1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phim thí nghiệm để phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong dạy học hóa học trung học phổ thông

171 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 3,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực như trên, hóa học vẫn có những định hướng đổi mới quan trọng khác, đó là: khai thác tối đa và có hiệu quả đặc thù

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS TRỊNH VĂN BIỀU

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các ý tưởng

và số liệu trình bày trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và kết quả của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kì công trình nào

Học viên Trần Thị Ngọc Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN



Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Phòng Sau đại học, Khoa Hóa học trường ĐHSP TP.Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn tốt đẹp

Xin chân thành cảm ơn quý thầy cô quý thầy cô đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Lý luận và phương pháp dạy học hóa học khóa 25

Đặc biệt, xin gửi lời tri ân đến PGS.TS Trịnh Văn Biều Cảm ơn thầy

đã quan tâm động viên, khuyến khích giúp tôi vượt qua những khó khăn trong quá trình học tập Cảm ơn thầy đã không quản ngại thời gian và công sức, đã hướng dẫn tận tình, cho tôi những lời khuyên bổ ích và vạch ra những định hướng sáng suốt giúp tôi hoàn thành tốt luận văn

Xin gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô và các em HS đã

có nhiều giúp đỡ trong quá trình thực nghiệm sư phạm

Cuối cùng, xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thuộc đã luôn là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực và cố gắng, nhưng sai sót là điều không thể tránh khỏi, rất mong nhận được sự thông cảm và góp ý của quí thầy cô

và các bạn

Thành phố Hồ Chí Minh – 9/2016

Học viên Trần Thị Ngọc Hà

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

Danh mục chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

MỞ ĐẦU 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5

1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Các nghiên cứu về sử dụng phim thí nghiệm trong dạy học hóa học 5

1.1.2 Các nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho HS trong dạy học hóa học 7

1.2 Định hướng đổi mới giáo dục THPT theo hướng tiếp cận năng lực 10

1.2.1 Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông từ chương trình định hướng nội dung sang định hướng năng lực 10

1.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học nhằm chú trọng phát triển năng lực của HS 15

1.2.3 Dạy học theo định hướng năng lực trong môn Hoá học THPT 17

1.3 Thí nghiệm và phim thí nghiệm 19

1.3.1 Thí nghiệm 19

1.3.2 Phim thí nghiệm 21

1.3.3 Một số công cụ hỗ trợ việc tải và chỉnh sửa PTN 23

1.4 Ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ 30

1.4.1 Ngôn ngữ 30

1.4.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ 32

1.5 Cấu trúc năng lực ngôn ngữ của HS THPT khi học tập môn Hóa học 33

1.5.1 Năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt 34

1.5.2 Năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh 35

1.5.3 Năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học 40

Trang 6

1.6 Biểu hiện năng lực ngôn ngữ của HS THPT khi học tập môn Hóa học 43

1.7 Thực trạng sử dụng PTN và phát triển NLNN cho HS trong dạy học hoá học ở một số trường THPT 45

1.7.1 Mục đích điều tra 45

1.7.2 Đối tượng điều tra 45

1.7.3 Phương pháp điều tra 46

1.7.4 Kết quả điều tra 46

SỬ DỤNG PHIM THÍ NGHIỆM ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HOÁ HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 54

2.1 Tổng quan về chương trình hóa học THPT 54

2.1.1 Mục tiêu chương trình hóa học THPT 54

2.1.2 Nội dung và cấu trúc chương trình hóa học THPT 55

2.2 Cơ sở khoa học của việc sưu tầm, lựa chọn và sử dụng PTN để phát triển NLNN cho HS 59

2.2.1 Tác dụng của PTN đến việc phát triển NLNN cho HS THPT 59

2.2.2 Nguồn thông tin, dữ liệu để sưu tầm PTN 62

2.2.3 Nguyên tắc lựa chọn PTN để phát triển NLNN cho HS trong dạy học hoá học 63

2.2.4 Hoạt động của GV và HS khi sử dụng PTN 64

2.2.5 Một số lưu ý khi lựa chọn và sử dụng PTN 65

2.3 Hệ thống PTN phát triển NLNN cho HS 66

2.4 Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng PTN để phát triển NLNN cho HS 70

2.4.1 Biện pháp 1 Thiết kế và sử dụng hệ thống câu hỏi định hướng phù hợp với từng PTN 70

2.4.2 Biện pháp 2 Yêu cầu HS mô tả quá trình diễn biến thí nghiệm 73

2.4.3 Biện pháp 3 Cho HS tiến hành thảo luận, làm việc theo nhóm sau khi xem PTN 75

Trang 7

2.4.4 Biện pháp 4 Giới thiệu trước cho HS những từ tiếng Anh chuyên

ngành quan trọng trong từng PTN 76

2.5 Đánh giá NLNN của HS khi học tập môn Hóa học 79

2.5.1 Cách đánh giá NLNN của HS khi học tập môn Hóa học 79

2.5.2 Quy trình đánh giá NLNN của HS khi học tập môn Hóa học 80

2.5.3 Một số VD 81

2.6 Thiết kế một số giáo án có sử dụng PTN để phát triển NLNN cho HS 89

2.6.1 Giáo án bài 1: “Thành phần nguyên tử” – Lớp 10CB 89

2.6.2 Giáo án bài 38: “Cân bằng hóa học” – Lớp 10CB (tiết 2) 95

2.6.3 Giáo án bài 1: “Sự điện li” – Lớp 11CB 101

2.6.4 Giáo án bài 27: “Nhôm và hợp chất của nhôm” – Lớp 12CB (tiết 2) 105

THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 112

3.1 Mục đích thực nghiệm 112

3.2 Đối tượng thực nghiệm 112

3.3 Quy trình thực nghiệm 112

3.3.1 Chuẩn bị 112

3.3.2 Tiến hành thực nghiệm 113

3.3.3 Tổ chức kiểm tra, chấm điểm 114

3.3.4 Xử lí kết quả thực nghiệm 115

3.4 Kết quả thực nghiệm 117

3.4.1 Kết quả đánh giá về mặt định lượng 117

3.4.2 Kết quả đánh giá về mặt định tính 124

3.5 Một số bài học từ thực nghiệm 125

TÀI LIỆU KHAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

PPDH : phương pháp dạy học PTN : phim thí nghiệm THCS : trung học cơ sở THPT : trung học phổ thông

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung và chương trình

định hướng năng lực 12

Bảng 1.2 Nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực tương ứng 15

Bảng 1.3 Định hướng chuẩn đầu ra về các năng lực chung của chương trình giáo dục THPT 32

Bảng 1.4 Mô tả các năng lực chuyên biệt của môn Hóa học 40

Bảng 1.5 Biểu hiện NLNN của HS THPT khi học tập môn Hóa học 43

Bảng 1.6 Danh sách tên trường và số lượng GV tham gia khảo sát 45

Bảng 1.7 Mức độ cần thiết của viêc sử dụng PTN trong dạy học 46

Bảng 1.8 Mức độ sử dụng PTN trong dạy học 46

Bảng 1.9 Những ưu điểm của PTN trong dạy học 46

Bảng 1.10 Những khó khăn khi sử dụng PTN trong dạy học 48

Bảng 1.11 Mục đích của GV khi sử dụng PTN trong dạy học 49

Bảng 1.12 Đánh giá NLNN của HS THPT khi học tập môn Hóa học 49

Bảng 1.13 Biểu hiện năng lực ngôn ngữ của HS hiện nay 50

Bảng 1.14 Mức độ hiệu quả của các biện pháp nâng cao NLNN cho HS qua việc sử dụng PTN trong dạy học Hóa học 51

Bảng 2.1 Cấu trúc chương trình chuẩn lớp 10 THPT 56

Bảng 2.2 Cấu trúc chương trình nâng cao lớp 10 THPT 56

Bảng 2.3 Cấu trúc chương trình chuẩn lớp 11 THPT 57

Bảng 2.4 Cấu trúc chương trình nâng cao lớp 11 THPT 58

Bảng 2.5 Cấu trúc chương trình chuẩn lớp 12 THPT 58

Bảng 2.6 Cấu trúc chương trình nâng cao lớp 12 THPT 59

Bảng 2.7 Hệ thống PTN phát triển NLNN cho HS THPT 66

Bảng 2.8 Thang đánh giá NLNN của HS 80

Bảng 2.9 Thang điểm bài kiểm tra NLNN của HS lớp 10CB chương 7: Tốc độ phản ứng và cân bằng hóa học 82 Bảng 2.10 Thang điểm bài kiểm tra NLNN của HS lớp 12CB bài 27:

Trang 10

Nhôm và hợp chất của nhôm 87

Bảng 3.1 Danh sách lớp và GV tham gia thực nghiệm 112

Bảng 3.2 Bảng số liệu kết quả đánh giá NLNN trước thực nghiệm 117

Bảng 3.3 Phân loại kết quả đánh giá NLNN trước thực nghiệm 118

Bảng 3.4 Bảng số liệu kết quả đánh giá NLNN sau thực nghiệm 119

Bảng 3.5 Phân loại kết quả đánh giá NLNN sau thực nghiệm 120

Bảng 3.6 Kết quả điểm số bài kiểm tra học tập 121

Bảng 3.7 Bảng phân phối tần số, tần suất và tần suất lũy tích bài kiểm tra học tập 121

