Cách giải trinh, miêu tả ừên bỉớc đầu cho thấy sự hiện diện của một hệ thống truyền thuyết liên quan đến Tấu.- Nguyễn Minh San với công trình nghiên cứu Những thần nữ danh Htng trong văn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN MINH THU THỦY
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM THỨC MẪU VỚI NHÂN VẬT NGƯỜI MẸ TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN MINH THU THỦY
MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM THỨC MẪU VỚI NHÂN VẬT NGƯỜI MẸ TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC
Chuyên ngành : Văn học Việt Nam
Mã số : 60 22 34
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HỒ QUỐC HÙNG
Thành phố Hồ Chí Minh – 2010
Trang 3'ôi xin bày tỏ lòng biết om sâu sắc đến TS Hồ Quốc Hùng- người đã trực tip, tận tình hướng dẫn, giúp đờ tôi trong quá trình nghiên cứu, thực hiện V: hoàn thành bản luận văn này.
"ôi xin gửi lời cảm om chân thành đến quý thầy cô giáo trong tổ Văn học Vh Nam, ban chủ nhiệm khoa Ngữ văn, phòng Quản lý sau đại học - tniờtgĐại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cktôi học tập và nghiên cứu
'ôi cũng xin được gửi lời cám om chân thành lãnh đạo Sở Giáo dục và Đào tp, Công đoàn Giáo dục tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu, gia đình và những ngưci >ạn thân thiết đã động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành khóa học
Fũng Tàu, ngày 10 thảng 4 năm 2010
Nguyễn Minh Thu Thủy
Trang 4Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
MỞ ĐẦU 1
Chương một: HÌNH TƯỢNG MẸ VỚI ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG CỦA NGƯỜI VIỆT Cỏ 13
1.1 Tín ngưởng thờ mẫu 13
1.1.1 Nguồn gốc 13
1.1.2 Phân loại 15
1.2 Sự chuyển hóa từ tín ngưỡng mẫu sang các lĩnh vực hoạt động tinh thần 16
1.2.1 Tâm thức mẫu của người Việt trong các lĩnh vực sinh hoạt xã hội 16
1.2.2 Hình tượng mẫu xuất hiện trong văn học 24
Chương hai: MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM THỨC MẢU VỚI NHÂN VẬT NGƯỜI MẸ TRONG TRUYỀN THUYẾT VIỆT NAM 34
2.1 Tâm thức mẫu 34
2.2 Tâm thức mẫu qua nhân vật người mẹ trong truyền thuyết Việt Nam 35
2.2.1 Mẹ - người sáng tạo ra vũ trụ, giống nòi, xứ sở 39
2.2.1.1 Mẹ tạo ra vũ trụ 39
2.2.1.2 Mẹ lchai sinh giống nòi 42
2.2.1.3 Mẹ hóa thân vào xứ sờ 46
2.2.2 Mẹ - người có vai ữò to lớn trong lịch sử dựng nước và giữ nước 53
2.2.2.1 Mẹ là nữ tướng anh hùng 53
2.2.2.2 Mẹ sinh ra những người con ưu tú của quê hương 67
Trang 52,2.3 Mẹ - ngưòri có vai ữò to lớn trong đời sống văn hóa xã hội 71
2.2.3.1 Mẹ với đạo mẫu Việt Nam 71
2.2.3.2 Mẹ với đạo Phật Việt Nam 85
2.2.3.3 Mẹ là tổ các ngành nghề 91
(hương ba: MỘT SÓ ĐẬC ĐIỂM CÁU TẠO CỦA KIÊU TRUYỀN THUYÉT VÊ NHÂN VẬT NGƯỜI MẸ 98
3.1 Kết cấu truyền thuyết nhân vật mẹ 98
3.1.1 Nhóm truyền thuyết về mẹ có quan hệ gián tiếp với tâm thức mẫu (mẹ mang tính biểu tượng) 100
3.1.2 Nhóm truyền thuyết về mẹ có quan hệ trực tiếp với tâm thức mẫu (mẹ là nhân vật lịch sử) 108
3.2 Những motif phổ biến trong hệ thống truyền thuyết về mẹ 112
3.2.1 Motif Mẹ sinh nở thần kỳ 113
3.2.2 Motif Mẹ lập nên công trạng phi thường 115
3.2.3 Motif Mẹ hóa thân 117
3.3 Thời gian, không gian trong truyền thuyết về mẹ 119
3.3.1 Thời gian 119
3.3.2 Không gian , 121
3.4 Yếu tố hiện thực và yếu tố thần kỳ 124
¥ẾT LUẬN 128
TÀI LIỆU THAM KHẢO 131
PHỤ LỤC
Trang 6ỉ Lí do chọn đề tài
Giáo sư Trần Quốc Vượng đã khẳng định trong một bài viết rất tâm huyết cùa mình: "Nền văn hóa truyền thống Việt Nam đã từng có NGUYEN L'^ MẸ"[152; tr.437] Nhà văn Nguyễn Xuân Khánh thì cho rằng: “Nói đến tírh mẫu là nói đến người mẹ và những thiên chức của người mẹ Người Việt thíí mẫu chính là thờ người mẹ đã mang nặng đẻ đau, ôm ấp, chở che, nuôi nấig và chăm bẵm con mình hết đời” "[84, tr.l] Tâm thức ấy tác động sâu sắ; đến văn học Việt Nam trong quá trình phát triển của mình đã thể hiện mòt nguyên lý tính mẫu mang tính đặc thù Dù rằng mồi giai đoạn, mỗi thời
kỳ nguyên lý ấy cỏ những biểu hiện khác nhau, nhưng ưong sâu xa đều bắt ngiồn từ truyền thống đề cao người phụ nữ Một minh chứng mà ta có thể bắt gặD ữong nền văn hóa Việt, đó là việc thờ cúng nữ thần dường như tồn tại ờ khắp nơi trong cả nước, đặc biệt là tín ngưỡng thờ mẫu có vai trò không thể thiy thế trong đời sổng tâm linh của người Việt Tín ngường này cũng được phản ánh trong văn học và gần đây, tác phẩm “Mầu Thượng Ngàn” [74] của nhà văn Nguyền Xuân Khánh đã thể hiện vẻ đẹp của tín ngưởng thờ mẫu thòng qua cuộc sổng thường ngày giản dị của nhùng người phụ nừ mềm yếu ờ mòt làng quê nghèo miền Bắc trong nhùng năm đầu thế kỷ XX
Ngược về lịch sử, có thể thấy, từ xa xưa, văn hóa Việt Nam đã mang miu sắc văn hóa mẫu Cách đây ba vạn năm, người nguyên thủy ừên đất Việt Nam đà tiến hóa sang giai đoạn người hiện đại, đồng thời cũng chuyển từ trẹng thái xà hội bầy người sang giai đoạn xã hội thị tộc mẫu hệ Nhiều gia đình nhỏ, có cùng chung huyết thống dựa trên dòng máu của người mẹ đà tập họp lại với nhau thành những tập đoàn người, sổng định cư ưên một khu vực nỈHt định, lấy hái lượm và săn bắt làm nguồn sinh sống và hình thành nên các côig xã thị tộc Nhiều thị tộc trong một vùng họp nhau lại thành một bộ lạc
Trang 7xiất hiện Đó là xã hội thị tộc đang trên đường phát triển Mặc dù sau này, sự
|hát triển của nông nghiệp đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình chuyển hóa của tạng thái xã hội, từ xà hội thị tộc mẫu hệ sang xã hội thị tộc phụ hệ trong đó Igười đàn ông làm chủ gia đình, nhưng cũng có nori vẫn tiếp tục giữ lại chế độ nẫu hệ với dấu ấn sâu sẳc của vai ưò người mẹ Hiện nay, nhiều dân tộc ở niền núi cũng vẫn còn một số tập tục theo mẫu hệ Trong tâm thức dân ta, ý liệm về mẫu hòa trộn, đồng nhất với những giá trị cao cả: mẹ đất, mẹ nước,
nẹ quê hương, mẹ Tổ quốc, mẹ Việt Nam anh hùng, , đến nay vẫn rất sâu
ậm Ngay cả Nho giáo du nhập vào nước ta vốn quan niệm ưọng nam khinh
lừ cho là cha sinh, mẹ chi có dưỡng, nhưng cùng dần chuyển sang xu hướng Iguyên lý mẹ
Nước ta thuộc nền văn minh lúa nước Vai trò của người mẹ rất quan tọng, gắn liền với gia đình, xã hội Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ iước, người mẹ Việt Nam đã có những đóng góp to lớn và có ý nghĩa khởi (ầu vào lịch sử, vào việc hình thành những giá trị văn hóa của dân tộc Người
nẹ Việt Nam là biểu tượng sáng ngời của tinh thần yêu nước Có khi, họ ở ihà "nuôi cái cùng con” để chồng yên tâm ra chiến trận, bảo vệ bờ cõi, nhưng
ầt nhiều người mẹ cũng đã khẳng định chân lý “giặc đến nhà đàn bà cũng (ánh”, nhiều người mẹ đã ưở thành những nữ tướng, những anh thư xả thân
i dân vì nước, đánh đuổi ngoại xâm, làm nên nhừng kỳ tích bất hủ Người
nẹ Việt Nam cũng đã góp sức quan trọng trong quá trình xây dựng đất nước,
lọ có công lớn trong việc kiến tạo nòi giống, dựng làng lập ấp, truyền thụ nến thức, góp công, góp sức xây dựng cuộc sống cộng đồng, sáng tạo văn lóa, phát kiến văn minh, hình thành các ngành nghề Trong cuộc sống, người
nẹ Việt Nam mang những phẩm chất cao quý: trung trinh, tiết hạnh, cần cù,
ám đang, sáng tạo
Trang 800, suy tôn nữ tính và người mẹ, Tín ngưỡng đó bắt nguồn từ chế độ nguyên tủy với những thị tộc mà người đứng đầu là phụ nữ Người chia thức ăn, ĩỊười sinh sản và nuôi lớn cộng đồng trong cả nghĩa đen và nghĩa bóng cũng
éu là nừ Từ đó mà hình thành hệ thống tín ngưỡng thờ mẫu Tam phủ (Mầu Tìiên, Mầu Địa, Mầu Thoải), Tứ phủ (thêm Mầu Thượng Ngàn), ưong đó có
sr xuất hiện của vị mẫu “tối linh chi linh” Liễu Hạnh công chúa Không chi ở ĩỊười Việt, tín ngưỡng thờ mẫu còn giữ vai trò quan trọng ở người Chăm với
\ệc thờ Pô Inư Naga và ở người Khmer với việc thờ Bà Đen, Bà Chúa Xứ Truyền thuyết là ký ức về lịch sử, phản ánh một thời đại đà qua với
om hứng chủ đạo là ngợi ca công đức tổ tiên, liệt thánh của dân tộc Có rất niều truyền thuyết về các đề tài địa danh, lịch sử, Trong đó, nhân vật người
rẹ trong truyền thuyết các dân tộc Việt Nam là một trong những mảng quan tọng, tạo nên những nét đặc thù cho thể loại Truyền thuyết về nhân vật n,ười mẹ chiếm một số lượng khá lớn, khá tiêu biểu cho thể loại, nhưng việc r^iên cứu về hình tượng người mẹ ừong quan hệ với tâm thức mẫu cùa tuyền thuyết Việt Nam chưa được chú ý đúng mức
Đó là những lý do chính thôi thúc chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu
oo bản luận văn này là; **Mổi quan hệ giữa tăm thức mẫu với nhăn vật t^ười mẹ trong truyền thuyết Việt Nam”.
