L ỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan luận văn “Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh l ớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành ph
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
An Thị Hồng Vân
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
An Thị Hồng Vân
Chuyên ngành: Giáo dục học (Tiểu học)
Mã số: 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS LÊ THỊ THANH CHUNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2015
Trang 3L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
l ớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành ph ố Hồ Chí Minh” là công trình nghiên cứu của bản thân Các số liệu,
kết quả nêu trong luận văn là trung thực, chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Học viên thực hiện
An Thị Hồng Vân
Trang 4L ỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn, bênh cạnh sự nỗ lực của bản thân, tôi nhận được sự giúp đỡ từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là sự tận tình giảng dạy của quý thầy cô Tôi xin chân thành cảm ơn các cá nhân và tập thể đã có sự hỗ trợ quý báu trong quá trình thực hiện luận văn“Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho HS lớp 4, 5 thông qua ho ạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành ph ố Hồ Chí Minh”
Xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với TS Lê Thị Thanh Chung, là người đã
trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện luận văn Suốt thời gian nghiên cứu, cô đã luôn tận tình quan tâm, dẫn dắt tôi trong từng bước thực hiện, động viên, khuyến khích và khơi
dậy cho tôi lòng ham mê học hỏi, niềm yêu thích nghiên cứu khoa học
Xin trân trọng cảm ơn các thầy cô phòng Sau Đại học, Đại học Sư phạm TP.HCM cùng các thầy cô giảng viên lớp Cao học khóa 24 đã tạo điều kiện để tôi được học tập, rèn luyện và hoàn thành khóa học, trang bị cho tôi những kiến thức hữu ích tạo nền tảng vững chắc để làm tốt các yêu cầu, nhiệm vụ nghiên cứu
Xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên và phụ huynh học sinh các trường TH Vĩnh Lộc 1, TH Vĩnh Lộc A, TH Trần Quốc Toản, TH Phạm Văn Hai tại huyện Bình Chánh, TP.HCM đã nhiệt tình cộng tác, hỗ trợ để tiến hành các hoạt động khảo sát và thực nghiệm sư phạm đúng tiến độ, đạt mục đích nghiên cứu
Xin cảm ơn các anh chị, các bạn học viên Cao học Giáo dục tiểu học khóa 24 (2013 – 2015) đã luôn sát cánh bên tôi, nhất là trong những lúc khó khăn
Sau cùng, tôi cảm ơn gia đình và toàn thể bạn bè đã luôn làm chỗ dựa tinh
thần hết sức vững chắc cho tôi trong khoảng thời gian thực hiện luận văn
Học viên thực hiện
An Thị Hồng Vân
Trang 5M ỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình
M Ở ĐẦU 1
Lí do chọn đề tài 1
1 Mục đích nghiên cứu 3
2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 5
7 7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận 5
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn 5
7.2.1 Phương pháp quan sát 5
7.2.2 Phương pháp điều tra 5
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn 6
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia 6
7.2.5 Phương pháp TN sư phạm 6
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học 6
Đóng góp của luận văn 6
8 Cấu trúc của luận văn 7 9
Trang 6Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO H ỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG
Khái niệm hoạt động giáo dục, HĐGDNGLL 19 1.2.2
Khái niệm biện pháp, biện pháp GDKNS thông qua HĐGDNGLL 20 1.2.3
Quy trình tổ chức HĐGDNGLL 27 1.4.3
1.5 GDKNS thông qua HĐGDNGLL cho HS lớp 4, 5 28
Phương pháp, kĩ thuật GDKNS cho HS thông qua HĐGDNGLL 28 1.5.1
Nguyên tắc GDKNS thông qua HĐGDNGLL 30 1.5.2
Đặc điểm lứa tuổi của HS lớp 4, 5 liên quan đến việc GDKNS thông qua 1.5.3
HĐGDNGLL 31
Ti ểu kết chương 1 33 Chương 2 THỰC TRẠNG GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
L ỚP 4, 5 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP
T ẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PH Ố HỒ CHÍ MINH 34
2.1 Mục đích khảo sát thực trạng 34 2.2 Khái quát địa bàn khảo sát thực trạng 34
Trang 7Đặc điểm tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Bình Chánh TP.HCM 34
2.2.1 Đặc điểm giáo dục của huyện Bình Chánh, TP.HCM 35
2.2.2 Đặc điểm giáo dục TH của huyện Bình Chánh TP.HCM 36
2.2.3 2.3 Đối tượng và thời gian khảo sát thực trạng 38
2.4 Tiến trình và nội dung khảo sát thực trạng 39
2.5 Phương pháp đánh giá kết quả khảo sát thực trạng 41
2.6 Đánh giá kết quả khảo sát thực trạng 41
Kết quả khảo sát về nhận thức và mức độ thực hiện của các LLGD trong 2.6.1 GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM 41
Kết quả khảo sát về thực hiện hoạt động GDKNS cho HS lớp 4, 5 2.6.2 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM 46
Kết quả khảo sát về sự phối hợp của các LLGD trong GDKNS cho HS 2.6.3 lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM 54
Ti ểu kết chương 2 57
Chương 3 ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO H ỌC SINH LỚP 4, 5 THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG NGOÀI GI Ờ LÊN LỚP TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUY ỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 58
3.1 Cơ sở đề xuất biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH TP.HCM 58
Cơ sở pháp lí 58
3.1.1 Cơ sở khoa học 59
3.1.2 Cơ sở thực tiễn 62
3.1.3 3.2 Đề xuất biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM 63
Nhóm 1: Nhóm biện pháp nâng cao nhận thức và mức độ thực hiện của 3.2.1 các LLGD trong GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 63
Trang 8Nhóm 2: Nhóm biện pháp tổ chức hoạt động GDKNS cho HS lớp 4, 5 3.2.2.
thông qua HĐGDNGLL 69 Nhóm 3: Nhóm biện pháp tăng cường sự phối hợp của các LLGD trong 3.2.3
GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 83 3.3 Mối quan hệ giữa 3 nhóm biện pháp được đề xuất 89
Ti ểu kết chương 3 90 Chương 4 KHẢO NGHIỆM VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM BIỆN PHÁP
GIÁO D ỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH LỚP 4, 5
THÔNG QUA HO ẠT ĐỘNG NGOÀI GIỜ LÊN LỚP TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ
H Ồ CHÍ MINH 91
4.1 Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của 6 biện pháp được đề xuất 91
Mục đích khảo nghiệm 91 4.1.1
Địa bàn, đối tượng và thời gian khảo nghiệm 91 4.1.2
Tiến trình và nội dung khảo nghiệm 92 4.1.3
Phương pháp đánh giá kết quả khảo nghiệm 93 4.1.4
Đánh giá kết quả khảo nghiệm 93 4.1.5
4.2 TN sư phạm 97
Mục đích và nhiệm vụ TN sư phạm 97 4.2.1
Địa bàn, đối tượng, thời gian TN sư phạm 98 4.2.2
Tiến trình, nội dung TN sư phạm 102 4.2.3
Phương pháp đánh giá kết quả TN sư phạm 106 4.2.4
Đánh giá kết quả TN sư phạm 107 4.2.5
Ti ểu kết chương 4 111
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 112
Kết luận 112 1
Kiến nghị 113 2
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 115
PH Ụ LỤC
Trang 9DANH M ỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CBQL : cán bộ quản lí
ĐTB : điểm trung bình GD&ĐT : Giáo dục và Đào tạo GDKNS : giáo dục kĩ năng sống GVCN : giáo viên chủ nhiệm
HS : học sinh HĐGDNGLL : hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp KNS : kĩ năng sống
LLGD : lực lượng giáo dục PHHS : phụ huynh học sinh
SL : số lượng
TH : tiểu học
TN : thực nghiệm
TT : thứ tự TPTĐ : tổng phụ trách Đội TP.HCM : thành phố Hồ Chí Minh
% : tỉ lệ phần trăm
Trang 10DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Một số sự kiện gắn với chủ điểm HĐGDNGLL 26
Bảng 2.1 Danh sách các trường TH tại huyện Bình Chánh năm học 2014 – 2015 36
Bảng 2.2 Trình độ chuyên môn cán bộ, giáo viên, nhân viên, lao động ngành TH
huyện Bình Chánh năm học 2014 – 2015 37
Bảng 2.3 Số lượng đối tượng khảo sát thực trạng 39
Bảng 2.4 Kết quả khảo sát nhận thức của các LLGD về tính cần thiết của GDKNS cho
HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 42
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát nhận thức của các LLGD về trách nhiệm của các LLGD
trong GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 44
Bảng 2.6 Kết quả khảo sát mức độ thực hiện của các LLGD trong việc GDKNS cho
HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 45
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát GVCN về xác định mục tiêu khi thiết kế giáo án GDKNS
cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 47
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát GVCN về sử dụng phương pháp khi thiết kế giáo án
GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 49
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát GVCN về sử dụng kĩ thuật khi thiết kế giáo án GDKNS
cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 50
Bảng 2.10 Kết quả khảo sát GVCN về sử dụng phương tiện khi thiết kế giáo án
GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 52
Bảng 2.11 Kết quả khảo sát GVCN về việc kiểm tra, đánh giá kết quả GDKNS cho
HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 53
Bảng 2.12 Kết quả khảo sát mức độ phối hợp của CBQL, TPTĐ và GVCN trong
GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 54
