1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế webside hỗ trợ dạy học theo chủ đề chương dòng điện trong các môi trường lớp 11 THPT ban nâng cao

111 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 4,99 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, đây lại là chương có ít các bài tập đòi hỏi có tính toán phức tạp, phù hợp với việc tổ chức quá trình tự học cho HS, các bài trong chương được trình bày có cấu trúc khá thống n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nghiêm Minh Uyên

THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ

DẠY HỌCTHEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG” LỚP 11 THPT

BAN NÂNG CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Nghiêm Minh Uyên

THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG” LỚP 11 THPT

BAN NÂNG CAO

Chuyên ngành: Lý luận và Phương pháp dạy học môn Vật lý

Mã số: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS MAI VĂN TRINH

Thành phố Hồ Chí Minh – 2009

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Đầu tiên chúng tôi xin chân thành cảm ơn quý thầy giáo,

cô giáo phòng Khoa học Công nghệ và Sau đại học, Ban chủ

nhiệm khoa Vật lý và tổ bộ môn Phương pháp giảng dạy Vật

lý trường Đại học Sư Phạm TP Hồ Chí Minh, cùng trường THPT

Nguyễn Thị Diệu - TP HCM

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với

PGS.TS Mai Văn Trinh, người đã tận tình hướng dẫn, động

viên và giúp đỡ tác giả trong suốt thời gian nghiên cứu và

hoàn thành luận văn Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn

các thầy giáo, cô giáo đã trực tiếp giảng dạy, giúp đỡ trong

suốt thời gian học tập ở trường ĐH Sư Phạm TP Hồ Chí Minh

Cuối cùng tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia

đình, bạn bè và những người thân yêu đã động viên, giúp đỡ

để tác giả hoàn thành luận văn này

Nghiêm Minh Uyên

Trang 4

CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

Trang 5

MỞ ĐẦU

I Lí do chọn đề tài

Ngày nay, đất nước ta đang bước vào giai đoạn hội nhập, nền kinh tế chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của nhà nước Thế giới cũng đang bước vào kỉ nguyên phát triển nhanh chóng vượt bậc của khoa học kĩ thuật và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin Điều này đòi hỏi đội ngũ nhân lực có trình độ văn hóa chuyên môn cao, có khả năng tư duy sáng tạo, tự định hướng và tự học để đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và sản xuất

Trước tình hình đó đòi hỏi nền giáo dục của nước ta phải đổi mới mạnh mẽ, sâu sắc và toàn diện để đáp ứng nhu cầu của xã hội về nguồn nhân lực

Định hướng đổi mới giáo dục đã được xác định trong Nghị quyết Quốc hội khóa X (2000), được thể chế hoá trong Luật Giáo dục, được cụ thể hoá trong các chỉ thị, đặc biệt chỉ thị số 14 (4 – 1999) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, được vạch rõ trong chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010 (2001) Trong quyết định số 16/2006 của bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc trưng môn học, đặc điểm đối tượng học sinh, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho học sinh phương pháp tự học, khả năng hợp tác; rèn luyện kĩ năng vận dụng vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho học sinh”

Một trong những vấn đề mà ngành Giáo dục và Đào tạo quan tâm hiện nay

là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các trường phổ thông, tích cực thực hiện nhiệm vụ để năm học 2008-2009 là “Năm học Công nghệ thông tin” và đến năm

2010 đạt được mục tiêu phổ cập kiến thức, kỹ năng sử dụng máy vi tính và Internet đến 100% học sinh trung học phổ thông

Hiện nay, giáo dục ở nước ta mặc dù đã thực hiện cải cách toàn diện từ mục tiêu, chương trình, nội dung cũng như phương pháp dạy học nhưng kết quả đạt được vẫn còn nhiều hạn chế Hạn chế lớn nhất là đổi mới còn chưa đồng bộ, có sự mâu thuẫn giữa mục tiêu đào tạo và nội dung đào tạo; giữa PPDH với chương trình sách giáo khoa; giữa mục tiêu, nội dung, PPDH với nền tảng kiến thức người học, phương tiện kiểm tra đánh giá và điều kiện cơ sở vật chất…

Trang 6

Hiện nay trên thế giới, nội dung chương trình đang có xu hướng tích hợp theo chủ đề học tập Cách tiếp cận dạy học theo chủ đề với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin vào dạy học đang được quan tâm đặc biệt Đổi mới phương pháp dạy học với sự hỗ trợ của CNTT cũng đang hứa hẹn sẽ thay đổi một cách căn bản nền giáo dục trên thế giới Có thể nói tư tưởng cốt lõi của đợt đổi mới này là “dạy học hướng vào người học”, hướng tới học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động trước đây

Khi tìm hiểu cấu trúc, nội dung kiến thức và thực trạng dạy học chương

“Dòng điện trong các môi trường” ở lớp 11 THPT Ban nâng cao chúng tôi nhận thấy:

- Chương này chủ yếu đưa ra các mô hình lý thuyết để giải thích đặc tính dẫn điện trong các môi trường Tuy nhiên, tính trực quan của các mô hình được trình bày trong SGK còn hạn chế, gây khó khăn cho GV và HS trong quá trình dạy học

- Phần kiến thức của chương khá nặng về lý thuyết trong khi những ứng dụng

có liên quan còn tương đối ít nên không gây hứng thú học tập cho HS

Thực tế cho thấy việc ứng dụng CNTT trong DH mà đặc biệt là sử dụng MVT, mạng Internet, Website có thể khắc phục những khó khăn trên và nâng cao chất lượng DH Mặt khác, đây lại là chương có ít các bài tập đòi hỏi có tính toán phức tạp, phù hợp với việc tổ chức quá trình tự học cho HS, các bài trong chương được trình bày có cấu trúc khá thống nhất, phù hợp liên kết thành một chủ đề học

tập và áp dụng các PPDH tích cực hiện nay

Trước tình hình thế giới và đất nước hiện nay, cùng với mong muốn nâng

cao chất lượng dạy học ở THPT, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu là “THIẾT

KẾ WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG” LỚP 11 THPT BAN NÂNG CAO”

II Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu thiết kế và sử dụng Website nhằm hỗ trợ dạy học theo chủ đề khi dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” lớp 11 THPT Ban nâng cao

từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 7

- Phương pháp dạy học vật lý ở trường THPT

- Thực nghiệm sư phạm ở một số lớp 11 để đánh giá khả năng vận dụng của

đề tài tại trường THPT Nguyễn Thị Diệu TP HCM

IV Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế và sử dụng Website hỗ trợ dạy học theo chủ đề một cách hợp

lý khi dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” lớp 11 THPT Ban nâng cao thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn

V Nhiệm vụ nghiên cứu

- Tìm hiểu mục tiêu dạy học vật lý ở trường THPT

- Nghiên cứu cơ sở lý luận của dạy học theo chủ đề

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc sử dụng máy vi tính trong dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng

- Nghiên cứu cơ sở lí luận của việc thiết kế Website hỗ trợ dạy học vật lý

- Tìm hiểu và khảo sát việc giảng dạy kiến thức của chương “Dòng điện trong các môi trường” lớp 11 THPT Ban nâng cao tại trường THPT Nguyễn Thị Diệu

- Xây dựng tiến trình dạy học theo mô hình dạy học theo chủ đề với sự hỗ trợ của Website

- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở trường THPT nhằm xác định mức độ phù hợp, tính khả thi, hiệu quả sư phạm của việc vận dụng mô hình dạy học theo chủ

đề với sự hỗ trợ của Website

VI Phương pháp nghiên cứu

1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, nhà nước và các thông tư, chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo

- Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, lý luận và phương pháp

Trang 8

2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

- Thiết kế Website hỗ trợ dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” theo hướng hỗ trợ dạy học theo chủ đề

- Thiết kế tiến trình dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường”

3 Thực nghiệm sư phạm ở trường THPT

Tổ chức thực nghiệm sư phạm, tiến hành thực nghiệm có đối chứng để đánh giá hiệu quả sử dụng Website hỗ trợ dạy học chủ đề khi dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” sách vật lý 11 THPT Ban nâng cao

4 Thống kê toán học

Dùng phương pháp thống kê kiểm định để xử lý kết quả thực nghiệm sư phạm Qua đó khẳng định giả thuyết sự khác biệt giữa kết quả học tập của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm từ đó khẳng định kết quả nghiên cứu của đề tài

VII Cấu trúc luận văn

Luận văn được cấu trúc như sau:

PHẦN MỞ ĐẦU

PHẦN NỘI DUNG:

Chương I Cơ sở lý luận của việc thiết kế và sử dụng Website hỗ trợ dạy

học theo chủ đề

Chương II Thiết kế website hỗ trợ dạy học theo chủ đề chương “Dòng

điện trong các môi trường”

Chương III Thực nghiệm sư phạm

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

VIII Những đóng góp của đề tài

Đề tài góp phần xây dựng và củng cố thêm cơ sở lý luận của dạy học theo

Trang 9

chủ đề, khẳng định việc áp dụng mô hình dạy học này là khả thi, góp phần đổi mới phương pháp DH ở THPT hiện nay

Đề tài góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học của việc sử dụng MVT với Website làm PTDH vật lý để nâng cao chất lượng DH, bước đầu khẳng định tính tích cực của việc sử dụng Website làm PTDH

Đề tài đã khẳng định việc sử dụng Website dạy học như một PTDH hiện đại

để hỗ trợ quá trình DH của GV và HS là hoàn toàn hợp lý, phù hợp với lý luận và thực tiễn cũng như với mục tiêu giáo dục ngày nay

