1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở trường trung học phổ thông

129 61 4
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 2005, UNICEF Việt Nam, dưới sự hỗ trợ chuyên môn của các chuyên gia tham vấn tâm lý nước ngoài đã biên soạn và xuất bản cuốn Tài liệu tập huấn “Kỹ năng cơ bản trong tham vấn”, tài li

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Trần Cao Phương Diễm

KỸ NĂNG THAM VẤN CỦA NGƯỜI

THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh - 2018

Trang 2

Trần Cao Phương Diễm

KỸ NĂNG THAM VẤN CỦA NGƯỜI

THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

Chuyên ngành : Tâm lí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS VÕ THỊ TƯỜNG VY

Thành phố Hồ Chí Minh – 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tác giả

Trang 4

Cảm ơn Quý Thầy Cô, chuyên viên, cán bộ phòng Sau Đại học, Trường Đại học

Sư phạm TP.HCM đã tổ chức, hỗ trợ và tạo điều kiện tốt nhất cho học viên cao học Tâm lý học khóa 27

Xin cảm ơn Ban Giám hiệu Trường THPT Gia Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện tốt công việc ở trường trong suốt quá trình học cao học và làm luận văn

Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới Quý Thầy Cô hiện đang làm công tác tham vấn học đường ở các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã không ngần ngại giúp đỡ tôi thực hiện các khảo sát

Cảm ơn Tiến sĩ Phạm Sơn Tùng đã hỗ trợ tôi trong vấn đề dịch thuật và nghiên cứu tài liệu nước ngoài Cảm ơn gia đình đã luôn đồng hành và hỗ trợ tôi trong mọi hoàn cảnh

Trang 5

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cám ơn

Mục lục

Danh mục các kí hiệu, các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các biểu đồ

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 6

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

1.1.1 Tổng quan tham vấn học đường trên thế giới 6

1.1.2 Tổng quan tham vấn học đường ở Việt Nam 10

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài 14

1.2.1 Khái niệm tham vấn học đường 14

1.2.2 Nguyên tắc đạo đức trong tham vấn học đường 17

1.2.3 Phẩm chất của tham vấn học đường 20

1.2.4 Nội dung tham vấn học đường ở trường THPT 20

1.3 Lý luận về kỹ năng, kỹ năng tham vấn học đường 22

1.3.1 Khái niệm kỹ năng 22

1.3.2 Khái niệm kỹ năng tham vấn 26

1.3.3 Một số tiêu chí đánh giá kỹ năng tham vấn 28

1.3.4 Một số kỹ năng trong tham vấn học đường ở trường THPT 29

1.4.Yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở trường THPT 46

1.4.1 Yếu tố chủ quan 46

1.4.2 Yếu tố khách quan 47

Trang 6

Chương 2 THỰC TRẠNG KỸ NĂNG CỦA NGƯỜI THAM VẤN HỌC

ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TẠI THÀNH

PHỐ HỒ CHÍ MINH 50

2.1.Tổ chức và phương pháp nghiên cứu 50

2.1.1 Mẫu khách thể nghiên cứu 50

2.1.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 50

2.1.3 Tiêu chí đánh giá kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở trường THPT tại Tp.HCM 55

2.2.Thực trạng kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở trường THPT tại Tp.HCM 56

2.2.1 Kỹ năng phối hợp giữa người tham vấn học đường với phụ huynh 57

2.2.2 Kỹ năng phối hợp giữa người tham vấn học đường với giáo viên 60

2.2.3 Kỹ năng hỗ trợ học sinh 61

2.2.4 Mối tương quan giữa các kỹ năng: kỹ năng phối hợp với phụ huynh, kỹ năng phối hợp với đồng nghiệp và kỹ năng hỗ trợ học sinh 63

2.3.Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở trường THPT tại Tp.HCM 64

2.3.1 Yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn với chuyên ngành đào tạo 64

2.3.2 Yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn và mức độ hài lòng của nhà TVHĐ với thời gian tham vấn 67

2.3.3 Mối tương quan giữa yếu tố ảnh hưởng và mức độ hài lòng của nhà TVHĐ về hệ thống trường học 72

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO 79 PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

hội tâm lý Mỹ)

(Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ)

độ tin cậy mang tính thống kê)

(Phần mềm thống kê cho Khoa học Xã hội)

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Bảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm của K.K

Platonov và G.G 26

Bảng 1.2 Bảng phân chia các mức độ kỹ năng TVHĐ 28

Bảng 2.1 Đánh giá mức độ kỹ năng tham vấn học đường 51

Bảng 2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của công việc TVHĐ 53

Bảng 2.3 Mức độ hài lòng của người làm TVHĐ trong công việc 53

Bảng 2.4 Mức độ kỹ năng quy ra điểm số 56

Bảng 2.5 Mức độ kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường 57

Bảng 2.6 Mẫu khách thể nghiên cứu 50

Bảng 2.7 Mức độ sự phối hợp giữa người tham vấn học đường với phụ huynh 59

Bảng 2.8 Mức độ sự phối hợp giữa người tham vấn học đường với đồng nghiệp 60

Bảng 2.9 Kỹ năng hỗ trợ học sinh ở mặt nhận thức, thái độ và hành vi 62

Bảng 2.10 Mối tương quan giữa các kỹ năng 63

Bảng 2.11 Các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tham vấn 64

Bảng 2.12 Mức độ hài lòng của nhà TVHĐ với thời gian tham vấn 68

Bảng 2.13 Mức độ hài lòng của người tham vấn học đường và thời gian làm việc 69

Bảng 2.14 Yếu tố ảnh hưởng và hệ thống trường học 72

Bảng 2.15 Mức độ hài lòng của nhà TVHĐ về nơi làm việc 74

Trang 9

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1 Mức độ kỹ năng tham vấn chung 3 kỹ năng 57

Biều đồ 2.2 Mức độ kỹ năng phối hợp với phụ huynh 58

Biểu đồ 2.3 Mức độ kỹ năng phối hợp với giáo viên 60

Biểu đồ 2.4 Mức độ kỹ năng hỗ trợ học sinh 61

Biểu đồ 2.5 Người tham vấn tâm lý có nhiều đặc điểm tâm lý phù hợp với nghề 66

Biểu đồ 2.6 Yếu tố sự cộng tác và ý thức tự giác của học sinh và gia đình trong công việc tham vấn 67

Biểu đồ 2.7 Có kiến thức về lý thuyết vủa nhà TVHĐ 69

Biểu đồ 2.8 Anh/chị có yêu thích việc tham vấn không? 71

Biểu đồ 2.9 Sự hỗ trợ của ban giám hiệu đến đời sống tinh thần của nhà TVHĐ 72

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tham vấn học đường là một lĩnh vực khoa học khá mới tại Việt Nam, lĩnh vực này hiện đang được quan tâm và thúc đẩy phát triển ở một số thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội Ngày 31/08/2012 Sở GD&ĐT thành phố Hồ Chí Minh

đã ra quyết định tạm thời về tổ chức và hoạt động công tác tư vấn học đường, số 1090/QĐ-GDĐT-TC Người tham vấn học đường được gọi là giáo viên tâm lý Giáo viên làm công tác tư vấn được bố trí thời gian làm việc, phòng tư vấn thích hợp và tạo điều kiện thuận lợi để tổ chức và tham gia các hoạt động Giáo viên được ưu tiên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kiến thức kinh tế, văn hóa, xã hội… để phục vụ tốt nhất cho công tác tư vấn học sinh Giáo viên tư vấn học đường được hưởng lương, chế độ và chính sách theo ngạch giáo viên đúng quy định hiện hành chung và được hỗ trợ hoạt động phí Ngày 2/2/2018 Bộ Giáo dục ban hành thông tư 31/2017/TT-BGDĐT “Hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lý cho học sinh trong trường phổ thông” Thông tư có sự tiến bộ khi ra chỉ thị cần phòng tham vấn học đường vì nhu cầu cấp thiết nhìn từ thực tế vì sự khủng hoảng lứa tuổi, sự căng thẳng trong học tập và các mối quan hệ với gia đình, thầy cô và bạn bè Tuy nhiên, khi lựa chọn giải pháp kiêm nhiệm cho vị trí tham vấn học đường dù có đào tạo sẽ có những khó khăn nhất định về mức độ chuyên sâu khi gặp các ca khó và sự quá tải cho vai trò kiêm nhiệm Điều này cũng làm giảm vai trò của những người được đào tạo đúng chuyên ngành vì không tuyển nhân sự ở vị trí chuyên trách Tham vấn học đường ở Việt Nam được xây dựng và phát triển mạnh khoảng hơn 10 năm trở lại đây Mặc dù tham vấn học đường là nhu cầu thiết thực của học sinh, tuy nhiên công tác này tại các trường còn có nhiều khó khăn Chính vì chưa có

sự chuẩn hóa về thời gian và qui trình làm việc nên hoạt động tham vấn tùy thuộc vào

tổ chức riêng của mỗi trường Việc bồi dưỡng nghiệp vụ hằng năm do Sở GDĐT Tp.HCM cũng cần được lưu tâm dựa trên khảo sát nhu cầu thực tiễn Hơn thế nữa, nhận thức của học sinh về tham vấn vẫn còn hạn chế, cần khuyến khích vì sự e ngại

và thiếu hiểu biết của các em khi đến tham vấn Ngoài ra, cần có kỹ năng sự hợp tác giữa tham vấn viên với Ban Giám Hiệu, giáo viên và phụ huynh Do đó cần có sự liên