Bảng 2.13 Kết quả khảo sát mức độ phối hợp của nhà trường, gia đình và xã hội trong
GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 56
Bảng 3.1 Bảng phân chia các mức độ kĩ năng theo quan điểm của K.K Platonov và
G.G Golubev 75
Bảng 3.2 Thang đo mức độ biểu hiện 6 KNS của HS lớp 4, 5 76
Trang 11Bảng 4.1 Số lượng đối tượng khảo nghiệm 92
Bảng 4.2 Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của 6 biện pháp được đề xuất 94
Bảng 4.3 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của 6 biện pháp được đề xuất 95
Bảng 4.4 Độ tuổi CBQL và giáo viên, nhân viên trường TH Trần Quốc Toản 98
Bảng 4.5 Trình độ chuyên môn của CBQL, giáo viên và nhân viên trường TH Trần Quốc Toản 99
Bảng 4.6 Trình độ tay nghề của CBQL và GVCN, nhân viên trường TH Trần Quốc Toản năm học trước (năm học 2013 – 2014) 99
Bảng 4.7 Cơ sở vật chất trường TH Trần Quốc Toản 99
Bảng 4.8 Số lượng, giới tính, độ tuổi của HS trường TH Trần Quốc Toản 100
Bảng 4.9 Số lượng lớp, GVCN và HS ở lớp ĐC và lớp TN 101
Bảng 4.10 Phân bố thời gian TN sư phạm 102
Bảng 4.11 Thiết kế kiểm tra trước tác động và kiểm tra sau tác động đối với nhóm ĐC và nhóm TN 103
Bảng 4.12 6 KNS cơ bản được giáo dục trong 9 giáo án TN 105
Bảng 4.13 Phân phối KNS được giáo dục trong 9 giáo án TN 105
Bảng 4.14 ĐTB các biểu hiện 6 KNS trước TN 107
Bảng 4.15 ĐTB các biểu hiện KNS sau TN 109
Trang 12DANH M ỤC CÁC HÌNH
Hình 2.1 Biểu đồ kết quả khảo sát nhận thức của các LLGD về tính cần thiết của
GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 43 Hình 2.2 Biểu đồ kết quả khảo sát nhận thức của các LLGD về trách nhiệm của
các LLGD trong GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 44 Hình 2.3 Biểu đồ kết quả khảo sát mức độ thực hiện của các LLGD trong GDKNS
cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 46 Hình 2.4 Biểu đồ kết quả khảo sát mức độ phối hợp của CBQL, TPTĐ và GVCN
trong GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 55 Hình 2.5 Biểu đồ kết quả khảo sát mức độ phối hợp của nhà trường, gia đình và
xã hội trong GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL 56 Hình 4.1 Biểu đồ kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của 6 biện pháp
được đề xuất 94 Hình 4.2 Biểu đồ kết quả khảo nghiệm tính khả thi của 6 biện pháp
được đề xuất 96 Hình 4.3 Biểu đồ ĐTB các biểu hiện KNS trước TN của lớp ĐC và lớp TN
ở khối 4 107 Hình 4.4 Biểu đồ ĐTB các biểu hiện KNS trước TN của lớp ĐC và lớp TN
ở khối 5 108 Hình 4.5 Biểu đồ ĐTB các biểu hiện KNS sau TN của lớp ĐC và lớp TN
ở khối 4 109 Hình 4.6 Biểu đồ ĐTB các biểu hiện KNS sau TN của lớp ĐC và lớp TN
ở khối 5 110
Trang 13Việt Nam xác định giáo dục là quốc sách hàng đầu, là con đường cơ bản để đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, đúng như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn:
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”
Cuộc sống càng tiến bộ, càng hiện đại bao nhiêu thì yêu cầu xã hội đặt ra cho con người càng cao bấy nhiêu Mỗi cá nhân phải là những con người vừa có trí tuệ,
vừa có nhân cách sống, có KNS phù hợp Để đáp ứng được các yêu cầu đó, việc giáo
dục toàn diện, trong đó có GDKNS, là điều hết sức cần thiết, là nhiệm vụ trọng tâm
của nhà trường phổ thông
Theo Luật giáo dục, mục tiêu của giáo dục là “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc” [25] Giáo dục nước ta đang từng bước đổi mới theo 4 trụ cột giáo
dục của thế kỉ XXI, mà thực chất là cách tiếp cận KNS: “Học để biết, học để làm, học
để tự khẳng định mình và học để cùng chung sống” Theo định hướng này, một trong 5
nội dung quan trọng của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, HS tích
cực” do Bộ GD&ĐT phát động là tăng cường rèn luyện KNS cho HS Như vậy, nền giáo dục Việt Nam trong thời đại mới không thể xem nhẹ giáo dục kĩ năng cơ bản cần thiết nhằm phát triển người học một cách toàn diện
Có thể nói “trẻ em hôm nay” là “thế giới ngày mai”, là chủ nhân tương lai của đất nước Khi bắt đầu đi học cũng là lúc HS mở rộng tiếp xúc với xã hội nên rất cần trang bị thêm KNS cho riêng mình Thực tế hiện nay cho thấy, tình trạng bạo lực học
Trang 14đường, lối sống không lành mạnh, xâm hại tình dục trẻ em,… ngày càng gia tăng và
trẻ hóa, trở thành vấn đề nhức nhối khiến cả xã hội quan tâm Nếu không có KNS, HS
sẽ không thể thực hiện tốt nhiệm vụ đối với bản thân, gia đình và cộng đồng HS lứa
tuổi TH, nhất là HS lớp 4, 5 đang trong giai đoạn cuối cấp, rất ham tìm tòi, khám phá, song còn thiếu kinh nghiệm sống, dễ dàng học theo, bắt chước những thói hư, tật xấu Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, sự bùng nổ thông tin như vũ bão, các em thường xuyên chịu sự tác động từ những yếu tố tích cực lẫn tiêu cực TH là bậc học nền tảng nên việc GDKNS cho HS lứa tuổi này trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết Chính vì thế, dựa trên mục tiêu chung, mục tiêu của giáo dục TH là “nhằm giúp HS hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí
tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để HS tiếp tục học Trung học cơ sở” [25] Nói cách khác, việc giáo dục trong trường phổ thông ở nước ta, trong đó có nhà trường
TH, không thể chỉ đặt nặng việc dạy kiến thức, “dạy chữ” mà còn rất cần chú trọng đến dạy KNS, “dạy người”
Đến nay, nội dung về KNS đã được giảng dạy ở rất nhiều quốc gia trên thế
giới Bắt nhịp với xu hướng giáo dục của quốc tế, giai đoạn gần đây, giáo dục Việt Nam chủ trương tăng cường GDKNS cho HS Từ năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT
đã chính thức đưa GDKNS vào các trường phổ thông bằng cách giáo dục thông qua chương trình học và các hoạt động có tiềm năng khác, bao gồm: thông qua các môn
học; thông qua HĐGDNGLL, thông qua hoạt động ngoại khóa, thông qua hoạt động Đội, Sao Nhi đồng,… Trong đó, HĐGDNGLL với đặc trưng là một hoạt động chủ động, linh hoạt và gần gũi nên GDKNS thông qua hoạt động này thường tạo hứng thú
ở HS, mang lại hiệu quả giáo dục cao
Ở bậc TH, nội dung GDKNS thông qua HĐGDNGLL chưa có chương trình cụ
thể với từng lĩnh vực của HĐGDNGLL và chưa sâu sát với từng giai đoạn lứa tuổi,
nhất là khối lớp 4, 5 Hướng dẫn thực hiện GDKNS chưa có những lưu ý phù hợp đặc điểm học sinh và điều kiện địa phương khiến thực tế GDKNS không tránh khỏi khó khăn, lúng túng Tại các trường TH huyện Bình Chánh, TPHCM, trong những năm
gần đây, một số biện pháp GDKNS thông qua HĐGDNGLL đã được đề xuất nhưng còn tồn tại hạn chế trong quá trình vận dụng
Trang 15Xuất phát từ những lí do nêu trên, với quan điểm kế thừa và phát triển những công trình nghiên cứu đã có, đề tài “Biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
l ớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành ph ố Hồ Chí Minh” được triển khai nghiên cứu, như là một giải pháp
góp phần tăng hiệu quả GDKNS, hướng đến nâng cao chất lượng giáo dục TH
M ục đích nghiên cứu
2.
Dựa trên cơ sở lí luận và khảo sát thực trạng, nghiên cứu đề xuất các nhóm
biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục TH
Nhi ệm vụ nghiên cứu
3.
Nhằm đạt được mục đích nghiên cứu đã xác định, nhiệm vụ nghiên cứu cần
thực hiện gồm các nhiệm vụ sau đây:
- Làm rõ cơ sở lí luận về KNS, về HĐGDNGLL, về GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại trường TH
- Khảo sát các đối tượng CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS, tìm hiểu thực trạng GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại 4 trường TH Vĩnh Lộc 1, Vĩnh
Lộc A, Phạm Văn Hai, Trần Quốc Toản trên địa bàn huyện Bình Chánh, TP.HCM
- Đề xuất 3 nhóm gồm 6 biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM; xây dựng thang đo mức
độ biểu hiện 6 KNS của HS; thiết kế 9 giáo án có vận dụng biện pháp thiết kế giáo án
sử dụng trong hình thức sinh hoạt tập thể gắn với chủ điểm tháng (biện pháp 3) trong
số 6 biện pháp đã đề xuất
- Khảo nghiệm tính cần thiết và tính khả thi của 6 biện pháp được đề xuất; TN
sư phạm biện pháp 3 đã nêu ở trên
Khách th ể và đối tượng nghiên cứu
4.
- Khách thể nghiên cứu:
Quá trình GDKNS cho HS ở trường TH
- Đối tượng nghiên cứu:
Biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường
TH huyện Bình Chánh, TP.HCM
Trang 16Ph ạm vi nghiên cứu
5.
- Về nội dung:
+ Khảo sát các đối tượng CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS về thực trạng nhận
thức, mức độ thực hiện hoạt động, việc thiết kế giáo án; căn cứ để đánh giá KNS của
HS và sự phối hợp của các LLGD trong việc GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại 4 trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM
+ TN sư phạm biện pháp 3 đã nêu ở phần nhiệm vụ nghiên cứu
- Về địa bàn và thời gian:
+ Khảo sát các đối tượng CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS khối lớp 4, 5 tại 4 trường TH Vĩnh Lộc 1, Vĩnh Lộc A, Phạm Văn Hai, Trần Quốc Toản trên địa bàn huyện Bình Chánh, TP.HCM vào tháng 02/2015
+ Chọn trường TH Trần Quốc Toản, huyện Bình Chánh, TP.HCM là địa bàn
TN sư phạm biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL trong thời gian từ tháng 3/2015 đến tháng 5/2015
Gi ả thuyết nghiên cứu
6.
