátthì tôi thường động viên, khen các em trước tạo không khí thoải mái để các emdám nói Nếu không dám nói do không hiểu vấn đề thì tôi thường gợi ý câu trả lời

dễ hiểu nhất hoặc gọi HS trả lời tốt nói trước làm mẫu, sau đó các em nhắc lại.Động viên khuyến khích để HS nói to, mạnh dạn, tự nhiên

+ Nhóm 4: Với đối tượng HS này, trong dạy học cũng như trong giao tiếp.Tôi thường xuyên gọi HS trả lời và sửa trực tiếp cho các em Tuyên dương HS khi

có tiến bộ

VD: Ở nhà em thường chơi trò chơi gì? HS thường trả lời luôn là trò chơilắp ghép,nhảy dây, đá cầu … Gv sửa ngay cho HS Khi nói con cần trả lời đầy đủcâu ( Ở nhà con thường chơi trò chơi lắp ghép,nhảy dây…)

Ngoài ra, với học sinh nhóm 2, 3, 4 tôi đánh giá các em theo hướng độngviên, khuyến khích Còn nhóm 1 tôi đánh giá theo sự sáng tạo

Bên cạnh đó tôi chú ý luyện kĩ năng nghe cho HS cả lớp bằng cách chohọc sinh cả lớp theo dõi, lắng nghe bạn nói (trả lời) để nhận xét và vỗ tay tuyêndương khi bạn trả lời đúng, nói đủ câu, nói to đủ nghe, nói lưu loát,

Thực hiện biện pháp này tôi thấy phát huy được tất cả các đối tượng HSmạnh dạn, tự tin trong giao tiếp cũng như trong học tập Đó là cơ sở để các em

có ý thức rèn kĩ năng nói tốt

Giải pháp 2: Xây dựng nội dung, chương trình dạy – học rèn kĩ năng

sống cho học sinh mới vào lớp Một nhằm phát triển kĩ năng nói cho các em.

Trẻ vào lớp Một là bước ngoặt đầu đời của các em Chuẩn bị tâm lí chocác em là vô cùng quan trọng Nếu trẻ không có tâm lí tốt thì sẽ ảnh hưởng vềquá trình học tập sau này

Mặt khác, như đã nêu trong phần thực trạng Trường tôi dạy là một trườngthuộc vùng nông thôn (gần 90%), các em hạn chế về giao tiếp, bất đồng về ngônngữ, chưa được làm quen nhiều với Tiếng Việt, HS đến trường giao tiếp bằngtiếng địa phương là chủ yếu

Với mục đích để giúp các em tự tin, vững vàng làm quen Tiếng Việt, vớimôi trường mới (môi trường học tập), hòa nhập, giao tiếp tốt khi vào lớp Một

Trang 7

Sau tuyển sinh lớp Một, theo hướng dẫn của Bộ giáo dục và Đào tạo, sự chỉđạo của chuyên môn nhà trường, sự đồng thuận của phụ huynh Tôi cùng với giáo

viên trong khối xây dựng và thống nhất nội dung, chương trình “Hành trang cho

trẻ chuẩn bị vào lớp Một” Nội dung đã được soạn và dạy trong 2 tuần

 Trích nội dung, chương trình “Hành trang cho trẻ vào lớp Một”

Thứ 2 22/8 Kĩ năng giới thiệu, làm quen với trường học

Thứ 3 23/8 Kĩ năng chào hỏi, giới thiệu bản thân

Thứ 4 24/8 Kĩ năng ngồi học đúng tư thế Kĩ năng giữ trật tự trong lớp học Thứ 6 26/8 Kĩ năng nói lời cảm ơn Kĩ năng nói lời xin lỗi

 Thảo luận về quy trình dạy một hoạt động rèn kĩ năng sống cho học sinh.

Sau khi đã thống nhất được nội dung, chương trình Chuyên môn cùng vớigiáo viên khối Một chúng tôi đã thảo luận xây dựng quy trình dạy – học rèn các

kĩ năng sống cho học sinh với hình thức “Vừa vui- Vừa học” là chính để các emlàm quen dần với môi trường học tập, tạo cho các em niềm tin trong cuộc sống.Chính vì vậy, quy trình dạy học không cứng nhắc, chúng tôi đã vận dụng linhhoạt, sáng tạo để phù hợp với HS

Ví dụ:

