Bảng 2.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của các nhân tố đến tỷ giá hối đoái thực Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của Amir Kia Bảng 3.1: Tổng hợp cách đo lườ
Trang 1VY TRẦN DUY
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI THỰC TRONG NỀN KINH TẾ
NHỎ MỞ - BẰNG CHỨNG TỪ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2VY TRẦN DUY
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỶ GIÁ HỐI
ĐOÁI THỰC TRONG NỀN KINH TẾ
NHỎ MỞ - BẰNG CHỨNG TỪ VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS LÊ THỊ LANH
Trang 3Em xin có lời cam đoan danh dự rằng đây là công trình nghiên cứu của em với sự giúp
đỡ tận tình của giảng viên hướng dẫn PGS.TS Lê Thị Lanh Số liệu thống kê là trung thực và hợp lí Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nào tại Việt Nam đến thời điểm hiện tại
TP.HCM, ngày 20 tháng 01 năm 2015
Tác giả
Vy Trần Duy
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2
1.1 Vấn đề nghiên cứu 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
1.4 Bố cục bài nghiên cứu 3
CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5
2.1 Khung lý thuyết 5
2.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 5
2.1.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa 5
2.1.2.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương 5
2.1.2.2 Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER–Nominal Efective Exchange rate) 5
2.1.3 Tỷ giá hối đoái thực 6
2.1.3.1 Tỷ giá hối đoái thực song phương (RER) 6
2.1.3.2 Tỷ giá hối đoái thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER) 8
2.2 Các nghiên cứu trước đây về các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực
11
2.2.1 Mô hình các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực 13
2.2.2 Các kết quả tác động của các nhân tố đến tỷ giá hối đoái thực của các nghiên cứu trước đây 17
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24
Trang 53.2.2 Đo lường các biến tác động đến tỷ giá hối đoái thực 35
3.3 Phương pháp kỹ thuật: 40
3.3.1 Bước 1: Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 40
3.3.2 Bước 2: Xác định độ trễ tối ưu 42
3.3.3 Bước 3: Kiểm định tính đồng liên kết giữa các biến 43
3.3.4 Bước 4: Xác định độ trễ cho từng biến 45
3.3.5 Bước 5: Ước lượng mô hình ARDL trong dài hạn 46
3.3.6 Bước 6: Ước lượng kết quả trong ngắn hạn bằng mô hình ARDL 46
3.3.7 Bước 7: Kiểm định chẩn đoán của mô hình 47
CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53
4.1 Kiểm định tính dừng của chuỗi dữ liệu 53
4.2 Lựa chọn độ trễ tối ưu 54
4.3 Kết quả kiểm định mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn 55
4.4 Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu cho từng biến 56
4.5 Kết quả kiểm định mối quan hệ đồng liên kết trong dài hạn 57
4.6 Kết quả ước lượng các hệ số trong ngắn hạn bằng mô hình ECM 66
4.7 Kiểm định chẩn đoán 68
4.7.1 Kiểm định tự tương quan 69
4.7.2 Kiểm định phương sai thay đổi 70
4.7.3 Kiểm định bỏ sót biến giải thích 70
4.7.4 Kiểm định phân phối chuẩn của phần dư 71
4.7.5 Kiểm định tính ổn định của mô hình của hệ số trong mô hình 72
4.8 Hàm phản ứng đẩy 73
4.9 Phân tích phân rã phương sai của biến RER 78
Trang 7ARDL : Mô hình tự hồi quy phân phối trễ
CUSUMSQ : Đồ thị Cusum Q
DEBTGDP : Logarit Nợ Chính phủ trên GDP
Trang 9Bảng 2.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của các nhân tố đến
tỷ giá hối đoái thực
Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của Amir Kia
Bảng 3.1: Tổng hợp cách đo lường biến và nguồn dữ liệu
Bảng 3.2 Giá trị tra bảng Pesaran
Bảng 4.1: Tổng hợp Kết quả kiểm định tính dừng bằng nghiệm đơn vị ADF
Bảng 4.2: Kết quả xác định độ trễ tối ưu thông qua mô hình VAR
Bảng 4.3 : Kết quả kiểm định Wald Test
Bảng 4.4 : Kết quả xác định độ trễ cho từng biến
Bảng 4.5: Kết quả chạy mô hình dài hạn sau khi loại bỏ các biến không có ý nghĩa Bảng 4.6: Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình ECM ngắn hạn sau khi loại bỏ biến
không có ý nghĩa
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định tự tương quan bậc 1
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tự tương quan bậc 2
Bảng 4.9: Kết quả kiểm định phương sai thay đổi Heteroskedasticity Test White
Bảng 4.10: Kết quả kiểm định sự phù hợp của dạng hàm
Bảng 4.11: Kết quả phân rã phương sai
Bảng 4.12: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến Lq
Bảng 4.13: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến i
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến M2
Bảng 4.15: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến lgov
Bảng 4.16: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến lcom
Bảng 4.17: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến fdgdp
Bảng 4.18: Kết quả kiểm định nghiệm đơn vị đối với biến defgdp
Trang 10Bảng 4.22: Kết quả ước lượng mối quan hệ dài hạn bằng phương pháp OLS Bảng 4.23: Kết quả hồi quy các hệ số trong ngắn hàng bằng mô hình ECM
Trang 11Hình 4.1: Đồ thị lạm phát của Việt Nam và Mỹ từ Quý 1/1995 - Qúy 1/2014
Hình 4.2: Thâm hụt cán cân thương mại của Việt Nam từ 1995-2014
Hình 4.3: Đồ thị tỷ giá hối đoái thực song phương giữa VND và USD từ 1995-2013 Hình 4.4 : Lạm phát Việt Nam từ 1995-2014