Việc GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM đã thực hiện tốt nhiều mặt, song vẫn còn các mặt hạn chế như sau:
- Việc GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL chưa được quan tâm nhiều
- Việc tổ chức hoạt động GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL còn thiếu hiệu quả Đặc biệt là đối với GVCN, việc thiết kế giáo án GDKNS theo hình
thức sinh hoạt tập thể gắn với chủ điểm tháng chưa tích cực và chưa có thang đo dùng
để đánh giá mức độ biểu hiện KNS của HS
- Sự phối hợp giữa các đối tượng CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS trong việc GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL còn gặp khó khăn
Với các vấn đề nêu trên, giả thuyết nghiên cứu đặt ra rằng: Nếu có sự khảo sát, đánh giá trên cơ sở khoa học về thực trạng GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM thì sẽ xây dựng được hệ
Trang 17thống biện pháp thực hiện hoạt động này, giúp HS hình thành và rèn luyện KNS hiệu quả hơn, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục TH
Phương pháp nghiên cứu
7.
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập, đọc, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa các tài liệu phục
vụ cho việc tìm hiểu cơ sở lí luận, làm nền tảng cho việc khảo sát thực trạng và đề xuất
biện pháp trong đề tài Đó là những tài liệu đề cập về KNS, về HĐGDNGLL và về GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại trường TH, bao gồm: luật giáo
dục, chương trình giáo dục TH, văn bản của Đảng và Nhà nước có nội dung liên quan; tài liệu sách, luận án, luận văn, sáng kiến kinh nghiệm phù hợp hướng đề tài nghiên
cứu; giáo án tổ chức HĐGDNGLL có GDKNS cho HS lớp 4, 5;…
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp quan sát
- Quan sát tổng quát hoạt động của các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM được chọn khảo sát và TN nhằm phân tích đặc điểm, tình hình môi trường tác động đến đối tượng nghiên cứu
- Dự giờ HĐGDNGLL có GDKNS cho HS lớp 4, 5, qua đó học tập kinh nghiệm, đồng thời phát hiện những khó khăn và thuận lợi khi thực hiện hoạt động này
- Dự giờ hoạt động TN, quan sát để ghi nhận mức độ biểu hiện KNS của HS
7.2.2 Phương pháp điều tra
Chọn mẫu ngẫu nhiên đảm bảo yêu cầu điều tra, đạt được mục đích nghiên
cứu Từ tổng thể 27 trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM năm học 2014 – 2015,
chọn ngẫu nhiên 4 trường TH để khảo sát thực trạng và 1 trường TH để TN
- Điều tra bằng bảng hỏi đối với CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS ở lớp 4, 5 tại 4 trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM Các đối tượng sẽ trả lời hệ thống câu hỏi đã được chuẩn bị sẵn và in thành phiếu Các bảng hỏi này sẽ được xử lí nhằm thu thập thông tin cần thiết về thực trạng GDKNS; về tính cần thiết, tính khả thi của 6 biện pháp và thang đo được đề xuất
- Điều tra sản phẩm hoạt động như giáo án tổ chức HĐGDNGLL có GDKNS cho HS lớp 4, 5; sổ ghi chép của GVCN về mức độ biểu hiện KNS của HS;…
Trang 187.2.3 Phương pháp phỏng vấn
- Đặt câu hỏi trực tiếp với CBQL, TPTĐ, GVCN và PHHS lớp 4, 5 tại 4 trường
TH huyện Bình Chánh, TP.HCM nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn khi GDKNS thông qua HĐGDNGLL cho HS, lắng nghe những đề xuất của họ để khắc
phục các khó khăn đó
- Đặt câu hỏi trực tiếp với GVCN tham gia TN để nắm vững mức độ biểu hiện KNS của HS và đánh giá tính khả thi, hiệu quả của biện pháp được đề xuất
7.2.4 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia
Xin ý kiến CBQL, TPTĐ và GVCN ở lớp 4, 5 về thuận lợi, khó khăn và phương hướng khắc phục khó khăn khi GDKNS thông qua HĐGDNGLL cho HS để làm cơ sở đề xuất biện pháp; xin ý kiến của họ về tính khả thi của các nhóm biện pháp, thang đo được đề xuất
7.2.5 Phương pháp TN sư phạm
TN sư phạm nhằm kiểm tra tính hiệu quả của biện pháp 3 như đã nêu ở phần nhiệm vụ nghiên cứu Tiến hành TN theo trình tự như sau:
- Chọn 2 cặp lớp học ở khối 4, 5 dùng làm nhóm ĐC và nhóm TN, mỗi cặp lớp tương đồng nhau về các phương diện cơ bản; kiểm tra đầu vào để đảm bảo HS ở hai nhóm có mức độ biểu hiện KNS ngang nhau
- Khi tiến hành tác động, ở nhóm ĐC sẽ tổ chức hoạt động theo các biện pháp
vẫn thường được sử dụng, ở nhóm TN sẽ tổ chức hoạt động theo 9 giáo án TN được thiết kế trong đề tài; đo kết quả biểu hiện KNS của HS ở cả hai nhóm
- Phân tích và tổng hợp kết quả thu được trước và sau TN Sử dụng thang đo đã thiết kế trong đề tài để đánh giá mức độ biểu hiện KNS của HS khi TN sư phạm
7.3 Nhóm phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp thống kê toán học, dùng phần mềm Excel để xử lí số
liệu nghiên cứu thu được từ phiếu thăm dò ý kiến Các thông số thống kê được quan tâm chủ yếu là SL, %, ĐTB, hạng
Đóng góp của luận văn
8.
- Đóng góp về mặt lí luận: làm sáng tỏ cơ sở lí luận về KNS, HĐGDNGLL và
biện pháp GDKNS thông qua HĐGDNGLL cho HS ở trường TH
Trang 19- Đóng góp về mặt thực tiễn: tìm hiểu thực trạng GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM năm học 2014 – 2015; đề xuất 3 nhóm biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL; thiết kế 9 giáo án có tính khả thi bằng cách vận dụng biện pháp 3 đã đề xuất; xây dựng thang đo mức độ biểu hiện 6 KNS của HS lớp 4, 5
C ấu trúc của luận văn
9.
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1 Cơ sở lí luận của giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5 thông
qua hoạt động ngoài giờ lên lớp
Chương 2 Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5 thông qua
hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 3 Đề xuất biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh lớp 4, 5
thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Chương 4 Khảo nghiệm và thực nghiệm sư phạm biện pháp giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh lớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp tại các trường tiểu
học huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 L ịch sử nghiên cứu vấn đề
Các nghiên c ứu ở nước ngoài
1.1.1.
