1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết một số nhà văn nữ việt nam đương đại

153 31 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Yếu Tố Tự Truyện Trong Tiểu Thuyết Một Số Nhà Văn Nữ Việt Nam Đương Đại
Tác giả Lê Bích Tuyền
Người hướng dẫn PGS. TS. Võ Văn Nhơn
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Tp.Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Văn Học Việt Nam
Thể loại luận văn thạc sĩ văn học
Năm xuất bản 2014
Thành phố Thành Phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 153
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự bùng nổ cùng sức hút thẩm mỹ của tự truyện trong tiểu thuyết các nhà văn nữ được minh chứng bằng hàng loạt tiểu thuyết có tiếng vang nhất định: Gia đình bé mọn Dạ Ngân, Tiền định Đoà

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS VÕ VĂN NHƠN

Thành phố Hồ Chí Minh - 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan luận văn Yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết một số nhà

văn nữ Việt Nam đương đại là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi và

chưa từng được công bố Những tài liệu được trích dẫn trong luận văn là chính xác và trung thực

Tác giả luận văn

Trang 4

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý Thầy, Cô đã tận tình giảng dạy chúng tôi trong suốt thời gian tôi học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Quý Thầy, Cô, Anh, Chị ở Phòng Sau Đại học và Thư viện nhà trường đã tạo điều kiện giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Phó giáo sư – Tiến sĩ Võ Văn Nhơn, người đã tận tình hướng dẫn, hết lòng giúp đỡ và động viên tinh thần để tôi hoàn thành luận văn nay

Xin cho tôi được gửi lời cảm ơn đến nhà văn Dạ Ngân, nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc, nhà văn Lý Lan đã dành thời gian chia sẻ và cung cấp thêm thông tin giúp tôi có thêm điều kiện để nghiên cứu, hoàn thành luận văn

Và cuối cùng, tôi xin được gửi lời cảm ơn đến đồng nghiệp, bạn bè, người thân, đặc biệt là ba mẹ và anh xã đã luôn động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi có thể hoàn thành khóa học

Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, chúng tôi kính mong nhận được sự đóng góp, giúp đỡ của các Thầy Cô, các đồng nghiệp và các bạn

Thành Phố Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 9 năm 2014

Lê Bích Tuyền

Trang 5

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 TỰ TRUYỆN VÀ YẾU TỐ TỰ TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CÁC NHÀ VĂN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 13

1.1 Khái lược về tự truyện 13

1.1.1 Khái niệm tự truyện 13

1.1.2 Tự truyện và tự thuật 16

1.1.3 Tự truyện với hồi ký 17

1.1.4 Tự truyện với tiểu thuyết tự truyện (tiểu thuyết tự thuật) 19

1.1.5 Tiểu thuyết có yếu tố tự truyện và mối quan hệ giữa sự thật - hư cấu 21

1.2 Nguyên nhân xuất hiện yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết các nhà văn nữ Việt Nam đương đại 22

1.2.1 Xét về phương diện con người 25

1.2.2 Xét về phương diện văn học 33

Tiểu kết chương 1 41

Chương 2 YẾU TỐ TỰ TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT: PHƯƠNG THỨC TÁI HIỆN HIỆN THỰC VÀ KHẲNG ĐỊNH BẢN NGÃ 42

2.1 Tái hiện bức tranh đời sống 42

2.1.1 Hồi ức về tuổi thơ hồn nhiên và cũng lắm khó khăn, gian khổ 42

2.1.2.Tái hiện nỗi đau thời hậu chiến và cuộc sống thời bao cấp 45

2.1.3 Bày tỏ trải nghiệm trước những vấn đề của cuộc sống hiện đại 48

2.2 Khẳng định “bản ngã” trước thế giới đàn ông 51

Trang 6

2.2.2 “Tự thuật tính dục” (sex)- phương thức thể hiện bản ngã 75

Tiểu kết chương 2 87

Chương 3 YẾU TỐ TỰ TRUYỆN QUA CÁCH THỨC TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN VÀ NGHỆ THUẬT TRẦN THUẬT TRONG TIỂU THUYẾT CÁC NHÀ VĂN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 88

3.1 Yếu tố tự truyện qua cách thức tổ chức cốt truyện 88

3.1.1 Câu chuyện cuộc đời: chất liệu tạo thành cốt truyện 88

3.1.2 Cốt truyện tâm lý với kỹ thuật dòng ý thức: đặc trưng nghệ thuật xây dựng tác phẩm 96

3.2 Yếu tố tự truyện qua điểm nhìn trần thuật 103

3.2.1 Trần thuật từ tiêu điểm nội quan 105

3.2.2 Trần thuật từ tiêu điểm Zero 109

3.2.3 Trần thuật với điểm nhìn thay đổi 110

3.3 Yếu tố tự truyện qua ngôn ngữ và giọng điệu 111

3.3.1 Ngôn ngữ đời thường với giọng trữ tình, hoài niệm, đậm suy tư và chứa chất tâm trạng 111

3.3.2 Ngôn ngữ sắc sảo, triết lý với giọng chiêm nghiệm sâu sắc 114

3.3.3 Ngôn ngữ châm biếm, mạnh bạo với giọng giễu nhại sâu cay 116

Tiểu kết chương 3 121

KẾT LUẬN 122

TÀI LIỆU THAM KHẢO 125 PHỤ LỤC

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Sau 1975, đặc biệt là sau 1986, đời sống văn học Việt Nam có nhiều thay đổi Cùng với sự nghiệp đổi mới của Đảng, các phương diện của đời sống văn học như: tác giả, tác phẩm, các hoạt động sáng tác, lý luận, phê bình,… đều có

sự chuyển biến tích cực Văn học Việt Nam từ sau thời kỳ đổi mới đã có những chuyển biến rõ rệt về mặt nội dung tư tưởng cũng như nghệ thuật thể hiện Trong bức tranh chung ấy, chúng ta rất dễ nhận ra sự khởi sắc của thể loại tiểu thuyết và truyện ngắn Đặc biệt, đối với thể loại tiểu thuyết luôn có những biến đổi không ngừng, đa dạng về phong cách và khuynh hướng sáng tác Tiểu thuyết đương đại Việt Nam đón nhận nhiều tác phẩm có sự đổi mới về mặt tư duy nghệ thuật làm tăng thêm nhiều “màu sắc” trong bức tranh văn học nước nhà Một trong những gam màu tươi mới ấy là sự xuất hiện nhiều tiểu thuyết có yếu tố tự truyện Điều đó thể hiện rõ nét cảm hứng tự vấn, tự nhận thức lại đời sống, hướng tới số phận cá nhân và cái tôi của nhà văn Đó cũng chính là biểu hiện của sự đổi mới văn học sau 1986

Làm nên bức tranh văn xuôi Việt Nam sau 1986 mới lạ, đa sắc, hấp dẫn không thể không nhắc đến sự xuất hiện và bền bỉ dấn thân của lực lượng khá đông đảo các nhà văn nữ Đặc biệt là từ năm 1990 trở đi, văn xuôi nữ đã dần chiếm ưu thế trên văn đàn với hàng loạt các gương mặt tiêu biểu như: Dạ Ngân, Quế Hương, Lê Minh Khuê, Đoàn Lê, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thùy Mai, Thuận, Đỗ Bích

Thúy, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Xuân Hà, Lý Lan trong bài viết Phê bình văn

học nữ quyền đã nhận định: “Sự phát triển nhà văn nữ trong gần một thế kỉ qua, nhất là ba thập niên gần đây và những thành tựu họ đạt được đã khẳng định sự tồn tại và khởi sắc của một nền văn học nữ Việt Nam đương đại” [103] Mỗi nhà

văn đã nỗ lực định hình một phong cách, một cái tôi riêng khác không thể trộn lẫn và tạo được dấu ấn, vị thế riêng Thông qua tác phẩm, mỗi nhà văn tự trình

Trang 8

bày mình như một nhân cách văn hóa, một bản ngã văn chương với một thế giới tâm hồn nhiều cung bậc Chính vì vậy mà người ta ví văn xuôi nữ như một bản

hòa thanh phức điệu Ở đó, “ngoài vô thức tập thể về quan niệm chính trị, xã

hội, triết mỹ, đạo đức, văn chương thì nhà văn bao giờ cũng sở hữu cõi vô thức

và ý thức cá nhân được quy định bởi đặc điểm tâm sinh lý hình thành từ giới tính, độ tuổi, tiểu sử” [101] Vì vậy, tiếp nhận tiểu thuyết các nhà văn nữ, người

đọc không chỉ tìm cho mình những khoái cảm thẩm mỹ văn chương mà còn được khám phá những cung bậc tâm hồn của những chủ thể sáng tạo ra chúng Qua mỗi câu chữ, qua mỗi trang sách, các nhà văn nữ đã thể hiện tư tưởng, thái

độ nhân sinh, cách cảm thụ và nghiền ngẫm thế giới riêng biệt, không giống một

ai của họ

Một trong những yếu tố làm nên sức hấp dẫn, cái duyên riêng của văn xuôi

nữ là tính chất tự truyện, là chất nữ tính trong mỗi trang văn

Họ viết một cách rất hồn nhiên như thủ thỉ kể cho chúng ta những câu chuyện về họ, về số phận đa đoan của những người đàn bà sống quanh họ, về những miền ám ảnh, thao thức thường trực trong họ, về vùng đất nơi họ sinh ra, lớn lên và đã “hóa tâm hồn”, Họ viết để bộc giãi, trải phơi, để nới giãn đời sống nội tâm của mình, để tự vượt thoát mình khỏi những giới hạn thân kiếp đàn bà đời thường chật chội, để trả nợ cái không gian văn hóa vùng miền đã tắm đẫm tâm hồn họ” [101]

Các nhà văn nữ đã đào rất sâu vào thế giới nội tâm nhân vật của mình, những con người nhỏ bé nhưng có cường độ cảm xúc rất lớn Phụ nữ viết về phụ

nữ, đó là lợi thế, là sở trường, là phương cách tối ưu để giải tỏa ẩn ức, là sứ mệnh ngòi bút của nhà văn nữ Đó cũng chính là một trong những yếu tố góp phần mang đứa con tinh thần của họ gần với độc giả hơn và dễ được đồng cảm

hơn Cũng vì lẽ đó mà Đặng Anh Đào đã nhận định: “Phụ nữ thường mạnh ở

Trang 9

chỗ đưa tất cả cuộc đời và tâm hồn họ vào trang sách, hoặc nói như phương Tây là họ tự ăn mình” [63] Nhà văn Y Ban thì từng thổ lộ:

Khi sáng tác, tôi chỉ viết về những gì mình suy ngẫm, bức xúc nhất (…) Cứ cái gì thuận tay, đầy ắp trong tôi thì tôi viết Dĩ nhiên tôi là đàn bà thì cái thuận tay của tôi chính là những vấn đề về gia đình, con cái, khát vọng được thay đổi của phụ nữ… Nhân vật chính trong tác phẩm của tôi thường là người nữ [109]