Trang 9tlần tích của 75 vị thần nừ tiêu biểu của nước ta Cách giải trinh, miêu tả ừên bỉớc đầu cho thấy sự hiện diện của một hệ thống truyền thuyết liên quan đến Tấu.
- Nguyễn Minh San với công trình nghiên cứu Những thần nữ danh Htng trong văn hỏa- tin ngưỡng Việt Nam [115] đà giới thiệu một cách chi dit, đầy đủ và khoa học về lai lịch, hành trạng của 17 vị thần nữ danh tiếng qia các thời đại của lịch sử Việt Nam cùng những sự kiện văn hóa- tín Tjưỡng nảy sinh qua sự tôn vinh và phụng thờ cùa nhân dân ta đối với các vị Fan nừ đó Công trình này thực chất chi dừng lại miêu tả các hiện tượng, :nyền thuyết về nừ thần
- Truyện tích và huyền thoại phụ nữ Việt Nam [ 16] của Bảo tàng phụ nừ
Bộ đà kể lại những truyền thuyết về các địa danh mang tên phụ nữ vớiliừng câu chuyện đầy màu sắc huyền thoại, giàu nhân ái được đúc kết lại rực
X lấp lánh như nhừng viên ngọc quý Đó là dòng chảy qua những đồng bằng rau mở mang theo nhừng tên gọi đầy nừ tính, truyền cảm và huyền bí; Hà rên, Sông Lược, đầm Bà Tưòmg, rạch Thị Nghè Những hòn đảo giữa trùng iĩơng sóng vồ vẫn in đậm bóng dáng của nhừng người phụ nữ: Hòn Ngoại líi dựng tượng bà chúa đảo Lê Thị Huyền Trâm- bà tổ nghề yến đã hy sinh; T»n Bà- nơi phát sinh huyền thoại đầy bi thương của một bà phi trước sự }lọn lựa giữa tình riêng và quyền lợi của dân tộc Đó là những ngọn núi đổ img xuống thôn xóm cận sơn cùng những câu chuyện về những người vợ rền miên năm chờ tháng đợi chồng đến hóa đá; đá Bà Rầu, núi Bà Đội Om 2»n có nhừng tên gọi đôi khi chỉ là một ngà ba sông, một cái ao, một cái ỊỈng hay con suối, một ngôi chùa, đền, miếu hay một ngôi mộ được xây sửa dang trang hoặc đã tiêu điều hoang phế, chuyện về những người phụ nừ có hít trong lịch sử văn học đà góp phần mờ đất, giữ nước.,.Cách tiếp cận nặng
Trang 10qiai hệ gỉữa địa danh và các liệt nữ.
- So với những công trình trên, Huỳnh Công Bá trong Cơ sở văn hóa VệìNam [12] đã đi vào hướng học thuật Công trình bàn về tín ngưỡng thờ mỉi như sau: cùng với việc sùng bái sự sinh sản (tín ngưỡng phồn thực), cuộc SƠIỈ nông nghiệp gắn bó con người Việt Nam với các điều kiện tự nhiên, cùiị là các yếu tố tạo nên sự sinh trưởng của vạn vật, đó là ừời, đất, nước, mì}, mưa, sấm, chớp Chúng vốn là những hiện tượng tự nhiên nhưng có súc mạnh to lớn, quyết định sự được mất của mùa màng, cuộc sổng no đủ của cơầ người Song, bằng kinh nghiệm thực tiễn, người ta thấy dường như yếu tố
"cii' có ý nghĩa quyết định trong sự sinh sản, do đó sức mạnh phồn thực được qiy về cho "nguyên lý mẹ" và đà hình thành nên tín ngưỡng thờ mẫu với các dajTam phủ (Mầu Thiên, Mầu Địa, Mầu Thoải), Tứ phủ (thêm Mầu Thượng Nịài) và về sau là sự xuất hiện của Liễu Hạnh công chúa
Ngoài ra có thể tìm thấy những ỷ kiến liên quzm ở những công trình n^ên cứu về văn hóa Việt Nam khác có nhấn mạnh đến tín ngưỡng thờ mẫu Idá phong phú như: Văn hỏa Thảnh Mau của Đặng Văn Lung, Tiếp cận tín ngfrng dân dã Việt Nam của Nguyễn Minh San, Văn hỏa dán gian Việt Nam trtrg bổi cảnh văn hỏa Đông Nam Ả của Đinh Gia Khánh, Văn hỏa tâm linh
củi Nguyễn Đăng Duy, Tim hiểu tín ngưỡng truyền thống Việt Nam của Mai Tlaih Hải, Thảnh mẫu Liễu Hạnh của Phạm Minh Thảo, Mấy tín ngưỡng tôn gũc Đông Nam Á của Trương Sỹ Hùng Những khám phá ưên đà cung cấp ch) người đọc một cái nhìn tổng thể về lĩnh vực văn hóa tâm linh, đặc biệt là nhìng vấn đề liên quan đến tâm thức mầu và tín ngưỡng thờ mẫu ờ nước ta.Những công trình nghiên cứu trực tiếp mối quan hệ giữa tâm thức mẫu vàrrìân vật mẹ cũng chỉ ở mức độ gợi mở như bài Vai trò người phụ nữ khai sáig đất nước và dân tộc trong truyền thuyết dân gian của Trần Gia Linh với
Trang 11viit//a/ Bà Trưng trong văn hóa Việt Nam của Nguyễn Bích Ngọc với cách nhr nhiều chiều về hai nữ anh hùng tiêu biểu của dân tộc; hay Nguyên phi Ỷ Lai- một gương mặt sáng đẹp của Kinh Bắc và lịnh sử của Khúc Nhã Vọng troụ Tạp chí Văn học sổ 3/1994 với những phát hiện mới về một nhân vật rất qien thuộc của cả lịch sử và truyền thuyết đã đưa nhân vật lịch sử ngang với Ọian Âm giữa đời thường.,.
- Phải đến Vũ Ngọc Khánh mới là người đặc biệt quan tâm đến vấn đề nà/, ỏng đã soạn nhiều sách như Tứ bất tử (1990), Vân Cát thần nữ (1990), chì biên Kho tàng thần thoại (1995), chủ nhiệm đề tài Thành hoàng Bắc Bộ
cửi ửy ban Khoa học Xã hội, đặc biệt là đã đề xuất một vấn đề khoa học:
Đtc Thảnh ở Việt Nam (2001) ồng cho rằng: "Đạo Mầu- đạo Tứ phủ là khivnh hướng tín ngưỡng rất có khả năng trở thành một đạo Lý luận là xuất phát từ quan điểm mẹ vũ trụ, mẹ thiên nhiên, mẹ nhân loại rất có ý vị triết hạ' [65, tr 31] Ông cũng là tác giả cuốn Nữ thần và Thánh mẫu Việt Nam
[7 ] trong đó đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn hệ thống, khái quát về ngiõn gốc, sự tích cùa phần lớn các vị nữ thần và thánh mẫu đã và đang được thí phụng ở Việt Nam Theo tác giả, hầu hết, các vị đều là nhừng con người cóthật, những vị nữ anh hùng có công giết giặc ngoại xâm hoặc các bà chúa cìu các làng nghề truyền thống.,.Chi tính riêng nhân vật Liều Hạnh- một troig "tứ bất tử" trong hệ thống điện thần Việt Nam, vị thánh của tín ngưỡng tứphủ mà bản chất là tín ngưỡng thờ mẫu, một tín ngưỡng có cội nguồn lâu
đò và độc đáo của Việt Nam- đà được rất nhiều tác phẩm đề cập đến Theo
Ví Ngọc Khánh, có lẽ Đoàn Thị Điểm là người đầu tiên viết về Liễu Hạnh
Bè Điểm đặt tên truyện của mình là Vân Cát thần nữ truyện. Sau đó có hai tnvén Nôm: Liễu Hạnh công chúa diễn ám (chưa rõ có đúng là Nguyễn Công Trr không) và Ván Cát thần nữ cổ lục diễn âm (khuyết danh) Sang thế kỷ
Trang 12Pho trong cuốn Sự phụng thờ các thần bát tử ở nước Nam. Vào năm 1959, ờ SàGòn có xuất bản cuốn Sự tích Liễu Hạnh công chúa của Trọng Hội Năm
190, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc cho ra đời cuốn Vân Cát nữ thần
(N/.K chủ biên) tập hợp đầy đủ và có hệ thống tư liệu về Chúa Liễu từ trước tớiiay Sự tích Chúa Liễu chép theo dạng truyền thuyết hay cổ tích có khá nhiu Viết bằng chữ Hán, chừ Nôm có các bản thần tích và những cuốn như
Hộ chán biên, Thinh vản dị lục, Sùng Sơn đại chiến sử. Viết bằng chữ quốc ngi có lẽ Phan Ke Bính là người đầu tiên chép truyện Chúa Liễu trong sách
Nai Hải dị nhân. Cuốn Sùng Sơn đại chiến cũng được Lãng Tuyết phiên ra quc ngừ Giữ được sắc thái dân gian hom cả, phải kể đến truyện kể của Ngyễn Đổng Chi trong bộ Kho tàng cổ tích Việt Nam. Một số tác giả người Pho cũng nhắc đến Chúa Liễu trong các cuốn sách sưu tầm Sáng tác về Cha Liễu, trước năm 1945 có tiểu thuyết của Lưu Trọng Lư nhan đề Người nữì của Bà Chúa Liễu. Cùng ra đời với cuốn Tử bất tử có tiểu thuyết Công chu Liễu Hạnh của Vù Ngọc Khánh Viết về Chúa Liều bằng văn vần, phải
kể ến kho tàng văn chầu với một khối lượng lớn Nori nào có đền thờ, điện thcnay phủ thờ Chúa Liễu là nori ấy có văn chầu mẫu Bằng lời văn mộc mạc nôi na, các bài văn đều cố gắng kể lại công đức, thể hiện lòng tôn kính, ngửng mộ đối với Liều Hạnh Chi đơn cử một trường hợp Chúa Liễu, đủ thấ sự quan tâm của các nhà nghiên cứu cũng như dân gian xung quanh vị Thnh mẫu này nói riêng cũng như các Thánh mẫu nói chung
về đề tài Thánh mẫu, do tiếp nhận cách nghiên cứu khoa học của các họcgiả lớn mà chúng ta đã có những bộ tập hợp tư liệu, những hệ thống tài liệi những hệ thống sách mang tính hướng dẫn phương pháp, hoặc các tác phái chuyển thể, phóng tác, kịch bản sân khấu, điện ảnh làm cho thao trưng văn học dân gian khá nhộn nhịp nên đà tác động lớn đến đề tài đi tìm
Trang 13biới Rồi từ khi các thần tích, thần phả được công bố một cách rộng rãi thì có tht kết luận là hầu như khắp nước ta đâu đâu cũng có đền thờ hoặc có nếp sốig tôn thờ Thánh mẫu với những hình thức và nội dung khá đa dạng NKmg tư liệu này là những bằng chứng hùng hồn để nói về sự tích tụ, sự tiêu biéu hóa cùa hàng trăm Thánh mẫu được tôn vinh.