Hình 4.5: Cơ cấu hàng nhập khẩu của Việt Nam giai đoạn 1999-2010
Hình 4.6: Mối quan hệ giữa nhập khẩu và thu nhập thực
Hình 4.7: Chi tiêu Chính Phủ của Việt Nam giai đoạn 2003-2013
Hình 4.8: Kết quả kiểm định phân phối chuẩn
Hình 4.9: Kết quả kiểm định CUSUM
Hình 4.10: Kết quả kiểm định CUSUMSQ
Hình 4.11: Phân tích hàm phản ứng đẩy
Trang 12TÓM TẮT
Luận văn này dựa trên nghiên cứu “Determinants of the real exchange rate in a small open economy: Evidence from Canada” của tác giả Amir Kia năm 2013, ông đã phát triển một mô hình về các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực, trong dài hạn tỷ giá hối đoái thực là hàm số của cung tiền thực, lãi suất trong nước và nước ngoài, GDP thực, chi tiêu chính phủ thực, thâm hụt trên GDP, dư nợ trên GDP trong nước, dư nợ trên GDP nước ngoài, nợ tài trợ bên ngoài trên GDP trong nước và nợ tài trợ bên ngoài trên GDP nước ngoài và giá cả hàng hóa Với kết quả nghiên cứu đó, tác giả sẽ kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố quyết định tỷ giá hối đoái thực dựa trên chuỗi dữ liệu của Việt Nam và xem xét hướng tác động của các nhân tố đến tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn và dài hạn Mô hình ADRL-Bound Test được
sử dụng để kiểm định mối quan hệ dài hạn giữa các biến dựa trên dữ liệu của Việt Nam (giai đoạn Quý 1/1995 – Quý 1/2014) Kết quả kiểm định đã chỉ ra rằng có mối quan
hệ đồng liên kết trong dài hạn giữa các nghĩa, trong đó sự gia tăng cung tiền, chi tiêu chính phủ, giá cả, thu nhập thực, thâm hụt ngân sách trên GDP trong dài hạn có tác động ngược chiều đến giá hối đoái thực Trong số các ngoại tác tác động, chỉ có nợ nước ngoài của chỉnh phủ Mỹ là có tác động cùng chiều đến tỷ giá hối đoái thực Tuy nhiên, trong ngắn hạn không có bất kỳ biến nào có ảnh hưởng mang ý nghĩa thống kê đến sự tăng trưởng của tỷ giá hối đoái thực ngoại trừ giá cả, thu nhập thực và thâm hụt
trên GDP
Từ khóa: Mô hình ARDL-Bound Test, Các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực
Trang 13CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
Tỷ giá hối đoái ngày càng có có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế của toàn thế giới Cũng giống như giá cả, tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng tới những biến động của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng Nó có thể làm thay đổi vị thế kinh tế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế Từ đó cho thấy sự biến động tỷ giá hối đoái luôn đóng một vai trò then chốt trong việc quyết định đến tình trạng ổn định kinh tế mỗi quốc gia, nó không những tác động đến sự cân bằng trong cán cân thanh toán của một nước, mà còn có thể kích thích hay hạn chế hoạt động xuất khẩu
Để tỷ giá hối đoái thực là công cụ hữu ích cho việc quản lý và điều hành kinh tế vĩ
mô, cần phải biết các nhân tố nào tác động đến tỷ giá thực, và tác động của các nhân tố này đến tỷ giá thực như thế nào
Lý do chọn đề tài:
Dựa trên nghiên cứu “Determinants of the real exchange rate in a small open
economy: Evidence from Canada” của tác giả Amir Kia năm 2013 Ông đã phát triển
một mô hình tiền tệ về các yếu tố xác định tỷ giá hối đoái thực, trong đó bao gồm các biến tài khóa và biến tiền tệ trong cơ chế xác định tỷ giá thực bao gồm: cung tiền, chỉ
số giá, thu nhập thực, lãi suất trong nước, chi tiêu chỉnh phủ, thâm hụt ngân sách, nợ nước ngoài trên GDP, nợ Chính phủ trên GDP Trong bài tác giả cũng đã đưa các biến khủng hoảng kinh tế, tham gia tổ chức thương mại thế giới là các biến giả trong ngắn hạn
Theo hiểu biết của tác giả, chưa có một nghiên cứu hoàn chỉnh về toàn bộ các nhân
tố tác động đến tỷ giá thực tại Việt Nam Nghiên cứu của Amir Kia (2013) đã đóng góp một mô hình có thể nói là hoàn chỉnh trong việc xác nhận các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực, đặc biệt là ở các nước đang phát triển như Việt Nam Biến động tỷ
Trang 14giá tại các nước đang phát triển, đang trong quá trình hội nhập là rất lớn, và quản lý tỷ giá luôn là một bài toán quản lý khó cho Ngân hàng Trung Ương cũng như Chính phủ của các nước Do đó, việc xác định mối quan hệ giữa các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái là rất quan trọng
Bên cạnh đó, luận văn cũng đưa vào mô hình các biến đại diện cho cuộc khủng hoảng tài chính 1997, khủng hoảng kinh tế 2008 và việc gia nhập tổ chức thương mại quốc tế WTO của Việt Nam năm 2007 như là các động lực ngắn hạn lên tỷ giá hối đoái
thực
Đóng góp trên trên phần nào nói lên được lý do vì sao tác giả chọn đề tài này
Luận văn sẽ xác định nhân tố nào tác động đến tỷ giá hối đoái thực và sau đó sẽ kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố tác động trong ngắn hạn và dài hạn
Để đạt được mục tiên nêu trên, luận văn sẽ phải trả lời các câu hỏi sau:
- Có bao nhiêu nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn và các nhân tố này tác động đến tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn như thế nào?
- Có bao nhiêu nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn và các nhân tố nào tác động đến tỷ giá hối đoái thực trong ngắn hạn như thế nào?