+ Bước 1: Tổ chức cho HS xem video hoặc kể chuyện có nội dung về kĩ năngcần học

+ Bước 2: Tổ chức thảo luận về nội dung kĩ năng cần học

+ Bước 3: Tổ chức, hướng dẫn tìm hiểu và rút bài học từ các kĩ năng

+ Bước 4: Hướng dẫn cách thực hiện các kĩ năng

+ Bước 5: Tổ chức cho học sinh thực hành các kĩ năng

+ Bước 6: Tổng kết – đánh giá

Để rèn các kĩ năng được hiệu quả, tôi đã sưu tầm những câu chuyện mang

tính giáo dục từ chương trình “Quà tặng cuộc sống” trên truyền hình VTV3,

những câu chuyện sinh hoạt thực tế hàng ngày của các em, tổ chức cho các emxem video Sau đó tổ chức cho các em tìm hiểu rút ra bài học, liên hệ bản thân,thực hành các kĩ năng Mỗi lần học sinh nói tôi thường chú ý sửa cách nói chocác em (nếu nói chưa đúng với nội dung câu chuyện và nói chưa đủ ý)

Một số kĩ năng tự phục vụ, tôi thường tổ chức cho các em thực hành ngaytại lớp, tại trường Sau đó tôi yêu cầu học sinh nêu lại các bước làm và vận dụngtốt các kĩ năng cho bản thân

Trang 8

Với giải pháp này tôi thường cho nhiều học sinh được thực hành, nhiềuhọc sinh được nói, lưu ý đến những em còn nhút nhát, động viên các em để các

em tham gia các hoạt động được tự nhiên

Minh họa một hoạt động khi dạy – học rèn các kĩ năng sống cho học sinh

KĨ NĂNG LỊCH SỰ TRONG GIAO TIẾP (KHI Ở TRƯỜNG)

Bước 1: Cho HS xem video clip về lễ phép khi ở trường (Trích từ “Quà tặng cuộc sống”)

Bước 2: Tổ chức cho học sinh tìm hiểu về nội dung video lễ phép khi ở trường

- Đưa ra các câu hỏi gợi ý

? Trong câu chuyện, Hoa và An đi trong sân trường đã gặp ai? (Hoa và An đi trong sân trường đã gặp thầy Hiệu trưởng)

? Khi gặp thầy, bạn An đã làm gì? (Khi gặp thầy, bạn đứng lại khoanh tay chào thầy)

? Thầy đã nói gì với bạn? (Thầy khen bạn ngoan)

? Bạn An đã nói gì với Hoa? (Khi gặp thầy cô giáo phải đứng lại lễ phép chào thầy cô)

? Khi vào lớp, cô giáo bước vào lớp, cả lớp đã làm gì? (Cả lớp đứng dậy chào cô giáo)

? Các bạn ngồi học như thế nào? (Các bạn ngồi học nghiêm túc, đúng tư thế)

? Khi cô giáo ra về cả lớp làm gì? (Cả lớp đứng dậy chào cô)

- Mỗi lần HS trả lời, tôi lưu ý sửa sai cho HS (nội dung, diễn đạt câu), Hướng dẫn học sinh trả lời đủ câu, nói to, rõ ràng

Bước 3: Tổ chức cho HS rút ra bài học

- Cho HS thảo luận nhóm đôi

? Để luôn là em bé ngoan, lịch sự, lễ phép khi ở trường con cần phải làm gì?

- Theo dõi hướng dẫn HS thảo luận trong nhóm GV đi đến từng nhóm giúp đỡ những em nói nhỏ, nhút nhát hoạt động tích cực hơn

- Các nhóm trình bày trước lớp

- HS theo dõi nhận xét, tuyên dương các bạn

+ T chốt và tuyên dương những học sinh trả lời tốt, sửa chữa, uốn nắn cho những em còn nói nhỏ, nói chưa đúng, chưa đủ câu

Bước 4: Liên hệ

- Gợi ý:

? Khi đi trên sân trường hoặc ngoài đường, gặp thầy cô giáo con làm gì?

? Khi ngồi học con ngồi như thế nào?

- Kết luận: Khi gặp thầy cô giáo phải đứng lại lễ phép chào, thầy cô bước vào lớp phải lễ phép chào, trong giờ học phải ngồi đúng tư thế, không chụm đầu nói chuyện, đang đi nhanh nếu gặp thầy cô phải đi chậm lại và chào hỏi

Bước 5: Tổ chức cho HS thực hành nói lời chào thầy cô

TH1: Khi gặp thầy cô trên sân trường

TH2: Khi thầy cô vào lớp học và khi tan học

- HD cho HS thực hành chào thầy cô giáo trong nhóm

- HS thực hành theo nhóm đôi, nhóm ba

- Nói trước lớp (CN)

- Chỉnh sửa cách nói cho học sinh

Bước 6: Tổng kết – đánh giá

Trang 9

- Nhận xét, tuyên dương HS nói tốt, diễn đạt đầy đủ ý, nhắc nhở, động viên HS nói chưa tốt.