Trong thập niên gần đây, tín ngưỡng thờ mẫu được đặc biệt chú ý ĨDng cuộc hội thảo khoa học dưới góc độ folklore mang tên Thần thoại và tnvển thuyết về Mau Liễu, vấn đề về tín ngưỡng thờ mẫu nói chung và thờ Litu Hạnh nói riêng đã bắt đầu được đưa ra trao đổi Sau đó nhiều sinh viên
và nghiên cứu sinh đã chọn đề tải này để viết luận văn, luận án tốt nghiệp Càig ngày càng xuất hiện nhiều chuyên khảo về mẫu, như: Tam tòa Thảnh mcu, Đạo mẫu ở Việt Nam, Công chúa Liễu Hạnh, Bà Chúa Liễu KầX nhiều vấi đề phức tạp xoay quanh tín ngường này được đưa ra, từ khái niệm, bản chít, nguồn gốc cho đến nghi thức Nội hàm "thờ mẫu" được xác định rộng hẹ? khác nhau Vũ Ngọc Khánh nhắc tới Đạo Mầu như một thứ đạo làm ngrời: thái độ tôn trọng người mẹ Quan niệm hẹp hom, "thờ mẫu' bao gồm viẹ thờ phụng tất cả nữ thần được tôn mẫu như Ỷ Lan, Quốc mẫu Âu Cơ, Đơig xung thiên thần Vương Mầu (mẹ Thánh Gióng) và "thờ mẫu" được coi nhr sự phát triển cao của tục thờ nừ thần Một số nhà nghiên cứu khác xếp và* hệ thống này ngoài thờ Liều Hạnh và triều đình của bà, còn cả việc thờ cúig Thiên Y A Na, Bà Chúa Xứ, Bà Đen, Linh Sơn Thánh mẫu, Bà Chúa Ngọc, Bà Thiên Hậu.,.như những linh tượng được hình thành trên cơ sở giao thca người Việt và các tộc người khác Đặc biệt, có nhiều tác giả lại cho rằng
"tỉử mẫu" đồng nhất với tín ngưỡng Tam phủ, Tứ phủ Nguyên nhân tồn tại vàohát triển của tín ngường được các tác giả phát triển từ nhiều căn nguyên:
từ Iguyên nhân kinh tế xă hội (vai trò của người phụ nữ trong nền sản xuất
Trang 14giai đoạn mẫu hệ đã từng tồn tại trong lịch sử dân tộc), từ quan niệm tâm linh
về rgười phụ nữ (người có khả năng giao cảm với thần linh), đến việc coi đây
là nột hình thức văn hóa bản địa đối ữọng với tư tưởng Nho giáo chính thống vcn xem thường phụ nữ
- Almanack Người mẹ và phái đẹp [98] là một bộ sách bách khoa tri thíc về phụ nữ có thể nói là đầy đủ nhất từ trước đến nay ừên nhiều bình diệr: lịch sử, chính trị, văn hóa, khoa học và các loại hình nghệ thuật: văn hẹc sân khấu, vù đạo, âm nhạc, kiến trúc, hội họa, nhiếp ảnh, điện ảnh và thế gióri tri thức bách khoa cho người phụ nữ đã được ra mắt độc giả Cuốn sách cừig đà tập hợp tương đối đầy đủ chân dung, sự nghiệp của các nữ chính khárh Việt Nam và thế giới, các nữ giáo sư, phó giáo sư, tiến sĩ, nghệ sĩ nhân dân nhà giáo nhân dân, thầy thuốc nhân dân và nữ doanh nhân Đặc biệt, lần đầu tiên, cuốn sách đà tập hợp, giới thiệu được chân dung những người
me, nhừng phụ nữ được phong tặng danh hiệu anh hùng qua hai cuộc kháng chến của dân tộc Cũng ưong cuốn sách này, ngoài hệ thống những tác phẩm
họ lọa lừng danh, vô giá cùa nhân loại thuộc các bảo tàng có tên tuổi trên thế gióri về vẻ đẹp của người phụ nữ còn có 250 bài thơ, gần 200 ca khúc nổi tiảig của Việt Nam và thế giới viết về người mẹ và phái đẹp Đủng như tên
sécì đà đặt, vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp hình thể và vị trí thiên nhiên mà tạo hóa
đà ban tặng cùng thiên chức của người phụ nữ đã được đề cao và khai thác đếi đinh điểm, để từ đó khẳng định và chứng minh một chân lý: không có phụ
nù, chông có nhân loại và cũng không thể có nền văn hóa - văn minh trên trái đấ
Điểm qua một số tác phẩm và công trình nghiên cứu như trên, chúng ta thi> được điểm thống nhất là sự khẳng định vị trí, vai trò người mẹ Việt Nam troụ công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, khẳng định những phẩm chất
Trang 15cao quý của người mẹ Việt Nam; khẳng định có tâm thức mẫu xuyên suốt tru)ền thống văn hóa Việt Nam, được nâng lên thành tín ngưỡng, thậm chí tôn giáo- Đạo Mầu ở Việt Nam.
Những thành tựu trên đã tạo nền tảng lý luận để tham chiếu vào việc khả) sát nhân vật mẹ trong hệ thống truyền thuyết Việt Nam
3 Nục đích nghiên cứu:
- Luận văn hệ thống lại kiểu truyện về truyền thuyết mẫu
- Đề tài luận văn đặt ra nhiệm vụ bước đầu nghiên cứu mối quan hệ giữa tâm thức mẫu với hình tưựng người mẹ ừong truyền thuyết để hiểu rõ hơn mối liên hệ chặt chẽ giữa tín ngưỡng với văn học
4 £ối tượng và phạm vì nghiên cứu:
Đề tài sẽ đi sâu nghiên cứu về hệ thống nhân vật mẹ trong truyền thuyết Việ Nam; đặc điểm kết cấu của truyền thuyết về hình tượng người mẹ; mối quai hệ giữa tâm thức mẫu và hình tượng người mẹ trong truyền thuyết Việt Nan
Phạm vi tư liệu khảo sát: Luận văn sẽ khảo sát tất cả các truyền thuyết dân tộc Kinh (có nhân vật người mẹ, nhân vật đó có thể giữ vai trò chính hay phụ trong tác phẩm); một sổ truyền thuyết của một sổ dân tộc anh em tiêu biểi có cùng biểu hiện trên Ngoài ra chúng tôi cũng quan tâm các tư liệu về tín Igưỡng, tôn giáo, đặc biệt về tín ngưỡng thờ mẫu và đề cao nguyên lý mẹ
để fhục vụ cho luận văn
5 V nghĩa khoa học và thực tiễn:
5.1 Ý nghĩa khoa học:
Trong phạm vi một đề tài khoa học nghiên cứu về "Mổi quan hệ giữa tâm thức mẫu với nhân vật người mẹ trong ưuyền thuyết Việt Nam”, chúng tôi nong muốn góp thêm một hướng nhìn về truyền thuyết Việt Nam thể hiện qua hình tượng người mẹ Luận văn góp phần lý giải mối quan hệ giữa văn
Trang 16hóa - lịch sử và truyền thuyết Qua khảo sát trên, luận văn còn góp phần khẳng định những đặc trung văn hóa vùng miền, văn hóa dân tộc qua hình tượng người mẹ trong truyền thuyết.
5.2 Ỷ nghĩa thực tiễn:
Qua các thao tác nghiên cứu và kết quả nghiên cứu, đề tài có thể hồ trợ thiết thực, giúp cho việc giảng dạy truyền thuyết, giảng dạy lịch sử, cung cấp thêm cứ liệu cho việc biên soạn sách giáo khoa, sách tham khảo khi dạy học văn học dân gian hoặc dạy học lịch sử (những nội dung có liên quan) ở phạm
vi địa phương
6 Phưorng pháp nghiên cúru và nguồn tư liệu nghiên cứu:
6.1 Phương pháp nghiên cứu:
Vận dụng các phương pháp thống kê, phân tích, so sánh để làm nổi bật các khía cạnh cùa vấn đề
6.2 Nguồn tư iiệu nghiên cứu:
Sử dụng nguồn tư liệu từ truyền thuyết dân tộc Kinh và một số dân tộc thiểu số ờ Việt Nam: Thái, Mường, Ê-đê, Chàm, Khơ-me, Hoa và các tư liệu lịch sử, văn hóa có liên quan để khảo sát, tìm hiểu, lý giải vấn đề
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn được chia làm ba chương:
Chương một: Hình tượng mẹ với đời sống tín ngưỡng của người Việt cô.
Hình tượng mẫu là một trong những biếu hiện rõ nét nhất đặc thù văn hóa tàm linh của người Việt và tâm thức mẫu đi sâu chi phối các lĩnh vực hoạt động tinh thần người Việt Trong chương một, chủng tôi đi vào tìm hiểu khải quát cội nguồn tâm thức mẫu ở người Việt đặc biệt là các tin ngưỡng Việt cổ(như tục thờ mẫu ) và sự chuyển hóa từ tín ngưỡng thờ mẫu sang các
Trang 17lĩnh vực hoạt động tinh thần khác Tư tưởng mẫu cũng đã hóa thán vào các kiểu nhàn vật mẹ trong truyền thuyết Việt Nam và là cơ sở khảo sát hình tượng này ở chương sau.
Chương hai: Mối quan hệ giữa tâm thức mẫu vói nhân vật người mẹ trong truyền thuyết Việt Nam.
Nhiệm vụ của chương hai là đi sâu tìm hiểu mối quan hệ giữa tám thức mẫu với nhân vật người mẹ trong truyền thuyết Chủ trọng xác lập tiêu chỉ tâm thức mẫu, cốt lôi của tâm thức mẫu; từ đỏ quy chiếu vào việc xây dựng hình tượng người mẹ trong truyền thuyết Việt Nam.
Chương ba: Một số đặc điểm thi pháp của kiểu truyền thuyết về nhân vật người mẹ.
Chương ba có nhiệm vụ tìm hiếu một số đặc điếm thi pháp của truyền thuyết về nhân vật người mẹ, về kiếu kết cẩu, bước đầu tìm hiểu thời gian, không gian, yểu tố hiện thực và yếu tố thần kỳ trong truyền thuyết về mẹ Từ
đó cỏ cải nhìn tổng thế về những đặc sắc trong cách thức xây dựng truyền thuyết về mẹ.
