Và hơn tất cả, đến với Hà Tiên, chúng ta sẽ được sống lại một thời sôi động của những bước chân khai khẩn của lưu dân ở vùng đất mới; đến với không khí sinh hoạt văn chương của kẻ sĩ từ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
Trang 2L ỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các kết quả nghiên cứu của luận văn là trung thực và không có trong bất kỳ công trình nào khác
Tp Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 06 năm 2010
Tác giả luận văn
TRẦN VIỆT NHÂN
Trang 5M Ở ĐẦU
1 LÝ DO C HỌN ĐỀ TÀI, MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Hà Tiên là một vùng đất rất đặc biệt, từ tên gọi cho đến lịch sử hình thành và phát triển của nó Nằm ở phía Tây cực Nam của Tổ Quốc, Hà Tiên là một vùng đất có cả biên giới biển lẫn biên giới lục địa, một vùng đất có nhiều ưu thế nhưng cũng ẩn chứa nhiều khó khăn trong xây dựng kinh tế và bảo vệ lãnh thổ Vì thế, từ rất sớm, Hà Tiên đã trở nên nổi tiếng và nói như “nhà Hà Tiên học” Trương Minh Đạt, thì “Hà Tiên có bề dày lịch sử và văn hóa mà không phải địa phương nào cũng có” [14, tr 6]
Thật vậy, đến với Hà Tiên, chúng ta sẽ đến với một xứ sở thơ mộng với nhiều danh thắng du lịch nổi tiếng như Hòn Phụ Tử - quanh năm rủ mình xuống biển xanh P
Tiên thập vịnh – mười cảnh đẹp tuyệt diệu mà ngày xưa Mạc Thiên Tứ đã bình chọn với núi
nguyên giá trị; hoặc những bãi tắm tuyệt đẹp như mũi Nai, bãi Ớt, bãi Dương với cát vàng mịn, nước trong xanh, quanh năm sóng biển rì rào, có thể gọi là một “Hạ Long phương Nam” Và hơn tất cả, đến với Hà Tiên, chúng ta sẽ được sống lại một thời sôi động của những bước chân khai khẩn của lưu dân ở vùng đất mới; đến với không khí sinh hoạt văn chương của kẻ sĩ từ bốn phương ở vùng hải ngoại xa xôi; đến với cả không khí binh đao trong những ngày quân dân Hà Tiên chống giặc ngoại xâm dưới sự lãnh đạo, chỉ huy của những người con ưu tú của Mạc gia và đặc biệt là quang cảnh buôn bán nhộn nhịp của thương khách gần xa của một hải cảng từng là “quyền lực thương mại” ở Việt Nam và thế giới lúc bấy giờ - thương cảng Hà Tiên
Thương cảng Hà Tiên hình thành từ những năm cuối thế kỷ XVII, phát triển đỉnh cao vào giữa thế kỷ XVIII và lùi tàn vào đầu thế kỷ XIX Quá trình phát triển ấy của thương cảng Hà Tiên gắn liền với sự hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên
Hà Tiên xưa vốn là vùng đất rộng lớn có tên gọi là Mang Khảm hay Phương Thành trên danh nghĩa thuộc phủ Sài Mạt của Chân Lạp nhưng xét về mặt hành chính thì chưa có hệ
(1) : Hiện nay, do sự bào mòn của sóng biển theo thời gian, một trong hai hòn đá của Hòn Phụ Tử đã chìm xuống lòng biển xanh
Trang 6thống chính quyền nào quản lí Cho đến đầu thế kỷ XVII, Hà Tiên vẫn là một vùng đất hoang vu, rừng sác mịt mùng nhưng ở đó đã có các tộc người Khmer, người Việt…định cư, sinh sống và sự phát triển kinh tế đã ở một mức độ nhất định
Đến cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII (khoảng năm 1700 P
sự quấy phá của quân Xiêm và sự suy yếu của Chân Lạp, Mạc Cửu đã quyết định nương nhờ chúa Nguyễn, xác nhập vùng đất Hà Tiên vào lãnh thổ Việt Nam Từ thời điểm ấy, Mạc Cửu
và Mạc Thiên Tứ - người kế nghiệp ông đã ra sức xây dựng thương cảng Hà Tiên, biến nó thành cảng biển quan trọng nhất trên con đường buôn bán qua vịnh Thái Lan
Nhưng thương cảng Hà Tiên phát triển không êm ả mà đầy những biến đổi thăng trầm
Từ một địa điểm buôn bán nhỏ trên vùng đất hoang sơ, cảng Hà Tiên phát triển nhanh chóng, trở nên sầm uất, rồi lại suy tàn sau hơn một thế kỷ phát triển Khoảng thời gian một thế kỷ không dài lắm nhưng cảng Hà Tiên cũng đã để lại những dấu ấn khó phai mờ Và chính điều đặc biệt ấy của thương cảng Hà Tiên đã làm chúng tôi hết sức quan tâm Đây là lí do quan trọng thúc đẩy chúng tôi chọn vấn đề thương cảng Hà Tiên làm đề tài nghiên cứu
Nghiên cứu về thương cảng Hà Tiên là để tìm hiểu rõ trong quá khứ thương cảng Hà Tiên đã hình thành và phát triển như thế nào ? Họ Mạc có vai trò gì đối với sự phát triển của thương cảng Hà Tiên và vùng đất Hà Tiên ? Vì sao thương cảng Hà Tiên chỉ tồn tại đúng trong một thế kỷ ? Và với vị trí và tiềm năng của mình, ngày nay Hà Tiên sẽ phát triển ra sao
? Mặc khác, Hà Tiên là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng nằm ở tận cùng phía Tây Nam
Tổ Quốc thì việc tìm hiểu về Hà Tiên sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình mở cõi Nam tiến của dân tộc Việt Nam, hiểu rõ hơn về vai trò, vị trí của Hà Tiên trong sự phát triển chung của đất nước
Trong những năm qua, với những tiềm năng vốn có và vị trí đặc biệt quan trọng cả về kinh tế và quốc phòng, Hà Tiên – Kiên Giang giữ vị trí quan trọng trong sự phát triển của
(1) : Lấy mốc năm 1700 là theo sách Nghiên cứu Hà Tiên của nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt; Còn theo Trịnh Hoài Đức trong sách Gia Định thành thông chí thì Mạc Cửu đến Hà Tiên vào năm 1680
Trang 7vùng đất Nam Bộ nói riêng và cả nước nói chung Đúng như cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã viết: “Kiên Giang là một cửa ngõ quan trọng ở phía Tây Nam Tổ Quốc” [51, tr 10] Chính vì thế, vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang đã nhận được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu sử học Nhiều công trình nghiên cứu đã ra đời, khai thác nhiều lĩnh vực khác nhau mang tầm khu vực và ở từng địa phương Tuy nhiên, những đề tài nghiên cứu về lĩnh vực kinh tế lại rất ít, nhất là kinh tế thời trung cổ Trong bối cảnh đó, việc tìm hiểu về thương cảng Hà Tiên cũng chưa được quan tâm đúng mức Đây là một khoảng trống khoa học cần được lắp đầy Bởi vì muốn hiểu biết một cách đầy đủ khoa học về vùng đất Nam Bộ nói chung thì không thể không nói đến vùng đất Hà Tiên, trong đó có thương cảng Hà Tiên “Không có nghiên cứu cơ bản thì không có nguồn dự trữ về lý luận…Nghiên cứu cơ bản là cơ sở cho sự phát triển toàn bộ nền khoa học của đất nước Nghiên cứu cơ bản càng sâu, khả năng ứng dụng vào thực tiễn càng có hiệu quả” [26, tr 2]
Như vậy, mục đích nghiên cứu của luận văn là nhằm: Thứ nhất, góp phần tìm hiểu
một cách rõ nét và có hệ thống về quá trình hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên trong lịch sử; hiểu rõ về vai trò của họ Mạc đối với sự phát triển của thương cảng Hà Tiên và vùng đất Hà Tiên, cũng như vai trò của chúa Nguyễn và triều Nguyễn trong công cuộc mở cõi về phương Nam của dân tộc Việt Nam Đó là những căn cứ quan trọng tạo cơ sở cho những hiểu biết cần thiết trong việc xây dựng các chương trình kinh tế - xã hội trong hiện tại cũng như việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Hà Tiên trong
tương lai; Hai là, những hiểu biết về di sản thương cảng Hà Tiên sẽ góp phần làm phong phú
hơn những hiểu biết về những di sản chung của vùng đất Nam Bộ ở thế kỷ XVII – XIX, góp phần hoàn chỉnh bức tranh lịch sử Nam Bộ, lắp đầy khoảng trống khoa học
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Lịch sử hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên nằm trong sự phát triển chung của vùng đất Nam Bộ, cho nên những tư liệu về vùng đất này đã được các sử gia triều Nguyễn đề cập đến trong các tác phẩm nổi tiếng như:
Đại Nam thực lục (tiền biên và chính biên) và Đại Nam nhất thống chí của Quốc sử
quán triều Nguyễn Đây là những bộ chính sử lớn nhất và quan trọng nhất của triều Nguyễn, ghi chép gần như toàn bộ những sự kiện chính liên quan đến quá trình hình thành và phát
Trang 8triển của các chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn; về quá trình mở cõi phương Nam của dân tộc Việt Trong những tác phẩm này, các sử gia đã cho chúng ta biết những nét chính yếu nhất về về vị trí địa lí, địa hình, những sản vật phong phú, quá trình khai phá và phát triển của vùng đất Hà Tiên Đặc biệt là những sự kiện liên quan đến Mạc Cửu thần phục chúa Nguyễn, dâng đất Hà Tiên xác nhập vào lãnh thổ Việt Nam và những hoạt động của Mạc Cửu, Mạc Thiên Tứ trong việc xây dựng, phát triển, bảo vệ cảng thị Hà Tiên
Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn cũng là một tác phẩm đã đề cập đến nhiều chi tiết
quý báu để giúp chúng ta hiểu rõ hơn về vùng đất Hà Tiên Mặc dù trong tác phẩm, nhà bác học không trực tiếp viết về Hà Tiên nhưng ít nhiều đã nói đến những ưu thế của Hà Tiên trong việc phát triển kinh tế, nhất là kinh tế thương nghiệp, cũng như mối quan hệ giữa thương cảng Hà Tiên với Đàng Ngoài và các quốc gia trong khu vực
Đặc biệt, tác phẩm quan trọng nhất có ghi chép về Hà Tiên phải kể đến là Gia Định
nhất và đầy đủ nhất Trong cả 3 tập Thượng, Trung, Hạ, tác giả đều có phần viết về Trấn Hà Tiên Tác giả đã phác họa cho chúng ta một cách khá rõ nét đặc điểm vị trí địa lí, xã hội, kinh tế, về hình thể của thương cảng Hà Tiên Đó là những tư liệu vô cùng quý giá, cho phép các thế hệ nghiên cứu sau này hình dung được những nét lớn về bộ mặt của vùng đất Hà Tiên vào thế kỷ XVII – XIX
Có thể nói, đó là những tác phẩm đầu tiên nghiên cứu về vùng đất phía Nam của Tổ quốc Và mặc dù, những sử liệu về vùng đất Hà Tiên được ghi chép khá tản mạn nhưng đây
là một căn cứ quan trọng để chúng ta hiểu rõ hơn về quá trình hình thành và phát triển của vùng đất này
Bên cạnh các bộ sử lớn trên, lịch sử vùng đất Hà Tiên đã được đề cập đến trong một
số tác phẩm của các tác giả trong và ngoài nước
Tác phẩm đầu tiên phải kể đến là Mạc thị gia phả của Dinh Đức hầu Vũ Thế Dinh Do
là người trong cuộc, chứng kiến mọi bước phát triển và những biến cố thăng trầm của Hà Tiên, nên trong Mạc thị gia phả, Vũ Thế Dinh đã đề cập đến nhiều thông tin quan trọng để giúp chúng ta hiểu đúng hơn về họ Mạc và đất Hà Tiên nói riêng, về một bộ phận quan trọng của lãnh thổ xứ Đàng Trong các thế kỷ XVII và XVIII nói chung Đọc Mạc thị gia phả
Trang 9chúng ta sẽ có thêm những cơ sở tư liệu tin cậy để hình dung về chủ trương của họ Mạc trong việc quy tụ nhân dân lưu tán về mở đất lập làng tại Hà Tiên, về vị trí cũng như quy mô