Ngay từ thế kỷ XX, nhiều nhà giáo dục tại các nước phát triển đã nhận thấy
rằng con người ngày càng cần trang bị những kĩ năng phù hợp để ứng phó, thích nghi
với sự thay đổi của môi trường sống Vì vậy, việc giáo dục cho HS các KNS đó là một
vấn đề cần đặc biệt quan tâm Vào những năm 1960, thuật ngữ KNS được đưa ra bởi các nhà tâm lí học thực hành, xem KNS là một khả năng xã hội rất quan trọng trong
việc phát triển cá nhân GDKNS giúp HS hình thành và phát huy khả năng giao lưu
với thế giới xung quanh, khả năng xã hội và ứng phó với điều kiện sống thay đổi nhanh chóng, khả năng lựa chọn và ra quyết định khi cần thiết
Đến những năm 90 của thế kỉ XX, thuật ngữ KNS thường xuyên xuất hiện trong một loạt chương trình giáo dục của Quỹ cứu trợ Nhi đồng Liên hiệp quốc – UNICEF Những nghiên cứu về KNS trong giai đoạn này hướng đến thống nhất quan
niệm chung về KNS và đưa ra danh mục KNS cơ bản cần có Đó là nền tảng để các Tổ
chức Y tế thế giới – WHO, UNICEF, Tổ chức Văn hóa, Khoa học và giáo dục của Liên hiệp quốc – UNESCO cùng nhau xây dựng chương trình GDKNS cho thanh thiếu niên Những KNS này hỗ trợ cho trẻ em và thanh thiếu niên khi đối mặt với những thử thách trong cuộc sống đắc lực hơn những kĩ năng cơ bản như đọc, viết, tính toán
Sang thế kỉ XXI, trong diễn đàn thế giới về giáo dục cho mọi người họp tại Senegal năm 2000, kế hoạch hành động Dakar đã đề ra 6 mục tiêu, trong đó, có đến 2
mục tiêu yêu cầu mỗi quốc gia cần đảm bảo cho người học được tiếp cận chương trình GDKNS phù hợp và việc đánh giá chất lượng giáo dục phải hàm chứa cả KNS của người học Hay nói cách khác, kĩ năng của người học là một tiêu chí của chất lượng giáo dục Điều này đưa GDKNS cho người học lên vị trí như là một nhiệm vụ quan
trọng bậc nhất trong số những nhiệm vụ giáo dục của một quốc gia
Trang 21Một trong những dự án trọng yếu nhằm vào nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến KNS là dự án ở 5 nước Đông Nam Á do tổ chức UNESCO tiến hành Kết quả của
dự án phản ánh các nhận thức, quan niệm về KNS mà các nước tham gia dự án đang
áp dụng hoặc dự kiến áp dụng Dự án này chia thành 2 giai đoạn Giai đoạn 1 nhằm xác định quan niệm của mỗi quốc gia về KNS Việt Nam cũng tham gia qua ấn phẩm
“Life skills Mappingain Việt Nam” trong khuôn khổ hợp tác giữa UNESCO với Viện Chiến lược và chương trình giáo dục Giai đoạn 2 tập trung đưa ra những chỉ dẫn đo đạc, đánh giá và xây dựng các công cụ kiểm tra [16, tr.13-14]
Tính đến nay, thế giới đã có nhiều công trình, dự án nghiên cứu về KNS và GDKNS Các nghiên cứu này nêu lên khá rõ về vai trò, khái niệm, phân loại, nguyên
tắc, lí thuyết làm nền tảng cơ sở cho việc tiếp cận vấn đề này Bốn trụ cột về giáo dục
mà UNESCO đã đưa ra trong thời gian gần đây: “Học để biết, học để làm, học để tự
- Tại vùng Caribe, các cơ quan Liên Hiệp Quốc phối hợp với Đại học Tây Ấn,
Bộ giáo dục và Bộ Y tế đã đưa KNS vào các bậc học Mẫu giáo, TH và Trung học qua giáo dục sức khoẻ và cuộc sống gia đình
- Tại Botswana và Nam Phi, bắt đầu từ năm 1996, được sự hỗ trợ bởi Trung tâm Chính sách quốc tế về rượu (ICAP), chương trình “Growing Up” (1996 – 1999) được
ra đời nhằm thực hiện GDKNS cho một số trường TH ở khu vực này
- Tại khu vực Đông Nam Á, đối tượng và phạm vi nghiên cứu GDKNS cũng đa
dạng ở nhiều lứa tuổi HS, mở rộng trong nhiều hoạt động giáo dục, chẳng hạn:
+ Ở Thái Lan, năm 1996, GDKNS được triển khai cùng chương trình ngăn
chặn AIDS Chương trình được thực hiện ở cả ba bậc học phổ thông, chủ yếu thông qua các hoạt động ngoại khoá
Trang 22+ Ở Indonesia, năm 1997, GDKNS được đưa ra qua chương trình GDKNS cho
cuộc sống khoẻ mạnh, thực hiện trong cấp TH Nội dung GDKNS bao gồm: GDKNS cho sống khoẻ mạnh; GDKNS cho phòng chống HIV/AIDS
+ Ở Philippin, KNS bắt đầu được tích hợp giảng dạy vào trong chương trình giáo dục cơ bản từ năm 2001 Nước này còn triển khai GDKNS trong quân sự, lồng ghép đưa KNS cốt lõi vào giảng dạy
+ Ở Lào, năm 1998, nghiên cứu về KNS bắt đầu phát triển với các nội dung cơ
bản như phòng chống HIV/AIDS; phòng chống ma tuý và sử dụng rượu, thuốc lá;… được đưa vào chương trình giảng dạy của môn học Thế giới xung quanh ta ở TH
+ Ở Myanmar, năm 1998, dự án “Chương trình giáo dục sống khoẻ mạnh và phòng chống HIV/AIDS dựa vào trường học” được bắt đầu Dự án này là sự hợp tác
giữa chính phủ Myanmar và tổ chức UNICEF nhằm đưa KNS vào trong giáo dục để thúc đẩy lối sống lành mạnh và ngăn ngừa lây nhiễm HIV
+ Ở Campuchia, năm 2001, chương trình GDKNS được phát triển bởi một nhóm liên ngành của Bộ giáo dục, thanh niên và thể thao Chương trình này là một
phần của kế hoạch quốc gia “giáo dục cho mọi người”, được thực hiện ở cả chính khoá
và ngoại khoá trong cả hai cấp học: TH và Trung học [15, tr.8-10]
Tóm lại, hệ thống các nghiên cứu ở nước ngoài cho phép hình dung khái quát quá trình phát triển vấn đề KNS và hoạt động GDKNS Trải qua các giai đoạn, GDKNS cho HS trở thành một trong những mối quan tâm hàng đầu, đã và đang được nhiều quốc gia thực hiện rộng rãi, được xem như xu thế chung của hầu hết các nền giáo dục trên toàn thế giới Quan niệm, nội dung, cách tiến hành GDKNS ở từng nước
vừa có điểm chung, vừa có điểm đặc thù Do phần lớn các quốc gia đều mới bước đầu triển khai GDKNS nên những nghiên cứu lí luận về vấn đề này mặc dù khá phong phú, song chưa thật sự sâu sắc
Các nghiên c ứu ở trong nước
1.1.2.
Từ lâu, KNS và GDKNS đã tồn tại trong đời sống người Việt Nam nhưng chưa có thuật ngữ chính thức để gọi tên vấn đề này Các bài học kĩ năng được người xưa đúc kết, truyền dạy cho con cháu qua những câu thành ngữ, tục ngữ, những bài ca dao Chẳng hạn, thành ngữ “Học ăn, học nói, học gói, học mở” mang hàm ý đề cao
Trang 23những kĩ năng gần gũi, gắn bó mật thiết với sinh hoạt hằng ngày, những kĩ năng mang tính chất kinh nghiệm đơn giản nhất để ứng phó với thiên nhiên, để ứng xử với con người Quan tâm đến việc giáo dục con người, bao hàm cả giáo dục kĩ năng, Chủ tịch
Hồ Chí Minh từng nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì
phải trồng người” “Trồng người” ở đây có thể hiểu là phải xem trọng giáo dục kĩ năng, nhân cách con người, trong đó, KNS là cốt lõi để hình thành thái độ, hành vi của người học, hơn là thiên lệch về dạy kiến thức
Vào những năm 1995 – 1996, thuật ngữ KNS bắt đầu xuất hiện trong các trường phổ thông Việt Nam, thể hiện trong dự án “GDKNS để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV/AIDS cho thanh thiếu niên trong và ngoài trường” do UNICEF phối
hợp với Bộ GD&ĐT, Hội Chữ thập đỏ Việt Nam tiến hành Trong dự án này, UNICEF
đã giới thiệu tại Việt Nam các KNS cốt lõi như kĩ năng tự nhận thức, giao tiếp, xác định giá trị, ra quyết định, kiên định và thiết lập mục tiêu nhằm vào các chủ đề giáo
dục sức khỏe Trong giai đoạn đầu, GDKNS chỉ gói gọn trong giáo dục các vấn đề
thực tế xã hội như: phòng chống ma túy, phòng chống mại dâm, phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em, phòng chống tai nạn thương tích, phòng chống tai nạn bom mìn,
bảo vệ môi trường
Bước sang giai đoạn 2, dự án này phát triển với tên gọi “Giáo dục sống khỏe
mạnh và KNS” Ngoài Bộ GD&ĐT, chương trình còn có thêm 2 tổ chức chính trị xã
hội khác cùng tham gia là Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và
Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam Tại TP.HCM, hai đơn vị tiên phong là Nhà Bè và Hóc Môn đã tham gia thể nghiệm thông qua sinh hoạt ngoại khóa tại các trường phổ thông Chương trình giúp HS rèn luyện một số KNS thiết thực để giải quyết những vấn
đề trong cuộc sống Trải qua các giai đoạn thực hiện chương trình, khái niệm và nội dung của KNS và GDKNS dần được mở rộng và hoàn thiện hơn
Năm 2003, hội thảo “Chất lượng giáo dục và KNS” do UNESCO phối hợp với
Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục tổ chức vào ngày 23 đến 25 tháng 10 tại Hà
Nội đã làm rõ hơn, đầy đủ hơn về khái niệm KNS Phương hướng tiếp cận dựa trên
bốn trụ cột: “Học để biết, học để làm, học để cùng chung sống, học để tự khẳng định mình” và KNS được xem như là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng
Trang 24tham gia vào cuộc sống hàng ngày Năm 2003 – 2004, Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục phối hợp với tổ chức UNESCO triển khai nghiên cứu “GDKNS ở Việt Nam” với nội dung bám sát theo điều kiện thực tiễn giáo dục ở nước ta
Năm 2008, xuất phát từ tầm quan trọng của vấn đề GDKNS cho HS trong giai đoạn Việt Nam bước vào thời kì hội nhập và phát triển, Bộ GD&ĐT đã ban hành Chỉ
thị 40/CT-BGDĐT của Bộ trưởng BG&ĐT về phát động phong trào thi đua “Xây
dựng trường học thân thiện – HS tích cực” trong các trường phổ thông giai đoạn 2008 – 2013 [2] Theo đó, rèn luyện KNS cho HS là nội dung thứ ba trong 5 nội dung cơ
bản của phong trào thi đua này Năm học 2010 – 2011, Bộ GD&ĐT chính thức triển khai Kế hoạch 453/KH-BGDĐT, ngày 30/07/2010 về công tác tập huấn và triển khai tích hợp GDKNS trong các môn học và hoạt động giáo dục ở TH, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông trên toàn quốc [6] Kế hoạch này tiếp tục được cải tiến và đẩy