Bảng 3.8 Tổng hợp phân loại kết quả học tập của HS 122

Bảng 3.9 Bảng tổng hợp các tham số đặc trưng của bài kiểm tra học tập 123

Trang 11

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1 Mối liên hệ giữa các năng lực thành phần với bốn cột trụ giáo

dục theo UNESCO 14

Hình 1.2 Hướng dẫn download video bằng Free YouTube Downloader 24

Hình 1.3 Hướng dẫn download video bằng YouTube Downloader HD 25

Hình 1.4 Hướng dẫn download video bằng Internet Download Media 25

Hình 1.5 Hướng dẫn download video bằng trình duyệt Cốc cốc 26

Hình 1.6 Giao diện phần mềm chỉnh sửa video Windows Movie Maker 27

Hình 1.7 Giao diện phần mềm chỉnh sửa video Machete Video Editor Lite 28

Hình 1.8 Giao diện phần mềm chỉnh sửa video WeVideo 29

Hình 1.9 Cấu trúc NLNN của HS khi học tập môn Hóa học 33

Hình 3.1 GV cho HS quan sát PTN 114

Hình 3.2 GV yêu cầu HS trả lời các câu hỏi định hướng sau khi xem PTN 114

Hình 3.3 HS làm bài kiểm tra NLNN sau thực nghiệm 115

Hình 3.4 Biểu đồ phân loại kết quả đánh giá NLNN trước thực nghiệm 119

Hình 3.5 Biểu đồ phân loại kết quả đánh giá NLNN sau thực nghiệm 120

Hình 3.6 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra học tập 122

Hình 3.7 Biểu đồ tổng hợp phân loại kết quả học tập của HS 123

Trang 12

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hòa nhịp vào xu thế phát triển chung của thế giới, ngành giáo dục nước ta đang

có những bước chuyển mình mạnh mẽ Nghị quyết Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ: “Mục tiêu của giáo dục là đào tạo ra những con người có đủ phẩm chất, năng lực để xây dựng và bảo vệ tổ quốc, làm chủ tri thức khoa học công nghệ hiện đại, có năng lực phát huy giá trị văn hóa dân tộc, tiếp thu tinh hoa của nhân loại,

có tư duy sáng tạo, khả năng thực hành giỏi” Theo tinh thần của bản dự thảo chương trình tổng thể của Bộ Giáo dục – Đào tạo ban hành vào tháng 8/2015, chương trình giáo dục mới sau năm 2018 sẽ có sự thay đổi đột phá trong tư duy giáo dục: chuyển từ việc truyền thụ kiến thức thuần tuý sang phát triển năng lực của người học trên cơ sở giáo dục toàn diện và hài hoà đức, trí, thể, mỹ; nhằm hướng đến phương châm: học để biết làm, học để biết sống Kéo theo đó, việc phải đổi mới phương pháp dạy học để phát triển năng lực cho HS là một thách thức to lớn đối với đại đa số các GV hiện nay

Sư phạm học hiện đại đề cao nguyên lý học là công việc của từng cá thể, thực chất quá trình tiếp nhận tri thức phải là quá trình tư duy bên trong của bản thân chủ thể Vì thế nhiệm vụ của người GV là mở rộng trí tuệ, hình thành năng lực, kỹ năng cho HS chứ không phải làm đầy trí tuệ của các em bằng cách truyền thụ tri thức đã có Việc mở rộng trí tuệ đòi hỏi GV phải biết cách dạy cho HS tự suy nghĩ, tìm tòi, phát huy hết khả năng, năng lực của bản thân mình để giải quyết vấn đề mà HS gặp phải trong quá trình học tập và trong cuộc sống

Hiện nay, vấn đề “Rèn luyện và phát triển năng lực ngôn ngữ” là chủ đề thuộc một lĩnh vực nghiên cứu còn mới và mang tính thực tiễn cao Nó nhằm tìm ra các phương án, biện pháp thích hợp để kích hoạt khả năng nghe hiểu, chắt lọc thông tin; biết cách lập luận chặt chẽ và có dẫn chứng xác thực, thuyết trình được nội dung chủ

đề thuộc chương trình học tập; đọc và lựa chọn được các thông tin quan trọng từ các văn bản, tài liệu; sử dụng hợp lý từ vựng và mẫu câu trong hai lĩnh vực khẩu ngữ và bút ngữ; có từ vựng dùng cho các kỹ năng đối thoại và độc thoại Các vấn đề này không chỉ giới hạn trong các ngành nghiên cứu về khoa học kỹ thuật mà nó có thể thuộc lĩnh vực khác như chính trị, kinh tế, xã hội, nghệ thuật… Với mức độ quan

Trang 13

trọng bao trùm như vậy, việc rèn luyện và phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS là một mục tiêu mà các nhà giáo dục phải lưu tâm và hướng đến

Ngoài vấn đề đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực như trên, hóa học vẫn có những định hướng đổi mới quan trọng khác, đó là: khai thác tối

đa và có hiệu quả đặc thù môn hóa học, tạo hứng thú học tập cho HS Cụ thể là tăng cường sử dụng thí nghiệm hóa học, các phương tiện trực quan, phương tiện kĩ thuật hiện đại trong dạy học hóa học Có thể nói việc sử dụng thí nghiệm trong dạy học hóa học là việc làm hết sức cần thiết để nâng cao hiệu quả bài lên lớp và phát huy tính tích cực học tập của HS Thí nghiệm hóa học có vai trò rất quan trọng vì chúng không chỉ

là phương tiện, công cụ lao động của hoạt động dạy học mà thông qua đó giúp cho quá trình khám phá, lĩnh hội tri thức khoa học của HS trở nên sinh động và hiệu quả hơn

Tuy nhiên, việc đổi mới nội dung và phương pháp trong dạy học hóa học phải gắn liền với việc tăng cường sử dụng thí nghiệm trong quá trình dạy học Sự hạn chế của điều kiện cơ sở vật chất tại các trường phổ thông hiện nay bên cạnh giới hạn về thời gian khiến cho việc sử dụng thí nghiệm thật gặp không ít khó khăn Ngoài ra, phim thí nghiệm hóa học trên mạng hiện nay là nguồn tư liệu vô cùng đa dạng, phong phú và cuốn hút người xem về mặt hình ảnh Trên thực tế, chuyện GV sử dụng PTN trong dạy học hóa học không còn là vấn đề xa lạ Nhưng đa số GV vẫn sử dụng theo cách minh họa sách giáo khoa, chứ chưa khai thác thật sự hiệu quả nguồn tài nguyên phong phú ấy, nhất là khi dùng PTN để phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS thì chưa

có một đề tài nào nghiên cứu tới Từ những lí do trên tôi chọn đề tài: “SỬ DỤNG PHIM THÍ NGHIỆM ĐỂ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC NGÔN NGỮ CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG”

2 Khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu

2.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học hoá học ở trường THPT

2.2 Đối tượng nghiên cứu

Việc lựa chọn và sử dụng PTN để phát triển năng lực ngôn ngữ cho HS trong dạy học hóa học THPT

Trang 14

3 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu việc sử dụng PTN hóa học để phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh, góp phần nâng cao kết quả dạy học ở trường THPT

4 Nhiệm vụ của đề tài

- Tìm hiểu tổng quan về hướng nghiên cứu của đề tài

- Tìm hiểu, hệ thống hoá các kiến thức về cơ sở lý luận của đề tài

- Điều tra thực trạng sử dụng PTN và phát triển NLNN cho HS trong dạy học hóa học ở trường THPT

- Nghiên cứu các nguyên tắc lựa chọn PTN nhằm phát triển NLNN cho HS

- Lựa chọn và sưu tầm hệ thống PTN để phát triển NLNN cho HS

- Nghiên cứu các biện pháp sử dụng PTN có hiệu quả để phát triển NLNN cho HS

- Thiết kế một số bài giảng có sử dụng PTN theo hướng phát triển NLNN cho HS

- Thực nghiệm sư phạm để đánh giá tính hiệu quả của các PTN đã lựa chọn và các biện pháp đề xuất

5 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung: Chương trình hoá học THPT

- Địa bàn nghiên cứu: Một số trường THPT ở khu vực các tỉnh phía Nam

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8/2015 đến tháng 10/2016

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Đọc và nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài

- Sử dụng phối hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, phân loại, ḥệ thống hóa

6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Tìm hiểu thực trạng việc sử dụng PTN trong dạy học hoá học ở trường THPT

- Phỏng vấn một số GV về việc sử dụng PTN và phát triển NLNN cho HS trong dạy học hóa học ở trường THPT

- Phương pháp thực nghịệm (thực nghịệm sư phạm để kỉểm nghịệm giá trị thự̣c tiễn của các kết quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng của những đề xuất)