Trang 18HÌNH TƯỢNG MẸ VỚI ĐỜI SỐNG TÍN NGƯỠNG
CỦA NGƯỜI VIỆT CÒ
1.1 Tín ngưỡng thờ mẫu:
1.1.1 Nguồn gốc:
Xuất phát từ quan niệm mẹ sinh đã hình thành tín ngưỡng thờ mẫu Thờ mẫu là tôn thờ hình tượng mẹ đầy quyền năng, bao trùm cả bốn miền của vũ trụ, cội nguồn của sự sống con người, cội nguồn dân tộc, là cứu cánh của nhân quần, mang lại cho con người sức khỏe, tài lộc và hơn thế nừa, trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, mẫu và những hóa thân của mẫu đã thấm nhuần một tình yêu quê hương đất nước sâu nặng Những ý niệm thiêng liêng về mẫu lúc đầu nhu là những nhiên thần cây, đất, nước, trời (Mầu Thiên, Mầu Địa, Mầu Thoải, Mầu Thượng Ngàn); về sau nhân mẫu (Liều Hạnh) xuất hiện, tín ngưỡng thờ mẫu đạt đến sự hoàn chỉnh về triết lý sáng tạo, đó là Tam tòa - Tứ phủ, bằng cách thể hiện nguyên lý âm dương ngũ hành Đó là tư duy thần thoại gắn với tư duy triết học được tái hiện lại ở thời mạt kỳ phong kiến nước ta Cũng theo ý niệm của người phương Đông, sự tồn tại của vũ trụ được quyết định bởi ba thành tố thiên, địa, nhân (tam tài) về sau phát triển thêm các điều kiện cho sự sống là nước và cây (lương thực) và chính người mẹ đã sinh ra sự sống đó Thờ mẫu là một nét đẹp trong văn hóa tâm linh người Việt Tục thờ mẫu phổ biến không chỉ ở người Kinh (chiếm 85% dân số Việt Nam), không chỉ phổ biến rộng rãi ở các đền, phủ, miếu, đình mà còn lan tỏa đến nhiều tộc người khác, sống xen kẽ hoặc cùng lãnh thổ quốc gia
Trang 19Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thờ mẫu thể hiện triết lý âm sinh Nảy
nờ trên một miền đất rộng lớn nhiều đòri trồng cây lúa nước, chịu ảnh hưởng quyết định của gió mùa hàng năm cho nên ở đó, cả đất và nước đều là những yếu tố cơ bản quyết định đời sống kinh tế xã hội, và từ đấy, cư dân dần dần đắp dựng cho mình một triết lý âm sinh, đất và nước đều do mẹ mà có, đều do
mẹ bồi đắp mà nên:''quê cha, đất mẹ” Hiện tượng tôn thờ giới nữ phản ánh vai trò của người mẹ được coi trọng trong đời sống sản xuất cũng như trong
xà hội Đó chính là dư ảnh, hoặc có nơi chính là bản thân chế độ mẫu hệ tồn tại dai dẳng ừong đời sống các dân tộc
Thờ mẫu có cội nguồn bản địa, có thể là tín ngưỡng sớm nhất của người Việt trước khi du nhập tam giáo Phật, Nho, Đạo Có thể xem đây là một tôn giáo hoàn hảo Các vị thần trong đạo mẫu rất phong phú Có thể là tổ tiên loài người như Mẹ Âu Cơ, Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lửa; có thể là các vị tối cao được coi trọng trong hệ thống quan trường- Vương mẫu, Quốc mẫu, Có thể là các
vị anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng , Có thể là những vị thần thiên nhiên bảo vệ con người như Bà Chúa Thượng Ngàn Trên cả ba miền Bắc, Trung, Nam cùa đất nước, tục thờ mẫu khá phổ biến Đen nay, có hơn 250 di tích thờ cúng các nữ thần, trong đó số đông được gọi là mẫu- Thánh mẫu, Vương mẫu, Quốc mẫu ỏ miền Bắc, phổ biến là Mầu Liễu Hạnh (còn gọi là Vân Cát thần nừ, có khi được coi là hóa thân cùa Mầu Thượng Thiên); ở miền Trung
là Thánh mẫu Thiên Y A Na (Khải Định tôn là Tiên Thiên Thánh mẫu); ở miền Nam là Bà Đen, Muk Juk (Bảo Đại phong là Linh Sơn Thánh mẫu), là
Bà Chúa Xứ (còn gọi là Bà Chúa Sam, Chúa Động, Chúa Hòn) Ngoài ra, còn
vô số di tích thờ Bà Nừ Oa, Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lừa, Bà Chúa Ngọc, Bà Chúa Sắt, Bà Thủy, Bà Hỏa, Bà Ngũ Hành Nương Nương, Cửu Thiên Huyền
Nữ, Bà Chúa Dâu; các bà mẹ, vợ vua như Ỷ Lan, Quốc mẫu Thái phu nhân,
Bà Chúa Kho
Trang 20Các nữ thần, thánh mẫu Việt Nam, ngoài những sự tích được lưu truyền trong dân gian, có một sổ lớn được ghi chép trong các thần phả, thần tích ở các làng Nhừng thần tích này, phần lớn được các nho thần, các vị quan bộ Lễ các triều đại ghi chép lại dưới dạng ngọc phả Theo Vũ Ngọc Khánh: “Nước
ta có đến trên 500 bản ngọc phả, thần tích ghi chép các nữ thần, thánh mẫu của gần ba ngàn thôn làng phần lớn ở miền Bắc và miền Trung” [71; tr.77]
Trên cơ sờ đó, chúng tôi phân loại các mẫu như sau:
* Phân loại theo gốc gác của thần:
+ Những mẫu gốc là nhiên thần:
Có thể kể đến trong nhóm này là Thần núi Tam Đảo (được phong là Tam Đảo Sơn trụ Quốc mẫu Thái phu nhân chi thần), Thần núi Bà Đen ở Tây Ninh (được phong là Linh Sơn Thánh mẫu), Thần Nước (Thánh mẫu Thoải Phủ), Thần Rừng (Thượng Ngàn Thánh mẫu), Thần Đất (Địa Mầu), Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc
+ Những mẫu gốc là nhân thần: có hai loại, thử nhất là những mẫu có gốc là nhừng nhân vật huyền thoại như Bà Âu Cơ, Công chúa Liễu Hạnh, bà
mẹ của Phù Đổng Thiên Vương ; thứ hai là những mẫu vốn là những nhân vật lịch sử có thực như Ỷ Lan Hoàng Thái hậu (đời Lý), bà Bích Châu (đời Trần), bà Phạm Thị Ngọc Trần Hoàng hậu (đời Lê)
* Phân loại theo tước hiệu:
+ Tước hiệu VưoTig mẫu: như bà mẹ Thánh Gióng, tước hiệu là Đổng xung Thiên thần Vương mẫu
+ Tước hiệu Quốc mẫu: như mẹ Âu Cơ, bà Phạm Thị Ngọc Trần- hoàng hậu, vợ cả vua Lê Thái Tổ, Hoàng hậu vua Tống Độ Tông (Trung Quốc), Diệp phu nhân, Thần núi Tam Đảo, năm bà Quốc mẫu vô danh thời
Trang 21Lê Lợi [98; tr.237], Linh Từ Quốc mẫu Trần Thị Dung (mẹ Lý Chiêu Hoàng)
+ Tước hiệu Thánh mẫu: như bà Hoàng thái hậu họ Đỗ- mẹ vua Lý Thần Tông; bà Ỷ Lan- nguyên phi vua Lê Thánh Tông; bà Ngọc Chi- vợ một viên quan huyện dưới thời cai trị của Tô Định; Thánh mẫu Liễu Hạnh; Thiên Hậu Thánh mẫu; nàng Vù Thị Thiết; Thánh mẫu Thiên Y A Na; Linh Sơn Thánh mẫu; Tháiứi mẫu Chu Khố đại vương (bảo vệ kho tàng thời Trần); Loan Nương Thánh mẫu- mẫu Kỳ Anh (Nguyễn Thị Bích Châu- phi của vua Trần Duệ Tông), Tứ vị Thánh Nương, Tứ vị Hồng Nương, Thánh bà Lâu Li
Ni, Nừ thánh Ngọc Hoa, Quang Thục Thánh mẫu
1.2 Sự chuyển hóa từ tín ngưỡng mẫu sang các lĩnh vực hoạt động tinh thần.
1.2.1 Tâm thức mẫu của người Việt trong các lĩnh vực sinh hoạt xã hội
Tim hiểu các lĩnh vực hoạt động tinh thần của người Việt, ta thấy rõ ràng tâm thức mầu - đề cao nừ tính và người mẹ - hiện hữu trên nhiều lĩnh vực và gửi gắm những ý nghĩa sâu sắc
về ngôn ngừ, trong một số ngôn ngữ thế giới, mạo từ (Article) đứng trước một số danh từ biểu hiện giống (đực, cải) của danh từ đó Trong tiếng Việt, hầu hết danh từ đều có mạo từ “con” và “cá/” Nhiều danh từ chẳng hề có giới tính vẫn được gán chữ “cái” ờ trước; cái bàn, cái ghế, cái nhà, cái cửa Ngoài mạo
từ, chữ “cải ” còn được dùng như một tính từ để chỉ những gì có vẻ lớn, quan ữọng, chính, trung tâm, như con sông lớn gọi là sông cái, đường lớn gọi là đường cái, cửa lớn gọi là cửa cái Trong con người, ngón tay lớn là tay cái, ngón chân lớn là chân cái Trong một ừò chơi, người làm chủ gọi là người cầm cái, trong một tô canh phần xác gọi là phần cái, đối lại với nước Ngoài
Trang 22chừ “cá/”còn có những chữ liên quan đến nữ tính như chừ "mẹ”, chừ "bà"
Con bướm to thì gọi là bướm bà, cặp đồ vật một lớn một nhỏ thì cái lớn gọi là
mẹ, cái nhỏ gọi là con (chứ không gọi cha con) Tóm lại, tâm thức mẫu đã ăn sâu vào ngôn ngữ tiếng Việt một cách phổ cập chứ không phải chỉ là những dấu vết còn sót lại, vì thế rất dễ dàng tìm thấy trong mọi lĩnh vực ngôn ngừ thời đại
Sự sản sinh ra các loại hình nghệ thuật, nghề nghiệp, phần nhiều vẫn do phụ nữ đảm nhiệm Nghề ươm tơ dệt vải là một nghề truyền thống lâu đời nhất ở Việt Nam, có thể có cùng lúc với nghề cấy lúa Thủy tổ của nghề này là một người phụ nữ [120; tr.24] , Ngay cả nghề mộc cũng do một người nữ chỉ dạy Việc làm nhà do nừ thần mộc dạy cho Tương truyền có một bà lão trà trộn trong dân gian Một hôm mọi người ra bờ suối tắm, bà thần chỉ một cây dứa dại, bứt một lá dứa gai cứa vào chân rách da Hai anh em Lộ Ban và Lộ Bốc tinh ý bắt chước làm ra cái cưa xẻ gỗ, hôm khác bà đúng thẳng chống hai tay vào hông, hai anh em Lộ Ban theo đó mà chế ra kiểu nhà đầu tiên của người Việt Nam có cột chính giừa, hai đầu kèo hai bên, gọi là nhà chừ đinh Nữ thần còn dạy cách làm thuyền, bà nằm ngửa cong người lên, hai anh em Lộ Ban học theo lấy gồ đục thành thân ghe [144; tr.544]
về nghệ thuật sâu khấu, hát quan họ được xem như đậc trưng của Việt Nam và có truyền diống lâu đời hơn hát bộ miền Trung và cải lương miền Nam (vừa vinh dự được Unesco công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại ngày 1/10/2009) Người sản sinh ra hát quan họ, dù có nhiều truyền thuyết nhưng phổ biến nhất vẫn là phụ nữ Chuyện kể rằng, lúc chúa Trịnh ữên đường kinh lý gặp một cô gái hái củi trên núi Chè cất tiếng hát:
Tay cầm bản nguyệt xênh xang, Bao nhiêu cây cỏ lai hàng theo ta!