mạnh phát huy cho đến thời điểm hiện tại
Song song với việc triển khai các chương trình nêu trên, vấn đề KNS và GDKNS cho HS đã được rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Nhìn chung, nội dung
của các tài liệu tập trung phân tích khái niệm KNS, nguyên tắc và phương pháp GDKNS hiệu quả, tạo cơ sở và đặt ra những hướng nghiên cứu mới mẻ về KNS và GDKNS ở Việt Nam Trước hết phải kể đến sách “Nhập môn KNS” của tác giả Huỳnh Văn Sơn (NXB Giáo dục – 2009) [25] cung cấp kiến thức về khái niệm, phân loại và
nội dung của một số KNS cơ bản Bên cạnh đó, có bài báo chuyên sâu về GDKNS như
“Quan niệm về kĩ năng sống hiện nay” [27] của tác giả Huỳnh Văn Sơn, “Kĩ năng
sống dưới góc nhìn tâm lí học” [31] của tác giả Nguyễn Quang Uẩn,…
Liên quan đến bậc TH, bộ sách “Giáo dục KNS trong các môn học ở TH – Tài
liệu dành cho GVCN” (NXB Giáo dục – 2010) [6] của tác giả Lưu Thu Thủy cùng các
cộng sự đã góp phần đáng kể vào việc xác định những vấn đề lí luận cốt lõi về KNS và GDKNS Ngoài ra, còn có bài viết có giá trị về vấn đề này như “Các biểu hiện kĩ năng
sống của học sinh tiểu học” [13] của tác giả Huỳnh Lâm Anh Chương hay một sách
của các tác giả Ngô Thị Tuyên [30], Trần Thị Tố Oanh [21], Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Đinh Thị Kim Thoa,… Qua nghiên cứu, những tài liệu trong giai đoạn này có xu
Trang 25hướng xác định những KNS cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà trẻ em tham gia,
dựa vào đó đề xuất các nội dung, phương pháp GDKNS phù hợp cho HS
Do tính chất của HĐGDNGLL và các mục tiêu của hoạt động này là phát triển năng lực cho HS nên HĐGDNGLL có quan hệ mật thiết với GDKNS Vì vậy, những
đề tài nghiên cứu về GDKNS thông qua HĐGDNGLL có ý nghĩa hết sức quan trọng Tuy nhiên, hầu hết nghiên cứu về vấn đề này phổ biến ở bậc Trung học cơ sở và Trung
học phổ thông, các nghiên cứu ở bậc TH chưa phong phú về cả số lượng lẫn chất lượng Gần với hướng nghiên cứu của đề tài, một số luận án, luận văn đã đề cập đến KNS trong HĐGDNGLL, chẳng hạn như luận văn Thạc sĩ Khoa học giáo dục “Một số
biện pháp GDKNS thông qua HĐGDNGLL cho HS lớp 5 ở các trường TH quận Gò
Vấp, TP.HCM” [16] của Lê Thị Xuân Kim Hiếu (Nghệ An – 2012), luận văn Thạc sĩ
“Một số biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua hoạt động ngoài giờ lên lớp” [29] của Bùi Thị Thanh (Đại học Vinh – 2011), luận án Tiến sĩ “GDKNS cho HS trung
học phổ thông thông qua HĐGDNGLL” [32] của Phan Thanh Vân (Đại học Thái Nguyên – 2010),…
Nhìn nhận một cách khái quát, bên cạnh các đóng góp làm rõ về lí luận và
thực tiễn, các nghiên cứu vẫn còn một số hạn chế Đa phần nghiên cứu tập trung phân tích việc giáo dục các KNS cốt lõi chung, chưa có nhiều công trình khoa học đi sâu xem xét, phân tích giáo dục các KNS cho lứa tuổi HS lớp 4, 5 Hơn nữa, HĐGDNGLL
vẫn chưa được nhận thức đúng mức, dẫn đến các nghiên cứu GDKNS trong hoạt động này càng chưa được chú trọng GDKNS cho HS TH mới chỉ được thực hiện như một
nội dung, một mục tiêu phụ của các chương trình, dự án cho cấp học này Nhiều nghiên cứu chủ yếu phân tích tầm quan trọng của KNS, thực trạng cấp bách của vấn đề GDKNS, chưa tập trung đi sâu giải quyết nhiệm vụ về biện pháp GDKNS cho HS
Một số biện pháp GDKNS đã được triển khai trong thực tế nhưng quá trình vận dụng
vẫn còn khó khăn, tính ứng dụng chưa cao
Tóm lại, việc xem xét lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy nghiên cứu về biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM chưa được thực hiện nhiều Do vậy, vấn đề này cần được quan tâm hơn, vừa góp phần bổ sung hệ thống lí luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn
Trang 261.2 M ột số khái niệm cơ bản
Khái ni ệm kĩ năng, KNS, GDKNS
1.2.1.
• Kĩ năng
Muốn hiểu thuật ngữ “kĩ năng sống” một cách cặn kẽ và khoa học, trước hết,
cần hiểu thế nào là kĩ năng Qua nghiên cứu tài liệu, đề tài nhận thấy các nhà nghiên
cứu đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau khi nói về “kĩ năng”
Theo Từ điển tiếng Việt, kĩ năng được định nghĩa là “khả năng vận dụng
những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế” [22, tr.517] Tương tự, gắn kĩ năng với quá trình đưa kiến thức vào thực tế, từ điển Wiktionary định nghĩa kĩ năng là “khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn” [35]
Theo từ điển tiếng Anh, kĩ năng (“skill”) được mô tả là khả năng đưa ra các
giải pháp trong một số vấn đề nhất định và kĩ năng có thể hình thành thông qua rèn luyện hay đào tạo Cũng đề cập đến khả năng giải quyết vấn đề, Giáo trình tâm lí học giáo dục phát biểu rằng “Kĩ năng là khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể” [20, tr.78]
Xem xét trong lĩnh vực tâm lí học, nổi bật lên hai cách tiếp cận thuật ngữ “kĩ năng” chính Cách thứ nhất là xem xét kĩ năng thiên về kĩ thuật hành động và cách thứ hai là xem xét kĩ năng thiên về năng lực con người Theo cách thứ nhất, có thể xem kĩ năng là thao tác Cách hiểu này chỉ đúng với những kĩ năng đơn giản, có thể quan sát được Theo cách thứ hai, tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm “kĩ năng là khả năng thực
hiện có kết quả một hành động nào đó, bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép Kĩ năng không chỉ đơn thuần về mặt kĩ thuật hành động mà còn là biểu hiện năng lực của con người” [26, tr.16] Rõ ràng, cách hiểu thứ hai mang tính chất khái quát hơn
Nhìn chung, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kĩ năng, tùy vào quan
niệm cũng như góc tiếp cận chuyên môn Mặc dù vậy, các quan niệm ấy không hề mâu thuẫn nhau mà đều thống nhất ở một số điểm cơ bản như:
- Tri thức là cơ sở, là nền tảng để hình thành kĩ năng
- Kĩ năng cho phép con người thực hiện thao tác hay hành động cụ thể, có thể đánh giá được dựa trên những tiêu chí nhất định
Trang 27- Kĩ năng có tính linh hoạt trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau sao cho phù hợp với tiêu chí, mục đích thực hiện
- Kĩ năng có thể giáo dục và rèn luyện được thông qua việc học tập, lĩnh hội tri
thức và vận dụng chúng vào hoạt động cụ thể trong cuộc sống hằng ngày
Qua tổng hợp các quan niệm về kĩ năng, có thể khẳng định, kĩ năng là khả năng thực hiện hành động đạt kết quả trong những điều kiện nhất định dựa trên vốn tri
th ức, kinh nghiệm đã có
• KNS
Sống là một quá trình hoạt động Hiểu một cách đầy đủ, sống không chỉ là tồn
tại về mặt thể chất mà còn cả về mặt tâm lí Trong quá trình sống ấy, con người cần có
những kĩ năng nhất định, gọi là KNS Thuật ngữ “KNS” xuất hiện ngày càng phổ biến
ở Việt Nam và trên thế giới trong những năm gần đây
Tùy từng góc độ nghiên cứu khác nhau, các tài liệu có những định nghĩa khác nhau về KNS, có thể kể đến như:
Theo từ điển Wikipedia, “KNS là tập hợp các kĩ năng của con người có được qua việc học hoặc việc trải nghiệm trực tiếp trong cuộc sống, dùng để giải quyết những
vấn đề mà con người thường phải đối mặt trong cuộc sống hàng ngày” [36] Quan
niệm này khẳng định rằng con người phải ở trong tình huống có thực, giải quyết vấn
đề thực thì mới có KNS
Theo WHO, KNS là các kĩ năng mang tính tâm lí xã hội, “là khả năng để có hành vi thích ứng (adaptive) và tích cực (posivetive) cho phép các cá nhân giải quyết
có hiệu quả nhu cầu và thách thức trong cuộc sống hàng ngày” [21, tr.12] Theo quan
niệm này, KNS thể hiện thông qua cách tương tác với các cá nhân khác và với môi trường WHO nhấn mạnh vào những khó khăn, thách thức hơn là những việc bình thường cần giải quyết
Theo UNICEF, “KNS là những kĩ năng tâm lí xã hội có liên quan đến tri thức,
những giá trị và thái độ, cuối cùng thể hiện ra bằng những hành vi làm cho các cá nhân
có thể thích nghi và giải quyết có hiệu quả các yêu cầu và thách thức của cuộc sống” [21, tr.12] Quan niệm của UNICEF nhấn mạnh mối quan hệ mật thiết giữa kĩ năng và
kiến thức, thái độ, đặc biệt đề cao khả năng tư duy của con người trong cuộc sống
Trang 28Theo UNESCO, “KNS là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ
chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày” [26; tr.7] KNS, theo quan niệm của UNESCO, là toàn bộ khả năng của con người khi tham gia vào tất cả hoạt động của xã
hội, bao gồm kĩ năng tự quản bản thân và kĩ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả
Theo tác giả Huỳnh Văn Sơn, thuật ngữ “sống” được xem xét ở góc độ tâm lí
và tâm lí – xã hội KNS được định nghĩa là “những kĩ năng tâm lí – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống Những kĩ năng này còn được xem như một biểu hiện quan trọng cùa khả năng tâm lí – xã hội giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và phát triển” [26, tr.8]
Xét ở góc độ tâm lí học, tác giả Nguyễn Quang Uẩn khẳng định: “KNS là một
tổ hợp phức tạp của một hệ thống kĩ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày có kết quả, trong
những điều kiện xác định của cuộc sống” [30]