Luận văn sử dụng phương pháp phân tích định lượng, bằng cách sử dụng phương pháp phân phối trễ tự hồi quy (ARDL) Phương pháp này nhằm mục đích kiểm định mối quan hệ giữa các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực và tỷ giá hối đoái thực cả trong ngắn hạn và dài hạn
Trang 15Bài nghiên cứu gồm năm chương:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Khung lý thuyết và các mô hình thực tế
Luận văn sẽ trình bày khung lý thuyết và các công trình nghiên cứu đã có trước đây
Chương 3: Phương pháp kỹ thuật
Dựa trên cơ sở các biến đã được xác định theo mô hình của Amir Kia (2013), luận văn sẽ tiến hành thu thập dữ liệu cho nghiên cứu tại Việt Nam, mô tả cách thức lấy dữ liệu và cách tính toán các số liệu đưa vào mô hình Do hạn chế trong việc công bố thông tin về các dữ liệu tại Việt Nam nên luận văn không thể thu thập được chuỗi dữ liệu về nợ công của Việt Nam trong giai đoạn từ Quý 1/1995 đến Q1/2014 Các biến khủng hoảng tài chính 1997, khủng hoảng kinh tế năm 2008 và cột mốc khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 là các biến giả đại diện cho các động lực ngắn hạn của mô hình
Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu
Phần này, luận văn sẽ tập trung đi vào trình bày kết quả kiểm định mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và các yếu tố xác định tỷ giá hối đoái thực tại Việt Nam dựa trên mô hình ARDL-Bound Test Kết quả cho thấy có mối quan hệ trong dài hạn giữa
tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố tác động
Phần tiếp theo luận văn sẽ trình bày kết quả chạy hồi quy mô hình ECM cho mối quan hệ trong ngắn hạn của tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố tác động Kết hợp với các phân tích hàm phản ứng đẩy IRF và phân tích phân rã phương sai để xem các nhân
tố thực sự tác động trong ngắn hạn đến RER
Chương 5: Kết luận
Cuối cùng là kết luận về các kết quả kiểm định xem có trả lời được câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra Đồng thời cũng trình bày về những hạn chế và hướng nghiên cứu sau này cho luận văn
Trang 16CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái giữa hai nước là mức giá tại đó đồng tiền của một nước có thể biểu hiện qua đồng tiền của nước khác
Tỷ giá hối đoái là tương quan sức mua giữa đồng nội tệ và đồng ngoại tệ Tỷ giá hối đoái một mặt nó phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện quan hệ cung cầu ngoại hối
2.1.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa là tỷ giá được sử dụng hàng ngày trong giao dịch trên thị trường ngoại hối, nó chính là giá của một đồng tiền được biểu thị thông qua đồng tiền khác mà chưa đề cập đến tương quan sức mua hàng hóa và dịch vụ giữa chúng
2.1.2.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương
Là giá cả của một đồng tiền so với một đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước
2.1.2.2 Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER–Nominal Efective Exchange rate)
NEER nó là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một số loại ngoại tệ đặc trưng (rổ tiền tệ) và tính tỷ giá trung bình các tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền có tham gia vào rổ tiền tệ với tỷ trọng tỷ giá tương ứng
Tỷ trọng của tỷ giá song phương có thể lấy tỷ trọng thương mại của nước có đồng nội tệ đem tính NEER so các nước có đồng tiền trong rổ được chọn
Gọi t = 0 là kỳ gốc, (t = 0,1,2, …i) là các thời kỳ nghiên cứu
Trang 17E01, E02…E0
rổ tiền tệ tại thời điểm t = 0 (kỳ gốc)
tiền tệ tại thời điểm t = i
là tỷ trọng thương mại của đồng tiền các nước trong rổ tiền tệ tại thời điểm t = i
Nếu so sánh tỷ giá danh nghĩa so với kỳ gốc, ta có:
- Tại thời kỳ t=0: Chỉ số tỷ giá danh nghĩa của đồng nội tệ với ngoại tệ thứ n
tác thương mại j tại thời kỳ i
2.1.3 Tỷ giá hối đoái thực
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh bởi tương quan giá cả trong nước và ngoài nước Khi tỷ giá danh nghĩa tăng hay giảm không nhất thiết phải đồng nghĩa với sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh thương mại quốc tế
2.1.3.1 Tỷ giá hối đoái thực song phương (RER)
nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ Vì thế có thể xem tỷ giá thực là thước đo sức cạnh tranh trong mậu dịch quốc tế của một quốc gia so với một quốc gia khác
Tỷ giá hối đoái thực song phương ở trạng thái tĩnh
Trang 18Tỷ giá hối đoái thực song phương được xét tại một thời điểm Ta có công thức tính như sau:
Tỷ giá hối đoái thực song phương ở trạng thái động
Hiện nay không có quốc gia nào công bố giá của một rổ hàng hóa, cho nên tỷ giá hối đoái thực ở trạng thái tĩnh chỉ mang ý nghĩa lý thuyết Vì vậy, người ta sử dụng
tỷ giá ở trạng thái động để tính toán sự vận động của tỷ giá thực từ thời kỳ này sang thời kỳ khác thông qua việc điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa với chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia có đồng tiền đem so sánh
Tỷ giá thực song phương (RER) được tính dựa theo:
- Một năm cơ sở;
- Chỉ số tỷ giá danh nghĩa;
- Chỉ số giá cả theo CPI;
điểm t
Trang 19Chỉ số CPI điều chỉnh tại thời điểm t được tính theo công thức
Tiếp theo là điều chỉnh tỷ giá của nước có đồng tiền tính RER và đối tác thương mại về cùng kỳ gốc, tương tự như cách điều chỉnh chỉ số CPI tính theo công thức sau:
cơ sở hay kỳ gốc;
giá sức mua
về lý thuyết sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu
hơn giá hàng hóa ở nước ngoài Do đó, ngược lại với trường hợp trên, đồng nội tệ định giá cao sẽ hạn chế xuất khẩu và tăng nhập khẩu
2.1.3.2 Tỷ giá hối đoái thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER)
Tỷ giá hối đoái thực song phương chỉ cho chúng ta biết được sự lên giá hay xuống giá của đồng nội tệ so với một đồng ngoại tệ Ngày nay, quan hệ thương mại là