Sự bùng nổ cùng sức hút thẩm mỹ của tự truyện trong tiểu thuyết các nhà

văn nữ được minh chứng bằng hàng loạt tiểu thuyết có tiếng vang nhất định: Gia

đình bé mọn (Dạ Ngân), Tiền định (Đoàn Lê), Xuân Từ Chiều (Y Ban), Chinatown (Thuận), Tiểu thuyết đàn bà (Lý Lan),… Qua những chi tiết gắn với

tiểu sử, cuộc đời thật, cả những trải nghiệm sống và sự tự thú chân thành đã giúp người đọc giải mã con người tác giả và thời đại Với nhu cầu giãi bày, cảm thông và chia sẻ những bí ẩn của đời sống cá nhân, các nhà văn nữ đã tạo nên sự đồng cảm sâu xa nơi người đọc bởi ở đó dường như không chỉ là số phận, cuộc đời của riêng nhà văn mà còn là tấm bi kịch chung của những mảnh đời bất hạnh với những uẩn khúc, nỗi niềm

Đó chính là những lý do khơi gợi và thôi thúc tôi lựa chọn “Yếu tố tự

truyện trong tiểu thuyết một số nhà văn nữ Việt Nam đương đại” làm đề tài

nghiên cứu cho luận văn này

2 Lịch sử vấn đề

Tự truyện với tư cách là một thể loại văn học nhưng đến nay vẫn chưa tạo thành một dòng riêng biệt Tuy nhiên yếu tố tự truyện đã xuất hiện nhiều trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại và đang ngày càng chiếm được sự quan tâm của giới nghiên cứu lý luận phê bình

Trong bài viết Từ sự nghiệp đổi mới nhìn lại lịch sử các mối giao lưu văn

học với văn học phương Tây hiện đại, Phong Lê đã nhắc đến tiểu thuyết có yếu

Trang 10

tố tự truyện và xem đó là một hiện tượng văn học đáng chú ý sau thời kỳ đổi mới:

Để nhớ về một quá khứ chưa xa, về một vùng hiện thực khuất nẻo, khó

có ai biết, nhưng đã được viết với tư cách người trong cuộc, nên khó

có thể ai viết thay, là Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, trong nối dài về trước với Tuổi thơ im lặng (1987) của Duy Khán, Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô Hoài… Cũng có thể xếp vào đây Thượng đế thì cười (2003) của Nguyễn Khải - một tiểu thuyết gần như tự truyện Với Tô Hoài, Nguyễn Khải - những tên tuổi quan trọng của văn học hiện đại, thì điều quan trọng không chỉ là chuyện được kể, mà còn là giọng kể, cách kể,… [50]

Trong chuyên luận Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam

đương đại, Mai Hải Oanh phân loại một số khuynh hướng tiểu thuyết nổi bật,

trong đó có nhắc đến tiểu thuyết tự thuật:

Ra đời trong không khí dân chủ, tiểu thuyết tự thuật thời kỳ đổi mới khá đa dạng Có loại đậm chất giễu nhại như Thượng đế thì cười, Ba người khác; có loại nói về những chua chát đời người (Chuyện kể năm 2000), có loại nói đến những cảm nhận cá nhân về những điều đã trải nghiệm trong đó có những đoạn gần với nhật ký (Chuyện của thiên tài),…[66, tr.112]

Nhà văn Ma Văn Kháng trong hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết tổ chức

năm 2002 đã dự đoán:

Cùng với tiểu thuyết tư liệu, tiểu thuyết tự thuật sẽ là một thể loại được phát triển, (…) Ở đây có sự đan xen thâm nhập giữa hồi ức và sáng tạo, cái thực cái hư, cái riêng và cái chung, hơn nữa từ góc độ phân tâm học, có thể thấy những ẩn ức sâu kín nhất của nhà văn qua con đường vô thức, trong quá trình sáng tạo loại hình tiểu thuyết có tính hướng nội này [42]

Trang 11

Không chỉ đánh giá về sự xuất hiện mà nhiều nhà nghiên cứu còn chỉ ra sự đổi mới về tư duy nghệ thuật của dòng tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bình nhấn mạnh cái tôi của người viết trong tiểu thuyết có yếu tố tự truyện:

Muộn hơn một chút là thời điểm xuất hiện những tác phẩm mang

dáng dấp tự truyện như Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Cát bụi chân ai (Tô Hoài),…Với những tác phẩm này, cái tôi của người viết hiện diện rất sắc nét qua cảm hứng nhận thức, đánh giá lại những gì đã trải nghiệm bằng điểm nhìn hiện tại Những chi tiết tự truyện, thái độ chủ quan của người trần thuật chứa đựng nhu cầu khẳng định quyền được có tiếng nói riêng [19]

Bích Thu trong bài viết Một cách tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi

mới lại chú ý đến vấn đề hư cấu và phi hư cấu trong tiểu thuyết có tính tự

truyện:

Người đọc hôm nay muốn được tiếp xúc với những tiểu thuyết tâm lý

mà ở đó, nhân vật tự bộc lộ tư tưởng, chính kiến qua dòng chảy của nhận thức, mọi hành vi, ứng xử và lời thoại ẩn sâu trong tâm trạng nhân vật và các tầng ngữ nghĩa Hoặc các tiểu thuyết mang tính tự truyện, vừa thể hiện cái tôi lại vừa hư cấu, vừa mang tính tiểu sử lại vừa được nghệ thuật hóa, tiểu thuyết hóa, một đặc trưng của tiểu thuyết hiện đại, có khả năng khai thác tiềm thức qua kỹ thuật dòng ý thức [71]

Trong luận văn Tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại, Phạm Ngọc

Lan đã nhấn mạnh đến cái tôi cá nhân và bước đầu chỉ ra một vài đặc điểm của

thi pháp tự truyện Việt Nam hiện đại Và tác giả Đỗ Hải Ninh trong luận án Tiểu

thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn học Việt Nam đương đại đã đi sâu

tìm hiểu và chỉ ra những đặc điểm cũng như quy luật vận động của dòng tiểu

Trang 12

thuyết này, từ đó cắt nghĩa sự phát triển về tư duy nghệ thuật tiểu thuyết trong sự ảnh hưởng của nghệ thuật hiện đại và hậu hiện đại

Như trên đã trình bày, tính chất tự truyện là một trong những yếu tố làm nên thành công của văn xuôi nữ Việt Nam đương đại Đặc biệt là ở thế loại tiểu thuyết Tuy nhiên, hiện tại người viết chưa thấy có công trình khoa học nào nghiên cứu một cách hệ thống, và đi sâu về vấn đề này Xoay quanh chỉ có một

số bài viết nhỏ lẻ đề cập đến từng tác phẩm cụ thể và một số khía cạnh có liên quan

Dạ Ngân là một trong những cái tên khác lạ trên văn đàn Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI Với cách kể chuyện truyền thống, như trút hết ra từ ruột gan và máu huyết, không hoa hòe, không kiểu cách, không cầu kì, Dạ Ngân tạo được ấn tượng trong lòng độc giả Nhất quán với phong cách giản dị như thế,

tiểu thuyết Gia đình bé mọn tiếp tục chinh phục trái tim độc giả bằng những tái hiện mới về cuộc sống và góc khuất tâm hồn của người phụ nữ Gia đình bé

mọn - cuốn tiểu thuyết của nhà văn Dạ Ngân, đoạt giải thưởng của Hội Nhà văn

Hà Nội năm 2005, là một trong những cuốn sách được nhiều người quan tâm trong thời điểm ra đời cũng như những nghiên cứu về văn học Việt Nam gần đây Sự quan tâm được bắt đầu từ chỗ tác giả gọi đứa con tinh thần của mình là

“tiểu thuyết”, trong khi đó, nhiều độc giả lại thấy hình bóng cuộc đời của người viết hiện lên “rõ mồn một”, nên xem nó như là một tự truyện

Tiểu thuyết Gia đình bé mọn trong quan sát của Trần Thiện Đạo là lời tự

thú chân thật của Dạ Ngân:

Mặc dù ngoài bìa ghi là tiểu thuyết nhưng tiểu thuyết nào mà không gói ghém ít nhiều chất liệu rút ra từ trải nghiệm, từ cuộc đời của tác giả Tác phẩm này khiến ông liên tưởng tới một tiểu thuyết tự thuật của văn học Pháp: “Cuốn truyện L’Amant (Người tình) của Marguerite Duras là một thí dụ điển hình cho thể autofiction trong nền văn chương Pháp đương đại Chẳng phải ngẫu nhiên mà ở đây

Trang 13

chúng tôi nhắc tới tác phẩm này của nhà văn Pháp: Đọc 295 trang tự thú Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, tôi luôn nghĩ tới cuốn Người tình

[95]

Trong bài viết Bốn lời bình về Gia đình bé mọn, Hoài Nam giãi bày:

Trong quá trình đọc tiểu thuyết Gia đình bé mọn của nhà văn Dạ

Ngân, ở từng chương, từng trang, từng chi tiết, tôi đều không cưỡng lại ý muốn quy chiếu hiện thực tác phẩm vào hiện thực đời sống Bởi tôi không thể không nhận thấy bóng dáng của cuộc đời bà trong đó Tất nhiên, lấy bản thân mình làm vật liệu để xây dựng tác phẩm, điều

đó không xa lạ với lịch sử văn chương Nhưng bảo rằng Gia đình bé mọn là một tự truyện thì e rằng hơi vội Bỏ qua ý muốn đó, tôi đã đọc Gia đình bé mọn như đọc một tiểu thuyết [104]

Lê Tú Anh lại tiếp cận tiểu thuyết này dưới góc nhìn thể loại:

Gia đình bé mọn, từ góc nhìn thể loại, vừa có nhiều đặc trưng của tiểu thuyết, vừa có thể xem là một tự truyện Khoan hãy nói đến mối quan

hệ đời thực với nhà văn, đến những hiểu biết về tiểu sử của Dạ Ngân, hãy xem Gia đình bé mọn là một tác phẩm văn học, trước hết phải khẳng định đây là một cuốn tiểu thuyết, bởi tác phẩm mang nhiều đặc điểm quan trọng của thể loại này (…) Gia đình bé mọn, không nghi ngờ gì nữa, là một cuốn tiểu thuyết Nhưng nhiều độc giả quen biết với tác giả, thậm chí chỉ cần đọc những dòng tiểu sử ngắn ngủi, cũng

có thể nhận ra hình bóng cuộc đời của Dạ Ngân trong đó Nhà văn rõ ràng đã sử dụng chất liệu đời mình một cách có chủ ý chứ không hoàn toàn hư tâm [90]

Sau những tác phẩm như Cuốn gia phả để lại, Nghĩa địa xóm Chùa, Trinh

tiết xóm Chùa, Năm 2009, Đoàn Lê khuấy động văn đàn bởi một tiểu thuyết

có tính chất tự truyện – hư cấu: Tiền định Hà Linh trong bài viết Tiền định

nghiệt ngã trong tiểu thuyết của Đoàn Lê, đã một lần nữa khẳng định: “Cuốn

Trang 14

sách là một tác phẩm giàu chất tự truyện Tiền định là sự hư cấu hóa cuộc đời của chính nhà văn Mà ở đó, nhân vật Chín là hiện thân phần nào con người của Đoàn Lê” [103]

Bùi Thanh Truyền trong bài viết Tự truyện trong văn xuôi của Đoàn Lê đã

chỉ ra cái tôi giàu nữ tính của chính tác giả qua các nhân vật trong tiểu thuyết và

khẳng định: “Tự truyện là một trong những xu hướng tích cực và giàu tính nhân

văn được các tác giả văn xuôi Việt Nam lựa chọn nhằm hiện đại hóa các phương thức biểu hiện, tư duy nghệ thuật những năm đầu thế kỷ XXI” [132]

Trong tham luận Yếu tố tự truyện trong một số tác phẩm của các nhà văn

nữ Việt Nam hải ngoại ở Mỹ, Trần Lê Hoa Tranh cho rằng:

Yếu tố tự truyện là một đặc điểm nổi bật trong sáng tác của các cây

bút nữ hải ngoại ( ) Họ mang tâm thế lạc lõng, khó hòa nhập được với môi trường mới, nền văn hóa mới Nỗi cô đơn buộc chặt họ với quá khứ Trong bầu khí quyển của cô đơn, nhớ nhung, nuối tiếc, thứ duy nhất là chỗ dựa, niềm an ủi của họ chính là những kí ức hoài niệm nơi “khung trời bỏ lại” và còn bởi “ngoái đầu lại là cái thường tình của kẻ ra đi” (Võ Phiến) Điều này dễ dàng lí giải vì sao đề tài sáng tác của các nhà văn thế hệ thứ nhất khá hạn hẹp, chủ yếu xoay quanh những hoài niệm về đất nước, về thân phận người di dân, về những cú sốc văn hóa…[129]

Và để làm rõ về tính tự truyện trong sáng tác các nhà văn nữ, trong luận

văn Từ lý thuyết phê bình nữ quyền (feminist criticism) nghiên cứu một số tác

phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1900 đến nay, Hồ Khánh

Vân nhận định:

Trên hầu khắp những trang viết của các tác giả nữ, người tiếp nhận luôn nhìn thấy sự hiển hiện thường trực của chân dung cuộc sống cá nhân nhà văn Lý luận văn học gọi đây là hiện tượng “tự ăn mình” Hầu hết tiểu thuyết của các nhà văn nữ đều là tiểu thuyết tự truyện

Trang 15

(autofiction)”… Tự thuật vừa là điểm nhìn, là vị trí mà từ đấy, các cây bút nữ khái quát hóa và tái hiện đời sống hiện thực, là cảm hứng sáng tác hình thành nên thế giới của tác phẩm từ khuynh hướng, tư tưởng, nội dung phản ánh cho đến bút pháp nghệ thuật, là hệ sinh thể hình tượng hiện hữu trên bề mặt tác phẩm [87, tr.55]

Và tác giả đã đưa ra một vài lý giải tương đối thuyết phục về hiện

tượng này

Trịnh Thanh Thủy trong bài viết Phụ nữ chúng tôi phải viết đã đi tìm câu

trả lời cho câu hỏi: Tại sao phụ nữ phải viết? Tác giả cho rằng:

Ở phụ nữ, nguyên do chính là sự lạc lõng và cô đơn Họ cần sự chia

sẻ và cảm thông Có người gặp khó khăn trong cuộc sống gia đình hay gặp trắc trở trong những giao tế ngoài xã hội Người phụ nữ phải phấn đấu để vươn lên, vượt thoát những ràng buộc thành kiến xã hội Tất cả những hoang mang, lầm lẫn, xáo trộn tinh thần, tích lũy ngày càng nhiều, tạo sự uất ức không còn đè nén được và nó bùng nổ qua ngòi viết Viết đã biến thành một thứ vũ khí của sự sống còn [127]

Các khuynh hướng nghiên cứu trên tuy có xuất phát điểm khác nhau, cách tiếp cận khác nhau và mặc dù còn nhiều quan điểm không đồng nhất nhưng nhìn chung đều khẳng định sự xuất hiện yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại là sự tất yếu Những nhận định, ý kiến của những nhà phê bình, nghiên cứu văn học đã góp phần giúp bạn đọc có cái nhìn khái quát về tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện cũng như sự xuất hiện của yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết các nhà văn nữ Việt Nam đương đại Tuy nhiên, để làm rõ yếu

tố tự truyện trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ thì những ý kiến đánh giá, nhận xét trên còn mang tính chung chung, sơ lược, chưa cụ thể và hệ thống Vì vậy, trong luận văn này, bên cạnh kế thừa những đóng góp của các nhà nghiên cứu đi trước, người viết mong muốn bước đầu chỉ ra những biểu hiện cụ thể của yếu tố

Trang 16

tự truyện và khẳng định việc đưa yếu tố tự truyện vào sáng tác là một phương thức cơ bản của các tác giả nữ trong việc thể hiện tác phẩm

3.Phạm vi nghiên cứu

Vì số lượng tiểu thuyết các nhà văn nữ Việt Nam đương đại rất nhiều nên chúng tôi không thể khảo sát hết được Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tiểu thuyết của một số cây bút nữ có xuất hiện yếu tố tự truyện ở nhiều cấp độ khác nhau được độc giả đón nhận và tạo được tiếng vang

Ở cấp độ cao: tiểu thuyết Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Tiền định (Đoàn Lê), Ký sự người đàn bà bị chồng bỏ (Nguyễn Thị Minh Ngọc), Một bàn tay thì

đầy (Hoàng Việt Hằng)

Ở cấp độ thấp: Tiểu thuyết Chinatown, Paris 11 tháng 8 (Thuận), Blogger (Phong Điệp), Tường thành (Võ Thị Xuân Hà), Tiểu thuyết đàn bà (Lý Lan),

Xuân từ chiều (Y Ban), Chuyện lan man đầu thế kỷ (Vũ Phương Nghi), Nhiều cách sống (Nguyễn Quỳnh Trang)

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp hệ thống

Vì đối tượng khảo sát của luận văn là tiểu thuyết của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại nên cần đặt nó trong sự vận động chung của nền văn học Việt Nam đương đại Từ đó, vận dụng phương pháp hệ thống để phân tích cụ thể và chỉ ra những yếu tố đặc thù của tiểu thuyết có yếu tố tự truyện

4.2 Phương pháp so sánh

Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm đối chiếu, so sánh với tiểu thuyết của các nhà văn Việt Nam trước và cùng thời cũng như tiểu thuyết của các nhà văn nam để tìm hiểu những chuyển biến trong tư duy tiểu thuyết Việt Nam đương đại và chỉ ra nét riêng trong cách thể hiện của các nhà văn nữ

4.3 Phương pháp tiểu sử

Trang 17

Mục đích của đề tài là chỉ ra những yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết của các nhà văn nữ đương đại nên phương pháp tiểu sử rất cần thiết và quan trọng

Sử dụng phương pháp này để tìm hiểu tác phẩm thông qua mối quan hệ giữa tác giả và văn bản nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Bên cạnh đó, chúng tôi còn kết hợp với một số phương pháp của chuyên ngành xã hội học văn học như phỏng vấn, điều tra xã hội học để có thêm cơ sở tìm hiểu yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết và hiệu ứng nghệ thuật của nó

4.4 Phương pháp liên ngành

Luận văn sử dụng phương pháp liên ngành như Nhân học văn hóa, Tâm lý học nghệ thuật,… để phân tích cũng như lý giải quá trình sáng tạo tiểu thuyết có yếu tố tự truyện của nhà văn nữ

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Tự truyện và yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết các nhà văn nữ Việt Nam đương đại

Ở chương này, người viết làm rõ các khái niệm có liên quan nhằm tránh sự

mơ hồ và nhập nhằn Đặc biệt, người viết đưa ra các nguyên nhân để lý giải cho

sự xuất hiện yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết các nhà văn nữ

Chương 2: Yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết: phương thức tái hiện hiện thực và khẳng định bản ngã

Đây là chương quan trọng nhất của luận văn Trong chương này, người viết làm rõ sự khẳng định bản ngã của các cây bút nữ thông qua yếu tố tự thuật Qua

đó chỉ ra những nét riêng trong phương thức tự sự của các nhà văn nữ

Chương 3: Yếu tố tự truyện qua tổ chức cốt truyện và nghệ thuật trần thuật trong tiểu thuyết các nhà văn nữ Việt Nam đương đại

Trong chương 3, người viết tiếp tục tìm hiểu những đặc sắc về mặt tổ chức cốt truyện, nghệ thuật trần thuật qua điểm nhìn, ngôn ngữ và giọng điệu trong

Trang 18

tiểu thuyết có yếu tố tự truyện của các nhà văn nữ Từ đó, xâu chuỗi một cách hệ thống các mặt biểu hiện của yếu tố tự truyện Bên cạnh đó, chỉ ra những đổi mới

về mặt tư duy nghệ thuật của các cây bút nữ

6 Đóng góp của luận văn

- Từ việc tìm hiểu sự xuất hiện của yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết của

các nhà văn nữ đương đại, luận văn góp phần phác họa diện mạo bức tranh văn học nữ từ sau thời kỳ đổi mới và ghi nhận những đóng góp của họ

- Qua quá trình phân tích những biểu hiện của yếu tố tự truyện về mặt nội

dung và tham gia vào kết cấu tác phẩm, luận văn bước đầu đánh giá: việc sử dụng yếu tố tự truyện (một cách có chủ đích) là phương thức cơ bản của các cây bút nữ trong việc thể hiện tác phẩm

Trang 19

Chương 1 TỰ TRUYỆN VÀ YẾU TỐ TỰ TRUYỆN TRONG TIỂU THUYẾT CÁC NHÀ VĂN NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 1.1 Khái lược về tự truyện

1.1.1 Khái niệm tự truyện

Thuật ngữ tự truyện (Autobiography: Anh/ Autobiographie: Pháp) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp Trước đây, nó vốn chỉ là một tiểu loại của tiểu sử (biography) - một thể loại phi hư cấu Tuy nhiên, từ khoảng những năm 70 của thế kỷ XX, tự truyện được nhìn nhận như một thể loại văn học và đã được nhiều nhà nghiên cứu phân tích đặc trưng, biến thể của nó như: Roy Pascal, Paul John

Aekin, James Olney,… đặc biệt là Philippe Lejeune với công trình Quy ước tự

truyện (Le Pacte Autobiographique -1974)

Theo tác giả Phạm Ngọc Lan trong luận văn Tự truyện trong văn học Việt

Nam hiện đại, với tiểu luận Quy ước tự truyện, Philippe Lejeune (nhà lý luận

chuyên về thể loại tự truyện người Pháp) đã trình bày một định nghĩa nổi tiếng nhằm xác lập những dấu hiệu về mặt hình thức của tự truyện Philippe Lejeune

định nghĩa tự truyện là “thể loại tự sự tái hiện dĩ vãng, trong đó một con người

có thật kể lại cuộc sống của mình, nhấn mạnh về đời sống riêng tư, đặc biệt là

về mặt lịch sử hình thành nhân cách” [45, tr.16]

Trong tiểu luận của mình, Philippe Lejeune cũng đã đề cập đến nguồn gốc của tự truyện Theo ông, thể loại này có nguồn gốc ở phương Tây, nảy sinh từ nhu cầu và hoạt động tự thú, xưng tội, tự vấn lương tâm trong Thiên chúa giáo

và bắt đầu xuất hiện trong văn học vào khoảng thế kỷ XIX Từ nhu cầu tự thú, khi viết tự truyện tác giả có cảm hứng bày tỏ sự thật hơn là cảm hứng hư cấu, yếu tố tưởng tượng được giảm thiểu đến mức tối đa thay vào đó là yếu tố hồi tưởng Trong tự truyện, nhà văn kể về chính mình bằng cái nhìn nội quan và xem mình là nhân vật trung tâm của tác phẩm

Trang 20

Tự truyện còn được hiểu theo nghĩa rộng Trong công trình Dẫn giải ý

tưởng văn chương, Henri Benac (một nhà nghiên cứu người Pháp) cho rằng: “Tự truyện là tập hợp tất cả những kiểu tác phẩm trong đó một tác giả nói về chính mình và về cuộc đời mình, dù cho tự truyện ấy được viết dưới hình thức nào”