Qua phân tích các quan niệm khác nhau về KNS, một cách khái quát, có thể chia quan niệm về KNS thành 2 nhóm cơ bản Nhóm thứ nhất, quan niệm KNS theo nghĩa rộng (UNESCO), thừa nhận tất cả các nhóm kĩ năng Nhóm thứ hai, quan niệm KNS theo nghĩa hẹp hơn (UNICEF, WHO), xem KNS là những kĩ năng biểu hiện của nhóm kĩ năng nhận biết và ứng phó với bản thân và năng lực tâm lí xã hội giúp cá nhân giải quyết có hiệu quả các tình huống của cuộc sống Những kĩ năng chuyên môn như kĩ năng đọc, viết, kĩ năng tính toán,… không được xem là KNS [26]
Mặc dù có rất nhiều cách phát biểu định nghĩa với phạm vi phản ánh của khái
niệm rộng, hẹp khác nhau nhưng xét cho cùng, các quan điểm đều thể hiện sự thống
nhất về bản chất của KNS ở các điểm sau:
- KNS thể hiện qua hành động trong quá trình con người tham gia giải quyết các tình huống, các vấn đề cụ thể gắn liền với các mối quan hệ với bản thân, với người khác và với môi trường xung quanh
- KNS chỉ hình thành khi cá nhân đã có những tri thức và thái độ nhất định
- KNS giúp con người sống thành công và làm việc hiệu quả
Trang 29Như vậy, có thể khẳng định, KNS bao gồm kĩ năng tâm lí và tâm lí – xã hội, là
kh ả năng làm chủ bản thân của mỗi người, khả năng ứng xử phù hợp với những người khác trong v ới xã hội, khả năng ứng phó, giải quyết hiệu quả các tình huống của cuộc
s ống dựa trên kiến thức, thái độ đã có
Do có nhiều cách tiếp cận, nhiều quan niệm khác nhau về KNS nên cũng tồn
tại nhiều cách phân loại KNS khác nhau Những cách phân loại khác nhau sẽ dẫn đến
số lượng và tên gọi của các KNS, các nhóm KNS có sự khác nhau Có thể kể đến một
số cách phân loại KNS cơ bản sau [26, tr.8-9]:
Cách thứ nhất là cách phân loại của WHO Dựa trên cách phân loại từ lĩnh vực
sức khoẻ, WHO chia KNS thành 3 nhóm:
- Nhóm kĩ năng nhận thức: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng đặt mục tiêu, kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy, kĩ năng sáng tạo,…
- Nhóm kĩ năng đương đầu với xúc cảm: kĩ năng nhận biết cảm xúc, kĩ năng
kiểm soát cảm xúc, kĩ năng kiềm chế căng thẳng,…
- Nhóm kĩ năng xã hội hay kĩ năng tương tác: kĩ năng giao tiếp – truyền thông,
kĩ năng hợp tác, kĩ năng cảm thông, kĩ năng chia sẻ,…
Cách thứ hai là cách phân loại của UNESCO, phân chia KNS dựa trên những
kĩ năng nền tảng và những kĩ năng chuyên biệt của cá nhân trong nhiều lĩnh vực Theo
đó, 3 nhóm KNS mà WHO phân loại như trên được xem là nhóm những KNS chung Ngoài ra, còn có thêm nhóm kĩ năng chuyên biệt, gồm những KNS được thể hiện trong
những vấn đề cụ thể khác nhau của đời sống xã hội như vệ sinh, sức khoẻ, thực phẩm, dinh dưỡng; giới tính, sức khoẻ sinh sản; ngăn ngừa và phòng bệnh HIV/AIDS,…
Cách thứ ba là cách phân loại của UNICEF Với mục đích giúp người học có
kĩ năng ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện bản thân, UNICEF đã đưa ra cách phân loại KNS theo các mối quan hệ, gồm 3 nhóm:
- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng xây dựng mục tiêu, kĩ năng kiểm soát cảm xúc,…
- Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác: kĩ năng thiết lập quan hệ, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc nhóm,…
Trang 30- Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả: kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo; kĩ năng giải quyết vấn đề,
kĩ năng ra quyết định,…
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn chia KNS thành 3 nhóm chính [31]:
- Kĩ năng về cuộc sống cá nhân: kĩ năng sinh hoạt cá nhân, kĩ năng rèn luyện
sức khỏe, kĩ năng tự nhận thức bản thân, kĩ năng tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân, kĩ năng tự xác định mục đích, kế hoạch của cuộc sống,…
- Kĩ năng quan hệ với người khác, với cộng đồng, xã hội: kĩ năng giao tiếp, ứng
xử, kĩ năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách, kĩ năng thực hiện các hành vi văn hóa, xã hội, kĩ năng thích ứng xã hội,…
- Kĩ năng thực hành công việc: kĩ năng xác định mục tiêu công việc, kĩ năng lựa
chọn và xác định các giá trị, kĩ năng hoạch định công việc, kĩ năng giải quyết các vấn
đề nảy sinh trong công việc, kĩ năng tổ chức thực hiện công việc có kết quả,…
Ngoài ra, trong giáo dục còn có cách phân loại KNS theo lĩnh vực học tập, chỉ
ra những KNS cụ thể được áp dụng trong từng môn học Thực tế, muốn một kĩ năng đạt hiệu quả thì phải có sự vận dụng, phối hợp một số kĩ năng khác có liên quan Vì
vậy, tất cả các cách phân loại nêu trên chỉ mang tính chất tương đối Trong giáo dục chính quy ở Việt Nam những năm vừa qua, KNS thường được phân loại thành 3 nhóm theo các mối quan hệ, tương tự cách phân loại của UNICEF
• GDKNS
Theo tác giả Lê Thị Thanh Chung, giáo dục “là một quá trình, trong đó dưới tác động chủ đạo của nhà giáo dục, người được giáo dục tự giác, tích cực tự giáo dục
nhằm hình thành được thế giới quan khoa học, và những phẩm chất, nhân cách khác
của người công dân, người lao động” [12, tr.7] Thông qua giáo dục, người học hình thành tri thức, thái độ và kĩ năng, hành vi của bản thân, nhờ đó đảm bảo cho sự tồn tại, thích ứng khi tham gia vào cuộc sống
Ngày nay, khi xã hội hiện đại không ngừng đặt ra những thách thức mới cho con người, KNS đã trở thành một trong những mục tiêu quan trọng bậc nhất của giáo
dục GDKNS được xem như là một quá trình với những hoạt động giáo dục cụ thể
nhằm tổ chức, điều khiển để HS có được kiến thức, thái độ, giá trị và tạo cơ hội cho
Trang 31HS rèn luyện, trải nghiệm trong cuộc sống thực tiễn, từ đó giúp HS có thể làm chủ bản thân, ứng xử tích cực với mọi người xung quanh và ứng phó, giải quyết có hiệu quả các tình huống, vấn đề trong cuộc sống
Từ khái niệm KNS và quan niệm về quá trình giáo dục đã trình bày ở trên,
GDKNS là m ột quá trình giáo dục nhằm mục đích giúp người học có những kĩ năng tâm lí – xã h ội để làm chủ bản thân, ứng xử phù hợp với những người khác trong với
xã h ội, ứng phó, giải quyết hiệu quả các tình huống của cuộc sống dựa trên những
ki ến thức, thái độ đã có
Khái ni ệm hoạt động giáo dục, HĐGDNGLL
1.2.2.
• Ho ạt động giáo dục
Hoạt động là hình thức biểu hiện quan trọng nhất các mối quan hệ tích cực,
chủ động của con người với thực tiễn xung quanh, đồng thời là điều kiện, phương tiện
để phát triển con người Sự hình thành và phát triển năng lực của con người, đặc biệt là hình thành và phát triển KNS, chịu tác động trực tiếp của hoạt động cá nhân
Quá trình giáo dục được thực hiện thông qua các hoạt động giáo dục Hoạt động giáo dục là quá trình tác động một cách có hệ thống của giáo viên đến HS để hình thành cho HS những ý thức, thái độ, tình cảm và kĩ năng, hành vi, thói quen nhất định Đặc biệt, đối với lứa tuổi HS bậc TH, hoạt động giáo dục luôn luôn giữ vai trò
chủ đạo
• HĐGDNGLL
Hoạt động giáo dục được phân ra thành hai bộ phận chủ yếu: hoạt động dạy
học trên lớp, gắn liền với hệ thống các môn học, các lĩnh vực học tập và HĐGDNGLL,
nằm ngoài các môn học và các lĩnh vực học tập Điều lệ trường TH ban hành kèm theo thông tư số 41/2010/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2010, điều 29 chỉ rõ: “Hoạt động giáo dục bao gồm hoạt động trên lớp và HĐGDNGLL nhằm rèn luyện đạo đức, phát triển năng lực, bồi dưỡng năng khiếu, giúp đỡ HS yếu kém phù hợp với đặc điểm tâm lí, sinh lí lứa tuổi HS TH Hoạt động giáo dục trong lớp được tiến hành thông qua
việc dạy học các môn học bắt buộc và tự chọn trong chương trình Giáo dục phổ thông
cấp TH do Bộ trưởng BGDĐT ban hành HĐGDNGLL bao gồm hoạt động ngoại
Trang 32khóa, hoạt động vui chơi, thể dục thể thao, tham quan du lịch, giao lưu văn hóa; hoạt động bảo vệ môi trường; lao động công ích và các hoạt động xã hội khác” [5]
Song song với hoạt động dạy học trên lớp, HĐGDNGLL là một bộ phận rất quan trọng và cần thiết trong toàn bộ quá trình sư phạm ở nhà trường phổ thông nói chung và trường TH nói riêng Theo Chương trình giáo dục phổ thông ban hành kèm theo quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006, HĐGDNGLL là
những hoạt động giáo dục được tổ chức ngoài giờ học các môn văn hóa, là một chương trình thống nhất hữu cơ với các hoạt động dạy học, tạo điều kiện gắn lí thuyết
với thực hành, thống nhất giữa nhận thức với hành động, góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của HS trong giai đoạn hiện nay [4]
Về mặt thời gian, HĐGDNGLL trong trường TH có thể được tổ chức theo thời khóa biểu (tiết chào cờ, tiết sinh hoạt tập thể) hay HĐGDNGLL không theo thời khóa
biểu (hoạt động vui chơi, lao động) Hiện nay, HĐGDNGLL theo hình thức sinh hoạt
tập thể theo chủ điểm tháng ở TH được quy định thời lượng 4 tiết/tháng
Về mặt nội dung, HĐGDNGLL có nội dung rất đa dạng Giáo viên có thể lựa
chọn những chủ đề, hoạt động một cách chủ động, linh hoạt, miễn sao phù hợp với HS,
cơ sở vật chất, đặc điểm địa phương, trường, lớp,… và quan trọng hơn là gắn với thực
tiễn cuộc sống, mang lại hiệu quả giáo dục thiết thực HĐGDNGLL chính là cơ hội cho HS vận dụng những kiến thức đã học vào hoạt động thực tiễn, được thực hành, trải nghiệm trong các tình huống của cuộc sống, phát triển ở HS các KNS cần thiết, phù
hợp với lứa tuổi, là một trong những phương tiện quan trọng thực hiện GDKNS
Khái ni ệm biện pháp, biện pháp GDKNS thông qua HĐGDNGLL 1.2.3.