cụ thể của bảy xã thôn đầu tiên nằm rải rác trên vùng đất ngày nay tương ứng với các tỉnh Kiên Giang, Bạc Liêu và Cà Mau Đọc Mạc thị gia phả chúng ta sẽ hiểu được Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ “đã tìm cách thi vị hóa vùng đất Hà Tiên nhằm tạo ra sức hấp dẫn đối với kẻ
sĩ và thường dân trong khắp bốn phương thiên hạ ra sao” [24, tr 9] Có thể nói, Mạc thị gia phả là cuốn sử sinh động nhất về vùng đất Hà Tiên
Thế nhưng, đáng tiếc là Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh cũng tồn tại nhiều hạn chế
Đó là xác định chưa đúng niên đại Mạc Cửu đến lập nghiệp ở vùng đất Mang Khảm, khi cho rằng đó là năm 1671 [24, tr 14] Mốc thời gian này được nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt xác định là khoảng năm 1700 Hay Vũ Thế Dinh chép rằng sự kiện Mạc Cửu dâng đất Mang Khảm, thần phục chúa Nguyễn Phúc Chu (1691 – 1725) diễn ra vào năm 1714 cũng không chính xác Sự kiện này xảy ra vào năm 1708 mới đúng Điều này đã được xác nhận trong nhiều bộ sách lớn của các sử gia triều Nguyễn Hoặc là trong Mạc thị gia phả, Vũ Thế Dinh
ít ghi chép về vấn đề phát triển kinh tế của Hà Tiên mà quan tâm nhiều đến cuộc tranh chấp quyền lực của các thế lực phong kiến, về sự tồn vong của dòng họ Mạc
Tuy vậy, dù còn có những hạn chế nhất định nhưng giá trị lịch sử của Mạc thị gia phả
là không thể phủ nhận Đúng như Giáo sư Trần Văn Giàu đã viết : Mạc thị gia phả được xem
“ là bộ sử giản lược về Nam Bộ nói riêng và xứ Đàng Trong nói chung” [24, tr 5] Vì thế, tìm hiểu về thương cảng Hà Tiên chúng ta không thể bỏ qua tác phẩm này
Một công trình khác rất đáng kể tới về mặt khoa học là tác phẩm Nghiên cứu địa bạ
triều Nguyễn, Hà Tiên (Kiên Giang – Minh Hải), (NXB Tp HCM, 1994) của nhà nghiên
cứu Nguyễn Đình Đầu Dựa trên nguồn tài liệu quý giá là 35 tập, gồm 144 quyển địa bạ của tỉnh Hà Tiên được triều Nguyễn lập năm 1836, Nguyễn Đình Đầu đã miêu tả kỹ lưỡng, chân xác địa lí lịch sử Hà Tiên, địa bàn từng huyện của tỉnh, thống kê diện tích điền thổ của các xã thôn Địa bạ tỉnh Hà Tiên đã đóng góp căn bản vào việc tìm hiểu tình hình kinh tế - xã hội của Hà Tiên ở thế kỷ XIX
Một tác phẩm quan trọng khác cũng đề cập đến Hà Tiên là tác phẩm Lịch sử khai phá
vùng đất Nam Bộ do Huỳnh Lứa (chủ biên) Với bốn chương, tác phẩm đã trình bày một
cách rõ nét quá trình khai phá vùng đất Nam Bộ của cộng đồng dân tộc Việt Nam trong các
Trang 10thế kỷ XVII, XVIII, nửa đầu thế kỷ XIX và thời thuộc Pháp Đây được coi là tác phẩm đánh dấu một cột mốc ban đầu cho các công trình nghiên cứu về công cuộc khẩn hoang đồng bằng sông Cửu Long Trong tác phẩm, các tác giả đã dành một phần phân tích về vùng đất Hà Tiên trong bức tranh tổng thể lịch sử khai hoang vùng đất Nam Bộ
Một số tác giả cũng đề cập đến lịch sử Hà Tiên nhưng chủ yếu là trong bối cảnh lịch
sử Nam Bộ như : Việt sử xứ Đàng Trong – cuộc nam tiến của dân tộc Việt của Phan Khoang,
Lịch sử khẩn hoang Miền Nam của Sơn Nam, Lược sử vùng đất Nam Bộ - Việt Nam do GS
Vũ Minh Giang (chủ biên), Góp phần tìm hiểu vùng đất Nam Bộ các thế kỷ XVII, XVIII, XIX
của Huỳnh Lứa…
Năm 2008, nhân kỷ niệm 300 trấn Hà Tiên, nhà “Hà Tiên học” Trương Minh Đạt đã
cho ra đời một tác phẩm rất đáng quan tâm, tác phẩm Nghiên cứu Hà Tiên (Tạp chí xưa và
nay, NXB Trẻ ấn hành) Đây là một công trình chuyên khảo rất có giá trị về vùng đất Hà Tiên với tập hợp gồm 35 bài khảo cứu – đính chính – tư liệu được viết từ năm 1990 đến nay Với tầm hiểu biết sâu rộng về đất Hà Tiên, cộng với những ý kiến mang tính phát hiện, tác giả đã đưa ra nhiều kiến giải quan trọng, giúp chúng ta nhận thức đứng đắn về các sự kiện, niên đại …liên qua đến quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên như : người xây dựng lũy đất Trúc Bàn Thành là Mạc Cửu, từ đầu thế kỷ XVIII, chứ không phải là từ giữa thế kỷ XIX; Mạc Cửu bắt đầu tạo dụng cơ nghiệp ở Hà Tiên vào năm 1700 (chứ không phải năm 1671, 1674, 1680, 1708, hay 1715 như một số tác giả đã viết); Mạc Cửu thần phục chúa Nguyễn vào năm 1708 (chứ không phải năm 1714 như Vũ Thế Dinh đã viết trong Mạc thị gia phả)…Ngoài ra tác giả còn giúp chúng ta xác định vị trí của nền nhà Chiêu Anh Các, hiểu về lai lịch chùa Phù Dung Đặc biệt, ông đưa ra ý kiến Hà Tiên từng là điểm cư trú xưa của người Việt cổ
Tuy vậy, điểm đáng tiếc là trong Nghiên cứu Hà Tiên, tác giả Trương Minh Đạt lại ít quan tâm đến vấn đề phát triển kinh tế của vùng đất Hà Tiên nói chung và cảng Hà Tiên nói riêng
Ngoài ra, chúng ta cũng có thể tìm thấy nhiều bài viết chuyên khảo về thương cảng Hà
Tiên như : Kinh tế Hà Tiên – Rạch Giá thời Pháp thuộc (1867 – 1939), luận án phó Tiến sĩ
sử học của Nguyễn Thùy Dương Đây là một công trình nghiên cứu khá toàn diện về vùng đất Hà Tiên Tác giả đã giành toàn bộ chương một để trình bày về lịch sử khai phá vùng đất
Trang 11Hà Tiên Các chương còn lại viết về kinh tế Hà Tiên – Rạch Giá thời Pháp thuộc nhưng lại thiên về kinh tế nông nghiệp, ít nói về kinh tế thương nghiệp, nhất là ở thế kỷ XVIII Điều này cũng dễ hiểu, vì nó nằm ngoài phạm vi nghiên cứu của đề tài Cùng với đó, các bài viết
Hà Tiên từng là thương cảng trung tâm Đông Nam Á của Nguyên Khang, đã chứng minh Hà
Tiên là một thương cảng sầm uất vào thế kỷ XVIII; Công cuộc khai phá trấn Hà Tiên vào
những thập kỷ cuối thế kỷ XVII, nửa đầu thế kỷ XVIII và vai trò của họ Mạc của Huỳnh Lứa,
phân tích khá rõ nét vai trò của họ Mạc đối với công cuộc khai phá và phát triển vùng đất Hà Tiên; Vai trò lịch sử của Hà Tiên trong tiến trình mở đất phương Nam của dân tộc Việt Nam
của Trương Minh Đạt, khẳng định vị thế của Hà Tiên trong lịch sử khai phá vùng đất Nam
Bộ; Nam Bộ Việt Nam – Môi trường kinh tế biển và mối quan hệ với các quốc gia khu vực
(thế kỷ XVII – XVIII) của Nguyễn Văn Kim, đề cập khá nhiều chi tiết liên quan đến hoạt
động thương nghiệp của cảng Hà Tiên trong mối quan hệ với các quốc gia trong khu vực,
nhất là đối với Xiêm; Hà Tiên trong lịch sử Nam Bộ đến cuối thế kỷ XVIII của Nguyễn Hữu
Hiếu.v.v cũng đã đề cập đến sự phát triển của thương cảng Hà Tiên ở nhiều khía cạnh khác nhau Đây chính là những luận điểm rất quan trọng, giúp tác giả luận văn tiếp tục phát triển
để làm sáng tỏ vấn đề nghiên cứu
Bên cạnh các nhà nghiên cứu trong nước, một số tác giả nước ngoài cũng đã quan tâm
nghiên cứu về Hà Tiên Họ Mạc và chúa Nguyễn ở Hà Tiên (Văn hóa Á Châu số 7, tháng 10
– 1958) của Trần Kinh Hòa (Chen Ching Ho) là một ví dụ Ngoài ra, còn phải kể đến một số
tác phẩm viết bàng tiếng Pháp nghiên cứu về Hà Tiên như Un Chinois des Mers du Sud le
Gaspardone (Tạp chí journal Asiatique, 1952)…
Đặc biệt vào tháng 9 năm 2009, Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang phối hợp với Viện
Văn học nghệ thuật Việt Nam (phân viện Tp Hồ Chí Minh) tổ chức Hội thảo Khoa học Di
sản văn hóa Hà Tiên – bảo tồn và phát triển Cuộc hội thảo đã quy tụ được trên 100 bài viết
của các nhà nghiên cứu, đề cập đến nhiều khía cạnh văn hóa của vùng đất Hà Tiên, giúp chúng ta có cái nhìn khá toàn diện về di sản văn hóa Hà Tiên
Như vậy, đã có nhiều tác giả, tác phẩm đề cập đến vùng đất Hà Tiên Điều dễ nhận thấy là các tác phẩm ấy chỉ nghiên cứu về Hà Tiên trong lịch sử chung của Nam Bộ, hoặc có nghiên cứu chuyên khảo thì cũng chỉ ở mức độ sơ lược, mang tính gợi ý, chứ chưa có một
Trang 12tác phẩm nào đề cập một cách toàn diện và có hệ thống lịch sử hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên ở thế kỷ XVII – XIX Vì vậy, cần có một công trình nghiên cứu mang tính hệ thống về thương cảng Hà Tiên Dẫu biết rằng, đây là một vấn đề khó, đòi hỏi nhiều công sức để đầu tư nghiên cứu nhưng trên cơ sở thừa hưởng thành quả của những người đi trước, cùng với sự tìm tòi nghiên cứu của bản thân, tác giả mong muốn làm sáng tỏ vấn đề đặt ra
3 NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình thực hiện luận văn, chúng tôi đã kế thừa về tư liệu và cả về lý luận của các công trình nghiên cứu đi trước có liên quan đến đề tài Thực tế đã có nhiều nguồn sử liệu ghi lại quá trình hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên nhưng lại tản mạn, thiếu
hệ thống, chậm chí là trùng lập, rất khó nghiên cứu Tuy nhiên, trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi đã cố gắng khai thác các nguồn sử liệu sau:
Một là, các bộ chính sử được ra đời dưới triều Nguyễn như Đại Nam thực lục (chính biên và tiền biên), Đại Nam nhất thống chí, Gia Định thành thông chí, Phủ biên tạp lục
…Đây chính là nguồn tài liệu gốc mà chúng tôi dùng để đối chiếu, so sánh các sự kiện, niên đại liên qua đến vùng đất Hà Tiên
cập đến vùng đất Hà Tiên với nhiều khía cạnh khác nhau Và những tác phẩm chuyên khảo
về Hà Tiên của một số ít các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Những tác phẩm này, bên cạnh việc dựa vào các tư liệu gốc trình bày về lịch sử vùng đất Hà Tiên, đã đưa ra nhiều kiến giải quan trọng, làm cơ sở để chúng tôi hiểu rõ hơn vấn đề đặt ra
nay Các bài báo cáo trong các hội thảo khoa học về vùng đất Nam Bộ thế kỷ XVII – XIX,
kỷ yếu Hội thảo về Hà Tiên và các bài viết đăng trên các báo có uy tín Đặc biệt, chúng tôi
đã sử dụng kho tư liệu đồ sộ trên Internet, trên cơ sở so sánh, đối chiếu và chọn lọc kỹ càng
Bốn là, nguồn tài liệu điền dã tại Hà Tiên, Kiên Giang, thu thập từ các cuộc tọa đàm
với các học giả có hiểu biết sâu sắc về Hà Tiên và những tư liệu về dòng họ Mạc còn lưu giữ trong nhân dân ở địa phương
Để thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau :
Trang 131 Phương pháp lịch sử và phương pháp logic Đây là hai phương pháp căn bản
được sử dụng trong luận văn Vận dụng phương pháp lịch sử là dựa trên những sử liệu lịch
sử xác thực để miêu tả, khôi phục lại quá khứ gần đúng như nó từng tồn tại Cụ thể ở đây là quá trình hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên Phương pháp logic được vận dụng trong việc hệ thống hóa các sự kiện lịch sử, hình thành ý kiến nhận xét, đánh giá khoa học về vấn đề được nghiên cứu Hai phương pháp này được vận dụng phối hợp trong toàn bộ các chương của luận văn
2 Bên cạnh hai phương pháp đặc trưng của khoa học lịch sử, trong quá trình nghiên
