1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện hưng nguyên, tỉnh nghệ an giai đoạn 2015 2019​

106 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 106
Dung lượng 269,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những hạnchế về năng lực, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức và vận hành bộmáy nhà nước chưa có hiệu quả cao; đời sống của nhân dân còn nhiều khókhăn và sự hạn chế trong nhận thức

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

HOÀNG SƠN HẢI

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI, TỐ CÁO VỀ ĐẤT ĐAI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN GIAI ĐOẠN 2015 – 2019

Ngành: Quản lý đất đai

Mã số: 8.85.01.03

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn

Thái Nguyên - 2020

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân Các sốliệu, kết quả trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trongluận văn nào khác

Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn trong luận văn đềuđược chỉ rõ nguồn gốc

Tác giả luận văn

Hoàng Sơn Hải

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này ngoài sự nỗ lực của mình, tôi còn nhận được

sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo Khoa Quản lí Tài nguyên, cùnggia đình, bạn bè và đồng nghiệp

Có được kết quả như ngày hôm nay, trước hết tôi xin bày tỏ lòng kínhtrọng và cảm ơn chân thành đối với Ban chủ nhiệm Khoa Quản lí Tài nguyên;

các thầy giáo, cô giáo; đặc biệt là Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Khắc Thái Sơn, Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên đã tận tình hướng dẫn tôi trong

suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin cảm ơn Văn phòng UBND huyện, Thanh tra huyện, Tòa án nhândân Hưng Nguyên, cùng nhân dân đã hỗ trợ và giúp đỡ tôi tận tình trong quátrình thực hiện luận văn và các cơ quan ban ngành khác có liên quan tạo điềukiện cho tôi thu thập số liệu, những thông tin cần thiết để thực hiện luận văn.Tuy nhiên với kinh nghiệm và tầm nhìn còn hạn chế nên bài luận vănnày không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được sự góp ý chân thànhcủa giáo viên hướng dẫn và các thầy, cô giáo Khoa Quản lí Tài nguyên,Trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên để tôi khắc phục hạn chế, đúc kếtthêm kinh nghiêm trong học tập, và công tác

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu của đề tài 2

3 Ý nghĩa của đề tài 2

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 3

1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo 3

1.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất đai 3

1.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai 6

1.1.3 Nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo 7

1.1.4 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và khiếu nại, tố cáo 8

1.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số nước trên thế giới 13

1.2.1 Mỹ 13

1.2.2 Trung Quốc 14

1.2.3 Pháp và Đức 15

1.3 Các quy định và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 15

1.3.1 Định hướng và các văn bản pháp luật quy định giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai 15

1.3.2 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam 22

1.3.3 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An 24

1.3.4 Yếu tố ảnh hưởng của giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai 28

Trang 5

1.4 Một số nghiên cứu về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở Việt Nam.31

CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35

2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 35

2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 35

2.3 Nội dung nghiên cứu 35

2.4 Phương pháp nghiên cứu 36

2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp 36

2.4.2 Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp 36

2.4.3 Phương pháp phân tích, xử lý số liệu 37

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39

3.1 Khái quát về tình hình cơ bản của huyện Hưng Nguyên 39

3.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên của huyện Hưng Nguyên 39

3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội của huyện Hưng Nguyên 39

3.1.3 Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn huyện Hưng Nguyên năm 2019 40

3.1.4 Công tác quản lý đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 41

3.2 Thực trạng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 44

3.2.1 Thực trạng khiếu nại tố cáo đất đai về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 44

3.2.2 Nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo về đất đai 59

3.2.3 Đánh giá hiện trạng đội ngũ cán bộ làm công tác tiếp dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo 65

3.4 Đánh giá chung về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An 70

3.4.1 Kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 70

3.4.2 Những khó khăn, tồn tại và nguyên nhân trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và nguyên nhân 76

Trang 6

3.5 Giải pháp tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến

đất đai của huyện Hưng Nguyên 79

1 Kết luận 82

2 Kiến nghị 82

TÀI LIỆU THAM KHẢO 83

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Cụm từ được viết tắt

CHXHCNVN Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu nại,

Bảng 1.2 Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn

năm 2017-2019 25

Bảng 3.1 Diện tích cơ cấu các loại đất ở huyện Hưng Nguyên năm 2019 40

Bảng 3.2 Tổng hợp các nguồn thu từ đất giai đoạn 2015 đến 2019 43

Bảng 3.3 Tình hình tiếp nhận đơn thư khiếu nại, tố cáo về đất đai giai đoạn 2015 - 2019 45