Thiết kế Website DH có khả năng hỗ trợ tốt cho quá trình dạy học theo chủ

đề chương “Dòng điện trong các môi trường” Đề tài cũng đề xuất tiến trình dạy học theo chủ đề với sự hỗ trợ của Website, góp phần nâng cao chất lượng DH vật

lý ở trường THPT

Trang 10

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC THIẾT KẾ VÀ SỬ DỤNG WEBSITE HỖ

TRỢ DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ

1.1 Tình trạng và định hướng đổi mới phương pháp dạy học vật lý ở THPT hiện nay

Hiện nay, các trường THPT trên cả nước rất chú trọng việc đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực của HS Tuy nhiên, theo thực tiễn nghiên cứu DH ở một số trường THPT thì việc đổi mới PPDH gặp phải một số vấn đề cụ thể:

- Đa số GV vẫn sử dụng phương pháp thuyết trình xen kẽ hỏi đáp để thông báo, giảng giải kiến thức nên chưa phát huy được tính tích cực, tự lực, sáng tạo của

HS

- Việc sử dụng các PTDH hiện đại vào dạy học còn hạn chế, đa số chỉ được

sử dụng trong các tiết dạy tốt, thao giảng…

- Nhiều GV còn ngại đổi mới, chưa thực sự thấm nhuần bản chất, hướng và cách thức đổi mới PPDH, những hiểu biết về cơ sở lý luận của đổi mới PPDH chưa sâu sắc

- HS ít có cơ hội làm việc nhóm hay hợp tác với nhau để giải quyết các vấn

đề về bài học

- Nội dung kiến thức còn ít liên hệ với thực tiễn và đời sống Việc rèn luyện

kĩ năng vận dụng kiến thức môn học, tri thức liên môn vào giải quyết những chủ

đề có tính chất phức tạp, gắn liền với thực tiễn chưa được chú ý

Những vấn đề trên là hệ quả của việc DH để đối phó cho các kì kiểm tra, các kì thi mà ít chú ý đến việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và khả năng vận dụng tri thức vào thực tiễn của HS, điều này đã phần nào ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu giáo dục hiện nay

Việc đổi mới giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đổi mới đồng bộ từ mục tiêu, nội dung, phương pháp, PTDH đến cách thức đánh giá kết quả DH, trong đó trọng tâm là đổi mới PPDH

Đổi mới không có nghĩa là gạt bỏ các PPDH truyền thống mà cần kế thừa,

Trang 11

phát huy mặt tích cực của hệ thống PPDH đã quen thuộc, đồng thời học hỏi, vận dụng một số PPDH mới, phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện dạy và học ở nước ta để giáo dục từng bước tiến lên vững chắc Đặc biệt trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, các PPDH tích cực có thể sử dụng CNTT để nâng cao chất lượng và hiệu quả của quá trình dạy học

1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo chủ đề trong dạy học vật lý

1.2.1 Cơ sở của việc dạy học theo chủ đề

1.2.1.1 Cơ sở sinh học

Theo những nghiên cứu sinh lý, thần kinh cho thấy mỗi cá nhân đều có một phong cách học tập và tư duy khác nhau là do con người khi sinh ra có thể phát triển trội (hoặc cân bằng) các chức năng của bán cầu não trái hay phải

Não trái là trung tâm điều khiển các chức năng trí tuệ như: Ghi nhớ, ngôn ngữ, lý luận, tính toán, xắp xếp, phân loại, viết, phân tích và tư duy logic, còn não phải là trung tâm kiểm soát các chức năng như: Trực giác, ngoại cảm, thái độ, xúc cảm, liên hệ về thị giác và không gian, cảm nhận âm nhạc, nhịp điệu, vũ điệu, các hoạt động phối hợp thể lực, các quá trình tư duy tổng hợp và tư duy suy diễn Các chức năng não trái có đặc điểm là tuần tự hệ thống trong khi não phải là ngẫu hứng, tản mạn Não trái có thể ghép các mảnh rời thành tổng thể thì não phải lại nhìn thấy cái tổng thể trước Tư duy não trái là tố chất phát triển trí thông minh còn não phải là tố chất của óc sáng tạo

Giáo dục có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển tiếp theo của các bán cầu não Do đó nhiệm vụ của dạy học là làm thế nào để HS được phát triển cân bằng các chức năng tư duy của cả hai nửa bán cầu não, tạo điều kiện để chúng phối hợp tốt với nhau bởi vì chức năng của cả hai nửa bán cầu não đều là những tiền đề cần thiết để giúp mỗi người thành công trong các lĩnh vực khác nhau

Để tất cả HS dù thuận não trái hay phải, dù có phong cách học tập khác nhau đều có cơ hội tham gia tích cực vào hoạt động học, đều có cơ hội phát triển toàn diện thì phải tạo điều kiện cho đặc điểm tâm lý riêng biệt của từng học sinh có thể bộc lộ, phát triển trong cả 3 giai đoạn của quá trình học tập:

- Giai đoạn 1: Tiếp nhận thông tin: Nghe, nhìn, đọc…

- Giai đoạn 2: Xử lý thông tin:

Trang 12

Xử lý phân tích (não trái)

Xử lý tổng hợp

Xử lý khái quát hóa (não phải)

- Giai đoạn 3: Vận dụng thông tin: Nói, viết, các hoạt động ngoài ngôn ngữ

(các hoạt động này làm tăng khả năng lưu giữ thông tin từ 20% lên 90%)

Các mô hình dạy học tích cực ngày nay luôn cố gắng tạo điều kiện cho HS trải qua cả 3 giai đoạn của quá trình học tập Trong đó giai đoạn 3 rất quan trọng giúp phát huy phong cách học tập đa dạng, tư duy ngẫu hứng, tưởng tượng phong phú, khả năng sáng tạo, giúp các chức năng của cả hai bán cầu não được phát triển cân bằng

1.2.1.2 Cơ sở tâm lý học

Theo lý thuyết kiến tạo, hoạt động học được xác định là quá trình con người kiến tạo, người học dựa trên những tài liệu học tập để lựa chọn thông tin, xử lý thông tin dựa trên vốn kiến thức đã có và bổ sung thêm những thông tin cần thiết

để xây dựng kiến thức cho chính họ Do đó hoạt động của giáo viên được coi là nhằm tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của HS GV không cung cấp tri thức đã có sẵn cho HS mà hướng dẫn, khuyến khích để các em khám phá tri thức, thực hiện những nhiệm vụ học tập HS mới thực sự là trung tâm của quá trình học, thực sự chủ động khám phá tri thức mới

Lý thuyết kiến tạo cũng cho rằng hoạt động học sẽ hiệu quả hơn nếu người học có thể tham gia tích cực Chính vì vậy GV cần xây dựng môi trường có khả năng thúc đẩy người học tự điều khiển hoạt động học của bản thân họ HS cần được phép có những lựa chọn cá nhân tự kiểm soát kế hoạch học tập và tự đưa ra mục đích cho mỗi hành động học của mình Bên cạnh đó, GV nên cung cấp những nhiệm vụ học tập vừa sức với HS để khuyến khích khả năng hoạt động tích cực và hợp tác của HS khi giải quyết các vấn đề học tập

Lý thuyết kiến tạo cho rằng: Mọi người không phân biệt lứa tuổi, học tốt nhất bằng cách: Thu thập thông tin mới, suy nghĩ về nó và làm việc theo nhiều cách khác nhau Những hướng dẫn trực tiếp sẽ được giảm tối thiểu, thay vào đó là tạo cơ hội cho người học thăm dò, thí nghiệm, chia sẻ ý kiến, tạo cơ hội và cung cấp các tài liệu khác nhau để HS tự lực và hợp tác xây dựng hiểu biết của mình

Trang 13

Ngoài ra việc GV khuyến khích sự tự đánh giá, nhận xét và tự khen thưởng

sẽ giúp tăng khả năng tự điều chỉnh trong học tập ở HS

Như vậy, những phương pháp dạy học dựa trên lý thuyết kiến tạo giúp phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phát triển kỹ năng sống (giao tiếp, hợp tác…), áp dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn đích thực của cuộc sống

1.2.1.3 Cơ sở thực tiễn

Hiện nay trên thế giới, việc tích hợp nội dung môn học theo chủ đề được quan tâm phát triển và coi là giải pháp thích hợp đã được thực tế giáo dục ở nhiều nước khẳng định để giải quyết mâu thuẫn giữa sự bùng nổ thông tin, yêu cầu của thực tiễn với thời gian giáo dục và khả năng nhận thức có hạn của HS Trong đó chương trình được thiết kế nhằm tạo cơ hội và cung cấp tài liệu để HS tự xây dựng những hiểu biết của mình về những khái niệm khoa học khác nhau, gắn các chủ đề học tập với các hoạt động thực tiễn trong cuộc sống Các bài học không chỉ bó hẹp trong không gian lớp học, trong thời lượng tiết học mà được tích hợp thành chủ đề học tập mang tính tổng quát và thực tiễn hơn, nâng cao chất lượng cho các bài học

Như vậy, việc xây dựng các chủ đề học tập là xu thế mới để đổi mới nội dung và PPDH ở nhà trường phổ thông Việt Nam mà ta phải quan tâm Do đặc thù của chương trình các môn học THPT ở Việt Nam, việc xây dụng chủ đề học tập chỉ trong phạm vi một môn học, cụ thể ở đây là môn vật lý, trong đó có chú trọng tính liên môn, liên lĩnh vực