Trang 11

kết, chuyển ca và hỗ trợ những em có khó khăn về tâm lý Điều này cho thấy rằng, ngoài kỹ năng tham vấn, còn nhiều kỹ năng khác cần hỗ trợ và phát triển để người tham vấn học đường làm việc hiệu quả hơn Học sinh THPT ở độ tuổi dưới 18 nên các em cần sự đồng hành và giám sát từ gia đình vì thế người tham vấn học đường cần phối hợp với đồng nghiệp và phụ huynh Người tham vấn học đường có kỹ năng tham vấn tốt sẽ hỗ trợ cho học sinh hiệu quả hơn Chính vì thế, cần nâng cao kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường và khẳng định vai trò quan trọng của người tham vấn học đường để tham vấn học đường ngày càng phát triển, chuyên nghiệp và phổ quát

Từ những thực tế trên mà đề tài: “Kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở trường THPT” được chọn để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở tìm hiểu thực trạng kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường

ở Trường THPT tại thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao

kỹ năng cho người tham vấn học đường để họ tiếp tục phát triển nghề

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở Trường THPT

3.2 Khách thể nghiên cứu

50 người làm công tác tham vấn học đường ở Trường THPT tạiThành phố Hồ Chí Minh

2 chuyên gia về tham vấn học đường

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

4.1 Giới hạn về đối tượng nghiên cứu

Có rất nhiều kỹ năng của người tham vấn học đường Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu vào một số kỹ năng sau: Kỹ năng phối hợp với phụ huynh, kỹ năng phối hợp với đồng nghiệp và kỹ năng hỗ trợ học sinh

4.2 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu

Một số trường THPT có phòng tham vấn học đường trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

Trang 12

5 Giả thuyết khoa học

- Người tham vấn học đường thực hiện kỹ năng hỗ trợ học sinh tốt hơn kỹ năng phối hợp với phụ huynh và kỹ năng phối hợp với đồng nghiệp

- Sự phối hợp với phụ huynh và đồng nghiệp của người làm tham vấn học đường tùy thuộc vào nhận thức của thân chủ

- Sự phối hợp với phụ huynh và đồng nghiệp của người làm tham vấn học đường mang tính bị động

6 Nhiệm vụ nghiên cứu

6.1 Tìm hiểu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về tham vấn học đường của người tham vấn học đường ở trường THPT gồm: tham vấn học đường, kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường

6.2 Khảo sát thực trạng tham về các kỹ năng tham vấn của người làm tham vấn học đường ở Trường THPT tại Tp.HCM

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Quan điểm tiếp cận

7.1.1 Quan điểm tiếp cận hệ thống cấu trúc

Vận dụng quan điểm cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như tham vấn tâm lý, tham vấn học đường, kỹ năng của người tham vấn học đường Nghiên cứu đề tài (xây dựng bảng hỏi, bình luận thực trạng) được tiến hành trên cấu trúc đã được xác lập theo quan điểm hệ thống cấu trúc toàn vẹn nhưng có tính động

7.1.2 Quan điểm tiếp cận hệ thống thực tiễn

Vấn đề tham vấn tâm lý nói chung và tham vấn học đường bậc THPT nói riêng ngày nay đang là mối quan tâm của toàn xã hội Các nghiên cứu tâm lý học, xã hội học, báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng trong thời gian gần đây đưa tin

về sự cần thiết của tham vấn học đường trong trường học Do đó, việc nghiên cứu kỹ năng của người tham vấn học đường bậc THPT là cần thiết để từ đó đề xuất các kiến nghị góp phần nâng cao kỹ năng của người tham vấn học đường đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đề ra

Trang 13

7.2 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận văn sử dụng phối hợp đồng

bộ các phương pháp nghiên cứu sau:

7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Thu thập các sách, báo, tạp chí, cẩm nang, các nghiên cứu trong và ngoài nước

có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm mục đích xây dựng khung lý thuyết cho đề tài

- Phân loại, phân tích, tổng hợp các vấn đề lý luận để từ đó thiết kế công cụ nghiên cứu và là cứ liệu cần thiết cho việc bình luận kết quả nghiên cứu

- Xác định khái niệm công cụ và các khái niệm có liên quan: tham vấn học đường, kỹ năng tham vấn học đường

- Xác định nội dung nghiên cứu gồm những kỹ năng nào, đưa ra giả thuyết nghiên cứu, lựa chọn những yếu tố để khảo sát, tìm hiểu về mức độ kỹ năng tham vấn của người làm tham vấn học đường ở trường THPT tại TP.HCM

7.2.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Bảng hỏi: Dành cho người tham vấn học đường ở Trường THPT tại thành phố

Hồ Chí Minh

Đây là phương pháp chính để khảo sát kỹ năng tham vấn của người làm tham vấn học đường Mục đích của của việc sử dụng phương pháp này là thu thập thông tin từ phía người làm tham vấn học đường để đánh giá sơ bộ về kỹ năng tham vấn của người tham vấn học đường ở trường THPT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng khảo sát trả lời những câu hỏi (bao gồm câu hỏi mở và câu hỏi đóng) trên

các phiếu thăm dò ý kiến

7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Soạn hệ thống câu hỏi, sau đó trực tiếp nêu hệ thống câu hỏi cho những đối tượng liên quan để thu lượm những dữ liệu phục vụ cho việc tìm hiểu kỹ năng người của tham vấn học đường và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao kỹ năng tham

vấn của người làm công tác tham vấn học đường

7.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Trang 14

Xử lý các thông tin thu được từ phương pháp nghiên cứu thực tiễn ở trên, kiểm định tính khách quan, độ tin cậy của các kết quả nghiên cứu

Nội dung: thống kê mô tả và phân tích để trình bày kết quả nghiên cứu dưới dạng bảng

Sử dụng phương pháp thống kê toán học dưới sự trợ giúp của phần mềm SPSS

20.0 và phần mềm Microsoft Excel 2013

Trang 15

Chương 1

LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KỸ NĂNG THAM VẤN

HỌC ĐƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1 Tổng quan tham vấn học đường trên thế giới

- Giai đoạn từ cuối thế kỷ XIX sang đầu thế kỷ XX: Đây là giai đoạn khởi đầu của công tác hướng nghiệp và tham vấn nghề Được khởi đi từ việc cung cấp thông tin và cho lời khuyên mang tính giáo dục đặc biệt là cho giới trẻ để sống tốt hơn và khả năng thích ứng với lao động công nghiệp trong giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp Chính vì thế, giai đoạn đầu là công tác hướng dẫn nghề, sau đó là tham vấn nghề và tiếp theo là sự phát triển các thang đo trắc nghiệm, các lý thuyết nghiên cứu

về tâm lý cá nhân và sự ứng dụng của phân tâm học vào các rối loạn tâm lý của con người

Một số nhà tâm lý điển hình như Wilhelm Wundt (1832-1920), người Đức và Franics Galton (1822-1911) người Anh là những nhà tâm lý học thực nghiệm đầu tiên

đã kiểm tra được sự khác biệt về thể chất con người như sức mạnh cơ bắp, kích cỡ đầu và thời gian phản ứng Tiếp theo lĩnh vực này, ở Mỹ hai nhà tâm lý học là G.Stanley Hall (1846-1942) và James Cattell (1860-1940) đã mở phòng thực nghiệm đầu tiên tại Harvard và đại học Pennsylvania (Capshew, 1992) đã phát triển thang đo nhân cách, trắc nghiệm áp dụng vào tham vấn nghề Taị Pháp thì Alfred Binet (1857-1911) đã phát triển trắc nghiệm kiểm tra trí thông minh đầu tiên cho bộ giáo dục Năm 1907, Jesse Davis (1817-1955) đã xây dựng cơ sở đào tạo nghề đầu tiên tại Michigan nhưng người có ảnh hưởng lớn đến công tác hướng nghiệp Mỹ là Frank Parsons (1854-1908)

- Giai đoạn giữa thế kỷ XX: Tham vấn được phát triển như một ngành chuyên nghiệp: E.G Williamson đưa ra một lý thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên gọi là

“Tiếp cận đặc điểm và nhân tố” năm 1930

Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ (APA) được sáng lập năm 1892 như là hiệp hội chủ yếu của các nhà tâm lý kinh nghiệm

Trang 16

- Giai đoạn từ cuối thế kỷ XX đến nay: Tham vấn theo xu hướng đa văn hóa: Các nhà tâm lý học sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu người tham vấn không nắm được nền tảng văn hóa của khách hàng

Hầu hết các tài liệu lịch sử chỉ ra rằng tham vấn học đường xuất hiện trong giai đoạn Cách mạng Công nghiệp Mỹ vào đầu thế kỷ 20 (Schmidt, 2008; Sciarra, 2004) Tăng trưởng công nghiệp nóng thời kỳ này đã gây ra một số hậu quả xấu như là sự hình thành các khu ổ chuột, những thách thức của cuộc sống đô thị, sự bỏ qua những quyền cá nhân, quyền tự do và giá trị con người Để khắc phục tình trạng này, một số nhà giáo dục và nhà hoạt động xã hội đã đề xuất các chương trình nhằm giúp học sinh phát triển, đặc biệt nhấn mạnh vào việc giúp học sinh định hướng nghề nghiệp (Schmidt, 2008) George Merrill bắt đầu thực hiện định hướng nghề nghiệp cho học sinh tại trường California School of Mechanical Arts, Sanfrancisco vào nằm 1895 (Miller, 1968), bằng cách cho học sinh khám phá thực tiễn các ngành nghề được dạy học tại trường và trong xã hội

Bên cạnh việc định hướng nghề nghiệp, các chương trình này còn giúp học sinh phát triển đạo đức, kỹ năng xã hội và các mối quan hệ cá nhân Những nhà tiên phong trong lĩnh vực này là Jesse B Davis ở Michigan, Frank Goodwin ở Ohio, Anna Reed