Bảng 3.4 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư khiếu nại về đất đai thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Hưng Nguyên giai đoạn 2015 – 2019 46

Bảng 3.5 Tình hình tiếp nhận và phân loại đơn thư khiếu nại về tố cáo thuộc thẩm quyền giải quyết của UBND huyện Hưng Nguyên giai đoạn 2015 – 2019 48

Bảng 3.6 Đánh giá nguyên nhân dẫn đến khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên 64

Bảng 3.7 Thực trạng cán bộ liên quan đến công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của huyện Hưng Nguyên năm 2019 68

Bảng 3.8 Thái độ, mức độ hướng dẫn của cán bộ xử lý khiếu nại, tố cáo 69

Bảng 3.9 Thời gian giải quyết các khiếu nại tố cáo về đất đai 70

Bảng 3.10 Kết quả xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo về đất đai 71

Bảng 3.11 Kết quả giải quyết Đơn khiếu nại về đất đai 72

giai đoạn 2015-2019 72

Bảng 3.12 Kết quả giải quyết Đơn tố cáo về đất đai giai đoạn 2015 - 2019 74

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Khiếu nại, tố cáo là một là một trong những quyền cơ bản của công dân,

là công cụ pháp lý để công dân đấu tranh đối với các hành vi vi phạm phápluật nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước, xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp củacông dân; đồng thời là hình thức dân chủ trực tiếp để công dân tham gia quản

lý nhà nước, quản lý xã hội

Nguyên nhân gia tăng số vụ việc khiếu nại, tố cáo và tính chất phức tạpcủa các vụ việc này là do chính sách pháp luật của chúng ta còn nhiều bất cập,chồng chéo, thiếu các quy định cụ thể; bản thân các cơ quan được giao nhiệm

vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa hợp lý; những người làm công tácgiải quyết khiếu nại, tố cáo cũng chưa được đào tạo nghiệp vụ chính quy,thường xuyên bị thay đổi, thiếu kinh nghiệm

Trong giai đoạn hiện nay, khi đất nước đang ở thời kỳ quá độ lên chủnghĩa xã hội, bộ máy quản lý nhà nước về đất đai, khiếu nại, tố cáo chưa thểhoàn thiện để đáp ứng nhu cầu của người dân một cách tốt nhất Những hạnchế về năng lực, đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức và vận hành bộmáy nhà nước chưa có hiệu quả cao; đời sống của nhân dân còn nhiều khókhăn và sự hạn chế trong nhận thức của người dân đã làm cho khiếu nại, tốcáo nhất là khiếu nại, tố cáo về đất đai đã trở thành vấn đề mang tính thời sự.Huyện Hưng Nguyên đang trong giai đoạn xây dựng và phát triển do đócông tác thu hồi, bồi thường về đất trong thời gian qua diễn ra mạnh mẽ, mặtkhác công tác quản lý nhà nước về đất đai, xây dựng đang được hoàn thiệnchính vì vậy tình khiếu nại tố cáo liên quan đến đất đai có chiều hướng giatăng, mặt khác từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu mộtcách toàn diện, chi tiết liên quan đến khiếu nại tố cáo nói chung và khiếu nại

tố cáo về đất đai nói riêng trên địa bàn huyện Hưng Nguyên giúp cho cấp ủy,chính quyền địa phương tham khảo từ đó làm tốt công tác quản lý đất đai, giải

Trang 10

quyết khiếu nại tố cáo góp phần xây dựng và phát triển huyện Hưng Nguyêntrên tất cả các lĩnh vực

Từ thực trạng trên và nhằm từng bước tăng cường tốt công tác giải quyết

khiếu nại, tố cáo, đề tài “Đánh giá công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015 - 2019” được thực hiện là có ý nghĩa khoa học và thực tiễn hiện nay.