Trang 23Chúa Trịnh cảm phục người đẹp có khí phách anh hùng bèn lấy làm vợ, gọi
là bà chúa Chè (túc bà Đặng Thị Huệ). Câu hát hay làm cho quan phải dừng lại (họ) nên gọi là quan họ Các chuyện về truyền thuyết này còn được nhiều vùng kể lại nhưng thời gian được đẩy tới trước rất xa, tận thời Lý Công uẩn, và hầu hết đều cho rằng do Vua Bà sinh ra quan họ [120; tr.l39] Có thể là ngẫu nhiên nhưng sự góp mặt của vai trò mẹ trong tổ nghề hát này càng khắc thêm vào tâm thức mẫu của dân tộc
Trong truyền thuyết, nhiều nhân vật lịch sử là phụ nữ Việt Nam rất được tôn sùng Người phụ nừ đầu tiên dựng cờ khởi nghĩa chống giặc ngoại xâm là Trưng Trắc, Trưng Nhị Sau đó là Triệu Thị Trinh Các nhân vật này đều được xưng là Vua Bà Đời Trần có Ỷ Lan phu nhân được xem như một nhân vật nữ được ưa chuộng nhất Bùi Thị Xuân, E)oàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương, tên tuổi của họ cùng đứng ngang hàng với các đấng mày râu trong văn học sử Thậm chí
về giai thoại còn có nhiều điều nổi trội hơn đàn ông Khi ý thức hệ Trung Hoa trờ thành chủ nghĩa độc tôn ờ Việt Nam, từ thời Lê về sau, xem phụ nữ chỉ là kẻ yếu hèn thì bị ngay sự phản kháng mãnh liệt trong dân gian:
"Ba đồng một mở đàn ông, Mua bỏ vào lồng cho kiến nó tha
Ba trăm một mụ đàn bà Mua về mà trài chiểu hoa cho ngồi! ”
Hay: "Mười người đàn ông không bằng cải mông một người đàn bà
Trang 24Tục ngừ ca dao lchông ứiể tồn tại nếu tư tưởng đó không được chấp nhận, cho nên tính chất âm lấn lướt dương trong văn hóa Việt Nam được thể hiện rất rõ nét.
Trong đời sống tín ngưòmg của người Việt từ xưa, như trên đã nói, có lẽ ít
có một dân tộc nào có đối tượng túi ngưỡng là phụ nữ nhiều như ở Việt Nam Đi suốt từ Bắc chí Nam, gần như ờ địa phương nào cũng có đền thờ Bà hoặc Cô Đầu tiên phải kể đến hệ thống Tứ Pháp ở miền Bắc thờ Bà Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện Sau đó là Cửu Thiên Huyền Nữ, đến Bà Chúa Liễu Hạnh, Diêu Trì Thánh mẫu, Bà Chúa Ba, Bà Dâu, Bà Đậu, Bà Tướng, Bà Dàn, Bà Đá,
Bà Đanh ỏ Huế, Nha Trang, người ta thờ Bà Thiên Y Ana ờ Sài Gòn, người
ta thờ Ngũ hành Nương Nương, rồi Bà Đen ở Tây Ninh, Bà Chúa Xú ờ Châu Đốc Các Bà ờ đây đều là nhùng biểu tượng linh thiêng nên không phải là những cô gái trẻ đẹp mà là những người lớn tuổi, có quyền uy, phẩm hạnh, có năng lực làm cho mùa màng tươi tốt, giúp cho các gia đình con đàn cháu đống, hay ban phát ân đức cho những gia đình hiếm muộn Với một nền văn hóa nông nghiệp thuần túy, hiện tượng này cũng dề hiểu Đối với ngư nghiệp, người ta cũng có đối tượng tôn thờ, như ở Long Hải (Bà Rịa- Vũng Tàu) có Dinh Cô lễ hội hàng năm thu hút hàng chục ngàn khách thập phương và ngư dân hành nghề biển Nếu đến phủ Tây Hồ (Hà Nội) để chiêm bái nghi thức cúng Bà Chúa Liễu, hay chứng kiến các lề hội núi Bà E)en (Tây Ninh), Bà Chúa Xứ (An Giang) ,
ta sè cảm nhận được hết những tín ngưõng của người dân đối với các Bà lớn lao như thế nào
Thật ra, ngưòri Việt Nam xem tất cả các thần linh là các Bà, khuynh hướng
đề cao nữ tính ấy hoàn toàn phù hợp với nền văn minh nông nghiệp sau khi đã kết hợp nhuần nhuyễn triết lý âm dương, ở buổi sơ khai ta gặp hàng loạt những
nữ thần: Bà Trời, Mẹ Đất, Bả Hỏa, Mây Mưa, sấm Sét, Tam phủ, Tứ
- - - • ^ /jO-CHi-MlNh I
Trang 25phủ, mười hai bà mụ v.v Giai đoạn ứiứ hai các bà đã có một vị trí linh thiêng trong lòng người dân, tất cà đều xem các bà như mẹ, đến nỗi có người đã nâng tín ngưỡng này lên thành tôn giáo và gọi là Đạo Mầu [126].
Từ nền tảng đó, bất kỳ một tín ngường ngoại nhập nào vào đến Việt Nam đều được bản địa hóa và thành tín ngưỡng Việt Bồ tát Quan Thế Âm trờ thành Phật Bà cũng từ lý do đó Trái lại, đôi khi những nhân vật lịch sử sau khi chết, có một vài biểu hiện linh ứng cũng được dân gian nâng lên hàng Quan Âm Bồ tát
Ta hãy xét hai nhân vật biểu trưng cho hai khuynh hướng này Đó là Bà Chúa Liều Hạnh và Bà Chúa Ba Liều Hạnh vốn là con gái quê ở làng Vân Cát (Vụ Bản, Hà Nam) Truyền thuyết nói ràng bà là công chúa con tròn đà từ bỏ cuộc sống thiên đàng, xin vua cha cho xuống trần để sống đời bình dị với khát vọng tự
do, hạnh phúc Bà sinh năm 1557, tức đúng vào thời Lê, thôn đại Nho giáo độc tôn Đây không phải là sự ngẫu nhiên, vì thời ấy vai trò người phụ nừ Việt Nam
bị xâm phạm nghiêm trọng Sự phản kháng của Liễu Hạnh khiến nhà vua (đại diện cho thế lực Nho giáo cầm quyền) phải lùi bước trước Phật Bà đại diện của Phật giáo quần chúng Sau khi bà chết, dân chúng tôn xưng bà là Thánh mẫu và gọi một cách dân dã là Bà Chúa Liễu Từ đó, đền, miếu, phủ thờ Liễu Hạnh mọc lên khẳp nơi Vai trò Thánh mẫu Liễu Hạnh lớn đến nỗi vào thời Nguyễn, vua Đồng Khánh phải tự nguyện xin làm đệ tử thứ 7 cùa bà tại điện Hòn Chén, Huế [71; tr.l32] Còn Bà Chúa Ba, vốn là con vua Diệu Trang Vương Với lòng hiếu thảo, từ bi, đã được Ngọc Hoàng thượng đế phong là Quan Thế Âm Bồ tát,
có nghìn mắt nghìn tay ngồi trên tòa sen coi giữ, phù hộ chúng sinh [71; tr.215] Cuộc sống nông nghiệp coi trọng yếu tố Đất- Mẹ, Yếu tố âm Đất- Mẹ thống nhất và đối lập với yếu tổ dương Trời- Cha Trong tâm thức tín ngưỡng- tôn giáo của người Việt, chúng ta rất dễ gặp vai trò bà mẹ, vị trí của yếu tố nữ-
âm tính Cho nên, hình tượng nừ ẩn sâu và mạnh mẽ trong hầu hết tín
Trang 26ngường- tôn giáo, cho dù đó là tín ngường dân dã hay đã có tổ chức, là tôn giáo nội sinh hay từ nước khác đưa vào, Vód đạo Phật, tâm thức mẫu có sức lan truyền mạnh tới mức, mặc dù Phật giáo hiện diện ở Việt Nam từ thế kỷ III trước công nguyên, nhưng "tiền Thánh, hậu Phật", nghĩa là, trước lề Thánh, sau lề Phật Thánh mẫu ngự vào khuôn viên chùa Việt Nam dường như là một kết cấu thống nhất từ Bắc đến Nam Nấu vì một lý do nào đó, chùa nào chưa
có nhà (hay gian) thờ mẫu riêng ngay cạnh lối đi ưong cổng chùa, thì các vị
sư trụ trì cũng như các đệ tử và nhân dân quanh vùng đều ý thức phải cố công xây dựng, càng sớm càng tốt Còn thông thưòmg thì nơi thờ mẫu được thi công đồng thời lúc làm chùa Mầu cũng nhập thân vàọ Phật đài, để nhiều hình tượng chư Phật, Bồ Tát mang nữ tính Quan Âm trong Phật giáo Án Độ là nam thần, sang đến Việt Nam bị "Mầu hóa" biến thành "Phật Bà Quan Âm" Trong rất nhiều đền chùa, ông sư nước Ân Độ A- va- lo- ki- te-sva-ra da đen bóng láng, mắt nâu, râu rậm được biến thành ra hình tượng Quan Thế Âm Bồ tát- một bà thánh mẫu da trắng, hiền lành phúc hậu, có lúc lại mọc ra nghìn mắt nghìn tay, Rõ ràng, hình tượng của mẫu được nuôi dưỡng mạnh mẽ trong tâm hồn Việt, để ngay như các tượng Phật và Bồ tát trên chính điện của các chùa cùng hóa thân dần sang dạng nừ, trong đó nổi nhất là Quan Âm Quan
Âm là một vị Bồ tát Phật giáo với những công hạnh từ bi nhẫn nhục Khi tứi ngưỡng này du nhập Việt Nam, người Việt lại sáng tạo ra một Quan Âm Việt Nam với đầy đủ sự tích tu hành, thành đạo Đó là Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Phật Bà Chùa Hương (Bà Chúa Ba), Quan Âm Diệu Thiện E)ức nhẫn nhục, một trong sáu Ba-la-mật cùa Bồ tát đà được người dân Việt Nam đón nhận một cách triệt để, đến nỗi có thể trở thành một công hạnh đặc thù về Quan Âm
mà ta có thể chép ngược trở lại vào tam tạng kinh điển Phật giáo mà không cỏ gì phải băn khoăn qua hình ảnh Quan Âm Thị Kính Đành rằng đó là tín ngưỡng dân gian, nhưng ai dám phủ nhận tính bác học ữong khả năng sáng tạo của
Trang 27người Việt? về sự tích của vị Quan Âm này không chì được cô đọng dưới dạng truyền thuyết mà còn được dân gian soạn thành tuồng, hát quan họ, chèo, cải lương, truyện tranh, kể cả nghệ thuật điêu khắc, hội họa, âm nhạc, thi ca, đâu đâu cùng thấy nói về Quan Âm, đâu đâu cũng thấy hình tượng Quan Âm, Quan Âm
tử trúc, Quan Âm ngàn tay ngàn mắt, Quan Âm đứng, nằm, ngồi, đi trên mây, ừên đầu rồng giữa biển
Với Thiên chúa giáo, vốn từ thời nguyên thủy chỉ thờ Giê- su Ki-tô, vào Việt Nam, phải suy tôn rất cao Đức Mẹ Ma-ri-a Như trong các dịp Tam nhật đại lễ suy tôn Đức Mẹ hiện hình ở La Vang- Quảng Trị, gần đây xuất hiện khuynh hướng muốn tổ chức thật linh đình cuộc hành hương hàng năm
về Trung tâm Thánh mẫu bên cạnh Vương Cung thánh đường La Vang Nghi thức rước lễ hay hình tượng Đức Bà quấn khăn kiểu Nam Phương hoàng hậu
là nhừng chi tiết rất đáng chú ý Nhưng đáng quan tâm hơn là nhiều giáo sĩ và giáo dân cho răng việc "vận dụng" tâm linh thờ Mầu của tín ngường dân gian vào việc viếng Đức Mẹ, việc quá sùng bái Đức Mẹ đâ làm mờ nhạt hẳn hình ành Thiên Chúa ba ngôi, thậm chí đi ngược lại với tín- giáo lý cơ bản của Công giáo là "chỉ tin thờ một Đức Chúa Lời và chỉ một Chúa mà thôi"