ở Washington, Frank Parsons ở Massachusetts và Eli Weaver ở New York (Hardin and Christine, 2011) Jesse B Davis đã giới thiệu một chương trình “Những hướng dẫn về nghề nghiệp và đạo đức” (Vocational and Moral Guidance) cho học sinh các trường học công Frank Parson đã viết cuốn sách “Chọn lựa một nghề” (Choosing a Vocation) vào năm 1909 trong đó ông trình bày phương pháp kết nối những đặc điểm tính cách cá nhân với nghề nghiệp (Frank Parson, 2009) Có thể nói đây là những người đã góp phần tạo thành một trào lưu thúc đẩy sự phát triển của ngành Tham vấn Học đường

Hiệp hội Khải đạo Quốc gia (National Vocational Guidance Association) được thành lập tại Mỹ năm 1913 Hiệp hội này xuất bản tạp chí Khải đạo Quốc gia (National Vocational Guidance Bulletin) còn tồn tại cho đến ngày nay và được đổi tên là tạp chí Phát triển nghề (Career Development Quarterly) hiện được quản lý bởi Hiệp hội Phát triển nghề Quốc gia (National Career Development Association) Từ

Trang 17

xuất phát điểm là định hướng nghề nghiệp, Hiệp hội này ngày nay đã trở thành nơi hoạt động các người tham vấn thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó đặc biệt là tham vấn học đường Trong thời kỳ này, sự phát triển của phong trào khải đạo có liên

hệ mật thiết với sự phát triển công nghiệp của Mỹ khi mà sự đo lường và đánh giá các đặc điểm, năng khiếu của con người ngày càng được quan tâm Chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra khiến sự quan tâm này càng được tăng lên bởi quân đội Mỹ đã

sử dụng định hướng nghề nhằm sàng lọc, tuyển chọn các quân nhân (Hardin and Christine, 2011) Bên cạnh đó, cũng xuất hiện thuật ngữ người tham vấn (Counseler) thường được đề cập như là những chuyên gia làm việc với người trầm cảm và chịu di chứng tâm lý chiến tranh (Thế chiến thứ nhất và thứ hai)

E.G Williamson, giáo sư của trường đại học Minnesota, năm 1950 đã đưa ra

Lý thuyết về các Nhân tố và Đặc điểm (Trait-Factor Theory) được phát triển lên từ các nghiên cứu của ông trong những năm 1930 về hoạt động tham vấn học đường (Williamson, 1950) Cách tiếp cận của Lý thuyết này bao gồm 6 bước: 1) Phân tích: thu thập số liệu, thông tin về học sinh, sinh viên và môi trường sống của họ; 2) Tổng hợp: tổng hợp các số liệu có liên quan để hiểu rõ hơn về đối tượng; 3) Chuẩn đoán; 4) Tiên lượng hoặc dự đoán kết quả có nhiều khả năng sẽ xảy ra do hành vi của đối tượng; 5) Điều trị: trong đó đưa ra các chiến lược và kỹ thuật khác nhau mà người tham vấn có thể sử dụng để hỗ trợ đối tượng; 6) Theo dõi, đánh giá kết quả.Lý thuyết Nhân tố và Đặc điểm của E.G Williamson đã trở nên nổi tiếng như là một sự chỉ đạo cho hoạt động tham vấn

Mặc dù xuất phát điểm của tham vấn học đường là định hướng nghề nghiệp cho học sinh, nhưng một số nhà giáo dục thời đó đã cho rằng việc quyết định lựa chọn nghề nào chỉ là một phần trong sự phát triển cá nhân học sinh Tiếng nói của các chuyên gia này đã thu hút được sự chú ý của dư luận, và kết quả là hoạt động tham vấn học đường đã mở rộng ra thêm, bao gồm cả định hướng về đạo đức và sự phát triển các kỹ năng xã hội cũng như các mối quan hệ cá nhân Vai trò của tham vấn học được kể từ đó ngày càng được đề cao trong trường học tại Mỹ Năm 1958 đạo luật National Defense Education Act ra đời nhằm nhấn mạnh tầm quan trọng của tham vấn học đường Đạo luật này yêu cầu cung cấp nguồn lực để các bang của Mỹ thiết

Trang 18

lập và duy trì các hoạt động tham vấn và khải đạo trong trường học Bên cạnh đó còn

ủy quyền và cho phép các trường cao đẳng và đại học thiết kế các chương trình đào tạo tham vấn học đường Kết quả của đạo luật National Defense Education Act năm

1958 là rất đáng chú ý Chỉ trong khoảng thời gian 5 năm kể từ năm 1958, số người tham vấn học đường đã tăng từ 12000 tới trên 27000 trên toàn nước Mỹ, giúp tăng tỷ

lệ tham vấn/học sinh từ 1:960 lên 1:530, và chính phủ tiếp tục tài trợ cho các trường cao đẳng, đại học để đào tạo tiếp 13000 người tham vấn học đường trong giai đoạn này (Miller, 1968)

Năm 1958 Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ (American School Counselor Association - ASCA) được thành lập như là một nhánh của Hiệp hội APGA (American Personal and Guidance Association) tiền thân của Hiệp hội Tâm lý Mỹ ACA (American Counseling Association) (Lambie and Williamson, 2004) Năm

1997, Tiêu chuẩn quốc gia dành cho các chương trình tham vấn học đường ra đời và

kể từ đó ngành tham vấn học đường được xem là đã hoàn thiện Hiện nay Hiệp hội các nhà tâm lý học đường Mỹ ASCA được xem là nguồn tham khảo và kiểu mẫu cho các chương trình tham vấn tâm lý học đường của hầu hết các nước trên thế giới Tham vấn học đường ở Hàn Quốc bắt đầu được nhen nhóm vào những năm

1950 khi Đoàn đại biểu giáo dục Hoa Kỳ (United States Educational Delegation) đến thăm Hàn Quốc và truyền đạt các lý thuyết và phương pháp về tham vấn học đường

và định hướng nghề nghiệp cho các nhà giáo dục Hàn Quốc (Yoo, 1996) Những kiến thức này rất khác so với những quan niệm truyền thống của Hàn Quốc về giáo dục thời bấy giờ là trừng phạt về thể xác (Coporal punishment) Những hoạt động này đã dẫn tới nhiều cải cách trong Luật giáo dục của Hàn Quốc (Education Act), khi mà năm 1963 quy định rằng “các trường phổ thông và trung học cần có các giáo viên hướng dẫn kỷ luật” (disciplinay guidance teachers) Mặc dù vậy vai trò và chức năng của những giáo viên hướng dẫn này tại thời điểm đó vẫn chưa định nghĩa một cách đầy đủ (Lee et al., 2007) Phải đợi đến tận năm 1990 Bộ Giáo dục Hàn Quốc mới đổi chức danh của những giáo viên này thành giáo viên tham vấn nghề (career counseling teacher) Tuy nhiên hầu hết những người làm nghề này thời đó đều là giáo viên kiêm nhiệm Những giáo viên kiêm nhiệm này chỉ cần học khoảng 2 môn học về tham vấn

Trang 19

là có được chứng chỉ trở thành giáo viên tham vấn Do đó những giáo viên này không

có chuyên môn sâu cũng như không có các kỹ năng cần thiết về tham vấn học đường Không có chương trình đào tạo bài bản, thiếu vắng sự chuẩn bị nghiêm túc khiến cho nhiều giáo viên tham vấn Hàn Quốc gần như trở thành các nhân viên hành chính trong trường (Lee and Ahn, 2003) Vấn đề này bắt đầu được giải quyết khi Bộ giáo dục Hàn Quốc năm 1997 yêu cầu thành lập một hệ thống quản lý các chuyên gia tham vấn học đường cùng với đó là yêu cầu về đào tạo tham vấn học đường có phần khắt khe hơn Tuy nhiên phải đợi đến năm 2004 Luật giáo dục cơ sở và phổ thông của Hàn Quốc (Elementary and Secondary School Education Act) mới công nhận chức danh nghề tham vấn học đường và yêu cầu các trường đại học mở ra các khóa đào tạo chuyên về ngành này Kể từ đó, tham vấn học đường được coi là một nghề chính thức trong trường học (full-time job)

Tham vấn học đường bắt đầu xuất hiện tại Nhật Bản vào khoảng giữa những năm 1950-1960, với sự xuất hiện của Trung tâm tham vấn Kyoto (Kyoto Counseling Center) gồm những giáo viên phổ thông và giảng viên đại học Nhiệm vụ chính của

họ là tham vấn cho phụ huynh học sinh Năm 1995, Bộ Giáo dục Nhật Bản khởi động chương trình tham vấn học đường với kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và các chuyên gia tâm lý tại các bệnh viện nhằm giải quyết những vấn đề tâm lý cho học sinh Những chuyên gia tâm lý này được đổi tên từ “clinical school counselors” sang

“school counselors” (Takizo Yagi, 2008)

1.1.2 Tổng quan tham vấn học đường ở Việt Nam

Tham vấn tâm lý ở Việt Nam khởi đầu với những thuật ngữ thực tế như trợ giúp tâm lý cho người có khó khăn dưới cái nhìn của nhân viên công tác xã hội Trước năm 1945, tại một trong những bệnh viện miền Bắc như Bạch Mai đã sử dụng tham vấn như một kỹ năng quan trọng để hỗ trợ bệnh nhân; ở miền Nam bên cạnh hoạt động theo hướng xã hội có tồn tại các hoạt động tham vấn cá nhân, gia đình và cộng đồng như trường đào tạo Cán sự Xã hội Caritas tại 43 Tú Xương, thành phố Hồ Chí Minh (Nguyễn Thị Oanh, 2009)

Theo tác giả Nguyễn Thị Minh Đức, nghề tham vấn tâm lý khởi đầu từ công tác

tư vấn tâm lý, xuất hiện trong thời kỳ chuyển đổi bao cấp sang kinh tế thị trường