2 Mục tiêu của đề tài

- Đánh giá được thực trạng khiếu nại, tố cáo và kết quả giải quyết khiếu

tố về đất đai trên địa bàn huyện Hưng Nguyên

- Đánh giá được công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của huyện Hưng Nguyên theo ý kiến người dân và cán bộ chuyên môn

- Chỉ ra được khó khăn, tồn tại và giải pháp tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai của huyện Hưng Nguyên

3 Ý nghĩa của đề tài

3.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Luận văn góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo vàpháp luật khiếu nại, tố cáo, những yêu cầu đặt ra của việc nâng cao hiệu quảhoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo theo con đường hành chính.Luận văncũng góp phần bổ sung và hoàn thiện cơ sở lý luận về khiếu nại, tố cáo liênquan đến đất đai Kết quả nghiên cứu của đề tài luận văn là một trong nhữngtài liệu tham khảo cho các học viên các khóa khác

3.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Đây sẽ là đề tài đầu tiên nghiên cứu về tình hình khiếu nại, tố cáo vàcông tác giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện HưngNguyên Những giải pháp mà Luận văn đưa ra sẽ giúp các nhà lãnh đạo,những người đang được giao trách nhiệm giải quyết khiếu nại, tố cáo tại cácđịa phương nói chung và huyện Hưng Nguyên nói riêng vận dụng để nâng caochất lượng giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, góp phần ổn định chính trị,trật tự an toàn xã hội và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Cơ sở lý luận các vấn đề liên quan đến khiếu nại, tố cáo

1.1.1 Khiếu nại và giải quyết khiếu nại về đất

đai *Khái niệm khiếu nại

Khái niệm về khiếu nại của Nhà nước Việt Nam được sử dụng lần đầutiên tại Điều 2, Sắc lệnh số 64/SL ngày 23/11/1945 do Chủ tịch Hồ Chí Minh

ký, trong đó quy định: “…Ban Thanh tra đặc biệt có toàn quyền: Nhận cácđơn khiếu nại của nhân dân…” (Chính phủ, 1945) Khiếu nại của nhân dân ởđây là sự khiếu nại đối với chính quyền khi người khiếu nại cho rằng cán bộ,nhân viên nhà nước đang làm việc trong bộ máy chính quyền có những hành

vi vi phạm pháp luật hoặc vi phạm quyền lợi của mình Thực chất, đó chính là

sự khiếu nại những hành vi nảy sinh trong bộ máy hành chính nhà nước, do nhữngngười làm trong các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện

Ngày nay, khái niệm về khiếu nại thường được sử dụng trong các văn

bản pháp luật quy định: “Khiếu nại là việc công dân, cơ quan, tổ chức hoặc cán bộ, công chức theo thủ tục do pháp luật quy định, đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền xem xét lại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc quyết định kỷ luật cán bộ, công chức khi có căn cứ cho rằng quyết định hoặc hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình” (Khoản 1, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011).

*Khái niệm khiếu nại đất đai

Khiếu nại về đất đai là việc các cơ quan, tổ chức, công dân đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét lại các quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trong quản lý đất đai khi có căn cứ cho rằng các quyết định, hành vi đó là xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của mình Quyết định hành chính bị khiếu nại trong quản lý đất đai bao gồm: quyết định giao

Trang 12

đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; quyết định bồi thường giải phóng mặt bằng, tái định cư; quyết định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyết định gia hạn thời hạn sử dụng đất Hành vi hành chính trong quản lí đất đai bị khiếu nại là hành vi của cán bộ, công chức nhà nước khi thực hiện công việc liên quan đến các hoạt động nói trên.

Trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất, việc giải quyết khiếu nại nhằmđảm bảo mọi quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng đất và giữa nhữngngười sử dụng đất với nhau được thực hiện theo đúng chính sách, pháp luậtđất đai Tại Khoản 2 Điều 264 Luật số 64/2010/QH12 Luật Tố tụng Hànhchính đã được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII,

kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 24 tháng 11 năm 2010 sửa đổi, bổ sung một sốđiều của Luật Đất đai về khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định hành chính,

hành vi hành chính về quản lý đất đai, trong đó quy định: “Người sử dụng đất

có quyền khiếu nại quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính về quản lý đất đai” (Quốc hội, 2010).

*Giải quyết khiếu nại

Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước hoặcngười có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước ban hành để quyếtđịnh về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước được

áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể hành vi hành chính

là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong

cơ quan hành chính nhà nước thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công

vụ theo quy định của pháp luật (Khoản 8, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011) Cácquyết định hành chính hoặc hành vi hành chính bị khiếu nại được quy định tạiĐiều 162 Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 về thi hành Luật Đấtđai quyết định hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại bao gồm: Quyếtđịnh giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, trưng dụng đất, cho phép chuyển mụcđích sử dụng đất; Quyết định bồi thường, hỗ trợ, GPMB, tái định cư; Quyết

Trang 13

định cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận QSDĐ; Quyết định gia hạn thời hạn

sử dụng đất (Chính phủ, 2004)