cứu, chúng tôi còn sử dụng các phương pháp như phương pháp liên ngành, phương pháp tiếp cận hệ thống và đặc biệt là phương pháp khảo sát điền dã Vận dụng những phương
pháp ngày cho phép tôi phân tích, đánh giá một cách chính xác các số liệu, tình hình phát triển kinh tế của thương cảng Hà Tiên dựa trên phương pháp của kinh tế chính trị học; đặt thương cảng Hà Tiên trong bối cảnh lịch sử Đàng Trong nói riêng và cả nước nói chung để nghiên cứu; đồng thời khảo sát vị trí thực tế của thương cảng Hà Tiên ngày nay, tiếp xúc với các di tích gắn liền với dòng họ Mạc, sưu tầm các tài liệu dân gian… Từ đó, có thể hình dung và tái hiện lại phần nào hình ảnh của thương cảng Hà Tiên xưa
3 Ngoài ra, tôi cũng sử dụng các phương pháp như : phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh…để làm sáng tỏ vấn đề đặt ra
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành và phát triển của thương cảng
Hà Tiên trong lịch sử
Không gian nghiên cứu của luận văn được xác định là vùng đất thuộc thị xã Hà Tiên ngày nay Tuy nhiên trong quá trình nghiên cứu, không gian cũng được mở rộng cả vùng đất
Hà Tiên xưa, tức là vùng đất thuộc các tỉnh Kiên Giang, Cà Mau và Bạc Liêu ngày nay
Về mặt thời gian, luận văn được giới hạn trong khoảng từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XIX Mốc mở đầu được xác định là khoảng năm 1700, khi Mạc Cửu đến định cư khai phá ở Hà Tiên và mốc kết thúc là năm 1867 – năm sáu tỉnh Nam Kỳ P
Trang 14rơi vào ách cai trị của thực dân Pháp Sự giới hạn này nhằm làm sáng tỏ thời kỳ phát triển hoàng kim của thương cảng Hà Tiên
Trong phạm vi tài liệu mà tác giả tiếp cận được, luận văn sẽ đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ các vấn đề sau:
1 Quá trình khai phá vùng đất Hà Tiên thời kỳ thời các chúa Nguyễn và dòng họ Mạc
2 Các hoạt động kinh tế của thương cảng Hà Tiên thời kỳ phát triển đỉnh cao ở thế kỷ XVIII qua hoạt động kinh tế trong nước và ngoài nước
Đàng Ngoài (Hội An, Đà Nẵng…), các quốc gia trong khu vực (Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm …) và cả với các nước Châu Âu
4 Vai trò của họ Mạc (Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ) đối với vùng đất Hà Tiên
5 Những nguyên nhân làm cho thương cảng Hà Tiên suy tàn vào đầu thế kỷ XIX và nguyên nhân nào là quan trọng nhất
6 Phác họa những nét cơ bản về triển vọng phát triển của Hà Tiên ngày nay
Qua những vấn đề trên, luận văn có những đóng góp sau :
Thứ nhất, làm rõ quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên từ thế kỷ
XVII – XIX Với những phác họa rõ nét qua từng thời kỳ lịch sử, luận văn sẽ giúp cho người đọc nắm một cách tương đối hoàn chỉnh lịch sử phát triển của thương cảng Hà Tiên từ thuở
sơ khai đến thời kỳ phát triển đỉnh cao thời họ Mạc và lùi tàn vào đầu triều Nguyễn
Thứ hai, hình thành một cách tương đối bức tranh lịch sử về thương cảng Hà Tiên
Bằng những cứ liệu lịch sử cụ thể và dẫn chứng sinh động, luận văn giúp cho người đọc có thêm kiến thức thú vị rằng, Hà Tiên không chỉ nổi tiếng với cảnh đẹp của non nước, sự trù phú của thiên nhiên và sự hào phóng của dân cư mà Hà Tiên còn nổi tiếng với một thương cảng trù phú bậc nhất khu vực Đông Nam Á vào thế kỷ XVIII Trong suốt một thế kỷ, cảng
Hà Tiên là một quyền lực thương mại của con đường buôn bán Đông – Tây trên biển qua vịnh Thái Lan, giữ vai trò quan trọng trong nền thương mại Việt Nam và thế giới ở thế kỷ XVIII, trước khi vai trò này được chuyển giao cho thương cảng Sài Gòn vào giữa thế kỷ XIX
Trang 15Thứ ba, qua việc trình bày quá trình hình thành và phát triển của thương cảng Hà Tiên,
vùng đất Hà Tiên, luận văn góp phần làm sáng tỏ vai trò của các chúa Nguyễn và họ Mạc trong sự nghiệp mở cõi về phương Nam của dân tộc Việt Nam Từ đó, luận văn giúp cho người đọc hiểu hết giá trị, biết trân trọng những cống hiến của cha ông và biết gìn giữ di sản của dân tộc, biết phấn đấu sao cho xứng đáng với những người đi trước
Luận văn được trình bày trong 163 trang và cấu tạo thành ba phần :
Phần mở đầu: Trình bày lí do chọn đề tài, mục đích nghiên cứu, lịch sử nghiên cứu
vấn đề, nguồn sử liệu và phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài (gồm có 15 trang, từ trang 4 – trang 18)
Phần nội dung: Gồm có ba chương (gồm có 90 trang, từ trang 19 – trang 108)
+ Chương một : Khái quát đặc điểm địa lí tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng đất Hà Tiên Trong chương này, luận văn trình bày những nét cơ bản đặc điểm về vị trí địa
lí và đặc điểm kinh tế - xã hội và quá trình khai phá vùng đất Hà Tiên thời các chúa Nguyễn
và họ Mạc (gồm có 29 trang, từ trang 19 – trang 47)
+ Chương hai : Sự ra đời và phát triển của thương cảng Hà Tiên (thế kỷ XVII – XVIII) Luận văn trình bày những điều kiện dẫn đến sự ra đời của thương cảng Hà Tiên; quá trình quát triển của thương cảng Hà Tiên, các hoạt động kinh tế trong nước và ngoài nước; sự phát triển về văn hóa – xã hội; vai trò của họ Mạc đối với vùng đất Hà Tiên (gồm
có 41 trang, từ trang 48 – trang 88)
+ Chương ba : Thương cảng Hà Tiên thời kỳ suy tàn (đầu thế kỷ XIX) Trong
chương này, luận văn trình bày những nguyên nhân làm cho thương cảng Hà Tiên suy tàn; chính sách của nhà Nguyễn đối với Hà Tiên (đầu thế kỷ XIX) và những phác họa về triển vọng phát triển của Hà Tiên ngày nay (gồm có 22 trang, từ trang 89 – trang 110)
Phần kết luận: Trình bày khái quát những nội dung đã thể hiện trong luận văn và
khẳng định những đóng góp của luận văn (gồm có 3 trang, từ trang 111 – trang 113)
Tài liệu tham khảo : Liệt kê các tài liệu chính có trích dẫn trong luận văn (gồm có 7
trang, từ trang 114 – trng 120)
Trang 16Phần phụ lục : Trình bày một số tài liệu tham khảo liên quan đến luận văn (gồm có 43
trang, từ trang 121 đến trang 163)
Trang 17
Chương 1: KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI
C ỦA VÙNG ĐẤT HÀ TIÊN
Lịch sử phát triển của vùng đất Hà Tiên đã trải qua nhiều biến đổi thăng trầm Hà Tiên xưa kia vốn là vùng đất hoang vu với tên gọi là Mang Khảm Đến khoảng cuối thế kỷ XVII - đầu thế kỷ XVIII, Mạc Cửu đã đến khai phá vùng đất đó Ông đã ra sức mở mang, khai phá
và phát triển buôn bán làm cho vùng đất này trở thành trù phú Vào năm 1708, Mạc Cửu đã thần phục chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Chu (chúa Minh) Từ đó, vùng đất do Mạc Cửu cai quản thuộc về lãnh thổ Việt Nam và có tên gọi là Hà Tiên Sau đó, con Mạc Cửu là Mạc Thiên Tứ đã mở rộng thêm vùng đất này Đến đời vua Minh Mạng, Hà Tiên là một trong 30 tỉnh của Việt Nam và là một trong 6 tỉnh của Nam Bộ Ngày nay, Hà Tiên là một thị xã phát
triển của tỉnh Kiên Giang
1.1 ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HÀ TIÊN
1.1.1 Đặc điểm địa lí tự nhiên
Hà Tiên xưa là vùng đất rộng lớn (bao gồm toàn bộ tỉnh Kiên Giang, Cà Mau, Bạc Liêu, một phần nhỏ của tỉnh An Giang và tỉnh Sóc Trăng ngày nay), là dãy đất tận cùng phía Tây Nam của Tổ quốc Việt Nam, cũng là vùng đất cuối cùng phía Tây Nam của đồng bằng sông Cửu Long
Ngày nay về địa giới hành chính, Hà Tiên thuộc về tỉnh Kiên Giang Tỉnh Kiên Giang
có tổng diện tích tự nhiên là 617.709 ha, trong đó phần đất liền là 554.734 ha, phần hải đảo
là 62.975 ha, chiếm 1,9% diện tích cả nước và đứng đầu vùng đồng bằng sông Cửu Long Tỉnh Kiên Giang có chung đường biên giới đất liền với Camphuchia ở phía Bắc trên chiều dài 56,8 km, phía Đông và đông Nam giáp các tỉnh An Giang, Hậu Giang và thành phố Cần Thơ; phía Nam giáp các tỉnh Bạc Liêu và Cà Mau; phía Tây giáp vịnh Thái Lan với đường
bờ biển dài 200 km Trên phần đất liền, tỉnh Kiên Giang nằm trong khoảng từ 9P
Trang 18Tỉnh Kiên Giang gồm một thành phố (Rạch Giá), một thị xã (Hà Tiên), 7 huyện đất liền : Hòn Đất, Châu Thành, Tân Hiệp, Giồng Riềng, Gò Quao, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận và hai huyện hải đảo : Kiên Hải và Phú Quốc
So với các tỉnh khác của khu vực đồng bằng sông Cửu Long, thì thiên nhiên của Kiên Giang đa dạng, phức tạp và biến động hơn Kiên Giang có vùng đồng bằng phù sa phì nhiêu,
có núi, có rừng, có sông rạch và biển cả, hải đảo
Kiên Giang là vùng tiếp giáp giữa cổ đại và hiện đại, núi, biển và quá trình bồi đắp vẫn đang tiếp tục Địa hình Kiên Giang tương đối bằng phẳng, ngoại trừ các đảo và núi, theo hướng thấp dần từ đông Bắc (độ cao trung bình từ 0,8 – 1,2 m) xuống tây Nam (độ cao trung bình từ 0,2 – 0,4 m) so với mặt nước biển Địa hình đồi núi của Kiên Giang tập trung tại ven biển phía tây Bắc, thuộc các huyện Hòn Đất, Kiên Lương và thị xã Hà Tiên, độ cao trung bình dưới 200m Địa hình vùng đồng bằng thuộc các huyện còn lại của tỉnh, được phù sa sông Hậu bồi đắp, độ cao trung bình từ 0,2 – 0,4 m, có nhiều kênh rạch và sông ngòi chảy qua
Kiên Giang nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, do nằm ở vĩ độ thấp và giáp biển nên khí hậu Kiên Giang mang tính chất nhiệt đới đại dương với đặc chung là nóng
ẩm và mưa nhiều theo mùa Tổng lượng bức xạ trong năm đạt từ 120 – 130 kca/cmP
2
P
, nhiệt độ trung bình trong năm là 27,0 – 27,6P
0
P
C Khí hậu Kiên Giang thể hiện rõ tính chất nhiệt đới gió mùa điển hình Kiên Giang là tỉnh có nhiều mưa ở Nam Bộ Lượng mưa trung bình trong năm từ 1600 – 2000 mm ở đất liền và 2400 – 2900 mm ở khu vực hải đảo Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, tập trung đến 90% lượng mưa cả năm Tháng có mưa nhiều nhất là tháng 8 (lượng mưa đạt 300 – 500 mm), gây khó khăn cho thu hoạch và bảo quản lúa
hè thu Mùa khô ở Kiên Giang kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 Trong mùa khô, hầu như không có mưa, đặc biệt ít mưa nhất là tháng 1 Nhìn chung, khí hậu ở Kiên Gang có những thuận lợi cơ bản : ít thiên tai, không có bão đổ bộ trực tiếp, không rét, ánh sáng và nhiệt lượng dồi dào, rất thuận lợi cho cuộc sống con người cũng như cho sự sinh trưởng và phát triển của nhiều loại cây trồng và vật nuôi Tuy nhiên, do nằm ở ven biển, nên Kiên Giang chịu ảnh hưởng của chế độ thủy triều Biển tây, với đặc trưng là chế độ nhật triều không đều, chi phối rất lớn khả năng tiêu úng về mùa mưa và bị ảnh hưởng lớn của sự xâm nhập mặn vào các tháng mùa khô, gây trở ngại cho sản xuất và đời sống