Trang 20đa phương, một nước có quan hệ buôn bán với rất nhiều nước trên thế giới Vấn đề được đặt ra là tại một thời điểm nhất định làm sao có thể biết được đồng nội tệ lên giá hay giảm giá so với các đồng tiền của các quốc gia khác có quan hệ mậu dịch, hay nói cách khác là làm sao để có thể biết được tương quan sức mua hàng hóa của đồng nội tệ với các đồng ngoại tệ để làm cơ sở đánh giá tác động của tỷ giá đối với cán cân thương mại của quốc gia? Để có cái nhìn toàn diện hơn về vị thế cạnh tranh của hàng hóa trong nước với các đối tác thương mại khác người ta dùng tỷ giá thực đa phương
Tỷ giá thực đa phương được tính toán để định ra giá trị thực của đồng nội tệ so với các ngoại tệ (rổ ngoại tệ) Bằng cách điều chỉnh tỷ giá theo chênh lệch lạm phát quốc nội so với lạm phát các đối tác tác thương mại, ta sẽ có tỷ giá thực song phương với từng đồng ngoại tệ Sau đó xác định quyền số chính là mức độ ảnh hưởng đối với
tỷ giá thực thông qua tỷ trọng thương mại của từng đối tác với quốc gia có đồng tiền tính REER
REER thể hiện mức độ biến thiên của giá trị thực của đồng nội tệ so với năm cơ
sở, đồng thời là tỷ giá mục tiêu cho năm (t) nhằm đảm bảo khả năng cạnh tranh như là năm gốc, chỉ số này được tính dựa theo:
- Một năm cơ sở;
- Chỉ số tỷ giá danh nghĩa;
- Chỉ số giá cả theo CPI;
- Tỷ trọng thương mại của các đối tác thương mại
Công thức được viết như sau:
∑
Trong đó:
Trang 21
bằng bao nhiêu đồng ngoại tệ);
bao nhiêu đồng ngoại tệ);
ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của nước có đồng tiền tính REER đối với các nước j tại thời điểm t chia cho tổng kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu của nước có đồng tiền tính REER đối với các nước trong rổ tiền tệ tại thời điểm t
phương với đối tác thương mại thứ n
với đối tác thương mại thứ n
Trang 22Đồng nội tệ được định giá cao hay thấp sẽ được xem xét như sau:
REER >1 : đồng nội tệ bị đánh giá thấp
REER <1 : đồng nội tệ bị định giá cao so với các nước trong rổ tiền tệ
REER = 1: đồng nội tệ có ngang giá sức mua so với rổ tiền tệ
thực:
Tỷ giá hối đoái thực là một công cụ đo lường khả năng cạnh tranh của quốc gia,
có thể sẽ không có ý nghĩa trong việc giải thích các dòng mậu dịch thương mại giữa một quốc gia đối với phần còn lại của thế giới nếu chúng ta không biết rõ những yếu tố quyết định tỷ giá hối đoái thực Những biến vĩ mô cơ bản ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái theo những mô hình tỷ giá hối đoái chuẩn Nếu Ngân hàng Trung ương tuân theo quy tắc Taylor, thì theo Mark (2009), yếu tố quyết định cơ bản của tỷ giá hối đoái có thể bao gồm chênh lệch giữa lạm phát thực tế và tỷ lệ lạm phát kỳ vọng (the relative expected inflation gaps) cũng như chênh lệch giữa sản lượng thực tế và sản lượng tiềm năng (relative output gaps) Cũng theo Mark (2009), trong lý thuyết hiện nay, những biến cơ bản và kỳ vọng hợp lý chưa giải thích rõ về những biến động của tỷ giá hối đoái thực
Dựa trên các nghiên cứu ủng hộ lý thuyết PPP, một số tác giả đã chỉ ra rằng tỷ giá hối đoái thực không chịu tác động của các biến vĩ mô cơ bản, kể cả trong cơ chế tỷ giá hối đoái cứng nhắc hoặc linh hoạt Cụ thể như sau:
Theo kết quả khảo sát của Devereux (1997), dưới chế độ giá cứng nhắc trong ngắn hạn, kèm theo đó là tồn tại sự dịch chuyển vốn lớn trong ngắn hạn (giống những
mô hình kiểu như của Mundell–Fleming–Dornbusch), thì thay đổi của tỷ giá hối đoái
danh nghĩa sẽ dẫn đến thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực theo cơ chế 1:1 (1% thay đổi trong tỷ giá hối đoái danh nghĩa sẽ dẫn đến 1% thay đổi trong tỷ giá hối đoái thực) Đối
Trang 23với những mô hình kiểu như vậy, trong ngắn hạn tỷ giá hối đoái danh nghĩa sẽ biến động hơn những biến vĩ mô cơ bản, nhưng khi giá cả được điều chỉnh trong dài hạn, tỷ giá hối đoái thực quay về mức cân bằng trong dài hạn với cùng một tỷ lệ Hơn nữa, trong dài hạn, tỷ giá hối đoái thực quay về mức tỷ giá ngang bằng sức mua (PPP), điều này ám chỉ rằng những biến vĩ mô cơ bản không có bất kỳ tác động nào lên tỷ giá hối đoái thực
Theo quan điểm về giá cả linh hoạt hoàn toàn, tỷ giá hối đoái thực điều chỉnh theo những biến động thực trong chính sách tài khóa Chính sách tiền tệ không thể ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực, vì theo quan điểm cân bằng này, giá cả và tỷ giá hối đoái danh nghĩa điều chỉnh theo cùng một tỷ lệ với bất kỳ cú sốc tiền tệ nào, theo nghiên cứu của Devereux (1997)
Trong trường hợp không có rào cản thương mại và với kỳ vọng hợp lý, hy vọng ngang giá sức mua (PPP) sẽ được duy trì trong dài hạn bất chấp trong ngắn hạn giá cả
là linh hoạt hay cứng nhắc
Husted và MacDonald (1998) đã sử dụng dữ liệu bảng, cung cấp bằng chứng ủng hộ cho tỷ giá hối đoái song phương của đồng Đô la Mỹ, đồng Mark Đức và đồng Yên Nhật
Sideris (2008), bằng việc sử dụng dữ liệu của sáu quốc gia Trung và Đông Âu, cho thấy ngang giá sức mua được duy trì khi tính đến sự can thiệp chính thức vào thị trường ngoại hối Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng cho thấy rằng tỷ giá hối đoái thực không có tính dừng ở 5 trong số các nước này
Narayan (2008) sử dụng dữ liệu bảng của 16 quốc gia OECD, chứng minh sự tồn tại của PPP khi các điểm gãy được xem xét
Salehizadeh và Taylor (1999) tìm thấy ngang giá sức mua được duy trì trong dài hạn cho 14 trong số 27 quốc gia mới nổi
Trang 24Tuy nhiên, lý thuyết ngang giá sức mua được dựa trên những giả định nền tảng
là các hàng hóa đồng nhất đều có chung một mức giá Trên thực tế có sự khác biệt lớn
