“Sông nước” trở thành một trong những miền nguồn cơ bản và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” sẽ gia tăng tính tương tác, phản ánh tư duy, nhận thức, trình độ văn hóa của con người
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN SÁNG
Phản biện 1: PGS TS Trương Thị Nhàn
Phản biện 2: PGS TS Nguyễn Ngọc Chinh
Luận văn đã được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận
văn tốt nghiệp thạc sĩ Ngôn ngữ học họp tại Đại học Sư phạm
vào ngày 29 tháng 11 năm 2020
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viện trường Đại học Sư phạm - ĐHĐN
- Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư Phạm - ĐHĐN
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Nghiên cứu ngôn ngữ dưới góc nhìn ẩn dụ ý niệm là một
hướng nghiên cứu mới, làm sáng tỏ, mở rộng biên giới của nghiên cứu liên ngôn ngữ trong mối quan hệ với văn hóa, văn học
1.2 Những miền ý niệm “sông nước” dần dần được hình thành,
ăn sâu vào ngôn ngữ Việt “Sông nước” trở thành một trong những miền nguồn cơ bản và nghiên cứu ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” sẽ gia tăng tính tương tác, phản ánh tư duy, nhận thức, trình độ văn hóa
của con người
1.3 Ca dao Nam Trung Bộ “trẻ” hơn nhiều so với ca dao từ nhiều
vùng đất khác; nhưng nó đã nhanh chóng thừa hưởng những thành tựu, tinh hoa của văn hóa dân tộc để làm phát triển thêm vẻ đẹp của một vùng văn hóa xứ sở Qua khảo sát ẩn dụ ý niệm miền “sông nước”, ta có thể giải mã các tầng nghĩa dựa trên các tri thức nền, các mô hình văn hóa, đặc trưng tâm lí, tư duy của người Việt nói chung và người dân Nam Trung Bộ nói riêng
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về ngôn ngữ học tri nhận đã bắt đầu từ những
thập kỷ 80 của thế kỉ XX với những tên tuổi của G Lakoff & M Johnson, G Fauconnier, R Langacker, M Turner, W Chafe, M
Minsky Từ cuối những năm 70 (thế kỉ XX), với công trình Metaphors
We live by năm 1980, M Johnson và Lakoff đã bắt đầu phát triển lí
thuyết về ẩn dụ ý niệm Mới đây, công trình đã được Nguyễn Thị Kiều
Thu (2017) dịch qua tiếng Việt qua cuốn Chúng ta sống bằng ẩn dụ
(NXB Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh)
Ở Việt Nam, người đầu tiên giới thiệu ngôn ngữ học tri nhận một cách có hệ thống với khung lí thuyết cụ thể là tác giả Lý Toàn Thắng
(2005) với công trình Ngôn ngữ học tri nhận - từ lý thuyết đại cương
Trang 4đến thực tiễn tiếng Việt (NXB Khoa học xã hội, Hà Nội) Bên cạnh đó
có thể kể đến công trình Khảo luận ẩn dụ tri nhận (NXB Lao động xã
hội) của Trần Văn Cơ
Ẩn dụ ý niệm trở thành đối tượng nghiên cứu được quan tâm đặc biệt trong nghiên cứu tri nhận ở Việt Nam
2.2 Với xu hướng lấy tri nhận để tiếp cận ngôn ngữ, lĩnh vực
“sông nước” cũng đã được áp dụng và nghiên cứu
- Những bài viết của tác giả Trịnh Sâm
- Luận văn Miền ý niệm sông nước trong tri nhận của người Việt
của tác giả Đinh Thị Vũ Trinh (Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, 2010)
- Luận án Bức tranh ngôn ngữ về sông nước trong tri nhận của người Việt của tác giả Tăng Tấn Lộc (Viện hàn lâm khoa học xã hội
Việt Nam, 2017)
2.3 Tình hình nghiên cứu ca dao nói chung và ca dao Nam Trung
Bộ nói riêng mà chúng tôi tập hợp được trong điều kiện tư liệu hạn chế
có thể chia thành những loại như sau
Thứ nhất là các nghiên cứu về ca dao dưới bình diện ngôn ngữ học tri nhận:
- Các bài viết Ẩn dụ về con người trong ca dao Việt Nam dưới góc nhìn văn hóa của tác giả Trần Thị Minh Thu, Bước đầu khảo sát ý niệm về tình yêu trong ca dao người Việt của tác giả Nguyễn Thị Hà
- Luận văn Ẩn dụ tri nhận trong ca dao của tác giả Bùi Thị Dung (Đại
học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008)
Thứ hai là các công trình nghiên cứu về “sông nước” trong văn học dân gian nói chung và ca dao nói riêng:
- Các bài viết Cảm xúc về sông nước qua ca dao, dân ca Nam Bộ của Trần Phỏng Diều, Hình ảnh sông nước Nam Bộ trong ca dao dân