Trang 15

6.3 Nhóm các phương pháp toán học

- Tính các tham số thống không đặc trưng: trung bình cộng, phương sai và độ lệch chuẩn, hệ số biến thiên, sai số tiêu chuẩn …

- Vẽ đồ thị, biểu đồ để so sánh các kết quả nghiên cứu

- Dùng phép thử Student để kiểm định kết quả của nhóm thực nghiệm với nhóm đối chứng…

7 Giả thuyết khoa học

Nếu nắm chắc lý luận về sử dụng các PTN để phát triển năng lực ngôn ngữ và thực hiện các biện pháp một cách khoa học, hợp lý thì sẽ góp phần phát triển năng lực ngôn ngữ và nâng cao kết quả học tập cho HS THPT

8 Điểm mới của luận văn

- Đề xuất cấu trúc NLNN của HS khi học tập môn Hóa học

- Nghiên cứu làm rõ hơn cơ sở lý luận của việc sử dụng PTN để phát triển NLNN cho HS trong dạy học hóa học THPT

- Sưu tầm và hệ thống hóa các PTN hóa học phát triển NLNN cho HS trong chương trình THPT

- Đề xuất các biện pháp sử dụng PTN hiệu quả nhằm phát triển NLNN cho HS

- Thiết kế công cụ đánh giá sự phát triển NLNN của HS

Trang 16

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Các nghiên cứu về sử dụng phim thí nghiệm trong dạy học hóa học

Thí nghiệm là đặc thù của môn Hóa học, do đó các đề tài về việc sử dụng thí nghiệm và phim thí nghiệm trong dạy học đã được nghiên cứu từ lâu và rất phổ biến Tính đến bây giờ, số lượng các đề tài nghiên cứu về vấn đề này là cỡ ba, bốn chục; từ khóa luận tốt nghiệp, luận văn đến luận án

Trong các nghiên cứu ở thế hệ trước, có thể thấy đa số chỉ có các đề tài về thí nghiệm, vì điều kiện cơ sở vật chất ở trường phổ thông cũng như sự phát triển của công nghệ thông tin còn hạn chế Một trong số những nghiên cứu nổi bật và có đóng góp lớn trong thời kì này có thể kể đến Luận án phó tiến sĩ của tác giả Trần Quốc Đắc:

“Hoàn thiện hệ thống thí nghiệm hóa học để nâng cao chất lượng dạy – học ở trường phổ thông Việt Nam” (1992), ĐHSP Hà Nội I Luận án đã làm rõ vai trò cũng như tầm quan trọng của thí nghiệm trong dạy học hóa học; đề xuất 5 nguyên tắc để lựa chọn thí nghiệm thích hợp và 4 bước để xây dựng thí nghiệm dùng trong các bài lên lớp; trên

cơ sở đó tác giả đề xuất được hệ thống 87 thí nghiệm theo từng bài cụ thể trong chương trình phổ thông Việt Nam Hệ thống các thí nghiệm là hợp lí, bám sát nội dung bài học, tuy nhiên vẫn còn mang tính hàn lâm, xa rời thực tế, khó ứng dụng vào đời sống

Xuất phát từ các văn bản chỉ đạo của Đảng và nhà nước nhất là chỉ thị CT/UW của Bộ Chính Trị ngày 07/10/2000 về việc đẩy mạnh ứng dụng CNTT phục

58-vụ sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đã chỉ rõ trọng tâm của ngành giáo dục

là đào tạo nguồn nhân lực về CNTT và đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong công tác giáo dục và đào tạo, đây là nhiệm vụ mà Thủ tướng Chính phủ đã giao cho ngành giáo dục giai đoạn 2001 – 2005 thông qua quyết định số 81/2001/QĐ-TTg Kéo theo đó, các trường phổ thông trên cả nước tiến hành trang bị phòng máy, phòng đa năng kết nối mạng Internet; Tin học được giảng dạy chính thức, một số trường còn trang bị thêm Thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy quét hình (Scanner),… và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho giáo viên

sử dụng vào quá trình dạy học của mình Từ đó các nghiên cứu về phim thí nghiệm ra

Trang 17

đời, một vài trong số đó có thể kể đến như:

- Đề tài: “Sử dụng phim ảnh để nâng cao hiệu quả dạy học phần kim loại lớp 12 THPT” của tác giả Đặng Thị Ngọc Mai (2012), luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

- Đề tài: “Sử dụng phim thí nghiệm trong dạy học lớp 10, 11 THPT” của tác giả Giảng Thị Như Thùy (2012), luận văn thạc sĩ, ĐHSP TP.HCM

Nội dung của các luận văn trên đề cập đến việc sử dụng thí nghiệm và PTN để khắc sâu kiến thức, rèn luyện kỹ năng cho HS; đồng thời đề xuất các biện pháp sử dụng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học hóa học ở trường phổ thông

Từ những nghiên cứu lý luận và thực tiễn trên đã cho thấy rằng: Những nghiên cứu của các tác giả đã khẳng định vai trò quan trọng của PTN đối với quá trình dạy học ở trường phổ thông Điều đó chứng tỏ PTN không những có ý nghĩa đối với quá trình nhận thức mà còn cho phép phát triển khả năng tìm tòi, khám phá, vận dụng tri thức và năng lực thực hành của HS, làm tăng năng suất và hiệu quả dạy học Tuy vậy trong các nghiên cứu chưa giải quyết vấn đề sử dụng PTTQ nói chung PTN nói riêng trong giờ lên lớp một cách đầy đủ Đặc biệt là chưa xác lập được hệ thống các biện pháp sử dụng PTN có hiệu quả và mang tính khả thi Mặc khác, mối quan hệ giữa vấn

đề sử dụng các PTN với việc phát triển năng lực của HS trong giờ học – một vấn đề mới cấp thiết trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay - chưa được quan tâm nghiên cứu hoặc nghiên cứu chưa đầy đủ

Thực tiễn dạy học ở các trường THPT cho thấy, việc sử dụng PTTQ nói chung

và PTN nói riêng chưa có hiệu quả Trong giờ học, PTN chưa được khai thác khai thác triệt để về mọi mặt, chủ yếu được dùng để minh họa cho lời giảng của GV, ít được dùng để phát triển năng lực quan sát và năng lực nhận thức của HS HS chưa được trở thành chủ thể hoạt động, chỉ là người thụ động theo dõi, quan sát, ghi nhớ và tái hiện Điều đó dẫn đến kết quả là chất lượng dạy học thấp, không phát huy được tính tích cực, chủ động nhận thức của HS Vì vậy nghiên cứu của chúng tôi góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận về thí nghiệm và PTN, đồng thời xác lập hệ thống các biện pháp sử dụng và quy trình sử dụng PTN nhằm hướng dẫn GV sử dụng PTN trong quá trình dạy học một cách có hiệu quả để nâng cao năng lực cho HS

Trang 18

1.1.2 Các nghiên cứu về phát triển ngôn ngữ cho HS trong dạy học hóa học

1.1.2.1 Các nghiên cứu về năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học

Vấn đề phát triển năng lực cho HS mới chỉ được đặt ra trong khoảng 2 năm đổ lại đây, tuy nhiên trước đó đã có một số tác giả nhận ra được tầm quan trọng của việc rèn luyện ngôn ngữ trong dạy học hóa học cho HS, ví dụ như:

- Đề tài: “Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học (về thuật ngữ hoá học) cho sinh viên miền núi trong trường sư phạm các tỉnh phía Bắc” của tác giả Hoàng Thị Chiên (2005) [16], luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội Đề tài đã cung cấp một cái nhìn rõ nét về các thành tố của ngôn ngữ hóa học, các biểu hiện tương ứng của HS khi rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm giúp HS nâng cao kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hóa học

- Đề tài: “Hình thành những khái niệm hóa học cơ bản cho HS người dân tộc Khmer ở trường THCS tỉnh Trà Vinh” của tác giả Huỳnh Thiên Lương (2007), luận văn thạc sĩ, trường ĐHSP Hà Nội

- Đề tài: “Rèn luyện kỹ năng sử dụng ngôn ngữ hoá học cho HS lớp 11 THPT ở tỉnh Đăk Nông” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Mai (2010), luận văn thạc sĩ, trường ĐHSP Huế

Có thể thấy, việc sử dụng ngôn ngữ hóa học lúc này vẫn đang được nhìn nhận như là một kỹ năng, chứ chưa phải là một năng lực, trong khi “năng lực” có ý nghĩa rộng hơn “kỹ năng” rất nhiều Phải đến năm 2014, sự đổi mới giáo dục chuyển từ “dạy học định hướng nội dung” sang “dạy học định hướng năng lực” đặt ra yêu cầu to lớn trong việc nghiên cứu các NL thành phần của từng môn học cụ thể Trong đó, có một

số công trình nghiên cứu nổi bật, như:

- Bài báo của tác giả Trịnh Lê Hồng Phương, Đoàn Cảnh Giang, “Xây dựng thang đánh giá năng lực sừ dụng ngôn ngữ hóa học cho HS THPT” [37], đăng trên tạp chí Khoa học ĐHSP TP.HCM số 3(68) năm 2015 đã thiết kế thang đánh giá NL SDNN hóa học dựa trên kết quả nghiên cứu về cấu trúc và biểu hiện của nó

- Đề tài: “Sử dụng bài tập để phát triển năng lực sử dụng ngôn ngữ hóa học cho

HS lớp 10 THPT chuyên” của tác giả Lưu Thị Hồng Duyên (2015) [18], luận văn

Trang 19

thạc sĩ, trường ĐHSP TP.HCM đã đề xuất một số biện pháp sử dụng bài tập và thiết kế bài giảng theo hướng phát triển NL SDNN hóa học cho HS; đồng thời trình bày cách thiết kế một bài kiểm tra đánh giá NL SDNN hóa học cho HS

Có thể thấy, các công trình nghiên cứu tuy chưa nhiều nhưng lại rất quan trọng, đặt nền móng đầu tiên trong quá trình định hướng cho các đề tài sau này

1.1.2.2 Các nghiên cứu về năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Anh chuyên ngành hóa học

Trước năm 2014, việc nghiên cứu về tiếng Anh chuyên ngành chưa thực sự được quan tâm và coi trọng, các tài liệu về đề tài này tương đối ít và chủ yếu xoay quanh công tác dạy học trong phạm vi trường đại học, đơn cử là một vài bài báo như:

- Báo cáo của tác giả Đỗ Thị Xuân Dung: “Tiếng Anh chuyên ngành – Một cách

nhìn mới (ESP- ANew Perspective)” tại Hội nghị Khoa học của khoa Giáo dục –

Đại học Sydney – Úc - 2001, in trong kỷ yếu Khoa học tháng 4/2001

- Bài báo của tác giả Dương Thị Nụ (2004): “Một vài suy nghĩ về việc dạy từ vựng

tiếng Anh chuyên ngành” in trong Kỷ yếu Hội nghị khoa học lần thứ 25 trường

ra những yêu cầu đòi hỏi nghiên cứu kỹ hơn về tiếng Anh chuyên ngành và việc sử dụng nó trong dạy học THPT Một vài công trình nghiên cứu có thể kế đến như:

- Tài liệu tập huấn Dạy học các môn Hóa bằng tiếng Anh trong trường phổ thông của Bộ biên soạn Tài liệu gồm có 3 phần, với các nội dung sau:

Trang 20

+ Phần 1: Tổng quan về giảng dạy môn hóa học bằng tiếng Anh cấp THPT + Phần 2: Tiếng Anh và tiếng Anh trong Hóa học

+ Phần 3: Phương pháp và một số bài giảng mẫu về dạy học môn Hóa học bằng tiếng Anh

Có thể nói, tài liệu là một tập hợp những định hướng rõ ràng hơn về lộ trình thực hiện việc giảng dạy môn Hóa bằng tiếng Anh Tuy nhiên tài liệu vẫn chỉ cung cấp những bài học đơn lẻ, chưa có tính hệ thống và nhất là không có sự hướng dẫn chi tiết về cách thực hiện – Đây cũng là khó khăn lớn nhất của các

GV hiện nay

- Bài báo của tác giả Đào Thị Hoàng Hoa (2014): “Dạy học hóa học bằng tiếng Anh theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ” [24] đăng trên tạp chí Khoa học, trường ĐHSP TP.HCM Trong bài nghiên cứu, tác giả đưa ra khái niệm dạy học theo định hướng tích hợp nội dung và ngôn ngữ (CLIL – Content and language intergrated Learning) với những ưu điểm có thể giải quyết được và những khó khăn ban đầu của cả GV và HS khi mới tiếp xúc với ngôn ngữ tiếng Anh chuyên ngành

- Đề tài: “Thiết kế bài giảng môn Hóa học lớp 10 theo hướng nâng cao năng lực đọc hiểu tiếng Anh chuyên ngành cho HS” của tác giả Lê Thanh Hoàng Bảo (2014) [2], luận văn thạc sĩ, trường ĐHSP TP.HCM Đề tài đã trình bày tầm quan trọng của việc đọc hiểu tốt tiếng Anh chuyên ngành trong dạy học Hóa hoc, đồng thời nêu rõ một số nguyên tắc và đề xuất qui trình thiết kế các bài giảng theo hướng này

Những nghiên cứu trên, trong một phạm vi nhất định, đã xây dựng nên những nền tảng cần thiết cho đề tài mà chúng tôi đang thực hiện Tuy mức độ nghiên cứu chưa rộng khắp, nhưng về lý luận cơ bản hoàn toàn có thể áp dụng được Điều quan trọng nhất là tất cả các nghiên cứu trên cho thấy một tín hiệu rõ nét về mối quan tâm của toàn thể xã hội mà chủ yếu là những người làm công tác giáo dục, về một nhu cầu bức thiết trong vấn đề nâng cao năng lực tiếng Anh chuyên ngành cho HS

Trang 21

1.2 Định hướng đổi mới giáo dục THPT theo hướng tiếp cận năng lực

1.2.1 Đổi mới chương trình giáo dục phổ thông từ chương trình định hướng nội dung sang định hướng năng lực

1.2.1.1 Chương trình giáo dục định hướng nội dung dạy học [7]

Chương trình dạy học truyền thống có thể gọi là chương trình giáo dục “định hướng nội dung” hay “định hướng đầu vào” (điều khiển đầu vào) Đặc điểm cơ bản

của chương trình giáo dục định hướng nội dung là chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học Những nội dung của các môn học này dựa trên các khoa học chuyên ngành tương ứng Người ta chú trọng việc trang bị cho người học hệ thống tri thức khoa học khách quan về nhiều lĩnh vực khác nhau

Tuy nhiên chương trình giáo dục định hướng nội dung chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năng ứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn Mục tiêu dạy học trong chương trình định hướng nội dung được đưa

ra một cách chung chung, không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được một cách cụ thể nên không đảm bảo rõ ràng về việc đạt được chất lượng dạy học theo mục tiêu đã đề ra Việc quản lý chất lượng giáo dục ở đây tập trung vào “điều khiển đầu vào” là nội dung dạy học

Ưu điểm của chương trình dạy học định hướng nội dung là việc truyền thụ cho người học một hệ thống tri thức khoa học và hệ thống Tuy nhiên hiện nay chương trình dạy học định hướng nội dung không còn thích hợp, trong đó có những nguyên nhân sau [7]:

- Hiện nay, tri thức thay đổi và bị lạc hậu nhanh chóng, việc quy định cứng nhắc những nội dung chi tiết trong chương trình dạy học dẫn đến tình trạng nội dung chương trình dạy học nhanh bị lạc hậu so với tri thức hiện đại Do đó việc rèn luyện phương pháp học tập ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong việc chuẩn bị cho con người có khả năng học tập suốt đời

- Chương trình dạy học định hướng nội dung dẫn đến xu hướng việc kiểm tra đánh giá chủ yếu dựa trên việc kiểm tra khả năng tái hiện tri thức mà không định hướng vào khả năng vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn

Trang 22

- Do phương pháp dạy học mang tính thụ động và ít chú ý đến khả năng ứng dụng nên sản phẩm giáo dục là những con người mang tính thụ động, hạn chế khả năng sáng tạo và năng động Do đó chương trình giáo dục này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội và thị trường lao động đối với người lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo và tính năng động

1.2.1.2 Chương trình giáo dục định hướng năng lực

Chương trình giáo dục định hướng năng lực (định hướng phát triển năng lực) nay

còn gọi là dạy học định hướng kết quả đầu ra được bàn đến nhiều từ những năm 45

của thế kỷ 20 và ngày nay đã trở thành xu hướng giáo dục quốc tế Giáo dục định hướng năng lực nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học Chương trình này nhấn mạnh vai trò của người học với tư cách chủ thể của quá trình nhận thức

Khác với chương trình định hướng nội dung, chương trình dạy học định hướng năng lực tập trung vào việc mô tả chất lượng đầu ra, có thể coi là “sản phẩm cuối cùng” của quá trình dạy học Việc quản lý chất lượng dạy học chuyển từ việc “điều khiển đầu vào” sang “điều khiển đầu ra”, tức là kết quả học tập của HS

Chương trình dạy học định hướng năng lực không quy định những nội dung dạy học chi tiết mà quy định những kết quả đầu ra mong muốn của quá trình giáo dục, trên

cơ sở đó đưa ra những hướng dẫn chung về việc lựa chọn nội dung, phương pháp, tổ chức và đánh giá kết quả dạy học nhằm đảm bảo thực hiện được mục tiêu dạy học tức

là đạt được kết quả đầu ra mong muốn Trong chương trình định hướng năng lực, mục tiêu học tập, tức là kết quả học tập mong muốn thường được mô tả thông qua hệ thống các năng lực (Competency) Kết quả học tập mong muốn được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được HS cần đạt được những kết quả yêu cầu đã quy định trong chương trình Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra

Ưu điểm của chương trình giáo dục định hướng năng lực là tạo điều kiện quản lý chất lượng theo kết quả đầu ra đã quy định, nhấn mạnh năng lực vận dụng của HS Tuy nhiên nếu vận dụng một cách thiên lệch, không chú ý đầy đủ đến nội dung dạy học thì

có thể dẫn đến các lỗ hổng tri thức cơ bản và tính hệ thống của tri thức Ngoài ra chất lượng giáo dục không chỉ thể hiện ở kết quả đầu ra mà còn phụ thuộc quá trình thực

Trang 23

hiện

Trong chương trình dạy học định hướng phát triển năng lực, khái niệm năng lực được sử dụng như sau:

- Năng lực liên quan đến bình diện mục tiêu của dạy học: mục tiêu dạy học được

mô tả thông qua các năng lực cần hình thành;

- Trong các môn học, những nội dung và hoạt động cơ bản được liên kết với nhau nhằm hình thành các năng lực;

- Năng lực là sự kết nối tri thức, hiểu biết, khả năng, mong muốn ;

- Mục tiêu hình thành năng lực định hướng cho việc lựa chọn, đánh giá mức độ quan trọng và cấu trúc hóa các nội dung và hoạt động và hành động dạy học về mặt phương pháp;

- Năng lực mô tả việc giải quyết những đòi hỏi về nội dung trong các tình huống:

ví dụ như đọc một văn bản cụ thể, nắm vững và vận dụng được các phép tính cơ bản ;

- Các năng lực chung cùng với các năng lực chuyên môn tạo thành nền tảng chung cho công việc giáo dục và dạy học;

- Mức độ đối với sự phát triển năng lực có thể được xác định trong các chuẩn: Đến một thời điểm nhất định nào đó, HS có thể/ phải đạt được những gì?

Sau đây là bảng so sánh một số đặc trưng cơ bản của chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng năng lực [7]:

Bảng 1.1 Bảng so sánh chương trình định hướng nội dung và chương trình định hướng năng lực

Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục

Nội dung

giáo dục

Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống

Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn

Trang 24

thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình

Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết

Phương pháp

dạy học

GV là người truyền thụ tri thức,

là trung tâm của quá trình dạy học HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn

- GV chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, khả năng giao tiếp,…;

- Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành

Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn

Để hình thành và phát triển năng lực cần xác định các thành phần và cấu trúc của chúng Có nhiều loại năng lực khác nhau Việc mô tả cấu trúc và các thành phần năng lực cũng khác nhau Cấu trúc chung của năng lực hành động được mô tả là sự kết hợp của 4 năng lực thành phần: Năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp, năng lực xã hội, năng lực cá thể

- Năng lực chuyên môn (Professional competency): Là khả năng thực hiện các

nhiệm vụ chuyên môn cũng như khả năng đánh giá kết quả chuyên môn một cách độc lập, có phương pháp và chính xác về mặt chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học nội dung – chuyên môn và chủ yếu gắn với khả năng nhận thức và tâm lý vận động

Trang 25

- Năng lực phương pháp (Methodical competency): Là khả năng đối với những

hành động có kế hoạch, định hướng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ

và vấn đề Năng lực phương pháp bao gồm năng lực phương pháp chung và phương pháp chuyên môn Nó được tiếp nhận qua việc học phương pháp luận – giải quyết vấn đề

- Năng lực xã hội (Social competency): Là khả năng đạt được mục đích trong

những tình huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng như trong những nhiệm vụ khác nhau trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác Nó được tiếp nhận qua việc học giao tiếp

- Năng lực cá thể (Induvidual competency): Là khả năng xác định, đánh giá được

những cơ hội phát triển cũng như những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử Nó được tiếp nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tư duy và hành động tự chịu trách nhiệm

Mô hình cấu trúc năng lực trên đây có thể cụ thể hoá trong từng lĩnh vực chuyên môn, nghề nghiệp khác nhau Mặt khác, trong mỗi lĩnh vực nghề nghiệp người ta cũng

mô tả các loại năng lực khác nhau Mô hình bốn thành phần năng lực trên phù hợp với bốn trụ cột giáo dục theo UNESCO:

Các thành phần năng lực Các trụ cột giáo dục của UNESO

Trang 26

Từ cấu trúc của khái niệm năng lực cho thấy giáo dục định hướng phát triển năng lực không chỉ nhằm mục tiêu phát triển năng lực chuyên môn bao gồm tri thức, kỹ năng chuyên môn mà còn phát triển năng lực phương pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể Những năng lực này không tách rời nhau mà có mối quan hệ chặt chẽ Năng lực hành động được hình thành trên cơ sở có sự kết hợp các năng lực này

Nội dung dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ giới hạn trong tri thức và kỹ năng chuyên môn mà gồm những nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực [7]:

Bảng 1.2 Nhóm nội dung nhằm phát triển các lĩnh vực năng lực tương ứng

Học nội dung

chuyên môn

Học phương pháp – chiến lược

Học giao tiếp –

xã hội

Học tự trải nghiệm – đánh giá

- Các phương pháp nhận thức chung: thu thâp, xử lý, đánh giá, trình bày thông tin

- Các phương pháp chuyên môn

- Làm việc trong nhóm

- Tạo điều kiện cho

sự hiểu biết về phương diện xã hội

- Học cách ứng xử, tinh thần trách nhiệm, khả năng giải quyết xung đột

- Tự đánh giá điểm mạnh, điểm yếu

- Xây dựng kế hoạch phát triển cá nhân

- Đánh giá, hình thành các chuẩn mực giá trị, đạo đức và văn hoá, lòng tự trọng …

Năng lực

chuyên môn

Năng lực phương pháp Năng lực xã hội

Năng lực nhân cách

1.2.2 Đổi mới phương pháp dạy học ở trường trung học nhằm chú trọng phát triển năng lực của HS [7]

Phương pháp dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn

Trang 27

với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp, đồng thời gắn hoạt động trí tuệ với hoạt động thực hành, thực tiễn Tăng cường việc học tập trong nhóm, đổi mới quan

hệ GV – HS theo hướng cộng tác có ý nghĩa quan trọng nhằm phát triển năng lực xã hội Bên cạnh việc học tập những tri thức và kỹ năng riêng lẻ của các môn học chuyên môn cần bổ sung các chủ đề học tập phức hợp nhằm phát triển năng lực giải quyết các vấn đề phức hợp

• Những định hướng chung, tổng quát về đổi mới phương pháp dạy học các môn học thuộc chương trình giáo dục định hướng phát triển năng lực là:

- Phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động của người học, hình thành và phát triển năng lực tự học (sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin, ), trên cơ sở đó trau dồi các phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy

- Có thể chọn lựa một cách linh hoạt các phương pháp chung và phương pháp đặc thù của môn học để thực hiện Tuy nhiên dù sử dụng bất kỳ phương pháp nào cũng phải đảm bảo được nguyên tắc “HS tự mình hoàn thành nhiệm vụ nhận thức với sự tổ chức, hướng dẫn của GV”

- Việc sử dụng phương pháp dạy học gắn chặt với các hình thức tổ chức dạy học Tuỳ theo mục tiêu, nội dung, đối tượng và điều kiện cụ thể mà có những hình thức tổ chức thích hợp như học cá nhân, học nhóm; học trong lớp, học ở ngoài lớp Cần chuẩn bị tốt về phương pháp đối với các giờ thực hành để đảm bảo yêu cầu rèn luyện kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn, nâng cao hứng thú cho người học

- Cần sử dụng đủ và hiệu quả các thiết bị dạy học môn học tối thiểu đã qui định

Có thể sử dụng các đồ dùng dạy học tự làm nếu xét thấy cần thiết với nội dung học và phù hợp với đối tượng HS Tích cực vận dụng công nghệ thông tin trong dạy học

• Việc đổi mới phương pháp dạy học của GV được thể hiện qua bốn đặc trưng cơ bản sau:

- Dạy học thông qua tổ chức liên tiếp các hoạt động học tập, từ đó giúp HS tự khám phá những điều chưa biết chứ không phải thụ động tiếp thu những tri thức

Trang 28

được sắp đặt sẵn Theo tinh thần này, GV là người tổ chức và chỉ đạo HS tiến hành các hoạt động học tập như nhớ lại kiến thức cũ, phát hiện kiến thức mới, vận dụng sáng tạo kiến thức đã biết vào các tình huống học tập hoặc tình huống thực tiễn,

- Chú trọng rèn luyện cho HS những tri thức phương pháp để họ biết cách đọc sách giáo khoa và các tài liệu học tập, biết cách tự tìm lại những kiến thức đã có, biết cách suy luận để tìm tòi và phát hiện kiến thức mới, Các tri thức phương pháp thường là những quy tắc, quy trình, phương thức hành động, tuy nhiên cũng cần coi trọng cả các phương pháp có tính chất dự đoán, giả định (VD: các bước cân bằng phương trình phản ứng hóa học, phương pháp giải bài tập toán học, ) Cần rèn luyện cho HS các thao tác tư duy như phân tích, tổng hợp, đặc biệt hoá, khái quát hoá, tương tự, quy lạ về quen… để dần hình thành và phát triển tiềm năng sáng tạo của họ