Với ý nghĩa như vậy, biện pháp mang một số đặc điểm đặc điểm sau:
- Biện pháp là cách thực hiện một nhiệm vụ cụ thể để đạt được mục đích
Trang 33- Biện pháp là sản phẩm của sự suy nghĩ tìm tòi của cá nhân, của sự trao đổi kinh nghiệm, từ sự học hỏi trực tiếp lẫn nhau nên có tính kinh nghiệm và chủ quan
- Biện pháp có tính linh hoạt tuỳ điều kiện và hoàn cảnh, tình huống
Mỗi biện pháp có giá trị cốt lõi, có điểm tựa riêng, thể hiện nhiều mức độ khác nhau Các biện pháp ngoại biên dựa vào những nguyên tắc hay phương pháp tổ chức,
sắp xếp,… nhằm bảo đảm hiệu quả của một lĩnh vực hoạt động Trong khi đó, các biện pháp chuyên biệt hướng đến thực hiện một hoạt động cụ thể với những nhiệm vụ và
những điều kiện chuyên biệt Các biện pháp GDKNS cho HS lớp 4, 5 thông qua HĐGDNGLL được đề xuất trong đề tài vừa có những biện pháp điều kiện, vừa có
những biện pháp tập trung vào các khâu thực hiện của hoạt động giáo dục
• Bi ện pháp GDKNS
Biện pháp GDKNS cho HS là cách mà nhà giáo dục hướng HS vào các hoạt động, các tình huống thực tế nhằm hình thành nhân cách tốt đẹp và các kĩ năng cần thiết giúp các em thích nghi với cuộc sống hiện tại Biện pháp GDKNS thông qua HĐGDNGLL tại trường TH là sự vận dụng phối hợp các yếu tố tổ chức, phương pháp,
kĩ thuật, phương tiện, điều kiện,… gắn với đặc thù của HĐGDNGLL nhằm tạo ra môi trường trải nghiệm giúp HS hình thành và phát triển KNS Biện pháp GDKNS cho HS
lớp 4, 5 được đề xuất trong đề tài là cách thức, là con đường hữu hiệu nhất giúp củng
cố, phát huy những thế mạnh đã có, đồng thời giải quyết, khắc phục những khó khăn,
hạn chế còn tồn tại của công tác này trong quá trình thực hiện tại các trường TH huyện Bình Chánh, TP.HCM, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện HS
để biết, học để làm, học để tự khẳng định và học để cùng chung sống” Với định hướng đó, mục tiêu GDKNS cho HS trong nhà trường được xác định là trang bị cho
Trang 34HS kiến thức, thái độ, giá trị và kĩ năng phù hợp GDKNS sẽ hình thành ở HS những hành vi, thói quen lành mạnh, tích cực; loại bỏ những hành vi, thói quen tiêu cực trong các mối quan hệ, các tình huống và hoạt động hàng ngày Đồng thời, GDKNS còn
nhằm tạo cơ hội thuận lợi để HS thực hiện tốt quyền, bổn phận của mình và phát triển hài hòa về thể chất, trí tuệ, tinh thần và đạo đức
• N ội dung
Nội dung giáo dục KNS cho HS trong nhà trường TH tập trung vào các kỹ năng tâm lý – xã hội, chú trọng đến những kỹ năng được vận dụng trong những tình
huống hàng ngày, phục vụ cho việc tương tác với người khác và giải quyết có hiệu quả
những vấn đề, những tình huống của cuộc sống
Các nhà nghiên cứu đã đề xuất nội dung giáo dục KNS cho HS, phổ biến nhất
là 21 KNS cơ bản sau [7, tr.15-26]: tự nhận thức, xác định giá trị, kiểm soát cảm xúc, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, thể hiện sự tự tin, giao tiếp, lắng nghe tích
cực, thể hiện sự cảm thông, thương lượng, giải quyết mâu thuẫn, hợp tác, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, kiên định, đảm nhận trách nhiệm, đặt mục tiêu, quản lí thời gian, tìm kiếm và xử lí thông tin
Thông qua việc phân chia KNS thành 3 nhóm chính, căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đề tài đặt trọng tâm vào nội dung 6 KNS có giá trị và cần thiết
nhất cho HS TH nói chung, cũng như HS lớp 4, 5 nói riêng, cụ thể như sau:
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình:
Kĩ năng xác định giá trị là khả năng con người hiểu rõ được những giá trị của
bản thân, tức những gì mình cho là quan trọng, có ý nghĩa, có tác dụng định hướng cho suy nghĩ, hành động và lối sống
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với người khác:
Kĩ năng giao tiếp là khả năng bày tỏ ý kiến của bản thân theo hình thức nói,
viết hoặc sử dụng ngôn ngữ cơ thể phù hợp với hoàn cảnh và văn hóa, đồng thời biết
lắng nghe và tôn trọng ý kiến người khác
Kĩ năng hợp tác là khả năng cá nhân biết chia sẻ trách nhiệm, cùng làm việc
có hiệu quả với những thành viên khác trong nhóm, giúp đỡ lẫn nhau trong một công
việc nào đó vì mục đích chung
Trang 35Kĩ năng thể hiện sự tự tin là khả năng cá nhân có niềm tin vào bản thân, tin
rằng mình có thể trở thành người có ích và tích cực, có niềm tin vào tương lai, cảm
thấy có nghị lực để hoàn thành nhiệm vụ
- Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả:
Kĩ năng giải quyết vấn đề là khả năng của cá nhân biết quyết định lựa chọn
phương án tối ưu và hành động theo phương án đã chọn để giải quyết vấn đề hoặc tình
huống gặp phải trong cuộc sống
Kĩ năng tìm kiếm và xử lí thông tin là khả năng con người xác định, phân
loại, thu thập, sắp xếp, phân tích, lí giải, so sánh, đối chiếu thông tin Kĩ năng này cho phép có được thông tin cần thiết một cách đầy đủ, khách quan, chính xác và kịp thời
Các KNS được nhấn mạnh trên đây là các KNS cơ bản nhất, phổ biến nhất Trong quá trình GDKNS cho HS lớp 4, 5, GVCN có thể lựa chọn thêm các KNS khác sao cho phù hợp với mục tiêu, đặc điểm đối tượng HS và điều kiện của trường lớp, của địa phương
Các giai đoạn thực hiện giáo dục một KNS cho HS 1.3.2.
Hoạt động GDKNS thường được tiến hành theo trình tự 4 giai đoạn chính, gồm có: Khám phá, Kết nối, Thực hành và Vận dụng [7, tr.40]
Giai đoạn Khám phá kích thích HS tự tìm hiểu xem các em đã biết những gì
về khái niệm, kiến thức, kỹ năng,… sẽ được học Qua đó, GVCN đánh giá, xác định
vốn kiến thức, kỹ năng,… của HS trước khi giới thiệu vấn đề mới
Giai đoạn Kết nối giới thiệu thông tin, kiến thức và kỹ năng mới thông qua
việc tạo cầu nối liên kết giữa cái đã biết và chưa biết Cầu nối này có chức năng kết
nối kinh nghiệm hiện có của HS với bài học mới
Giai đoạn Thực hành tạo cơ hội cho HS thực hành vận dụng kiến thức và kỹ
năng mới vào một bối cảnh, hoàn cảnh, điều kiện có ý nghĩa; qua đó định hướng để
HS thực hành đúng cách; đồng thời điều chỉnh hiểu biết và kỹ năng còn sai lệch
Giai đoạn Vận dụng tạo cơ hội cho người học củng cố, mở rộng, vận dụng
kiền thức và kĩ năng có được vào tình huống, bối cảnh mới
Ở mỗi giai đoạn, GVCN đóng vai trò người lập kế hoạch, hướng dẫn, đánh giá; trong khi HS đóng vai trò người thực hiện
Trang 36thống, từ đó hình thành nhân cách thông qua các môn học cụ thể trong chương trình Thông qua tổ chức HĐGDNGLL giúp người học nắm vững những nội dung: tri thức, thái độ, kĩ năng, hành vi ứng xử và thói quen hành vi thể hiện trong cuộc sống của
cộng đồng, của xã hội, từ đó hình thành ở người học những mặt xã hội, tâm lí, thể chất, cách ứng xử đúng đắn thông qua các mối quan hệ cùng nhau trong tập thể, trong nhóm, trong các hoạt động HĐGDNGLL củng cố, mở rộng kết quả dạy học và kích thích, điều chỉnh việc học tập của HS HĐGDNGLL chứng tỏ vị trí đặc biệt quan trọng trong quá trình giáo dục HS HĐGDNGLL bổ sung, hỗ trợ, gắn bó hữu cơ với hoạt động dạy học, thúc đẩy nhau cùng phát triển trong toàn bộ sự phát triển chung của HS
• Vai trò
HĐGDNGLL nắm giữ các vai trò trọng yếu sau đây:
- Là nơi củng cố, mở rộng và thể nghiệm, vận dụng tri thức, kĩ năng đã biết Đồng thời, HĐGDNGLL thỏa mãn nhu cầu, quyền lợi học tập, hoạt động của HS
- Là dịp để HS tự bộc lộ nhân cách toàn vẹn, tự điều chỉnh hành vi ứng xử, lối
sống cho phù hợp
- Là môi trường hình thành và phát huy tính chủ động, tự giác, tích cực và tính độc lập, sáng tạo trong việc tham gia vào các hoạt động Trên cơ sở đó, bồi dưỡng cho các em thái độ đúng đắn khi tham gia vào cuộc sống hàng ngày
- Là cơ hội tốt để thu hút cả 3 LLGD là nhà trường, gia đình và xã hội cùng tham gia giáo dục
• Nhi ệm vụ
HĐGDNGLL đòi hỏi thực hiện 3 nhiệm vụ giáo dục chủ yếu: Nhiệm vụ giáo
dục ý thức; nhiệm vụ giáo dục thái độ, tình cảm; nhiệm vụ giáo dục kĩ năng, hành vi, thói quen
Trang 37N ội dung, hình thức tổ chức HĐGDNGLL
1.4.2.