ca của tác giả Lê Ngọc Trinh
Trang 5- Luận văn Yếu tố sông nước trong văn học dân gian Nam Bộ (trường hợp ca dao Nam Bộ) của Đoàn Thị Thùy Hương (Đại học Trà
Vinh, 2015)
Thứ ba là các công trình nghiên cứu về ca dao Nam Trung Bộ:
- Bài viết Biểu tượng thiên nhiên trong ca dao Trung Bộ của tác
giả Nguyễn Thị Kim Ngân
- Luận án Tín hiệu ngôn ngữ thẩm mỹ trong ca dao Nam Trung
Bộ của Nguyễn Thị Vân Anh (Đại học Khoa học xã hội và nhân văn
thành phố Hồ Chí Minh, 2015)
Những công trình trên gần như chưa nghiên cứu chuyên sâu về ca dao Nam Trung Bộ dưới góc nhìn ngôn ngữ học tri nhận, đặc biệt gắn với tư duy “sông nước” Đó chính là “khoảng trống” để chúng tôi mạnh
dạn nghiên cứu đề tài: “Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các mô hình ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi tư liệu được khảo sát trong luận văn là những bài ca dao được in trong quyển sách: “Ca dao Nam Trung Bộ” do Thạch Phương, Ngô Quang Hiển sưu tầm, tuyển chọn, NXB Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2015
Trang 6Trung Bộ dưới góc độ ngôn ngữ học tri nhận, đồng thời qua cơ chế của
ẩn dụ và nhân sinh quan của tập thể sáng tạo, có cơ sở để khẳng định những nét đặc sắc trong việc sử dụng ngôn ngữ vùng miền và tư duy sáng tạo ngôn ngữ dân tộc
5 Phương pháp và thủ pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp miêu tả
5.2 Thủ pháp phân tích ngữ nghĩa
5.3 Thủ pháp thống kê, phân loại
6 Đóng góp của đề tài
6.1 Về phương diện lí thuyết
Các kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần củng cố lí thuyết của ngôn ngữ học tri nhận, làm rõ thêm một số vấn đề lí thuyết
về ẩn dụ ý niệm qua ngôn ngữ ca dao Nam Trung Bộ Luận văn cũng sẽ góp phần tìm hiểu thêm về cách thức tri nhận của người Việt, nhận thức
rõ hơn về “bức tranh sông nước” mang tính xã hội, văn hóa của con người Nam Trung Bộ
6.2 Về phương diện thực tiễn
Lí giải các thao tác tư duy của con người dân gian trong ca dao Nam Trung Bộ; giúp mang đến những hiểu biết sâu sắc hơn về ca dao Nam Trung Bộ trong nghiên cứu và giảng dạy
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn được bố cục thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí thuyết và những vấn đề liên quan
Chương 2: Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn
Chương 3: Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền đích
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1.1 Ẩn dụ và ẩn dụ tri nhận
1.1.1 Ẩn dụ theo quan điểm truyền thống
Ẩn dụ được xem là cách thức chuyển đổi tên gọi dựa trên sự so sánh ngầm giữa hai đối tượng có sự tương đồng hay giống nhau về khía cạnh nào đó
1.1.2 Ẩn dụ theo quan điểm của ngôn ngữ học tri nhận
Ẩn dụ trong khoa học tri nhận sẽ nghiên cứu sự nhận thức và ý niệm hóa của con người về thế giới xung quanh thông qua các biểu thức ngôn ngữ
1.2 Các khái niệm và thuật ngữ liên quan đến ẩn dụ ý niệm
1.2.1 Ý niệm và ý niệm hóa
Trong Từ điển khái niệm ngôn ngữ học, ý niệm được định nghĩa như sau: “Ý niệm là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của ngôn ngữ
học tri nhận Ý niệm là những biểu tượng tinh thần phản ánh cách thức chúng ta tri giác thế giới xung quanh và tương tác với nó” [11, tr.601]
Ý niệm hóa thế giới là một trong những quá trình quan trọng nhất của hoạt động tri nhận của con người bao gồm việc ngữ nghĩa hóa thông tin nhận được và dẫn tới việc cấu tạo nên những ý niệm, những cấu trúc ý niệm và toàn bộ hệ thống ý niệm
1.2.2 Miền, miền nguồn, miền đích và ánh xạ
1.2.2.1 Miền
Miền ý niệm có thể hiểu là bộ tập hợp các ý niệm gần gũi về nội dung tinh thần như các thực thể tri nhận, các thuộc tính, các quan hệ Các thuộc tính, cùng với các quan hệ tạo thành hệ thống các phương diện của miền ý niệm
1.2.2.2 Miền nguồn, miền đích
Một ẩn dụ ý niệm có hai miền ý niệm, ý niệm đích được hiểu