về mức giá giữa các quốc gia, chênh lệch trong giá thực phẩm có thể lớn hơn so với sự chênh lệch trong giá nhà ở, hoặc có thể không biến động nhiều bằng giá các dịch vụ giải trí Người dân ở các quốc gia khác nhau có thói quen tiêu dùng khác nhau tức là
sẽ có các giỏ hàng hoá khác nhau Do đó rất nhiều các nhà nghiên cứu đã đưa ra các nghiên cứu của mình trong đó có đã mở rộng các giả định nền tảng của lý thuyết ngang giá sức mua
Devereux (1997) và các tài liệu trích dẫn khác đã đưa ra một giải thích hợp lý cho độ lệch khỏi ngang giá sức mua là tỷ giá hối đoái danh nghĩa và giá cả phản ứng với các biến vĩ mô cơ bản theo tỷ lệ khác nhau, kết quả là biến động của các biến vĩ mô
cơ bản, đặc biệt là các biến tiền tệ và tài chính, dẫn đến sự biến động trong tỷ giá hối
đoái thực, đặc biệt trong dài hạn
Theo một số nghiên cứu, những biến động trong tỷ giá hối đoái thực chủ yếu đến từ yếu tố bên ngoài hay do sự khác biệt giữa các yếu tố bên trong và bên ngoài (ví
dụ, nghiên cứu của Calvo và cộng sự, 1993; Del Negro và Obiols – Hums, 2001; Kanas, 2005)
Edwards, 1988; MacDonald, 1998; Canzoneri và cộng sự, 2003; Égert et al, 2006; Candelon và cộng sự, 2007; Kim và Roubini, 2008; Müller, 2008; Galstyan và Lane, 2009; Cayen và cộng sự, 2010; Chowdhury, 2012, đã sử dụng một hay nhiều biến tài khóa cũng như một số biến vĩ mô trong việc xác định tỷ giá hối đoái thực
Ngoài ra, một số nghiên cứu như Schlagenhauf và Wrase, 1995; Devereux, 1997; Kim, 2007; Morales - Zumaquero, 2006; Uz và Ketenci, 2010, hoàn toàn bỏ qua hầu hết hoặc tất cả các biến vĩ mô cơ bản, đặc biệt là các biến tài khóa
2.2.1 Mô hình các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực:
Trang 25Trong các mô hình tỷ giá hối đoái thực cân bằng, mô hình của Edward (1988) được xem là mô hình điển hình được sử dụng rộng rãi để ước lượng tỷ giá thực cân bằng của các nền kinh tế đang phát triển Theo mô hình của Edward (1988), tỷ giá thực cân bằng được định nghĩa là giá tương đối của hàng hóa ngoại thương và phi ngoại thương, có khả năng cùng lúc đảm bảo cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài của nền kinh tế có sự lưu chuyển vốn Theo đó, trong dài hạn, Edward (1988) cho rằng tỷ giá thực cân bằng chịu ảnh hưởng của các biến số kinh tế nền tảng như: điều kiện thương mại (terms of trade - TOT), độ mở của nền kinh tế (the openness of the economy - OPEN), chi tiêu công (public expenditure - GOVEX), phát triển công nghệ (technical progress - PROD) và lưu chuyển vốn (capital flows - CAPINF) Mô hình có dạng như sau:
Khi ứng dụng mô hình (*) vào ước lượng tỷ giá hối đoái thực cân bằng của một nền kinh tế đang phát triển, các nhà nghiên cứu thường sử dụng đúng mô hình gốc với
5 biến giải thích, chẳng hạn như Krumm (1993), Elbadawi (1994), Chinn (1998), Hinkle và Montiel (1999), Lin (2002), Goh và Kim (2006)
Bên cạnh đó, nhiều nhà nghiên cứu đã mở rộng mô hình (*) theo hướng thay thế biến hoặc đưa thêm biến giải thích vào mô hình, điển hình là mô hình của Elbadawi (1998) và Montiel (1999) Elbadawi (1998) đã thêm các nhân tố quan trọng trong cán cân vãng lai và cán cân vốn của các nước đang phát triển vào mô hình (*), bao gồm: hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), dự trữ quốc tế (international reserve - RESV), đầu tư nước ngoài ròng (net foreign capital inflows - NKI), thu nhập nước ngoài ròng (net foreign income - NFI)
Trong khi đó, Montiel (1999) phân chia các biến số nền tảng có tác động dài hạn đến biến động của tỷ giá hối đoái thực thành 4 nhóm, bao gồm: (i) chính sách tài khóa
Trang 26(được đại diện bởi chi tiêu chính phủ); (ii) chính sách ngoại thương (được đại diện bởi trợ cấp xuất khẩu - export subsidies - EXSUB); (iii) nhân tố cung nội địa (domestic supply side factors) (được đại diện bởi năng lực sản xuất) và (iv) môi trường kinh tế quốc tế (được đại diện bởi điều kiện thương mại hoặc lưu chuyển vốn) Theo đó, tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nền kinh tế mà biến đại diện của mỗi nhóm có thể được lựa chọn Như vậy, mô hình mở rộng cho phép thấy được cụ thể những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ giá hối đoái thực cân bằng của một nền kinh tế đang phát triển (Noor
và Mohammed, 2009)
Các nghiên cứu thực nghiệm trong những năm gần đây về tỷ giá hối đoái thực cân bằng đã ứng dụng khá nhiều quan điểm mở rộng mô hình gốc của Edwards (1988) Nghiên cứu của Zulfiqar và Adil (2005) đã đưa thêm biến đầu tư thực (real investment
- RIGDP), kiều hối (worker’s remittances - REMG) để đo lường tỷ giá hối đoái thực cân bằng của Pakistan Lý do là vì đầu tư và kiều hối là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến thâm hụt cán cân vãng lai của Pakistan
Mô hình của Plamen và Elena (2007) nghiên cứu cho trường hợp Gana thay thế biến chi tiêu chính phủ bằng cán cân tài khóa (financial balance - FBY), lưu chuyển vốn bằng tài sản có ngoại tệ ròng của hệ thống ngân hàng ngoại thương (net foreign assets of banking system - NFAB)
Nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực cân bằng của Trung Quốc (Ting, 2009), cũng đã đưa biến số cung tiền rộng (M2) vào mô hình đại diện cho chính sách tiền tệ và loại bỏ biến lưu chuyển vốn
Mô hình tỷ giá hối đoái thực cân bằng của Jamaica (James, 2010) đã thêm biến chênh lệch lãi suất thực đại diện cho tác động của thuyết ngang giá lãi suất (IRD), và
nợ chính phủ (NGD) đại diện cho phần bù rủi ro phát sinh khi điều chỉnh trạng thái ngoại hối
Trang 27Amir Kia (2013) đã phát triển mô hình các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực cho tỷ giá hối đoái thực song phương giữa đồng đô la Canada và đô la Mỹ Mô hình của ông bao gồm cả các biến tài khóa và biến tiền tệ, bao gồm: cung tiền, chỉ số giá, lãi suất trong nước, thu nhập thực, chi tiêu chính phủ, nợ chính phủ trên GDP, nợ nước ngoài trên GDP, thâm hụt ngân sách trên GDP, lãi suất nước ngoài, nợ tài trợ nước ngoài trên GDP của Mỹ, nợ trên GDP của Mỹ