Hành vi hành chính trong quản lý đất đai bị khiếu nại theo quy định củapháp luật là hành vi của cán bộ công chức nhà nước khi thực hiện công việcliên quan trực tiếp đến các quyết định hành chính về giao đất, cho thuê đất,thu hồi đất, trưng dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất; cấp và thu hồi giấychứng nhận QSDĐ, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và hành vi gia hạn thời hạn

sử dụng đất cho người sử dụng đất (Khoản 9, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011).Như vậy, các quyết định hành chính và hành vi hành chính nêu trên nếu bịkhiếu nại sẽ được giải quyết theo quy định của Luật Đất đai Ngoài các trườnghợp nêu trên, nếu các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong quản

lý đất đai mà bị khiếu nại thì việc giải quyết tuân thủ theo quy định của phápluật khiếu nại

Giải quyết khiếu nại là việc thụ lý, xác minh, kết luận và ra quyết địnhgiải quyết khiếu nại Người giải quyết khiếu nại là cơ quan, tổ chức, cá nhân

có thẩm quyền giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật (Khoản 6 vàKhoản 11, Điều 2, Luật Khiếu nại 2011)

Như vậy, có thể hiểu, giải quyết khiếu nại về đất đai của các cơ quan

hành chính nhà nước là hoạt động kiểm tra, xác minh kết luận về tính hợp pháp và tính hợp lý của quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực đất đai bị khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước để có biện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức và lợi ích chung của nhà nước và xã hội.

Thẩm quyền giải quyết khiếu nại đất đai của cơ quan hành chính nhànước là nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhànước nhân danh Nhà nước tiến hành xem xét, đánh giá tính hợp pháp, hợp lýcủa các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý và

Trang 14

sử dụng đất theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định nhằm bảo về quyền,lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất

1.1.2 Tố cáo và giải quyết tố cáo về đất đai

*Khái niệm tố cáo

Tố cáo được hiểu dưới góc độ pháp lý là việc công dân theo thủ tục do pháp luật quy định báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức (Khoản 1, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011).

Pháp luật hiện hành quy định, khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luậtcủa bất cứ cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc quản lý, sử dụng đất gây thiệthại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp phápcủa công dân, cơ quan, tổ chức thì mọi công dân có quyền báo cho cơ quan, tổchức, cá nhân có thẩm quyền biết để giải quyết theo quy định của pháp luật

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong việcthực hiện nhiệm vụ, công vụ là việc công dân báo cho cơ quan, tổ chức, cánhân có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức,viên chức trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ

*Tố cáo đất đai

Tố cáo về đất đai là sự phát hiện với cơ quan nhà nước có thẩm quyền vềnhững hành vi vi phạm pháp luật về quản lí và sử dụng đất của cơ quan nhànước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân, cá nhân thuộccác đơn vị đó hoặc của những người khác, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệthại đến lợi ích Nhà nước, lợi ích tập thể và lợi ích của người sử dụng đất

*Giải quyết tố cáo

Giải quyết tố cáo là việc tiếp nhận, xác minh, kết luận về nội dung tố cáo

và việc xử lý tố cáo của người giải quyết tố cáo Người tố cáo là công dânthực hiện quyền tố cáo Người bị tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành

Trang 15

vi bị tố cáo Người giải quyết tố cáo là cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền giải quyết tố cáo (Khoản 7, Điều 2, Luật Tố cáo năm 2011).

Điều 139 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Cá nhân có quyền tố cáo viphạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai Việc giải quyết tố cáo vi phạmpháp luật về quản lý và sử dụng đất đai thực hiện theo quy định của pháp luật

về khiếu nại, tố cáo” (Chính phủ, 2003) Đây là một quy định mang tính dẫnchiếu, theo đó thẩm quyền, trình tự thủ tục giải quyết tố cáo về đất đai sẽ thựchiện theo các quy định của Luật Tố cáo

Như vậy, có thể hiểu, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về quản lý nhànước trong lĩnh vực đất đai là việc công dân báo cho cơ quan quản lý nhànước có thẩm quyền biết về hành vi vi phạm pháp luật của bất cứ cơ quan, tổchức, cá nhân nào đối với việc chấp hành quy định pháp luật về quản lý nhànước trong lĩnh vực đất đai

Giải quyết tố cáo trong lĩnh vực đất đai của các cơ quan hành chính nhànước là việc kiểm tra, xác minh, kết luận về tính hợp pháp của hành vi bị tốcáo thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan hành chính nhà nước để cóbiện pháp giải quyết theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ lợi ích của nhànước, của các hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức

1.1.3 Nội dung giải quyết khiếu nại, tố cáo

Phải đề ra yêu cầu giải quyết khiếu nại rõ ràng (nhân dân, cơ quan, tổchức, cá nhân) phải tiến hành những hoạt động gì và không tiến hành nhữnghoạt động gì nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người khiếu nại, người bịkhiếu nại, nạn nhân cũng như hoạt động bình thường của cơ quan, tổ chức.Những biện pháp xử lý đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức có lỗi trongviệc ban hành quyết định hành chính và hành vi hành chính hoặc là đề nghị cơquan, người có thẩm quyền xử lý

Quyết định các biện pháp thực hiện quyết định giải quyết khiếu nại(những biện pháp gì, ai thực hiện, thời gian thực hiện là bao lâu)

Trang 16

Phải ghi rõ quyền được khiếu nại tiếp hoặc khiếu kiện theo quy định củapháp luật

1.1.4 Một số khái niệm liên quan đến đất đai và khiếu nại, tố cáo

1.1.4.1 Khái niệm về đất đai và Quản lý Nhà nước về đất đai

Trong quản lý Nhà nước về đất đai khẳng định: Đất đai là nguồn tàinguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phầnhàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựngcác công trình kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng

Quản lý là sự tác động, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạtđộng của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt được mụctiêu đề ra, đúng ý chí của con người quản lý và bao gồm 5 yếu tố quản lý: xãhội, chính trị, tổ chức, quyền uy, thông tin

Quản lý Nhà nước về đất đai là nghiên cứu toàn bộ những đặc trưng cóthể của đất đai nhằm nắm chắc về số lượng, chất lượng từng loại đất của từngvùng, từng địa phương theo đơn vị hành chính ở mỗi cấp Từ đó thống nhất

về quy hoạch, kế hoạch sử dụng, khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đấtđai để xây dựng thành một hệ thống quản lý đồng bộ, thống nhất, tránh tìnhtrạng phân tán đất, sử dụng đất không đúng mục đích hoặc để đất hoang, hoá,làm cho đất xấu đi

Như vậy, để quản lý tốt về đất đai thì ở mỗi chế độ chính trị khác nhau

và tại mỗi thời điểm khác nhau, Nhà nước cần có chính sách quản lý đất đaikhác nhau Tuy vậy, mục đích cuối cùng là thâu tóm toàn bộ quyền lực củaNhà nước về quản lý tài nguyên đất, đề ra những quyết định quản lý, sử dụng

và tổ chức thực hiện, thanh tra, kiểm tra về đất đai Thông qua đất đai để điềuchỉnh chi phối các hoạt động khác của xã hội

Điều 17 và Điều 18 Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam năm 1992 quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân Nhà nước thốngnhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật, bảo đảm sử dụng

Trang 17

đúng mục đích và có hiệu quả ” (Quốc hội, 1992) Điều 54 Hiến pháp nướcCộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 quy định: " Đất đai thuộc sởhữu toàn dân do nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý" (Quốchội, 2013) Luật Đất đai 2003 cũng quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân

do Nhà nước đại diện chủ sở hữu Nhà nước thống nhất quản lý về đất đai”.Điều này đã khẳng định tính chất quan trọng của đất đai; đồng thời là cơ sởpháp lý để Nhà nước thống nhất quản lý đất đai nhằm đưa chính sách quản lý

và sử dụng đất đúng đối tượng, đúng mục đích và có hiệu quả

Tại Khoản 2 Điều 6 Luật Đất đai năm 2003 quy định 13 nội dung quản

lý nhà nước về đất đai bao gồm: Ban hành các văn bản QPPL về quản lý, sửdụng đất đai và tổ chức thực hiện các văn bản đó; Xác định địa giới hànhchính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập bản đồ hành chính; Khảosát, đo đạc, đánh giá, phân hạng đất; lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng

sử dụng đất và bản đồ quy hoạch sử dụng đất; Quản lý quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất; Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích

sử dụng đất; Đăng ký QSDĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp giấy chứngnhận QSDĐ; Thống kê, kiểm kê đất đai; Quản lý tài chính về đất đai; Quản lý

và phát triển thị trường QSDĐ trong thị trường bất động sản; Quản lý, giámsát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất; Thanh tra, kiểmtra việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạmpháp luật về đất đai; Giải quyết KNTC các vi phạm trong việc quản lý và sửdụng đất đai; Quản lý các hoạt động dịch vụ công về đất đai (Quốc hội, 2003).Ngoài 13 nội dung đã quy định trong Luật Đất đai năm 2003 thì tại Điều