Trang 8thông qua ý niệm nguồn Miền nguồn thường cụ thể, trực quan, dễ nhận biết, hoặc đã được ý niệm hóa trong tâm trí con người Miền đích có xu hướng trừu tượng, khó xác định, mới mẻ với nhận thức hoặc kinh nghiệm
1.2.5 Mô hình tri nhận
“Mô hình tri nhận là tổng số các ý niệm đã trải qua và đã tích lũy được cho một lĩnh vực nhất định ở một cá nhân; Mô hình tri nhận là phương thức tổ chức và biểu đạt các kiến thức do con người tạo ra khi tương tác với ngoại giới” [11, tr.277-278]
1.2.6 Lược đồ hình ảnh
Lược đồ hình ảnh là mô thức xuất hiện thường xuyên lặp lại trong hoạt động kinh nghiệm của con người, là mô thức tổ chức kinh nghiệm của con người
1.2.7 Không gian tinh thần
“Không gian tinh thần là các vùng không gian ý niệm có chứa các dạng thông tin đặc trưng Chúng được cấu tạo trên cơ sở ngôn ngữ tổng quát, ngữ dụng và các chiến lược văn hóa để chọn lọc thông tin” [dẫn theo 14, tr.23]
Trang 91.2.8 Phân loại ẩn dụ ý niệm
1.2.8.1 Ẩn dụ cấu trúc
1.2.8.2 Ẩn dụ bản thể
1.2.8.3 Ẩn dụ định hướng
1.3 Bức tranh ngôn ngữ với ý niệm “sông nước”
Để bao quát, xuyên suốt luận văn này, chúng tôi xem “ý niệm sông nước” là biểu tượng tinh thần về vùng đất liền liên quan chủ yếu đến kênh rạch sông suối bên cạnh đó là biển cả
“Sông nước” đã được khái niệm trong từ điển và là một nét đặc trưng văn hóa của mọi dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam Sông nước có ý nghĩa riêng với từng nhóm xã hội, từng cá thể người Việt Nam và có những đặc trưng riêng tùy theo vùng miền Sông nước vừa là hình ảnh chung của dân tộc, vừa “cá tính”, vừa tự nhiên khách quan vừa mang đặc trưng địa phương - vùng miền
Với 489 bài có xuất hiện các biểu thức ngôn ngữ liên quan đến phạm trù “sông nước”, miền ý niệm “sông nước” trở thành một dấu ấn văn hóa - tri nhận rất riêng trong ca dao Nam Trung Bộ
1.4 Vài nét về ca dao Nam Trung Bộ
Cuốn sách Ca dao Nam Trung Bộ của tác giả Thạch Phương -
Ngô Quang Hiển là công trình mang tính khảo cứu, sưu tầm, tuyển chọn
và giới thiệu một số loại hình sáng tác dân gian Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung nghiên cứu về ca dao với 1690 đơn
vị bài
Ca dao Nam Trung Bộ chủ yếu tập trung ở những sự kiện cận đại của khu vực Đàng Trong Bên cạnh đề tài lịch sử, ca dao của vùng đất này còn khai thác đề tài ngợi ca những cảnh vật thiên nhiên Tình yêu đôi lứa và khát vọng hạnh phúc là đề tài chiếm tỉ lệ lớn nhất
Ca dao Nam Trung Bộ có nhiều câu nói về nỗi cô đơn, bất hạnh, cảnh lỡ duyên, lỡ phận theo một cách thế riêng Ca dao trữ tình Nam
Trang 10Trung Bộ đề cập khá sâu đến vấn đề nhân nghĩa như một đạo lí sống
Ca dao Nam Trung Bộ vừa mang phần chung, vừa mang nét đặc thù được hình thành từ môi trường thiên nhiên, điều kiện sống và dấu ấn
cá tính của con người vùng đất mới Ca dao trở thành bản lí lịch tâm hồn của đời sống quần chúng, để qua đó người đọc cảm nhận được tư duy đậm chất văn hóa dân tộc của mỗi thời đại Nền tảng tri nhận chính
là kết tinh sâu sắc của những yếu tố này
1.5 Tiểu kết
CHƯƠNG 2
ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “SÔNG NƯỚC”
TRONG CA DAO NAM TRUNG BỘ XÉT TỪ MIỀN NGUỒN 2.1 Mô hình ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn
Bảng 2.1: Các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao
Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn
Số bài xuất hiện/
Số lần /395
Tỉ lệ (%)
Số bài /241
Tỉ lệ (%)
2 THỰC THỂ SỐNG
3 CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT
4 PHƯƠNG TIỆN TRÊN
Trang 11Số bài xuất hiện/
Số lần /395
Tỉ lệ (%)
Số bài /241
Tỉ lệ (%)
xạ của miền nguồn
2.2.1 Miền nguồn là VẬT CHỨA NƯỚC
- VẬT CHỨA NƯỚC là sự to lớn, nguy hiểm
Có 8 từ ngữ đặc trưng đã được sử dụng Trong đó, từ có tần số
xuất hiện nhiều nhất là biển và các từ liên quan đến biển như bể, khơi, biển Đông, biển hồ
Biển không hề có sự ngăn cách, khó xác định biên giới và chính
vì thế biển gợi tả những gì rộng lớn nhất, không thể đo đếm và ẩn chứa những điều nguy hiểm bất ngờ
1 Anh ra đi mặt biển chân trời
Biết rồi có đặng sống đời cùng nhau!