- Tăng cường phối hợp học tập cá thể với học tập hợp tác theo phương châm “tạo điều kiện cho HS nghĩ nhiều hơn, làm nhiều hơn và thảo luận nhiều hơn” Điều

đó có nghĩa, mỗi HS vừa cố gắng tự lực một cách độc lập, vừa hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình tiếp cận, phát hiện và tìm tòi kiến thức mới Lớp học trở thành môi trường giao tiếp thầy – trò và trò – trò nhằm vận dụng sự hiểu biết và kinh nghiệm của từng cá nhân, của tập thể trong giải quyết các nhiệm vụ học tập chung

- Chú trọng đánh giá kết quả học tập theo mục tiêu bài học trong suốt tiến trình dạy học thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập (đánh giá lớp học) Chú trọng phát triển kỹ năng tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau của HS với nhiều hình thức như theo lời giải/đáp án mẫu, theo hướng dẫn, hoặc tự xác định tiêu chí để có thể phê phán, tìm được nguyên nhân và nêu cách sửa chữa các sai sót

1.2.3 Dạy học theo định hướng năng lực trong môn Hoá học THPT [7]

1.2.3.1 Mục tiêu chung của môn Hóa học trong nhà trường phổ thông

Mục tiêu chung của việc giảng dạy môn Hóa học trong nhà trường phổ thông là

HS tiếp thu kiến thức về những tri thức khoa học phổ thông cơ bản về các đối tượng Hóa học quan trọng trong tự nhiên và đời sống, tập trung vào việc hiểu các khái niệm

Trang 29

cơ bản của Hóa học , về các chất, sự biến đổi các chất, mối liên hệ qua lại giữa công nghệ hoá học, môi trường và con người và các ứng dụng của của chúng trong tự nhiên

và kĩ thuật Những tri thức này rất quan trọng, giúp HS có nhận thức khoa học về thế giới vật chất, góp phần phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động, hình thành nhân cách phẩm chất của người lao động mới năng động, sáng tạo

1.2.3.2 Mục tiêu giáo dục môn Hóa học cấp THPT

Trên cơ sở duy trì, tăng cường các phẩm chất và năng lực đã hình thành thông qua môn hóa học ở cấp THPT, HS có được hệ thống kiến thức hoá học phổ thông cơ bản, hiện đại và thiết thực từ đơn giản đến phức tạp, gồm: Kiến thức cơ sở hoá học chung; Hoá học vô cơ; Hoá học hữu cơ Hình thành và phát triển nhân cách của một công dân; phát triển các tiềm năng, các năng lực sẵn có và các năng lực chuyên biệt

của môn Hóa học như: Năng lực sử dụng ngôn ngữ hoá học; Năng lực thực hành hoá học; Năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề thông qua môn hoá học; Năng lực tính toán; Năng lực vận dụng kiến thức hoá học vào cuộc sống Sau khi kết thúc cấp học

HS có thể tiếp tục học ở các bậc học cao hơn, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động

1.2.3.3 Giới thiệu một số phương pháp dạy học đặc trưng cho môn Hóa học nhằm hướng tới những năng lực chung cốt lõi và chuyên biệt của môn học trong trường THPT

a) Sử dụng thí nghiệm và các phương tiện trực quan khác trong dạy học hoá học

Sử dụng phương tiện trực quan trong dạy học là một trong những cách tích cực hóa hoạt động dạy và học Trong đó TN là một trong các phương tiện trực quan quan trọng với môn hóa học (môn khoa học thực nghiệm) Tuy nhiên, việc sử dụng TN là tích cực hơn nếu GV sử chúng làm nguồn kiến thức để HS tìm tòi, khám phá ra kiến thức mới Tuy nhiên, trong thực tế nhiều GV phổ thông cho rằng cứ sử dụng TN theo hướng nghiên cứu là tích cực nhất và thường sử dụng TN theo cách là GV tiến hành

TN, yêu cầu HS quan sát, nêu hiện tượng sau đó yêu cầu giải thích Quan niệm và tiến trình dạy học như vậy chưa thực sự hiệu quả và không phù hợp với mọi TN Phương pháp nghiên cứu là môt phương pháp tích cực nhưng chỉ nên sử dụng với các kiến thức mới, HS không có khả năng suy luận chắc chắn theo các lí thuyết chung đã học; những

Trang 30

trường hợp HS có thể vận dụng những kiến thức đã có để dự đoán thì nên dùng TN để kiểm chứng sẽ có tác dụng củng cố đồng thời dạy cho HS phương pháp suy diễn, hoặc

có những TN có hiện tượng khác so với kiến thức đã học có thể dùng để đặt vấn đề tạo hứng thú học tập cho HS Sở dĩ nhiều GV có quan niệm sai lầm và cách sử dụng TN chưa hợp lí đó là do chưa thực sự hiểu rõ tác dụng, tiến trình dạy học của mỗi cách sử dụng TN cũng như chưa biết cách lựa chọn phương pháp sử dụng TN cho phù hợp

b) Tăng cường xây dựng và sử dụng bài tập hóa học theo định hướng phát triển năng lực cho HS

Bản thân bài tập hóa học đã là PPDH hóa học tích cực song tính tích cực của phương pháp này được nâng cao hơn khi được sử dụng như là nguồn kiến thức để HS tìm tòi chứ không phải để tái hiện kiến thức Với tính đa dạng của mình, bài tập hóa học là phương tiện để tích cực hóa hoạt động của HS trong các bài dạy hóa học, nhưng hiệu quả của nó còn phụ thuộc vào việc sử dụng của GV trong quá trình dạy học hóa học

1.3 Thí nghiệm và phim thí nghiệm

1.3.1 Thí nghiệm

1.3.1.1 Khái niệm

Theo tài liệu của Viện ngôn ngữ học: “Thí nghiệm là gây ra một hiện tượng theo qui mô nhỏ để quan sát nhằm củng cố lý thuyết đã học hoặc kiểm nghiệm một điều mà giả thuyết đã dự đoán một cách có hệ thống và trên cơ sở lý luận.” [48]

Theo [51], [55]: Thí nghiệm, hay thực nghiệm, là một bước trong phương pháp khoa học dùng để phân minh giữa mô hình khoa học hay giả thuyết Trong đó:

- Lặp lại thí nghiệm là “một thủ tục tiêu chuẩn trong việc xác nhận bất kỳ một khám phá khoa học nào.” [51]

- “Khoa học đã được bảo vệ lâu dài khỏi những gian lận bằng cách xây dựng một

cơ chế an toàn: để được chấp nhận rộng rãi, các thí nghiệm phải được thực hiện lặp lại bởi những người khác nhau.” [55]

Theo giáo trình của trường ĐH Nông nghiệp I Hà Nội: “Thí nghiệm là những công việc mà con người tự xây dựng để tạo ra những hiện tượng làm thay đổi một cách nhân tạo bản chất của sự việc nhằm phát hiện được đầy đủ bản chất và nguyên nhân

Trang 31

(nguồn gốc) của hiện tượng hay sự vật đó, cũng như nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa chúng”

Quan điểm của PGS.TS Trịnh Văn Biều [11] có lẽ là đầy đủ và dễ hiểu nhất: Thí nghiệm là một phần của hiện thực khách quan được thực hiện hoặc tái tạo lại trong những điều kiện đặc biệt, mà ở đó con người có thể chủ động điều khiển các yếu

tố tác động vào quá trình xảy ra để phục vụ cho các mục đích nhất định Thí nghiệm giúp con người gạt bỏ những cái phụ, không bản chất để tìm ra những cái bản chất của

sự vật hiện tượng; từ đó phát hiện ra những quy luật còn ẩn náu trong tự nhiên Mặt khác nó còn giúp con người kiểm chứng, làm sáng tỏ những giả thuyết khoa học Đúng như Ăng ghen đã nói: “Trong nghiên cứu khoa học tự nhiên cũng như lịch sử, phải xuất phát từ những sự thật đã có, từ những hình thái hiện thực khác nhau của vật chất; cho nên trong khoa học lý luận về tự nhiên, chúng ta không thể cấu tạo ra mối liên hệ

để ghép chúng vào sự thật, mà phải từ những sự thật đó, phát hiện ra mối liên hệ ấy, rồi phải hết sức chứng minh những mối liên hệ ấy bằng thực nghiệm.”