Trang 20

những năm cuối thập niên 80 và đầu thập niên 90 thế kỷ XX, vào thời kỳ này hoạt động tâm lý được đi kèm với các chương trình cải thiện cuộc sống và kinh tế cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội Công tác tư vấn là một phần trong các hoạt động của công tác từ thiện, xã hội để giúp những người đói nghèo, trẻ lang thang, mồ côi, mại dâm, người có HIV, người bệnh tật, (Nguyễn Thị Oanh, 2009)

Theo Th.S Nguyễn Thị Oanh thì phòng tâm lý đầu tiên được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh năm 1988 do TS Tô Thị Ánh phụ trách (Nguyễn Thị Oanh, 2009) 1997-2000 tại thành phố Hồ Chí Minh có đến hàng chục phòng tham vấn HIV, các trung tâm tư vấn tình yêu, hôn nhân, gia đình thuộc hội tâm lý giáo dục thành phố

Hồ Chí Minh TS Trần Thị Giồng đã dần làm thay đổi tính chất của hoạt động tham vấn từ cho lời khuyên chủ yếu bằng điện thoại dần sang trực tiếp, tập trung sâu vào vấn đề tâm lý của người xin trợ giúp

Đến nay, dịch vụ tham vấn và trị liệu tâm lý đã được thành lập từ nhiều tổ chức, trường học, công ty và cá nhân và đang trên đà phát triển

1958-1965, những chuyên gia tâm lý đầu tiên được đào tạo là tư vấn nghề, hầu hết được học ở Liên Xô và các nước Đông Âu Cho tới năm 1975, tư vấn nghề mới được Viện Khoa học Giáo dục đề cập đến Năm 1975-1976, tham vấn chủ yếu cho người vừa hết chiến tranh trở về, năm 1977-7980 tư vấn nghề được tiến hành ở một

số trường cấp 3 ở Hà Nội, năm 1980-1981 công tác hướng nghiệp được đưa vào trường phổ thông, năm 1981-1986 tài liệu sinh hoạt cho học sinh cuối cấp trung học phổ thông được biên soạn Nhưng đến năm 1987-1991 phong trào hướng nghiệp ở các địa phương bị sa sút nghiêm trọng, công tác tư vấn tạm thời bị dừng lại Tháng 3/1991 hướng nghiệp được khôi phục và trung tâm hướng nghiệp trực thuộc Bộ Giáo dục được thành lập

Năm 2000, một sô trường trung học tư thục, dân lập thành lập phòng tư vấn tâm

lý như THPT Dân lập Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Tất Thành, Trần Hưng Đạo với sự

hỗ trợ đào tạo của văn phòng tư vấn tâm lý trẻ em thuộc Ủy ban dân số gia đình trẻ

em thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các Ủy ban dân số gia đình trẻ em và phòng giáo dục

Trang 21

Năm 2004, dự án xây dựng phòng tham vấn học đường với sự hỗ trợ của Unicef Việt Nam bao gồm các hoạt động điều tra nhu cầu tham vấn học đường của học sinh trung học phổ thông tại hai trường Trần Hưng Đạo và Nguyễn Tất Thành ở Hà Nội (Đại học sư phạm Hà Nội, 2011)

Năm 2005, UNICEF Việt Nam, dưới sự hỗ trợ chuyên môn của các chuyên gia tham vấn tâm lý nước ngoài đã biên soạn và xuất bản cuốn Tài liệu tập huấn “Kỹ năng cơ bản trong tham vấn”, tài liệu xác định các kỹ năng tham vấn cơ bản chính là các kỹ năng giao tiếp không lời và bằng lời như: kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng phản ánh cảm xúc, kỹ năng diễn đạt lại và khuyến khích, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng tóm tắt…

Năm 2006, tác giả Nguyễn Thơ Sinh trong cuốn “Tư vấn tâm lý căn bản” đã chỉ

ra một số kỹ năng cần có của nhà tư vấn như: kỹ năng thuyết phục thân chủ, kỹ năng chia sẻ, kỹ năng giúp thân chủ thay đổi cách nhìn, kỹ năng nắm bắt kịp thời, kỹ năng chất vấn, kỹ năng nhắc lại tiến trình, kỹ năng hài hước, kỹ năng hợp đồng…

Năm 2007, hai tác giả Kiến Văn, Lý Chủ Hưng trong cuốn “Tư vấn tâm lý học đường” đã tìm hiểu đối tượng được tư vấn, đó là các kỹ năng: lắng nghe; đặt câu hỏi đóng, câu hỏi mở; động viên khích lệ; diễn nghĩa; phản ánh tình cảm; khái quát Trong

đó các tác giả đã chỉ rõ cách thức thực hiện các kỹ năng như thế nào và viện dẫn các

ví dụ cụ thể trong các tình huống tư vấn cho từng kỹ năng

Năm 2007, luận án Tiến sĩ của tác giả Bùi Thị Xuân Mai với đề tài “Một số

kỹ năng tham vấn cơ bản của cán bộ xã hội” đánh giá khái quát thực trạng tham vấn

ở Việt Nam và thực trạng 4 kỹ năng tham vấn cơ bản (kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi, kỹ năng thấu hiểu) của các cán bộ xã hội trong các trung tâm, cộng đồng trong ngành lao động, thương binh và xã hội

Năm 2007, tác giả Trần Thị Minh Đức trong cuốn “Giáo trình tham vấn tâm lý”

đã dành một chương bàn về các kỹ năng tham vấn tâm lý Theo tác giả có một số kỹ năng tham vấn thông dụng như: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng xây dựng lòng tự trọng,

kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng thông đạt, kỹ năng phản hồi, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng thách thức, đối chất, kỹ năng diễn đạt lại, kỹ năng khuyến khích, động viên, kỹ năng

Trang 22

thăm dò, kỹ năng làm sáng tỏ, kỹ năng xử lý im lặng, kỹ năng trấn an, kỹ năng tự bộc

lộ, kỹ năng khái quát hóa ca…

Đến năm 2010, tác giả Trần Thị Minh Đức đã biên soạn cuốn “Kỹ năng tham vấn – cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật” Trong đó tác giả chỉ rõ các kỹ năng tham vấn cơ bản bao gồm 6 kỹ năng sau: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi, kỹ năng thấu cảm, kỹ năng xử lý im lặng và kỹ năng thách thức Đây

là các kỹ năng cơ bản nhất trong tham vấn giúp các nhà tham vấn nói chung và tham vấn cho người chưa thành niên vi phạm pháp luật nói riêng thực hiện tham vấn có hiệu quả

Năm 2012, luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Anh Phước vói đề tài “Kỹ năng tham vấn của cán bộ tham vấn học đường” gồm 2 nhóm kỹ năng sau: nhóm kỹ năng tham vấn cơ bản và nhóm kỹ năng tham vấn chuyên biệt Kỹ năng tham vấn cơ bản:

là những kỹ năng nền tảng giúp cho việc thực hiện có hiệu quả hoạt động tham vấn nói chung: kỹ năng thiết lập mối quan hệ, kỹ năng hỏi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng phản hồi Nhóm kỹ năng tham vấn chuyên biệt:

là những kỹ năng riêng, được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ của tham vấn học đường, bao gồm các kỹ năng: kỹ năng phát hiện sớm, kỹ năng đánh giá tâm lý học sinh, kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động phòng ngừa toàn trường, kỹ năng can thiệp,

kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục, kỹ năng lập và lưu trữ hồ sơ tâm lý của học sinh

Các nghiên cứu trên là những tài liệu hỗ trợ cho công tác tham vấn tâm lý Những kỹ năng tham vấn giúp tạo lập mối quan hệ với thân chủ và giúp việc tham vấn hiệu quả hơn Các nghiên cứu bổ sung giúp người làm tham vấn thêm kiến thức chuyên môn để làm việc hiệu quả hơn Nghiên cứu gần nhất là của tác giả Hoàng Anh Phước, tác giả chia kỹ năng tham vấn thành nhóm kỹ năng cơ bản và nhóm kỹ kỹ năng chuyên biệt Phần kỹ năng cơ bản tác giả đưa ra nhóm kỹ năng chung về tham vấn, những kỹ năng này chúng ta có thể thấy ở những nghiên cứu của các tác giả trước đó như Bùi Thị Xuân Mai, Trần Thị Minh Đức,… Kỹ năng chuyên biệt, đề tài

mà tác giả muốn nói ở đây là kỹ năng tham vấn học đường nội dung khá đầy đủ, đây

có thể là nguồn tham khảo cho người làm tham vấn học đường

Trang 23

Tham vấn học đường còn khá mới ở Việt Nam nên còn cần thêm những đóng góp trong nghiên cứu mang tính thực tiễn và phát triển hơn dựa trên những nghiên cứu đã có Trong tham vấn học đường cần nhấn mạnh sự phối hợp giữa nhà tham vấn học đường với giáo viên và phụ huynh, cũng như nâng cao kỹ năng hỗ trợ học sinh

1.2 Cơ sở lý luận của đề tài

1.2.1 Khái niệm tham vấn học đường

Theo hiệp hội các nhà tham vấn Hoa Kỳ (ACA, 1997) "Tham vấn là sự áp dụng các nguyên tắc tâm lý, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người, qua đó có các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành

vi, tập trung vào sự lành mạnh, sự phát triển cá nhân, phát triển nghề nghiệp và các vấn đề bệnh lý." Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ định nghĩa tham vấn như một mối quan

hệ tự nguyện giữa người tham vấn và khách hàng Trong mối quan hệ này người tham

vấn giúp khách hàng xác định và giải quyết vấn đề của chính bản thân họ

P.K Odhner cho rằng tham vấn là quá trình, nó đòi hỏi các người tham vấn cần giúp đỡ thân chủ tìm hiểu, xác định vấn đề của bản thân và triển khai các giải pháp trong điều kiện cho phép và khoảng thời gian nhất định Tham vấn là một khoa học thực hành nhằm giúp con người vượt qua những khó khăn của mình để học có khả năng hoạt động độc lập trong đời sống xã hội bằng chính kỹ năng sống và năng lực của mình (Trần Thị Minh Đức, 2014)