Trang 19Đất đai của Kiên Giang cũng rất đa dang Phân bố ở Hà Tiên, Kiên Lương, Phú Quốc
là nhóm đất hình thành tại chỗ - đất pheralit và sialit – pheralit Phân bố ở các huyện Tân Hiệp, Châu Thành, Giồng Riềng, Rạch Giá, Hòn Đất, Gò Quao là đất phù sa ngọt Đây là loại đất tốt nhất ở Kiên Giang, giàu đạm và kali rất thích hợp cho cây trồng Đất phèn, chiếm tới 40% diện tích tự nhiên của tỉnh, phân bố chủ yếu ở Hà Tiên, Hòn Đất, An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận Loại đất này chỉ thích hợp trồng các giống cây như tràm, khóm, hoặc sử dụng kỹ thuật lên liếp, ém phèn để trồng cây ăn quả, cây công nghiệp Ngoài ra còn có đất mặn và đất phèn mặn, phân bố rải rác các huyện trong tỉnh Các loại đất này chỉ có thể trồng lúa một vụ, trồng rừng và nuôi trồng thủy sản
Về chế độ thủy văn, Kiên Giang có ba sông lớn là sông Cái Lớn, sông Cái Bé, sông Giang Thành và một số sông rạch nhỏ Trong đó, đáng kể nhất là sông Giang Thành – một trong “Hà Tiên thập vịnh”, không chỉ có giá trị về thủy lợi, giao thông, thương mại mà còn
có giá trị về du lịch Sông Giang Thành bắt nguồn từ cao nguyên Sài Mạt (Camphuchia) và chảy vào khu vực Hà Tiên Chiều dài sông trên lãnh thổ Kiên Giang là 23 km Sông đổ vào Đông Hồ (Hà Tiên) với chiều rộng cửa sông trên 200 m Sau này sông Giang Thành được nối liền với kênh Vĩnh Tế, tạo nên tuyến đường thủy quan trọng từ Châu Đốc đến Hà Tiên
Nguồn nước ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long có trạng thái nghịch lý là “cực kỳ thừa thãi mà cũng cực kỳ thiếu thốn” [8, tr 12] và chế độ nước ở Kiên Giang cũng không thoát khỏi nghịch lý đó mà còn có phần trầm trọng hơn Chế độ thủy văn Kiên Giang chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi chế độ lũ sông Cửu Long, chế độ mưa nội vùng và chế độ thủy triều của vịnh Thái Lan Mùa lũ ở Kiên Giang thường chậm hơn mùa mưa khoảng 3 tháng, kéo dài trong 5 tháng (từ thàng 7 – 11) Thời gian ngập lụt kéo dài từ tháng 9 đến tháng 11 Thời gian xuất hiện đỉnh lũ thường xảy ra vào đầu tháng 10, tuy nhiên cũng có năm đến sớm hơn hoặc muộn hơn (tháng 9 hoặc đầu tháng 11) Mùa cạn ở Kiên Giang kéo dài từ tháng 12 đến tháng 6 Vào mùa cạn, tình trạng xâm nhập mặn vào sâu trong đất liền, gây nhiễm mặn cho vùng, nội vùng, dẫn đến tình trạng thiếu nguồn nước ngọt cho sản xuất và đời sống
Biển và hải đảo là một điểm đặc biệt của thiên nhiên Kiên Giang Biển Kiên Giang nằm ở phía Đông vịnh Thái Lan, là nơi rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế biển và là nơi thuận lợi cho việc buôn bán giao thương Tài nguyên thủy sản của Kiên Giang rất phong phú, đa dạng bao gồm tôm, cá các loại và nhiều đặc sản quý như đồi mồi, hải sâm,
Trang 20sò huyết, nghêu lụa, ngọc trai, bào ngư, mực, vi (vây) cá… Theo điều tra của Viện nghiên cứu biển Việt Nam thì trữ lượng tôm cá ở biển Hà Tiên – Kiên Giang ước tính khoảng 465 nghìn tấn, khả năng khai thác cho phép bằng 44% trữ lượng (khoảng trên 200 nghìn tấn) [72, tr 334] Với nguồn thủy hải sản phong phú, cùng với việc Hà Tiên – Kiên Giang có bờ biển dài hơn 200 km dọc theo Vịnh Thái Lan, Hà Tiên – Kiên Giang là nơi rất thuận lợi cho việc phát triển các ngành kinh tế biển và là nơi thuận lợi cho việc buôn bán giao thương Hiện nay, ngư trường vùng biển Tây Nam (bao gồm tỉnh Cà Mau và Kiên Giang) là một trong những ngư trường lớn nhất cả nước với diện tích khai thác trên 63 nghìn kmP
2
P
Kiên Giang là một tỉnh quy tụ nhiều đảo nhất của Nam Bộ và Trung Bộ Việt Nam, có trên 100 hòn đảo lớn nhỏ, có những hòn đơn và những quần đảo Có thể kể như: hòn Sơn Rái, Hòn Tre, Hòn Chông… và đặc biệt là đảo Phú Quốc – là một đảo lớn nhất trong các đảo của Việt Nam Đảo Phú Quốc có vị trí đặc biệt đối với vịnh Thái Lan cả về kinh tế, giao thương và quốc phòng Từ xa xưa, đảo Phú Quốc là một điểm đến quan trọng trong các hoạt động buôn bán của thương cảng Hà Tiên
Các núi đồi ở Kiên Giang là một nguồn nguyên liệu lớn lao, đặc biệt là với công nghiệp khai khoáng, nhất là các mỏ đá vôi Toàn tỉnh có trên 20 ngọn núi đá vôi, tập trung nhiều nhất ở Hà Tiên với trữ lượng khoảng 440 triệu tấn, trữ lượng có thể khai thác để sản xuất vật liệu xây dựng là gần 250 triệu tấn Nguồn đá vôi phong phú của tỉnh không chỉ có giá trị để sản xuất vật liệu xây dựng mà còn tạo ra những hang động và danh lam thắng cảnh
có ý nghĩa du lịch “Đá vôi được xác nhận là thế mạnh của tỉnh Kiên Giang so với các tỉnh Nam Bộ Nó được coi là một trong những mỏ chiến lược của nước ta Vì vậy, phải sử dụng sao cho hợp lý và kinh tế nhất” [34, tr 48]
Rừng của Kiên Giang gồm nhiều loại như rừng ven sông, rừng gỗ lớn, rừng ngập mặn
và rừng tràm với nguồn tài nguyên rất phong phú và dồi dào Rừng ngập mặn Kiên Giang, tiêu biểu là vườn quốc gia U Minh Thượng là nơi sinh sống của nhiều sinh vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới Rừng ngập mặn của Kiên Giang có vai trò lớn trong bảo tồn, cải tạo đất và lấn biển Rừng tràm là rừng đặc trưng của vùng đất phèn Cây tràm chủ yếu làm củi đốt, vật liệu xây dựng, lá tràm dùng chiết suất tinh dầu Rừng tràm có tác dụng cải tạo đất phèn và cân bằng sinh thái, nhất là những vùng mà môi trường thiên nhiên đã bị hủy hoại Từ xa xưa, rừng là nơi cung cấp chất đốt, vật liệu xây dựng, chất
Trang 21nhuộm và cũng là nơi sinh sống, nơi cung cấp dinh dưỡng của nhiều loại cá, tôm và nhiều loại giáp xác Hiện nay do quá trình khai hoang nên diện tích rừng đã bị thu hẹp nhiều
Có thể thấy, vị trí địa lí và thiên nhiên của tỉnh Kiên Giang rất giàu tiềm năng, thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Đây là cửa ngõ của Tổ Quốc Việt Nam đi ra vịnh Thái Lan và là một vị trí tốt để giao lưu với các nước trong khu vực cũng như trên thế giới Nhưng bên cạnh
đó, thiên nhiên Kiên Giang cũng chứa đựng nhiều khó khăn, thách thức cho việc thích ứng cải tạo và chinh phục, nhất là thời kỳ xa xưa Điều này lí giải cho sự hoang du của nó cho đến tận thế kỷ XVII
Trong sự phát triển tỉnh Kiên Giang ngày nay, thị xã Hà Tiên với nhiều thế mạnh của mình, đang giữ vị trí đặc biệt quan trọng
Thị xã Hà Tiên nằm phía Tây Bắc tỉnh 2Kiên Giang2, phía Đông và phía Nam giáp huyện 2Kiên Lương2; phía Tây giáp Biển tây; phía bắc giáp 2Campuchia2 Thị xã Hà Tiên gồm
có 7 đơn vị trực thuộc là phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài, phường Tô Châu, xã Thuận Yên, xã Mỹ Đức và xã đảo Tiên Hải
Diện tích tự nhiên của thị xã Hà Tiên là 8.851,5 ha, trong đó đầm ngập mặn Đông Hồ chiếm 1.047 ha Hà Tiên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, do ở vĩ độ thấp và ở ven biển nên khí hậu mang tính chất khí hậu đại dương 2Nhiệt độ2 trung bình hàng năm khoảng 27 – 28°C, tháng lạnh nhất là tháng 12 và tháng 1 (25 – 26°C); tháng nóng nhất là tháng 4 và tháng 5 (28 – 29°C) 2Độ ẩm tương đối2trung bình 81,9% Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, có nhiều năm mùa mưa đến sớm và kết thúc muộn hơn các khu vực khác của đồng bằng 2sông Cửu Long2 Lượng mưa lớn, trung bình 2.118 mm/năm
Địa hình thị xã Hà Tiên rất đa dạng, bao gồm 2đồng bằng2, 2núi2 và núi đá, hang động,
2
biển2, 2đầm2, 2quần đảo2… Thi sĩ Đông Hồ đã từng ca ngợi Hà Tiên như một Việt Nam thu nhỏ :
ngọn núi đá chơi vơi ngoài biển của Hạ Long Có một ít núi đá vôi của Ninh Bình Có một ít thạch thất sơn môn của Hương tích Có một ít Tây Hồ, một ít Hương Giang Có một ít chùa chiền của Bắc Ninh, một ít lăng tẩm của Thuận Hóa Có một ít Đồ Sơn, Cửa Tùng, một ít Nha Trang, Long Hải…” [32, tr 26]
Trang 22Hà Tiên có rất nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Hòn Phụ Tử, hang Tiền, Thạch Động, núi Bình San, núi Phù Dung, núi Lộc Trĩ, núi Đá Dựng, núi Châu Nham, Hòa Đại Kim dữ, biển Đông Hồ,…và nhiều bãi biển tuyệt đẹp như bãi Dương, Mũi Nai…không chỉ có giá trị về mặt phát triển du lịch mà còn có giá trị về văn hóa bởi những câu chuyện nửa thật, nửa hư xung quanh các danh thắng ấy
Hà Tiên có khoảng 22 km chiều dài bờ biển, với rất nhiều tài nguyên lâm sản, hải sản phong phú, rất thuận lợi để phát triển thương nghiệp trên biển Trong đó, biển Đông Hồ có vị trí đặc biệt quan trọng Biển Đông Hồ là vùng biển rộng, chia thị xã làm hai khu riêng biệt: phía đông Nam là phường Tô Châu và Thuận Yên; phía tây Bắc là phường Đông Hồ, phường Bình San, phường Pháo Đài và xã Mỹ Đức Đây là nơi rất thuận lợi để xây dựng cảng biển Ngoài ra, Hà Tiên còn có xã đảo Tiên Hải (quần đảo Hải Tặc) gồm 15 đảo lớn nhỏ là ngư trường đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản đầy tiềm năng
Như vậy, vùng đất Hà Tiên có nhiều kiều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Trong
đó, phát triển kinh tế biển, với việc khai thác nguồn lợi từ biển, xây dựng các hải cảng làm nơi trung chuyển, trao đổi mua bán hàng hóa và phát triển du dịch dựa trên những danh lam thắng cảnh nổi tiếng là hai ưu thế nổi bật của Hà Tiên Hiểu rõ về vị trí địa lí, thiên nhiên của vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang là điều kiện rất quan trong để xây dựng chiến lược phát triển vùng đất này về mọi mặt trong tương lai, nhất là về kinh tế Đồng thời, hiểu rõ về vùng đất
Hà Tiên – Kiên Giang ngày nay là nhân tố quyết định giúp chúng ta biết rõ vì sao ở thế kỷ XVIII, họ Mạc có thể xây dựng Hà Tiên thành một thương cảng sầm uất bậc nhất Đông Nam
Á, bởi vì, tuy hiện nay thương cảng Hà Tiên xưa không còn nữa nhưng những điều kiện để hình thành nên cảng Hà Tên là vị trí địa lí, tài nguyên thiên nhiên…vẫn còn đó
1.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Từ những bằng chứng khảo cổ học, dân tộc học, rất nhiều nhà khoa học đã kết luận rằng : vào cuối thời đại đá mới hay sơ kỳ thời đại kim khí, tại vùng đồng bằng ở miền tây sông Hậu, trong đó có Hà Tiên - Kiên Giang đã từng có cư dân cổ sinh sống Đó là cư dân của nền văn hóa Óc Eo
Trong bài viết Hà Tiên – điểm cư trú xưa của người Việt cổ, nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt đã dựa trên những luận cứ lịch sử chứng minh rằng : Hà Tiên thời xa xưa là đất