(tr 82)
Trang 12nguồn vật chứa nước Có 13 từ ngữ được sử dụng, trong đó sông là từ
ngữ xuất hiện nhiều nhất
Ở xa nghe tiếng chàng hò,
Cách sông cũng lội, cách đò cũng qua
(tr 162) Sông với đặc tính ngăn cách đôi bờ được ánh xạ để trở thành đối tượng cản trở, tạo khoảng cách trong tình yêu, là thử thách con người buộc phải vượt qua
- VẬT CHỨA NƯỚC là sự phong phú và giàu có
Sông nước là dạng địa hình đặc trưng đồng thời chứa đựng nguồn tài nguyên lớn của dân tộc
dụ, là sự phong phú, giàu có trong tình cảm của con người
- VẬT CHỨA NƯỚC là đích đến, sự bình yên
Đây là ẩn dụ ý niệm xuất phát từ miền nguồn vật chứa nước
chiếm số lượng ít nhất Bến là từ duy nhất được sử dụng làm từ ngữ
trung tâm trong các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ
Đò ơi có nhớ bến không?
Bến thì trực tiết, thu đông đợi đò
(tr.129)
Trang 13Bến luôn ở trạng thái tĩnh, không có sự chuyển di Chính vì thế, bến xuất hiện trong các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ luôn mang đến sự bình yên, là đích đến của sự đợi chờ, chung thủy
- VẬT CHỨA NƯỚC là cuộc sống quẩn quanh; thân phận bé nhỏ, hèn mọn
Có 8 từ ngữ thuộc phạm trù “sông nước” được dùng để hình
thành nên các biểu thức mang tính ẩn dụ nêu trên
Chê sông mà uống nước bàu,
Chê đây lấy đó có giàu hơn ai?
(tr.110) Đặc tính về địa hình như sự hạn định về không gian, sự trắc trở, gập ghềnh đã được ánh xạ để tạo nên miền đích về một cuộc sống, về thân phận con người Đó là không gian hạn hẹp mà đôi khi con người
vô tình hay cố ý đã lãng quên, rời bỏ
2.2.2 Miền nguồn là THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC
- THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC là thứ có giá trị
Có 5 từ ngữ đặc trưng đã được sử dụng Trong đó, từ có tần số
xuất hiện nhiều nhất là cá với 31/35 lần xuất hiện trong các biểu thức
mang tính ẩn dụ
Anh đừng thấy cá phụ canh
Thấy tòa nhà ngói, phụ tranh rừng già
(tr 204)
Cá là thực thể mang giá trị cao, từ đó ẩn dụ cho những điều lớn lao, giá trị mà con người theo đuổi
- THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC là thứ ít có giá trị
Ẩn dụ ý niệm này được triển khai trong tương quan với ẩn dụ ý niệm đã nêu trên với 15 từ ngữ đặc trưng Ta thấy sự xuất hiện trở lại
của cá, tôm, cua Nhưng gắn với ngữ cảnh, nó sẽ được ánh xạ để thể
hiện ý nghĩa khác
Trang 14Anh đây quyết chí câu cua
Dù ai câu chạch, câu rùa mặc ai
(tr 204)
- THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC là tính cách con nguời
- THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC là hoàn cảnh sống
2.2.3 Miền nguồn là CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG NƯỚC
- CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG NƯỚC là hoàn cảnh, cách ứng xử
Có 7 từ ngữ đặc trưng được sử dụng, trong đó chiếm tần số nhiều
nhất là những công cụ liên quan đến câu như cần câu (4/14 biểu thức),
lờ (3/14 biểu thức), lưỡi câu (2/14 biểu thức)
Cầm cần câu cá ngược xuôi,
Nấu canh rau bợ mà nuôi mẹ già
(tr 207)
- CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG NƯỚC là kết quả, tâm lí
Có 3 từ ngữ được lựa chọn sử dụng với số lần xuất hiện trong các
biểu thức ngôn ngữ là như nhau Đó là lưới, cần và câu
Qua như chim nọ đang bay
Bạn như cá nọ mắc rày lưới giăng
(tr 164)
2.2.4 Miền nguồn là PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC
- PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC là hành động, sự di chuyển, không ổn định
Có 3 phương tiện đặc trưng được lựa chọn và nghiễm nhiên gắn liền với phương tiện là hành động nên đặc tính di chuyển của nó đã được ánh xạ để hình thành miền đích gắn liền với những thứ không ổn
định Đò, thuyền, ghe - 3 phương tiện này xuất hiện với tần suất gần
như là tương đương
Trang 15Lênh đênh như chiếc thuyền tình
Mười hai bến nước biết dựa mình vào đâu
Sông dài nhiều kẻ buông câu, Duyên ai nấy gặp, cá đâu chờ mồi
(tr 146)
Đó là chiếc thuyền tình rày đây mai đó mà chính bản thân chủ thể
cũng không biết được sẽ neo đậu nơi nào
- PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC là tình thế
Có 6 từ chỉ phương tiện đặc trưng được lựa chọn sử dụng Trong
đó, xuất hiện nhiều nhất là thuyền với 7/14 biểu thức
Thuyền nhỏ, gió to
Anh đừng e ngại
(tr 48)
Thuyền cùng các từ ngữ khác xuất hiện trong ngữ cảnh đã diễn tả
tình thế khó khăn mà con người phải đối mặt và phải vuợt qua Tình thế
đó sẽ góp phần làm bật lên giá trị của con người khi ta cố hết sức để vượt qua nó
- PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC là sự ngăn cách
Đây là ẩn dụ chiếm số lượng ít nhất trong số các ẩn dụ xuất phát
từ miền nguồn “phương tiện trên sông nước” Giá trị ánh xạ này được
thể hiện bằng 3 từ đặc trưng là cầu, mương và đò
Không đi thì nhớ thì thương,
Đi thì lại mắc cái mương, cái cầu
Không đi thì nhớ thì sầu,
Đi thì lại mắc cái cầu, cái mương
(tr 144)
- PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC là sự nối kết
Đây là giá trị ánh xạ chiếm số lượng lớn nhất đối với miền nguồn
“phương tiện trên sông nước” Ý nghĩa này được đặt trong sự tương
Trang 16quan với ý nghĩa về sự ngăn cách Có 3 từ ngữ được lựa chọn để biểu
hiện, đò là cầu, đò và thuyền
1 Phải chi ngoài biển có cầu Anh ra anh giải cơn sầu bạn khuây
(tr 162)
2 Cách sông nên phải lụy đò
Cách truông Ba Gò, em phải lụy anh!