• N ội dung
Nội dung tổ chức HĐGDNGLL rất đa dạng và phong phú, xoay quanh nhiều
vấn đề trong cuộc sống như:
- Thông tin cập nhật trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội phù hợp
5 năm TH HĐGDNGLL lớp 4, 5 gồm có các chủ đề chính sau đây:
Tháng 9: Mái trường thân yêu của em
Tháng 10: Vòng tay bạn bè
Tháng 11: Biết ơn thầy giáo, cô giáo
Tháng 12: Uống nước nhớ nguồn
Tháng 01: Ngày Tết quê em
Tháng 02: Em yêu Tổ quốc Việt Nam
Tháng 3: Yêu quý mẹ và cô giáo
Tháng 4: Hòa bình và hữu nghị
Tháng 5: Bác Hồ kính yêu
HĐGDNGLL có nội dung tự chọn hướng HS tìm hiểu một nội dung học tập,
một lĩnh vực kiến thức để góp phần rèn luyện kĩ năng và tạo hứng thú học tập
Nhìn chung, HĐGDNGLL là một trong những phương tiện quan trọng thực
hiện mục tiêu giáo dục bậc TH, bao gồm GDKNS Vì thế, việc lựa chọn và xây dựng
nội dung phù hợp là cần thiết và quan trọng, là một trong những điều kiện đảm bảo sự thành công và hiệu quả của HĐGDNGLL
Trang 38• Hình th ức
Các loại hình hoạt động này có thể được tổ chức độc lập hoặc kết hợp với nhau qua các hình thức cơ bản là sinh hoạt theo chủ điểm, sinh hoạt tập thể, tiết chào
cờ, hoạt động tự chọn
Sinh ho ạt theo chủ điểm gắn hoạt động sinh hoạt với các ngày trọng điểm
trong tháng Một số sự kiện nổi bật gắn với chủ điểm được liệt kê trong bảng 1.1
B ảng 1.1 Một số sự kiện gắn với chủ điểm HĐGDNGLL
TT Tháng Sự kiện
1
Tháng 9,
tháng 10
- Thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (02/9/1945)
- Ngày Trẻ em quốc tế và Ngày môi trường sống quốc tế (thứ hai
tuần đầu tháng 10)
- Giải phóng Thủ đô Hà Nội (10/10/1954)
- Ngày Bác Hồ gửi thư cho ngành giáo dục (15/10/1968)
- Thành lập Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (20/10/1930)
2 Tháng 11 - Ngày Nhà giáo Việt Nam (20/11/1982)
- Thành lập đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (26/3/1931)
6 Tháng 4 - Ngày chiến thắng, giải phóng hoàn toàn miền Nam (30/4/1975)
7 Tháng 5
- Ngày Quốc tế lao động (01/5/1886)
- Chiến thắng Điện Biên Phủ (07/5/1954)
- Thành lập Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đội Nhi đồng Hồ Chí Minh (15/5/1941)
- Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890)
8 Tháng 6 - Ngày Quốc tế Thiếu nhi (01/6/1949)
9 Tháng 7 - Ngày Thương binh – Liệt sĩ (27/7/1947)
Trang 39Tùy theo yêu cầu giáo dục của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và nhà trường mà GVCN chọn sự kiện đáng ghi nhớ để tổ chức HĐGDNGLL cho HS Mỗi chủ đề tháng
sẽ bao gồm 3 – 4 hoạt động ứng với từng tuần trong tháng đó GVCN có thể tham
khảo, lựa chọn sự kiện và vận dụng sáng tạo trong quá trình tổ chức HĐGDNGLL
Ti ết sinh hoạt lớp còn gọi là tiết sinh hoạt lớp Ở TH, tiết này được xác định
rõ ràng trong thời khóa biểu Tiết sinh hoạt tập thể ở TH được tiến hành nhằm đánh giá các hoạt động, các công việc ở lớp đã diễn ra, phổ biến yêu cầu của nhà trường trong
tuần, tháng, học kì
Ti ết sinh hoạt chào cờ đầu tuần là một HĐGDNGLL có tính chất tổng hợp
nhằm giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho HS, là một tiết bắt buộc có trong thời khóa biểu hàng tuần của HS TH
Ho ạt động tự chọn không bắt buộc HS thực hiện mà do sự tự nguyện, tự giác
của các em, thường gắn liền với sở thích và năng khiếu Hình thức hoạt động này thể
hiện ở dạng câu lạc bộ: KNS, cờ vua, võ thuật, tiếng Anh,…
Nguyên tắc lựa chọn hình thức là phải thu hút, hấp dẫn HS; phù hợp nội dung;
thay đổi, sáng tạo hình thức, tránh lặp lại nhiều lần một hình thức;…
Quy trình t ổ chức HĐGDNGLL
1.4.3.
Để tổ chức HĐGDNGLL hiệu quả, GVCN phải thực hiện theo một quy trình mang tính khoa học và chặt chẽ, gồm các bước:
Bước 1: Đặt tên cho hoạt động và xác định yêu cầu giáo dục
Tên gọi hoạt động là khởi nguồn cho việc lựa chọn nội dung và lựa chọn hình
thức thực hiện Tên gọi cần gần gũi, hấp dẫn, nhộn nhịp, gây ấn tượng, có tác dụng định hướng về mặt tâm lí và kích thích tính tích cực, sẵn sàng của HS ngay từ đầu
Sau khi lựa chọn tên HĐGDNGLL, GVCN cần xác định rõ mục tiêu hoặc yêu
cầu giáo dục của HĐGDNGLL để chỉ đạo triển khai, định hướng hoạt động Trong đó,
3 yêu cầu giáo dục cần đặc biệt chú trọng là yêu cầu về kiến thức, kĩ năng và thái độ
Bước 2: Lập kế hoạch tổ chức hoạt động
Việc lập kế hoạch cho một HĐGDNGLL có ý nghĩa rất lớn Thiết kế giáo án
tổ chức hoạt động cụ thể giúp cho GVCN hoạt động có mục đích, không bị phân tán
Ở bước này, GVCN lựa chọn phối hợp hài hòa nội dung, hình thức, phương pháp,…
Trang 40Bước 3: Chuẩn bị cho hoạt động
GVCN cần dự kiến các yếu tố điều kiện như thành phần tham gia, phương
tiện, thời gian, địa điểm,… Khi chuẩn bị chu đáo, GVCN sẽ bình tĩnh hơn, chủ động hơn để giải quyết những tình huống bất thường xảy ra trong quá trình thực hiện
Bước 4: Tiến hành hoạt động
Sau giai đoạn chuẩn bị, bước kế tiếp là tiến hành hoạt động Những vấn đề dự định trong bước chuẩn bị sẽ được cụ thể hóa trong giai đoạn thực hiện
Bước 5: Đánh giá, rút kinh nghiệm sau khi tiến hành hoạt động
Hoạt động đánh giá giúp GVCN nhận biết được kết quả hoạt động có phù hợp
với mục tiêu đề ra hay không, những điều đã thực hiện tốt và những việc chưa đạt yêu
cầu, những công việc chưa thực hiện được, đồng thời tìm ra các nguyên nhân
1.5 GDKNS thông qua HĐGDNGLL cho HS lớp 4, 5
Phương pháp, kĩ thuật GDKNS cho HS thông qua HĐGDNGLL 1.5.1.
Theo quan điểm giáo dục hiện đại, phương pháp GDKNS cho HS là “sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho HS được
thực hành, trải nghiệm KNS trong quá trình học tập” [7, tr.27] Cách tiếp cận này sẽ không làm nặng nề, quá tải thêm nội dung hoạt động giáo dục mà ngược lại còn làm cho các hoạt động trở nên nhẹ nhàng, thiết thực và bổ ích hơn đối với HS
• Phương pháp
Trong các phương pháp dạy học tích cực, quá trình TN sư phạm ở chương 3
của luận văn tập trung vào các phương pháp sau đây:
Phương pháp làm việc nhóm (Phương pháp hợp tác, phương pháp làm việc
theo nhóm nhỏ) là phương pháp chia HS thành các nhóm nhỏ trong khoảng không gian
giới hạn, vào khoảng thời gian cụ thể Thông qua cộng tác làm việc giải quyết một nhiệm vụ, HS rèn luyện tính tự lực, sáng tạo, đồng thời phát triển năng lực xã hội, nhất
là khả năng hợp tác, tình đoàn kết, thái độ trách nhiệm, năng lực giao tiếp (lắng nghe, đặt câu hỏi, đưa thông tin, thuyết phục…), ra quyết định và sự tự tin cho HS
Phương pháp giải quyết vấn đề (Phương pháp phát hiện và giải quyết vấn
đề): là phương pháp giúp HS xem xét, phân tích những vấn đề, tình huống cụ thể thường gặp phải trong đời sống hàng ngày và xác định cách giải quyết, xử lí vấn đề,