Trang 23của người Việt cổ “Người Việt thời xưa đã dùng thuyền đi đến những nơi thật xa…khi đi
vào vùng biển Hà Tiên, họ đã gặp một dãy núi dài án ngữ phía trước, vùng bán đảo Mũi Nai
Đó là nơi thích hợp cho người thời cổ dừng chân Họ đã ở lại và sản sinh một lớp địa danh
cổ mang từ tố Pù – Tà – Nạy” [14, tr 23] Từ đó, ông khẳng định, từ thời xa xưa, vùng đất
Hà Tiên chính là vùng đất Phù Dung (Phù Youn) của người Lạc Việt Đồng thời ông cũng giải thích rõ tên gọi Hà Tiên là bắt nguồn từ tên gọi của một dòng sông xưa có tên là Tà Ten
và đây cũng là tên của một ấp cư dân Việt cổ ở hướng đông bắc thị xã Hà Tiên ngày nay Và ông kết luận, tên gọi Hà Tiên theo “cách giải thích cũ theo truyền thuyết mà sách địa lý đời
Tự Đức chép lại: “Nơi đây xưa kia có tiên (Tiên) hiện xuống đi lại trên sông (Hà) nên gọi là đất Hà Tiên” thật rõ ràng không có căn cứ và thiếu khoa học” [14, tr.30]
Năm 1983, một trống đồng Đông Sơn được tìm thấy ở đảo Lại Sơn (Sơn Rái), huyện
2
Kiên Hải2, tỉnh Kiên Giang Cổ vật này là chứng tích cụ thể còn sót lại trên đường hải hành của người Việt cổ Họ khởi hành từ Vịnh Bắc Bộ, nương theo gió mùa 2Đông Bắc2 - 2Tây Nam2, men ven bờ bán đảo 2Đông Dương2 để vào 2vịnh Thái Lan2… Và họ đã gặp một nơi khá thích hợp để làm trạm dừng chân, sau có người định cư luôn, đó là vùng đất mà bây giờ có tên là bán đảo Mũi Nai (Hà Tiên) Tác giả Lê Trọng Khánh viết: “Từ Lưỡng Việt đến Mũi Nạy (Mũi Nai) ở phía Nam là địa bàn gốc của người Lạc Việt có nguồn gốc và ngôn ngữ chung,
nằm trong khối Bách Việt” [34] Câu nói này, một lần nửa cho thấy lời khẳng định Hà Tiên
thời xa xưa là đất của người Việt cổ là hoàn toàn có cơ sở
Cùng quan điểm trên, trong tác phẩm Tìm hiểu Kiên Giang, Dương Tấn Phát đã chỉ ra
trên địa bàn tỉnh Kiên Giang có 5 di chỉ quan trọng thuộc về văn hóa Óc Eo chứa di tích cư trú, kiến trúc, mộ táng, đường nước cổ như:
1- Nền Chùa (huyện Tân Hiệp) : có nhiều di tích cư trú, kiến trúc, mộ tán, đường nước
Trang 244- Giồng Đá (xã Bàn Tân Định - huyện Giồng Riềng) : có nhiều mẫu gốm thuộc loại hình văn hóa Óc Eo
5- Mốp Giăng (xã Mỹ Linh - huyện Hòn Đất) : di tích kiến trúc, mảng gốm đặc trưng loại hình văn hóa Óc Eo
Ngoài ra còn nhiều di tích rải rác các nơi [51, tr 90]
Các nhà khoa học cũng khẳng định rằng, nền văn hóa Óc Eo là thành quả của sự hợp tác giữa cư dân Việt, cư dân Khmer và nhiều cư dân khác Thời đó, chủ nhân của nền văn hóa Óc Eo đã có một trình độ khá cao về tổ chức xã hội và hoạt động kinh tế Họ đã lập nên nhà nước có tên gọi là Phù Nam (vào thế kỷ I sau CN) Vào thời kỳ cực thịnh của mình, Phù Nam từng giữ vị thế là một “Trung tâm liên thế giới” [37, tr.2] Óe Eo là cảng quốc tế lớn, tiêu biểu nhất của đế chế Phù Nam Trong khoảng hơn sáu thế kỷ, Óc Eo không chỉ là một trung tâm văn hóa rực rỡ, là nền tảng của văn hóa Phù Nam, mà còn có nhiều ảnh hưởng đến các nền văn hóa Đông Nam Á Tuy nhiên, vì nhiều lí do như sự thay đổi con đường buôn bán Đông – Tây trên biển, bị lũ lụt, bị chiến tranh tàn phá …vương quốc Phù Nam đã bị suy tàn vào thế kỷ VII và bị Chân Lạp thôn tính [49]
Từ thế kỷ VII - cho đến cuối thế kỷ XVII, trên danh nghĩa vùng đất đồng bằng sông Cửu Long nói chung và Hà Tiên nói riêng thuộc Chân Lạp nhưng phụ thuộc một cách lõng lẻo, chưa có chính quyền Chân Lạp trực tiếp cai trị Sự không ổn trong nội bộ đất nước cũng như nhiều nguyên nhân khách quan khiến họ không thể làm chủ vùng đất này Đúng như ông
Pierre Dupont đã nói : “Người Camphuchia chưa bao giờ chiếm đoạt đất Nam Kỳ” [14, tr
31] Thật vậy, người Khmer chiếm lấy đất của Phù Nam nhưng họ đã không hề làm chủ
được vùng đất thấp “Đối với họ, vùng hạ lưu sông Cửu Long cận biển là một trở lực to tát,
đồng thời là sự thách đố của thiên nhiên Chính họ đã chịu khuất phục Suốt gần 10 thế kỷ (từ thế kỷ VII – thế kỷ XVII), họ chẳng hề khai phá được vùng đất này, mãi cho đến khi người Việt tràn đến” [14, tr 31]
Đầu thế kỷ XIII, Châu Đạt Quan, một sứ giả Trung Quốc đã ghi rõ sự hoang sơ, tiêu
điều của vùng hạ lưu sông Cửu Long trong tác phẩm Chân Lạp phong thổ ký: “Gần hết cả
vùng đều là bụi rậm của rừng thấp, những cửa rộng của con sông lớn chảy dài hàng trăm dặm, bóng mát um tùm của những gốc cổ thụ và cây mây dài tạo thành nhiều chổ trú xum
Trang 25xuê, khắp nơi vang tiếng chim hót và tiếng thú kêu Vào nửa đường trong sông thấy những cách đồng hoang không có một gốc cây, xa nữa, tầm mắt chỉ thấy toàn cỏ cây đầy rẫy” [58,
tr 36] Trong Phủ Biên tạp lục, Lê Quý Đôn cũng viết : “Phủ Gia Định, đất Đồng Nai, từ các cửa biển như Cần Giờ, Soài Lạp, cửa Đại, cửa Tiểu đi vào, toàn là rừng rậm, rộng hơn ngàn dặm.” [19, tr 255]
Trong bối cảnh ấy, thời bấy giờ, Hà Tiên vẫn còn là vùng đất hoang vắng vô chủ trong vùng vịnh Thái Lan Trong bản du ký của Pierre Poivre, một du hành người Pháp, viết : “Khi rời khỏi quần đảo Mã Lai, chúng tôi nhận thấy ở hướng bắc một lãnh thổ gọi là Cancar (Hà Tiên), và được nhận biết ra trên bản đồ hàng hải dưới cái tên là Panthiamas Lãnh thổ này nằm giữa một bên là xứ Chân Lạp mà chính quyền không có lấy một hình thức ổn định, một bên là đất đai dưới quyền đô hộ của người Mã Lai Bị bao quanh bởi những nước láng giềng như thế, nên cách đây độ 50 năm P
Đúng như lời tựa quyển sách Hà Tiên thập vịnh in năm 1737 do Mạc Thiên Tứ tự tay viết :
hơn 30 năm, dân cư mới được yên, tạm biết cấy cày Non sông này thấm nhuần phong hóa của cha tôi đã được thêm phần tráng lệ, lại được các bậc danh sĩ đề vịnh, thì lại càng thêm thiêng liêng, tươi sáng…” [32, tr 82]
Có thể thấy, sự phát triển kinh tế - xã hội của khu vực đồng bằng sông Cửu Long nói chung và khu vực Hà Tiên nói riêng trước thế kỷ XVII là rất chậm chạp Cho đến đầu thế kỷ XVII, một đồng bằng màu mở, phì nhiêu như đồng bằng sông Cửu Long vẫn là vùng đất hoang vu, đầm lầy trũng thấp và rừng sác mịt mùng Chính vào lúc đó, những lưu dân người Khmer, người Việt, người Hoa đã đến và đã cùng nhau chung sức lao động sáng tạo để biến đồng bằng sông Cửu Long từ rừng hoang thành những cánh đồng màu mở, những thương cảng trù phú
1.2.QUÁ TRÌNH KHAI PHÁ VÙNG ĐẤT HÀ TIÊN
Trang 26
1.2.1 Công cu ộc khai phá vùng đất Hà Tiên thời chúa Nguyễn và họ Mạc
Như trên đã nói, cho đến đầu thế kỷ XVII, vùng đồng bằng sông Cửu Long nói chung
và Hà Tiên – Kiên Giang nói riêng vẫn là vùng đất hoang hóa, dân cư thưa thớt và cũng chưa
có một chính quyền nào thật sự để quản lí vùng đất này Đây chính là nơi dung thân lý tưởng cho dân phiêu tán vì những lí do khác nhau Quá trình khai phá vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang có thể hình dung qua ba cuộc di dân lớn của người Khmer, người Việt, người Hoa
Cuộc di dân đầu tiên đến vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang phải nói đến là của những người Khmer diễn ra vào thế kỷ XI – XV
Vào đầu thế kỷ IX, trên lãnh thổ vương quốc Camphuchia ngày nay, đế chế Angkor ra đời Từ đó, cho đến 7 thế kỷ tiếp theo, quốc gia Angkor là một nhà nước trung ương tập quyền mạnh Nhà nước này, về đối ngoại đã tiến hành rất nhiều cuộc chiến tranh xâm lược
và cướp bóc các quốc gia, các bộ lạc láng giềng ; về đối nội, lại thực hiện chính sách sưu cao thuế nặng để thỏa mãn sinh hoạt xa hoa nơi cung đình và công cuộc xây dựng vô số đền đài, cung điện nguy nga, đồ sộ, đồng thời dùng quân đội nhà nghề và hình phạt dã man để đàn áp mọi phản kháng của giới quý tộc ly khai và quần chúng nhân dân
Không chịu nổi ách thống trị hà khắc và sự lao dịch quá nặng nhọc, người Khmer buộc phải rời xứ sở, tràn về phía đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có các vùng rìa phía tây biên giới Hà Tiên của tỉnh kiên Giang ngày nay để lánh nạn và kiếm sống Những cuộc
di dân này diễn ra trong suốt thế kỷ XI, XII là thời kỳ đế chế Angkor hưng thịnh
Sang thế kỷ XIV, XV, do sự bóc lột thậm tệ của bọn phong kiến làm cho sức sản xuất trong nước bị kiệt quệ, nhất là do bị xâm lược liên miên, đế chế Angkor từ suy yếu đi đến chỗ bị sụp đổ hoàn toàn Trong các năm 1353, 1394 và 1431, ba lần quân Xiêm tấn công vương quốc và đánh chiếm kinh đô Angkor Mỗi lần bị xâm lược, đất nước Camphuchia lại
bị tàn phá hết sức nặng nề, hàng vạn tù binh, vô số của cải bị bắt, bị cướp đem về Xiêm Đặc biệt là sau khi kinh đô thất thủ lần thứ ba (1431), đế chế Angkor bị suy sụp hoàn toàn, không thể phục dựng được nữa và phải dời đô về Phnom Pênh
Trước tình hình đó, một dòng người Khmer, nạn nhân của các cuộc chinh phạt, đã thiên di xuống đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có vùng đất phía tây (Tri Tôn, Rạch Giá…), và phía nam (An Biên, Vĩnh Thuận…) của tỉnh Kiên Giang ngày nay [51, tr 95]
Trang 27Chính những cư dân này trong quá trình sinh sống ở vùng đất mới đã tạo nên tộc người Khmer Nam Bộ, họ tách khỏi khối đồng tộc của mình ở Camphuchia, rồi về sau, do điều kiện lịch sử cụ thể ấn định, trở thành một tộc người trong cồng đồng các dân tộc Việt Nam
Trên địa bàn rộng mênh mông, tuyệt đại bộ phận đất đai vẫn là đầm lầy và rừng rậm của vùng đất Hà Tiên xưa, người Khmer Nam Bộ đã hình thành được ba trục cư dân chính ở Rạch Giá, Gò Quao và Vĩnh Thuận Ba trục cư dân này nằm trải dài, cách biệt nhau, quan hệ với nhau rất lỏng lẻo do giao thông quá trắc trở, mỗi trục lại chỉ gồm một vài khu cư trú (phum, sóc) rất nhỏ Điều đó cho thấy, tổng số dân Khmer Nam Bộ lúc này là rất ít ỏi Trong
ba trục cư dân trên, thì trục Rạch Giá giữ vai trò nồng cốt, vì đây là tụ điểm của mấy dòng sông đổ ra biển và là nơi sản xuất, trao đổi hàng hóa quan trọng nhất thời bấy giờ, đó là sáp trắng (sáp ong - tiếng Khmer gọi là Kramuôn sor)
Những khu cư trú của người Khmer được gọi là phum, sóc Và nếu như ở Camphuchia, phum, sóc là đơn vị hành chính, thì tại đây, chúng chỉ còn là các công xã nông thôn Những người đứng đầu phum, sóc đều do chính nhân dân trong phum, sóc lựa chọn Mọi việc phum, sóc đều tự lo liệu lấy Ở đây không hề có quan Óc Nha (Oknha), một lãnh chúa địa phương, quan cai quản một tỉnh “Điều đó cho thấy một cách hiển nhiên là vùng đất còn quá hoang vu này không hề được nhà nước Angkor quản lý, ngay cả trên hình thức” [51, tr 97]