Thảo luận về phương pháp dạy- học rèn kĩ năng sống cho học sinh

Khi tổ chức, hướng dẫn rèn các kĩ năng sống cho học sinh tôi đã vận dụnglinh hoạt các phương pháp: Trực quan, quan sát, luyện tập thực hành - vận dụng

+ Với cách tổ chức như trên chỉ trong 2 tuần học làm quen với môi trường

học tập, với chương trình“Hành trang cho trẻ chuẩn bị vào lớp Một”, với các kĩ

năng sống đã giúp cho các em được luyện tập nhiều các kĩ năng, tự tin, mạnhdạn, trò chuyện, làm quen, gần gũi với bạn bè, không còn cảm giác sợ sệt và đặcbiệt là các em thích được đến trường Với những em nhút nhát, cô gọi không trảlời, mới tiếp xúc lần đầu cứ nghĩ các em bị bệnh tự kỉ nhưng nay các em cónhiều tiến bộ, hòa nhập với các bạn nhanh, mạnh dạn, đứng lên nói to, rõ ràng

Giải pháp 3 Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng dạy – học cho mỗi bài luyện nói, kể

chuyên trong môn Tiếng Việt nhằm phát triển ngôn ngữ nói của học sinh

Đồ dùng dạy học là phương tiện không thể thiếu trong tất cả các môn học,nhất là ở Tiểu học hình thành kiến thức cho học sinh bằng đồ dùng trực quan các

em sẽ rấtthích, nhanh hiểu bài và ghi nhớ lâu Đồ dùng trực quan sinh động sẽgiúp học sinh phát triển về ngôn ngữ, mở rộng về vốn từ, diễn đạt câu đủ ý, câunói giàu hình ảnh

Ở phần luyện nói trong môn Tiếng Việt nếu chỉ dựa vào tranh, ảnh trongsách giáo khoa thì chưa đủ để HS khai thác nội dung và bài nói của học sinh sẽ rấtđơn điệu về ngôn ngữ Vì một số tranh ảnh trong SGK chỉ là tranh vẽ, không rõnét, sơ sài, nghèo nàn về hình ảnh, hình nhỏ khó quan sát, màu sắc lại khôngđẹp Bởi vậy, ngoài tranh ảnh có trong SGK Tôi còn tự mình thiết kế và sưutầm trên mạng những tranh ảnh đẹp, sinh động thay cho các tranh ảnh chưa rõnét trong sách để phục vụ cho việc rèn kĩ năng nói cho học sinh.(Trình chiếu

Power Point cho học sinh xe

Ví dụ:  Một số tranh ảnh trong SGK chưa rõ nét.

Chủ đề: Ai chịu khó Chủ đề: Tàu hỏa, tàu thủy, ô tô, máy bay

Chủ đề: Rừng, thung lũng, suối, đèo

Trang 10

mở rộng vốn từ, bài nói giàu hình ảnh, hấp dẫn

Ví dụ : Phần luyện nói: Hỏi - đáp về các loài cây (TV lớp 1- Tập 2 – trang 122)Tôi thấy tranh trong SGK của bài này là tranh vẽ rất mờ, khó quan sát, màusắc lại không đẹp, mà vẽ toàn cây ăn quả Do đó không khơi gợi được trí tưởngtượng của các em Trường tôi dạy thuộc vùng nông thôn, có nhiều loại cây nên rấtthuận cho tôi chụp lại phong phú các loại cây (cây ăn quả, cây cho bóng mát, câyhoa, cây lấy gỗ, cây cảnh)

Chủ đề: Ai chịu khó Chủ đề: Tàu hỏa, tàu thủy, ô tô, máy bay

Chủ đề: Các loài hoa Chủ đề: Rừng, thung lũng, suối, đèo Gọi tên các loài hoa

Trang 11

Với bài này tôi tổ chức cho các em luyện nói theo hình thức trò chơi với tên

gọi: “ Tôi tên là gì?” Ở mỗi lần chơi tôi chú ý sửa cách nói cho các em.