Một minh chứng khác cũng rất thú vị là ờ điện thờ Bà Chúa Xứ ở Châu Đốc- An Giang, pho tượng được xem là tượng Bà nằm ở vị trí trung tâm điện thờ, chính là sản phẩm của quá trình tích hợp của hai lớp văn hóa: lớp văn hóa
cổ hơn là phần cốt tượng người đàn ông bằng đá được tạc ở tư thế ngồi; lớp văn hóa của người Việt chỉ là là phần trang phục và những lớp sơn kẻ vẽ nhàm xóa đi nhừng nét đàn ông cơ bắp của pho tượng để tạo nên một linh tượng mới- Bà Chúa Xứ Xung quanh pho tượng này, người dân Việt đã sáng tạo nên nhiều truyền thuyết với nhùng tình tiết ly kỳ, huyền bí Nhưng, dưới lớp vỏ huyền bí ấy vẫn ẩn chứa một hạt nhân hợp lý phản ánh hệ thống quan
Trang 28niệm của người Việt về thế giới siêu nhiên Tương truyền có một đối tượng không thể nào khiêng nổi pho tượng Bà, đó là nam giới, dù cho có tập trung hàng trăm trai tráng Chi duy có một đối tượng có thể khiêng nổi, đó là các cô gái đồng trinh đã tắm gội sạch sẽ Chi tiết này nói lên điều gì? Có thể cảm nhận một điều là, theo cảm quan dân gian, một linh tượng thờ tuy có hình có khối đấy, nhưng đó chỉ là cái bóng, là vật hiện hữu Cái cốt lõi của vấn đề không nằm ở vật thể hiện hữu có thể cân, đo, đong, đếm mà thuộc yếu tổ tinh thần Nghĩa là, nó tuy là vật cụ thể nhưng cũng lại không phải là vật cụ thể, không cân, đo, đong, đếm được Do vậy, việc khiêng hoặc nhấc, di chuyển một linh tượng thờ- vật chất không bình thường này không thể dùng sức mạnh vật chất bình thường, không thể là việc giải quyết bằng sức mạnh cơ bắp mà
là ờ khía cạnh khác- khía cạnh tâm linh, cốt tượng Bà vốn là pho tượng đàn ông Theo tư duy dân gian, đàn ông được quan niệm mang dương tính, Do vậy, đàn ông không thể nào khiêng được pho tượng đàn ông Còn phụ nữ, họ mang tính âm, nhất là các cô gái đồng trinh trong sạch, chưa có sự gần gũi dương tính bao giờ thì có nghĩa là tính âm mạnh nhất Âm đi với dương thì dẫn đến việc hút nhau Do vậy mà chỉ có những cô gái đồng trinh mang một tập hợp âm tính mạnh nhất thì mới có thể nâng được pho tượng đàn ông là hoàn toàn phù hợp với triết lý dân gian Như vậy, trong tâm thức của ngưòri Việt cổ, yếu tố âm- mẹ luôn bao trùm và mang tính chất chi phối, cho nên ưong lĩnh vực tín ngưỡng và tạo hình, nhiều thần linh, cho dù mang tín ngưỡng nào đi chăng nừa cũng dễ được nừ hóa để mang tư cách như hóa thân của mẹ Như thế, người mẹ vũ trụ của dân Việt là nguồn sống vĩnh hằng, nguồn của cải vô lượng vô biên, là sự hội tụ của chư vị thần linh, người có thể phân thân ứng hóa cho hạnh phúc liên tục của bầy con
Khảo qua vài nét như vậy cho thấy, hình tượng mẹ hiện hữu trên nhiều lĩnh vực, quy hợp thành một biểu tượng mang tính nữ khá đậm đặc Nó đan
Trang 29xen vào nhau vừa là nguyên nhân, vừa là kết quả tạo thành một thể đồng nhất
Đi xa hom một chút sê thấy sự chi phối của tâm thức này ảnh hường đến các hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật đặc biệt là trong văn học
1.2.2 Hình tưựng mẫu xuất hiện trong văn học:
Có thể nói văn học Việt Nam đã thể hiện hình tượng người phụ nữ rất đặc sắc và đầy đủ Đây còn được coi là kết tinh của một nền văn hóa luôn luôn tôn trọng người phụ nữ Nền văn học Việt Nam trong quá trình phát triển của mình đã thể hiện nguyên lý tính mẫu dù rằng mỗi giai đoạn, mỗi thời kỳ, nguyên lý ấy có những biểu hiện khác nhau nhưng quan trọng nhất, điều đó bắt nguồn từ truyền thống đề cao người phụ nữ Nó chi phổi cảm hứng nghệ thuật của văn nghệ sỹ, có khi chỉ biểu hiện qua bút pháp, có khi thể hiện bằng
đề tài Chẳng hạn tác phẩm Mầu Thượng Ngàn của nhà văn Nguyễn Xuân Khánh [74] đã thể hiện vẻ đẹp của tín ngưỡng thờ mẫu thông qua cuộc sống thường ngày giản dị của những người phụ nừ mềm yếu ở một làng quê nghèo miền Bắc trong những năm đầu thế kỷ XX Trước hết, có thể nói rằng đây là cuốn tiểu thuyết có giá trị, nhất là khi nhà văn đã thể hiện một cách độc đáo những nét đặc sắc về tín ngưỡng, phong tục tập quán của nền văn hóa Việt Cũng có thể coi đây là một hướng đi mới của thể loại tiểu thuyết, bởi khi đề cập tới những giá trị về mặt văn hóa phong tục sẽ rất dễ dàng tạo nên cho tác phẩm một sức sống lâu bền trong nền văn học dân tộc Cuốn tiểu thuyết này cũng là bước phát triển tiếp theo cho việc thể hiện hình tượng và hơn thế nữa, tác phẩm đã thể hiện sâu sắc nhất “nguyên lý tính mẫu” của nền văn hóa dân tộc Tuy nhiên, chỉ khi ngưòá phụ nữ ý thức được bản năng mạnh mẽ của chính mình, ở một khía cạnh nào đó, nó đà giúp những người phụ nữ dần dần bước ra khỏi những rào cản và quan niệm có tính chất kìm hãm sự phát triển bản năng Mặt khác, với thể loại tiểu thuyết, đặc biệt là với tác phẩm Mau Thượng Ngàn, nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đã thể hiện bản năng mạnh mẽ
Trang 30của người phụ nữ, đồng thời phát triển thêm cho hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam, nói cách khác, đã kết hợp ý thức tôn giáo và bản năng của những người phụ nữ Có thể nói, với Mầu Thượng Ngàn, người phụ
nữ đã được “tôn giáo hóa” (nhìn nhận người phụ nữ dưới góc độ văn hóa tâm linh mà cụ thể là dưới ánh sáng của tín ngưỡng thờ mẫu- một tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam) Đây không chỉ là sự sáng tạo độc đáo của nhà văn
mà hom thế nừa còn thể hiện một hướng đi mới cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Người phụ nữ ưong Mau Thượng Ngàn được nhìn từ góc độ tâm linh, họ vừa mạnh mẽ, vừa dịu dàng Họ có sức mạnh chiến thắng tất cả nhưng lại vẫn cần một sự chở che nâng đỡ từ những người đàn ông, từ sức mạnh vô hình nhưng đầy uy lực của cổ Mầu Ta có cảm giác, nếu như Thánh mẫu trong văn hóa Việt Nam đã xuất hiện thế nào, đã hành động ra sao thì giờ đây, tất cả nhừng người phụ nừ trong cuốn tiểu thuyết cũng có thể có những hành động như thế Tất nhiên ở đây không đề cập đến nhừng yếu tố có tính chất thần kỳ
từ Tam tòa Thánh mầu của nền văn hóa Việt Nam Từ những đặc điểm này, chúng ta có thể thấy những biểu hiện của nguyên lý tính mẫu ữong văn học Việt Nam Nó có bước phát triển rõ nét từ những phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ đến việc thể hiện ý thức về bản năng, về tôn giáo của những người phụ nữ Như vậy, có thể nói cơ sở của “nguyên lý tính mẫu” trong tiểu thuyết
Mầu Thượng Ngàn là nền văn hóa bản địa của Việt Nam- văn hóa Thánh mẫu- đã tồn tại trong tiềm thức của người Việt Nam từ bao đời nay Tất cả là truyền thống văn hóa, là truyền thống tôn trọng người phụ nữ, đề cao người phụ nừ của dân tộc Việt Nam Truyền thống văn học Việt Nam cùng đã thể hiện điều đó như là một sự bổ sung cho việc đề cao yếu tố thiên tính nữ của nền văn hóa nước nhà Mau Thượng Ngàn của Nguyễn Xuân Khánh cũng thể hiện điều đó nhưng dưới góc độ tôn giáo Nhà văn đã luôn luôn xây dựng so sánh những người phụ nữ bình thường, lam lũ trong tác phẩm (bà Tổ Cô, cô
Trang 31Mùi, Nhụ, mõ Pháo ) với “nguyên lý tính mẫu” của nền văn hóa Việt với những đặc điểm duy trì, bảo tồn, tái sinh và phát triển Những công việc mà chỉ có người phụ nữ với bản năng làm vợ, làm mẹ mới có thể thực hiện được Đây cũng là giá trị kết tinh của nền văn hóa Việt đã được nhà văn lựa chọn và gửi gắm vào trong tác phẩm của mình Từ đó, một tín ngưỡng bản địa của người Việt đã được thể hiện và đặc biệt có thể khẳng định được sức sống bất diệt của mình trước những cuộc xâm lăng của văn hóa nước ngoài
Có thể coi đây chính là tác phẩm văn học hiện đại thể hiện sâu đậm nhất, thành công nhất “nguyên lý tính mẫu” trong văn học giai đoạn hiện nay
Những biểu hiện của “nguyên lý tính mẫu” trong truyền thống văn học Việt Nam không phải ở thời kỳ nào cũng giống nhau Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước của người Việt, nhất là khi nền văn học Việt Nam chịu ảnh hưởng rất rõ nét từ nền văn hóa truyền thống thì “nguyên lý tính mẫu” trong mỗi thòri kỳ văn học được biểu hiện thông qua việc thể hiện hình tượng người phụ nữ với vai trò không thể thay thế được họ trong đời sống hàng ngày Phải chăng, khi cùng thể hiện yếu tố mẹ, yếu tố thiên tính nữ, văn hóa và văn học Việt Nam đã tìm được một tiếng nói chung và cái đích hướng tới chính là tâm hồn người Việt, nền văn hóa Việt Nam với những nét đẹp riêng