Với một dân số ít ỏi, tổ chức xã hội lỏng lẻo và nhất là sức sản xuất thấp kém, mang tính tự cung tự cấp, sự giao lưu với bên ngoài là rất hạn chế (trừ việc buôn bán sáp trắng – một sản phẩm vốn quá nhiều và dễ kiếm), cho nên trong nhiều thế kỷ khai phá, tộc người Khmer ở Hà Tiên – Kiên Giang vẫn chưa khai phá đất đai được bao nhiêu Quá trình khai phá chỉ thật sự diễn ra mạnh mẽ khi người Việt đến vào thế kỷ XVII Chính người Việt đã đảm đương và hoàn thành sứ mệnh khai phá vùng đất này
Cuộc di dân của người Việt là cuộc di cư khai phá lớn lần thứ hai ở vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang Và cũng như người Khmer, những lưu dân người Việt buộc phải rời bỏ quê hương vì nhiều lí do nhưng chủ yếu vẫn là chiến tranh
Từ thế kỷ XVI, nước Đại Việt rời vào thời kỳ chia cắt, chiến tranh loạn lạc Triều đại nhà Lê suy yếu, không còn khả năng quản lí đất nước Các thế lực phong kiến nổi lên tranh
Trang 28giành quyền lực Sau cuộc chiến tranh bất phân thắng bại của chúa Nguyễn ở Đàng Trong và chúa Trịnh ở Đàng Ngoài (1627 – 1672), nước ta tạm thời bị chia cắt làm hai, lấy sông Gianh làm giới tuyến
Những cuộc chiến tranh liên miên đã đẩy cuộc sống của người dân lâm vào cảnh khốn cùng : nạn hán, ruộng đất bỏ hoang, đói khổ, bị áp bức bóc lột nặng nề …Lê Quý Đôn đã viết về cuộc sống của người nông dân thời chúa Nguyễn Phúc Lan (1635 – 1648) như sau :
“Xứ Đàng Trong đại hạn, và mất mùa, dân phải trôi dạt và chết đói rất nhiều” [18, tr 61] Trong hoàn cảnh ấy, đã buộc người dân phải bỏ làng đi tha hương và điểm đến của họ là khu vực đồng bằng sông Cửu Long, nơi họ nghe nói đất đai rộng lớn, phì nhiêu nhưng chưa được khai phá
Những hệ lụy của chiến tranh đã đẩy bật người nông dân ra khỏi nơi chôn nhau cắt rốn của họ, nhiều nơi cả một làng phải rời bỏ quê cha đất tổ để tha hương cầu thực Người nông dân miền Bắc di cư vào Nam Bộ ngày càng tăng theo mức độ tàn hại, khốc liệt của chiến tranh, các mâu thuẫn xã hội Và lực lượng tham gia vào những đoàn lưu dân tha hương cầu thực ấy là rất phong phú Ngoài số dân nghèo thất sở, xiêu tán là đông nhất, trong lớp lưu dân người Việt đến vùng đất Nam Bộ còn có những người trốn tránh binh dịch, những tù nhân bị lưu đày, những binh lính đào ngũ hoặc giải ngũ, những thầy lang, thầy đồ nghèo…
và kể cả những người vốn đã giàu có nhưng muốn tìm đất mới để mở rộng công việc làm ăn [43, tr 42]
Di dân người Việt đi vào Nam Bộ bằng nhiều cách như tự động đi hoặc do chính quyền tổ chức và đi bằng đường biển là chủ yếu Bởi vì “Đất nước Đại Việt chỉ là một dãy núi dọc theo mé biển, các đồ ấp đều tựa núi dai ra mặt biển, núi cao sông hiểm, cây rừng rậm rập nhiều tê tượng, hùm beo, các phủ không có đường lối thông nhau, mỗi phủ đều có một cửa biển đi vào; muốn đi từ phủ này qua phủ khác tất do đường biển…Núi cao nắng gắt, trèo qua rất khó nên đi thuyền theo đường biển tiện hơn” [43, tr 43]
Lưu dân người Việt vào Nam Bộ đã định cư ở nhiều địa điểm khác nhau, trong đó vùng đất Hà Tiên – Kiên Giang là một trong những địa điểm định cư mà người Việt đã lựa chọn Hà Tiên là vùng đất có hai mặt giáp biển và có nhiều sông ngòi đổ ra biển, nên có thể khẳng định phương tiên nhập cư vào vùng đất này của các lưu dân chắc chắn là đường biển
và đường sông rạch Từ đầu cho tới giữa thế kỷ XVII, nhiều người Việt đã dùng thuyền vượt
Trang 29biển vào miền cực nam, trong đó có Hà Tiên để sinh sống Trong Phủ Biên tạp lục, Quý Đôn
đã gián tiếp cho thấy tình hình di dân ấy khi ông thuật chuyện các chúa Nguyễn tổ chức ra đội Bắc Hải “hoặc người thuộc thôn Tứ Chiếng ở Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện thì sung vào và cấp giấy sai đi, miễn nộp tiền sưu cùng các thứ thuế lặt vặt như tiền tuần đò, tiền đò, sai họ đi thuyền câu nhỏ ra các xứ như cù lao Côn Lôn ở Bắc Hải, Cồn
Tự ở Hà Tiên, để tìm kiếm lượm nhặt đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm…” [18, tr 149]
Đặc biệt, từ khoảng năm 1658 đến 1669, để gấp rút xây dựng một khu đặc biệt đủ sức mạnh chống lại Đàng Ngoài, các chúa Nguyễn đã dùng mọi biện pháp, từ khuyến khích, dụ
dỗ tới cưỡng bức, để đưa người vào Nam khai hoang Ai tình nguyện đi khai hoang thì được miễn sưu thuế, được cấp nông cụ, tiền bạc … để sản xuất Những tù binh cũng được đưa vào Nam để khai khẩn, lập đồn điền Chính vì thế, cho đến cuối thế kỷ XVII, chỉ riêng số di dân người Việt cư trú tại Đồng Nai (bao gồm Biên Hòa và Gia Định ngày nay) đã đạt tới 4 vạn
hộ (tính trung bình 1 hộ 5 khẩu thì số dân là 200.000 người) [43, tr 77]
Để quản lí dân số của mình cũng như thiết lập bộ máy chính quyền ở vùng đất mới, năm 1698, chúa Nguyễn Phúc Chu đã “sai thống suất chưởng cơ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh kinh lược nước Chân Lạp, lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, xứ Sài Gòn làm huyện Tân Bình, dựng dinh Phiên Trấn, mỗi dinh đặt ra các chức Lưu thủ, Cai bạ, Ký lục để giữ và chăm dân, nha thuộc thì có hai ty Xá xai và Tướng thần lại để làm việc; quân lính thì có tinh binh và thuộc binh thủy bộ các cơ đội thuyền để hộ vệ; mở đất đai nghìn dặm, được dân hơn bốn vạn hộ…” [20,
tr 77], chính thức xác lập chính quyền của chúa Nguyễn ở vùng đất Nam Bộ Việc chính quyền chúa Nguyễn được thành lập được coi như một tất yếu, một việc đã rồi, chính thức hóa một sự thể “dân làng mở đất trước, Nhà nước đến cai trị sau” [12, tr 154] Từ đây, lịch
sử vùng đất Nam Bộ nói chung và Hà Tiên – Kiên Giang nói riêng đã bước sang một thời kỳ mới
Từ sau sự kiện 1698, công cuộc khai khẩn vùng đất Hà Tiên của lưu dân người Việt vẫn được tiếp tục ở những thế kỷ sau Nhưng cũng từ đây, công cuộc khai phá Hà Tiên, bên cạnh người Khmer Nam Bộ, người Việt, còn có sự giúp sức của một nhóm di dân mới – đó
là những người Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của Mạc Cửu
Trang 30Vào những năm nửa sau thế kỷ XVII, nhiều nhóm di dân người Hoa đã vượt biển Nam Hải sang định cư ở Việt Nam Nếu như nhóm Dương Ngạn Định và Hoàng Tiến đến vùng đất Mỹ Tho, lập nên Mỹ Tho Đại Phố ; nhóm Trần Thượng Xuyên đến Biên Hòa, lập nên Nông Nại Đại Phố, thì nhóm do Mạc Cửu lãnh đạo lại tiếp tục đi xa nữa, vào miền duyên hải vịnh Xiêm La để định cư, kiến thiết vùng đất Hà Tiên, lập nên Hà Tiên đại phố Lịch sử vùng đất Hà Tiên từ thời Mạc Cửu trở đi được các bộ chính sử của ta chép một cách rõ ràng
Các bộ chính sử đều chép rằng : Mạc Cửu vốn là người Lôi Châu (Quảng Đông – Trung Quốc) do nhà Minh mất, không chịu thần phục nhà Thanh nên chạy xuống phương Nam và đến vùng Hà Tiên xin vua Chân Lạp cho định cư khai phá Khi đến Hà Tiên thấy nhiều thương nhân đến buôn bán, bèn mở sòng bạc để thu thuế Ông còn lập ra 7 xã thuộc Hà
Tiên Chẳng hạn, trong sách Gia Định thành thông chí, sử gia Trịnh Hoài Đức đã chép: “Hà
(1) : Trong sách Hà Tiên phương địa chí, Trần Thiêm Trung đã giải thích tên gọi Phương Thành như sau : “Tại trấn lỵ, một thành
vuông, đặt tên Phương Thành, chung quanh bao bọc chiến lũy, trồng tre gai, vì thế còn có tên chung là Trúc Bàn Thành.”
(2): Về niên đại Mạc Cửu đến Hà Tiên có nhiều giả thiết khác nhau Mạc thị gia phả của Vũ Thế Dinh thì cho là năm 1671, còn Gia Định thành thông chí của Trịnh Hoài Đức cho là năm 1680 (như trên đã dẫn) Cả hai niên đại này điều không ổn, bởi Mạc Cửu sinh năm 1655, thì khi ấy ông mới 25 tuổi mà thôi Còn giáo sư Trần Kinh Hòa thì đưa ra một giải thiết rằng : “sự mở mang của Hà Tiên có lẽ bắt đầu từ trước sau năm 1686 Chừng năm 1687 hoặc 1688, Hà Tiên bị quân đội Xiêm chiếm đóng, Mạc Cửu bắt buộc phải theo quân Xiêm đi ở Vạn Tuế Sơn Hải Tân (tức là Muang Galapuri), một hải cảng ở địa hạt Xiêm La Nhưng chẳng bao lâu, Mạc Cửu đã trốn về Long Kỳ (Sre Umbell), rồi đến khoảng năm 1700 về tới Hà Tiên”.[32, tr 33] Sau này, nhà nghiên cứu Trương Minh Đạt trên cơ sở đối chiếu nhiều nguồn tư liệu khác nhau, đã chứng minh thời gian Mạc Cửu đến Hà Tiên vào khoảng năm 1700 là đáng tin hơn cả Và theo chúng tôi, mốc thời gian năm 1700 là chính xác
(3) : Xã còn lại là Hà Tiên Các xã Lũng Kỳ, Cần Bột, Vũng Thơm hiện nay thuộc lãnh thổ Camphuchia
Trang 31Mạc Cửu đã quyết định nương nhờ vào chúa Nguyễn, “bèn sai hai thuộc hạ
là Trương Cầu và Lý Xá mang tờ biểu trần tình đến kinh đô Phú Xuân để xin làm người đứng đầu xứ ấy” [59, tr 120] Chúa Nguyễn nhận thấy Hà Tiên là vùng đất “có thể kiểm soát
bờ biển từ Xiêm La đến Nam Việt, và từ đất ấy, chúa sẽ làm bàn đạp để tiến lên phía Bắc, nối liền với Tiền Giang”[35, tr 352] nên vui mừng chấp nhận thỉnh cầu của Mạc Cửu
Mùa Thu, tháng 8 năm Mậu Tý (1708), Nguyễn Phúc Chu đã sắc phong cho Mạc Cửu làm Tổng Binh Trấn Hà Tiên, tước Cửu ngọc hầu P
(
8
2)
P
Năm sau (1711) Mạc Cửu thân hành
đến Huế yết kiến Minh Vương Nguyễn Phúc Chu Việc này biểu thị chủ quyền của Hà Tiên
không phải thuộc về Chân Lạp Cửu về trấn dựng thành quách, lập doanh ngũ, đặt liêu tá,
làm nhiều nhà khách để tiếp đón hiền tài Dân đến ở ngày càng đông, Hà Tiên trở thành một nơi đô hội nhỏ Trong Mạc thị gia phả, Vũ Thế Vinh ghi khá chi tiết về sự kiện này : “Nam triều Tiên vương (Nguyễn Phúc Chu) thấy Thái Công (Mạc Cửu) tướng mạo khôi ngôi, dáng
vẻ kiệt hiệt, cử chỉ kính cẩn, khen là người có lòng trung thành, bèn hạ chỉ cho làm thuộc quốc, đặt tên đất Thái công cai trị là trấn Hà Tiên, phong cho chức Tổng binh, ban ấn tính và sai nội thần tiễn Thái Công đến tận cửa ải Thực là một vinh dự đặc biệt hiếm thấy Thái Công về Hà Tiên, tuân theo chỉ dụ của Vương (Nguyễn Phúc Chu), xây thành đắp lũy, tôn tạo vinh thự, đặt các chức thuộc hạ và lập sở Mạc thị để chiêu tập người hiền tài” [24, tr 17]
Hành động của chúa Nguyễn Phúc Chu có ý nghĩa rất quan trọng đối với lịch sử phát
triển của vùng đất Hà Tiên Từ thời điểm này, trấn Hà Tiên (bao gồm Hà Tiên, Rạch Giá, Cà
Mau và Phú Quốc) chính thức được thành lập và cũng bắt đầu từ đây trở đi, trấn Hà Tiên là
một đơn vị hành chính của Nhà nước phong kiến Việt Nam ở Đàng Trong (chúa Nguyễn)