[15, tr.61]

Theo nghĩa hẹp của Từ điển văn học (bộ mới) do Đỗ Đức Hiểu, Nguyễn

để chỉ “một thể loại văn học mà trong đó tác giả kể chuyện về cuộc đời mình

Nhân vật chính của truyện, chính là tác giả” [36, tr.1905]

Cuốn 150 thuật ngữ văn học do Lại Nguyên Ân biên soạn cũng đưa ra định

nghĩa: “Tự truyện là tác phẩm văn học thuộc loại tự sự, thường được viết bằng

văn xuôi, trong đó tác giả tự kể và miêu tả cuộc đời của bản thân mình” [8,

tr.389]

Về cơ bản những cách hiểu trên đều có điểm chung khi lấy hạt nhân trọng tâm là mối quan hệ tương đồng giữa hiện thực đời sống của tác giả với nội dung được phản ánh trong tác phẩm để xác định nội hàm chính yếu của khái niệm Tuy nhiên, thật khó để có thể tìm được một tác phẩm tự truyện thuần túy– hiểu theo nghĩa là thực sự, không pha trộn Điều này đã được chính Philippe Lejeune

lí giải: viết về quá khứ với những kỉ niệm đã bị xóa mờ cùng thời gian, nhà văn buộc phải sắp xếp lại các sự kiện, biến cố cùng với sự suy ngẫm của một tư duy

đã trải qua nhiều cảnh đời; do đó có những chi tiết trong tác phẩm không trùng hợp với sự thật, đó là chưa kể có những nhà văn có ý thức muốn biến đổi câu chuyện, hoặc tô điểm thêm, hoặc làm xấu đi những sự thật Chính vì vậy, hình ảnh cuộc sống trong tự truyện có độ lệch nhất định so với cuộc đời thật của tác giả và thái độ cần thiết đối với người đọc là không nên quy kết tự truyện hoàn toàn là cuộc đời nhà văn và đánh giá họ thông qua cuộc đ ời được miêu tả trong sách vở

Trang 21

Định nghĩa về tự truyện của Lejeune ngày càng được mở rộng biên độ Theo tác giả Phạm Ngọc Lan, nhà nghiên cứu Elizabeth W Bruss đã chọn một góc nhìn có phần thuần túy về hình thức - xem tự truyện như là một hành vi ngôn ngữ thực hiện chức năng giao tiếp giữa tác giả và người đọc để từ đó nghiên cứu sự hành chức của diễn ngôn tự thuật cả về phương diện người viết

lẫn người tiếp nhận Trong công trình Hoạt động tự thuật: Vị thế đang thay đổi

của một thể loại văn học (Autobiographical Acts: The Changing Situation of a

Literary Genre), Bruss đã đề ra 3 nguyên tắc xác định tự truyện:

1 Tác giả tự truyện đảm nhận một vai trò kép Ông phải là điểm khởi đầu của chủ đề cũng như cấu trúc của văn bản

2 Những thông tin, những sự kiện được trình bày trong mối quan hệ với tác giả tự truyện được xác nhận phải là hoặc có khả năng là sự thật

3 Cho dù những điều được trình bày có bị nghi ngờ hay không, cho dù những điều đó có thể bị tái công thức hóa theo hướng nào đấy dễ tiếp nhận hơn từ điểm nhìn khác hay không thì tác giả tự truyện vẫn tin vào

điều mà ông trình bày

Từ đó, tác giả Phạm Ngọc Lan đưa ra 2 tiêu chí để nhận diện thể loại tự truyện:

1 Cái tôi tác giả và sự phát triển nhân cách của nó trong quá khứ, với tư cách là hình tượng trung tâm của tác phẩm

2 Tính xác thực tương đối của cốt truyện

Cùng với những thể nghiệm mới mẻ của các nhà văn, quan niệm về tự truyện ngày càng được nới rộng và ngày càng chứng tỏ sức hút thẩm mỹ của nó Mặc

dù đã có một quá trình lịch sử lâu dài ở Pháp, nhưng thể loại tự truyện này chỉ thực sự đổi mới, phát triển và gặt hái nhiều thành công nhất vào những năm 80 của thế kỷ XX Đây là thể kỷ bùng nổ của tự truyện với nhiều tác phẩm nổi

tiếng: Hồi ức của một thiếu nữ nền nếp (Simone de Beauvoir -1958), Tôi nhớ lại (G.Perec - 1978), Điền viên (Claude Simon – 1981), Tình yêu với chính mình

Trang 22

(Serge Doubrosky – 1982),… Trong số đó, nổi bật là ba gương mặt nhà văn nữ

với các tác phẩm tự truyện thành công vang dội: Tuổi thơ (Nathalie Sarraute – 1983), Chỗ đứng (La Place – 1983), Người tình (Marguerite Duras – 1984)… Ở

Việt Nam, sự bùng nổ cùng sức hút thẩm mỹ của tự truyện được minh chứng

bằng hàng loạt tác phẩm có tiếng vang nhất định: Tôi mù (Nguyễn Thanh Tú),

Bóng (Hoàng Nguyên và Đoan Trang ghi), Không lạc loài (Lê Anh Hoài ghi), Thượng đế thì cười (Nguyễn Khải), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Chuyện kể năm 2000 (Bùi Ngọc Tấn), Miền thơ ấu (Vũ

Thư Hiên), Tuổi thơ im lặng (Duy Khán), Khúc đồng dao lấm láp (Kao Sơn),

Đường về với mẹ Chữ (Vi Hồng)… Và điển hình là Lê Vân, yêu và sống của Lê

Vân đã trở thành một sự kiện được dư luận chú ý gần đây

Với sự xuất hiện phong phú, thể loại tự truyện đã trở thành một hiện tượng văn học đáng chú ý Đây thực sự là mảnh đất để các nhà văn thể hiện nỗi khát khao được tự khám phá ra bản thân mình, là nơi bộc lộ cái “tôi” cá nhân một cách sâu sắc nhất Chính công cuộc tìm kiếm cái tôi đó đã dẫn dắt các nhà văn quay ngược về quá khứ đồng nghĩa với việc quay lại một thể loại đã được xác định rõ ràng: tự truyện

1.1.2 Tự truyện và tự thuật

Nhìn chung, các nhà nghiên cứu Việt Nam cùng sử dụng hai thuật ngữ này đồng thời khi chuyển nghĩa Có quan điểm cho rằng tự truyện (danh từ - thể loại) được chuyển nghĩa từ Autobiography, tự thuật (tính từ, chỉ những văn bản

có tính chất tự truyện) lại được chuyển nghĩa từ Autobiographical Tuy nhiên trên thực tế hai khái niệm này vẫn sử dụng tương đương nhau

Theo Đỗ Hải Ninh thì tuy nội hàm khái niệm tự truyện và tự thuật có nhiều điểm giống nhau và đôi khi được dùng tùy thuộc ngữ cảnh nhưng không hoàn toàn đồng nhất trong tiếng Việt Tác giả nhấn mạnh:

Tự truyện nghiêng về thể loại, ngay trong bản thân từ này là kết hợp của truyện và tự (tự kể lại câu chuyện) Thuật ngữ tự thuật có thể

Trang 23

được hiểu theo hai cách: thứ nhất, là dòng tự sự có tính chất thuật lại câu chuyện cuộc đời do tác giả tự kể, chẳng hạn hồi ký, nhật ký, tiểu thuyết tự thuật và tự truyện Ở phạm vi hẹp hơn, tự thuật nghiêng về thủ pháp, tức là chỉ hành động thuật lại, kể lại câu chuyện đời mình

Tự truyện bao gồm cả phương diện nội dung và hình thức: tác giả viết

về cuộc đời mình và tự thuật lại theo cách riêng của mình [63, tr.55]

Từ đó có thể hiểu tự thuật là một dạng tính chất đặc trưng của tự sự Đó là một phương thức sáng tác mà nhà văn sử dụng để tái hiện lại hiện thực đời sống của chính bản thân mình trong tác phẩm Tuy nhiên, hiện thực trong tự thuật không phải là hiện thực khách quan được soi chiếu qua lăng kính chủ quan của nhà văn mà là hiện thực có xuất phát điểm từ nội quan, mang yếu tố chủ quan

Vì vậy, khi nhà văn sử dụng phương thức tự thuật như là một công cụ chủ yếu trong sáng tác thì chủ ý của nhà văn muốn tạo nên một mô thức tự sự mang tính đặc trưng, nghĩa là tạo nên một hình thức cấu trúc tái hiện hiện thực đời sống mang đặc tính chủ yếu là tự thuật

1.1.3 Tự truyện với hồi ký

Tuy cả tự truyện và hồi ký đều là những thể loại văn học mang tính hồi

cố, tái hiện lại quá khứ, giữa chúng có nhiều điểm tương đồng, có khi có sự giao thoa lẫn nhau thế nhưng giữa hai thể loại này vẫn có sự khác biệt nhất định

Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn

Khắc Phi chủ biên, các tác giả đã đưa ra khái niệm:

Hồi kí là một thể loại thuộc loại hình kí, kể lại những biến cố đã xảy

ra trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến Xét về phương diện quan hệ giữa tác giả với sự kiện được ghi lại về tính chính xác của sự kiện, về góc độ và phương thức diễn đạt, hồi ký có nhiều chỗ gần với nhật ký Còn về phương diện tư liệu, về tính xác thực và không có hư cấu thì hồi ký lại gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học [31, tr.152]

Trang 24

Cùng với quan niệm đó, tác giả Lại Nguyên Ân trong cuốn 150 thuật ngữ

văn học cũng khẳng định: “Hồi ký là một dạng trứ tác thuộc nhóm thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trần thuật từ ngôi tác giả, kể về những sự kiện có thực trong quá khứ mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [8, tr.153]

Trong cuốn Lí luận văn học do Hà Minh Đức chủ biên, các tác giả chỉ ra

đặc trưng của kí như sau:

Phải là loại văn xuôi tự sự trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện,v.v…thì mới làm nên đặc trưng của kí (…) Xét từ gốc và bản chất, thì kí không nhằm thông tin thẩm mỹ, mà là thông tin

sự thật [27, tr.423]

Sự khác nhau giữa tự truyện và hồi kí trước hết là sự khác nhau trong việc hướng đến đối tượng phản ánh và mức độ hư cấu Tự truyện là câu chuyện cuộc đời một cá nhân, có phạm vi rộng lớn, kéo dài cả đời người và quan tâm khám phá gương mặt của chính mình qua hồi ức Bản chất của tự truyện cho phép nhà văn hư cấu để tạo nên những hình tượng hoàn chỉnh Trong khi đó, hồi kí lại hướng ra bên ngoài, tái hiện những con người mà tác giả gặp gỡ và quen biết, những sự kiện mà tác giả đã chứng kiến và trải nghiệm trong một thời kỳ, một giai đoạn lịch sử nên nó đặt trọng tâm vào một số sự kiện Vì vậy, bản chất của

ký đòi hỏi sự chính xác của sự kiện và những đánh giá khách quan của người viết Những yếu tố hư cấu rất hạn chế, nếu có thì chỉ đóng vai trò hỗ trợ cho tư

tưởng chính luận Trong bài Kí và giảng dạy Kí- Hoàng Như Mai viết:

Những điểm khác nhau giữa hồi kí và tự truyện là tự truyện thiên về

kể lại những chuyện thân mật, bình thường nhưng hồi kí thì thiên về những sự kiện có tính lịch sử Cũng do đặc điểm này, mà sự hư cấu trong tự truyện có thể xảy ra ngoài ý muốn chủ quan của người viết Cho nên nói về giá trị lịch sử thì hơn tự truyện, nhưng đứng về tính

Trang 25

chất văn học thì tự truyện có thể hơn hồi kí vì tự truyện thuộc phạm trù của truyện [57, tr.218]

Từ sự khác nhau về đối tượng phản ánh nên cái tôi của người kể chuyện trong tự truyện và hồi kí cũng khác nhau Nếu trong tự truyện, cái tôi luôn trong trạng thái động, trạng thái của sự hình thành, biến đổi về tâm lý, tính cách không ngừng hoàn kết thì cái tôi trong hồi kí lại trong trạng thái tương đối tĩnh, trạng thái quan sát và ghi nhận một cách trung thực, chính xác và khách quan

1.1.4 Tự truyện với tiểu thuyết tự truyện (tiểu thuyết tự thuật)

Khi sáng tác, nhà văn xuất phát từ nhu cầu giải phóng tư tưởng và bộc lộ

tình cảm của mình bởi “con người là một thực thể biết tư duy nhận thức nên

luôn có khao khát thể hiện mình” Vì vậy, khi cầm bút sáng tác, mỗi nhà văn sẽ

sử dụng trải nghiệm cá nhân và chi tiết cuộc đời họ làm chất liệu nghệ thuật là chuyện hết sức quen thuộc Secnưsepki trong khi lý giải bản chất của quá trình

sáng tạo đã khẳng định: “Nhà văn dùng con mắt ‘tinh đời’ để nhìn vào bản thân

mình, hiểu được bản chất tính cách xã hội lịch sử của mình và dùng bản thân mình làm nguyên mẫu cho các nhân vật của mình” [67] Tuy nhiên, không phải

tác phẩm nào cũng được xem là tự truyện Một tác phẩm được xem là tự truyện hay không phải tự truyện còn tùy thuộc vào ý đồ của nhà văn và người đọc Và

để phân loại cần căn cứ vào mức độ đậm nhạt, mục đích và cách thức thể hiện trong tác phẩm

Tự truyện được coi là một thể loại phi hư cấu, có tính tham chiếu, ở đó tác giả vừa là người kể chuyện vừa là nhân vật chính chịu trách nhiệm trước độc giả

về tính chân thật của sự kiện Mục đích của tự truyện là tìm hiểu con người thật với lịch sử hình thành nhân cách Đối với tiểu thuyết, mặc dù cũng sử dụng nhân

vật, cốt truyện đó nhưng được hư cấu hóa, hoặc được cấp một lớp vỏ hư cấu

Chúng ta từng biết đến một số tác phẩm tự truyện kinh điển trên thế giới như

David Copperfil của Ch Dickens, hay bộ ba tác phẩm Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi của M Gorki Đó là những tác phẩm tự truyện

Trang 26

theo đúng quan niệm truyền thống: là thể loại tự kể chuyện đời mình một cách chân thực khách quan và không được phép hư cấu

Tuy nhiên, là một thể loại đặc biệt trong loại hình tự sự, tự truyện luôn biến đổi trong quá trình phát triển Nó có thể tương tác với nhiều thể loại khác, chẳng hạn kết hợp với hư cấu tưởng tượng để thành tiểu thuyết tự truyện hoặc những biến thể khác như giả tự truyện (autofiction), bán tự truyện (semi – autofiction)…

Serge Doubrovsky là người đã khai sinh ra thuật ngữ Tiểu thuyết tự truyện

(1977) bằng sự kết hợp hai thể loại truyền thống là autobiography (tự truyện) và fiction (tiểu thuyết), dùng để chỉ những tác phẩm tái hiện lại cuộc đời của tác giả, dù cho nhà văn sử dụng ngôi kể thứ ba và các yếu tố hư cấu

Theo Từ điển Wikipedia định nghĩa: “Tiểu thuyết tự thuật là dạng tiểu

thuyết sử dụng kỹ thuật tự hư cấu hay sự kết hợp của tự thuật và những yếu tố

hư cấu” [134]

Vậy giữa tự truyện và tiểu thuyết tự truyện có điểm tương đồng và khác biệt ra sao? Để làm rõ vấn đề này không phải là một việc làm đơn giản bởi giữa chúng có sự giao thoa về mặt thể loại Đó là còn chưa kể đến sự mở rộng biên

độ khái niệm của tự truyện cùng với những nỗ lực cách tân nghệ thuật của người

sáng tác Roy Pascal cho rằng: “không có ranh giới rõ rệt để phân biệt tính xác

thực của sự kiện và những hư cấu tưởng tượng Điều đó dẫn đến sự nhòe mờ ranh giới thể loại cũng như sự phân hóa trong chính bản thân mỗi thể loại” [64,

tr.57] Tuy nhiên, giữa tự truyện và tiểu thuyết tự truyện có những khoảng cách nhất định Nếu tự truyện là dạng văn bản có tính quy chiếu thì tiểu thuyết tự thuật là những hư cấu nghệ thuật dựa trên nền tiểu sử tác giả, những chi tiết của cuộc đời tác giả trở thành chất liệu của tiểu thuyết Nếu trong tự truyện, cuộc đời tác giả và bức chân dung tinh thần trở thành đối tượng chính, tham gia trực tiếp vào tác phẩm như một bộ phận hữu cơ thì ở tiểu thuyết tự truyện, những chi tiết tiểu sử được nhào nặn lại, câu chuyện cuộc đời được cấu trúc và sắp xếp lại, tức

Trang 27

là tác giả tách khỏi những yếu tố đời tư để thể hiện với một độ gián cách nhất định

Trong văn học phương Tây, tiểu thuyết tự truyện đã được nhắc đến khá nhiều nhưng đối với văn học Việt Nam, do đặc điểm riêng về truyền thống văn hóa cũng như quan niệm văn học nên chưa hình thành dòng tiểu thuyết tự thuật như ở nhiều nước khác trên thế giới Chính vì vậy mà nhiều nhà nghiên cứu đã khá dè dặt với thể loại này Mãi đến sau thời kỳ đổi mới, trong nhiều công trình nghiên cứu về văn học Pháp của Phùng Văn Tửu, Lê Hồng Sâm, Đặng Thị Hạnh, Lộc Phương Thủy,… thuật ngữ tự thuật được nhắc đến khá nhiều Bên cạnh đó, sau năm 1986, nhiều cách tân trong văn học đã mở ra một bầu không khí mới cho sáng tác văn chương Điều đó dẫn đến sự ra đời của nhiều khuynh hướng sáng tác mới, trong đó khuynh hướng tiểu thuyết có yếu tố tự truyện ngày càng trở thành một khuynh hướng nổi bật

1.1.5 Tiểu thuyết có yếu tố tự truyện và mối quan hệ giữa sự thật - hư cấu

Trong sự vận động của mình, tự truyện là một khái niệm mở Nó không chỉ là một thể loại mà còn là một yếu tố Nhiều nhà văn viết tiểu thuyết thường đưa những trải nghiệm cá nhân của mình vào tác phẩm với mật độ dày đặc: khi

đó người ta nói tiểu thuyết ấy có yếu tố tự truyện Tiểu thuyết có yếu tố tự truyện là một sản phẩm hư cấu, trong đó yếu tố tự truyện hiện lên như một chất liệu nghệ thuật, một yếu tố tham gia vào cấu trúc tự sự của tác phẩm

Theo Hồ Khánh Vân, căn cứ vào văn bản và kỹ thuật kể chuyện, người đọc

có thể nhận diện tiểu thuyết có yếu tố tự truyện qua một số biểu hiện sau:

1 Yếu tố tiểu sử cuộc đời nhà văn hiện diện trong kết cấu tác phẩm, trong

đó tính tự truyện được thể hiện bằng sự chân thực và sâu sắc của những trải nghiệm cá nhân

2 Người kể chuyện - nhân vật chính - tác giả có mối tương quan chặt chẽ, mặc dù có thể trần thuật từ các ngôi khác nhau

Trang 28

3 Tính hồi thuật thể hiện tương đối rõ ở cái nhìn hồi cố, chính vì vậy kỹ thuật dòng ý thức và cốt truyện tâm lý thường được sử dụng trong tiểu thuyết có yếu tố tự truyện đương đại

Trong tiểu thuyết có yếu tố tự truyện, mặc dù có sự pha trộn giữa sự thật và

hư cấu nhưng sự thật và tính chân thực được đặc biệt chú trọng, trong đó, tỷ lệ cái thật trội hơn so với hư cấu, thậm chí là bộ xương để kiến tạo cốt truyện Những yếu tố tự truyện được đưa vào tác phẩm một cách hệ thống (đôi khi đó là chủ đích của tác giả) và nó có ý nghĩa trong sự hình thành nhân cách nhân vật Thời gian gần đây, với sự đổi mới mạnh mẽ trong hệ hình tư duy và các quan niệm nghệ thuật, tiểu thuyết có yếu tố tự truyện đang dần trở thành một khuynh hướng nổi bật trong đời sống văn học Việt Nam đương đại Khảo sát các tác phẩm văn xuôi nữ Việt Nam đương đại nói chung và tiểu thuyết nói riêng, chúng tôi nhận thấy tuy mỗi trang viết đều là những trải nghiệm của bản thân nhà văn,

là hành trình đi tìm cái tôi của từng người, nhưng những chi tiết tiểu sử đã được nhào nặn lại, câu chuyện cuộc đời được cấu trúc và sắp xếp lại, tức là tác giả tách khỏi những yếu tố đời tư để thể hiện với một độ gián cách nhất định Điều

đó cho thấy, văn xuôi nữ Việt Nam đương đại không có các tác phẩm tự truyện đúng theo đặc điểm thể loại mà chỉ mang dấu ấn tự truyện, hay nói cách khác là các tiểu thuyết có yếu tố tự truyện mà thôi

1.2 Nguyên nhân xuất hiện yếu tố tự truyện trong tiểu thuyết các nhà văn

nữ Việt Nam đương đại

Khoảng những năm đầu thế kỉ XX, đặc biệt là từ phong trào Thơ mới đã đánh dấu sự xuất hiện của nhiều nữ nhà văn, cả về thơ và văn xuôi Thế nhưng phải từ sau năm 1975 cho tới nay thì những cây bút nữ mới thực sự nổi trội trên văn đàn Chính không khí cởi mở của những năm sau đổi mới đã thúc đẩy các nhà văn nữ cầm bút sáng tác không ngần ngại Họ đi sâu vào đời sống hiện thực sau giải phóng, khám phá chiều sâu của cuộc sống, con người và bộc lộ cái tôi

cá nhân sâu sắc Có thế thấy, trên hầu hết các tác phẩm của các cây bút nữ,

Trang 29

người đọc luôn bắt gặp chân dung cuộc sống cá nhân nhà văn Vì vậy mà phần lớn tiểu thuyết của các nhà văn nữ là tiểu thuyết tự truyện hoặc có yếu tố tự truyện Hay nói cách khác tự thuật là một thuộc tính của phương thức sáng tác

nữ

Văn học nữ thế giới đương đại có rất nhiều tiểu thuyết tự truyện Trong

bài viết Vài nét về văn nữ đương đại Trung Quốc, tác giả Trần Lê Hoa Tranh đã một lần nữa nhấn mạnh: “Yếu tố tự truyện khá rõ trong tác phẩm các nhà văn

nữ” [131] Khảo sát các tác phẩm văn học nữ Trung Quốc từ năm 1985 đến nay,

có thể thấy hiện tượng tự thuật rất phổ biến Các cây bút nữ thuộc dòng văn học Linglei (dòng văn học khác biệt) gần như tái hiện chân dung cuộc sống cá nhân

của mình trên trang sách Quách Tiểu Lộ sáng tác Từ điển Trung – Anh cho

người đang yêu dựa trên cuốn nhật ký viết trong những năm tháng sống tại

London, hay như trong Thạch thôn, ngay từ lời đề từ, chính tác giả thừa nhận là:

“Thạch thôn là nơi tôi chôn con cá của tôi, k‎í ức của tôi, tuổi thơ của tôi và mọi

điều bí mật hiện thân cho quá khứ của tôi” Tính tự thuật cũng rất rõ trong Đỗ Quyên đỏ của Anchee Min Tác phẩm xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam năm

1996, từng được tạp chí Vogue nhận xét: "Không một người Trung Quốc nào,

càng hiếm phụ nữ Trung Quốc hơn viết chân thực và cảm động như Min về cái

sa mạc của sự cô đơn và sự tha hóa nhân tính" [82] Bởi lẽ, Đỗ Quyên đỏ là một

phần máu thịt của Anchee Min, là một phần cuộc đời của chị Thậm chí, nhiều

cây bút còn đưa tên mình thành tên tác phẩm (Điên cuồng như Vệ Tuệ - Vệ

Tuệ), đưa hình ảnh của mình thành ảnh bìa tạo nên hiệu ứng tự truyện ngay từ yếu tố ngoài văn bản Nhiều quyển tiểu thuyết được đặt tên mang chất tự truyện

như Tự truyện chưa hoàn tất của tác giả người Anh Alice A Bailey

Khảo sát các tác phẩm văn học nữ Việt Nam đương đại, có thể thấy hiện tượng tự thuật rất phổ biến:

Tự thuật vừa là điểm nhìn, là vị trí mà từ đấy, các cây bút nữ khái quát hóa và tái hiện đời sống hiện thực, là cảm hứng sáng tác hình

Trang 30

thành nên thế giới của tác phẩm từ khuynh hướng tư tưởng, nội dung phản ánh cho đến bút pháp nghệ thuật, là hệ sinh thể hình tượng hiện hữu trên bề mặt tác phẩm [88, tr.52]

Châm Khanh trong tiểu luận Phụ nữ và văn chương đã lý giải sự xuất hiện

mạnh mẽ, đông đảo của các tác giả nữ từ sau năm 1975 và tìm những cơ sở để

xác định lối viết đặc trưng của phụ nữ Châm Khanh đi đến kết luận rằng: “giữa

hai phái tính có một sự khác biệt sâu rộng về nhiều phương diện trong đời sống thì trong lãnh vực văn chương chắc chắn họ cũng rất khác nhau” [63]

Và theo Đặng Anh Đào, vào thế kỷ XIX, Flaubert, người tỏ ra hiểu tâm lý

phụ nữ qua Bà Bovary cho rằng phụ nữ không viết được cái gì khác mình, điều

này khiến tiểu thuyết của họ đọc không hay Nhưng rồi bất chấp nhận xét của Flaubert, phụ nữ vẫn cứ viết tiểu thuyết và người ta cứ đọc của họ Vì vậy, Đặng

Anh Đào khẳng định: “Phụ nữ thường mạnh ở chỗ là họ đưa tất cả cuộc đời và

tâm hồn họ vào trang sách hoặc nói như phương Tây người ta vẫn nói, họ tự ăn mình” [24]

Trên Tạp chí Văn học số 6 trong chuyên mục Trao đổi ý kiến đã thực hiện

cuộc nói chuyện văn học về sáng tác của nữ giới do Vương Trí Nhàn ghi chép lại Nhiều ý kiến đã tập trung lý giải hiện tượng nở rộ sáng tác nữ và nêu ra những đặc thù của chủ thể sáng tác Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân, Đặng Anh Đào, Ngô Thế Oanh đều nhấn mạnh đến thiên tính tự nhiên của người phụ

nữ trong mối quan hệ mật thiết với hoạt động sáng tác: sự nhạy cảm, tính tỉ mỉ, chuyên cần, khuynh hướng tự thuật,…

Trong bài viết Các nhà văn nữ và một số thể loại hư cấu trong văn học

phương Tây và văn học Việt Nam hiện đại, khi đặt ra vấn đề về đặc trưng riêng

của nền văn học nữ bằng cái nhìn so sánh đối chiếu giữa văn học nữ phương Tây

và văn học nữ Việt Nam hiện đại, Đặng Thị Hạnh đã nhìn nhận tự thuật như là

một đặc điểm nổi bật của văn học nữ: “Dù vai trò của thể loại hư cấu có quan

trọng đến mấy ta vẫn phải nhận thấy một thể loại được xếp vào ô kéo phi hư

Trang 31

cấu- tự thuật - đã can thiệp rất nhiều vào sáng tác của các nhà văn nữ, dưới nguyên dạng hoặc hòa lẫn trong hư cấu” [33, tr.8]

Căn cứ vào những dẫn chứng, những phân tích trên đây, có thể kết luận rằng tự thuật là một thuộc tính của phương thức sáng tác văn học nữ Tuy nhiên, khẳng định tự thuật như là một phương thức tư duy nghệ thuật của nữ giới ở đây không có nghĩa là phủ định sự xuất hiện của phương thức này trong sáng tác của các tác giả nam Như Châm Khanh đã từng đưa ra các dẫn chứng văn học để chứng minh rằng có những nhà văn nam cũng hầu như chỉ viết về chính mình,

về những gì thuộc về con người mình:

Nếu lối viết ‘tách ra khỏi mình, hoá thành người khác’ mới là lối viết của phái nữ thì Nguyễn Tuân, người hầu như lúc nào cũng chỉ viết về mình, nhất định không phải thuộc… phái nam Thạch Lam, người từng

bị Vũ Ngọc Phan chê là hay đem tính tình của mình áp đặt lên các nhân vật cũng không phải là nhà văn… nam Gần đây, Mai Thảo, tác giả mà nhân vật nào cũng thấp thoáng hình bóng của chính ông, hẳn phải là nhà văn… nữ [63]

Vì vậy, vấn đề cần xem xét ở đây là: đối với bộ phận văn học của giới nào, phương thức này trở thành thuộc tính sáng tác cơ bản, trở thành một đặc trưng nhìn từ góc độ của sự khái quát hoá

Và để góp phần làm rõ phương thức tự thuật hay việc đưa yếu tố tự truyện vào tác phẩm là một phương thức tư duy bản chất của các tác giả nữ, thiết nghĩ không chỉ dựa vào một phương diện hay một vài ý kiến cá nhân mà phải phân tích từ phương diện con người đến phương diện văn học Có như vậy mới làm rõ bản chất của vấn đề

1.2.1 Xét về phương diện con người

Đây là một trong những yếu tố đầu tiên góp phần lý giải bản chất tư duy của các cây bút nữ trong sự đối sánh với các cây bút nam Simone de Beauvoir với những hiểu biết sâu sắc về sinh học, triết học, lịch sử, dân tộc học, văn học

Trang 32

nghệ thuật đã nhìn nhận về người phụ nữ ở nhiều phương diện Trong cuốn Giới

nữ (Le deuxieme sexe), Simone de Beauvoir cho rằng cần phải có một cái nhìn

tích hợp các yếu tố hợp thành bản thể con người từ tự nhiên đến văn hóa, xã hội

Hồ Khánh Vân trong luận văn Từ lý thuyết phê bình nữ quyền (feminist

criticism) nghiên cứu một số tác phẩm văn xuôi của các tác giả nữ Việt Nam từ năm 1990 đến nay khi lý giải sự khác nhau giữa nam và nữ về phương diện con

người cũng căn cứ vào mặt tự nhiên, xã hội và tâm lý Căn cứ vào lý thuyết của Simone de Beauvoir và đồng tình với cách tiếp cận của Hồ Khánh Vân, người viết cũng tiếp tục chỉ ra những khác biệt giữa hai giới dựa trên việc khám phá ba mặt của phương diện con người

1.2.1.1 Con người sinh học

Ngành sinh vật và giải phẫu học cho rằng, sự khác nhau về cơ thể sinh học giữa phái nữ và nam tập trung ở não và cơ quan sinh dục Trước thế kỷ XIX, nhiều nghiên cứu khoa học cho rằng: nữ có thùy trán và não nhỏ nên trí tuệ và năng lực của họ kém hơn nam Đến đầu thế kỷ XX, khi phát hiện chính thùy đỉnh mới là nơi tập trung chất xám liên quan đến năng lực trí tuệ, người ta lại cho rằng người nam có thùy đỉnh phát triển hơn nữ và điều đó đồng nghĩa với kết luận năng lực và trí tuệ của nam giới cao hơn nữ giới Những kết luận trên đã dựa trên cơ sở lý thuyết tâm - sinh lý học song song (parallelism psycho-physiology) nhằm tìm cách thiết lập những sự so sánh toán học giữa cơ thể đực

và cái Từ đó, họ hình dung những biện pháp ấy xác định trực tiếp bản lĩnh chức năng giữa nam và nữ trong xã hội

Tuy nhiên, những kết luận trên đã bị nhiều người phản bác Simone de Beauvoir là một trong những người đầu tiên lên tiếng phản bác lý thuyết tâm- sinh lý học song song Theo bà, tuy giữa nam và nữ có sự khác biệt về mặt sinh học nhưng không thể dựa vào điều đó mà kết luận sự khác biệt về trí tuệ Bởi

“Lý thuyết trên không có mấy ý nghĩa, là ở chỗ không thiết lập được một tỉ số

nào giữa trọng lượng của não và sự phát triển trí tuệ Cũng không thể lý giải rõ

Trang 33

hơn về mặt tâm lý những công thức hóa học xác định hocmon đực cái” [14,

tr.43] Chính vì vậy, “đây là một học thuyết mà cơ sở đã bị phá bỏ từ lâu và một

cách vĩnh viễn (…) bị phá sản về mặt triết học và khoa học” [14, tr.43] Và quan

điểm của bà là cần phải có một cái nhìn tích hợp các yếu tố hợp thành bản thể con người từ tự nhiên đến văn hóa, xã hội Từ đó, bà đề nghị:

Chúng ta phải phân tích các dữ kiện sinh học dưới ánh sáng của một ngữ cảnh bản thể luận, kinh tế, xã hội và tâm lý Sự phụ thuộc của người nữ vào loài, những giới hạn của năng lực cá nhân của họ là những sự kiện cực kì quan trọng; thân thể của người phụ nữ là một trong những yếu tố chủ yếu trong vị trí của họ trên thế giới Nhưng cũng không phải chỉ một mình nó là đủ để xác định

vị trí ấy; nó chỉ là một hiện thực sống khi được ý thức đảm bảo qua hành động

và trong lòng xã hội [14, tr.47]

Simone de Beauvoir đã dùng cái nhìn mang tính xã hội để soi ngắm về người phụ nữ Có thể thấy tư tưởng của bà rất tiến bộ và nhân văn nhưng lại chú trọng vào việc chống đối sự phân biệt giới tính nên vẫn chưa có cái nhìn khái quát về sự khác biệt giới trên dữ liệu sinh học Ngày nay, với những thành tựu

về giải phẫu học cơ thể người, các nhà khoa học chứng minh rằng, sự khác nhau giữa bộ não của nữ và nam nằm ở cấu trúc cấu tạo nên dẫn đến sự khác biệt về tính chất, chức năng và mức độ hoạt động