1.2.2 Dạy học theo chủ đề

1.2.2.1 Thế nào là dạy học theo chủ đề?

Dạy học theo chủ đề không phải là phương pháp mà có thể coi nó như một cách tiếp cận chương trình, một cách xây dựng cấu trúc hệ thống kiến thức, tổ chức các chủ đề học tập cho phù hợp với nhiều phong cách học tập khác nhau của HS

Trong mô hình dạy học này, kiến thức được tổ chức lại thành một chủ đề, trong đó các khái niệm, các nội dung có mối liên hệ phong phú, nhiều chiều với nhau, làm cho kiến thức không bị rời rạc mà trở thành một thể thống nhất Tổng thể kiến thức đó được định hướng bằng một hệ thống các câu hỏi từ cụ thể đến khái quát mà việc trả lời tốt các câu hỏi giúp cho quá trình DH đạt được mục tiêu giáo dục với chất lượng và hiệu quả cao

Trang 14

Trong dạy học theo chủ đề, HS đóng vai trò trung tâm của quá trình DH

HS tự học, tự tìm ra kiến thức mới với sự hỗ trợ của tài liệu, của nhóm học tập và của GV thông qua việc giải quyết các vấn đề, nhiệm vụ học tập của chủ đề học tập Việc học của các em trở nên có ý nghĩa, có giá trị vì nó được được kết nối với thực

tế và giúp các em rèn luyện kĩ năng sống cần thiết như: Làm việc hợp tác nhóm, giao tiếp, ngôn ngữ (trong quá trình trao đổi, tranh luận…), tổ chức, quản lý nhóm, giải quyết vấn đề, ra quyết định…

Trong dạy học theo chủ đề, GV đóng vai trò là người hướng dẫn, tổ chức quá trình dạy học GV có thể vận dụng một cách linh động, sáng tạo các PPDH tích cực hiện nay để phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phát huy được kiến thức, kinh nghiệm của HS, phát huy tinh thần hợp tác trong cộng đồng lớp học, dần dần hình thành nhân cách người lao động tự chủ, năng động, sáng tạo đáp ứng nhu cầu xã hội ở hiện tại và tương lai

Tóm lại, dạy học theo chủ đề là mô hình dạy học kết hợp giữa truyền thống

và hiện đại, không những coi trọng việc lĩnh hội một nội dung kiến thức nền tảng

mà còn quan tâm chủ yếu đến việc sử dụng kiến thức và sự hiểu biết cá nhân có được từ nhiều nguồn vào việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nhắm tới lĩnh hội một hệ thống kiến thức có tính tích hợp cao, tinh giản, có tính thực tiễn và nhiều mục tiêu giáo dục tích cực khác

1.2.2.2 Mục tiêu của dạy học theo chủ đề

Dạy học theo chủ đề hướng tới các mục tiêu:

- HS có một tổng thể kiến thức tinh giản, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và liên hệ với thực tiễn Thậm chí, HS có thể phát triển hiểu biết vượt qua khỏi nội dung cần học do quá trình tìm hiểu, xử lý thông tin

- Phát triển tư duy bậc cao (vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá) thông qua việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, từ đó phát triển tư duy suy luận, khả năng tổ chức kiến thiết và tiếp nhận thông tin một cách có chọn lọc, có phê phán

- HS được rèn luyện các kĩ năng tiến trình khoa học: Quan sát, thu thập dữ liệu, xử lý (so sánh, sắp xếp, phân loại, liên hệ thông tin), suy luận, rút ra kết luận

và áp dụng thực tiễn Khi giải quyết các vấn đề học tập giúp HS phải nắm được tiến trình khoa học của việc giải quyết vấn đề, đây là những việc tất yếu phải làm

Trang 15

khi chúng ta phải đối diện với những vấn đề khác nhau trong thực tiễn cuộc sống

- Hướng tới bồi dưỡng các kĩ năng sống: Làm việc với thông tin, giao tiếp, ngôn ngữ, hợp tác, quản lý, tổ chức… Hình thức tổ chức học tập theo nhóm của dạy học theo chủ đề giúp HS rèn luyện các kĩ năng sống rất cần thiết cho sự thành công của con người trong thời đại mới

Ta thấy dạy học theo chủ đề và dạy học truyền thống mặc dù có sự khác biệt lớn về mục tiêu đạt được nhưng vẫn có điểm tương đồng ở chỗ đều coi trọng việc lĩnh hội một dung lượng kiến thức nền tảng Điều này giúp cho dạy học theo chủ đề trở thành mô hình dạy học có thể vận dụng vào thực tiễn dễ dàng hơn những mô hình dạy học tích cực khác Tuy nhiên, cũng cần phải thấy kiến thức một chủ đề mà HS học để đạt được mục tiêu trên thì phải tổ chức lại một số bài học thành một chủ đề được cho là tốt hơn, có ý nghĩa và gần gũi hơn với thực tiễn

mà HS đang sống so với cách trình bày theo từng đơn vị kiến thức cụ thể, trong đó nội dung các bài học tương đối độc lập như sách giáo khoa hiện nay

1.2.2.3 Áp dụng dạy học theo chủ đề vào thực tiễn dạy học ở THPT

Chương trình vật lý THPT hiện nay được xây dựng theo từng chủ đề lớn:

Cơ học, Nhiệt, Điện-Từ, Quang học…, từng chủ đề này lại được chia thành các chủ đề nhỏ hơn Tiếp theo, các chủ đề nhỏ hơn này lại được chia nhỏ hơn nữa thành những đơn vị kiến thức tương đối độc lập, được xắp xếp theo một trật tự tuyến tính để đảm bảo tính hệ thống, tính khoa học, tính vừa sức, tính sư phạm, để

có thể giải quyết trong 1-2 tiết học Cấu trúc chương trình học như vậy rất phù hợp với hình thức dạy học theo lớp-bài như hiện nay, dẫn đến sự rời rạc của kiến thức trong một chủ đề, mối liên hệ giữa các khái niệm học không được duy trì và đảm bảo tốt Trong khi đó, dạy học theo chủ đề đòi hỏi tổ chức lại nội dung học theo hướng tích hợp liên môn, làm cho kiến thức có mối liên hệ chặt chẽ với nhau hơn, thể hiện mối liên hệ nhiều chiều và liên hệ với thực tiễn, điều này giúp cho HS có một tổng thể kiến thức bền vững và có giá trị sử dụng

Dạy học theo chủ đề không chỉ áp dụng các PPDH tích cực mà còn có sự

tổ chức lại nội dung học tập theo chủ đề, đổi mới cách thức tổ chức học tập, cách thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS Việc vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề là sự chuyển đổi từng bước từ mô hình dạy học truyền thống sang mô

Trang 16

hình dạy học tích cực Tuy nhiên, khi áp dụng vào thực tiễn DH vật lý ở THPT hiện nay cũng có những ưu điểm và hạn chế nhất định

HS có thể đạt được trình độ nhận thức ở mức độ cao: Vận dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá ngay trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập

Kết thúc một chủ đề, HS có một tổng thể kiến thức mới tinh giản, chặt chẽ Hiểu biết của HS luôn vượt ra ngoài khuôn khổ nội dung cần học do quá trình tìm kiếm xử lý thông tin ngoài nguồn tài liệu chính thức của HS

Dạy học theo chủ đề tận dụng tối đa kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng sẵn có của HS có liên quan đến kiến thức của chủ đề học tập và khuyến khích khả năng

“có thể biết nhiều hơn thế” của HS về một vấn đề mới để giảm tối đa thời gian và

sự thụ động của HS

Bồi dưỡng các kĩ năng sống, làm việc theo nhóm, hợp tác nhóm của HS Kiến thức có mối liên hệ mạng lưới nhiều chiều, có sự tích hợp nội dung học với ứng dụng kĩ thuật và đời sống làm cho bài học có ý nghĩa hơn, hấp dẫn hơn

Tận dụng tối đa các phương tiện, công cụ học tập xung quanh HS đặc biệt CNTT

Trang 17

chương trình học và có nhiều phương án trả lời khác nhau, ở mức độ khác nhau,

GV khó đưa đến cho HS câu trả lời thỏa đáng

1.2.2.4 Các bước chuẩn bị và thực hiện dạy học theo chủ đề

Điều cần làm để vận dụng mô hình dạy học theo chủ đề vào thực tiễn phổ thông hiện nay là phải tổ chức lại một số bài học thành một chủ đề có sự liên hệ tốt hơn giữa các khái niệm trong chủ đề, chú trọng sự tích hợp liên môn có ý nghĩa và gần gũi hơn với thực tiễn mà học sinh đang sống so với SGK hiện nay

Bước 1: Lựa chọn chủ đề

Chủ đề được lựa chọn và xây dựng bắt nguồn từ thực tiễn mà HS đang sống, tạo hứng thú ở HS bằng sự liên quan, tính thiết thực của chủ đề học, kích thích sự hứng thú thực sự của HS khi tìm hiểu, xử lý các thông tin khoa học và đời sống từ các nguồn khác nhau để cùng giải quyết vấn đề đặt ra Khi đó kiến thức cốt lõi được khéo léo đưa vào để trở thành kiến thức chìa khóa mà HS phải nắm được khi tham gia nghiên cứu chủ đề Do đó không phải tất cả nội dung chương trình học hiện nay đều phù hợp với mục tiêu dạy học theo chủ đề Trong chương trình vật lý THPT hiện nay, một số nội dung cho thấy có sự phù hợp:

Chủ đề: Công – Năng lượng

Chủ đề: Dòng điện trong các môi trường

Chủ đề: Từ trường và cảm ứng điện từ

Chủ đề: Chất khí

Bước 2: Thiết lập bộ câu hỏi định hướng

Sau khi chọn được chủ đề cần xây dựng bộ câu hỏi định hướng, đây là một nhiệm vụ quan trọng vì nó là cơ sở định hướng cho việc dạy của GV và việc học của HS Để trả lời được bộ câu hỏi định hướng HS phải tổ chức lại nội dung học, phải suy luận và thực hiện các nhiệm vụ học tập, giải quyết vấn đề, cũng có nghĩa

là hoàn thành mục tiêu của quá trình dạy học Bộ câu hỏi định hướng mà GV đưa

ra có tác dụng dẫn dắt HS nắm được trọng tâm của bài và liên kết hoạt động của

HS

Bộ câu hỏi định hướng gồm các câu hỏi có mức độ khái quát tăng dần, có mức độ từ dễ đến khó, phù hợp mức độ tư duy của HS Bộ câu hỏi định hướng bao

Trang 18

gồm: Câu hỏi khái quát, câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung

Câu hỏi khái quát là những câu hỏi có tính chất mở, có tính khái quát cao nhằm khơi dậy sự thích thú, sự quan tâm và chỉ ra được sự phong phú, đa dạng của một chủ đề Đây là loại câu hỏi mà khi chưa học hết chủ đề người học chưa thể trả lời hoặc trả lời theo nhiều cách khác nhau và còn thiếu tính thuyết phục Khi học xong chủ đề người học vẫn có thể trả lời bằng nhiều phương án, ở nhiều mức độ khác nhau Để trả lời câu hỏi khái quát đòi hỏi nhận thức của người học đạt đến trình độ cao: Phân tích, tổng hợp, đánh giá… Việc trả lời câu hỏi khái quát là hướng tới mục tiêu phát triển hiểu biết và tư duy

Từ câu hỏi khái quát có thể đưa ra nhiều câu hỏi quan trọng khác, tuy nhiên không ra khỏi vấn đề của câu hỏi khái quát Các câu hỏi này được đưa ra để gợi ý, dẫn dắt cho việc trả lời câu hỏi khái quát Câu hỏi gợi ý gồm câu hỏi bài học và câu hỏi nội dung

Câu hỏi bài học là những câu hỏi có mức độ khái quát nhất định, gắn với nội dung bài học cụ thể, gần gũi với thực tế Đây là loại câu hỏi có tính kích thích, gây tranh luận, thu hút sự chú ý và duy trì hứng thú tìm hiểu của HS Trả lời câu hỏi bài học là hướng tới mục tiêu phát triển tư duy ở trình độ cao và phát triển khả năng tổ chức kiến thức của HS

Câu hỏi nội dung là các câu hỏi gợi ý, dẫn dắt, tìm hiểu, thảo luận để trả lời câu hỏi khái quát và câu hỏi bài học Đây là những câu hỏi có thể trả lời rõ ràng bằng một đáp án đúng Trả lời câu hỏi nội dung giúp HS nắm vững từng nội dung học cụ thể, cũng là mục tiêu chủ yếu của chương trình hiện nay hướng tới

Bước 3: Thiết kế tài liệu hỗ trợ

Trong dạy học theo chủ đề GV không dạy toàn bộ nội dung học mà HS phải

tự tìm hiểu nhiều nội dung học dưới sự hỗ trợ của GV và sự hợp tác trong nhóm

Để HS có thể tự tìm hiểu nội dung học và trả lời được các câu hỏi thì GV cần phải

có sự hỗ trợ cần thiết, cung cấp một số nguồn tư liệu học tập: Sách, báo, tranh ảnh, Website hỗ trợ dạy học, tài liệu trên mạng… Việc thiết kế tài liệu hỗ trợ một cách chọn lọc, tinh giản của GV sẽ giúp HS đi đúng hướng, tránh đi quá xa so với câu hỏi đặt ra, giúp cung cấp kiến thức cần thiết để HS sử dụng trong việc trả lời bộ câu hỏi định hướng

Trang 19

1.2.2.5 Hình thức tổ chức dạy học và kiểm tra đánh giá

 Hình thức tổ chức dạy học:

Dạy học theo chủ đề là sự kết hợp giữa cách thức tổ chức học theo lớp truyền thống với học theo nhóm hợp tác nhưng chủ yếu là theo nhóm Lớp học được chia thành các nhóm học tập, các nhóm tiếp nhận nhiệm vụ học tập và cùng nhau hợp tác để thực hiện: Tìm kiếm thông tin, xử lí thông tin, suy luận, tranh luận, ra quyết định… Giáo viên không còn ở vị trí trung tâm của quá trình dạy học, không nhất thiết phải dạy toàn bộ nội dung học trên lớp mà GV trở thành người cộng tác, hướng dẫn HS hợp thức hóa và tổ chức kiến thức Kiến thức mới có thể được cung cấp một cách đúng lúc trong quá trình HS giải quyết vấn đề thực tiễn được giao hoặc được giới thiệu trong khoảng thời gian ngắn thích hợp theo cách dạy truyền thống trước khi HS giải quyết vấn đề hoặc thông qua tài liệu hỗ trợ

Không gian học không chỉ bó hẹp trong lớp học mà có thể mở ra ngoài thực

tế Thời gian học một chủ đề không chỉ gói gọn trong 1, 2 tiết học mà có thể kéo dài một vài tuần tùy theo ý nghĩa, mức độ khó khăn của chủ đề

 Hình thức kiểm tra đánh giá:

Dạy học theo chủ đề kết hợp cả đánh giá kết quả cuối cùng theo kiểu dạy học truyền thống với đánh giá quá trình học của HS Trong đó đánh giá quá trình giúp đánh giá chất lượng, hiệu quả công việc của HS trong quá trình làm việc nhóm, quá trình phát triển của HS

Thông qua các mẫu phiếu đánh giá được chuẩn bị sẵn, GV có thể đánh giá được quá trình học tập ở nhà của HS cũng như quá trình thảo luận trên lớp của các

em, đánh giá khả năng tiếp thu của các em qua các bài kiểm tra trên lớp và sản phẩm mà các em trình bày vào cuối chủ đề Điều đặc biệt là kết quả đánh giá sẽ khách quan hơn vì không chỉ có đánh giá chủ quan của GV mà còn kết hợp với tự đánh giá của HS và đánh giá của các thành viên trong nhóm và các bạn trong lớp học của các em

1.3 Dạy học theo chủ đề với sự hỗ trợ của Website dạy học

1.3.1 Cơ sở của việc sử dụng máy vi tính làm phương tiện dạy học 1.3.1.1 Cơ sở tâm lý học

Theo quan điểm thông tin, quá trình học trải qua 3 giai đoạn: Quá trình tiếp

Trang 20

nhận thông tin, xử lí thông tin, vận dụng thông tin, còn dạy là quá trình phát thông tin và giúp người học thực hiện quá trình trên một cách hiệu quả MVT với Website dạy học đóng vai trò là phương tiện dạy học hiện đại, trong đó sử dụng nhiều dạng thông tin như: Văn bản, hình ảnh, tranh, video…tác động tích cực vào các giác quan của HS làm nâng cao tính trực quan trong giảng dạy giúp kích thích hứng thú học tập MVT cùng với các thiết bị hiện đại khác giúp chuyển đổi, mã hóa, chế biến thông tin để việc tiếp nhận thông tin đạt hiệu quả nhất, giúp dễ dàng tạo tình huống học tập tích cực, giúp hình thành động cơ, thái độ học tập tích cực,

từ đó góp phần phát triển năng lực tư duy bậc cao của HS: Phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa, trừu tượng hóa… từ đó đạt được mục tiêu dạy học Không những thế MVT cũng giúp hình thành ở HS những kĩ năng kĩ xảo cần thiết: Kĩ năng thu thập thông tin từ mạng Internet, kĩ năng xử lí thông tin bằng các phần mềm, chương trình của máy vi tính, kĩ năng trao đổi, truyền đạt thông tin thông qua MVT… là những kĩ năng không thể thiếu của người lao động tương lai

Các công trình nghiên cứu đã cho thấy quan điểm dạy học lấy người học làm trung tâm chỉ đạt được khi người học thực hiện nhiều thao tác trong quá trình tiếp thu tri thức: Đọc, nghe, nhìn, cả nghe lẫn nhìn, thảo luận, trải ngiệm, làm việc, dạy người khác Kiến thức mà HS thu được sau khi học chỉ là 10% qua đọc, 20% qua nghe, 30% qua thấy, 50% qua thấy và nghe, 80% qua nói, 90% qua làm Điều này cũng có nghĩa nội dung bài học chỉ được truyền tới người học dưới dạng văn bản thì người học có thể sẽ kém hứng thú Nhưng nếu tăng giá trị của nguồn thông tin bằng các sử dụng phương tiện trực quan như MVT sẽ góp phần tăng khả năng lĩnh hội và ghi nhớ tri thức một cách chắc chắn

MVT là người thầy có khả năng lặp lại thông tin một cách vô hạn và chính xác nhất, máy vi tính cũng không thiên vị trong đánh giá kết quả học của HS, từ đó tạo điều kiện để hình thành tính trung thực, nỗ lực của các em, tạo cho các em niềm tin trong học tập

Trang 21

nào đó cũng như trình bày ý tưởng sản phẩm của mình

Ở nước ta, từ năm 1993, MVT được đưa vào nhà trường để dạy tin học cho

HS, để quản lý nhà trường và hỗ trợ dạy các môn học khác Đến năm 2000, MVT, đặc biệt là Internet được quan tâm đặc biệt Trong chỉ thị 58/CT-TW ngày 17/10/2000 của Bộ Chính trị nêu rõ: “Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo ở các cấp học, bậc học, ngành học Phát triển các hình thức đào tạo từ xa phục vụ cho nhu cầu học tập của toàn xã hội Đặc biệt tập trung phát triển mạng máy tính phục vụ cho giáo dục và đào tạo, kết nối Internet tới tất cả các cơ

sở giáo dục và đào tạo.”