“Cùng với Gia Định, Đồng Nai, Hà Tiên trở thành một trong ba đỉnh của tam giác Việt Nam
ở Nam Bộ, đồng thời là một tiền trạm chiến lược phía Tây sông Hậu, tạo ra cái thế không thể dừng trong cuộc khai thác phương Nam” [69, tr 22] Lịch sử vùng đất Hà Tiên đã sang
đông” [59, tr 122]
(1) : Mưu sĩ họ Tô (Tô Quân) đã nói với Mạc Cửu rằng : “Người Chân Lạp vốn nông nổi và bạc bẽo, gian xảo thì nhiều mà trung hậu thì ít, cho nên không thể nào dựa cậy lâu dài được Chi bằng hãy xin hàng nước Việt, xin nhận chức và xưng thần để làm chỗ căn bản, nếu vạn nhất có thể xảy điều gì thì cũng có người giúp đỡ” (Vũ Thế Dinh, Mạc thị gia phả, tr 16 – 17)
(2) : Về niên đại ghi sự kiện Mạc Cửu được chúa Nguyễn phong chức Tổng trấn Hà Tiên, các bộ sử ghi có khác nhau : Đại Nam
Trang 32Năm 1735, sau 27 năm dốc tâm kiến lập đất Hà Tiên, Tổng binh trấn Hà Tiên là Mạc
Cửu qua đời Ông được chúa Nguyễn tặng “Khai trấn thượng trụ quốc đại tướng quân Vũ
Da ta được hưởng quyền thế tập chức Tổng Binh Đại Đô Đốc, lại còn ban cho một bộ áo mãng bào sắc đỏ cùng với các thứ ấn tín” [25, tr 18] Thời kỳ cai trị của Mạc Thiên Tứ chính là thời thịnh trị nhất của Hà Tiên
Tính cho đến năm 1771, tức là sau 63 năm (1708 – 1771), dưới sự ủng hộ, giúp đỡ của các chúa Nguyễn và qua bàn tay xây dựng của cha con họ Mạc, vùng đất Hà Tiên đã trải qua những năm tháng phát triển hàng kim với nhiều thành tựu to lớn về kinh tế, văn hóa và cả quân sự Đô thị Hà Tiên đã trở thành trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa của toàn trấn Cảng thị Hà Tiên trở thành điểm xuất phát, là khởi nguồn cho quá trình khai hoang của dân tộc Việt Nam ở xứ Đàng Trong, là cầu nối quan trọng của nền thương mại thế giới Đông – Tây
Nhưng cũng từ năm 1771 trở đi, vùng đất Hà Tiên đã phải trải qua hai biến cố lớn, làm thay đổi hẳn số phận của nó Vào năm này, Hà Tiên đã bị Xiêm chiếm và phải đến năm
1773, nhờ sự giúp sức của quân đội nhà Nguyễn đóng ở Gia Định, Mạc Thiên Tứ mới lấy lại được Sau đó, Hà Tiên lại bị cuốn vào vòng xoáy của những cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa hai tập đoàn phong kiến Nguyễn – Tây Sơn
Từ 1773, nghĩa quân Tây Sơn đã đánh chiếm phủ Quy Nhơn Năm 1775, đánh chiếm kinh đô Phú Xuân, buộc chúa Nguyễn phải chạy vào Gia Định Triều đình chúa Nguyễn lâm vào cảnh nguy khốn và đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt nhưng Mạc Thiên Tứ vẫn một lòng đứng về các chúa Nguyễn Năm 1775, nhân việc chúa Nguyễn Phúc Thuần đến Gia Định, Mạc Thiên Tứ đã thân hành đến bái yết, rồi sau đó trở về Trấn Giang chiêu tập dân xiêu tán
1 Đại Nam thực lục, tập 1, tr 145
Trang 33[20, tr 126] Và cũng từ thời điểm này, Mạc Thiên Tứ và trấn Hà Tiên phải trải qua những tháng ngày lận đận cùng với dòng họ Nguyễn
Năm 1777, nghĩa quân Tây Sơn đánh chiếm Gia Định, giết chết các chúa Nguyễn là Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương, lật đổ ách thống trị của họ Nguyễn ở Đàng Trong, chỉ còn Nguyễn Ánh (cháu Nguyễn Phúc Thuần) may mắn trốn thoát Sau khi chiếm được Gia Định, nghĩa quân Tây Sơn tiến đánh Long Xuyên, truy đuổi Nguyễn Ánh ra tận đảo Phú Quốc Cũng thời gian này, nghĩa quân Tây Sơn đã làm chủ trấn Hà Tiên, Mạc Thiên
Tứ vì không chịu theo Tây Sơn đã chạy ra đảo Phú Quốc và sau đó, Mạc Thiên Tứ được vua Xiêm là Phi Nhã Tân đón sang Xiêm Đến năm 1780, Mạc Thiên Tứ mất tại Xiêm [20, tr
128, 129] Sau này, Mạc Thiên Tứ được triều Nguyễn sắc phong là Hà Tiên trấn Tổng binh Đại đô đốc Quốc lão sùng quận công
Từ năm 1778 – 1787, vùng đất Gia Định nói chung và trấn Hà Tiên nói riêng trở thành vùng tranh chấp giữa Nguyễn Ánh và nghĩa quân Tây Sơn Năm 1784, sau những thất bại liên tiếp, Nguyễn Ánh đã cầu cứu quân Xiêm Tháng 3 năm ấy (1784), 5 vạn quân Xiêm đã kéo sang Gia Định nhưng bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tác tại Rạch Gầm – Xoài Mút (1785) Nguyễn Ánh một lần nữa may mắn thoát chết
Đến năm 1787, Nguyễn Ánh mới lần lượt chiếm lại được các vùng đất ở Nam Bộ,
trong đó có Hà Tiên Tháng 6 năm 1787, Nguyễn Ánh cử tham tướng Lý Chính Hầu làm tổng trấn Hà Tiên Năm 1789, Lý Chính Hầu mất, Mạc Công Bính (con Mạc Tử Hoàng, cháu Mạc Thiên Tứ) được cử làm tổng trấn Hà Tiên nhưng do bị chiến tranh tàn phá, Hà Tiên trở nên điêu tàn, Mạc Công Bính không đóng ở Hà Tiên mà đóng ở Long Xuyên Sau
đó, Mạc Công Bính chết, trấn Hà Tiên bị khuyết quan cai trị
Mãi đến năm 1799, Mạc Tử Thiêm (con thứ của Mạc Thiên Tứ) và Mạc Tử Hoàng mới được Nguyễn Ánh đón từ Xiêm về để quản lý trấn Hà Tiên Từ đây, lịch sử vùng đất Hà Tiên bước sang một trang sử mới, dưới sự quản trí thống nhất của vương triều Nguyễn
Như vậy, từ một vùng đất giàu tiềm năng, nhưng lại hoang vu, dân cư thưa thớt, qua bàn tay kiến thiết của các tộc người Kinh, Khmer, Hoa dưới sự lãnh đạo của họ Mạc, nhất
là của Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ, cùng với sự che chở và bảo vệ của chính quyền chúa Nguyễn, Hà Tiên đã trở thành một vùng đất phát triển thịnh vượng “Tuy nhiên, do ranh giới
Trang 34địa lý chưa ổn định và do trấn Hà Tiên nằm trong “khu đệm” với những dao động rất lớn do
sự tranh chấp về chính trị, quân sự của các nước trong khu vực cho nên sự hưng thịnh và suy vong của trấn Hà Tiên rất khó lường Hà Tiên đã vươn lên thành một đại đô hội, song chiến tranh và những tranh chấp trong khu vực đã tàn phá Hà Tiên vào những năm cuối thế kỷ XIX” [26, tr 25]
1.2.2 Tr ần Hà Tiên dưới triều Nguyễn
Sau khi lên ngôi năm 1802, cùng với việc thiết lập hệ thống hành chính thống nhất toàn quốc, Hà Tiên được Gia Long chú ý cũng cố và tạo điều kiện để phát triển Dưới thời Gia Long, Hà Tiên dần dần ổn định tuy không còn phồn thịnh như trước đây nữa
Ngay năm 1802, Mạc Tử Thiêm được Nguyễn Ánh phong làm Cai cơ trấn thủ trấn Hà Tiên, và ra lệnh sai gọi nhân dân lưu tán vì chiến tranh quay về nơi ở cũ và tha bớt cho thuế đinh điền Đồng thời, hai đạo Long Xuyên và Kiên Giang thuộc trấn Hà Tiên được cải tổ lại thuộc về trấn Vĩnh Thanh Năm 1808, đặt hai huyện Kiên Giang và Long Xuyên vẫn do đạo quản hạt
Đến năm 1809, Mạc Tử Thiêm mất, Mạc Công Du, Mạc Công Thê, Mạc Công Tài (con Mạc Tử Thiêm) vì nhỏ tuổi nên chỉ được phong chức hàm Cai đội để giữ việc cúng tế Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ Dòng họ Mạc trải qua 7 năm không có người đứng đầu Hà Tiên
Năm Gia Long thứ 9 (1810), Gia Long đặt lại Trấn Hà Tiên, cho hai huyện Kiên Giang và Long Xuyên lệ vào Sai Ngô Y Nghiễm và Lê Tiến Phúc làm án thủ trấn Hà Tiên Đồng thời cũng năm này, triều đình đã chuẩn y lời tuân của quan án thủ trấn Hà Tiên “cho
bỏ ba ngạch thuế hoa chi (thuế sòng bạc), thuốc phiện, mỡ lợn và dụ rằng : phàm các thuế khóa của tàu buôn ghe buôn hạt Hà Tiên, từ nay về sau đều cho tha miễn.” [20, tr 136]
Tháng 9 năm 1810, Nguyễn Văn Thiện được phong làm trấn thủ trấn Hà Tiên nhưng ông chưa kịp nhận thức đã bị ốm chết Hà Tiên lại tiếp tục trải qua những tháng ngày rối ren bởi những cuộc chiến tranh giành quyền lực giữa các tướng lĩnh và nạn trộm cướp Về sau triều đình cử Nguyễn Phúc Thụy đến dẹp loạn, Hà Tiên mới bình yên trở lại
Năm 1811, Trương Phúc Giáo được bổ nhiệm làm Trấn thủ trấn Hà Tiên Từ đây, trấn
Hà Tiên bắt đầu trở lại những hình ảnh vốn có khi xưa Trương Phúc Giáo đã cho “gọi dân lưu tán trở về, họp người đến buôn bán, đặt nhà học, khẩn ruộng hoang, chia vạch phố chợ,
Trang 35thứ tự phân biệt người Kinh, người Thanh (Hoa Kiều), người Lào, Miên, người Chà Và, loại nào theo loại ấy Chính lệnh thì khoan giản, không có phiền nhiễu, công việc của trấn mới có giềng mối khả quan” [20, tr 136 – 137]
Đến năm 1816, Mạc Công Du (con Mạc Tử Hoàng, cháu Mạc Thiên Tứ) được phong làm Hiệp trấn trấn Hà Tiên và hai năm sau (1818) được thăng làm Trấn thủ trấn Hà Tiên Đồng thời, vua Gia Long đã ra lệnh cho Mạc Công Du tìm hiểu về sự tích Hà Tiên, vua dụ rằng : “Đất Hà Tiên là bờ cõi mới do các thánh nhân mở mang và là đất cũ của tổ tiên ngươi
là Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ được phong Từ triều trước trở đi công việc đều có sách vở ghi chép Từ giặc Tây Sơn nổi loạn, sách vở tản mác, không theo đâu mà kê cứu được Nay bắt đầu yên định, dân trước sót lại hãy còn, ngươi nên hết lòng tìm hỏi thu nhặt việc cũ, biên chép tiến lên Trẫm sẽ đăng vào tín sứ, để lại đời sau” [59, tr 974] Điều này cho thấy, vua Gia Long đánh gia rất cao công lao của họ Mạc và vị thế của Hà Tiên Nói về ý nghĩa của việc triều đình trọng dụng con cháu họ Mạc, Trịnh Hoài Đức viết: “Đó là triều đình nghĩ đến người công thần khai thác đất đai, mà con cháu được nhờ mãi ơn ấm của tổ tông vậy” [20,
tr 137] Con cháu sau này của họ Mạc như Mạc Hầu Hy, Mạc Hầu Diệu, Mạc Hầu Phong đều được làm quan và được quyền thế tập hàm Cai Đội
Từ năm 1816 trở đi, địa giới trấn Hà Tiên đã dần đi vào ổn định Toàn trấn có 2 huyện,
4 tổng và 103 xã, thôn Trong Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã viết về trấn Hà
Tiên thời bấy giờ như sau : “Trấn này phía nam giáp trấn Vĩnh Thanh, phía tây giáp nước
Xiêm La, phía đông trông sang thành Gia Định, phía bắc giáp nước Chân Lạp Hai hòn Đại Kim dữ, Tiểu Kim dữ tức là viên ngọc châu trấn ngoài biển, dàn bầy đằng trước; núi Ngũ Hổ tức là quả ấn cắp nách, ôm cặp đằng sau; phía đông có núi Tô Châu cao vót, là cửa ải để ủng vệ nơi cửa sông; phía tây có núi Lộc Trĩ đứng sững làm cột đá để che chặn sóng dữ; sông Tiên vòng ôm bên tả, núi Bình Sơn hộ vệ bên hữu Các hòn đảo làm án gần trước mặt, hòn ra, hòn vào xen nhau hoặc như cái đai ngọc, cái cung nằm, như cái đài vuông, cái đàn nằm ngang, phục dưới thấp mà vòng quanh họp lại Đảo Phú Quốc ở đằng sa chầu lại, cao vót đẹp đẽ Nay lại được sông Vĩnh Tế khơi thông, thuyền buồm ở sông ở biển tụ họp, đường thủy, đường bộ tiện lợi Thực là một nơi hình thế đẹp Từ nam đến bắc chỉ 54 dặm, từ đông sang tây 419 dặm, phía đông bắc đến thành (Gia Định) 773 dặm Có 2 huyện, 4 tổng, 103
xã, thôn…” [20, tr 137]
Trang 36Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), trên địa giới trấn Hà Tiên, triều đình đặt thêm huyện