(tr 107)
2.2.5 Miền nguồn là TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC
- TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC là sự tàn phá, khắc nghiệt, trở ngại
Có 6 từ ngữ đặc trưng đã được sử dụng Trong đó, từ có tần số xuất hiện nhiều nhất là sóng với 9/23 biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn dụ
1 Biển Đông sóng bủa, cát dùa
Dù sánh đôi không đặng, hãy lên chùa cùng tu
(tr 103)
2 Phận gái thì phải giữ duyên
Đừng để sóng dập thuyền nghiêng nước vào
(tr 163) Sóng là những trở ngại, trắc trở, những điều không thể lường trước được có thể xảy đến với cuộc sống của con người Đồng thời, đó cũng chính là thử thách để con người thể hiện bản lĩnh, giữ được những
gì đẹp nhất trong nhân cách của mình
- TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC là thân phận
Có 8 từ ngữ được sử dụng thể hiện giá trị ánh xạ này Trong đó,
đục và trong là hai từ xuất hiện trong các biểu thức ngôn ngữ mang tính
ẩn dụ có số lượng lớn nhất
Cùng thì bạn gái với nhau,
Gánh nước một bàu, đôi đục đôi trong
Trang 17Đôi mô khéo múc thì trong,
Đôi mô vụng múc, những rong cùng bùn
2.2.6 Miền nguồn là HOẠT ĐỘNG DUỚI NƯỚC
- HOẠT ĐỘNG DƯỚI NƯỚC là cách ứng xử
15 từ ngữ đã được lựa chọn để ánh xạ các thuộc tính hình thành miền đích về cách ứng xử của con người, trong đó nổi bật lên hai hoạt
động lội và chèo
Thương nhau bụi cỏ cũng ngồi
Đám tranh cũng lội, rừng chồi cũng băng
(tr 184)
- HOẠT ĐỘNG DƯỚI NƯỚC là thân phận
Có 4 từ ngữ được sử dụng để hình thành nên các biểu thức ngôn
ngữ mang tính ẩn dụ với nghĩa tương ứng Đó là các từ trôi, trôi nổi, chìm, lênh đênh
1 Dẫu mà đan giỏ thả sông
Trôi lên trôi xuống, em cũng không bỏ chàng
(tr 123)
2 Thân em như trái bòng trôi
Gió dập sóng dồi, nương tựa vào đâu
(tr 177)
2.3 Tiểu kết
Trang 18CHƯƠNG 3
ẨN DỤ Ý NIỆM MIỀN “SÔNG NƯỚC”
TRONG CA DAO NAM TRUNG BỘ XÉT TỪ MIỀN ĐÍCH 3.1 Các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” xét từ miền đích trong ca dao Nam Trung Bộ
3.2.1 Ẩn dụ HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI LÀ HÀNH TRÌNH TRÊN SÔNG
Bảng 3.1: Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI LÀ HÀNH TRÌNH TRÊN SÔNG
Miền nguồn HÀNH TRÌNH
TRÊN SÔNG
Miền đích HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI
(1) Người tham gia => Mỗi người trong cuộc đời
(2) Những đích đến => Mục tiêu/ mục đích trong cuộc đời (3) Cách di chuyển => Cách đạt được mục tiêu
(4) Khó khăn, trắc trở => Trở ngại trên đường đời
(5) Hành trình di chuyển => Các sự kiện trong cuộc đời
(6) Dòng sông => Cuộc đời
Miền nguồn này giúp chúng ta hiểu về ý niệm trừu trượng cuộc đời một cách cụ thể Người tham gia, phương tiện giao thông, khó khăn trắc trở, đích đến, đều điển hình cho hành trình cuộc đời
Biển Thị Nại ùn ùn sóng giận,
Đá Phương Mai khăng khắng lòng trung
Thuyền nhỏ, gió to,
Anh đừng e ngại
Em chèo, anh lái, Cuối bãi đầu ghềnh
Quản gì sóng gió lênh đênh,
Ngọn rau tấc đất, miễn đền ơn nhau
(tr 48)
Trang 19Trong ví dụ trên, có thể thấy các thuộc tính người tham gia, cách
di chuyển, khó khăn trắc trở, hành trình di chuyển, dòng sông đều đã chiếu xạ để thể hiện nội dung của bài ca dao
3.2.2 Ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG
3.2.2.1 DÒNG ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG
Khảo sát mô hình ẩn dụ DÒNG ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG, có thể thấy, sông và dòng đời đều có sự tương đồng về tính chất: đều có sự lưu chuyển, không đứng yên, không dừng lại Chính nhờ sự tương đồng về tính chất này mà một số thuộc tính liên quan đến sông đã ánh xạ nên ý niệm dòng đời để tạo lên ẩn dụ ý niệm DÒNG ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG
Bảng 3.2: Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ DÒNG ĐỜI LÀ
DÒNG SÔNG Miền nguồn DÒNG SÔNG Miền đích DÒNG ĐỜI