Theo Hoàng Anh Phước, tham vấn là một hoạt động trợ giúp dựa trên sự tương tác giữa người tham vấn và thân chủ, trong đó người tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống (Hoàng Anh Phước, 2012)

Theo TS Nguyễn Thị Minh Đức: Tham vấn là một quá trình tương tác giữa người tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với thân chủ (còn gọi là khách hàng – người đang có khó khăn về tâm lý cần được giúp đỡ) Thông qua các kỹ năng trao đổi và chia sẻ tình (dựa trên các nguyên tắc đạo đức và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình (Trần Thị Minh Đức, 2014)

Trang 24

Theo tác giả Trần Thị Giồng: Tham vấn là sự tương tác giữa người tham vấn và thân chủ, trong quá trình này người tham vấn sử dụng các kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ khơi dậy tiềm năng để họ có thể tự giải quyết được vấn đề đang gặp phải (Trần Thị Giồng, 1996)

Theo tác giả Bùi Thị Xuân Mai, tham vấn được đánh giá như là một công cụ đắc lực trong trợ giúp cá nhân hoặc gia đình trong giải quyết những vấn đề về tâm lý - xã hội nảy sinh Từ đó, tác giả định nghĩa khái niệm này như sau: "Tham vấn tâm lý là một hoạt động mà nhà chuyên môn, bằng kiến thức, hiểu biết và kỹ năng nghề nghiệp của mình, thấu hiểu những cảm xúc, suy nghĩ, hành vi của đối tượng (cá nhân, gia đình hay nhóm), giúp họ khai thác nguồn lực, tiềm năng cho quá trình giải quyết" (Bùi Thị Xuân Mai, 2003)

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau được nêu ở trên về tham vấn nhưng hầu hết các tác giả đều thể hiện chung quan điểm rằng: Tham vấn là một hoạt động hay quá trình trợ giúp Người trợ giúp là người tham vấn cần có kiến thức chuyên môn, kỹ năng và một thời gian phù hợp dành cho thân chủ Sự trợ giúp dựa trên sự tương tác giữa người tham vấn với thân chủ và những đối tượng liên quan, qua đó giúp thân chủ tự mình giải quyết những khó khăn trong cuộc sống

Trong phạm vi đề tài này chúng tôi thống nhất với quan điểm tham vấn của tác giả Hoàng Anh Phước, tham vấn là một hoạt động trợ giúp dựa trên sự tương tác giữa người tham vấn và thân chủ, trong đó người tham vấn sử dụng kiến thức, kỹ năng chuyên môn giúp thân chủ nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong cuộc sống (Hoàng Anh Phước, 2012)

Từ những quan điểm được thể hiện qua các định nghĩa và đúc kết trên Đề tài tiếp tục tìm hiểu về định nghĩa về tham vấn học đường

Hiệp hội tham vấn học đường của Mĩ – ASCA định nghĩa TVHĐ là “Giúp đỡ tất cả các học sinh trong học tập, trong quan hệ xã hội, trong công việc, trong nâng cao năng lực cá nhân, giúp họ trở thành người có trách nhiệm và hữu ích Người tham vấn học đường trợ giúp hình thành và tổ chức tất cả những chương trình này, cũng như cung cấp các hoạt động can thiệp tham vấn thích hợp (ASCA, 2003)

Trang 25

Theo Edward Neukrug tác giả quyển sách Thế giới của người tham vấn, 2000 (The world of the counselor) cho rằng: “Tham vấn học đường là quá trình cộng tác liên quan đến một người tham vấn làm việc với một giáo viên, nhà quản lý, phụ huynh học sinh hay kết hợp với các chuyên gia khác để chia sẻ những quan tâm về trẻ, trong việc nổ lực tìm ra những cách thức làm việc mới với trẻ để có thể đạt đến trình độ thực của mình Công tác tham vấn giúp các người tham vấn học được nhiều kiến thức

và kỹ năng hơn để tập trung vào vấn đề của học sinh và điều đó trợ giúp họ trong việc khách quan hơn khi tiếp xúc với những mối quan tâm của trẻ (Neukrug, 1998) Theo tác giả Hoàng Anh Phước: tham vấn học đường là hoạt động trợ giúp tất

cả các học sinh nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp; phát hiện sớm và phát triển các chương trình phòng ngừa, can thiệp thích hợp trong nhà trường (Hoàng Anh Phước, 2012)

Theo tác giả Trần Thị Minh Đức: tham vấn học đường là tất cả các hoạt động can thiệp nhằm mục đích giúp cho học sinh được phát triển tốt nhất về mặt học tập, nghề nghiệp, cá nhân và xã hội, bao gồm cả các hoạt động tham vấn cho giáo viên và cha mẹ học sinh (Trần Thị Minh Đức, 2014)

Trên cơ sở tiếp thu các quan điểm trên về định nghĩa tham vấn học đường, đề tài quyết định chọn định nghĩa của tác giả Hoàng Anh Phước “ tham vấn học đường

là hoạt động trợ giúp tất cả các học sinh nâng cao năng lực tự giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong học tập, quan hệ xã hội, định hướng nghề nghiệp; phát hiện sớm và phát triển các chương trình phòng ngừa, can thiệp thích hợp trong nhà trường.” (Hoàng Anh Phước, 2012)

Từ khái niệm tham vấn học đường, đề tài đưa ra khái niệm người tham vấn học

đường: “Người tham vấn học đường là những người đang làm công tác tham vấn

tại các trường THPT, thuộc khối chuyên ngành như tâm lý học, tâm lý giáo giáo dục, tâm lý trị liệu hoặc khối ngành liên quan như xã hội học, công tác xã hội hoặc giáo viên bộ môn đang làm công tác kiêm nhiệm như giáo dục công dân, chính

Trang 26

Tham vấn học đường là sự trợ giúp học sinh cách toàn diện về các mặt học tập, nghề nghiệp và kỹ năng xã hội Sự trợ giúp về học tập để học sinh có động lực, niềm vui khi đến trường, giải quyết những khó khăn liên quan đến việc học tập Sự trợ giúp

về nghề nghiệp để học sinh chọn được nghề theo sở thích, phù hợp với năng lực, tính cách, điều kiện gia đình và nhu cầu xã hội Sự hỗ trợ về kỹ năng xã hội qua việc giáo dục giá trị sống, kỹ năng sống để giúp học sinh phát triển toàn diện Bên cạnh đó, cần giáo dục nhận thức, chăm sóc sức khỏe tinh thần qua việc sàng lọc, can thiệp sớm với những trường hợp có nguy cơ

Người tham vấn học đường cần kết hợp với phụ huynh để hiểu hơn về vấn đề của học sinh hoặc có những can thiệp phù hợp khi chính gia đình là nơi gây ra những khó khăn học sinh

Người tham vấn học đường phối hợp với các lực lượng nhà trường là một điều thật sự cần thiết vì những vấn đề liên quan đến học đường cần có sự hỗ trợ của giáo viên, hay sự kết hợp, thông tin từ giám thị, y tế Đôi khi còn cần có ý kiến và trao đổi với ban giám hiệu về những tình huống liên quan đến nhà trường, luật phát, văn hóa học đường,

Tất cả những phối hợp hỗ trợ nhằm hỗ trợ giúp học sinh nhận biết bản thân, vượt qua những khó khăn, trở ngại và biết đưa ra quyết định, lựa chọn phù hợp cho cuộc sống của mình

1.2.2 Nguyên tắc đạo đức trong tham vấn học đường

Nguyên tắc đạo đức trong tham vấn học đường cũng là các nguyên tắc đạo đức trong tham vấn tâm lý nói chung

Đạo đức là những nguyên lý, quy tắc, quy định hành vi theo một chuẩn mực chung trong mối quan hệ giữa người với người, giữa một cá nhân với nhóm hay tổ

chức xã hội, tùy theo văn hóa và thể chế chính trị mà cá nhân đang sống

Đạo đức trong tham vấn là những chuẩn mực nhằm xem xét hành vi của người tham vấn có đúng, có phù hợp không, hành vi đó đem lại lợi ích hay gây thiệt hại gì cho thân chủ Qua đó có thể nhận định dịch vụ tham vấn đó có đem lại hiệu quả và

hỗ trợ thân chủ tốt không Đạo đức tham vấn có những đòi hỏi khó khăn hơn là đạo đức trong đời sống hằng ngày, nó đòi hỏi người tham vấn cần nổ lực làm hết sức vì

Trang 27

lợi ích của thân chủ

Ở Việt Nam hiện vẫn chưa có những quy định chung về nguyên tắc đạo đức cho những người làm tham vấn tâm lý hay trị liệu ở Việt Nam, chỉ tồn tại những riêng lẻ

do các trung tâm tham vấn tự ban hành

Trên thế giới, các nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp được chuẩn hóa và cung cấp nhằm hỗ trợ những người làm ngành trợ giúp như các chuyên gia tham vấn và nhân viên xã hội Năm 2003, theo khảo sát của Heinlein và cộng sự đã chỉ ra rằng các người tham vấn chuyên nghiệp được cấp phép và trình độ cao có mức độ chấp hành theo các quy chuẩn đạo đức nghề nghiệp cao hơn đáng kể so với những người không

được chứng nhận (Trần Thị Minh Đức, 2014)

Các nguyên tắc đạo đức tham vấn nhằm giúp bảo vệ quyền lợi của thân chủ, thể hiện sự chuyên nghiệp và vị thế của các tổ chức và nghề tham vấn Qua đó, giúp phân biệt rõ ràng giữa tham vấn là một nghề, khác với tư vấn hay các cuôc trò chuyện giúp