1.3.1.2 Vai trò của thí nghiệm trong dạy học hóa học [11]

Thí nghiệm có vai trò rất quan trọng trong nghiên cứu khoa học và quan trọng đặc biệt trong dạy học hoá học

- Thí nghiệm là nền tảng của việc dạy học hoá học Nó giúp HS chuyển từ tư duy

cụ thể sang tư duy trừu tượng và ngược lại Khi làm thí nghiệm HS sẽ làm quen với các chất hoá học và trực tiếp nắm bắt các tính chất lý, hoá của chúng Từ đó các em hiểu được các quá trình hoá học, nắm vững các khái niệm, định luật, học thuyết của hoá học Nếu không có thí nghiệm thì:

+ GV sẽ tốn nhiều thời gian để giảng giải nhưng vẩn không rõ và hết ý vì không phải mọi thứ đều có thể diễn đạt được trọn vẹn bằng lời Lời nói rất trừu tượng còn các thí nghiệm thì cụ thể

+ HS tiếp thu kiến thức thiếu chính xác và vững chắc Các em sẽ khó hiểu bài vì không có những biểu tượng rõ ràng, cụ thể về các chất, các hiện tượng hoá học Ví dụ: phản ứng tạo kết tủa đồng hyđroxit dạng keo, màu xanh Nếu không có thí nghiệm thì HS không thể hình dung được dạng keo như thế nào Màu xanh thì có rất nhiều màu xanh khác nhau

Trang 32

+ HS sẽ chóng quên khi không hiểu bài, không có ấn tượng sâu sắc bằng các hình ảnh cụ thể

- Thí nghiệm là cầu nối giữa lý thuyết và thực tế Nhiều thí nghiệm rất gần gũi với đời sống, với các quy trình công nghệ Chính vì vậy thí nghiệm giúp HS vận dụng các điều đã học vào thực tế cuộc sống

- Thí nghiệm giúp HS rèn luyện các kỹ năng thực hành (các thao tác và cách thức tiến hành thí nghiệm), hình thành những đức tính cần thiết của người lao động mới: cẩn thận, khoa học, kỷ luật

- Thí nghiệm giúp HS phát triển tư duy, hình thành thế giới quan duy vật biện chứng Khi tự tay làm thí nghiệm hoặc được tận mắt nhìn thấy những hiện tượng hoá học xảy ra, HS sẽ tin tưởng vào kiến thức đã học và cũng thêm tin tưởng vào chính bản thân mình

- Khi làm thí nghiệm rất dễ gây hứng thú học tập HS không thể yêu thích bộ môn

và không thể say mê khoa học với những bài giảng lý thuyết khô khan

1.3.2 Phim thí nghiệm

1.3.2.1 Khái niệm

Theo từ điển Oxford, tái bản lần thứ 2 (The Oxford English Dictionary, second edition): “Phim là một loại phương tiện điện tử cho phép ghi, sao chép, phát thanh và trình chiếu một chuỗi các hình ảnh chuyển động.”

Phim thực chất là nhiều ảnh được đặt lên trên một màn ảnh, nhằm tạo ra ảo giác

về chuyển động Đây là một hình thức giải trí phổ biến, cho phép con người đưa mình vào thế giới ảo trong một khoảng thời gian ngắn Người ta tạo ra phim bằng cách ghi hình con người và vật thể bằng máy quay, hoặc tạo ra hình ảnh bằng các kỹ thuật hoạt họa Những nhân tố thị giác mang đến cho phim sức mạnh truyền thông to lớn, có thể tác động trực tiếp và nhanh chóng tới suy nghĩ, tình cảm của người xem Những hình ảnh trong phim thực ra chỉ là những tấm hình rời rạc, nhưng khi chúng xuất hiện liên tiếp nhanh chóng thì mắt của chúng ta không nhận ra từng cái riêng lẻ Đó là kết quả của sự lưu ảnh, một hiệu ứng thông thường của mắt Bình thường, mắt chúng ta lưu lại ảnh ảo của một vật trong một phần nhỏ của giây sau khi vật đó rời khỏi tầm nhìn Mặc

dù chúng ta không phân biệt được từng ảnh riêng lẻ trong phim nhưng vẫn có thể nhận

Trang 33

biết được sự khác biệt giữa chúng, và bộ não hiểu sự khác biệt đó là chuyển động Một

bộ phim được quay bằng các camera được thiết kế đặc biệt để ghi lại hình ảnh lên phim, sau khi xử lý và xuất ra, phim được chiếu lên màn ảnh bởi một máy phát Thiết

bị này chiếu ánh sáng xuyên qua phim và ảnh sẽ xuất hiện trên tấm màn hứng ảnh Ban đầu, phim không có tiếng Nhưng ngày nay, tất cả phim đều kèm theo âm thanh Phim có thể tái hiện lịch sử, minh họa kiến thức khoa học, miêu tả hành vi thái

độ con người và nhiều thứ khác Nhiều phim kết hợp giải trí với kiến thức, làm cho việc học thú vị hơn Có nhiều thể loại phim, nhưng những thể loại quan trọng là phim truyện, phim hoạt hình, phim tài liệu, phim thực nghiệm, phim công nghiệp và phim giáo dục Phim giáo dục được dành cho đối tượng HS và thường được chiếu ngay trong phòng học

Như vậy, phim thí nghiệm là một bộ phận của phim giáo dục; là sản phẩm của việc dùng máy quay quay lại những thí nghiệm thật PTN có thể lưu trữ dễ dàng dưới dạng CD/VCD hoặc file, dễ dàng sử dụng với các thiết bị công nghệ hiện đại như máy tính, máy chiếu,… Dạy học bằng PTN có nhiều ưu điểm hơn hẳn so với việc thực hiện các thí nghiệm thật [46]

1.3.2.2 Tác dụng của PTN trong dạy học hoá học [35] [43]

PTN cũng là một loại phương tiện dạy học, chúng có vai trò rất quan trọng đối với quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy học môn hóa học nói riêng Ngoài những tác dụng chung, PTN còn có một số tác dụng nổi bật như sau:

- Mô tả được những thí nghiệm khó, những thí nghiệm độc hại, những thí nghiệm

mà trong điều kiện của phòng thí nghiệm ở trường phổ thông không thể thực hiện được

- Cụ thể hóa cái trừu tượng, các quy trình sản xuất phức tạp…

- Thay thế những vật quá lớn, nguy hiểm mà không thể đến gần; thay thế những vật quá bé không thể thấy bằng mắt thường hay bị che khuất Nó sẽ làm cho việc giảng dạy trở nên cụ thể hơn, làm tăng thêm khả năng tiếp thu những sự vật hiện tượng và các quá trình phức tạp mà bình thường HS khó nắm vững

Trang 34

- Cung cấp cho HS các kiến thức một cách chắc chắn và chính xác vì nguồn tin họ thu nhận được đáng tin cậy và được nhớ lâu bền hơn từ đó củng cố niềm tin vào khoa học

- Đặc biệt nhiều thí nghiệm không thể thực hiện trong điều kiện của trường phổ thông được hay những thí nghiệm đòi hỏi một thời gian dài hoặc những thí nghiệm độc hại…thì việc dùng phim càng thuận lợi hơn

- Đồng thời, với sự tiện dụng bởi tính gọn nhẹ, GV nào cũng có thể sử dụng được

mà không gặp trở ngại nào

- Mặt khác, trong điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế thì việc sử dụng phim lại càng bộc lộ được mặt tích cực của nó

1.3.2.3 Một số hạn chế khi sử dụng PTN trong dạy học

Phim thí nghiệm có rất nhiều ưu điểm nhưng để có thể khai thác một cách hiệu quả nhất các tác dụng của nó, GV cần lưu ý đến một vài điểm sau:

- Thứ nhất, PTN cũng như các loại phương tiện trực quan khác, việc sử dụng nó đòi hỏi điều kiện cơ sở vật chất nhất định; ở đây, GV cần phải có hệ thống máy chiếu và loa kết nối trực tiếp với máy tính Đối với đa số trường công, thường chỉ

có ba hoặc bốn phòng được trang bị như thế, và điều này cũng gây ít nhiều khó khăn cho GV trong quá trình sử dụng

- Thứ hai, thông qua việc quan sát PTN, HS không thể phát triển được kỹ năng thực hành; do các em không được tự tay tiến hành thí nghiệm

- Thứ ba, đôi khi việc quay lại các thí nghiệm không phản ánh đúng thực tế màu sắc, bản chất của chất trong thí nghiệm thật Điều này có thể bị ảnh hư ởng do điều kiện ánh sáng, môi trường, chất lượng máy quay, định dạng màu sắc của máy chiếu…

1.3.3 Một số công cụ hỗ trợ việc tải và chỉnh sửa PTN

1.3.3.1 Phần mềm tải phim

a) Free YouTube Downloader

Free YouTube Downloader là ứng dụng có khả năng download các video định dạng FLV trực tuyến Sử dụng tiện ích này để download các video định dạng FLV có trên Youtube, Dailymotion, Vimeo, MetaCafe và lưu dưới các định dạng video phổ

Trang 35

biến khác như: AVI, MPEG, DIVX, MP3, MP4 PSP, MOV, FLV

Ngoài ra, ứng dụng này có thể tải cùng lúc nhiều video khác nhau giúp tiết kiệm thời gian và công sức, các video sau khi được tải về sẽ được phát ngay lập tức trên máy tính