Cùng với việc đổi mới dạy học, thì việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy đã chứng tỏ được ưu thế của nó Từ đó vai trò, vị trí to lớn của CNTT đối với giáo dục và đào tạo ngày càng được khẳng định

1.3.1.3 Cơ sở lý luận dạy học

Trong quá trình dạy học tích cực, việc cung cấp thông tin, tư liệu cho HS là một việc hết sức quan trọng để HS có thể giải quyết được nhiệm vụ đã đặt ra Do

đó MVT là phương tiện hữu dụng, có thể tạo ra, lưu trữ, hiển thị lại một khối lượng thông tin vô cùng lớn, dễ dàng đáp ứng yêu cầu tự tìm hiểu thông tin Với tư cách là phương tiện dạy học hiện đại, máy vi tính có thể được sử dụng ở mọi chức năng trong quá trình dạy học như: Củng cố trình độ nhận thức xuất phát của HS, xây dựng tri thức mới, ôn luyện, vận dụng tri thức, tổng kết và hệ thống hóa kiến thức, kiểm tra đánh giá trình độ tri thức, kĩ năng của HS

Ngày nay khoa học ngày càng phát triển, khối lượng tri thức mà con người phải tiếp nhận là rất lớn trong khi đó trường học không thể cung cấp cho người học một khối lượng tri thức đủ để họ sử dụng trong cuộc sống và lao động Do đó nhà trường không đơn thuần là nơi cung cấp tri thức nữa mà còn phải dạy cả khả năng khám phá và nghiên cứu để phục vụ việc học tập suốt đời Để làm được điều đó cần tạo ra môi trường học tập thích hợp Trong hoàn cảnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin, đặc biệt là máy vi tính với mạng Internet, Website vừa tạo ra môi trường thông tin khổng lồ, vừa là diễn đàn trao đổi, hợp tác có tính tương tác mạnh, là công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho việc đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay

Trang 22

MVT thể hiện tính ưu việt của nó hơn hẳn các PTDH khác ở chỗ: Ngay tức khắc, theo ý muốn GV, có thể phóng to, thu nhỏ, làm chậm, làm nhanh, dừng lại quá trình đang xảy ra hay chuyển sang nghiên cứu quá trình khác Sử dụng MVT trong vật lý có những ưu điểm:

- Kiến thức được mô tả dưới nhiều hình thức phong phú, kèm theo hình ảnh động có lồng ghép âm thanh gây hứng thú cho HS và hình thành động cơ học tập

- Quá trình thiết lập kiến thức mới được xây dựng chặt chẽ, chính xác, mô phỏng sinh động bằng các phần mềm sẽ giúp HS tin tưởng hơn vào các định luật

đã phát minh, các kiến thức đã phát hiện trong các thời đại trước

- Người học tập trung hơn, tham gia bài học một cách tích cực, nhanh chóng nắm bắt được nội dung bài học, ghi nhớ nhanh chóng và rèn luyện khả năng quan sát, ghi nhớ kiến thức

- Tạo niềm say mê, nghiên cứu, tìm tòi, biến quá trình đào tạo thành quá trình

tự đào tạo

1.3.2 Tình hình ứng dụng CNTT trong đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay

Trong những năm qua cùng với sự đổi mới dạy học ở THPT một cách toàn diện từ mục tiêu, nội dung chương trình, phương pháp, kiểm tra đánh giá…trong

đó phải kể đến việc đổi mới phương tiện dạy học ở các trường học, vì việc tiến hành PPDH hiện đại cần phải kết hợp với các PTDH phù hợp để đem lại hiệu quả cao hơn Cũng chính CNTT đã giúp GV có thể mạnh dạn áp dụng những mô hình dạy học tích cực một các linh hoạt Ở Việt Nam, việc nghiên cứu ứng dụng CNTT

mà đặc biệt là sử dụng MVT, mạng Internet, Website trong dạy học đang được các nhà quản lý giáo dục và GV quan tâm Chất lượng dạy học với sự hỗ trợ của máy

vi tính đã được lý luận và thực tiễn khẳng định Đã có một số luận văn nghiên cứu

sự hỗ trợ của MVT mà cụ thể là Website trong dạy học vật lý như: “Thiết kế Website hỗ trợ dạy học chương “Tính chất sóng của ánh sáng” vật lý 12 THPT” của Lưu Thanh Tú, “Phát huy tính tích cực, tự lực của sinh viên trong dạy học chương “Dòng điện trong các môi trường” thuộc chương trình vật lý cao đẳng sư phạm thông qua thiết kế và sử dụng Website hỗ trợ dạy học” của Huỳnh Thị Kim Thoa, “Nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở trường THPT trong qua việc xây dựng và sử dụng Website hỗ trợ dạy học phần “Dao động và sóng cơ học” lớp 12”

Trang 23

của Lâm Minh Xuân Trường… Tuy nhiên, CNTT dù đóng vai trò quan trọng đến đâu trong dạy học cũng cần phải bám sát vào mục tiêu dạy học và phải dựa vào các

mô hình thiết kế dạy học được xây dựng trên những lý thuyết có đủ độ tin cậy

Hiện nay tình hình ứng dụng CNTT vào trong dạy học có nhiều thuận lợi do được sự quan tâm của các cấp quản lý, do sự sử dụng rộng rãi CNTT trong đời sống (ở Việt Nam năm 2008 có khoảng 4,3-5,1 triệu máy vi tính, số lượng người

sử dụng Internet trên 20 triệu người) Tuy nhiên, việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng có nhiều khó khăn hạn chế:

- Điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế nên nhiều trường có máy vi tính nhưng chưa nối mạng, còn thiếu các thiết bị ngoại vi đi kèm như: Máy chiếu, âm thanh, phòng máy đạt tiêu chuẩn…

- Nhiều GV chưa quan tâm đúng mức tới việc ứng dụng CNTT trong dạy học

- Sự phô diễn của CNTT đôi khi quá mức mà ít quan tâm tới đổi mới PPDH, hình thức tổ chức DH chủ yếu là diễn giảng theo hình thức thông báo - tái hiện

- Trình độ tin học của GV còn chưa đồng đều, thậm chí một số GV không biết sử dụng MVT

1.3.3 Thiết kế và sử dụng Website hỗ trợ DH theo chủ đề

1.3.3.1 Khái niệm Website, Website DH

Website là một tập hợp các trang web, các trang web này không chỉ chứa văn bản mà còn có thể bao gồm cả hình ảnh, âm thanh, video…Các trang web liên kết với nhau và liên kết với các trang web khác tạo ra phương tiện liên lạc mạnh và hiệu quả trên dịch vụ mạng Internet Người truy cập Webite có thể tìm hiểu thông tin chỉ bằng một cái kích chuột để đi từ trang web này đến trang web khác mà không hề giới hạn phạm vi lãnh thổ nào

Website với tư cách là một phần mềm khi sử dụng trong DH giúp khai thác tốt chức năng PTDH của máy vi tính

Website DH được tạo ra để hỗ trợ cho các hoạt động quản lý, đào tạo, giảng dạy, tự học và tham khảo của các nhà quản lý giáo dục, GV và HS Website DH chứa một dung lượng lớn các tài liệu điện tử: Bài giảng điện tử, sách giáo khoa, ôn tập, bài tập, cơ sở khoa học…có thể phục vụ cho mọi giai đoạn của quá trình DH

Tóm lại, Website DH là PTDH hữu hiệu để phổ biến kiến thức, cung cấp

Trang 24

thông tin, có thể coi nó như một lớp học ảo trên MVT hỗ trợ GV tổ chức hoạt động

DH đồng thời là kho dữ liệu khổng lồ để HS nghiên cứu và tự học để đào sâu và

mở rộng kiến thức

1.3.3.2 Các hình thức triển khai sử dụng Website DH

Hiện nay, đa số các trường học đã được trang bị ít nhất một phòng máy kèm theo các phương tiện hỗ trợ như máy chiếu, âm thanh, máy in…, một số trường nối mạng cục bộ và mạng Internet Đây là điều kiện thuận lợi để triển khai việc ứng dụng Website trong DH vật lý dưới các hình thức sau:

- Cài đặt Website lên các máy vi tính cá nhân, hình thức này giúp phổ biến Website trong nhà trường và đến từng HS Hình thức này không đòi hỏi các máy vi tính phải kết nối mạng Internet, giúp các em học tại trường hoặc tại nhà nhưng không khai thác được khả năng siêu liên kết của Internet

- Cài đặt Website lên máy chủ của hệ thống mạng cục bộ của trường học Khi cài đặt lên máy chủ, GV có thể tổ chức hoạt động học tập cho HS tại phòng máy của trường