đỡ khác Các nguyên tắc đạo đức tạo ra môi trường pháp lý để có cơ sở quyết định trong những tình huống liên quan đến đạo đức hay chuyên môn khó khăn, nhạy cảm

Nó có cơ sở pháp lý để bảo vệ thân chủ hay người tham vấn bị khiếu kiện

Các nguyên tắc đạo đức cơ bản mà một người tham vấn học đường cần tuân thủ

Mỗi cá nhân đều có quyền sở hữu về những vấn đề của riêng mình Vì thế, việc giữ bí mật cho thân chủ thể hiện sự tôn trọng của người tham vấn với thân chủ Sự bảo mật giúp thân chủ có niềm tin vào mối quan hệ tham vấn, nhờ đó thân chủ sẽ dễ dàng chia sẻ về vấn đề của mình Để buổi tham vấn được bảo mật, người tham vấn cần lưu ý những điểm sau:

 Địa điểm: Buổi tham vấn cần được bố trí nơi kín đáo, không bị nghe thấy hay

Trang 28

Theo điều 10 trong tiêu chuẩn đạo đức của Hiệp hội Tham vấn và Phát triển Hoa Kì (AACD, 1988), sau này đổi thành mục B trong tiêu chuẩn đạo đức của Hiệp hội Tham vấn Hoa Kỳ (ACA, 2014) có ghi: ‘‘Ngay khi bắt đầu đặt mối quan hệ tham vấn thì người tham vấn phải thông báo rõ ràng cho thân chủ những giới hạn nào trong việc bảo đảm tính bảo mật của quan hệ tham vấn Đồng thời người tham vấn cũng phải thông báo cho người tham vấn biết là thân chủ luôn chịu sự kiểm soát đối với việc bảo đảm tính bí mật của những thông tin của thân chủ trong quá trình tham vấn‘‘ Người tham vấn chỉ được tiết lộ thông tin khi:

 Thân chủ cho phép nói ra các vấn đề của mình

 Vấn đề của thân chủ đe dọa đến tính mạng của bản thân và người khác

 Khi người tham vấn hầu tòa về những vấn đề chính vấn đề được trao đổi với thân chủ

Việc người tham vấn cảnh báo cho thân chủ biết về sự hạn chế của tính bản mật

là thực hiện nguyên tắc pháp lý trong mối quan hệ tham vấn (ACA, 2014)

Mỗi cá nhân đều có quyền được tôn trọng nhân cách như một con người độc lập Họ có quyền cơ bản của một con người và tham gia vào các dịch vụ xã hội Họ

có quyền được tiếp cận dịch vụ tham vấn và người tham vấn cần tôn trọng bất kể họ

là ai, làm gì, có sự khác biệt về văn hóa, tôn giáo, chính trị hay các mặt khác của xã hội

Người tham vấn thể hiện sự tôn trọng nhân cách độc lập của thân chủ qua việc

hỗ trợ họ nâng cao khả năng tự giải quyết các vấn đề của cá nhân mình

Mỗi cá nhân là một cá thể riêng biệt, họ có quyền tự lựa chọn và chịu trách nhiệm về hành động và quyết định của mình

Người tham vấn có thể rất kinh nghiệm và hiểu biết về nhiều hoàn cảnh vì có nhiều kiến thức, từng trải hay được tiếp nhận nhiều trường hợp thân chủ có những vấn đề khác nhau nhưng họ không thể quyết định hay khuyên bảo thân chủ làm theo cách của họ Vì mỗi thân chủ là một hoàn cảnh riêng biệt, có diễn biến tâm lý và sự kiện khác nhau tùy vào thời gian, không gian và môi trường, không hoàn cảnh nào

Trang 29

giống nhau Thân chủ hiểu rõ vấn đề của họ hơn ai hết Vì thế, người tham vấn cần trao quyền tự quyết cho thân chủ để họ có trách nhiệm với quyết định của mình, đồng thời cũng đảm bảo sự trưởng thành và độc lập của thân chủ

Mối quan hệ giữa người tham vấn với thân chủ là mối quan hệ nghề nghiệp Thân chủ tìm đến dịch vụ tham vấn như một khách hàng cần được hỗ trợ về mặt tinh thần hay tìm một giải pháp cho bản thân Người tham vấn cần tránh những mối quan

hệ thân thiết khác ngoài hợp đồng làm việc với thân chủ

Người tham vấn cũng cần tránh các mối quan hệ xã hội như anh em, bạn bè hay đồng nghiệp vào mối quan hệ tham vấn để đảm bảo được tính khách quan trong tham vấn

1.2.3 Phẩm chất của tham vấn học đường

Theo Anthony Yeo “Những người tham vấn có đức tính như quan tâm, yêu

thương, nhiệt tình và thấu hiểu sẽ hỗ trợ thân chủ tốt hơn”

Phẩm chất của người tham vấn không đơn thuần chỉ là đạo đức, cách ứng xử mà quan trọng hơn nó chính là công cụ giá trị trong việc hành nghề tham vấn Phẩm chất đem lại lợi ích cho thân chủ, người tham vấn cũng như cho người làm trong nghề như là: Bảo vệ được khách hàng, khẳng định được vị trí nghề nghiệp của bản thân, tăng

uy tín nghề, bình đẳng trong quan hệ nghề

Carl Rogers (1957) cho rằng những phẩm chất tâm lý của người tham vấn là cần thiết trong sự tạo dựng sự tin cậy với thân chủ Để làm được điều này, người tham vấn cần có ba phẩm chất cơ bản đó là: sự trung thực, tôn trọng vô điều kiện và thấu hiểu trọn vẹn Đây đồng thời cũng là quan điểm chính yếu trong tham vấn theo quan điểm của trường phái tâm lý học Nhân văn Ba phẩm chất là điều có đối với tất cả các người tham vấn chuyên nghiệp đó là: Chấp nhận thân chủ, trung thực và thấu hiểu (Rogers, 1957)

1.2.4 Nội dung tham vấn học đường ở trường THPT

Tùy vào mỗi quốc gia mà chương trình tham vấn học đường có những yếu tố riêng Đề tài tham khảo mô hình tham vấn tại Mỹ, đây là mô hình chuẩn được nhiều nước trên thế giới tham khảo

Trang 30

Nội dung tham vấn theo mô hình ở các trường THPT tại Mỹ, họ đã sử dụng các tiêu chuẩn quốc gia cho chương trình tham vấn học đường (The National Standards for School Counseling Programs) do ASCA phát hành năm 1997 (Campbell and

Dahir, 1997)

Nội dung chương trình tham vấn tập trung vào phát triển 3 lĩnh vực: phát triển

năng lực học tập, định hướng nghề nghiệp và phát triển nhân cách

Phát triển năng lực học tập: nội dung chương trình giúp học sinh rèn luyện kiến thức, kỹ năng và thái độ để học tập hiệu quả, vận dụng kiến thức từ lý thuyết vào đời sống thực tế

Định hướng nghề nghiệp: Nội dung chương trình trang bị cho học sinh những kiến thức, kỹ năng và thái độ để có thể đạt được sự thành công trong nghề nghiệp tương lai Qua các hoạt động thực tiễn giúp các em biết được sự phù hợp của bản thân trong công việc, khả năng cá nhân với yêu cấu công việc giúp các em thích ứng với công việc ở tương lai khi rời khỏi môi trường học đường

Phát triển nhân cách: Nội dung chương trình trang bị cho các em kiến thức, kỹ năng và thái độ nhằm giúp học sinh biết giá trị của bản thân qua việc tôn trọng mình

và người khác; biết bảo vệ bản thân để an toàn và sinh tồn; biết trao đổi và chia sẻ với người khác cách hiệu quả; biết được nghĩa vụ và trách nhiệm của mình trong việc đóng góp xây dựng xã hội

Tại Việt Nam, theo thông tư 31/2017/TT-BGDĐT về hướng dẫn công tác tư vấn học đường với nội dung như sau:

- Tư vấn tâm lý lứa tuổi, giới tính, hôn nhân, gia đình, sức khỏe sinh sản

vị thành niên phù hợp với lứa tuổi

xâm hại và xây dựng môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh, thân thiện

mối quan hệ gia đình, thầy cô, bạn bè và các mối quan hệ xã hội khác

nghiệp (tùy theo cấp học)

Trang 31

- Tham vấn tâm lý đối với học sinh gặp khó khăn cần được hỗ trợ, can thiệp, giải quyết kịp thời Giới thiệu, hỗ trợ đưa học sinh đến các cơ sở, chuyên gia điều trị tâm lý đối với các trường hợp học sinh bị rối loạn tâm lý nằm ngoài khả năng tư vấn của nhà trường

1.3 Lý luận về kỹ năng, kỹ năng tham vấn học đường

1.3.1 Khái niệm kỹ năng

 Khái niệm:

Khái niệm kỹ năng theo tác giả Vũ Dũng biên soạn trích từ điển tâm lý học, “kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kỹ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng, kỹ năng được hình thành qua luyện tập.“ (Vũ Dũng, 2008)

Theo tác giả A.M Colman, “Kỹ năng là sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được mục đích trong một lĩnh vực nhất định Cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ chức, đạt được thông qua sự huấn luyện

và thực hành “ (Colman, 2001) & (Nguyễn Thị Thúy Dung, 2009)

Kỹ năng là một thuật ngữ có nhiều khái niệm khác nhau, được nhiều nhà tâm

lý, giáo dục nghiên cứu Hiện nay, quan điểm về kỹ năng được chia làm 3 nhóm chính: Kỹ năng được xem là kỹ thuật của hành động, kỹ năng là năng lực cá nhân trong hành động, kỹ năng là hành vi giao tiếp ứng xử

