Vì vậy, kĩ năng viết đúng chính tả của HS nói chung, HSDT Hoa nói riêng cần phải được quan tâm và chú ý ngay từ lớp Hai, khi các em vừa hoàn thành chương trình Học vần để bắt đầu học sâu
Trang 1Nguyễn Hoàng Phương Trâm
BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG CHÍNH TẢ
CHO HỌC SINH DÂN TỘC HOA
HỌC LỚP HAI TẠI QUẬN 11 TP HCM
Chuyên ngành: Giáo dục Tiểu học
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS NGUYỄN THỊ LY KHA
Thành phố Hồ Chí Minh - 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện do yêu cầu trong học tập và công việc Các số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng trong luận văn này là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được thu thập trong quá trình nghiên cứu và không trùng lặp với bất cứ một công trình nào khác
Người viết
Nguyễn Hoàng Phương Trâm
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Hoàn thành luận văn trong thời điểm này thật sự là một thử thách đối với bản thân tôi Nhiều lần tưởng chừng như đã bỏ cuộc Nhưng tới thời điểm này, nhìn lại những trang luận văn đã hoàn chỉnh, tôi không thể không nhớ đến những người đã hỗ trợ tôi trong suốt một quá trình dài Đầu tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Ly Kha Cô đã thông cảm, hướng dẫn và giúp đỡ tôi đầy trách nhiệm và tận tình nhất trong suốt quá trình tôi thực hiện luận văn
Đồng thời, tôi cũng xin cảm ơn đến các Thầy Cô giảng dạy lớp cao học Giáo dục học (Tiểu học) khóa 24; các Thầy Cô, Cán bộ phòng Sau Đại học, Khoa Giáo dục Tiểu học và Thư viện trường Đại học Sư phạm TP.HCM đã tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu tại Trường
Nhân đây, tôi cũng trân trọng cảm ơn Ban Giám Hiệu, GV và HS lớp Hai của các trường Tiểu học Lê Đình Chinh, Phạm Văn Hai, Hàn Hải Nguyên, Phú Thọ, Âu Cơ, Đại Thành – Quận 11, TP.HCM đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ cho tôi trong suốt quá trình tìm hiểu thực tế tại trường để tôi hoàn thành luận văn này
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình đã phụ giúp tôi hết mình
để tôi dành thời gian cho việc nghiên cứu Cuối cùng, tôi muốn gửi lời cảm ơn và lời chúc thành công đến tập thể lớp Cao học Giáo dục học (Tiểu học) K24, bạn bè và người thân đã chia sẻ cùng tôi nhiều khó khăn trong quá trình học tập cũng như khi thực hiện luận văn này
Học viên cao học
Trang 4
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục chữ cái viết tắt
Danh mục bảng biểu
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 8
Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ BÀI TẬP CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH DÂN TỘC HOA 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.2 Cơ sở lí luận 11
1.2.1 Một số khái niệm 12
1.2.2 Vị trí môn Tiếng Việt trong trường tiểu học đối với học sinh dân tộc 13
1.2.3 Những quan niệm chính về dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc 14
1.2.4 Một số nguyên tắc dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc 17
1.2.5 Hướng vận dụng chương trình Tiếng Việt chung cho học sinh dân tộc 20
1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề bài tập chính tả tiếng Việt cho HSDT Hoa học lớp Hai tại Tp.HCM 22
1.3.1 Vấn đề chuẩn hoá chính tả tiếng Việt 22
1.3.2 Vị trí, tính chất, nhiệm vụ, mục tiêu dạy học Chính tả 31
1.3.3 Tổng quan về bài tập chính tả trong chương trình tiểu học ở lớp Hai 32
1.4 Tiểu kết chương 1 36
Chương 2 THỰC TRẠNG KĨ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CỦA HỌC SINH DÂN TỘC HOA HỌC LỚP HAI TẠI QUẬN 11 TP.HCM 38
2.1 Khái quát khảo sát thực trạng 38
2.1.1 Địa bàn khảo sát 38
2.1.2 Thời gian khảo sát 39
2.1.3 Đối tượng và phương pháp khảo sát 39
2.1.4 Nội dung khảo sát 40
2.1.5 Phương tiện khảo sát 40
2.2 Kết quả khảo sát và phân tích về kết quả 40
2.2.1 Trình độ chuyên môn và thâm niên công tác của GV 40
2.2.2 Thực trạng kĩ năng viết đúng chính tả qua phiếu trưng cầu ý kiến GV 41
Trang 52.2.3 Thực trạng dạy học Chính tả 47
2.2.4 Thực trạng kĩ năng viết chính tả đoạn bài dưới hình thức nghe – viết 49
2.2.5 Thực trạng kĩ năng viết chính tả âm vần 54
2.2.6 Nguyên nhân – biện pháp khắc phục lỗi chính tả 59
2.2.7 Thực trạng rèn kĩ năng viết chính tả và sử dụng bài tập chính tả 63
2.3 Tiểu kết chương 2 68
Chương 3 XÂY DỰNG BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH DÂ N TỘC HOA HỌC LỚP HAI TẠI QUẬN 11 TP.HCM 70
3.1 Căn cứ xây dựng bài tập 70
3.1.1 Thực trạng lỗi chính tả 70
3.1.2 Nội dung bài tập chính tả âm vần ở lớp Hai 70
3.1.3 Đặc điểm tâm sinh lí và nhận thức của học sinh 71
3.1.4 Nguyên tắc và phương pháp dạy học Chính tả 71
3.2 Nguyên tắc xây dựng bài tập 73
3.3 Bài tập chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai 74
3.3.1 Các loại bài tập 74
3.3.2 Ngữ liệu dùng trong bài tập 75
3.3.3 Các dạng bài tập 76
3.4 Độ khó, độ tin cậy của bài tập 93
3.5 Danh sách từ - chữ chính tả 96
3.6 Tiểu kết chương 3 96
Chương 4 THỰC NGHIỆM BÀI TẬP RÈN KĨ NĂNG VIẾT CHÍNH TẢ CHO HỌC SINH DÂN TỘC HOA HỌC LỚP HAI TẠI QUẬN 11 TP.HCM 98
4.1 Chọn mẫu thực nghiệm 98
4.1.1 Cách thức chọn đối tượng thực nghiệm 98
4.1.2 Mô tả mẫu 98
4.2 Công cụ khảo sát và đánh giá 99
4.3 Tổ chức thực nghiệm 100
4.3.1 Nguyên tắc thực nghiệm 100
4.3.2 Phương pháp thực nghiệm 101
4.3.3 Quy trình thực nghiệm 101
4.4 Kết quả thực nghiệm và phân tích về kết quả 101
4.4.1 Quá trình thực nghiệm bài tập 102
4.4.2 Kết quả bài kiểm tra sau thực nghiệm 104
Trang 64.5 Tiểu kết chương 4 107
KẾT LUẬN 109 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 113 DANH MỤC BÀI BÁO ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Bảng âm và chữ cái ghi phụ âm tương ứng với thành phần âm đầu 26
Bảng 1.2 Bảng âm và chữ cái ghi bán âm /√υ≈√/ tương ứng thành phần âm đệm trong cấu trúc âm tiết 28
Bảng 1.3 Bảng âm và chữ cái ghi nguyên âm tương ứng với thành phần âm chính trong cấu trúc âm tiết 28
Bảng 1.4 Bảng âm và chữ cái ghi phụ âm và bán âm tương ứng với thành phần 30
Bảng 1.5 Nội dung và thời lượng dạy học bài tập chính tả âm – vần ở lớp Hai 33
Bảng 2.1 Chất lượng giáo dục môn TV của HS lớp Hai theo dân tộc 38
Bảng 2.2 Phương pháp và đối tượng điều tra 39
Bảng 2.3 Trình độ chuyên môn của GV 41
Bảng 2.4 Thâm niên công tác của GV 41
Bảng 2.5 Kết quả khảo sát ý kiến GV về mức độ mắc lỗi chính tả của HSDT Hoa 41
Bảng 2.6 Các loại lỗi chính tả của HSDT Hoa qua phiếu trưng cầu ý kiến 42
Bảng 2.7 Kết quả khảo sát ý kiến của GV về các lỗi âm đầu 44
Bảng 2.8 Kết quả khảo sát ý kiến của GV về các lỗi âm chính 45
Bảng 2.9 Kết quả khảo sát ý kiến của GV về các lỗi âm cuối và dấu thanh 46
Bảng 2.10 Tần số xuất hiện các tiếng có trong bài Hoa ngọc lan tương ứng với loại lỗi chính tả từ phiếu trưng cầu ý kiến GV 50
Bảng 2.11 Số bài làm mắc lỗi chính tả trong đợt khảo sát 51
Bảng 2.12 Lỗi chính tả âm đầu của HSDT Hoa trong bài viết 52
Bảng 2.13 Lỗi chính tả âm chính của HSDT Hoa trong bài viết 52
Bảng 2.14 Lỗi âm cuối, dấu thanh và lỗi viết hoa của HSDT Hoa trong bài viết 53
Bảng 2.15 Kết quả thống kê lỗi chính tả âm đầu của HSDT Hoa 55
Bảng 2.16 Kết quả thống kê lỗi chính tả âm chính của HSDT Hoa 56
Bảng 2.17 Kết quả thống kê lỗi chính tả âm cuối của HSDT Hoa 57
Bảng 2.18 Kết quả thống kê lỗi dấu thanh và quy tắc viết hoa của HSDT Hoa 58
Bảng 2.19 Nguyên nhân và biện pháp khắc phục lỗi chính tả cho HSDT Hoa 60
Bảng 2.20 Kết quả thống kê ý kiến GV về việc rèn kĩ năng chính tả 63
Bảng 2.21 Kết quả thống kê việc sử dụng bài tập chính tả của GV 64
Trang 9Bảng 2.22 Kết quả thống kê ý kiến GV về bài tập chính tả dành cho HSDT Hoa 65
Bảng 3.1 Thống kê các phiếu bài tập chính tả mà đề tài xây dựng 74
Bảng 3.2 Số lần sử dụng các dạng bài tập mà đề tài xây dựng 76
Bảng 3.3 Các hình thức thể hiện của dạng “nối ghép” và số lần sử dụng 77
Bảng 3.4 Các hình thức thể hiện của dạng “điền khuyết” và số lần sử dụng 83
Bảng 3.5 Độ khó của các phiếu bài tập được xây dựng 94
Bảng 3.6 Độ tin cậy của các bài tập mà đề tài xây dựng 95
Bảng 4.1 Kết quả xếp loại môn Tiếng Việt (Viết) của 2 nhóm trước thực nghiệm 98
Bảng 4.2 Độ tin cậy của bài kiểm tra 100
Bảng 4.3 Bảng thống kê kết quả bài kiểm tra của 2 nhóm HS 105
Bảng 4.4 Bảng xếp loại kết quả bài kiểm tra của 2 nhóm 106
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện kết quả xếp loại môn Tiếng Việt (Viết) 99
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện sự hứng thú của HS đối với các dạng bài tập 102