mà không phải dân tộc nào ừên thể giới cũng có? Chúng ta sẽ làm sáng rõ điều này khi khảo sát hình tượng người phụ nữ Việt Nam ữong truyền thống văn học để từ đó có thể thấy rằng hình tượng của ngưòả phụ nữ trong văn học dù được phản ánh ở thời kỳ nào cũng là sản phẩm của việc người Việt Nam đã lấy yếu tố mẹ làm tirứi yếu, yếu tố mẹ là điểm khởi đầu và cũng là điểm xuyên suốt cho “nguyên lý tính mầu” của văn hóa, văn học Việt Nam
Một truyền thuyết ra đời từ khá sớm và có giá trị quan trọng trong việc
lý giải nguồn gốc của dân tộc Việt, đó là truyền thuyết Bà Âu Cơ [71; tr.45] Chúng tôi đề cập đến truyền thuyết này không chỉ bởi hình tượng người mẹ
Trang 32được thể hiện trong truyền thuyết là người mẹ chung của cả dân tộc Việt Nam mà còn vì ý nghĩa văn hóa của cả câu chuyện Nhiều dị bản còn gọi Mẹ
Âu Cơ là Mẹ Chim và trong thực tế có rất nhiều nơi đến nay vẫn còn tục thờ
Mẹ Chim Mẹ Âu Cơ cùng với cha Lạc Long Quân kết hôn, mẹ đẻ ra một bọc trứng, nở ra 100 người con Vì dòng giống của Cha và Mẹ khác nhau nên
“năm mươi người theo Mẹ lên rừng, năm mươi người theo Cha xuống biển”
và nhừng người con ấy là nhừng cư dân đầu tiên của đất nước Đại Việt Người con trai cả lên làm vua, lấy hiệu là vua Hùng, đặt tên nước là Văn Lang Câu chuyện này đà lý giải một cách khá hợp lý về nguồn gốc của đất nước và những cư dân đầu tiên của nước Văn Lang Nói một cách khác, đây cùng có thể coi là những trang sử đầu tiên cùa đất nước Việt Nam Ta còn có thể bắt gặp vấn đề này trong một câu chuyện khác với mô tip tương
tự là truyện Ọuả bầu mẹ. Có thể nói, để thể hiện tinh thần đoàn kết của một dân tộc, người dân cổ xưa cho rằng tất cả mọi người ừong một đất nước đều
là máu thịt của nhau, đều là anh em một nhà và vì thế tất cả là một gia đình, chung cha chung mẹ Nhưng mặt khác, ta cũng có thể thấy hình tượng Mẹ Âu
Cơ cùng được coi như một yếu tố bắt đầu, bời lẽ chi tiết sau khi kết duyên,
Mẹ đẻ ra một bọc có một trăm trứng, nở ra một trăm người con Đây là một trong những chi tiết khác thường nhưng lại đặc sắc nhất của cả câu chuyện Như vậy, ngoài việc thể hiện tinh thần đoàn kết thì có thể nói vai trò của người Mẹ tạo hóa đã được đề cập tới khá rõ nét Có Mẹ nên có tất cả Nhùng đứa con ấy đều là con của một người Mẹ, ra đi từ Mẹ và từ đó mà cuộc sống bắt đầu và phát triển Người con cả trở thành vua Hùng và đặt viên gạch đầu tiên cho công cuộc xây dựng đất nước, viết những trang đầu tiên cho lịch sử đất nước Thuật ngừ "đồng bào" nghĩa là cùng chung cái bọc giải thích cho cội nguồn, cho tinh thần đoàn kết, yêu thương giống nòi cùa mọi người dân nước Việt Đến nay, trải qua mấy mươi thế kỷ, truyền thuyết về Mẹ Âu Cơ
Trang 33vẫn còn giừ nguyên được những giá trị vốn có của nó Hcm thế nữa, vì điểm khởi đầu bắt nguồn từ Mẹ nên từ sau câu chuyện ấy, người phụ nừ với cuộc sống của họ được đề cập tới khá nhiều trong văn học Việt Nam với đủ mọi khía cạnh Tất nhiên, từ hình tượng người mẹ đã có, sức sáng tạo của người dân lao động từ đây tập trung vào hình ảnh của người phụ nữ, những con người đã kế thừa vẻ đẹp từ hình ảnh của người Mẹ chung của cả dân tộc.
Một trong những đặc điểm của hình tượng người phụ nữ Việt Nam được thể hiện trong văn học là tấm lòng thủy chung son sắt Hình ảnh nàng
Tô Thị chờ chồng đến khi hóa đá gợi lên nỗi xót xa cho thế hệ sau nhưng lại lại là một bằng chứng hùng hồn cho tấm lòng thủy chung của người phụ nữ
ỏ đâu đó, trên khắp đất nước này, câu chuyện về nàng Tô Thị vẫn luôn hiện diện Hình núi đá giống như người mẹ bồng con, mắt dõi trông về một nơi xa xôi nào đó không chi là hình tượng bất tử trong văn học mà còn cả trong đời sổng hàng ngày, Ta còn có thể bắt gặp hình ảnh về người phụ nữ chờ chồng
ấy trong văn học trung đại với câu chuyện Người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ, hay trong Chinh phụ ngâm khúc của Đoàn Thị Điểm Những người phụ nừ ấy, tuy không sống cùng trong một thời đại nhưng điểm gặp gờ giữa họ đó chính là sự chờ đợi nhùng người chồng đi xa Có lẽ, ờ thời nào cũng vậy, sự chờ đợi cùng vód tấm lòng thủy chung luôn luôn gắn với hình ảnh cùa những người phụ nữ
Đặc điểm tiếp theo thể hiện vẻ đẹp về mặt phẩm chất, đức hạnh của người phụ nữ trong văn học Việt Nam là tấm lòng nhân hậu vị tha của họ._Ngưòri phụ nữ luôn luôn chịu đựng, hy sinh bản thân mình vì người khác,
vì chồng vì con của họ Ta có thể bắt gặp hình ảnh những người phụ nừ nhường bát cơm của mình cho mẹ già, con nhỏ, có thể bắt gặp rất nhiều hình ảnh cùa người vợ tảo tần chắt chiu, dành dụm từng đồng cho chồng dự thi
Trang 34khoa bảng, hoặc những người phụ nữ có thể chịu đựng khổ cực, gánh lấy cái phần thiệt thòi cho mình để mang lại hạnh phúc cho chồng cho con.
Thế kỷ thứ XVI đánh dấu sự ra đời của truyền thuyết dân gian về Thánh mẫu Liều Hạnh Cũng từ giai đoạn này, tín ngưỡng thờ mẫu bắt đầu hình thành và phát triển Chúng ta có thể bắt gặp rất nhiều truyền thuyết dân gian lý giải về sự ra đời của Thánh mẫu Liễu Hạnh hoặc những câu chuyện trong dân gian về Tam tòa Thánh mẫu Thành công nhất và là một trong những tư liệu quan trọng nhất về Văn hóa Thánh mẫu là Vân Cát nữ thần truyện trong tập Truyền kỳ tân phả của Đoàn Thị Điểm Tuy nhiên, cùng với việc dân gian tiếp tục lưu truyền những câu chuyện về Thánh mẫu thì văn học viết trung đại đã tập trung miêu tả hình tượng người phụ nừ trong đời sống hàng ngày của ho Có lẽ, từ thế kỷ XVI, xã hội Việt Nam được coi là giai đoạn có nhiều biến dộng trong lịch sử với những cuộc bể dáu, nhùng phen đổi thay scm hà kinh thiên động địa Trong một xã hội có nhiều biến động như thế, nhân dân lao động là những người chịu nhiều thiệt thòi, đau khổ nhất đặc biệt là người phụ nữ Mặc dù vậy, trong tột cùng đau khổ, người phụ nữ vẫn luôn luôn giữ được những phẩm chất tốt đẹp của mình, Thúy Kiều trong
Truyện Kiều của Nguyễn Du, người phụ nữ trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương là những ví dụ điển hình cho điều đó
Trong lao động sản xuất, hay lam hay làm là một trong nhùng nét đẹp của người phụ nừ Việt Nam Bàn tay khéo léo, sự dẻo dai và nghị lực phi thường của người phụ nừ dường như có thể làm được bất cứ một công việc nào Cùng với đức hy sinh cao cả, người phụ nừ sằn sàng chịu đựng vất vả khó khăn để có thể mang lại niềm vui và sự ấm no cho gia đình và những người ruột thịt của mình Hình ảnh của những người phụ nữ trong ca dao lao động trên đồng ruộng cùng với gia đình: “chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa”
đà trở thành một hình cảnh độc đáo của văn học dân gian Việt Nam Trong
Trang 35văn học trung đại, các nhà nho cũng thể hiện và đề cao những người phụ nữ chịu thương chịu khó, chắt chiu lo cho chồng cho con Điển hình là cuối thời
kỳ văn học trung đại, Nguyễn Khuyến và Tú Xương đã viết về chính những người vợ tảo tần của mình như một sự tri ân cho những gì mà các bà vợ đã thể hiện Có lẽ, đây là lần đầu tiên trong văn học Việt Nam, ngưòri phụ nữ với vai trò làm vợ được thể hiện từ sự nhìn nhận và trân ữọng của người chồng Điều
đó có cơ sở từ đức hy sinh, từ sự lam lũ vất vả ừong lao động mà những người phụ nữ giành lấy về bản thân mình để chăm lo cho gia đình, cho chồng, cho con được sống trong binh yên và hạnh phúc Văn học hiện đại cũng thể hiện điều này rất rõ nét Bởi càng ngày, xã hội Việt Nam càng thừa nhận vai trò của người phụ nữ trong công cuộc lao động và dựng xây đất nước Người phụ nữ có mặt trên các công trường xây dựng, trong trồng trọt và chăn nuôi, trong kinh doanh và dù ở cương vị nào, họ đều làm tốt nhiệm vụ của mình bằng sự cần cù, dẻo dai và khéo léo Những cô gái thanh niên xung phong tham gia lao động sản xuất trong tác phẩm Mùa lạc (Nguyễn Khải), những cô công nhân ưên các công trường xây dựng đã làm nên một vẻ đẹp toàn diện cho hình ảnh của người phụ nữ Việt Nam qua các chặng đường lịch sử
Người phụ nữ Việt Nam cũng là một minh chứng cho sức mạnh đấu tranh và bảo vệ Tổ quốc Như chúng ta đã biết, dân tộc Việt Nam đã trải qua nhiều cuộc biến động với những cuộc chiến ừanh vệ quốc vĩ đại Văn học Việt Nam từ xa xưa đã khắc ghi tấm gương của những liệt nữ tham gia vào công việc vốn chỉ dành cho nam giới ấy Văn học dân gian đã thể hiện những hình ảnh rất đẹp của Bà Trưng, Bà Triệu, của nữ tướng Lê Chân và văn học hiện đại cũng tiếp tục với những tấm gương anh hùng phụ nữ Tất nhiên, ở mỗi thời kỳ lịch sử thì tinh thần đấu tranh và phản kháng kẻ thù được biểu hiện không giống nhau Đặc biệt, văn học hiện đại đâ nhìn nhận và thể hiện điều này khá rõ nét và toàn diện, phải chăng, ở giai đoạn sau, cái nhìn về