Các tác giả đại diện cho quan điểm này là A.V Petrovxki (1988), A.N Leonchiev (1989), V A Cruchetxki (1981), V.V Tsebưseva, B.Ph Lomov (2000), Trần Trọng Thủy, Bùi Ngọc Oánh… cho rằng kỹ năng là sự vận dụng kỹ thuật của hành động, là sự kết hợp nhiều thao tác theo một trật tự phù hợp với mục đích, điều kiện và yêu cầu của hành động (Nguyễn Hoàng Khắc Hiếu, 2015)

Theo A.V Petrovxki “Kỹ năng là cách thức hoạt động dựa trên cơ sở tri thức

và kỹ xảo Kỹ năng được hình thành bằng con đường luyện tập, kỹ năng tạo khả năng cho con người thực hiện hành động không chỉ trong những điều kiện quen thuộc mà

Trang 32

trong những điều kiện đã thay đổi Xuất phát từ chỗ coi KN là mặt kỹ thuật của hành động, các tác giả này quan niệm rằng, khi nắm được kỹ thuật hành động, hành động đúng các yêu cầu kỹ thuật của nó thì sẽ đạt kết quả Muốn nắm được kỹ thuật hành động và thực hiện được hành động theo đúng kỹ thuật thì có phải qúa trình học tập

và rèn luyện.“ (Petrovski, 1982)

Theo tác giả J.P Chaplin (1968) định nghĩa “Kỹ năng là thực hiện một trật tự cao cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn nhất“ (Chaplin, 1968) & (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

Theo A.G Covaliov (1994) định nghĩa “Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động phù hợp với mục đích và điều kiện của hành động“ (Covaliov, 1994) & (Nguyễn Hữu Long, 2016)

Theo tác giả Trần Trọng Thủy (1987) “Kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được các hành động tức là cho phép chủ thể tiến hành hành động một cách trôi chảy và đúng đắn.“ (Trần Trọng Thủy, 1987)

Theo nhóm tác giả Nguyễn Hữu Nghĩa, Triệu Xuân Quýnh, Bùi Ngọc Ánh “Kỹ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên có sở của tri thức mà

có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức mà có, chúng đòi hỏi tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn năng lượng của cơ thể“

Kỹ năng cũng có những đặc điểm khác nữa là “hành đọng chưa được khái quát, do thao tác chưa chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng“ (Hoàng Anh, 2007)

Các tác giả đại diện cho quan điểm này là N.Đ.Levitôv, K K Platonov, A.V Petrovxki, K.K Platonov và G.G Golubev, …

Theo tác giả A.V Petrovxki cho rằng “Kỹ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Cụ thể hơn, tác giả viết: “Năng lực sử dụng các dữ kiện, các tri thức hay kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất 15 của các sự vật và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là kỹ năng” (Petrovski, 1982)

Trang 33

Hai nhà nghiên cứu K.K Platonov và G.G Golubev (1977) cũng cho rằng kỹ năng là năng lực của một người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong một khoảng thời gian tương ứng Đồng thời, “kỹ năng luôn được nhận thức Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết về mối quan

hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực hiện hành động” (Huỳnh Văn Sơn, 2012)

Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn “Kỹ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện thực tiễn cho phép.“ (Nguyễn Quang Uẩn, 2008)

Theo tác giả Nguyễn Công Khanh: “Kỹ năng là khả năng thực hiện một hành động hay hoạt động nào đó, bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm, kỹ xảo đã có để hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế đã cho Người có kỹ năng về một hoạt động nào đó cần phải: - Có tri thức về loại hoạt động đó, gồm: Mục tiêu, các cách thức thực hiện hành động, các điều kiện phương tiện để đạt mục đích - Biết cách tiến hành hoạt động đó có hiệu quả và đạt đến kết quả phù hợp với mục đích - Biết hành động có kết quả trong những điều kiện mới, không quen thuộc (Nguyễn Công Khanh, 2014)

Theo tác giả Tác giả Huỳnh Văn Sơn, “ Kỹ năng là thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực con người“ (Huỳnh Văn Sơn, 2017)

Theo các tác giả trên, kỹ năng không chỉ đơn thuần là kỹ thuật hành động mà còn là biểu hiện về mặt năng lực, tri thức, kinh nghiệm, sự linh hoạt, sáng tạo

Quan điểm tiếp cận kỹ năng là hành vi giao tiếp ứng xử được đề cập trong thời gian gần đây

Theo tác giả J.N, Richard (2003) coi kỹ năng là hành động được thể hiện ra bên ngoài, chịu sự chi phối của cách cảm nhận và suy nghĩ của cá nhân Như vậy, với các

Trang 34

tác giả này, trong kỹ năng, ngoài việc cần có tri thức, hiểu biết, khả năng hành động, kết quả hành động, còn cần có thái độ, quan điểm, giá trị của cá nhân (Nguyễn Hữu Long, 2016)

Kỹ năng được hình thành dựa trên nhiều yếu tố và kỹ năng như đã đề cập ở trên Trong đề tài này, chúng tôi đồng ý chọn quan điểm của tác giả Huỳnh Văn Sơn về kỹ năng “Kỹ năng là thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kỹ năng không chỉ đơn thuần về mặt kỹ thuật của hành động, mà còn là biểu hiện năng lực con người“ (Huỳnh Văn Sơn, 2017)

 Các mức độ của kỹ năng

Các mức độ kỹ năng được các nhà nghiên cứu đưa ra nhiều cách phân chia khác nhau Phần lớn các tác giả đều phân chia kỹ năng từ những kỹ năng ban đầu đến kỹ năng đạt ở mức hoàn hảo Theo quan điểm V.P Bexpalko có năm mức độ kỹ năng (Huỳnh Văn Sơn, 2017):

dạng kỹ năng nào đó, và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động nhất định Tuy nhiên, ở mức độ kỹ năng ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện được yêu cầu của kỹ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy

thấp, người học đã có thể tự thực hiện được những thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết Song, ở mức độ kỹ năng này, người học chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới

thao tác đã biết trong tình huống quen thuộc Tuyvậy, việc di chuyển của các kỹ năng sang tình huống mới còn hạn chế

cao là người học đã tự lựa chọn các hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, người học đã biết di chuyển kỹ năng

Trang 35

trong phạm vi nhất định

- Mức độ 5: Kỹ năng hoàn hảo Đây là mức độ cao nhất của kỹ năng Người học nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần thiết và 18 ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì

Theo quan niệm của K.K.Platonov, G.G.Golubev: Có năm mức độ hình thành

kỹ năng như sau (Huỳnh Văn Sơn, 2017):

Bảng 1.1 Bảng phân chia các mức độ kỹ năng theo quan điểm của K.K Platonov

và G.G

thử và sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm

riêng lẻ

khác nhau

1.3.2 Khái niệm kỹ năng tham vấn

Kỹ năng tham vấn cũng được các tác giả phân thành các nhóm khác nhau: Theo E.D.Neukrug (1998) chia nhóm kỹ năng thành 4 phần: kỹ năng thiết yếu,

kỹ năng chung, kỹ năng nâng cao và kỹ năng đặc biệt Tác giả này cho rằng các kỹ năng cơ bản là những kỹ năng cần thiết cho tất cả những ai làm tham vấn dù là người mới ra trường hay là người tham vấn lâu năm Tác giả cho rằng để hình thành mối quan hệ tích cực trong tham vấn cần các kỹ năng như: kỹ năng lắng nghe, thấu hiểu

và kỹ năng xử lý im lặng trong hình Để trợ giúp quá trình thu thập thông tin, khám phá vấn đề và tạo ra hành vi mới cần các kỹ năng như: kỹ năng hỏi, kỹ năng chia sẻ

và kỹ năng làm mẫu Những kỹ năng trên được E.D.Neukrug xem là nền tảng cho các

kỹ năng nâng cao như thách thức, giải nghĩa, thôi miên….(Neukrug, 1998)

Tác giả Richard Nelson (2003) cho rằng kỹ năng tham vấn cơ bản là những kỹ năng trung tâm thực hiện chức năng khác nhau của quá trình giải quyết vấn đề như:

Trang 36

kỹ năng giúp người tham vấn hiểu đối tượng; kỹ năng giúp đối tượng hiểu chính họ

và vấn đề của họ; và kỹ năng hỗ trợ đối tượng thay đổi Bên cạnh việc đề cập tới các

kỹ năng quan trọng trong tương tác như: kỹ năng chú ý; kỹ năng hỏi, kỹ năng phản hồi, kỹ năng thấu hiểu… ông còn đề cập tới những kỹ năng thúc đẩy quá trình giải quyết vấn đề (xác định mục tiêu, tìm kiếm giải pháp), các kỹ năng giúp đối tượng cải thiện khả năng độc thoại, tri giác thế giới xung quanh hợp lý (Nelson, 2003)

Theo E.Tan (2004) chia kỹ năng tham vấn thành 4 nhóm: kỹ năng tham vấn cơ bản; kỹ năng tham vấn bậc trung; kỹ năng tham vấn nâng cao; siêu kỹ năng tham vấn Trong đó tác giả xem kỹ năng tham vấn cơ bản là những kỹ năng vi mô và là cơ sở cho các kỹ năng bậc trung hay nâng cao được diễn ra (Tan Esther, 2004)