Từ đó cho thấy, tỷ giá thực cân bằng được phần lớn các nhà nghiên cứu thừa nhận là có thể giải thích bởi các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản Tuy nhiên, không có một
mô hình chuẩn cho tất cả mọi nền kinh tế đang phát triển khi muốn ước lượng tỷ giá hối đoái thực Tùy thuộc vào tình hình cụ thể của mỗi nước mà các biến giải thích có thể được thay thế, được thêm vào, bị loại bỏ để đạt đến một mô hình tối ưu có thể giải thích nhiều nhất cho biến động của tỷ giá hối đoái thực
Tuy nhiên có thể thấy mô hình của Amir Kia (2013) đã đưa được đồng thời các biến tài khóa và các biến tiền tệ vào mô hình, làm rõ các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực Do đó, luận văn sẽ tiến hành nghiên cứu dựa trên mô hình của Amir Kia
Các mô hình nhóm tác giả đã nghiên cứu được tóm tắt trong Bảng 2.1
Bảng 2.1: Mô hình các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực của một số nhà nghiên cứu trước đây
RER = (TOT, OPEN, GOVEX, PROD,
ODA, RESV, NKI, NFI)
Trang 28Montiel 1999 Các nước đang
phát triển
RER = (TOT, OPEN, GOVEX, PROD,
EXSUB)
REMG, CAPINF, PROD) Plamen và
M2)
RER = (M1, R, GDP, GOV, DEBTGDP, FDGDP, DEFGDP, R*, DEBTGDP*,
FGDP*)
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
2.2.2 Các kết quả tác động của các nhân tố đến tỷ giá hối đoái thực của các nghiên cứu trước đây
Paul và Adrian (1985) nghiên cứu về mối quan hệ giữa chính sách tài khóa và tỷ giá hối đoái cho 7 nước lớn Mỹ, Nhật, Đức, Pháp, Anh, Ý, Canada đã cho thấy đồng đô
la Mỹ giảm giá 4% khi cắt giảm 50 tỷ đô thâm hụt ngân sách năm
Theo nghiên cứu của Calvo (1997), phân tích mô hình hai nhân tố các yếu tố xác định tỷ giá hối đoái thực trong nền kinh tế mở, giá linh hoạt đã cho thấy một cú sốc trong cung tiền dẫn đến sự suy giảm tạm thời trong tỷ giá hối đoái thực Tuy nhiên, trong dài hạn nó lại quay lại mức cân bằng
Trang 29Ofair Razin và Susan (1997) nghiên cứu mối quan hệ giữa sự mất cân bằng của
tỷ giá hối đoái thực và tăng trưởng sản lượng đã xây dựng một chỉ số mất cân bằng tỷ giá hối đoái thực cho cỡ mẫu lớn đối với các quốc gia đã phát triển và đang phát triển Chỉ số này được mở rộng dựa trên việc mở rộng mô hình IS-LM cho nền kinh tế mở Kết quả cho thấy có mối quan hệ phi tuyến giữa chỉ số mất cân bằng và tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao (không quá cao) dẫn đến đồng nội tệ bị đánh giá thấp nghĩa là tỷ giá thực tăng lên và ngược lại
Chen và Rogo (2003) sử dụng phân tích chuỗi dữ liệu thời gian cho thấy giá cả hàng hóa có tác động dương đến tỷ giá hối đoái thực cho các nước Canada, Australia, New-Zealand
Karine và Miguel (2006) nghiên cứu tác động của lãi suất của Mỹ đến tỷ giá hối đoái thực cho các quốc gia Đông Nam Á cho thấy đồng nội tệ của quốc gia Singapore, Thái Lan, Hàn Quốc mất giá khi có cú sốc trong lãi suất của Mỹ cho giai đoạn từ 1980-
2001
Morten, Stephanie và Martín (2007) sử dụng mô hình SVAR cho dữ liệu bảng của bốn quốc gia công nghiệp hóa đã cho thấy chi tiêu chính phủ tăng sẽ làm tăng sản lượng, tiêu dùng cá nhân, thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế, và giảm giá trị nội tệ
Viktoria Hnatkovska, Amartya Lahiri, Carlos A Vegh (2008) dựa trên ba giả thuyết: thứ nhất, lãi suất trong nước cao hơn làm tăng nhu cầu gửi tiền, do đó làm tăng cầu tiền và làm cho đồng nội tệ bị định giá cao Thứ hai, lãi suất cao hơn làm tăng gánh nặng tài chính của chính phủ, và có thể làm lạm phát tăng cao hơn dự kiến và do đó làm giảm giá trị đồng nội tệ Thứ ba, lãi suất tăng cao làm cho gánh nặng nợ mà doanh nghiệp trong nền kinh tế đi vay để tài trợ sản xuất tăng lên, dẫn đến sản lượng của nền kinh tế giảm và do đó nội tệ có xu hướng mất giá Sử dụng mô hình Var cho chuỗi dữ liệu của 6 nước đang phát triển: Brazil, Hàn Quốc, Thái Lan, Mexico, Peru, Philipines
Trang 30Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ giá hối đoái phản ứng với cú sốc trong lãi suất tùy
thuộc vào mức độ gia tăng của lãi suất
Kim và Roubini (2009), nghiên cứu tác động của chính sách tài khóa (cú sốc trong thâm hụt ngân sách chính phủ) lên tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực trong chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt tại Mỹ Dựa trên mô hình VAR, kết qủa nghiên cứu cho thấy khi cú sốc trong chính sách tài khóa mở rộng hay cú sốc trong thâm hụt ngân sách sẽ cải thiện tài khoản vãng lai và tỷ giá hối đoái thực giảm xuống
Hilde (2009) sử dụng dữ liệu của 4 nền kinh tế mở, đã tìm thấy chính sách tiền
tệ thắt chặt sẽ có tác động mạnh đến tỷ giá hối đoái, cụ thể là làm tăng tỷ giá hối đoái Tác động lớn nhất xuất hiện trong quý 1 và quý 2
Juha Tervala (2011) dựa trên giả thuyết ngân hàng trung ương sẽ điều chỉnh chính sách tiền tệ nếu sản lương lệch khỏi mức sản lương tiềm năng hay nếu lạm phát lệch khỏi lạm phát mục tiêu Kết quả cho thấy, một sự gia tăng cung tiền dẫn đến sự sụt giảm của tỷ giá hối đoái trong dài hạn
V Bodart, B Candelon and J-F Carpantier (2011) sử dụng dữ liệu bảng cho 33 quốc gia đang phát triển chuyên xuất khẩu các mặt hàng thiết yếu, cung cấp bằng chứng về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực, giá cả hàng hóa và các đặc điểm về cấu trúc cho các quốc gia đang phát triển đã cho thấy giá cả hàng hóa thế giới cao hơn
có quan hệ với sự đánh giá cao trong tỷ giá hối đoái thực Nghiên cứu cũng đã cho thấy