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện kết quả thực hiện các dạng bài tập 103
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện kết quả bài kiểm tra lớp thực nghiệm 105
Hình 4.5 Biểu đồ so sánh kết quả làm bài của 2 nhóm 106
Hình 4.6 Biểu đồ xếp loại bài kiểm tra của 2 nhóm 107
Trang 11M Ở ĐẦU 0.1 Lí do ch ọn đề tài
Từ khi nước Việt Nam ra đời, tiếng Việt đã trở thành ngôn ngữ chính thức của quốc gia và đảm nhiệm được nhiều chức năng quan trọng mà nó cần phải có Một trong những chức năng trọng yếu đó trước hết được thể hiện trong lĩnh vực giao tiếp hàng ngày của mọi công dân Việt Nam về các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn học, nghệ thuật, đời sống, đặc biệt là trong giáo dục Tiếng Việt còn là công cụ góp phần đoàn kết các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam, trong đó không thể không kể đến dân tộc Hoa, một dân tộc chiếm dân số khá đông trong số các dân tộc thiểu số1
Dân tộc Hoa là những người gốc Trung Quốc định cư ở Việt Nam và có quốc tịch Việt Nam Dù đã định cư và hòa nhập với người Kinh lâu đời nhưng họ vẫn gìn giữ được bản sắc văn hóa của dân tộc mình, vẫn giữ được các phong tục tập quán truyền thống và vẫn sử dụng tiếng Hoa - TMĐ của họ - làm ngôn ngữ chính thức trong các giao dịch nội bộ, trong giao tiếp thường nhật, trong gia đình Còn giao tiếp xã hội, hành chính, khoa học,…họ phải dùng tiếng Việt, ngôn ngữ quốc gia Việt Nam, một phương tiện giao tiếp, công cụ tư duy của dân tộc Việt Nam Do đó, HS người Hoa đến trường học tiếng Việt như một NN2
Tuy nhiên, HSDT Hoa học tiếng Việt hoàn toàn không giống với HS Việt Nam học ngoại ngữ bởi vì các em là người Việt gốc Hoa HSDT Hoa một mặt chủ yếu nắm vững TMĐ và phát triển nhận thức bằng TMĐ chứ không phải bằng tiếng Việt; mặt khác, các em có môi trường xã hội để sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt Tùy thuộc vào hoàn cảnh gia đình và nơi cư trú, mỗi em có thời gian và cơ hội khác nhau để sử dụng tiếng Việt với nhiều người và nhiều mục đích khác nhau trong cuộc sống ngoài nhà
đề dân tộc và thực hiện chính sách dân tộc ở nước ta – Thực trạng và giải pháp” như sau: - Dân tộc đa số là dân tộc có số người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tức là dân tộc Kinh (Việt), dùng thuật ngữ này
là nói trên phạm vi cả nước chứ không là nói trên địa bàn vùng hoặc địa phương nào đó.- Dân tộc thiểu số, thuật ngữ này không đồng nghĩa với dân tộc chậm phát triển, càng không phải là dân tộc lạc hậu, khái niệm đó là chỉ những dân tộc có số người ít hơn so với dân tộc đa số Trong đó kể cả dân tộc Hoa, còn người Hoa không có quốc tịch Việt Nam là Hoa Kiều.
Trang 12trường Vì vậy, vốn tiếng Việt của các em có nhưng rất ít và chưa chuẩn xác trong cách phát âm và sử dụng
Quá trình học tiếng Việt của HSDT luôn chịu ảnh hưởng từ TMĐ Theo một xu hướng tự nhiên, những thói quen sử dụng TMĐ được HSDT đưa vào trong quá trình học tiếng Việt Hệ quả là, những yếu tố giống nhau hoặc khác nhau giữa tiếng Việt và TMĐ tạo điều kiện thuận lợi hoặc có khi cản trở, gây khó khăn cho HSDT khi học tiếng Việt, đó cũng là nguyên nhân khiến HSDT mắc các lỗi sử dụng tiếng Việt như lỗi phát âm, lỗi chính tả,… [4], [24]
Cụ thể, đối với HSDT Hoa, do thuận lợi về môi trường sống, môi trường giao tiếp nên ít nhiều các em đã sớm hình thành kỹ năng nghe, nói tiếng Việt trước khi đến trường, tạo tiền đề để phát triển kỹ năng đọc, viết tiếng Việt Song, đồng thời các em cũng chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ nói lên ngôn ngữ viết từ hai phía: TMĐ, tiếng Hoa
và phương ngữ tiếng Việt Điều này thể hiện rõ khi các em sử dụng kĩ năng nói hoặc kĩ năng đọc (giọng nói, phát âm gần giống phiên âm La tinh của TMĐ, phát âm theo phương ngữ tiếng Việt, ) cũng như kĩ năng viết (lỗi chính tả, dùng từ, viết câu, ) Sau 8 năm công tác giảng dạy tại trường tiểu học ở Quận 11 - nơi chiếm đa phần HSDT Hoa – tôi nhận thấy các em HSDT Hoa gặp nhiều vướng mắc, lúng túng khi học môn Tiếng Việt và thể hiện rõ nhất qua thực hành kĩ năng viết đúng chính tả Qua việc khảo sát thực trạng bài làm trong vở Chính tả, bài kiểm tra định kì,… nhiều HS viết bài chưa đạt yêu cầu, bài viết chịu ảnh hưởng của ngôn ngữ nói (tiếng Hoa hoặc phương ngữ tiếng Việt) đến ngôn ngữ viết về mặt chính tả Thực trạng này không chỉ bắt gặp ở giai đoạn đầu (lớp 1, 2, 3) ở bậc tiểu học mà còn kéo dài đến giai đoạn sau (lớp 4, 5) và thậm chí ảnh hưởng đến những bậc học cao hơn nếu không được khắc phục và rèn luyện kịp thời Vì vậy, kĩ năng viết đúng chính tả của HS nói chung, HSDT Hoa nói riêng cần phải được quan tâm và chú ý ngay từ lớp Hai, khi các em vừa hoàn thành chương trình Học vần để bắt đầu học sâu vào các đơn vị ngôn ngữ cao hơn: từ, câu, đoạn Nó là công cụ để giúp các em giao tiếp bằng văn bản, đem lại hiệu quả tích cực lâu dài đối với hoạt động học tập
Đồng thời, ở bậc Tiểu học, phân môn Chính tả là môn học mang tính thực hành Hết giai đoạn Học vần, các em được rèn kĩ năng viết đúng chính tả tiếng Việt thông
Trang 13qua các kiểu bài tập: chính tả đoạn, bài; chính tả âm, vần;… Tuy nhiên, bài tập chính
tả trong SGK, VBT TV (dùng kèm) hiện nay mặc dù cũng đã tính đến sự ảnh hưởng của phương ngữ nhưng vẫn mang tính đại trà, sử dụng chung cho mọi đối tượng HS cả nước mà chưa tính đến đối tượng HSDT theo vùng miền Điều này gây khó khăn cho
GV trong việc rèn viết đúng chính tả cho HS theo vùng phương ngữ cũng như rèn chính tả cho HSDT thiểu số
Xuất phát từ những lí do trên, bản thân tôi là GV tiểu học, tôi rất băn khoăn và trăn trở làm thế nào để giúp các em HSDT Hoa viết đúng chính tả và hoàn thành tốt
mục tiêu môn học Chính vì vậy, người viết chọn đề tài: “Bài tập rèn kĩ năng chính tả cho học sinh dân tộc Hoa học lớp Hai tại Quận 11, Tp.Hồ Chí Minh” nhằm đem lại
hiệu quả thiết thực trong việc dạy – học phân môn Chính tả nói riêng, môn Tiếng Việt nói chung đối với HSDT Hoa, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học
0.2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích ngữ liệu bài tập chính tả trong SGK, VBT (dùng kèm), cùng với việc khảo sát lỗi trong bài làm của HSDT Hoa học lớp Hai, người viết tiến hành phân tích, phân loại lỗi từ đó xây dựng bài tập nhằm rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai tại TP.HCM Đồng thời người viết còn hướng đến việc cung cấp thêm bài tập tham khảo hỗ trợ cho việc dạy học Tiếng Việt nói chung và dạy học môn Chính tả nói riêng đối với HS người Hoa
0.3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên người viết tiến hành thực hiện các nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn về ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ dân tộc thiểu số - dân tộc Hoa, dạy học tiếng Việt như NN2, dạy học Tiếng Việt cho HSDT thiểu số, quá trình dạy học phân môn Chính tả lớp Hai bao gồm việc sử dụng các VBT TV
Tìm hiểu thực trạng về kĩ năng viết đúng chính tả của HSDT Hoa học lớp Hai
ở một số trường tiểu học trên địa bàn Quận 11, TP.HCM
Chọn lọc và xây dựng bài tập rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai
Thực nghiệm một số bài tập mà đề tài xây dựng
Trang 140.4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: bài tập rèn kĩ năng chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai Khách thể nghiên cứu: quá trình dạy học phân môn Chính tả lớp Hai
0.5 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Giới hạn nghiên cứu: Trong đề tài này, thông qua việc lấy ý kiến, khảo sát và phân tích lỗi chính tả mà HSDT Hoa thường mắc phải, người viết chọn lựa và xây dựng các bài tập rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai Phạm vi nghiên cứu: việc nghiên cứu đề tài được tiến hành ở một số trường tiểu học trên địa bàn Quận 11, TP.HCM
0.6 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, bài tập chính tả SGK chưa được xây dựng trên cơ sở thực trạng lỗi chính tả của HS nói chung, HSDT Hoa nói riêng Vì thế, việc xây dựng và sử dụng bài tập hỗ trợ rèn kĩ năng viết đúng chính tả một cách khoa học, hợp lí có thể góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kĩ năng viết cho HS
0.7 Phương pháp nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu
Để giải quyết vấn đề nghiên cứu, đề tài tập trung tìm lời giải cho các câu hỏi sau:
Làm thế nào để xây dựng bài tập rèn kĩ năng chính tả cho HSDT Hoa lớp Hai?