- Cài đặt Website lên mạng Internet để phổ biến Website trên phạm vi toàn cầu HS có thể học mọi nơi mọi lúc, có thể phát huy tối đa thế mạnh của Internet mang lại

Lựa chọn hình thức triển khai Website trong DH vật lý phải căn cứ vào thực trạng cơ sở vật chất và trang thiết bị DH của nhà trường để tiến hành triển khai cho phù hợp, có thể sử dụng kết hợp nhiều hình thức để mang lại hiệu quả cao nhất

1.3.3.3 Nguyên tắc thiết kế Website DH

Website DH phải được thiết kế dựa trên ý tưởng sư phạm đã được xác định

rõ ràng Vì vậy Website DH cần phải đáp ứng được yêu cầu của lý thuyết DH, vừa phải phát huy thế mạnh Website

Trong Website, mỗi một site đảm nhận hỗ trợ một số chức năng nào đó, tạo điều kiện cho người dạy tổ chức, điều khiển, giám sát hoạt động của người học và phát huy tích tích cực, tự lực, sáng tạo của người học

Việc thiết kế Website DH không đòi hỏi người GV phải là chuyên gia tin học nhưng phải đảm bảo các yêu cầu như: Màu sắc, hình thức trình bày không quá lòe loẹt, giao diện thuận tiện cho người sử dụng…

Trang 25

1.3.3.4 Sử dụng Website hỗ trợ dạy học theo chủ đề

Trong dạy học theo chủ đề, để giúp HS sử dụng kiến thức vào việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, GV phải hướng dẫn HS, tránh đi quá xa khỏi vấn đề cần học tập Vì vậy GV cần phải cung cấp cho HS tài liệu hỗ trợ Trong các loại tài liệu hỗ trợ thì việc thiết kế Website là rất cần thiết bởi thế hệ HS ngày nay tỏ ra rất năng động và quen với sử dụng máy vi tính

Ngoài ra, Website còn hỗ trợ GV trong quá trình thực hiện chủ đề, việc thiết

kế các bài giảng, thí nghiệm mô phỏng… sẽ tạo ra môi trường học tập giúp HS tiếp thu bài học một cách nhanh nhất và dẫn dắt các em làm quen phương pháp học tập hiệu quả hơn

Việc thiết kế Website hỗ trợ dạy học theo chủ đề sẽ định hướng cho HS tìm kiếm tài liệu, tạo động cơ, hứng thú cho HS, khiến HS không bị áp lực bởi việc tìm kiếm thông tin, của việc đọc quá nhiều sách vở

Các thông tin đưa lên Website được chọn lọc, xắp xếp hệ thống, trình bày sinh động, tạo ra nguồn tài nguyên thông tin phong phú, độ tin cậy cao, giúp HS tìm kiếm, thu thập thông tin dễ dàng hơn, đáp ứng nhu cầu tự tìm hiểu thông tin của HS để giải quyết các nhiệm vụ học tập được giao một cách hiệu quả nhất

Trong Website có nhiều site được trình bày với mục đích khác nhau như:

Cơ sở vật lý, giáo án, ôn tập, bài tập, vật lý và đời sống, lịch sử vật lý, từ điển…, chúng đều liên hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau ở cùng một chủ đề học tập “Dòng điện trong các môi trường” Các site này giúp thực hiện các giai đoạn khác nhau của quá trình DH Đặc biệt, Website hỗ trợ rất tốt cho quá trình tự học, tự đánh giá của HS, điều mà với PTDH truyền thống khó thể đạt được

 Sử dụng website hỗ trợ quá trình DH của GV:

Website hỗ trợ GV trong việc minh họa các hiện tượng, quá trình tự nhiên cần nghiên cứu Các thông tin này có tính cập nhật cao và trình bày xắp xếp một các chọn lọc Các thông tin này được trình bày không chỉ dưới dạng văn bản mà còn dưới dạng hình ảnh, âm thanh, video… tạo hứng thú cho HS khi tham gia vào quá trình học tập

Website cung cấp tài liệu cho HS một cách phong phú, sinh động nhất khi tìm hiểu giải quyết vần đề

Trang 26

Website hỗ trợ GV thiết kế những bài giảng tích hợp văn bản, hình ảnh, âm thanh, video… nên tăng tính hấp dẫn của bài học HS không chỉ nghe giảng mà còn có thể xem các thí nghiệm, mô hình mà nếu thực hiện trên lớp thì khó thành công và mất nhiều thời gian

Website hỗ trợ GV trong quá trình ôn tập, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS

Hiện nay nhiều phương pháp DH hiện đại để thành công cần sự hỗ trợ rất lớn từ CNTT, đặc biệt là Website DH

 Sử dụng Website hỗ trợ quá trình học tập của HS:

Hệ thống bài học được thiết kế trên Website giúp HS có thể tự học, rèn luyện kĩ năng độc lập tự chủ trong học tập, kĩ năng tìm kiếm, xử lý, trao đổi thông tin trên Website, từ đó phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập

MVT giúp HS ôn tập, hệ thống hóa kiến thức một cách hiệu quả sau khi học xong

Việc kiểm tra đánh giá ngay trên Website cũng giúp HS nỗ lực phấn đấu để đạt kết quả cao trong học tập

Với việc sử dụng Website trong học tập sẽ giúp HS làm quen với việc tự học theo một trình tự đã được thiết kế sẵn theo ý đồ của GV Từ đó rèn luyện khả năng tự học và học tập suốt đời

HS có nhiều thời gian để giải quyết các nhiệm vụ được giao nếu có tài liệu

hỗ trợ, đặc biệt là Website Website có thể cung cấp thông tin một cách chính xác, nhanh chóng, đa dạng, phong phú, tạo hứng thú cho HS khi tiếp nhận và giải quyết vấn đề

1.4 Kết luận chương I

Qua phân tích cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn cho thấy: Dạy học theo chủ đề

là mô hình dạy học ở đó GV không chỉ truyền thụ kiến thức mà còn hướng dẫn HS

tự lực tìm kiếm thông tin, sử dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề đặt ra Do đó

mô hình dạy học này có thể “khơi dậy và phát huy tối đa năng lực tự học và sáng tạo của người học”, vì thế nó hoàn toàn có thể đáp ứng được các mục tiêu giáo dục phổ thông nói chung và giáo dục môn vật lý nói riêng

Dạy học theo chủ đề với sự hỗ trợ của Website tạo ra môi trường dạy học

Trang 27

khá lí tưởng, phù hợp với việc triển khai vận dụng các PPDH hiện đại theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của HS cũng như mô hình dạy học theo chủ đề

Sử dụng Website trong quá trình học tập sẽ giúp HS làm quen với nguồn tri thức bên ngoài sách giáo khoa, làm quen với kĩ năng làm việc với máy vi tính, biết khai thác, xử lí thông tin từ nhiều nguồn khác nhau để phục vụ tốt nhất cho việc học tập, từ đó bước đầu hình thành thói quen tự học và học tập suốt đời

Với vai trò là PTDH hiện đại, Website có thể được sử dụng dưới nhiều hình thức khác nhau trong QTDH và tỏ ra có nhiều thế mạnh so với PTDH truyền thống Vì vậy sử dụng Website DH làm PTDH hỗ trợ dạy học theo chủ đề là phù hợp với quy luật và sự phát triển PTDH hiện đại Tuy nhiên, Website DH không thể thay thế hoàn toàn PTDH truyền thống và càng không thể thay thế vai trò của người GV trong QTDH

Trang 28

CHƯƠNG II THIẾT KẾ WEBSITE HỖ TRỢ DẠY HỌC THEO CHỦ ĐỀ

CHƯƠNG “DÒNG ĐIỆN TRONG CÁC MÔI TRƯỜNG”

2.1 Phân tích nội dung kiến thức chương “Dòng điện trong các môi trường” lớp 11 THPT Ban nâng cao

2.1.1 Phân tích nội dung chương trình SGK

Chương “Dòng điện trong các môi trường” là chương III thuộc phần một

“Điện học và điện từ học” của SGK vật lí THPT Chương này được phân bố thành năm nội dung chính: Dòng điện trong kim loại, dòng điện trong chất điện phân, dòng điện trong chân không, dòng điện trong chất khí, dòng điện trong chất bán dẫn

Như vậy, chương “Dòng điện trong các môi trường” được tách thành sự dẫn điện của từng môi trường trong các bài học riêng biệt Các bài học này tương đối độc lập để có thể giải quyết trọn vẹn trong một đến hai tiết học Cấu trúc của các bài trong chương cũng khá thống nhất Bắt đầu từ việc đưa ra mô hình cấu trúc tương ứng với môi trường cần nghiên cứu từ đó nghiên cứu lý thuyết về dòng điện trong các môi trường khác nhau Tiếp theo, nghiên cứu sự phụ thuộc của cường độ dòng điện vào hiệu điện thế hay vào các yếu tố khác Cuối cùng là vận dụng thực

tế, chủ yếu là những ứng dụng tiêu biểu, phù hợp với khả năng hiểu biết của học sinh

2.1.2 Phân tích thực trạng dạy học

Cấu trúc chương “Dòng điện trong các môi trường” theo từng bài như SGK rất tiện cho việc so sánh, tinh giản kiến thức sau khi học xong mỗi bài Tuy nhiên, tìm hiểu thực tế DH cho thấy mối liên hệ giữa dòng điện trong các môi trường được trình bày trong SGK khá mờ nhạt, HS học tới những bài cuối chương như bài