+ Cách chơi: Chia lớp thành các nhóm đôi, các em thảo luận trong nhóm hỏi –đáp về tên cây, đặc điểm, hình dáng, ích lợi của cây (có trong ảnh chụp) hoặc cây không

có trong ảnh Sau đó chơi hỏi – đáp trước lớp, GV là người xuất hiện cây, từng đôi nhìncây để hỏi - đáp

+ Với đồ dùng, tranh, ảnh tự làm, sưu tầm không mất nhiều tiền mà sử dụnglại tiện lợi, mang lại hiệu quả cao

Giải pháp 4 Vận dụng linh hoạt các phương pháp, hình thức tổ chức dạy

học tích cực trong dạy học môn Tiếng Việt lớp Một

Một tiết dạy thành công được đánh giá từ kết quả học tập tích cực của họcsinh Để giúp học sinh học tập tốt trong mỗi tiết học, đòi hỏi người giáo viên phải có

sự nghiên cứu, sáng tạo, linh hoạt vận dụng các hình thức dạy học Làm sao để kiếnthức bài dạy đến với các em một cách nhẹ nhàng, hiệu quả nhất

Nắm được nguyên tắc đó tôi đã linh hoạt tổ chức cho HS lớp tôi luyện nóidưới nhiều hình thức:

Hình thức luyện nói cá nhân, nhóm, lớp.

Trong một tiết học tôi thường xuyên thay đổi các hình thức dạy học, tổchức cho học sinh học tập dưới hình thức hoạt động cá nhân, nhóm, lớp để cácthành viên trong tổ, nhóm có dịp thể hiện năng lực cá nhân trước bạn bè, thầy cô

Ví dụ: Chủ đề “Mai sau khôn lớn” – Phần luyện nói của bài 46: ôn - ơn

Trang 12

Với bài này tôi vận dụng và thực hiện các hình thức sau:

HĐ1: Quan sát tranh (CN)

- Nhiều cá nhân nêu (Tranh vẽ em bé đang mơ ước trở thành chiến sĩ biênphòng)

HĐ2: Nói về mơ ước của mình (Nhóm 4)

- Nói cho nhau nghe về ước mơ của mình

HĐ 3: Trình bày kết quả (CN, Nhóm 2)

Khi trình bày tôi hướng dẫn các em trình bày theo CN hoặc hỏi - đáp theo cặp

về ước mơ của mình và vì sao lại chọn nghề đó

HĐ 4: Liên hệ (CN)

? Muốn thành người như mơ ước con phải làm gì?

Thay đổi hình thức nói với mục đích để tất cả các em được tự tin thể hiện ý kiến trước đám đông Với phương pháp này tôi không gọi một em mà luôn thayđổi được nhiều em trình bày, từ đó phát huy khả năng giao tiếp của các em

*Tổ chức thi đố vui trong giờ học Tiếng Việt

Đố vui cũng là một hình thức học tập mà HS rất hào hứng tham gia Tronggiờ học Tiếng Việt, ngoài việc tổ chức theo hình thức cá nhân, nhóm, tôi còn tổchức cho các em thi đố vui, giúp các em thay đổi không khí học tập, nói to đủ câu

Để giới thiệu một số âm, vần thay cho việc yêu cầu HS quan sát tranh, tạohứng thú trong học tập cho các em Tôi có sưu tầm một số câu đố vui để giớithiệu, dẫn HS vào bài học một cách nhẹ nhàng:

Ví dụ: Đố con là chữ gì?

- O tròn như quả trứng gà

- Đội thêm chiếc mũ thì ra chữ gì?

(Là chữ ô- Dạy bài o- ô)

Đố các con đây là con gì?

- Mắt màu hồng, thích rau xanh

Đôi tai dài thượt, chẳng nhanh hơn Rùa

(Là con Thỏ - Dạy bài 15: t, th, tổ, thỏ)

- Con gì mới kì lạ thay

Dán vào thư được chuyển ngay tức thì ?

( Là con tem –dạy bài em-êm)

- Con gì đôi cánh mỏng tang

Bay cao ,bay thấp báo rằng trời mưa ?

( Là con chuồn chuồn – dạy bài uôn – ươn)

Với hình thức này, tôi thấy học sinh lớp tôi rất hào hứng học tập khôngnhững khắc sâu được kiến thức mà còn giúp cho các em có phản ứng nhanh

Tổ chức trò chơi trong giờ luyện nói trong môn Tiếng Việt

HS lớp Một vừa học vừa chơi là biện pháp tốt nhất giúp các em nhanh nhớ bài

và khắc sâu được kiến thức Chính vì thế, tôi đã thiết kế các trò chơi và đưa các “Tròchơi” vào các tiết học trong phần luyện nói của môn Tiếng Việt Chơi nhẹ nhàng, hỗtrợ cho nội dung bài học khi thấy cần thiết và phù hợp Nhằm tạo không khí vui vẻ,

Ngày đăng: 19/06/2021, 20:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w