Việc sử dụng các bài tập này vào chương trình dạy - học môn TV nói chung, phân môn Chính tả nói riêng được thực hiện như thế nào?
Các bài tập được xây dựng có tác dụng như thế nào đối với việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai?
Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lý luận
Nhóm phương pháp này được sử dụng để thu thập, phân tích, tổng hợp, hệ thống
hóa các tài liệu trong nước và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến đề tài: dạy học quốc ngữ cho HSDT với tư cách là NN2, dạy học TV cho HSDT trong hướng vận dụng chương trình SGK chung hiện nay, đặc điểm tâm sinh lí, nhận thức của HSDT Hoa học lớp Hai, bài tập chính tả trong SGK hiện hành và quá trình dạy học phân môn Chính tả lớp Hai,…
Trang 15* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp quan sát
Phương pháp quan sát được sử dụng để thu thập thông tin về thái độ, khả năng chú ý, sự yêu thích khi làm bài của HS nhóm thực nghiệm trong quá trình thử nghiệm bài tập chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai Mặt khác, phương pháp này còn bao hàm
cả quá trình quan sát hoạt động dạy - học tiết Chính tả (thực trạng dạy học hiện nay + tiết dạy thử nghiệm bài tập)
Phương pháp điều tra
Người viết tiến hành điều tra bằng phiếu phiếu trưng cầu ý kiến GV về thực trạng lỗi chính tả của HSDT Hoa; sự cần thiết của việc rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho
HS qua các bài tập; thực tế rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HS trong chương trình phân môn Chính tả hiện nay
Ngoài ra, người viết còn sử dụng phương pháp xin ý kiến chuyên gia, dự giờ một
số tiết học, qua đó học tập kinh nghiệm, đồng thời phát hiện những khó khăn và thuận lợi trong việc rèn kĩ năng viết chính tả cho HSDT Hoa
Bên cạnh đó, người thực hiện đề tài cũng sử dụng phương pháp này để khảo sát lỗi chính tả của HSDT Hoa học lớp Hai qua hai bài làm (chính tả đoạn bài hình thức nghe – viết và chính tả âm vần) Từ đó, phân tích và hệ thống hóa những lỗi sai để xây dựng bài tập phù hợp
Phương pháp thực nghiệm khoa học
Đây là phương pháp được sử dụng nhằm thực nghiệm và đưa ra những đánh giá cần thiết về tính hiệu quả của các bài tập chính tả mà đề tài xây dựng Thông qua đó, người nghiên cứu có thể thấy được những ưu điểm, hạn chế của các bài tập đã xây dựng; từ đó, cải tiến, phát huy những ưu điểm, khắc phục những hạn chế để các bài tập ngày càng hoàn thiện hơn
Quá trình thực nghiệm được tiến hành với việc chọn mẫu nghiên cứu là 60HS ở trường tiểu học LĐC, Q11, TP.HCM Việc chọn mẫu nghiên cứu dựa trên các tiêu chí: trường được chọn chấp thuận và tạo điều kiện cho người nghiên cứu thực hiện khảo sát và thực nghiệm, HS được chọn là những em có sự phát triển bình thường về trí tuệ
Trang 16Bên cạnh những tiêu chí nêu trên, đề tài thực hiện chọn mẫu bằng cách ngẫu nhiên thuận tiện nhằm đảm bảo tính đại diện và tin cậy đối với kết quả nghiên cứu
Sau khi tiến hành chọn mẫu, mẫu nghiên cứu của đề tài bao gồm 60HS chia thành hai nhóm: 30HS ở nhóm thực nghiệm và 30HS ở nhóm đối chứng Điểm cần lưu
ý là HS trong hai nhóm này có trình độ ngang nhau (Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu) dựa trên ý kiến GV về đánh giá năng lực học tập của HS (môn Viết)
Việc thực nghiệm được tiến hành qua hai giai đoạn:
Giai đoạn 1: Thí điểm các bài tập để đánh giá độ khó, độ tin cậy, ưu và khuyết điểm của bài tập để đưa ra những lưu ý cần thiết cho việc xây dựng, cải tiến và thử nghiệm bài tập ở giai đoạn 2
Giai đoạn 2: Thử nghiệm bài tập trên nhóm thực nghiệm; tiến hành bài kiểm tra cuối đợt, so sánh kết quả bài làm kiểm tra của hai nhóm sau thực nghiệm; phỏng vấn
GV và HS về những bài tập đã xây dựng; rút ra các kết luận và đề xuất
Phương pháp thống kê
Phương pháp này giúp người thực hiện thống kê, phân loại, phân tích, so sánh hệ thống các cứ liệu thực tế để có thể đánh giá, phân tích và rút ra kết luận trong quá trình thực hiện đề tài Cụ thể, người viết dùng thang đo % để xử lý số liệu nghiên cứu thu được từ phiếu khảo sát, phiếu trưng cầu ý kiến trong quá trình điều tra thực trạng Sau
đó, thống kê, phân tích, đánh giá kết quả thực hiện bài tập chính tả của nhóm thực nghiệm Cuối cùng, so sánh, phân tích, đánh giá chi tiết kết quả bài kiểm tra cuối đợt
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng để đưa ra các kết luận
0.8 Đóng góp của đề tài
Đề tài mong muốn tạo nguồn tài liệu tham khảo hỗ trợ cho GV trong dạy – học
và rèn luyện kĩ năng viết đúng chính tả của HSDT Hoa học lớp Hai trên địa bàn Quận
11, Tp.HCM Qua đó, tạo tiền đề cho việc phát triển kĩ năng viết cũng như cải thiện chất lượng giáo dục môn Tiếng Việt cho HSDT Hoa
0.9 C ấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có:
Chương 1 Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của bài tập chính tả tiếng Việt cho học sinh dân tộc Hoa
Trang 17Chương 2 Thực trạng kĩ năng viết chính tả của học sinh dân tộc Hoa học lớp Hai tại Quận 11, Tp.HCM
Chương 3 Xây dựng bài tập rèn kĩ năng chính tả cho học sinh dân tộc Hoa học lớp Hai tại Quận 11, Tp.HCM
Chương 4 Thực nghiệm bài tập rèn kĩ năng chính tả cho học sinh dân tộc Hoa học lớp Hai tại Quận 11, Tp.HCM
Trang 18N ỘI DUNG Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA VẤN ĐỀ BÀI TẬP CHÍNH TẢ TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH DÂN TỘC HOA 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Hiện nay, vấn đề dạy học ngôn ngữ quốc gia cho HSDT thiểu số với tư cách NN2 trong một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ là một việc làm đang thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học và giáo dục ở nước ta và trên toàn thế giới Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã trình bày sự ích lợi của việc học NN2 mà không ảnh hưởng tiêu cực đến khả năng ngôn ngữ của trẻ Trẻ em có khả năng nói TMĐ rất thuận lợi để học thêm một NN2 Sự phát triển liên tục TMĐ của trẻ
em song ngữ sẽ gia tăng khả năng ngôn ngữ hai và TMĐ của chúng (Gibbons, 1991) Một số nhà nghiên cứu lập luận rằng việc học NN2 không những không ảnh hưởng mà trái lại nó còn bồi đắp thêm khả năng cho NN1 Đa số các nghiên cứu khẳng định rằng song ngữ không phải là một nguyên nhân làm chậm phát triển nhận thức và học tập của trẻ em; ngược lại, nó có thể ảnh hưởng tích cực đến khả năng ngôn ngữ và phát triển trí tuệ (Janssen và Pauwels, 1993) Creaser và Dau (1995) cho rằng trẻ em học NN2 giống như cách họ học NN1 Trong giai đoạn đầu, họ bắt đầu từng chữ, từng tiếng, và từng câu nói ngắn Dù trẻ em sinh ra trong “gia đình song ngữ” (có được hai ngôn ngữ cùng một lúc), hay trẻ em được sinh ra trong gia đình chỉ có được một ngôn ngữ (NN1 – TMĐ) sau đó học NN2, điều quan trọng là các trẻ em này cần được giúp
đỡ để duy trì TMĐ của họ; vì NN1 sẽ hỗ trợ cho việc học NN2 Ngoài ra, các tác giả J.Schumann, Eliss, Dr Pinter Annamaria, E.Bernhardt, D.J Tedick và Krashen, Lemlert và Tucker, Giles và Burne,… đã chứng minh rằng khi NN1 của trẻ phát triển khá đầy đủ thì có thể tiếp nhận NN2 một cách dễ dàng Khi dạy NN2 bằng “cách tiếp cận tự nhiên” với một hệ thống bài tập phù hợp với trình độ ngôn ngữ, văn hóa làm sao cho người học không quá lo lắng khi tiếp thu NN2 thì kết quả sẽ tốt hơn (Krasen và Terrell, 1983) Các quan điểm trên cho thấy mối tương quan giữa NN1 – TMĐ với NN2; và TMĐ là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc học NN2 [36], [37], [38], [39], [41]
Trang 19Trong bài viết Tiếng Việt cho người không phải bản ngữ (1997) của Bùi Khánh
Thế, Giáo sư Hoàng Tuệ đã trả lời câu hỏi: Ai là người cần học tiếng Việt không phải bản ngữ? Ông xác định rõ ba đối tượng: người nước ngoài, người Việt hải ngoại và người Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số Trong ba đối tượng ấy, ông dành sự quan tâm đặc biệt cho đối tượng là "người Việt Nam thuộc các dân tộc thiểu số" Bởi vì, đối với họ, tiếng Việt tuy không phải là bản ngữ nhưng lại là ngôn ngữ quốc gia mà thành viên cộng đồng các dân tộc thiểu số là công dân Tiếng Việt và TMĐ của người các dân tộc thiểu số có mối quan hệ đặc biệt giữa ngôn ngữ dân tộc và ngôn ngữ quốc gia Ông còn đề cập đến đối tượng người học tiếng Việt bao gồm những loại khác nhau và tâm lí khác nhau, vì vậy cần phải xem xét riêng để thấy chủ trương dạy và học tiếng