Trang 36người phụ nừ cũng có nhiều thay đổi hom so với văn học các giai đoạn trước Tinh thần đấu tranh và phản kháng ấy không chỉ nói lên tinh thần yêu nước của nhừng người phụ nừ mà còn thể hiện sức mạnh quật cường trong mồi con người nhỏ bé ấy Ta bắt gặp chị Dậu trong Tẳt đèn của Ngô Tất Tố, chị út Tịch trong Người mẹ cầm sủng của Nguyễn Thi, chị Sứ trong Hòn Đất cùa Anh Đức Bên cạnh đó, những người mẹ, những cô dân quân, những o du kích, những cô gái thanh niên xung phong cũng được nhà thơ Tố Hữu thể hiện trong tác phẩm của mình Hẳn chúng ta cũng sẽ không thể quên hình ảnh của những bà mẹ Việt Nam trong các tác phẩm Mẹ Suốt, Mẹ Tơm, Bà má Hậu Giang Họ vốn là những hình ảnh có thật, đi từ cuộc sống thật được nhà thơ lấy đó làm chất liệu cho tác phẩm của mình Điểm chung ở họ chính
là tinh thần yêu nước, gan dạ, chiến đấu quật cường để góp phần vào việc gìn giừ và bảo vệ Tổ quốc Sự hy sinh ấy, tinh thần chiến đấu ấy ờ người phụ nừ
đà khiến họ trờ thành bất tử trong lịch sử của dân tộc cùng như ưong văn học Chiến thắng của dân tộc Việt Nam trước kẻ thù xâm lăng có sự đóng góp rất lớn từ lòng yêu nước của nhùng người phụ nữ Từ đó có thể thấy, lịch sử hào hùng của Việt Nam đã được viết lên có sự đóng góp rất lớn của những người phụ nữ
Nói như vậy có nghĩa là, trong văn học hiện đại, khi thể hiện hình ảnh người phụ nữ góp công sức của mình trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng có nghĩa là người phụ nữ ở giai đoạn này đã ý thức được vai trò công dân của chính họ đối với đất nước, dân tộc Đây có thể nói là một bước phát triển mới cho hình tượng người phụ nữ trong văn học Việt Nam Khi ý thức công dân được nhìn nhận, là khẳng định người phụ nữ ngày càng có thể tham gia vào các hoạt động xã hội và có điều kiện để phát huy năng lực của bản thân mình Bước phát triển mới này ờ người phụ nữ đã mang lại những điều mới mẻ trong văn học, nhất là trong dòng văn học sau năm 1975 Từ ý
Trang 37thức công dân ấy, khi xã hội có những chuyển biến mạnh mẽ trong cách nhìn nhận và đánh giá con người, nhất là trước những thay đổi về mặt tư tưởng thì người phụ nừ Việt Nam không chì thể hiện ý thức cá nhân mà còn hướng tới việc thể hiện ý thức bản năng vô cùng mạnh mẽ Điều này có nguyên nhân sâu xa là sau năm 1975, đất nước bước vào giai đoạn xây dựng và phát triển kinh tế, văn học cũng trên cơ sở đó có những chuyển mình rõ nét, Đặc biệt, khi Đảng và Nhà nước ta xóa bỏ cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp, chuyển sang nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của nhà nước thì văn học càng có thêm nhiều điều kiện, bởi nó đã vượt ra khỏi những rào cản về mặt tư tưởng chính trị Với hình tượng người phụ nữ, văn học Việt Nam đã khắc họa
họ dưới cái nhìn đa chiều của cuộc sống Chính vì nhừng lý do đó mà ta bắt gặp ở thời kỳ này rất nhiều cây bút viết về người phụ nữ và thể hiện họ dưới nhiều góc độ khác nhau Ta bắt gặp hình ảnh những người phụ nữ trong tác phẩm của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phạm Thị Hoài với một chiều sâu về mặt tâm hồn, vốn được xây dựng nên từ chính những giác quan nhạy cảm của người phụ nữ Họ hiện lên là những người phụ nữ đẹp, khoan dung, trắc ẩn và can trường Khám phá được vẻ đẹp thầm kín ấy cùa người phụ nữ, nhà văn đã khám phá được thế giới tâm hồn của con người qua đó thể hiện chức năng cao quý của văn học là hướng tới vẻ đẹp Chân- Thiện- Mỹ Nhà văn Võ Thị Hảo còn khai thác hình tượng những người phụ nữ đã từng xuất hiện trong lịch sử Việt Nam như Ỷ Lan, nhưng lại với những nét tính cách, những kiểu đấu tranh giành hạnh phúc và tình yêu một cách đầy bản năng, đầy chất đàn bà mà trước đây văn học Việt Nam chưa từng thể hiện điều đó
Ta có thể bắt gặp điều này trong cuốn tiểu thuyết Giàn Thiêu của chị Tất cả nhùng điều đó đều góp phần làm hoàn thiện cho hình tượng người phụ nừ Việt Nam qua văn học các thòá kỳ
Trang 38* Tiểu kết
Trong tâm thức của người Việt, hình hình tượng người mẹ luôn luôn hết sức thiêng liêng, cao quý và kính trọng tôn thờ Bởi vậy, từ xưa, trong những tín ngưỡng nguyên thủy hay tôn giáo, người mẹ thường được đề cao và xây dựng thành những hình tượng thần thánh thiêng liêng Mẹ Âu Cơ đã sinh ra nòi giống Việt, bà mẹ Phật Man Nương mở rộng tẩm lòng cứu vớt đời, Mầu Liễu Hạnh (một trong "tứ bất tử") đã nhiều lần từ cõi trời trờ về hóa thân vào ưần tục để cứu vớt những cuộc đời đau khổ, Đức Mẹ đồng trinh của đạo Thiên Chúa (tuy mới du nhập nhưng cũng đã sớm Việt hóa) ra tay cứu giúp con chiên ngoan lành, nàng Thị Kính chịu bao nỗi oan khiên để cứu người, cứu đời Có thể nói, tâm thức mẫu đã đi sâu, chi phối và làm phong phú thêm cho nguồn đề tài, chất liệu của các thể loại nghệ thuật, tạo nên một dấu
ấn quan trọng trong nền nghệ thuật nước nhà
Trang 39MỐI QUAN HỆ GIỮA TÂM THỨC MÃU VỚI NHÂN VẬT NGƯỜI MẸ TRONG TRUYẺN THUYẾT
VIỆT NAM
2.1 Tâm thức mẫu:
Nói tâm thức là nói cả ý thức, tâm tư, tình cảm, là nhấn mạnh tình cảm, nhận thức đã ăn sâu, bền vững Nói đến tám thức mẫu của dân tộc có thể hiểu nôm na là ý thức, tâm tư, tình cảm sâu sắc về người mẹ Từ đó hình thành tập quán suy tôn và đề cao nừ tính, được biểu hiện thường trực trong mọi lĩnh vực của đời sổng vật chất và tinh thần của con người Như trên đà nói, dân tộc Việt Nam có truyền thống coi trọng phụ nữ, đề cao người mẹ Điều đó cho thấy tám thức mẫu luôn thường trực trong mỗi người Việt Nam Trong một môi trường sinh sổng, trải qua nhiều thử thách trong xã hội và thiên nhiên, nhiều ảnh hưởng giao lưu qua lại, nhiều kinh nghiệm ứng xử lâu đời, ý thức, tình cảm này phát triển, lặp đi lặp lại tạo nên nếp chung trong sinh hoạt tinh thần và vật chất của con người, tạo cho cả cộng đồng một dấu hiệu quen thuộc, có cảm tưởng là phổ biến và ổn định ưong ý thức, trong tâm tư và thường trực được biểu hiện ra ở nhiều mặt cụ thể như phong tục tập quán, tín nguòng và nhiều lĩnh vực khác Tám thức mẫu cũng có thể là một tiêu chí để phân biệt được quan niệm, tình cảm của dân tộc này so với dân tộc kia, là một trong những biểu hiện ý thức và ứng xử văn hóa của dân tộc
Tám thức mẫu của dân tộc Việt được biểu hiện rõ nét nhất qua đời sống tín ngường từ thời người Việt cổ và duy trì, phát triển đến nay về mặt danh xưng, Mầu là từ gốc Hán- Việt, còn từ thuần Việt là Mẹ- Mụ Mẹ- Mụ là danh
Trang 40xưng chi người phụ nữ đà sinh thành ra một người nào đó, là tiếng xưng hô thân thiết của con cái với người đã sinh thành ra mình Mở rộng ra, đó là nhừng Bà Mẹ Xứ Sờ của nhừng vùng đất (Bà Chúa Xứ ở An Giang, Bà Đen ở Tây Ninh, Bà Chúa Ngọc ở miền Trung ,); Người Mẹ giống nòi dân tộc (Mẹ
Âu Cơ); ngoài ra còn có Mẹ Lúa, Mẹ Mía, Mẹ Lửa, các Mẹ là tổ sư các ngành nghề, các nừ tướng, nữ thần Như vậy, Mẹ, Mau còn bao hàm nghĩa rộng hom mang tính tôn xưng, tôn vinh Để được tôn vinh là Mẩu, qua khảo sát, tìm hiểu, theo chúng tôi có hai tiêu chí nổi bật sau:
Thứ nhất, trải qua quá trình sinh nở, cưu mang, có đóng góp to lớn và có
ý nghĩa khởi dầu vào lịch sừ đấu tranh dựng nước và giữ nước; vào việc hình thành những giá trị văn hóa của dân tộc
Thứ hai, sau khi hy sinh vẫn tiếp tục hiển linh, âm phù, được nhân dân tôn kính, thờ phụng phổ biến ở nhiều nơi, Tín ngưỡng các vị đó bảo lưu nhiều yếu tố văn hỏa cỏ giá trị, đậm đà bản sắc dân tộc, đang có sức chi phối mạnh
mẽ, đồng thời là nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần của các dân tộc nước ta
2.2 Tâm thức mẫu qua nhân vật người mẹ trong truyền thuyết Việt Nam.
Quan hệ giữa tâm thức mẫu với nhân vật người mẹ trong truyền thuyết Việt Nam là mối quan hệ nhân quả khắng khít Mang tâm thức mẫu tự ngàn xưa, người Việt tin tường và sáng tạo nên hình tượng các nừ thần tự nhiên, từ
đó mà hình thành nên tín ngưỡng thờ mẫu Người Việt Nam gọi các nữ thần
tự nhiên là mẫu- mẹ với niềm tôn kính và tin tưởng rằng các mẫu sẽ che chở cho những đứa con của mình khỏi mọi tai họa do thiên nhiên gây ra Đó là các Mầu Thiên phủ, Mầu Nhạc phủ, Mầu Thủy phủ, Mầu Địa phủ Từ các nữ thần
tự nhiên, niềm tín ngưỡng ấy lan tỏa đến các thần nông nghiệp như: Bà Dâu,