“Dòng điện trong chất bán dẫn” thì thường không nhớ những bài trước đó, thậm chí hay nhầm lẫn giữa bản chất, đặc điểm của dòng điện trong các môi trường khác nhau Mặt khác, ở mỗi bài, phần liên hệ kiến thức với thực tiễn chỉ chiếm một phần nhỏ trong bài nên HS hầu như ít có cơ hội vận dụng lý thuyết để lý giải các hiện tượng vật lý trong tự nhiên và đời sống mà thường phải học thuộc lòng và ghi nhớ

Trang 29

máy móc nội dung kiến thức, gây nên sự nhàm chán, học để đối phó ở HS

Ta đã biết bản chất dòng điện trong các môi trường đều liên quan đến chuyển động của các hạt mang điện như electron, ion, lỗ trống Đây là những hạt

vi mô mà ta không thể cảm nhận trực tiếp bằng các giác quan Vì vậy, những quá trình về dòng điện trong các môi trường là rất trừu tượng Để có thể hình dung và nghiên cứu chúng ta phải dựa trên các mô hình để minh họa cho học sinh “thấy được” những gì mà mắt không thể nhìn thấy được Tuy nhiên, không thể hiển thị chính xác điều mà ta muốn thể hiện, đôi khi lại có sự sai lệch rất lớn về kích thước, hình dáng thật dễ gây hiểu lầm, khó khăn đối với học sinh

Ngày nay, dạy học không chỉ truyền đạt những kiến thức mang tính hàn lâm trong sách vở mà cần phải chú ý tính thực tiễn, tính hiệu quả của kiến thức đối với người học Tuy nhiên, trong thực tế giảng dạy chương này giáo viên chủ yếu sử dụng phương pháp thuyết trình, thông báo kiến thức nên học sinh thường tiếp thu kiến thức một cách thụ động

Giáo viên chủ yếu sử dụng các phương tiện dạy học truyền thống như bảng đen, phấn trắng còn các PTDH hiện đại như máy vi tính, máy chiếu… chỉ sử dụng trong các tiết dạy tốt, thao giảng nhưng cũng chỉ mang tính chất minh họa, thay thế dạy học bằng phấn bảng

Bên cạnh những khó khăn trên, ta cũng thấy các ứng dụng của dòng điện trong các môi trường rất phổ biến trong tất cả các lĩnh vực phục vụ đời sống con người trong thời đại ngày nay Chính vì thế, các thiết bị, hiện tượng điện từ lâu đã trở nên gần gũi với cuộc sống con người Vì vậy, GV có điều kiện thuận lợi khi dạy những kiến thức phổ biến này do HS thấy được giá trị thực tiễn của những tri thức mà họ sắp học, tạo động cơ thu hút sự chú ý của các em Đây là cơ sở giúp phát huy tính tự giác, tích cực của HS, tạo điều kiện cho việc áp dụng các PPDH tích cực hiện nay

2.2 Thiết kế chủ đề “Dòng điện trong các môi trường”

2.2.1 Xác định mục tiêu

Về kiến thức:

- Nêu được bản chất dòng điện trong các môi trường

- Nêu được điều kiện cần thiết để có được quá trình dẫn điện trong các môi

Trang 30

trường

- Hiểu và giải thích được đặc tính dẫn điện của từng môi trường

- Nêu được các hiện tượng và ứng dụng của dòng điện trong các môi trường

Về kĩ năng:

- Kĩ năng tự học

- Kĩ năng diễn đạt, hùng biện

- Kĩ năng sử dụng phần mềm PowerPoint để trình chiếu và diễn giải các vấn

2.2.2 Xây dựng bộ câu hỏi định hướng cho chủ đề

Trong mô hình dạy học theo chủ đề, ranh giới giữa các bài trong chương

“Dòng điện trong các mô trường” sẽ không còn HS sẽ cùng lúc tìm hiểu về dòng điện trong các môi trường ở những khía cạnh khác nhau nhờ sự hỗ trợ của GV và

sự định hướng của bộ câu hỏi định hướng

Bộ câu hỏi định hướng giúp nội dung kiến thức của chương được trình bày lại một cách hệ thống, phù hợp Việc HS trả lời được bộ câu hỏi này không chỉ giúp các em đạt được các mục tiêu kiến thức, kĩ năng đã đề ra mà còn có tác dụng định hướng tốt hơn cho hoạt động nhận thức, khai thác tối đa kinh nghiệm trong việc giải quyết các nhiệm vụ học tập, mở rộng phạm vi hiểu biết, phát huy khả năng tự học, sáng tạo, phát triển tư duy bậc cao của HS

Câu hỏi khái quát

Em biết gì về những tiến bộ của khoa học, kĩ thuật, công nghệ trong việc nghiên cứu và vận dụng kiến thức về sự dẫn điện trong các môi trường khác nhau?

Câu hỏi bài học

Trang 31

1 Điều kiện để có hạt tải điện trong các môi trường khác nhau như thế

nào? Tại sao?

2 Cường độ dòng điện trong các môi trường phụ thuộc vào những yếu tố

nào? Tại sao?

3 Việc phát hiện dòng điện trong các môi trường có ý nghĩa như thế nào? Câu hỏi nội dung

CHBH 1: Điều kiện để có hạt tải điện trong các môi trường khác nhau như thế

nào? Tại sao?

Câu 1: Những điều kiện cần thiết nào để cho một môi trường bất kì có thể dẫn

- Chất bán dẫn (bán dẫn tinh khiết, bán dẫn loại n, bán dẫn loại p)

Câu 3: Làm thế nào để tạo ra các hạt tải điện trong các môi trường:

- Kim loại

- Chất điện phân

- Chân không

- Chất khí

- Chất bán dẫn (bán dẫn tinh khiết, bán dẫn loại n, bán dẫn loại p)

Câu 4: Dùng các mô hình, thuyết để giải thích sự dẫn điện trong các môi

CHBH 2: Cường độ dòng điện trong các môi trường phụ thuộc vào những yếu tố

nào? Tại sao?

Trang 32

Câu 1: Ở nhiệt độ xác định, cường độ dòng điện trong các môi trường:

phụ thuộc vào hiệu điện thế như thế nào? (mô tả bằng đồ thị)

Câu 2: Ngoài phụ thuộc vào hiệu điện thế, cường độ dòng điện trong các môi

còn phụ thuộc vào nhiệt độ như thế nào?

Câu 3: Các dạng phóng điện trong không khí phụ thuộc vào áp suất chất khí

và hiệu điện thế (điện trường) như thế nào?

CHBH 3: Việc phát hiện dòng điện trong các môi trường có ý nghĩa như thế nào?

Câu 1: Khi nào xảy ra hiện tượng siêu dẫn, hiện tượng nhiệt điện Hai hiện

tượng này được ứng dụng như thế nào trong thực tiễn?

Câu 2: Trong hiện tượng điện phân, khối lượng chất được giải phóng ở điện

cực được tính bằng công thức nào? Hiện tượng này được ứng dụng như thế nào trong thực tiễn?

Câu 3: Thiết bị phổ biến ứng dụng dòng điện trong chân không là gì? Nêu tóm

tắt cơ chế hoạt động của nó

Câu 4: Người ta đã ứng dụng các dạng phóng điện trong chất khí như thế nào? Câu 5: Phân loại các linh kiện bán dẫn Nêu tóm tắt ứng dụng của các linh kiện

này?

2.2.3 Xây dựng Website hỗ trợ dạy học theo chủ đề

2.2.3.1 Khả năng hỗ trợ dạy học theo chủ đề của Website

Website hỗ trợ dạy học theo chủ đề ở những mặt sau:

Trang 33

- Dẫn dắt học sinh vào hoạt động giải quyết vấn đề bằng cách khai thác, tìm hiểu thông tin trên Website

- Hỗ trợ học sinh trong quá trình tự học, tự kiểm tra đánh giá kết quả học tập một cách chính xác

- Cung cấp tài liệu hỗ trợ cho HS một cách sinh động, ấn tượng dưới dạng văn bản, hình ảnh, video, thí nghiệm ảo…

- Bài giảng được trình bày trên Website có tác dụng tạo hứng thú, tăng cường chú ý và tăng độ bền trí nhớ cho HS Tạo điều kiện cho GV và HS tiếp cận PTDH hiện đại, làm quen với môi trường học tập mới – học tập điện tử

- Website giúp HS truy cập kiến thức nhanh chóng, khả năng tìm kiếm thông tin tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức trao đổi, thảo luận nhóm

- Website cập nhật các sự kiện thực tế liên quan đến nội dung chủ đề học tập, giúp HS tăng cường mối liên hệ giữa lý thuyết với thực tiễn đời sống, kỹ thuật

2.2.3.2 Giới thiệu nội dung và cấu trúc Website

Website hỗ trợ dạy học theo chủ đề chương “Dòng điện trong các môi trường” được xây dựng bằng phần mềm Microsoft Front Page 2003, sử dụng bộ Font Unikey (code Unicode) và các phần mềm hỗ trợ khác như: Microsoft Office