Theo tác giả Hoàng Anh Phước để có thể thực hiện được những nhiệm vụ của mình CBTVHĐ phải có những kỹ năng tham vấn cơ bản và kỹ năng tham vấn chuyên biệt (Hoàng Anh Phước, 2012):

thực hiện có hiệu quả hoạt động tham vấn nói chung Bao gồm các kỹ năng:

kỹ năng thiết lập mối quan hệ, kỹ năng hỏi, kỹ năng lắng nghe, kỹ năng quan sát, kỹ năng phản hồi, kỹ năng thấu hiểu

trong tham vấn học đường nhằm nhận diện, phòng ngừa, can thiệp và trợ giúp học sinh một cách hiệu quả Bao gồm các kỹ năng: kỹ năng phát hiện sớm, kỹ năng xây dựng và tổ chức các hoạt động phòng ngừa, kỹ năng đánh giá tâm lý học sinh, kỹ năng phối hợp các lực lượng giáo dục, kỹ năng lập và lưu trữ hồ

sơ tâm lý của học sinh, kỹ năng can thiệp

Bên cạnh những quan điểm của các tác giả chia kỹ năng tham vấn theo nhóm thì cũng có những quan điểm mà tác giả chỉ nhấn mạnh đến đối tượng tham vấn và

kỹ năng cần thiết như tham vấn học đường, đó là sự hợp tác với nhà trường và phụ huynh để hỗ trợ học sinh

Beverly Kahn (2000) gợi ý một cách tiếp cận định hướng tương lai, tích cực, hướng đến mục tiêu tham vấn cho các người tham vấn học đường trong trường học (Kahn, 2000)

Trang 37

Amatea, Daniels, Bringman, và Vandiver (2004) đã tìm hiểu cách thực hiện tốt nhất và tăng cường văn hóa tư vấn hợp tác trên toàn trường giữa các nhân viên nhà trường, học sinh và gia đình (Amatea et al., 2004)

Tham vấn học đường làm việc để thúc đẩy sự thay đổi hệ thống trong cuộc sống của trẻ thông qua việc cộng tác và liên hệ với phụ huynh, giáo viên, thành viên cộng đồng và học sinh trong việc phát triển các chương trình tư vấn trường học toàn diện

để thúc đẩy sự phát triển và phát triển của trẻ (ASCA, 2012)

Sự tham gia của cha mẹ có ảnh hưởng tích cực đến thành tích học tập của trẻ

em, mối quan hệ cha mẹ và giáo viên, tinh thần giáo viên, không khí học đường, đi học và niềm tin của cha mẹ ((Natalie Grubbs, 2013), (Bower and Griffin, 2011)) Tầm quan trọng của sự tham gia của cha mẹ trong giáo dục trẻ em đã được ghi nhận trong hơn 40 năm (Hornby and Lafaele, 2011) Sự tham gia của cha mẹ, cho dù cha mẹ có tham gia ở nhà (giúp làm bài tập ở nhà ) hay ở trường (tham dự các hội thảo phụ huynh, hội nghị ), đã được chứng minh là có tác động tích cực đến học vấn của trẻ em và cá nhân / xã hội (Hornby and Lafaele, 2011) Sự tham gia của cha mẹ tích cực ảnh hưởng đến kỹ năng học tập của trẻ em Những kỹ năng học tập được cải thiện này dẫn đến sự cải thiện về thành tích học tập (Hill and Craft, 2003)

- Đề tài nghiên cứu quan niệm: “Kỹ năng tham vấn là khả năng vận dụng kinh

nghiệm, kiến thức, phối hợp với các bên liên quan để can thiệp và trợ giúp học sinh tự giải quyết các khó khăn của mình.“

- Từ quan niệm trên, ngoài những kỹ năng cơ bản và kỹ năng chuyên biệt mà các tác giả trước đã nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu vào sự phối hợp với các bên liên quan để hỗ trợ học sinh Chính vì thế, đề tài tập nghiên cứu 3

kỹ năng sau:

◦ Kỹ năng phối hợp với phụ huynh

◦ Kỹ năng phối hợp với đồng nghiệp

◦ Kỹ năng hỗ trợ học sinh

1.3.3 Một số tiêu chí đánh giá kỹ năng tham vấn

Mức độ kỹ năng tham vấn được chia như sau:

Bảng 1.2 Bảng phân chia các mức độ kỹ năng TVHĐ

Trang 38

1.3.4 Một số kỹ năng trong tham vấn học đường ở trường THPT

1.3.4.1 Kỹ năng phối hợp với phụ huynh

Kỹ năng phối hợp với phụ huynh là một kỹ năng quan trọng trong tham vấn học đường, đặc biệt với những học sinh có vấn đề về hành vi và tâm lý Để giao tiếp với phụ huynh một cách tốt nhất nhằm phát huy hiệu quả tham vấn, người tham vấn cần được trang bị đầy đủ kỹ năng Kỹ năng được thể hiện ở mặt nhận thức, thái độ và hành vi

- Mặt nhận thức của kỹ năng phối hợp với phụ huynh

Để có thể giao tiếp hiệu quả với phụ huynh, người tham vấn cần được trang bị những kiến thức vượt trên mức mà họ cần có khi làm tham vấn cho học sinh Họ cần nhận ra và tôn trọng những quan điểm của phụ huynh học sinh trong một vấn đề nào

đó Bên cạnh đó, họ cần hiểu được về các mối quan hệ trong gia đình học sinh để từ

đó có nhìn nhận và đánh gia về học sinh trong tương quan với các mối quan hệ trong gia đình Người tham vấn cần biết được mình có thể giúp được gì cho các em học sinh có những hoàn cảnh gia đình đặc biệt như gia đình tan vỡ, hay có mất mát người thân, hay có người tàn tật trong nhà Ngoài ra, người tham vấn học đường cần biết về

Trang 39

nguồn lực kinh tế của gia đình, tín ngưỡng, phong tục tập quán Những điều này sẽ giúp ích nhiều cho việc tham vấn và can thiệp

- Mặt thái độ của kỹ năng phối hợp với phụ huynh

Các thái độ mà người tham vấn học đường cần để tư vấn hiệu quả trong trường học là lòng trung thực, sự tôn trọng và sự đồng cảm (Rogers, 1980)

đồng nghiệp và phụ huynh, sống đúng với những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, sẵn sàng nói “Tôi không biết” khi gặp những câu hỏi không trả lời được

huynh và đồng nghiệp

về quan điểm của học sinh và phụ huynh thì sẽ rất có lợi cho việc tham vấn được tiến triển tốt đẹp

Bên cạnh những thái độ căn bản trên thì để trở thành một người tham vấn hiệu quả chúng ta cần phải có những thái độ sau khi tham vấn học sinh cũng như khi tiếp xúc với phụ huynh:

• Tập trung vào ưu điểm và khả năng của học sinh thay vì nhược điểm và hạn chế

• Tập trung vào việc đưa ra một tương lai tốt đẹp hơn cho học sinh chứ không phải những khó khăn trong quá khứ

• Tin tưởng rằng học sinh có thẩm quyền, năng lực và trách nhiệm

các vấn đề phức tạp hơn

• Đem đến những thay đổi nhỏ để dần dần dẫn đến những thay đổi lớn

- Mặt hành vi của kỹ năng phối hợp với phụ huynh

Để làm việc hiệu quả với phụ huynh học sinh, người tham vấn cần có những

kỹ năng như kỹ năng giao tiếp tốt, kỹ năng lắng nghe

Ngoài việc truyền đạt thái độ thích hợp và có kiến thức liên quan, để làm việc hiệu quả với phụ huynh, giáo viên cần có kỹ năng giao tiếp tốt như sự lắng nghe; duy

Trang 40

trì liên lạc với phụ huynh học sinh qua các cuộc họp, thăm nhà, email hoặc điện thoại; khuyến khích cha mẹ tham gia vào các chương trình giáo dục cho học sinh được nhà trường tổ chức, con mình như các chương trình hành vi nhà ở trường; khả năng lãnh đạo nhóm để có thể tổ chức các buổi hội thảo hay gặp mặt phụ huynh học sinh

Cách thức giao tiếp với một số phụ huynh học sinh đặc biệt

Cũng như ngoài xã hội, phụ huynh học sinh có nhiều tính cách, một số sẽ dễ làm việc cùngtrong khi những người khác sẽ khó khăn hơn Xung đột luôn có thể xảy

ra bởi sự bất đồng về tính cách, quan điểm giữa nha tham vấn và phụ huynh học sinh Thường thì cha mẹ hay bênh con nên không hoàn toàn khách quan trong các phán quyết của họ Đôi khi chính tính chủ quan này dẫn đến xung đột với quan điểm của người tham vấn Chính vì vậy mà người tham vấn học đường phải nhận thức được các loại khó khăn mà họ gặp phải khi giao tiếp với phụ huynh và cần biết các kỹ thuật thích hợp để đối phó

Đây là những bậc cha mẹ không quan tâm nhiều đến con cái, có thể bởi họ không sắp xếp được thời gian hoặc không muốn hay không đủ năng lực để quan tâm tới việc học hành của con mình Trong trường hợp này người tham vấn cần tìm hiểu phụ huynh tốt hơn để thông cảm, sử dụng các kỹ năng tham vấn cần thiết để có thể hướng tới một giải pháp tốt nhất, khi cần thiết phải chủ động liên hệ thường xuyên như gọi điện, thay vì ngồi đợi bố mẹ chủ động quan tâm tới các hoạt động của con

Một số cha mẹ không những không quan tâm tới việc học hành của con cái mà thậm chí còn không hợp tác với nhà trường Họ có thể có những đòi hỏi không hợp

lý với giáo viên và người tham vấn, phê bình quá mức không mang tính xây dựng, hoặc tạo ấn tượng rằng mình quá bận rộn để dành thời gian cho các hoạt động của con cái Ngược lại, có một số phụ huynh lại quá quan tâm tới các hoạt động của con cái ở trường đến mức họ vượt quá trách nhiệm của phụ huynh và gây khó khăn cho nhà trường Giao tiếp với kiểu phụ huynh này đòi hỏi giáo viên phải sử dụng các kỹ năng như quy trình DESC phản ứng 4 bước đáp lại những lời chỉ trích:

Ngày đăng: 19/06/2021, 15:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w