Việt thế nào cho thích hợp Trong cuốn sách Phương pháp dạy tiếng Việt cho HSDT thiểu số (1978) tác giả Phạm Toàn và Nguyễn Trường đã khái quát những cơ sở sinh
lý, tâm lý của người học là HSDT, cũng như những yêu cầu đối với GV dạy tiếng Việt trong vùng dân tộc; bên cạnh đó, hai tác giả cũng xây dựng những hoạt động ngoại khóa riêng biệt và bài tập trò chơi phục vụ việc dạy tiếng Việt cho HSDT Tập sách này chủ yếu đưa ra những hướng dẫn cách thực hiện cho từng kiểu bài cụ thể trong
bốn tập “Sách học tiếng Việt” (dùng cho HSDT) đã xuất bản trong các năm
1977-1978: Dạy bài tập nói, Dạy đọc, Dạy viết Trong phần Dạy viết, tác giả có đề cập đến việc dạy viết đúng vần, đúng tiếng; những thủ pháp dạy chính tả và tập chép tương ứng với các bài trong bộ sách nói trên Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến vấn đề lỗi chính tả và việc sửa lỗi chính tả cho HSDT mà chỉ lưu ý nếu HS quá yếu chính tả thì
cần biến các bài chính tả thành bài tập đọc và tập chép Phương pháp dạy tiếng Việt cho HSDT bậc Tiểu học (2006) do tác giả Mông Ký Slay chủ biên đã trình bày khá cụ
thể về phương pháp dạy học chung, các phương pháp dạy học âm vần TV, phương
pháp dạy nghe, nói, đọc, viết tiếng Việt dành riêng cho HSDT theo Chương trình, SGK mới Trong phần Dạy Viết, tác giả chỉ ra một số lỗi thường gặp nói chung của HSDT
bao gồm lỗi chính tả, lỗi dùng từ, viết câu sai ngữ pháp và đưa ra quy trình sửa lỗi Tại đây, tác giả đi sâu vào việc hướng dẫn dạy HSDT viết đúng chính tả Ngoài việc đề cập đến nhiệm vụ, nội dung dạy học chính tả, tác giả còn phân loại các lỗi chính tả mà HSDT thường mắc từ đó đề xuất những lưu ý khi dạy chính tả cho HSDT Tác giả
Trang 20cũng nhấn mạnh việc GV cần biên soạn những bài luyện tập chính tả cho phù hợp đối
tượng HSDT Tác giả Mông Ký Slay cũng đã nêu rõ trong Nội dung phương pháp và hình thức tổ chức dạy học ở vùng dân tộc (2001) về một số quan điểm, lí luận dạy học
Tiếng Việt cho HSDT bao gồm các nguyên tắc, phương pháp,… và những bất cập khi
áp dụng chương trình này ở vùng dân tộc, từ đó các tác giả nêu lên hướng vận dụng chương trình Tiếng Việt chung cho vùng dân tộc [4], [24], [27], [31]
Bên cạnh đó, còn có các giáo trình, khóa luận tốt nghiệp, luận văn, bài viết trên các tạp chí khoa học, tạp chí giáo dục,… đi sâu nghiên cứu về dạy học chính tả cho HS
tiểu học Giáo trình Dạy học Chính tả ở Tiểu học (2000), tác giả Hoàng Văn Thung và
Đỗ Xuân Thảo đã khái quát khá đầy đủ và chi tiết về phân môn Chính tả ở Tiểu học bao gồm: vị trí, nhiệm vụ, mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp dạy Chính tả Ngoài
ra, tác giả cũng đề cập đến đặc điểm ngữ âm và chữ viết tiếng Việt liên quan đến chính
tả cũng như quy tắc chính tả tiếng Việt Tác giả Võ Xuân Hào đã biên soạn Dạy học chính tả ở tiểu học theo vùng phương ngữ (2009) nhằm giúp người học nắm vững
những kiến thức cơ bản về chính tả tiếng Việt, hiểu rõ và xác định được những điểm khác biệt về ngữ âm trong các phương ngữ từ đó lựa chọn thủ pháp dạy học phù hợp với chính tả phương ngữ Đồng thời, ông giúp người học xác định được nguyên nhân dẫn đến lỗi chính tả của HS tiểu học ở các vùng phương ngữ để phân tích và chữa lỗi
chính tả chính xác, nhanh chóng Tác giả Bùi Đăng Bình với đề tài luận văn “Năng lực chính tả của HS tiểu học và trung học cơ sở hiện nay” đã dùng một ankét để trắc
nghiệm nhằm mục đích kiểm tra và đánh giá thực trạng năng lực chính tả tiếng Việt của HS tiểu học (lớp 5) và HS trung học cơ sở (lớp 9) ở ba vùng / miền khác nhau Từ kết quả đó và từ cơ sở ngữ âm học tiếng Việt, ông cũng đưa ra một vài kiến nghị về việc dạy môn chính tả tiếng Việt trong chương trình của SGK Tiếng Việt cho HS phổ
thông Tác giả Lê Ngọc Huyền Thu đã “Tìm hiểu về vấn đề dạy học chính tả ở bậc tiểu học” (Khóa luận tốt nghiệp, 2004) hoặc “Bài tập chính tả trong SGK lớp 5 thử nghiệm” (Khóa luận tốt nghiệp, 2005) của Phạm Ngọc Hiếu Hai tác giả này đã so
sánh nội dung chương trình SGK Cải cách Giáo dục và Chương trình Tiểu học 2000
về vấn đề dạy học chính tả khi Chương trình Tiểu học 2000 mới được ban hành Liên quan mật thiết với đề tài người viết đang nghiên cứu, tác giả Nguyễn Thị Huyền Linh
Trang 21với đề tài “Lỗi chính tả của HS người Hoa học lớp 3 và lớp 5 ở TP.HCM” đã khảo sát
lỗi chính tả của HSDT Hoa học lớp 3 và lớp 5 thông qua phiếu bài tập (điền khuyết âm – vần, dấu thanh và lỗi viết hoa) để tìm hiểu nguyên nhân, từ đó đề xuất ý kiến cho việc dạy chính tả cho HSDT Hoa Tác giả cũng đề cập đến việc GV cần biên soạn
“ngân hàng bài tập riêng” về những lỗi chính tả mà HS người Hoa hay mắc phải và đưa ra một số bài tập gợi ý [13], ]15], [21], [28]
Tất cả công trình nêu trên đều đề cập đến những vấn đề liên quan đến dạy học chính tả cho HS tiểu học nói chung và HSDT nói riêng chứ chưa đi sâu vào đối tượng
cụ thể là HSDT Hoa học lớp Hai; cũng như chưa có biện pháp cụ thể - bài tập dành riêng - để khắc phục và rèn kĩ năng viết đúng chính tả cho HSDT Hoa học lớp Hai Đề tài này người viết muốn đi sâu nghiên cứu cơ sở lí luận về việc dạy học chính tả cho HSDT Hoa với tư cách là NN2, tìm hiểu thực trạng; từ đó xây dựng bài tập hỗ trợ rèn
kĩ năng viết đúng chính tả tiếng Việt cho đối tượng là HSDT Hoa học lớp Hai
Vì vậy, mọi công dân Việt Nam đều có nghĩa vụ và quyền lợi học tập và sử dụng tiếng
và chữ phổ thông”
Trong Chính sách ngôn ngữ văn hoá dân tộc ở Việt Nam của tác giả Trần Trí Dõi
khi tìm hiểu về nhu cầu tiếp nhận giáo dục TV của đồng bào dân tộc cho thấy nhu cầu học TV để sử dụng trong nhiều mục đích khác nhau, trong đó mục đích nổi trội nhất vẫn là mục đích nâng cao trình độ nhận thức của dân tộc và dùng TV để giao tiếp với nhau Tình hình đó đã khẳng định vai trò quan trọng, không thể thiếu được của TV trong đời sống xã hội của đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn phát triển đất nước hiện nay
Trang 22Như vậy, trong môi trường xã hội như trên, cộng đồng các dân tộc thiểu số ở
nước ta thực sự là một cộng đồng song ngữ Trong cộng đồng ấy, NN1 của các dân tộc
là TMĐ của họ, là ngôn ngữ được giao tiếp trong nội bộ cộng đồng, còn NN2 đối với tất cả các dân tộc, là tiếng Việt của người Kinh, một dân tộc có số lượng người đông nhất trong cộng đồng các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam [10], [11], [34], [31]
1.2.1 M ột số khái niệm
1.2.1.1 Kĩ năng viết
Quan niệm về “kĩ năng” cho tới nay còn có những ý kiến khác nhau song về cơ bản đã thống nhất cho rằng kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động hay một hoạt động nào đó bằng cách lựa chọn và vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để thực hiện hành động phù hợp với những mục tiêu và những điều kiện thực tế đã cho
Nghe, nói, đọc, viết là bốn kĩ năng sử dụng ngôn ngữ Trong đó kĩ năng viết là kĩ năng tạo lập ngôn bản, sản phẩm của hoạt động này là văn bản viết Kĩ năng viết bao gồm nhiều mặt, nhiều khía cạnh như: kĩ năng viết chữ, kĩ năng viết chính tả, kĩ năng dùng từ, kĩ năng đặt câu, kĩ năng tạo lập ngôn bản Xét tương quan giữa các kĩ năng này, ta thấy kĩ năng viết chính tả là kĩ năng bộ phận, công cụ, đóng vai trò quan trọng, chi phối trong quá trình tạo lập ngôn bản [5], [34]
1.2.1.2 Chính t ả và lỗi chính tả
a Chính tả