độ lớn của biến động tỷ giá hối đoái thực chịu tác động của bốn nhân tố cấu trúc bao gồm: chế độ tỷ giá hối đoái, độ mở kinh tế, mức độ đa dạng hóa hàng xuất khẩu và loại giá cả của hàng hóa xuất khẩu Độ biến động sẽ nhỏ hơn khi cơ chế tỷ giá là thả nổi, độ
mở thương mại cao, và hàng hóa xuất khẩu đa dạng
V Bodart, B Candelon and J-F Carpantier (2011) nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực với giá cả tại các quốc gia chuyên sản xuất hàng xuất khẩu tại
Trang 3168 quốc gia trong vòng 21 năm từ 1988 đến 2008 Kết quả cho thấy giá cả của các mặt hàng chủ đạo có tác động cung chiều đến tỷ giá hối đoái thực khi thị phần xuất khẩu của hàng hóa chủ đạo chiếm ít nhất 20% trên tổng kim ngạch xuất khẩu của nước đó
Zeno Enders, Gernot J Müller, Almuth Scholl (2011) nghiên cứu tác động của
cú sốc tài khóa và công nghệ đến tỷ giá hối đoái thực tại Mỹ, sử dụng phương pháp tự hồi quy vector VAR cho thấy tỷ giá hối đoái thực bị định giá thấp nghĩa là giảm giá trị đồng nội tệ khi có cú sốc trong chi tiêu chính phủ, và định giá cao khi có cú sốc trong thay đổi công nghệ
Hafedh Bouakez, Aurélien Eyquem (2012) sử dụng mô hình SVAR cho nền kinh tế mở nhỏ đã đề xuất một mô hình lý thuyết về chi tiêu chính phủ, chính sách tiền
tệ, tỷ giá hối đoái thực cho nền kinh tế mở nhỏ với ba giả định chính: thị trường tài chính quốc tế hoàn hảo và không hoàn hảo, giá cả cứng nhắc, và chính sách tiền tệ không quá chặt để chống lạm phát Kết quả cho thấy, dự gia tăng bất ngờ trong chi tiêu chính phủ làm cho phần bù lãi suất giảm, dẫn đến đồng nội tệ giảm giá trị thực
Amir Kia (2013) đã xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực cho tỷ giá hối đoái thực song phương giữa đồng đô la Canada và đô la Mỹ trong ngắn hạn và dài hạn Kết quả cho thấy, trong dài hạn tỷ giá hối đoái thực là hàm của thu nhập thực, cung tiền thực, chỉ số giá, lãi suất thực, chi tiêu chính phủ thực, thâm hụt ngân sách trên GDP, Nợ trên GDP, Nợ tài trợ nước ngoài trên GDP, Lãi suất của
Mỹ, Nợ tài trợ bên ngoài của Mỹ trên GDP, thâm hụt ngân sách trên GDP của Mỹ và được duy trì trong dài hạn Trong đó, trong dài hạn cung tiền thực, chi tiêu chính phủ,
nợ chính phủ trên GDP, giá cả, nợ tài trợ nước ngoài của Mỹ trên GDP là có tác động
âm và có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối đoái thực, còn lại thu nhập thực, thâm hụt ngân sách trên GDP, nợ chín phủ Mỹ trên GDP có tác động dương đến tỷ giá hối đoái thực Trong ngắn hạn không có biến tài khóa nào tác động có ý nghĩa thống kê đến tỷ giá hối đoái thực
Trang 32Bảng 2.2: Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây về tác động của các
nhân tố đến tỷ giá hối đoái thực
Nền kinh tế phát triền và đang phát
triển
Tăng trưởng sản lượng (thu nhập)
Nghịch chiều
Morten, Stephanie và
Bốn quốc gia Công nghiệp
Lãi suất
Cả cùng chiều
và nghịch chiều
Trang 33Chi tiêu chính
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Tóm lại, đã có rất nhiều tác giả đã nghiên cứu về tỷ giá hối đoái thực và các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực nhƣng chƣa có một mô hình lý thuyết hoàn chỉnh
về các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn Tất cả chỉ dừng lại ở việc sử dụng hoặc biến tài khóa, hoặc biến tiền tệ nhƣ là các nhân tố xác định tỷ giá hối đoái thực Do đó, luận văn này sẽ dựa trên nghiên cứu của tác giả Amir Kia (2013), bởi vì: Ông đã phát triển một mô hình tỷ giá hối đoái thực bao gồm tác động của các biến tài khóa và biến tiền tệ có liên quan Luận văn sẽ tiến hành kiểm định mô hình dựa trên chuỗi dữ liệu của Việt Nam Theo hiểu biết của tác giả, một mô hình nhƣ vậy chƣa đƣợc tiến hành tại Việt Nam Có thể nói đây là đóng góp đầu tiên của bài nghiên cứu
Trang 34Bảng 2.3: Tổng hợp kết quả nghiên cứu của Amir Kia
Tổng nợ nước ngoài của chính phủ Mỹ
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Dấu tác động kỳ vọng này được dựa trên quá trình xây dựng mô hình của Amir Kia, chi tiết sẽ được trình bày trong phần mô hình tại mục 3.1 Chương 3 (phương trình 8) Kỳ vọng này sẽ được tác giả sử dụng cho kỳ vọng tác động của các nhân tố đến tỷ giá hối đoái thực ở Việt Nam
Phần tiếp theo mô tả các mô hình được sử dụng và sau đó là phần trình bày về
dữ liệu và kết quả ước tính trong dài hạn Phần 4 báo cáo mô hình động lực ngắn hạn, phân tích các tác động trong ngắn hạn, kèm theo đó là phân tích hàm phản ứng đẩy IRF
và cuối cùng là nhận xét kết luận
Trang 35CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tác giả sẽ trình bày lần lượt các bước để xây dựng mô hình các nhân tố tác động đến tỷ giá hối đoái thực dựa trên việc kế thừa các bước xây dựng mô hình của Amir Kia (2013) Ý tưởng bắt đầu từ việc xây dựng hàm thỏa dụng và đường giới hạn ngân sách, sau đó tác giả sẽ tối đa hóa thỏa dụng bằng kết hợp giữa hai hàm thỏa dụng và giới hạn ngân sách để thu được hàm cầu tiền, và từ hàm cầu tiền tác giả sẽ rút ra được hàm tỷ giá hối đoái thực
0.5<ƞ <1 Giả định thứ hai (0,5<α<1 và 0,5<Ƞ<1) là cần thiết để đảm bảo một lượng cầu tiền tiêu chuẩn Do không có bất kỳ phần nào trong những kết quả sau nhạy cảm
0<β<1 Chi tiêu thực của chính phủ về hàng hóa và dịch vụ (g) được giả định là một hàng hóa Trong khi phân tích hàm thỏa dụng (1), để đơn giản, theo Kia (2006a) và nhiều nghiên cứu khác, tác giả giả định tổng sản lượng là biến ngoại sinh Nói cách
Trang 36khác, tác giả giả định cung lao động không co giãn Lưu ý rằng không có bất kỳ kết