(1) Bản chất: dòng nước chảy
trôi theo hướng nhất định
=> Các sự kiện trong đời diễn ra theo tuần tự, thuận lợi
(2) Trạng thái biểu hiện: nước
không chảy ngược
=> Sự kiện, thời gian cuộc đời không quay trở lại
Sự trôi chảy của nước được biểu trưng cho sự hanh thông, thẳng tiến, thuận lợi còn ngược lại dòng sông ngưng đọng, di chuyển ngược hướng sông ấy là dòng đời tắc nghẽn, bất trắc, khác thường và không thể đoán định
1 Lòng ta thương bạn không nguôi,
Nước sao như nước chảy xuôi một bề
(tr.147)
2 Chiều nay hò hẹn đôi ta,
Xuôi về một bến, nước pha màu trời
(tr.160)
Trang 203.2.2.2 CUỘC ĐỜI LÀ VẬT CHỨA NƯỚC
Bảng 3.3: Lược đồ chiếu xạ của ẩn dụ CUỘC ĐỜI LÀ VẬT
CHỨA NƯỚC Miền nguồn VẬT CHỨA
(1) Kích thước của vật chứa => Giới hạn cuộc đời
(2) Tính chất của vật chứa => Tính chất cuộc đời
Con người đặt mình giữa cuộc đời, để rồi tự tạo nên cuộc đời của riêng mình Nước thì vẫn luôn tồn tại trong một vật chứa nhất định; và tùy theo kích thước vật chứa, tùy trạng thái, tùy tính chất của vật được chứa đựng nó sẽ làm nên dòng chảy của riêng mình Cuộc đời con người vì thế là vật chứa, hai miền ý niệm này soi chiếu cho nhau để định hình giá trị thực của mỗi con người
1 Đường đi góc biển chân trời
Biết đâu mà nói thực lời với anh
(tr.187)
2 Chầu rày cá đã theo sông, Bến hiền thuyền đậu, anh trông nỗi gì?
(tr.115)
3.2.3 Ẩn dụ MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI LÀ NƯỚC (SÔNG NƯỚC)
Nước thuộc về một miền không gian, là điều kiện tự nhiên để các thực thể gắn với nó tồn tại Còn môi trường là toàn bộ những điều kiện
tự nhiên, xã hội trong đó con người hay sinh vật tồn tại, phát triển Chính nhờ sự tương đồng về tính chất này mà một số thuộc tính liên quan đến nước đã ánh xạ nên ý niệm môi trường xã hội để tạo nên ẩn dụ
ý niệm MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI LÀ NƯỚC
1 Hà miền, hà thị, hà phương,
Hà quê, hà quán em chưa tường đục trong
(tr.140)
Trang 212 Bạn ơi chớ vội tình vong,
Nước lên có thuở, nước ròng có khi
(tr 100) Các từ ngữ trung tâm của các biểu thức ngôn ngữ mang tính ẩn
dụ chứa đựng nét nghĩa đối lập nhau, từ đó soi rõ tính chất của môi trường xã hội được xét
3.2.4 Ẩn dụ ỨNG XỬ CỦA CON NGƯỜI LÀ TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT, VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC
Một miền ý niệm nguồn, tùy theo độ chú ý có thể ánh xạ qua nhiều miền đích khác nhau, đó là chưa kể nhiều ẩn dụ pha trộn phức tạp, phải sử dụng bộ máy khái niệm khác, thông qua sự ánh xạ chọn lọc mới có thể lí giải được Ta lại tiếp tục bắt gặp những biểu thức từ ngữ quen thuộc như đục, trong, đầy, cạn… nhưng được chiếu xạ đến miền đích thể hiện suy nghĩ, đặc trưng tính cách, cách ứng xử của con người trong xã hội
1 Anh thương em trong, đục chưa tường,
Để em dò lòng quế, dạ hương thế nào
(tr.169)
2 Sông cạn, biển cạn lòng ta không cạn,
Núi lở non mòn, nghĩa bạn không quên
(tr.170) Nước sông muôn đời vẫn chảy, luôn chuyển di với những trạng thái nhất định; vận động của nước cũng chính là sự “vận động” trong tư duy ứng xử của con người:
Nước Ba Tơ chảy vô Bình Định, Nhắn bạn chung tình tránh nịnh, chớ theo
(tr.158)
Trang 223.2 Cơ sở nền tảng cho những mô hình tri nhận của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ
3.3 Một số đặc điểm của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” đặc trưng trong ca dao Nam Trung Bộ
3.3.1 Ẩn dụ ý niềm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ mang tính văn hóa vùng miền rõ nét
Ở Nam Trung Bộ, các tỉnh đều giáp biển và có bờ biển dài nên biển có một vai trò quan trọng trong đời sống, trong văn hóa và trong vùng ý niệm “sông nước” Hệ thống các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ có các ẩn dụ xuất phát từ “biển” chiếm số lượng khá lớn