Chữ viết là một phát minh quan trọng của loài người Sáng tạo ra chữ viết, loài người có thêm một phương tiện vật chất có tác dụng phát huy hiệu quả các chức năng của ngôn ngữ, có khả năng truyền đạt và bảo lưu mọi tư tưởng của loài người qua mọi thời gian, không gian trong mọi hoàn cảnh, mục đích giao tiếp Chính tả thực hiện những quy ước của xã hội đối với chữ viết để đề phòng, ngăn ngừa sự vận dụng tuỳ tiện, vi phạm các quy ước, làm trở ngại cho việc tri giác ngôn ngữ trong giao tiếp Theo Hoàng Phê (2006), Từ điển Tiếng Việt, chính tả là cách viết được coi là đúng, hợp với chuẩn Trong Tiếng Việt thực hành của Bùi Minh Toán – Nguyễn
Quang Ninh (2008) định nghĩa chính tả là việc viết đúng chữ viết theo chuẩn mực: các
âm, các thanh trong âm tiết Rộng hơn, chính tả còn bao gồm cả việc viết chữ hoa, chữ
Trang 23số, các từ ngữ mượn từ tiếng nước ngoài theo đúng chuẩn mực Nhìn chung, các tác
giả trên đều thống nhất ở điểm chính sau: chính tả là phép viết đúng hoặc lối viết hợp với chuẩn Như vậy, chính tả có thể được định nghĩa một cách cụ thể hơn như sau: Chính tả là hệ thống các quy tắc về cách viết thống nhất cho các âm, các thanh trong
âm tiết, cách viết hoa, viết các từ ngữ mượn từ tiếng nước ngoài, viết tắt,… Nói cách
khác, chính tả là những quy ước của xã hội trong ngôn ngữ dùng làm phương tiện truyền đạt bằng chữ viết, bảo đảm cho người viết, người đọc đều hiểu thống nhất nội dung của văn bản Sự quy ước có tính chất xã hội trong chính tả có tính bắt buộc và không cho phép vận dụng các quy tắc chính tả có tính chất sáng tạo cá nhân [13], [15], [16], [17], [21], [22], [28], [29], [33], [34]
b Lỗi chính tả
Lỗi chính tả là những cách viết các từ không đúng với quy định về phụ âm đầu,
về vần, thanh điệu hoặc cách đặt dấu thanh điệu Lỗi chính tả tiếng Việt có thể quy về hai nhóm: lỗi do không nắm quy tắc và lỗi do phát âm không phân biệt dẫn đến viết sai chính tả [16], [17], [22], [34]
1.2.2 V ị trí môn Tiếng Việt trong trường tiểu học đối với học sinh dân tộc
Môn TV có tầm quan trọng đối với HSDT Trước hết, môn TV cung cấp cho HSDT một sự hiểu biết về ngôn ngữ - tiếng Việt, tiếng phổ thông chung của đất nước Thông qua TV, các em mở rộng tầm nhìn của mình, nắm được vẻ đẹp, sự giàu có của
TV cũng như tư tưởng, tình cảm cao đẹp của các nhà văn hoá lớn của đất nước như lòng yêu quê hương đất nước, yêu cuộc sống, yêu con người,… Từ đó, các em có tình yêu với TV cũng như với TMĐ của mình Đồng thời, TV là ngôn ngữ duy nhất được dùng để truyền thụ tri thức khoa học trong nhà trường Môn TV sẽ trang bị các em HSDT một phương tiện mới để tư duy, nhận thức Nhờ TV các em có thể tiếp nhận kiến thức các môn học trong nhà trường, từng bước chiếm lĩnh tri thức của nhân loại
Do tình trạng sống xen kẽ giữa các dân tộc ở nước ta là phổ biến nên trong trường tiểu học hiện tượng trong một lớp có mặt HS thuộc nhiều thành phần dân tộc khác nhau không phải là hiếm Trong bối cảnh đó, môn TV sẽ cung cấp cho các em một phương tiện để giao tiếp với các bạn, trở thành nhịp cầu hữu nghị, đoàn kết giữa các dân tộc trong đại gia đình các dân tộc Việt Nam [4], [11], [34], [24], [26], [31]
Trang 241.2.3 Nh ững quan niệm chính về dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
Việc dạy TV cho HSDT từ lâu đã được nhiều nhà khoa học, giáo dục bàn tới và tiếp cận trên nhiều phương diện Nhưng dường như cho tới nay, vẫn còn nhiều ý kiến trái ngược nhau Trên thực tế, TV được dạy cho HSDT cũng xuất phát từ nhiều quan niệm Hệ thống lại có thể nhận thấy có 3 loại ý kiến chính sau:
1.2.3.1 D ạy TV cho HSDT như là một bản ngữ
Với quan niệm “Bản ngữ là ngôn ngữ đầu tiên con người nắm được một cách tự nhiên ngay từ thời còn nhỏ khi mới học nói”, thông qua sự tiếp xúc của các thành viên của cộng đồng mà mình là thành viên ngôn ngữ, không qua trường lớp chính thức như ngoại ngữ hay NN2 thì TV là bản ngữ đối với người Kinh và có thể chỉ với một bộ phận nhỏ người dân tộc
Từ lâu, chúng ta đã áp dụng thống nhất một chương trình chung ở tất cả các bậc học Chương trình môn TV trong các chương trình (165 tuần, 100 tuần, Công nghệ giáo dục,…) với tư cách là một chương trình chung mang tính quốc gia vẫn được áp dụng rộng rãi trên phạm vi cả nước - từ miền xuôi tới miền ngược, từ thành thị tới thôn quê… Những chương trình này dù ở thời điểm nào, cấu tạo để học 4 năm hay 5 năm ở bậc tiểu học thì bản chất của nó vẫn là chương trình dạy TV cho người học TMĐ Mặc dù một tỷ lệ nhỏ HSDT có thể theo học chương trình này, đó là những HS
có môi trường TV, có điều kiện học tập hoặc trình độ TV không khác mấy so với HSDT Kinh Nhưng dù sao việc dùng chương trình và sách dạy TV cho người bản ngữ (người Kinh) để dạy cho HSDT là kết quả của một cách nhìn đơn giản, không xem xét đầy đủ các mặt khoa học sư phạm cũng như khoa học ngôn ngữ và tâm lý [24], [31]
1.2.3.2 D ạy TV cho HSDT như là một bán bản ngữ
Trương Dĩnh coi TV là bán bản ngữ của HSDT Trên cơ sở cho rằng TV không phải là tiếng nước ngoài (như ngoại ngữ) nhưng nó lại vừa được lĩnh hội tự nhiên (như bản ngữ) vừa qua nhà trường (như ngoại ngữ); nó là ngôn ngữ vừa được tiếp thu rất sớm khi lọt lòng mẹ (như bản ngữ) vừa được tiếp thu qua nhà trường (như ngoại ngữ);
nó là một ngôn ngữ quốc gia (như bản ngữ), đồng thời cũng là NN2 (như ngoại ngữ)
so với tiếng dân tộc của HS [24]
Trang 25Về phương diện nào đó, với HSDT Hoa, TV là NN1, cũng có thể coi là bản ngữ; bởi lẽ các em có điều kiện giao tiếp bằng TV khi trong gia đình có bố hoặc mẹ là người dân tộc Kinh, các em được sinh ra và lớn lên trong thành thị, và có thể được tiếp nhận TV từ khi lọt lòng mẹ Dù sao đây cũng là một quan niệm Cho đến nay vẫn chưa
có một chương trình hoặc bộ SGK nào biên soạn theo hướng này
1.2.3.3 D ạy TV cho HSDT như là NN2
Xét theo trình tự chiếm lĩnh ngôn ngữ của mỗi người thì TMĐ được coi là NN1, những ngôn ngữ được học sau TMĐ đều được gọi là NN2 Đây là một quan niệm phổ biến trên thế giới đối với những ngôn ngữ đến sau TMĐ của người học Theo quan niệm này, ngoại ngữ cũng được coi là NN2, do vậy những nguyên tắc dạy NN2 thường dựa trên những nguyên tắc dạy ngoại ngữ Tuy nhiên, đối với HSDT, TV không phải
là tiếng nước ngoài, mà là tiếng quốc gia Trước hết bởi các em có môi trường học TV rất khác với môi trường học ngoại ngữ; thêm vào đó, TV là phương tiện giao tiếp đồng thời là công cụ để tiếp thu kiến thức của các em
a Dạy thẳng TV cho HS ngay từ khi tới trường, tiếng dân tộc được coi như một phương tiện bổ trợ trong quá trình giảng dạy
Trong Chương trình 120 tuần (Chương trình phổ cập cấp I dành cho HSDT ở vùng phát triển giáo dục gặp nhiều khó khăn), môn TV được dạy theo một số nguyên tắc sau: Lấy dạy nói làm cơ sở cho dạy viết HS được học nói TV ngay từ ngày đầu đến lớp Sau một thời gian học nói HS mới chuyển sang học chữ quốc ngữ TV được dạy trên cơ sở tính tới ảnh hưởng của TMĐ trên các phương diện ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp; tận dụng sự giống nhau và khắc phục sự khác nhau giữa hai hệ thống ngôn ngữ Đưa vốn văn hoá của các dân tộc vào nội dung giảng dạy TV theo một tỉ lệ thích đáng Coi trọng kĩ năng sử dụng TV hơn là cung cấp tri thức về TV Tăng cường thực hành ngôn ngữ cho HSDT
Những nguyên tắc này đã chi phối việc thiết lập chương trình, biên soạn sách Một bộ sách dạy TV cho HSDT với tư cách là dạy NN2 lần đầu tiên được áp dụng trong trường tiểu học vùng dân tộc Các phương pháp dạy học phù hợp cũng được sử dụng nhằm đưa TV đến HSDT theo con đường hợp lí nhất [24]
b Tiếng Việt được dạy đồng thời với TMĐ của HSDT
Trang 26Phát hiện của nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới cho rằng, cần cho trẻ học đọc bằng TMĐ trước rồi sau đó sẽ phát triển tốt sang NN2 Điều đó sẽ giúp cho người học sử dụng thông thạo cả hai ngôn ngữ Các công trình nghiên cứu cũng cho thấy rằng, làm gián đoạn quá trình phát triển TMĐ và sau đó không học đến nơi đến chốn NN2 sẽ làm cản trở quá trình phát triển trí tuệ của các em Từ lâu chúng ta đã tiến hành dạy TMĐ đồng thời với việc học TV cho HSDT, lấy TMĐ làm cơ sở cho việc học TV [24]