Việc bao gồm chi tiêu chính phủ trong hàm thỏa dụng dựa trên giả định rằng cá nhân hưởng lợi từ các dịch vụ của chính phủ, ví dụ như các con đường sạch sẽ và an toàn, các loại thực phẩm đã được kiểm định,… sẽ cung cấp mức độ thỏa dụng cao hơn cho người tiêu dùng Ngoài ra, theo các tài liệu, chúng ta có thể xem g như cầu của công chúng đối với hàng hóa công cộng Thực ra, việc cho phép các sở thích của người tiêu dùng phụ thuộc vào chi tiêu chính phủ không phải là điều gì quá mới lạ trong lý thuyết kinh tế, nó đã được đề cập đến trong nghiên cứu của Kia (2006a) và trong các tài liệu tham khảo khác Chúng ta giả định rằng các dịch vụ tiền tệ được thêm vào hàm thỏa dụng Hơn nữa, theo nghiên cứu của Kia (2006), chúng ta giả định rằng việc mua hàng hóa trong nước và nước ngoài được thực hiện tương ứng với nội tệ và ngoại tệ, do
đó, các dịch vụ của nội tệ và ngoại tệ đều được đưa vào hàm thỏa dụng Bài viết lựa
chọn đơn vị theo cách mà dịch vụ tiền tệ trong nước S bằng m và dịch vụ tiền tệ nước ngoài S* bằng m* [Do dịch vụ tiền tệ S tỷ lệ theo số dư tiền thực nắm giữ, để đơn giản
chúng ta cho tỷ lệ này bằng 1] Không kết quả nào được đưa ra trong bài nghiên cứu này bị thay đổi, nếu thay vì đưa dịch vụ tiền tệ vào hàm thỏa dụng, bài viết giả định đưa vào thời gian mua sắm hoặc mô hình cash-in-advance (hay còn gọi là giới hạn Clower: giới hạn này cho rằng các cá nhân hoặc xí nghiệp phải có sẵn một lượng đủ tiền trước khi mua hàng Chính vì lý do này mà dịch vụ tiền tệ được đưa vào hàm thỏa dụng Người ta giữ tiền vì điều này là hữu dụng trong việc mua bán – công cụ thanh
quan đến việc nắm giữ đồng nội tệ, cũng được đưa vào hàm thỏa dụng Tuy nhiên, trái ngược với Kim, bài viết giả định biến k là hàm của các biến tài khóa kỳ vọng trong dài
1 Nếu chúng ta nới lỏng giả định cung lao động không co dãn (sản lượng là ngoại sinh) thì chúng ta cần bổ sung một phần nữa trong hàm thỏa dụng: -(1 - ƞ3)-1 (N t)1 - ƞ3 Trong đó N là số giờ lao động và ƞ3 ≥ 0 đại diện cho độ
co dãn cung lao động của Frisch Trong trường hợp này, mọi người có thể dễ dàng kiểm tra lại rằng không có bất
kỳ kết quả nào của nghiên cứu bị thay đổi
Trang 37hạn và những thay đổi trong chế độ chính sách, chế độ chính trị trong ngắn hạn Thêm
chiều Một cách cụ thể, bài viết giả định trong dài hạn:
log (k t )= k 0 defgdp t + k t debtgdp t + k 2 fgdp t + k 3 log(com t ) (2)
Chúng ta giả định rằng động lực ngắn hạn của biến rủi ro log(k) bao gồm tập
hợp các biến giả can thiệp đại diện cho khủng hoảng kinh tế, những thỏa thuận khi Việt
Nam gia nhập WTO có ảnh hưởng dịch vụ tiền tệ Biến defgdp, debtgdp, fgdp và com
là thâm hụt ngân sách thực trên GDP, dư nợ chính phủ trên GDP, nợ chính phủ do nước ngoài tài trợ trên GDP và giá cả hàng hóa trong nước Nghiên cứu giả định nợ chính phủ cũng trả lãi suất giống như lãi suất tiền gửi ngân hàng (R) Trong một môi trường rủi ro, các chủ thể thay thế tiền bằng tài sản thực hoặc tài sản chịu lãi Ví dụ: khi thâm hụt ngân sách trên GDP tăng, các chủ thể trong nền kinh tế nhận thức rằng trong tương lai thuế hoặc cung tiền (lạm phát) trong tương lai sẽ tăng Đồng thời, dư nợ chính phủ trên GDP càng cao thì môi trường càng rủi ro Cá nhân có thể giữ các trái phiếu này để thu hẹp khoảng cách giữa thu nhập tiền lương tương lai và chi phí, bao
ngoài có thể được coi là một nguyên nhân làm đồng nội tệ bị mất giá trong tương lai
Cụ thể, khi một số lượng lớn trái phiếu chính phủ được nắm giữ bởi các nhà đầu tư nước ngoài thì luôn có một rủi ro là các nhà đầu tư nước ngoài có thể từ bỏ những trái phiếu này Hành động này sẽ dẫn đến sự gia tăng trong cung nội tệ và vì vậy gây mất giá đồng nội tệ Do đó, lượng cầu về tiền tệ trong nước có thể sụt giảm nếu phần lớn nợ
tăng, trong điều kiện những yếu tố khác không đổi, rủi ro liên quan đến việc nắm giữ
Trang 38Chúng ta giả định k * tổng hợp rủi ro liên quan đến việc nắm giữ ngoại tệ, trong trường hợp này là USD
chính phủ tài trợ bên ngoài của nước ngoài Nợ của nước ngoài tăng cao được giả định rằng có liên quan đến việc phát hành tiền để tài trợ nợ trong tương lai và làm giảm giá
chính phủ của nước ngoài được nắm giữ bởi các nhà đầu tư/chính phủ quốc tế được
Tương tự như phương trình (2), Amir Kia giả định phương trình (3) được duy trì phụ thuộc vào động lực ngắn hạn của hệ thống
Tiếp theo tác giả sẽ xây dựng đường giới hạn ngân sách: Giả sử rằng ngoại tệ là
đồng đô la Mỹ Cho trước g, defgdp, debtgdp và fdgdp, người tiêu dùng tối đa hóa thỏa
dụng trong phương trình (1) sẽ chịu sự ràng buộc ngân sách như sau:
(4)
Trong đó:
tiêu dùng
ngoài tương ứng
Trang 39dt là nợ chính phủ một thời kỳ được tài trợ trong nước với lãi suất R
Tối đa hóa sở thích đối với với m, c, m*, c*, d và d*, và dựa vào ràng buộc ngân
sách (4) cho sản lượng và các biến tài khóa, ta được:
Như chúng ta có thể thấy từ phương trình (6), do ƞ <1 nên rủi ro liên quan đến việc nắm giữ ngoại tệ dẫn đến sự sụt giảm trong cầu ngoại tệ Sử dụng phương trình (5), (6),
Trang 40cùng chiều với cầu đồng ngoại tệ (m*) Bởi vậy, khi k* tăng, dẫn đến m* sẽ giảm, kết quả là m giảm
là cung tiền Thay
(8)
Phương trình (8) là mối quan hệ trong dài hạn của tỷ giá hối đoái thực Chúng ta cộng phần sai số với giả định sai số là nhiễu trắng
Theo phương trình này, cung tiền và lãi suất tăng sẽ làm giảm tỷ giá hối đoái thực
trong dài hạn Một lý giải hợp lý là cung tiền càng tăng hay lãi suất càng tăng là nguyên nhân dẫn đến giá tăng trong dài hạn và do đó làm giảm tỷ giá hối đoái thực
Thu nhập thực tăng làm tăng tỷ giá hối đoái thực trong dài hạn Thu nhập thực tăng
cũng có thể làm tăng cầu tiền thực và giảm mức giá và do đó làm tăng tỷ giá hối đoái thực
Chi tiêu chính phủ tăng làm cầu tiền giảm và do đó làm cầu hàng hóa dịch vụ tăng
làm tăng mức giá và khiến tỷ giá hối đoái thực giảm Điều này cũng đúng cho thâm
hụt, dư nợ chính phủ và nợ chính phủ tài trợ bên ngoài Giá hàng hóa tăng làm giảm
sức mua của hàng hóa trong nước làm giảm giá trị của đồng Việt Nam (nghĩa là tỷ giá