2003 (Word, PowerPoint, Paint…), Flash, Crocodile Physics, MWSnap, Photoshop…

Webite gồm 13 site: Trang chủ, cơ sở vật lý, sách giáo khoa, giáo án, ôn

tập, bài tập, từ điển, hướng dẫn sử dụng, giải trí, trao đổi và góp ý, lịch sử vật lý, vật lý và đời sống Mỗi site thực hiện các chức năng, nhiệm vụ khác nhau nhưng

về cấu trúc thể hiện tính chặt chẽ, hợp lí, bám sát nội dung, cấu trúc chương trình sách giáo khoa hiện hành, đảm bảo tính chính xác về mặt khoa học đồng thời phải ngắn gọn, súc tích, tinh giản, hợp lí

1- Trang chủ

Trên trang chủ thể hiện đầy đủ các site trong Website “Dòng điện trong các môi trường” Từ trang chủ có thể dễ dàng chuyển tới các site khác bằng cách kích chuột vào các nút có tên site tương ứng Từ site đang đọc cũng có thể trở lại trang chủ thông qua liên kết đã thiết lập sẵn

Trang 34

Hình 2.1 Trang chủ

2- Site hướng dẫn sử dụng

Site này giới thiệu và hướng dẫn chi tiết giúp GV và HS dễ dàng sử dụng Website Từ site này, người đọc có thể trở về trang chủ hay đến các site khác thông qua các liên kết đã thiết lập sẵn

Hình 2.2 Site “Hướng dẫn sử dụng”

3- Site cơ sở vật lý

Site “Cơ sở vật lý” gồm các bài viết về dòng điện trong năm môi trường: Kim loại, chất điện phân, chân không, chất khí, bán dẫn Các bài viết này được trích từ sách “Điện học” của tác giả Vũ Thanh Khiết

Nội dung kiến thức được trình bày chi tiết, đi sâu vào bản chất vấn đề hơn

Trang 35

so với sách giáo khoa, nên đây là tài liệu tham khảo hữu ích cho GV, HS khi nghiên cứu các vấn đề về dòng điện trong các môi trường Ngoài ra, nội dung kiến thức được trình bày tinh giản, bám sát nội dung chương trình SGK hiện hành nên phù hợp cho việc chuẩn bị bài giảng của GV cũng như giúp HS mở rộng kiến thức

Để tăng tính trực quan, chúng tôi đã đưa vào phần kiến thức các hình ảnh minh họa, những nội dung kiến thức chính cũng được trình bày dưới dạng sơ đồ, giúp người đọc có cái nhìn tổng quát về chủ đề “Dòng điện trong các môi trường”

Từ sơ đồ được trình bày, người đọc có thể dễ dàng lựa chọn nội dung cần tham khảo bằng cách kích chuột vào tiêu đề tương ứng trong sơ đồ

Hình 2.3 Site “Cơ sở vật lý”

4- Site sách giáo khoa

Site “Sách giáo khoa” thực chất là sự số hóa sách giáo khoa thông thường Song ở đây khả năng trình diễn thông tin (dưới dạng văn bản, hình ảnh, kí hiệu…), tìm kiếm, truy xuất thông tin của tài liệu được tăng cường, đồng thời từ site này có thể dễ dàng liên kết giữa các bài học hay với các tài liệu khác trong Website Với site “Sách giáo khoa” GV và HS có thể tra cứu, tham khảo dễ dàng khi làm việc với nội dung khác trong Website mà không cần phải mang theo SGK

Trang 36

Hình 2.4 Site “Sách giáo khoa”

Bài đầu tiên là bài “Tổng quan” giới thiệu sơ bộ nội dung chủ đề sẽ được giới thiệu ở tiết học đầu tiên của chủ đề Các bài giảng điện tử 1, 2, 3 tương ứng với bộ câu hởi bài học 1, 2, 3, phục vụ cho quá trình giảng dạy của GV một cách hiệu quả với việc sử dụng các hình ảnh, các thí nghiệm ảo, phim minh họa, ảnh động… Các bài giảng điện tử 1, 2, 3 đều có password và được cung cấp cho HS ngay sau khi học xong trên lớp HS có thể về nhà xem lại nội dung đã được học trên lớp và củng cố lại kiến thức

Trang 37

Hình 2.5 Site “Giáo án”

6- Site ôn tập

Site “Ôn tập” tóm tắt kiến thức trọng tâm của dòng điện trong 5 môi trường: Kim loại, chất điện phân, chân không, chất khí, chất bán dẫn Ngoài ra còn có phần tổng kết nội dung kiến thức cho cả chủ đề học tập, trình bày dưới dạng sơ đồ bằng phần mềm PowerPoint Phần tổng kết này giúp GV củng cố kiến thức cho HS sau khi học xong chủ đề HS cũng có thể ôn tập bằng các tự mình điền vào các ô trong

sơ đồ, nếu nắm được sơ đồ này HS sẽ có một hệ thống kiến thức tinh giản, dễ nhớ sau khi học xong chủ đề HS có thể độc lập và chủ động ôn luyện sau khi học xong

lý thuyết, từ đó hình thành thói quen tự học, tự nghiên cứu

Hình 2.6 Site “Ôn tập”

Trang 38

7- Site bài tập

Site này gồm nhiều loại bài tập đa dạng: Bài tập định lượng, định tính, trắc nghiệm, giúp HS có thể độc lập, chủ động ôn luyện, vận dụng kiến thức ngay sau khi học lý thuyết

Phần bài tập định tính bao gồm những câu hỏi vận dụng kiến thức đã học để giải thích, trả lời các hiện tượng, quy luật vật lý Thông qua các câu hỏi này giúp

HS tăng hứng thú học tập, khả năng quan sát, năng lực tư duy, đặc biệt là HS biết vận dụng kiến thức đã học để giải quyết các vấn đề thực tiễn trong đời sống, từ đó thấy được ý nghĩa của quá trình học tập GV cũng có thể sử dụng các câu hỏi này

để đặt vấn đề cho bài học, củng cố và kiểm tra kiến thức của HS

Phần bài tập định lượng bao gồm các dạng bài tập cơ bản giúp làm sáng tỏ nội dung vật lý của các định luật, quy tắc biểu hiện dưới dạng công thức Trong site này trình bày các dạng bài tập cơ bản của chủ đề, GV có thể hướng dẫn chúng cho HS trong tiết bài tập HS có thể tham khảo phần hướng dẫn và tự làm các bài tập tương tự để ôn luyện thêm

Bài tập trắc nghiệm gồm ba bộ câu hỏi tương ứng với ba bộ câu hỏi bài học

mà học sinh được học trên lớp Mỗi bộ gồm 20 câu hỏi trắc nghiệm khác quan, mỗi câu đều có 4 phương án lựa chọn phù hợp với các tiêu chí đánh giá một câu hỏi trắc nghiệm khách quan Khi trả lời các câu hỏi này, HS dễ dàng tự đánh giá kết quả và kiểm tra, bổ sung kiến thức đã học

Hình 2.7 Site “Bài tập”

Trang 39

8- Site từ điển

Site này gồm các thuật ngữ vật lý thường được sử dụng trong chủ đề “Dòng điện trong các môi trường” được sắp xếp theo thứ tự A, B, C… giúp GV và HS tra cứu dễ dàng Đặc biệt có kèm theo tên tiếng Anh của các thuật ngữ vật lý này, giúp người đọc dễ dàng tìm kiếm, tra cứu thông tin, hình ảnh trên Internet với các trang web tiếng Anh

Hình 2.8 Site “Từ điển”

9- Site thư viện dữ liệu

Site này nhằm cung cấp các hình ảnh và các thí nghiệm ảo, các đoạn phim

mô phỏng về hiện tượng, quá trình vật lý Trong site gồm có 13 hình ảnh về: Siêu dẫn, nhiệt kế nhiệt điện, điện phân, mạ điện, đèn ống, đèn compact, tia lửa điện, sét, hồ quang điện, đèn Led, phôtôđiôt, pin mặt trời, tranzito; gồm 11 thí nghiệm

ảo và đoạn phim mô phỏng về: Dòng điện trong kim loại, dòng nhiệt điện, công nghệ siêu dẫn, điện phân, tia catôt, bóng đèn hình, tia lửa điện-sét, điôt, tranzito Chúng được sử dụng để minh họa cho các hiện tượng quá trình vật lý, giúp tăng cường tính trực quan trong DH vật lý GV có thể sử dụng để trình bày, minh họa trong bài giảng điện tử của mình HS cũng có thể dùng chúng cho bài thuyết trình cuối chủ đề cũng như hiểu thêm về các hiện tượng vật lý đã học và những ứng dụng của chúng trong đời sống Đặc biệt trong site này giới thiệu các thí nghiệm ảo bằng phần mềm Crorcodile Physics cho phép HS tương tác để thực hiện thí nghiệm GV cũng có thể sử dụng hai thí nghiệm thực hành khảo sát đặc tính chỉnh

Trang 40

lưu của điôt bán dẫn và đặc tính khuếch đại của tranzito mà không cần phòng thí nghiệm truyền thống

Hình 2.9 Site “Thư viện dữ liệu”

10- Site vật lý và đời sống

Hình 2.10 Site “Vật lý và đời sống”

Site “Vật lý và đời sống” gồm năm bài viết trình bày về các thiết bị, dụng

cụ, kỹ thuật ứng dụng những hiểu biết về dòng điện trong các môi trường như:

- Cấu tạo, chức năng của bugi, cách nhận biết tình trạng động cơ qua bugi

- Bản chất, nguyên nhân, tác hại và cách phòng chống sét

- Cấu tạo, lịch sử phát minh và ứng dụng của đèn ống

- Nguyên lí hoạt động, cấu tạo, ưu điểm của tàu đệm từ

Ngày đăng: 19/06/2021, 16:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w