Theo Nghị định số 82/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 07 năm 2010 của Chính phủ quy định việc dạy và học tiếng nói, chữ viết của dân tộc thiểu số trong các cơ sở giáo dục phổ thông và trung tâm giáo dục thường xuyên Chương trình tiếng Hoa cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở đã được xây dựng và ban hành Đây là chương trình Tăng cường tiếng Hoa được dạy 8 tiết song song với chương trình tiểu học Chương trình được xây dựng theo hệ thống chủ điểm, chủ đề; đảm bảo phù hợp với mục tiêu cấp tiểu học và phù hợp với đặc điểm tâm lý lứa tuổi, đặc điểm văn hóa, điều kiện sinh hoạt, học tập của HSDT Hoa ở Việt Nam Mục tiêu của chương trình nhằm hình thành
và phát triển năng lực giao tiếp bằng tiếng Hoa cho HS Việc dạy học tiếng Hoa tập trung vào luyện tập để hình thành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết thông qua sử dụng
có hiệu quả các hiện tượng từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp, phong cách tiếng Hoa HS tích cực tham gia vào các hoạt động giao tiếp tiếng Hoa trong các tình huống phù hợp với chủ điểm, chủ đề quen thuộc và có ý nghĩa [45]
Như vậy, HSDT Hoa được tiếp nhận kiến thức và kĩ năng như nhau giữa hai chương trình song song Việt – Hoa, chỉ khác cơ bản về ngôn ngữ Việc xây dựng chương trình song song này mới tính tới sự phù hợp về nội dung, kế hoạch dạy học cho điều kiện học đồng thời hai ngôn ngữ Còn mối quan hệ giữa hai bộ chữ tiếng Hoa
và TV chưa được giải quyết một cách thoả đáng Vì vậy, cần có sự chia sẻ, thống nhất giữa GV dạy tiếng Hoa và GV dạy TV trong việc giáo dục ngôn ngữ đối với HSDT Hoa, nhất là trong việc giúp HS nhận ra điểm giống và khác biệt về ngôn ngữ Hoa và Việt để giúp các em học tốt cả hai ngôn ngữ
Trang 271.2.4 M ột số nguyên tắc dạy Tiếng Việt cho học sinh dân tộc
1.2.4.1 Cơ sở lựa chọn nguyên tắc
Với cách hiểu TMĐ là tiếng của dân tộc mà người đó là thành viên thì rõ ràng việc học TV của HSDT không phải là học TMĐ, mà TMĐ của các em chính là tiếng dân tộc của mình TV cũng không phải là ngoại ngữ của HSDT do TV là tiếng phổ thông của các dân tộc, TV được sử dụng trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội của đất nước mà các em là một công dân
Tuy nhiên, trên thực tế để xác định TMĐ cho một người ở xã hội đa ngữ với sự
di chuyển, hội nhập quả không đơn giản Tổ chức UNESCO khi xem xét vấn đề giáo
dục bằng bản ngữ đã đưa ra định nghĩa TMĐ “là ngôn ngữ mà con người học được trong những năm đầu của đời mình và thường trở thành công cụ tư duy và truyền thống tự nhiên” Theo quan niệm này, TMĐ của một bộ phận trẻ em dân tộc sẽ không
phải là tiếng dân tộc mà các em là thành viên Điều đó đúng với một bộ phận trẻ em dân tộc mà có bố hoặc mẹ là người Kinh hoặc bố mẹ là cán bộ công nhân viên Nhà nước, các em được nói TV từ khi lọt lòng mẹ và khi lớn lên mới biết, cũng có thể không biết tiếng dân tộc của mình Mặc dù vậy, đa phần trẻ em dân tộc ở nước ta thì TMĐ vẫn là tiếng dân tộc của các em
TV với vai trò của nó đã được khẳng định là tiếng phổ thông, là ngôn ngữ chung cho các dân tộc thiểu số, là ngôn ngữ quốc gia Chức năng xã hội của TV ngày càng rộng lớn và quan trọng mà không có một ngôn ngữ nào ở nước ta thay thế được TV được học trong trường học và sử dụng trong mọi hoạt động kinh tế, xã hội TV là phương tiện giao tiếp đồng thời là công cụ để tiếp thu kiến thức của mọi công dân Mỗi thành viên của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đều có nguyện vọng và trách nhiệm học TV, bởi chỉ có học TV mới có thể giúp người học tiếp thu được tri thức thời đại, trở thành những công dân có ích cho đất nước Do vậy, với HSDT, TV không phải
là ngoại ngữ HSDT học TV có điều kiện sử dụng TV trong và ngoài nhà trường, trong học tập và trong giao tiếp… điều mà người học ngoại ngữ không thể có được Tuy nhiên, việc học TV của HSDT vẫn cơ bản dựa trên cách thức học ngoại ngữ [24], [31]
Trang 281.2.4.2 M ột số nguyên tắc dạy TV cho HSDT
Nguyên tắc dạy học TV cho HSDT cũng là một bộ phận của khoa học giáo dục, phải tuân theo những nguyên tắc dạy TV nói chung Ngoài những nguyên tắc dạy học
TV mang tính đặc trưng của môn học, việc dạy học TV cho HSDT còn mang những nét đặc thù xuất phát từ quá trình dạy NN2
a Dạy ngôn ngữ nói trước khi dạy ngôn ngữ viết
Bất cứ một đứa trẻ nào học TMĐ cũng trải qua một thời gian rất dài nghe trước khi bắt đầu học nói Sau đó trẻ lại trải qua nhiều năm ở các giai đoạn nghe nói trước khi sẵn sàng vào các giai đoạn đọc và viết Trẻ em dân tộc học TV với tư cách là NN2 cũng phải đi theo cách thức như vậy, nghĩa là dành thời gian cho việc luyện nghe và nói trước khi học đọc và viết Nếu yêu cầu HSDT học đọc và viết trước khi các em nghe nói những mẫu câu cơ bản thì có nghĩa là thất bại tất yếu sẽ đến với nhiều HSDT Lâu nay, các tiết dạy đọc, viết vẫn là các đơn vị dạy học tách biệt Cần có một cách tiếp cận chương trình linh hoạt hơn theo hướng đồng thời rèn luyện các kĩ năng sử dụng TV, coi trọng kĩ năng nghe, nói; việc rèn luyện kĩ năng nghe nói TV sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ học đọc và viết TV
Đọc, viết là các kĩ năng quan trọng mà nhà trường dạy cho trẻ Đọc là kĩ năng lâu bền theo suốt cuộc đời, đọc để mở ra những cơ hội khác cho học tập và phát triển Trước tiên trẻ phải học đọc, sau đó trẻ phải đọc để học Nhiều người đồng ý rằng trẻ cần hiểu những từ trẻ đọc Đọc là để hiểu nghĩa chữ in Nếu trẻ không hiểu những từ
mà trẻ đọc được, chắc chắn trẻ sẽ không có hứng thú học tập và sẽ không thể học lên Đối với trẻ học TV như NN2, điều đó lại càng cần thiết Nếu như trong phát triển khẩu ngữ, trẻ đã có một vốn TV thì đó là cơ sở tốt để các em thành công trong đọc và viết [24], [31]
b Tính đến ảnh hưởng của TMĐ trong quá trình dạy TV
Khi tới trường, HSDT đã sử dụng TMĐ tương đối thành thạo Theo quy luật của việc nắm NN2, sự ảnh hưởng của NN1 đến quá trình học NN2 là tất yếu, các nhà ngôn ngữ học gọi đó là hiện tượng giao thoa ngôn ngữ
Chịu sự tác động của hiện tượng giao thoa, HSDT có xu hướng sử dụng các âm thuộc hệ thống TMĐ vào việc phát âm các âm thuộc hệ thống TV, đó là giao thoa ngữ
Trang 29âm Trên thực tế những giao thoa ngữ âm là rất trầm trọng và kéo dài, gây cản trở suốt
cả quá trình học và sử dụng TV của các em Do lỗi phát âm mà lỗi chính tả ở các em cũng trầm trọng không kém Trong các cấp độ giao thoa (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) thì giao thoa ngữ âm là dai dẳng nhất và để lại cho người học NN2 dấu ấn của TMĐ khi sử dụng NN2 Do vậy, cần thiết phải có phương pháp dạy TV thật sự khoa học để giúp HSDT hạn chế, tiến tới loại bỏ hiện tượng giao thoa của TMĐ, tiết kiệm được công sức và nhờ đó chất lượng học đảm bảo
Nguyên tắc tính tới TMĐ của HSDT chủ trương tận dụng những ảnh hưởng tích cực của các kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng lời nói và khắc phục ảnh hưởng tiêu cực (giao thoa) của TMĐ Để thực hiện nguyên tắc này cần thiết tiến hành đối chiếu giữa TV với tiếng dân tộc trong quá trình xây dựng chương trình cũng như biên soạn SGK Sự đối chiếu này giúp ta hiểu sâu sắc hơn nguyên nhân của những lỗi do hậu quả của sự giao thoa, từ đó giúp HSDT học nắm các quy tắc ngữ pháp TV cũng như các đặc điểm phát
âm, cấu tạo từ của TV Những kết quả phân tích đối chiếu này sẽ cho phép vạch ra hệ thống phương pháp hợp lí để dạy TV cho HSDT Chẳng hạn, trong biên soạn SGK, cần thiết lập những bài tập chuyên biệt để khắc phục sự giao thoa của HSDT khi biên soạn tài liệu TV cho HSDT [24], [31]
c Dạy TV cho HSDT trên cơ sở vốn ngôn ngữ sẵn có ở HS