- Click Download để công việc bắt đầu

Hình 1.2 Hướng dẫn download video bằng Free YouTube Downloader

b) Youtube Downloader HD

Đúng như tên gọi của nó, Youtube Downloader HD là phần mềm hỗ trợ download những video có sẵn trên Youtube chất lượng cao với nhiều định dạng khác nhau như FLV (240p, HQ 345p hoặc HQ 720p) và MP4 (chất lượng trung bình, HD 720p hoặc full HD 1080p) Không những thế, ứng dụng này cũng giúp chuyển đổi một số các định dạng video cơ bản được hỗ trợ sẵn

Cách sử dụng:

- Sau khi cài Youtube Downloader HD trên máy tính, copy địa chỉ URL của video

cần download và paste trên khung Video URL: trên giao diện tiện ích

- Chọn định dạng video muốn download tại Video Quality và chọn đường dẫn thư mục chứa video sau khi download trong mục Save to:

- Click Download để công việc bắt đầu

Trang 36

Hình 1.3 Hướng dẫn download video bằng YouTube Downloader HD

c) IDM – Internet Download Manager

Internet Download Manager là phần mềm hỗ trợ download nổi tiếng, có thể download được hầu hết các định dạng video phổ biến và có tốc độ download nhanh gấp 5 lần so với các phần mềm khác Chúng ta có thể sử dụng tiện ích này để tải nhiều

dữ liệu, tài liệu trên Internet thậm chí là các bộ phim, video âm nhạc có sẵn trên các trang Web chia sẻ video như Youtube, Dailymotion, MetaCafe , tương thích với nhiều trình duyệt Web như Internet Explorer, Google Chrome, Mozilla Firefox hay Opera

Cách sử dụng: Sau khi cài đặt IDM trên máy tính, truy cập vào video muốn download về máy tính, nhấp chuột vào cửa sổ “Download this Video” để tải vide

Hình 1.4 Hướng dẫn download video bằng Internet Download Media

Trang 37

d) Trình duyệt Cốc cốc

Cốc cốc là một trình duyệt có tốc độ cài đặt khá nhanh lại dơn giản, giao diện đẹp và độc đáo; trình duyệt hỗ trợ dowload video hữu hiệu ở nhiều website mà không cần cài đặt thêm bất kỳ phần mềm nào khác Tính năng này dùng để dowload trên Youtube thì rất tốt, tuy nhiên nhược điểm là không sử dụng được với Daily Motion

Cách sử dụng:

- Chọn và mở video muốn tải Đợi khoảng 3 giây sẽ xuất hiện biểu tượng Dowload

ở phía góc trên cùng bên phải (như hình) và nhấp vào, cửa sổ giao diện sẽ xuất hiện

- Chọn định dạng tuỳ ý và nhấn nút Tải xuống

Hình 1.5 Hướng dẫn download video bằng trình duyệt Cốc cốc

1.3.3.2 Phần mềm chỉnh sửa phim

Trên thị trường hiện nay có rất nhiều phần mềm chỉnh sửa phim từ đơn giản đến phức tạp, gây khó khăn cho người sử dụng vì không biết lựa chọn phần mềm nào cho phù hợp Chúng tôi xin giới thiệu và đánh giá 3 phần mềm chỉnh sửa video phổ biến nhất hiện nay Cả 3 đều là những phần mềm miễn phí, người dùng có thể thoải mái tải

và sử dụng Cách sử dụng tùy theo nhu cầu riêng và được hướng dẫn chi tiết trên các diễn đàn điện tử, không khó để GV có thể tìm hiểu và làm theo Do đó, trong phạm vi

đề tài luận văn, chúng tôi không tôi xin không đề cập đến phần này

a) Windows Movie Maker

Dường như cái tên của ứng dụng đã nói lên tất cả tính năng mà nó đem lại Đúng như vây, Windows Movie Maker cho phép người dùng tạo ra một video và chia sẻ

Trang 38

chúng lên các trang web cũng như mạng xã hội Facebook hay Twitter cho những người bạn hoặc các thành viên trong gia đình mình

Windows Movie Maker cho phép mở cùng lúc nhiều đoạn phim khác nhau, và cung cấp công cụ để người dùng có thể kéo, thả để nối chúng lại với nhau một cách liên tục, hay sắp xếp thứ tự trình chiếu chỉ với vài cú click chuột đơn giản Ngoài ra, chúng ta còn có thể chia nhỏ một thước phim dài thành các đoạn nhỏ hơn để chèn vào

đó những đoạn khác, chứ không chỉ riêng các đoạn ở các file khác nhau nữa

Không những thế, Movie Maker còn cho phép người dùng thao tác với các bức ảnh để chèn chúng vào nơi muốn nó xuất hiện trong đoạn phim của mình, và dĩ nhiên, những hiệu ứng đi kèm để khiến nó hấp dẫn hơn là một điều không thể thiếu được Ngoài ra, với những video có chất lượng kém do bị rung trong quá trình quay, thì chương trình cũng giúp khắc phục hiện tượng này

Ngoài ra, việc xuất video của Movie Maker cũng cho nhiều định dạng khác nhau,

từ HD trên máy tính đến máy tính bảng, điện thoại và web chẳng hạn như YouTube, Facebook, Vimeo và nhiều trang khác

Hình 1.6 Giao diện phần mềm chỉnh sửa video Windows Movie Maker

b) Machete Video Editor Lite

Nếu so sánh với Windown Movie Maker thì những gì mà Machete Video Editor Lite mang lại hạn chế hơn rất nhiều, tuy nhiên thì nó cũng cung cấp những tính năng cần thiết cho người sử dụng

Trang 39

Một điểm yếu của Machete Video Editor Lite là việc chỉ cho phép mở một đoạn phim định dạng AVI hay WMV tại một thời điểm nhất định, tuy nhiên thì chương trình lại cho phép người dùng có thể chọn một file video khác được lưu trữ trong ổ cứng và chèn nó vào video đang được mở Điều này phần nào gây ra sự bất tiện khi phải mở từng cái và chèn, chứ không giống Windows Movie Maker cho phép mở tất cả cùng lúc và thực hiện thao tác trên đó

Sau khi đã nối những đoạn phim lại với nhau, chúng ta có thể chỉnh sửa chúng theo ý thích của mình Về phần này, Machete Video Editor Lite làm khá tốt khi cung cấp tương đối đầy đủ những công cụ, từ việc chọn ra một đoạn nào đó để tạo thành một file riêng, loại bỏ phần chất lượng kém và lưu chúng lại vào ổ đĩa cứng của mình Một tính năng khác ở đây là cho phép người dùng có thể cắt toàn bộ âm thanh sẵn có và chèn vào đó một bài nhạc khác làm nền, hay đưa một đoạn ghi âm vào đó chẳng hạn, nhưng tính năng này chỉ có trên bản Full chứ không xuất hiện ở bản Lite Machete Video Editor Lite khá đơn giản để sử dụng, tuy nhiên thì tính năng lại khá hạn chế so với những phần mềm khác

Hình 1.7 Giao diện phần mềm chỉnh sửa video Machete Video Editor Lite

Trang 40

lượng tốt, thì không có vấn đề gì Một tài khoản miễn phí trên WeVideo cho phép chúng ta kết nối với Facebook, và cung cấp cho người dùng 5GB để lưu trữ miến phí,

và 15 phút độ dài mỗi tháng với độ phân giải 480p Và một điều gây khó chịu là chúng

ta có thể chỉnh sửa tất cả các đoạn phim, nhưng chỉ có thể xuất ra với thời lượng tối đa

là 15 phút mà thôi

Giao diện của chương trình khá đơn giản, với bên trái là các đoạn phim hay hình ảnh đã tải lên, bên phải cho phép người dùng xem trước thành quả của mình, và dưới cùng là thanh thời gian (timeline) của đoạn video đó Chương trình cho phép kéo các đoạn video từ phần khung bên trái vào timeline để nối chúng lại với nhau, và hình ảnh cũng thế, tuy nhiên thì nó chỉ có hiệu ứng Ken Burns duy nhất

Bên cạnh đó, còn nhiều công cụ khác cho bạn thao tác, chẳng hạn như tạo ra một đoạn video ngắn bằng việc cài đặt thời gian bắt đầu và kết thúc trên timeline, hay có thể xoay ngang, dọc, điều chỉnh tỉ lệ, thêm những hiệu ứng hấp dẫn, điều chỉnh âm thanh hoặc có thể tách chúng ra và thay vào đó bằng một đoạn nhạc khác…

Khi đã hoàn tất công việc chỉnh sửa, chúng ta có thể lưu chúng lại trên hệ thống, hoặc chia sẻ thông qua các mạng xã hội…

Hình 1.8 Giao diện phần mềm chỉnh sửa video WeVideo

Ngoài những cái tên vừa kể trên ra, chúng ta còn khá nhiều những phần mềm khác, chẳng hạn như:

- Lightworks

- VSDC Free Video Editor

- Avidemux

Ngày đăng: 19/06/2021, 16:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w