Từ xưa, người Việt đã không quản ngại khó khăn, nguy hiểm khai phá đầm lầy, dựng nên những xóm làng trù phú dọc theo các con sông, ven biển và trên những hòn đảo Ca dao Nam Trung Bộ với những ẩn dụ ý niệm tiêu biểu cũng thông qua những hình ảnh con người trong lao động sản xuất đó để làm bật lên cuộc sống con người
Mạng lưới sông ngòi dày đặc đều đổ ra biển Đông, tạo thành môi trường giao thông đường thủy thuận lợi Chính vì thế hành trình trên sông, trên biển cũng là miền ẩn dụ tiêu biểu cho cuộc đời con người
Ẩm thực truyền thống tiêu biểu của người Việt mang đậm nét yếu
tố thực vật, yếu tố sông biển Hình ảnh cuộc sống cũng hiện lên qua cách lựa chọn thực phẩm gắn với sông nước của con người, hình thành nên các ẩn dụ ý niệm
Từ xa xưa, người nông dân Việt Nam rất thạo việc đan lát làm ra các dụng cụ đánh bắt cá tôm Công việc đánh bắt, công cụ đánh bắt gắn liền với những ẩn dụ ý niệm biểu hiện hoàn cảnh, cách ứng xử, tâm tư tình cảm của con người
Trang 233.3.2 Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ mang tính nữ
Người Việt thường đồng hóa mẹ và vai trò nuôi dưỡng Đồng thời hình ảnh phụ nữ gắn liền với ẩn dụ ý niệm miền “sông nước”
Thân em là một motif quen thuộc trong việc định hình tính nữ,
phận nữ Một lần nữa, ta lại bắt gặp điều này trong ca dao Nam Trung
Bộ Thân em gắn liền với các ẩn dụ ý niệm, gắn với vật chứa, gắn với
hoạt động của môi trường sông nước
Người phụ nữ ngày xưa dường như không có quyền quyết định
số phận của mình, có lẽ vì thế đặc tính trôi của miền ý niệm sông nước
nghiễm nhiên được chiếu xạ gắn liền với cuộc đời của họ
3.3.3 Ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ mang tính ổn định về tư duy, tạo nên tính sáng tạo, biểu trưng cao
Các ẩn dụ tiêu biểu, đặc trưng có mặt không chỉ ở ca dao Nam Trung Bộ mà hoàn toàn có thể có mặt ở ca dao các vùng miền khác Hay những ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” tiếp tục được vận dụng để sáng tạo, có mặt trong các tác phẩm văn học của thời kì sau
Như vậy, có thể thấy, đặc điểm cố hữu trong tư duy có liên hệ rõ rệt với sự phong phú về ngôn ngữ văn học của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” Sự phối hợp này càng góp phần khẳng định vị trí của ẩn dụ ý niệm này trong rất nhiều công cụ tri nhận thế giới của người Việt nói chung, của người Nam Trung Bộ nói riêng để hình thành những biểu thức ẩn dụ trong ca dao, làm nền tảng cho những sáng tạo và biểu trưng hóa về sau
3.4 Tiểu kết
Trang 241.1 Về lí luận, luận văn đã hệ thống những vấn đề lí luận cơ bản
về ẩn dụ ý niệm Đó là hình thái tư duy của con người về thế giới, là công cụ hữu hiệu để con người ý niệm hóa các khái niệm trừu tượng từ một miền tinh thần qua một miền tinh thần khác, được gọi là sự ánh xạ
có hệ thống từ một miền nguồn sang một miền đích nhằm tạo nên mô hình tri nhận Ý niệm là sản phẩm của quá trình tri nhận, nó vừa có tính nhân loại vừa có tính dân tộc vì nó gắn chặt với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc Ẩn dụ ý niệm được chia thành ba loại dựa trên chức năng tri nhận: ẩn dụ cấu trúc, ẩn dụ bản thể và ẩn dụ định hướng Ẩn dụ tri nhận gắn liền với đặc trưng văn hóa tinh thần của người bản ngữ Luận văn cũng đã trình bày những tri thức cần yếu liên quan đến
ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” như khái niệm “sông nước”, nhận ra vai trò của sông nước trong tâm thức người Việt; đồng thời giới thiệu khái quát về ngữ liệu khảo sát là ca dao Nam Trung Bộ
1.2 Về thực tiễn nghiên cứu, trong 489 bài ca dao trong cuốn
sách Ca dao Nam Trung Bộ có chứa các biểu thức ngôn ngữ liên quan đến phạm trù “sông nước”, luận văn đã tiến hành khảo sát từ 241 bài có chứa đựng các ẩn dụ ý niệm miền “sông nước”, tìm hiểu hệ thống ẩn dụ
ý niệm miền “sông nước” xét từ miền nguồn; sau đó phân tích một số
ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” xét từ miền đích đặc trưng Cơ sở nền tảng cho hệ thống những ẩn dụ ý niệm trong ca dao Nam Trung Bộ
Trang 25cũng được chúng tôi chỉ ra, sau đó tiếp tục khái quát một số đặc điểm của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” đặc trưng trong ca dao Nam Trung Bộ
Ở chương 2, luận văn đã trình bày 6 mô hình ẩn dụ ý niệm miền
“sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ xét từ miền nguồn bao gồm: VẬT CHỨA NƯỚC, THỰC THỂ SỐNG DƯỚI NƯỚC, CÔNG CỤ ĐÁNH BẮT TRÊN SÔNG NƯỚC, PHƯƠNG TIỆN TRÊN SÔNG NƯỚC, TRẠNG THÁI - TÍNH CHẤT CỦA NƯỚC và HOẠT ĐỘNG DƯỚI NƯỚC Có thể thấy, hệ thống ngữ nghĩa sông nước có liên quan đến ánh xạ, giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành hệ thống các ẩn
dụ ý niệm xét từ miền nguồn Sông nước và các thuộc tính liên quan có
ý nghĩa rất lớn trong đời sống tinh thần của người Việt Thông qua sự ánh xạ, sông nước như một phương tiện đã được cấu trúc hóa để người Việt nhận thức những miền ý niệm trừu tượng
Dựa trên sự ánh xạ của các tiểu miền nguồn ở chương 2, chương
3 đi vào khái quát, lựa chọn, hình thành một số ẩn dụ ý niệm miền
“sông nước” xét từ miền đích Cụ thể 4 ẩn dụ ý niệm xét từ miền đích
đã được chúng tôi lựa chọn phân tích: HÀNH TRÌNH ĐỜI NGƯỜI LÀ HÀNH TRÌNH TRÊN SÔNG; CUỘC ĐỜI LÀ DÒNG SÔNG; MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI LÀ NƯỚC, ỨNG XỬ CỦA CON NGƯỜI LÀ TRẠNG THÁI, TÍNH CHẤT, VẬN ĐỘNG CỦA NƯỚC Đây là 4 ẩn
dụ mang tính phổ quát cho tư duy cộng đồng Có thể thấy, sự hiện diện của “sông nước” trong tâm thức của người Việt bắt nguồn từ môi trường sống chi phối ngôn ngữ, văn hóa và tư duy của người Việt Mặc
dù có thể khi ứng xử ngôn ngữ, người ta không nhận thức điều này một cách rõ ràng Nhưng đó chính là cơ sở nền tảng để “sông nước” trở thành một trong những miền chủ đạo của ca dao Nam Trung Bộ hay tư duy con người Nam Trung Bộ nói riêng và cả dân tộc Việt Nam nói chung Một số đặc điểm của ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” đặc trưng trong ca dao Nam Trung Bộ cũng được luận văn mạnh dạn chỉ ra góp
Trang 26phần xác nhận thêm những phổ niệm trong ngôn ngữ, nhưng đồng thời cũng phần nào cho thấy nét riêng biệt, độc đáo trong tri nhận của con người về sông nước
Từ những đóng góp trên, luận văn mong muốn rằng kết quả từ nghiên cứu này có thể ứng dụng vào thực tiễn dạy học Ngữ văn, nghiên cứu về ca dao nói chung và ca dao Nam Trung Bộ nói riêng; từ đó phần nào có thể đóng góp vào bình diện nghiên cứu ngôn ngữ phạm trù “sông nước” trong tư duy người Việt
1.3 Bên cạnh những điều đã làm được, với chúng tôi, luận văn vẫn còn tồn tại một số vấn đề cần nghiên cứu thêm
Một là, quá trình nghiên cứu mô hình ẩn dụ ý niệm miền “sông nước” trong ca dao Nam Trung Bộ, đặc biệt xét từ miền đích còn tồn tại một số ẩn dụ bậc dưới Tuy nhiên, luận văn chưa thể tổng kết một cách đầy đủ hoặc chưa thể quan sát một cách thấu đáo các ẩn dụ này
Hai là, ca dao Nam Trung Bộ ra đời sau so với ca dao của các vùng đất khác nên về cơ bản chịu ảnh hưởng rất nhiều từ tư duy, cách thể hiện, sự lựa chọn ngôn ngữ từ vốn ca dao đã có Đồng thời, tính thống nhất trong tâm lí dân tộc của người Việt là khá cao Chính vì thế, việc tìm ra những ẩn dụ riêng, nổi bật chưa thực sự được làm rõ; chủ yếu vẫn còn mang tính chung của cả cộng đồng
Theo suy nghĩ của chúng tôi, trong thời gian tới nếu có thể triển khai tiếp tục các nghiên cứu theo hướng bao quát ngữ liệu, nhất là các ngữ liệu văn học được rút ra từ tri thức dân gian đến hiện đại của các vùng miền khác nhau; từ đó sự so sánh, đối chiếu chắc chắn sẽ được chỉ
rõ hơn; đồng thời hệ thống các ẩn dụ sẽ trở nên phong phú, đa dạng và nhiều chiều Đó cũng sẽ là định hướng cho sự phát triển tiếp theo của vốn ngôn ngữ dân tộc và sự sáng tạo trong ngôn ngữ văn chương trong tương lai