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, đứa trẻ chỉ học tốt NN2 trên cơ sở đã học tốt NN1 Những kiến thức, kĩ năng có được do học NN1 sẽ giúp trẻ nhanh chóng chiếm lĩnh được NN2 Tuy nhiên, trong điều kiện tiếng dân tộc được dạy trong trường tiểu học, sự ảnh hưởng qua lại giữa TV và tiếng dân tộc trên nhiều phương diện (chữ viết, phát âm, chính tả,…) là không tránh khỏi Sự giống và khác nhau giữa hệ thống chữ dân tộc với chữ Quốc ngữ ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình học TV của HSDT Người ta cho rằng, nếu hệ thống chữ viết của NN1 càng gần gũi với NN2 thì việc học NN2 của HS sẽ dễ dàng hơn Ngược lại, nếu hai hệ thống chữ viết này khác nhau thì việc học NN2 sẽ khó khăn hơn Hơn nữa, chữ viết của các dân tộc thiểu số ở nước ta thuộc nhiều hệ khác nhau: hệ Latin, hệ Palin… Với những tiếng dân tộc có hệ thống chữ viết khác với TV như: chữ Chăm, chữ Thái, chữ Hán,… thì việc dạy học TV và xây dựng sách dạy TV lại càng phức tạp hơn [4], [24], [31]
Trang 30d Dạy TV trên cơ sở vốn kinh nghiệm về tri thức văn hoá và vốn sống của HSDT
Những đứa trẻ khi đến trường đều mang sẵn trong mình những kinh nghiệm sống cũng như những kĩ năng sử dụng ngôn ngữ nhất định Các em sử dụng thành thạo TMĐ trên phương diện ngôn ngữ nói Những kinh nghiệm và kỹ năng đó có thể vận dụng được trong việc học TV nếu những âm, cấu tạo từ, cấu trúc câu của TMĐ gần gũi với TV Ngược lại sẽ là bất lợi cho việc học TV của các em Khi đó những kinh nghiệm sử dụng TMĐ sẽ trở thành trở ngại cho việc học TV
Mỗi dân tộc thiểu số ở nước ta đều có một truyền thống văn hoá cũng như một kho tàng văn học dân gian của dân tộc mình Bởi vậy sẽ là thực tế hơn nếu việc dạy
TV được dựa trên vốn văn học dân gian của các em Chắc chắn rằng những bài đọc có nội dung về lễ hội, trang phục, cách ứng xử,… liên quan tới dân tộc mình sẽ làm cho
HS hứng thú hơn [4], [24], [33]
1.2.5 H ướng vận dụng chương trình Tiếng Việt chung cho học sinh dân tộc
Như bất kì HS nào, sau khi hoàn thành cấp học HSDT phải đạt được yêu cầu chung Các chương trình TV lâu nay dạy trong trường tiểu học vốn lấy đối tượng HS người Kinh làm cơ sở để xác định mục tiêu cũng như lựa chọn nội dung, phương pháp dạy học Có nghĩa là, chương trình TV trong chương trình tiểu học là chương trình học tiếng dành cho HS học bản ngữ Trong khi HSDT học TV là học NN2, không phải TMĐ, do vậy, việc vận dụng để chương trình TV phù hợp hơn với HSDT là một việc làm đương nhiên
1.2.5.1 Nguyên t ắc vận dụng chương trình
Nguyên tắc thống nhất: Nguyên tắc này đảm bảo cho tất cả HS ở các vùng khác nhau đều được hưởng chất lượng giáo dục tiểu học đúng với trình độ giáo dục tiểu học chung của đất nước Thống nhất ở đây hàm nghĩa thống nhất về mục tiêu, thống nhất
về trình độ học tập tối thiểu (chuẩn quốc gia) Nhờ nguyên tắc thống nhất mà HSDT được bình đẳng thực sự trong giáo dục tiểu học
Nguyên tắc linh hoạt: Chuẩn tiểu học trong chương trình tiểu học chung được coi
là mức độ tối thiểu bắt buộc Để đạt được chuẩn tiểu học ở bộ môn TV có thể bằng nhiều con đường khác nhau và bằng nhiều bước đi, tốc độ khác nhau Việc dạy TV cho
Trang 31HSDT phải căn cứ vào từng đối tượng cụ thể mà xác định mục tiêu cần đạt ở từng lớp, từng giai đoạn cụ thể nhưng đảm bảo sau khi kết thúc cấp học, HS vẫn đạt được mục tiêu chung
Nguyên tắc khả thi (có thể thực hiện được): Căn cứ vào điều kiện cụ thể về kinh
tế - xã hội, về trình độ của người GV và khả năng tiếp thu của HS, làm sao HSDT có
thể học TV một cách hiệu quả nhất [24]
1.2.5.2 Các hình th ức vận dụng
a Xây dựng những bộ SGK TV riêng dạy cho HSDT là con đường thuận để
TV đến được với HSDT
Về việc dạy TV cho HSDT, nhiều nhà Việt ngữ học từ lâu đã đề xuất các phương
án dạy TV cho từng nhóm ngôn ngữ dân tộc trên cơ sở sự xếp loại thành các nhóm Ngoài các đặc điểm chung do loại hình ngôn ngữ quy định, mỗi nhóm như vậy do quan hệ họ hàng thân thuộc lại có những đặc điểm gần gũi nhau hơn Và khi so sánh
cơ cấu chung của ngôn ngữ từng nhóm đó với cơ cấu của TV, những hiện tượng cụ thể cần làm nổi bật không có gì quá rắc rối Theo hướng này, Bùi Khánh Thế đã đề nghị xây dựng một số bộ SGK dạy TV cho HSDT theo các nhóm ngôn ngữ: Tày - Thái, Mèo - Dao, Hán, Tạng - Miến, Môn - Khơmer
Bằng cách quy loại việc soạn sách dạy TV cho từng nhóm dân tộc như vậy - về lí thuyết - đã có thể chú trọng đúng mức để cung cấp cho HS những hiện tượng ngôn ngữ giống nhau/khác nhau giữa TV và TMĐ, làm giảm nhẹ quá trình liên tưởng của người học đối với những chỗ khác biệt và làm tăng năng lực tự sáng tạo trong hoạt động nói năng dựa trên những điểm tương đồng
Căn cứ vào đặc điểm môi trường tự nhiên và hoàn cảnh sinh sống có ảnh hưởng đến khả năng tiếp thu TV của HSDT, cũng như căn cứ vào sự khác nhau về trạng thái song ngữ giữa các vùng, Hồ Lê đề nghị xây dựng một số chương trình dạy TV thích hợp với 3 đối tượng thuộc các vùng : vùng núi sâu, vùng phi song ngữ tiếng dân tộc – TV; miền núi nhưng trong hoặc ven thị xã, thị trấn, vùng song ngữ; đồng bằng, vùng song ngữ Theo đề nghị này, các chương trình và SGK được xây dựng không căn cứ hoàn toàn vào đặc điểm từng nhóm ngôn ngữ mà chủ yếu căn cứ vào trình độ song ngữ
Trang 32ở các vùng Quả thật, sẽ là lý tưởng nếu chúng ta biên soạn được các bộ sách TV cho HSDT theo như các đề nghị này [24]
b Áp dụng chương trình, SGK chung
Chương trình TV trong chương trình tiểu học chung vốn được xây dựng nhằm dạy cho trẻ em người dân tộc Kinh học TMĐ Tuy nhiên, do tình trạng sống xen kẽ, do nhiều lí do xã hội khác mà một bộ phận người dân tộc sử dụng TV cũng thành thạo không kém TMĐ của mình Con em của họ có thể theo học bình thường chương trình chung Có thể kể tới một số đối tượng sau:
Số trẻ em người dân tộc sinh ra và lớn lên ở thị xã, thị trấn, nông lâm trường hoặc sống xen kẽ với người Kinh ở vùng thấp, nơi đó TV đã trở thành ngôn ngữ giao tiếp chính của cư dân Sống ở những nơi này trẻ em dân tộc có được một trình độ TV tối thiểu trước khi đến trường tiểu học
Trẻ em trước khi đi học tiểu học đã được học trong các lớp mẫu giáo Theo học các lớp này, trẻ em dân tộc được học theo chương trình tăng cường TV Điều đó đảm bảo cho trẻ có một vốn TV trước khi theo học lớp 1
Số HSDT học ở các trường nội trú hoặc bán trú, những trường này do tính chất nội trú của nó mà HSDT có môi trường học TV khá tốt Do nhu cầu giao tiếp, điều kiện sinh hoạt tập thể, … nên vốn TV của các em được nâng lên nhanh chóng [24], [31]
HSDT Hoa thuộc một trong những đối tượng trên, nên các em được học TV theo chương trình, SGK chung hiện hành Tuy nhiên, HSDT Hoa học TV vẫn không phải là học bản ngữ, sự ảnh hưởng của TMĐ tới quá trình học TV là đương nhiên Vẫn là cần thiết nếu điều chỉnh SGV theo hướng: hướng dẫn GV bổ sung, thay đổi, điều chỉnh các bài tập thực hành ngôn ngữ cho phù hợp với HS
1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề bài tập chính tả tiếng Việt cho HSDT Hoa học lớp Hai tại Tp.HCM
1.3.1 V ấn đề chuẩn hoá chính tả tiếng Việt
Một ngôn ngữ văn hoá dân tộc không thể không có chính tả thống nhất Chính tả
có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị trở ngại giữa các địa phương trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ Chính tả muốn thống nhất thì phải có
Trang 33chuẩn chính tả, được quy định rõ ràng và được mọi người tuân theo Vấn đề chuẩn hoá chính tả là một trong những bộ phận cơ bản của chuẩn hoá ngôn ngữ và việc chuẩn hoá chính tả đối với TV cần phải dựa vào những đặc điểm nội tại của chính nó
1.3.1.1 Đặc điểm chữ viết tiếng Việt
Chữ viết tiếng Việt thường được gọi là chữ quốc ngữ, có nguồn gốc chữ viết của một số ngôn ngữ Châu Âu, được du nhập vào nước ta từ đầu thế kỷ XVII để phục vụ cho mục đích tôn giáo của các giáo sĩ phương Tây và trở thành chữ viết chính thức của
quốc gia Việt Nam
Chữ viết tiếng Việt được xây dựng trên cơ sở bộ chữ cái La tinh bao gồm 26 kí hiệu cơ bản sau:
Chữ quốc ngữ được xây dựng theo nguyên tắc ngữ âm học Mỗi âm do một kí
hiệu biểu thị; mỗi kí hiệu chỉ luôn luôn có một giá trị Vd: âm /β/ (bờ) được biểu thị
bằng chữ b, âm /µ/ được biểu thị bằng chữ m, chữ b chỉ dùng để biểu thị cho âm /β/,
chữ m chỉ biểu thị cho âm /µ/
Chữ viết tiếng Việt hiện đại thuộc loại hình chữ viết ghi âm vị (mỗi âm vị được ghi bằng một chữ cái) trên cơ sở sử dụng hệ thống chữ cái La tinh kèm theo một số dấu phụ Tuy nhiên, đó là nguyên tắc, còn thực tế, có những trường hợp một âm có thể