Hà Tiên và gộp cả ba huyện (Kiên Giang, Long Xuyên và Hà Tiên) làm phủ An Biên
Từ năm 1831 – 1832, vua Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính lớn, chia nước Việt Nam thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên Trong đó tỉnh Hà Tiên được lập vào năm 1832 trên cơ sở trấn Hà Tiên Đồng thời trong năm này, phủ An Biên được đổi thành phủ Khai Biên, huyện Hà Tiên làm huyện Hà Châu Tỉnh Hà Tiên gồm có 1 phủ (phủ An Biên) và 3 huyện ( Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên)
Năm 1833, Lê Văn Khôi nổi lên khởi nghĩa chống lại triều đình và tiến đánh chiếm lĩnh tỉnh Hà Tiên Và ngay năm này, quân Xiêm lại đưa quân sang xâm chiếm Hà Tiên, triều đình phải cử đại binh của Trương Minh Giản đến tiễu trừ mới yên được
Năm 1834, triều đình đổi lại phủ Khai Biên làm phủ An Biên, lấy đất Cần Bột, Hưng
Ức làm phủ Quảng Biên và phủ Khai Biên
Năm 1836, triều đình cử Trương Đăng Quế và Trương Minh Giản làm việc đặt điền, lập địa bạ cho 6 tỉnh Nam Kỳ Toàn tỉnh Hà Tiên làm xong và được kiểm thực vào ngày 3 tháng 6 năm Minh Mạng thứ 17 (1836) Theo đó, tỉnh Hà Tiên gồm có 1 phủ (Phủ An Biên)
và 3 huyện (Hà Châu, Kiên Giang và Long Xuyên), 11 tổng, 106 thôn, 43 xã (có 3 xã, 2 thôn mất địa bạ) [9, tr 101] Căn cứ vào diện tích của hai tỉnh Kiên Giang và An Xuyên (trước năm 1975), nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu, phỏng đoán diện tích của tỉnh Hà Tiên vào năm 1836 là khoảng 10.459 kmP
2
P
, với số dân đinh là khoảng 1.481 người (số dân cụ thể không thống kê được) Sách Đại Nam nhất thống chí miêu tả về tỉnh Hà Tiên năm 1836 như
sau : Tỉnh Hà Tiên “phía đông giáp tỉnh An Giang, phía tây nam giáp biển, phía bắc tiếp
quách, sát biển làm hào, bảo Giang Thành đỡ mặt sau, lũy bảo Phù Anh Thi Vạn che mặt sau; pháo đài Kim dữ là then khóa ở cửa biển, đảo Phú Quốc là bình phong ở ngoài khơi Phía đông có sông Vĩnh Tế để thông đường quân đường lương với các tỉnh ngoài, thực là nơi cửa ngõ hiểm yếu của Nam Kì” [61, tr 9]
Năm 1839, triều đình đặt phủ Tịnh Biên, lấy hai huyện Hà Dương và Hà Âm làm phủ
và giao cho tỉnh Hà Tiên quản hạt
Trang 37Năm 1842, Thiệu Trị trả đất phủ Quảng Biên cho Chân Lạp, đem phủ Tịnh Biên và hai huyện Hà Dương và Hà Âm cho thuộc tỉnh hạt An Giang [11, tr 78 – 79]
Năm 1867, Pháp đem quân đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây (An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên) Tỉnh Hà Tiên bị Pháp chiếm ngày 24 tháng 6 năm 1867 Từ đây, Hà Tiên nằm dưới sự cai trị của Pháp cho đến khi giành được độc lập vào năm 1945
Lúc đầu, Pháp giữ ranh giới hành chánh Nam kỳ như cũ Sau đó thay đổi dồn nhập, chia cắt ra thành 20 địa hạt và hai thành phố Sài Gòn, Chợ Lớn Tỉnh Hà Tiên cũ chia làm 3 địa hạt là: Hà Tiên, Rạch Giá và Bạc Liêu Địa bàn Hà Tiên mới là huyện Hà Châu cũ, Rạch Giá là Kiên Giang còn huyện Bạc Liêu là huyện Long Xuyên cũ cộng với hai tổng xưa thuộc
An Giang
Khi người Pháp cai trị, sự phân chia hành chánh của Hà Tiên rất phức tạp và theo một quá trình quanh co Sau năm 1867, Hà Tiên vẫn tồn tại 3 huyện cũ hay là hạt nhưng Pháp chỉ đặt Tham Biện ở Rạch Giá để cai trị huyện Kiên Giang và ở Cà Mau để cai trị huyện Long Xuyên Còn ở Hà Tiên chưa đặt tham biện vì địa bàn nhỏ hẹp Đến tháng 8 năm 1867, Pháp thấy Cà Mau còn vắng vẻ nên chuyển tham biện về Hà Tiên để trông nom việc giao thương với Xiêm và các xứ khác trong vùng Bỏ Tòa Bố Chánh ở Cà Mau, đưa huyện Long Xuyên thuộc về hạt Rạch Giá Lúc ấy Rạch Giá là địa hạt lớn nhất Nam Kỳ Từ năm 1874, đảo Phú Quốc cũng trở thành một địa hạt riêng
Ngày 18 tháng 7 năm 1882, Pháp thành lập tỉnh Bạc Liêu gồm địa phận hai tổng Thạnh Hòa và Thạnh Hưng của tỉnh An Giang cũ cùng với 3 tổng Quảng Long, Quảng Xuyên, Long Hưng của huyện Long Xuyên thuộc tỉnh Hà Tiên cũ
Năm 1888, vì thấy Hà Tiên đất hẹp người thưa nên đã xác nhập vào Châu Đốc Đến năm 1892, lại phục hồi vị trí tỉnh Hà Tiên như cũ Từ năm 1913 – 1924, lại xác nhập Hà Tiên
Trang 38Năm 1956, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa nhập hai tỉnh Hà Tiên, Rạch Giá thành tỉnh Kiên Giang, lấy Rạch Giá làm tỉnh lị, lại cắt phần lớn tỉnh Bạc Liêu thành tỉnh An Xuyên
Hà Tiên là 1 quận trong 7 quận thuộc tỉnh An Giang
Từ sau năm 1975, tỉnh Kiên Giang vẫn giữ tên cũ, kể cả địa phận và ranh giới Tỉnh Minh Hải được thành lập gồm cả tỉnh An Xuyên và phần lớn tỉnh Bạc Liêu Hà Tiên là thị xã
Hà Tiên thuộc tỉnh Kiên Giang
Năm 1997, thị xã Hà Tiên bị hạ cấp, phần nội thị trở thành thị trấn thuộc huyện lị huyện 2Hà Tiên2 của tỉnh Kiên Giang
Ngày 28 tháng 72 năm 219982, tái lập lại thị xã Hà Tiên Ngày 1/9/1998, thị xã Hà Tiên chính thức đi vào hoạt động Năm 1999, huyện Hà Tiên đổi tên thành huyện 2Kiên Lương2, với huyện lị mới là thị trấn Kiên Lương Từ đây, lịch sử Hà Tiên bước sang một trang sử phát triển mới, với vai trò là một trung tâm kinh tế của tỉnh Kiên Giang nói riêng và đồng bằng sông Cửu Long nói chung
Tóm lại, từ những điều trình bày như trên, chúng ta nhận thấy rằng, lịch sử vùng đất
Hà Tiên đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển Mỗi bước đi của vùng đất này là sự phản ánh sinh động quá trình mở cõi và làm chủ vùng đất phương Nam của dân tộc Việt Nam Từ một vùng đất hoang vu, dân cư thưa thớt trở nên trù phú dưới sự cai trị của dòng họ Mạc Và quyết định nương nhờ chúa Nguyễn của Mạc Cửu đã đánh dấu bước ngoặt đối với vùng đất
Hà Tiên Mạc Cửu và sau đó là Mạc Thiên Tứ đã xây dựng Hà Tiên thành một nơi đô hội, cảng Hà Tiên trở thành thương cảng giao thương đóng vai trò quan trọng trong nền thương mại của khu vực Đông Nam Á và thế giới
Trang 39Chương 2: SỰ RA ĐỜI VÀ PHÁT TRIỂN CỦA THƯƠNG CẢNG HÀ TIÊN (Thế kỷ
XVII – XVIII)
Trên cơ sở đặc điểm về vị trí địa lí và kinh tế - xã hội có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, nhất là kinh tế thương nghiệp, qua bàn tay kiến thiết của họ Mạc, sự quan tâm giúp đỡ của các chúa Nguyễn, sự năng động của người Hà Tiên, thương cảng Hà Tiên đã dần dần hiện hữu từ những năm cuối thế kỷ XVII và phát triển huy hoàng trong suốt thế kỷ XVIII Thời ấy, thương cảng Hà Tiên là một trung tâm kinh tế của Đàng Trong và là một thương cảng quốc tế quan trọng với những hoạt động giao lưu kinh tế, văn hóa hết sức sôi động
2.1 SỰ RA ĐỜI CỦA THƯƠNG CẢNG HÀ TIÊN
2.1.1 Nh ững điều kiện để Hà Tiên trở thành thương cảng
Để hiểu rõ những điều kiện thuận lợi giúp cho Hà Tiên có thể hình thành được thương
cảng, một đô thị cảng, trước hết chúng ta phải hiểu được khái niệm “cảng” và “thương
cảng”
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam thì “Cảng (giao thông, kinh tế) khu vực ở bờ biển hay bờ sông có những công trình xây dựng và trang thiết bị phục vụ cho tàu thuyền cập bến, bốc dỡ hàng hóa, hành khách lên xuống, sửa chữa phương tiện vận tải, bảo quản hàng hóa và thực hiện các công việc khác phục vụ quá trình vận chuyển đường thủy” [67, tr 352] Còn
“thương cảng” theo Từ điển Tiếng Việt là “thứ cảng biển chủ yếu dùng vào việc buôn bán” [68, tr 157]
Như vậy, điều kiện tiên quyết để hình thành cảng là khu vực đó phải có bờ biển hoặc
bờ sông và có các công trình phục vụ tàu thuyền cập bến Thực tế lịch sử cho thấy Hà Tiên
có đầy đủ điều kiện để trở thành một thương cảng Hà Tiên nằm trong vịnh Thái Lan với bờ biển dài 200 km là điều kiện thuận lợi để xây dựng cảng biển nên Hà Tiên đã sớm trở thành một trung tâm thương mại khu vực và quốc tế, với Hà Thành làm trung tâm điểm
Cảng Hà Tiên được xây dựng bên bờ biển Đông Hồ thông ra vịnh Thái Lan Trong
Gia Định thành thông chí, Trịnh Hoài Đức đã viết về biển Đông Hồ như sau: “Đông Hồ, là
hồ ở trước trấn thự, phía Nam khóa chặt cửa nước của hải cảng Hà Tiên, để giữ địa khí, bề
Trang 40ngang 5 trượng, bề sâu 10 thước Phía Bắc tiếp với hạ lưu sông Vĩnh Tế Giữa lòng hồ mênh mông, rộng 71 trượng, gọi là hồ Hà Tiên, còn gọi là Đông Hồ, vì hồ ở về phía Đông của huyện Trong hồ nổi cồn cát non; phía Đông và phía Tây nước sâu trên dưới 5 thước Thuyền biển thuyền buôn neo chen nhau, khách buôn tụ tập, nước trăng man mác, trong mười cảnh thì “Đông Hồ ấn Nguyệt (trăng in Đông Hồ) là một” [20, tr 69]
Về tự nhiên, vịnh Thái Lan là một vùng biển tương đối khép kín Tuy nhiên, vịnh có một cửa lớn thông với biển Đông và hai eo biển ở phía Tây Bắc đảo Sumatra là Malaca và phía Đông Nam là eo biển Sunda Các eo biển này là huyết mạch giao thông quan trọng nối thế giới phương Đông với phương Tây, đặc biệt là khi “Con đường tơ lụa trên biển” hình thành vào thế kỷ VII Trên thực tế, ở phía Tây bờ vịnh còn có eo Kra, nằm ở một dải đất hẹp nhất của miền Nam bán đảo Mã Lai Từ khoảng thế kỷ II sau CN, Kra đã là một vùng đất nổi tiếng bởi vị thế thương mại quốc tế Trong nhiều thế kỷ, thuyền buôn từ các nước vùng Ấn
Độ, Tây Á, Ba Tư … đã chuyên chở hàng hóa qua vịnh Bengan, tiến vào Kra, rồi từ đó tiến vào vịnh Thái Lan để tập trung ở cảng Óc Eo – cảng quốc tế lớn, tiêu biểu nhất của đế chế Phù Nam
Vịnh Thái Lan có tất cả khoảng 6.750 đảo lớn nhỏ, trong đó Phú Quốc nổi bật lên vì tầm cỡ, tiềm năng kinh tế truyền thống và cả những huyền tích lịch sử Đảo có diện tích khoảng 580kmP
2
P
, là đảo ven bờ lớn nhất Việt Nam Về tài nguyên trên đáo Phú Quốc, sách Đại Nam nhất thống chí ghi rõ : “Đông Tây cách nhau 200 dặm, Nam Bắc cách nhau 100 dặm; không có hổ báo mà nhiều lợn rừng, trong núi có hươu nai; yến sào, dây mây, gỗ tốt, đồi mồi, hải sản, hải sâm, quế thơm Đất ưa cấy lúa sớm, trồng các thứ đậu, ngô, dưa, ít cấy lúa nếp Trong núi sản huyền phách, sắc óng ánh như sơn, có thể dùng làm hạt đeo, cục lớn
có thể tạc hộp trầu, chén, đĩa Có khi có long diên hương Lại có cây hắc ban hương, ngoài
vỏ có chấm lốm đốm, đen như trầm hương non, chất nhẹ, vị kém, gỗ to, ruột rỗng, có thể dùng làm ống bút” [61, tr 18]
Chỉ qua đoạn miêu tả trên, chúng ta đã thấy rằng, tài nguyên thiên của vùng đất Hà Tiên là vô cùng phong phú Hà Tiên là một vùng đa dạng về sinh thái Ở vùng đất này có biển, có rừng, có núi đồi và đồng ruộng Chính vì vậy, sản phẩm khai thác ở đây là rất đa dạng và dồi dào