Các nhà nghiên cứu tại Đại học California ở Irvine (UCI) đã phát hiện thấy một vùng quan trọng của não có liên quan tới quá trình xử lý ký ức ảnh hưởng bởi cảm xúc hoạt động khác nhau ở nam và nữ, ngay cả khi không có các tác nhân kích thích Lary Cahill, phó giáo sư về thần kinh học và hành vi, và Lisa Kilpatrick, nguyên nghiên cứu sinh sau tiến sĩ, đã phát hiện rằng:

Vùng amygdala (là vùng của não có cấu trúc hạt nhân với chức năng điểu khiển các cảm xúc tạo nên từ ký ức) của người phụ nữ nằm ở bán cầu não trái, thường hoạt động mạnh, liên kết nhiều hơn với các vùng thùy não trước và vùng não điều khiển thân nhiệt, thực hiện chức

Trang 34

năng điều chỉnh các yếu tố bên trong cơ thể và gắn liền với cảm xúc; trong khi đó cùng amygdala của người nam nằm ở bán cầu não phải, hoạt động tích cực, liên hệ với vùng não thị giác và vùng thể vân, thực hiện việc tiếp nhận và phản ứng với môi trường bên ngoài [42]

Và tiếp tục với những dữ liệu mang tính khoa học, Mark George (nhà tâm

lý và thần kinh học của Đại học Y khoa bang Nam Carolina - Hoa Kỳ) phát hiện

ra rằng:

Cùng một sự kiện tác động đến trạng thái tình cảm, những thần kinh tạo cảm giác phiền muộn ở nữ có diện tích lan tỏa gấp 8 lần so với nam Dung lượng và sự phân bố các khu vực năng lực trí tuệ trong não của nữ và nam cũng có những khác biệt đáng kể Với nữ hầu hết khu vực chất màu xám và khu vực chất màu trắng đều nằm ở thùy trước Với nam, chất màu xám phân bổ ở nhiều khu vực khác nhau trong bộ não Lượng chất màu xám liên quan đến năng lực trí tuệ nam cao gấp 6,5 lần so với nữ vì vậy mà người nam thường trội hơn trong các lĩnh vực trừu tượng và logic Ngược lại, chất màu trắng liên quan đến năng lực trí tuệ nữ, là nơi tập trung mật độ tế bào thần kinh cao gấp 10 lần so với nam Điều này cho phép người nữ nhạy bén trong hòa nhập và đồng hóa thông tin Bên cạnh đó, các hormone sinh dục cũng tác động lên não, khiến cho phần não ở thái dương của phụ nữ phát triển hơn, làm tăng thêm năng lực phân tích các thông tin có tính chất cảm xúc [81]

Những kết quả nghiên cứu này đã mang lại cái nhìn khách quan, khoa học

về sự khác biệt sinh học giữa nam và nữ Tuy nhiên sự khác biệt này không tạo nên sự khác biệt về trình độ tư duy như những kết luận mà lý thuyết tâm - sinh

lý học song song khẳng định, những khác biệt này chỉ góp phần tạo nên các thiên hướng khác nhau giữa hai giới mà thôi

Trang 35

Từ những thông tin về cấu trúc và chức năng não bộ của người phụ nữ cho thấy về bản chất họ thiên về đời sống tình cảm, cảm xúc Và đối tượng tạo nên cảm xúc và ấn tượng mạnh mẽ nhất đối với con người, không ai khác chính

là bản thân họ, là những yếu tố tác động vào họ Vì vậy, từ bản chất, phụ nữ là người cảm nhận và tri giác về bản thân tinh nhạy nhất, sâu sắc nhất Đó là cơ sở góp phần lý giải về khuynh hướng tự truyện trong sáng tác của các cây bút nữ Bằng những câu chuyện về cuộc đời, bằng những trải nghiệm sống, họ đã tái hiện bức tranh đời sống cá nhân họ, của giới họ với những gam màu “sáng”

“tối” và phản ánh chân thực bộ mặt của đời sống xã hội đương thời

1.2.1.2 Con người xã hội

Trong công trình Dẫn giãi ý tưởng văn chương, Henri Benac đã chỉ ra

những nguyên nhân mang tính mục đích của tự truyện như sau:

1 Người viết bày tỏ lòng mình để làm dịu nỗi đau và mong muốn tìm kiếm được sự cảm thông, an ủi từ người khác Vì vậy, “viết là một hoạt động nội tâm”

2 Người viết muốn tìm kiếm và khẳng định cái tôi, “muốn thấy sự xuất hiện thường xuyên của cái tôi” thông qua những sự việc của cuộc sống nhằm “đạt tới sự cảm thông hoàn toàn và tin cậy với người khác”

3 Viết để được thanh minh: hoặc là tác giả thừa nhận lỗi lầm và khao khát được cảm thông, hoặc để xoá bỏ những hiểu lầm, những oan ức mà tác giả phải gánh chịu

4 Viết như một sự thỏa mãn cho niềm thích thú được nói về mình

5 Viết để mang đến cho người khác những bài học bổ ích

Những nguyên nhân mà Henri Benac đưa ra cho thấy mục đích mà người

viết tự truyện hướng đến rất đa dạng và khác nhau Trong lịch sử văn học, “các

tác giả nam hầu như tạo ra những tự truyện đúng nghĩa theo nghĩa hẹp của khái niệm này để thực hiện đúng các mục đích trên dành riêng cho cá nhân Thế nhưng, tự truyện trong sáng tác nữ đi ra từ nhu cầu của cá nhân tác giả nhưng

Trang 36

lại phục vụ cho mục đích chung thuộc cộng đồng giới” [88] Vậy xuất phát từ

đâu mà có sự khác nhau này? Phải chăng chính vị trí, tình trạng của người phụ

nữ trong đời sống xã hội là gốc rễ để lý giải đặc trưng này trong văn học nữ

Trong Giới nữ, Simone de Beauvoir khẳng định rằng:

Xã hội đã làm nên bản tính con người, làm nên sự khác biệt giữa nam

và nữ Một xã hội không phải là một loài: trong xã hội, loài được thể hiện với tư cách sự sống, xã hội vươn tới thế giới tương lai; phong tục tập quán của xã hội không thể rút ra từ sinh học; các cá thể không bao giờ bị bỏ mặc cho bản chất của chúng, chúng tuân theo một bản chất thứ hai là tập tục, và trong bản chất thứ hai, được phản ánh những nguyện vọng và nỗi sợ hãi thể hiện thái độ bản thể luận của chúng [14, tr.48]

Cùng quan điểm với Simone de Beauvoir, Đặng Thị Hạnh trong bài

viết Các nhà văn nữ và một số thể loại hư cấu trong văn học phương

Tây và Việt Nam hiện đại cũng khẳng định: “Nguyên nhân của vấn đề trên là dù ở xã hội nào, từ xa xưa cái chủ thể, “cái tôi” của người phụ

nữ, gián tiếp hay trực tiếp, vẫn luôn bị chèn ép, việc tìm cho được căn tính (identité) của mình vừa là khó khăn, vừa là nhu cầu” [33]

Là một đất nước có nền văn hóa xuất phát điểm Mẫu hệ gắn với nền nông nghiệp lúa nước nhưng Việt Nam lại chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi những quan điểm hủ Nho, hủ tục trong suốt một thời kỳ dài lịch sử Vì vậy, cuộc đời người phụ nữ đã bị cột chặt bằng sợi dây cương tỏa khổng lồ của tam tòng, tứ đức Xã hội phong kiến đầy rẫy những hủ tục đã khiến những người phụ nữ Việt Nam truyền thống trở thành những kẻ nô lệ, phụ thuộc vào đàn ông và đôi khi chính

họ cũng chấp nhận điều đó Vì vậy, người phụ nữ Việt Nam thường sống trong một trạng thái khép kín tại một không gian tĩnh tại, xoay quanh và bó hẹp trong phạm vi gia đình Các quan hệ xã hội luôn bị hạn chế, bị những rào cản từ chính quan niệm xã hội, từ quan niệm về chức năng của người phụ nữ trong gia đình

Trang 37

bó buộc Người phụ nữ dường như sống câm lặng bởi không thể trải lòng và cũng không được phép trải lòng Thực trạng nặng nề này với người phụ nữ kéo dài ở nước ta cho đến tận những năm đầu Đổi mới Bởi vậy, khi được “cởi trói” khỏi những thứ luân lí, đạo lí vốn như “cái tròng” vô hình áp vào cổ họ thì những người phụ nữ bắt đầu sống cuộc sống để được là mình, để được nhìn nhận lại mối quan hệ giữa mình và những người đàn ông trong gia đình và ngoài

xã hội mà xưa kia họ chỉ biết mỗi một điều là phải phục tùng và dâng hiến Và đặc biệt, khi những người phụ nữ được đi học, biết chữ và biết cầm bút để viết văn thì họ thường lấy chính bản thân mình làm đối tượng để cảm nhận, để khám phá chính mình và khát khao sự đồng cảm Chính vì điều đó, tác phẩm của các tác giả nữ thường mang khuynh hướng tự truyện như là một sự khẳng định bản ngã trước thế giới đàn ông

1.2.1.3 Con người tâm lý

Trong chuyên ngành khoa học về Tâm lý học nữ giới (women

psychology), các nhà tâm lý đã chỉ ra những đặc trưng tâm lý của nữ giới Họ cho rằng, nữ tính bộc lộ những đặc điểm trên các mặt lòng tự tin, đồng cảm, sự

xã giao, sự chi phối hoặc tính thụ động,… Về năng lực ngôn ngữ, suy lý, động

cơ hành động của nữ giới cũng tỏ ra khác nam giới Đặc biệt, tâm lý nữ giới rất thích hợp cho sáng tác nghệ thuật, trong đó có văn học Nhà tâm lý học Thụy

Sỹ, Karl Gustave Jung cho rằng, xét từ tố chất tâm lý, thì nữ giới thuộc loại hình tình cảm, rất dễ xúc động và nhạy cảm Một số nhà giải phẫu học đã chứng thực rằng, nữ giới thường tư duy thiên về phía bán cầu não bên trái, tức là bộ phận nặng về tình cảm, tưởng tượng, hồi tưởng

Những đặc trưng tâm lý trên đã góp phần xác định thiên hướng trong sáng tác của nữ giới Tuy nhiên, yếu tố tâm sinh lý luôn chịu sự tác động của xã hội Như trên đã trình bày, người phụ nữ thường ở trong trạng thái khép kín, tĩnh tại,

các mối quan hệ bó hẹp trong phạm vi gia đình Chính “vì không thể tự thể hiện

mình qua các dự định và mục đích, phụ nữ cố gắng tự hiểu mình trong sự nội tại

Trang 38

của con người mình” [14, tr.287] Họ lấy mình làm đối tượng cảm nhận, khám

phá và khát khao sự đồng cảm Georgia O’Keefee, một họa sĩ nổi tiếng của Mỹ trong thế kỷ XX, đã từng nói rằng: “Tôi cảm nhận rằng có điều gì đó còn ẩn

chứa trong những người phụ nữ mà chỉ có người phụ nữ mới có thể khám phá được” [58, tr.11]