được biểu thị bằng nhiều chữ cái Vd: /τ’/ được biểu thị bằng 2 chữ cái “t” và “h” Bảng chữ cái tiếng Việt hiện đại (các chữ cái, thứ tự và tên gọi):
a (a), ă (á), â (ớ), b (bê), c (xê), d (dê), đ (đê), e (e), ê (ê), g (giê/gờ), h (hát), i (i ngắn), k (ca), l (en - lờ), m (em - mờ), n (en - nờ), o (o), ô (ô), ơ (ơ), p (pê), q (quy), r (rờ), s (ét - xì), t (tê), u (u), ư (ư), v (vê), x (ích - xì), y (i dài)
So với bảng chữ cái La tinh, bảng chữ cái tiếng Việt hiện nay không dùng các kí hiệu Ff, Jj, Ww, Zz để ghi âm và có một số kí hiệu mới so với chữ La tinh do ghép các chữ cái hoặc cải tạo theo những cách sau:
Trang 34Thêm dấu - vào chữ cái Dd thành Đđ
Thêm dấu ’ vào Uu thành Ưư
Thêm dấu ’ vào Oo thành Ơơ
Thêm dấu ⇓ vào Aa thành Ââ
Thêm dấu ⇓ vào Ee thành Êê
Thêm dấu ⇓ vào Oo thành Ôô
Thêm dấu ( vào Aa thành Ăă
Ghép Ii với Aa hay Ii với Êê thành IAia và IÊiê
Ghép Yy với Aa hay Yy với Êê thành YAya và Yêyê
Ghép Ưư với Aa hay Ưư với Ơơ thành ƯAưa và ƯƠươ
Ghép Uu với Aa hay Uu với Ôô thành UAua và UÔuô
Như vậy chữ viết TV gồm các chữ cái:
a Dùng để ghi nguyên âm đơn: a, ă, â, e, ê, i (y), o, ô, ơ, u, ư và nguyên âm đôi:
iê, yê, ia, ya, ươ, ưa, ua, uô
b Dùng để ghi phụ âm: b, c (k, q), ch, d, đ, g (gh), gi, h, kh, l, m, n, nh, ng (ngh),
p, ph, r, s, t, th, tr, v, x
Do tiếng Việt là ngôn ngữ có thanh điệu nên ngoài chữ cái, chữ viết tiếng Việt còn sử dụng thêm dấu thanh Dấu thanh được ghi trên hoặc dưới chữ nguyên âm biểu hiện âm chính Có 5 dấu ghi cho 5 thanh điệu (trừ thanh 1 – thanh ngang không có dấu ghi)
Trang 35Dấu ∃ ghi thanh 2 – thanh huyền
Dấu ∫ ghi thanh 3 – thanh ngã
Dấu ’ ghi thanh 4 – thanh hỏi
Dấu ≅ ghi thanh 5 – thanh sắc
Dấu ghi thanh 6 – thanh nặng
1.3.1.2 Quy t ắc chính tả tiếng Việt
Chính tả tiếng Việt cơ bản là chính tả ngữ âm Vì vậy muốn viết đúng chính tả, cần viết đúng chữ cái (hoặc nhóm chữ cái) biểu hiện âm vị và cần đặt đúng vị trí các chữ cái trong tổ hợp chữ Mối liên hệ âm - chữ trong tiếng Việt biểu hiện trực tiếp qua cách viết và cách đọc
VD: Khi nói người Việt phát âm từng tiếng tách bạch nhau “nhiễu - điều - phủ - lấy - giá - gương” là một câu nói gồm 6 tiếng được phân biệt rạch ròi Khi một tiếng được viết lên bảng hoặc ghi vào vở ta sẽ được một chữ Như vậy tiếng và chữ là hai tên gọi chỉ cùng một đối tượng nhưng có điểm nhấn khác nhau Gọi “tiếng” là muốn tới mặt âm thanh, gọi “chữ” là muốn lưu ý đến mặt chữ viết, tức mặt cấu tạo của tiếng
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, từ không biến đổi hình thái về ngữ
âm và trên chữ viết Dạng thức viết ổn định, bất biến, âm và chữ có sự tương ứng ở mỗi vị trí trong cấu trúc âm tiết
Cấu trúc âm tiết tiếng Việt chặt chẽ, thường bao gồm các thành phần âm vị có vị trí cố định kết hợp theo một trật tự không thay đổi Ta có sơ đồ cấu trúc âm tiết sau:
Thanh điệu
Âm đệm Âm chính Âm cuối
Từ sơ đồ cấu trúc trên, ta có những nhận xét sau: Mỗi âm tiết gồm có 3 bộ phận:
âm đầu - vần - thanh điệu; bộ phận vần gồm 3 yếu tố: âm đệm - âm chính - âm cuối Khi viết chính tả theo trật tự sau: âm đầu - âm đệm - âm chính - âm cuối, dấu ghi thanh điệu được ghi trên hoặc dưới âm chính
Trang 36VD: Chữ “toàn” gồm âm đầu là “t”, vần “oan”, thanh điệu là thanh huyền (dấu huyền); vần “oan” có “o” là âm đệm, “a” là âm chính, “n” là âm cuối
Tóm lại, có 5 yếu tố tham gia cấu thành âm tiết, đó là thanh điệu - âm đầu - âm đệm - âm chính - âm cuối Mỗi thành tố có vai trò và vị trí cố định, trong đó, âm chính
và thanh điệu là 2 thành tố bắt buộc phải có mặt, các thành tố còn lại có thể khuyết; từ
đó, hình thành nhiều loại hình âm tiết Chúng ta có thể tóm tắt cấu tạo của âm tiết bằng
sơ đồ với chữ “toàn”:
Sau đây là một số bảng nêu chữ cái ghi phụ âm hay nguyên âm tương ứng với thành phần trong cấu trúc âm tiết
a Âm đầu
Trong âm tiết TV, sự có mặt của âm đầu – vị trí thứ nhất của âm tiết – được xác định là các phụ âm Âm đầu có thể vắng mặt
Bảng 1.1 Bảng âm và chữ cái ghi phụ âm tương ứng với thành phần âm đầu
trong cấu trúc âm tiết
Trang 37Dựa vào bảng trên, ta thấy TV có 21 âm đầu Trong đó có 4 âm /⊗, Ν, κ, ζ/
có 2 hoặc hơn 2 sự thể hiện trên chữ viết Đây là những trường hợp cần chú ý:
Âm /κ/:
Viết k khi sau nó là i, ia, iê, ê, e VD: kí, kìa, kiến, kể, kẻ Ngoại lệ: từ phiên
âm VD: vải ka ki, phân ka li
Viết q khi sau nó là âm đệm /√υ≈√/ VD: quả, quê, quyết
Viết c trong những trường hợp còn lại VD: ca, cần, cưới
Âm /⊗/:
Viết gh khi sau nó là i, iê, ê, e VD: ghi, ghế, ghe
Viết g trong các trường hợp còn lại VD: gà, gắn, gỗ
Âm /Ν/:
Viết ngh khi sau nó là i, ia, iê, ê, e VD: nghề, nghĩa, nghiêng
Viết ng trong các trường hợp còn lại VD: ngay, ngủ, ngoan,…
Âm /ζ/:
Viết d, gi, g theo nghĩa (không theo nguyên tắc ngữ âm học như 3 âm trên)
VD: da dẻ, dành dụm; gia đình, giành giật; cái gì, cái giếng
b Âm đệm
Trang 38Trong kết cấu âm tiết TV, âm đệm đứng ở vị trí thứ hai của âm tiết, và là vị trí thứ nhất của phần vần Cũng như âm đầu, âm đệm có thể khuyết (trong trường hợp này
âm tiết không có âm đệm ở vị trí thứ hai của âm tiết) Trong TV chỉ có một bán âm /√υ≈√/ làm âm đệm
Bảng 1.2 Bảng âm và chữ cái ghi bán âm /√υ≈√/ tương ứng thành phần âm đệm trong
cấu trúc âm tiết
/√υ≈√/
u (viết u khi sau nó là i, ya, yê, ê, ơ, â
hoặc khi nó đi sau /k/)
thuỷ, khuyên, khuya, huệ, thuở, tuân; quả, quê, quẻ
o (khi sau nó là e, a, ă) loà xoà, loè loẹt, loăn, xoăn
c Âm chính
Âm chính đứng ở vị trí thứ ba trong âm tiết, tức vị trí thứ hai trong phần vần Âm
vị đảm nhận vị trí này là nguyên âm (nguyên âm đơn hoặc nguyên âm đôi) Do âm chính là âm hạt nhân của âm tiết nên nó không bao giờ khuyết
Bảng 1.3 Bảng âm và chữ cái ghi nguyên âm tương ứng với thành phần âm chính
trong cấu trúc âm tiết
i tín, kim, chí,…
ia mía, tía, bìa,…
ya khuya, phéc - mơ – tuya
iê điện, chiều, kiếm,…
yê yếm, yêu, thuyền,…
uô chuột, thuốc, chuông,…
ươ sương, hươu, lướt,…
Trang 39Viết y khi nó đứng sau âm đệm hoặc khi nó đứng một mình làm âm tiết VD: y
tá, suy tư, luỹ tre,…
Viết i trong trường hợp còn lại VD: bí đỏ, nghi ngờ, kí sự,…
Âm /ι℘/:
Viết ia khi không có âm đệm, không có âm cuối VD: bìa, tía, mía,…
Viết ya khi có âm đệm, không có âm cuối VD: khuya
Viết iê khi không có âm đệm và có âm cuối VD: kiến, hiệp, chiều,…
Viết yê khi có âm đệm hoặc trước nó không có âm nào và sau có âm cuối VD:
chuyền, yếu, thuyền,…
Âm /υ℘/:
Viết ua khi không có âm cuối VD: thua, chua, cua,…
Viết uô khi có âm cuối VD: chuột, thuốc, buộc,…
Âm /∝Φ/:
Viết ưa khi không có âm cuối VD: trưa, mưa, bữa,…
Viết ươ khi có âm cuối VD: lương, chướng, thước,…
Âm /Ε/:
Viết a trong vần anh, ach, oach, oanh VD: bách, sách, cảnh,…
Viết e trong những trường hợp còn lại VD: bé, kem, sen,…
Âm /α(/:
Viết a trong vần au, ay VD: sáu, bay, chạy,…
Viết ă trong các trường hợp còn lại VD: săn, thăm, bắt,…
d Âm cuối
Âm cuối đứng ở vị trí cuối vần, và cũng là vị trí cuối âm tiết Đó là âm kết thúc
âm tiết Âm vị đảm nhiệm vị trí này là bán âm hoặc phụ âm Âm cuối có thể khuyết
Trang 40Bảng 1.4 Bảng âm và chữ cái ghi phụ âm và bán âm tương ứng với thành phần
âm cuối trong cấu trúc âm tiết Phụ âm:
o bão, thảo, treo,…
y dậy, sảy, loay hoay,…
Như vậy, TV có 8 phụ âm và bán âm làm âm cuối Trong đó, có 4 trường hợp có
2 sự thể hiện trên chữ viết Quy tắc viết 4 trường hợp này như sau:
Âm /√ι≈√/
Viết y khi xuất hiện trong các vần ay, ây VD: chạy, đậy, bay,…
Viết i trong các trường hợp còn lại VD: gửi, tai, sồi,…
Âm /√υ≈√/
Viết o khi xuất hiện trong các vần eo, ao VD: đạo, mẹo, táo,…
Viết u trong những trường hợp còn lại VD: máu, đấu, sếu,…
Âm /√κ/
Viết ch khi đi sau /ι, ε, Ε/ VD: sách, lệch, bạch, tích,…
Viết c trong những trường hợp còn lại VD: sắc, bác, sóc,…
Âm /√Ν/
Viết nh khi đi sau /ι, ε, Ε/ VD: chanh, bệnh, tính,…
Viết ng trong những trường hợp còn lại VD: trắng, bống, sừng,…
e Thanh điệu
Dấu ghi thanh trong TV luôn luôn gắn với âm chính Vd: đô, đồ, đổ, đỗ, đố, độ