Ngược lại, nam giới thường động và mở vì vậy họ thường hướng ra bên ngoài, nắm bắt chinh phục thế giới ngoại tại Từ đó, họ khám phá và khẳng định bản thể của mình thông qua khách thể Vì vậy, các cây bút nam thường tái hiện thế giới bên ngoài mình, thế giới khách thể bằng cái nhìn khái quát hoá

Sự khác nhau giữa nam giới và nữ giới trong cách thức ứng xử trước hiện thực và xác lập mối quan hệ của mình với hiện thực đã được Simone de Beauvoir lý giải một cách cặn kẽ, chặt chẽ với nhiều giả thiết, nhiều lập luận và cách thức lý giải xác đáng, thuyết phục Thông qua việc tái hiện lại toàn bộ lịch

sử đời sống nhân loại, thiết lập lại bối cảnh đã dẫn đến sự phân chia chức năng lao động và vai trò duy trì, nuôi dưỡng đời sống trên mọi phương diện giữa hai giới, Simone de Beauvoir đã đi đến kết luận rằng:

Người đàn bà vĩnh truyền cuộc sống thịt da, nhưng chỉ có vai trò nuôi dưỡng, chứ không phải vai trò sáng tạo, duy trì đời sống của bộ tộc bằng cách sinh con và cung cấp cái ăn, không có gì hơn; và chỉ là hiện thân của mặt tĩnh của xã hội, thường xuyên khép kín Còn người đàn ông thì tiếp tục chiếm đoạt những chức năng mở rộng xã hội ra thiên nhiên và ra toàn bộ tập thể loài người [14, tr.21]

Không chỉ đưa ra những lập luận xác đáng, thuyết phục về sự khác nhau

trong cách ứng xử trước hiện thực, trong Giới nữ, Simone de Beauvoir cũng chứng minh rằng, phụ nữ luôn mang tâm lý tự yêu mình: “Có khi người ta cho

thái độ tự yêu mình là thái độ cơ bản của mọi phụ nữ Sự thực là hoàn cảnh thúc đẩy phụ nữ quay về bản thân mình và tự yêu mình so với đàn ông” [14, tr.287]

Trang 39

Theo lập luận của Simone de Beauvoir, mọi tình cảm yêu thương đều đòi hỏi sự tồn tại song song của một chủ thể và một khách thể Thế nhưng, với tư cách là chủ thể, người phụ nữ luôn bị “tước đoạt” vai trò chủ thể do những định kiến, những rào cản và cấm đoán từ luật lệ, tập tục của xã hội loài người, đặc

biệt là những hoạt động mang tính chất nam giới Vì “không thể tự thể hiện mình

qua các dự định và mục đích, phụ nữ cố gắng tự hiểu mình trong sự nội tại của con người mình” [14, tr.287] Từ đó, người phụ nữ nảy sinh tình cảm tự yêu

mình “bằng hai con đường đồng quy” Điều đó được biểu hiện ở việc người phụ

nữ tự khách thể hóa và có nhu cầu khám phá đối tượng khách thể ấy

Từ những phân tích và lập luận mà Simone de Beauvoir đã trình bày, có thể nhận thấy ở người phụ nữ xuất hiện tâm lý hướng nội và tự yêu mình Chính những đặc trưng về mặt tâm lý ấy cũng là một trong những yếu tố làm cho tự thuật trở thành một bản năng viết của người phụ nữ Bằng hoạt động sáng tác văn chương, họ thể hiện thế giới của chính mình, của những người cùng giới

Đó cũng là cách để họ “cố gắng tự hiểu mình trong sự nội tại của con người mình” và khát khao sự đồng cảm, chia sẻ

1.2.2 Xét về phương diện văn học

1.2.2.1 Nhu cầu nhận thức và khẳng định cái tôi cá nhân trong bối cảnh văn học đương đại

Sự nhận thức và khẳng định cái tôi cá nhân không phải là điều mới lạ trong văn học Vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XX, do sự ảnh hưởng của văn hóa, tư tưởng phương Tây cùng với sự chuyển biến của hình thái xã hội, ý thức

cá nhân đã được nảy nở mạnh mẽ Trên cơ sở đó, cái tôi cá nhân được hình thành đã đem lại cho văn học nguồn cảm hứng khá dồi dào Nhưng cuộc Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến tiếp liền sau đó đã khơi dậy và phát triển đến cao độ ý thức cộng đồng mà cốt lõi là lòng yêu nước, tinh thần dân tộc

và ý thức giai cấp Vì vậy, cái tôi đã nhường chỗ cho cái ta trong nền văn học cách mạng (1945-1975) Từ sau 1975, khi cuộc sống dần trở lại với những quy

Trang 40

luật bình thường của nó, con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đối mặt với bao nhiêu vấn đề trong một thời đại có nhiều biến động, đổi thay của xã hội Bối cảnh đó đã thúc đẩy sự thức tỉnh ý thức cá nhân, đòi hỏi sự quan tâm đến từng người và từng số phận, ý thức cá nhân lại trỗi dậy, đem lại cho văn học hơi thở cuộc sống đời thường hết sức chân thực và sinh động

Văn học Việt Nam đương đại từ sau năm 1975 đã đánh dấu một yếu tố

quan trọng làm đổi mới văn học Trong bài viết Về quan niệm con người trong

văn học Việt Nam thế kỷ XX, nhà nghiên cứu Trần Đình Sử nhận định, từ sau

năm 1975, khuynh hướng phi sử thi hóa khiến cho “văn học trở lại với con

người cá thể, quan tâm tới cá nhân: đề bước tiến mới của “ý thức tự ngã” [68]

Và trong bài viết, ông đã nhấn mạnh ý thức cá nhân là cái tôi, ý thức chủ thể, con người thân phận, cảm hứng đạo đức, tự vấn lương tâm,… đều là những biểu hiện của ý thức cá nhân

Sự thức tỉnh trở lại ý thức cá nhân đã mở ra cho văn học nhiều đề tài và chủ đề mới, làm đổi thay quan niệm về hiện thực và con người, quan niệm về nhà văn trong mối quan hệ với tác phẩm, với công chúng và với chính mình Về một phương diện nào đó, cái tôi cá nhân vừa là động lực vừa là kết quả của quá trình đổi mới văn học

Trong triết học, cái tôi được hiểu là cái tôi ý thức hay đơn giản là cái tôi bao hàm trong đó những đặc tính để phân biệt tôi với những cá nhân khác Trong phân tâm học, cái tôi là phần cốt lõi của tính cách liên quan tới thực tại và chịu ảnh hưởng của tác động xã hội Trong văn học, cái tôi đó là cá tính sáng tạo, góc khuất của nhà văn, con người với những suy nghĩ mang dấu ấn cá nhân được chụp lại Cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật hướng đến sản sinh ra cái Tôi

Một tác phẩm văn chương bao giờ cũng là dấu ấn sáng tạo của người cầm bút, thể hiện bản ngã, cái tôi Từ thời trung đại, Hồ Xuân Hương đã cá tính sắc

nhọn trong từng lời thơ và tự xưng tên trong thơ “Quả cau nho nhỏ miếng trầu

hôi/ Này của Xuân Hương mới quệt rồi”(Mời trầu) Nguyễn Công Trứ cũng thể

Ngày đăng: 19/06/2021, 15:09

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thúy An (2008), Người phụ nữ qua cái nhìn hiện đại của một số nhà văn nữ, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Tp. HCM, Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người phụ nữ qua cái nhìn hiện đại của một số nhà văn nữ
Tác giả: Trần Thúy An
Năm: 2008
2. Nguyễn Kim Anh, Vũ Ngọc, Hà Thanh Vân, Hoàng Tùng (Nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu) (2002), Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX, Nxb Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ văn nữ Nam Bộ thế kỷ XX
Tác giả: Nguyễn Kim Anh, Vũ Ngọc, Hà Thanh Vân, Hoàng Tùng (Nghiên cứu, sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Tp. Hồ Chí Minh
Năm: 2002
3. Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng (1996), Phụ nữ, giới và phát triển, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ, giới và phát triển
Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
4. Vũ Tuấn Anh, Bích Thu (2007), Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tác phẩm văn xuôi Việt Nam
Tác giả: Vũ Tuấn Anh, Bích Thu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
5. Nhuệ Anh (2006), “Các nhà văn nữ của ‘thế kỷ nàng’”, Tạp chí Văn nghệ, (21), tr.12-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các nhà văn nữ của ‘thế kỷ nàng’”, "Tạp chí Văn nghệ
Tác giả: Nhuệ Anh
Năm: 2006
6. Dr. Monica Arnez (Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ) (2007), “Tiểu Thuyết Hương - Sastra Wangi: Văn Chương Khích Động Nữ Quyền”, Tạp chí Văn nghệ, (9), tr.14-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu Thuyết Hương - Sastra Wangi: Văn Chương Khích Động Nữ Quyền”, "Tạp chí Văn nghệ
Tác giả: Dr. Monica Arnez (Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ)
Năm: 2007
7. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (Sưu tầm, biên soạn) (2004), Văn học hậu hiện đại thế giới- những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội nhà văn – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới- những vấn đề lý thuyết
Tác giả: Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (Sưu tầm, biên soạn)
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn – Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2004
8. Lại Nguyên Ân (1999), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
9. Y Ban (2008), Xuân từ chiều (tiểu thuyết), Nxb Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân từ chiều
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2008
10. M.Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu) (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu)
Nhà XB: Nxb Trường Viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
11. Roland Barthes (Nguyên Ngọc dịch) (1997), Độ không của lối viết, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Độ không của lối viết
Tác giả: Roland Barthes (Nguyên Ngọc dịch)
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1997
12. Lê Húy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học, (9), tr.11-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Húy Bắc
Năm: 1998
13. Lê Huy Bắc (2008), “Cốt truyện trong tự sự”, Tạp chí Văn học, (7), tr34-44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cốt truyện trong tự sự”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 2008
14. Simone de Beauvoir (Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh dịch) (1996), Giới Nữ, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới Nữ
Tác giả: Simone de Beauvoir (Nguyễn Trọng Định và Đoàn Ngọc Thanh dịch)
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 1996
15. Henri Benac (Nguyễn Thế Công dịch) (2005), Dẫn giải ý tưởng văn chương, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn giải ý tưởng văn chương
Tác giả: Henri Benac (Nguyễn Thế Công dịch)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
16. Jean Bellemin, S.Freud, C.G.Jung, Noel (Đỗ Lai Thúy dịch) (2004), Phân tâm học và văn học nghệ thuật, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tâm học và văn học nghệ thuật
Tác giả: Jean Bellemin, S.Freud, C.G.Jung, Noel (Đỗ Lai Thúy dịch)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2004
17. Phan Quý Bích (2006), “Gia đình bé mọn và sự khác nhau giữa tự truyện và tiểu thuyết”, Báo Văn nghệ trẻ, (47), tr.8-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình bé mọn và sự khác nhau giữa tự truyện và tiểu thuyết”, "Báo Văn nghệ trẻ
Tác giả: Phan Quý Bích
Năm: 2006
18. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995- Những đổi mới căn bản, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 – 1995- Những đổi mới căn bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
19. Nguyễn Thị Bình (2005), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, (11), tr.61-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây”, "Tạp chí Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2005
101. Hoàng Đăng Khoa, “Văn xuôi nữ - làm mới hay tự đánh mất ‘đặc sản tâm hồn’?, http://vannghequandoi.com.vn/802/news-detail/856319/phe-binh-vannghe/van-xuoi-nu-lam-moi-hay-tu-danh-mat-dac-san-tam-hon-.html Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w