22 Luật Đất đai năm 2013 (có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014) quy định bổsung 02 nội dung quản lý nhà nước về đất đai đó là: Xây dựng hệ thống thôngtin đất đai và phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai (Quốc hội, 2013)

1.1.4.2 Người sử dụng đất

Theo quy định của pháp luật đất đai, người sử dụng đất bao gồm: Các cơquan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị

Trang 18

xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chứckinh tế, tổ chức kinh tế - xã hội, tổ chức sự nghiệp công, đơn vị vũ trang nhândân và các tổ chức khác theo quy định của Chính phủ được Nhà nước giaođất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; tổ chức kinh tế nhậnchuyển quyền sử dụng đất; Hộ gia đình, cá nhân trong nước được Nhà nướcgiao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất, nhận chuyển quyền

sử dụng đất; Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sốngtrên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc và các điểm dân cưtương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ được Nhà nướcgiao đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất; Cơ sở tôn giáo gồm chùa, nhàthờ, thánh thất, thánh đường, tu viện, trường đào tạo riêng của tôn giáo, trụ sởcủa tổ chức tôn giáo và các cơ sở khác của tôn giáo được Nhà nước công nhậnquyền sử dụng đất hoặc giao đất; Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoạigiao gồm cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự, cơ quan đại diện kháccủa nước ngoài có chức năng ngoại giao được Chính phủ Việt Nam thừanhận; cơ quan đại diện của tổ chức thuộc Liên hợp quốc, cơ quan hoặc tổchức liên chính phủ, cơ quan đại diện của tổ chức liên chính phủ được Nhànước Việt Nam cho thuê đất; Người Việt Nam định cư ở nước ngoài về đầu

tư, hoạt động văn hoá, hoạt động khoa học thường xuyên hoặc về sống ổnđịnh tại Việt Nam được Nhà nước Việt Nam giao đất, cho thuê đất, được muanhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở; Tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tưvào Việt Nam theo pháp luật về đầu tư được Nhà nước Việt Nam cho thuê đất(Điều 9, Luật Đất đai 2003)

1.1.3.3 Về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, bố trí tái định cư, giải phóng mặt bằng

- Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại QSDĐhoặc thu lại đất đã được giao cho tổ chức, UBND xã, thị trấn, thị trấn quản lý theoquy định của pháp luật (Khoản 5, Điều 4, Luật Đất đai 2003)

- Giải phóng mặt bằng: Khi Nhà nước cần thu hồi đất để sử dụng vàomục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích Quốc gia, lợi ích công cộng và phát

Trang 19

triển kinh tế thì sẽ Tiến hành các bước theo đúng qui định của pháp luật nhằmmục đích lấy được mặt bằng khu đất cần sử dụng cho các mục đích trên gọi làgiải phóng mặt bằng.

- Bồi thường: "Bồi thường" hay "Đền bù" (hiểu theo quy định của phápluật cũ) có nghĩa là trả lại tương xứng giá trị hoặc công lao cho một chủ thể nào đó

bị thiệt hại vì mọi hành vi của chủ thể khác Việc bồi thường thiệt hại này có thể

vô hình (xin lỗi) hoặc hữu hình (bồi thường bằng tiền hoặc bằng vật chất khác)theo đúng qui định của pháp luật hoặc do thoả thuận của các chủ thể

Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trịQSDĐ đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất (Khoản 6, Điều

4, Luật Đất đai 2003)

- Hỗ trợ: Hỗ trợ là giúp đỡ nhau, giúp thêm vào Hỗ trợ khi Nhà nước thuhồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua việc đào tạo nghềmới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để di dời đến địa điểm mới, ổn định đờisống, ổn định sản xuất (Khoản 7, Điều 4, Luật Đất đai 2003)

- Bố trí tái định cư: Người bị thu hồi đất nào thì được bồi thường bằngviệc giao đất mới có cùng mục đích sử dụng, nếu không có đất để bồi thường thìđược bồi thường bằng giá trị QSDĐ tại thời điểm có quyết định thu hồi Đối vớicác dự án tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở và tiến hành phân lô theo quyhoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt để bố trí lại cho các hộ giải phóngmặt bằng sau khi đã thi công hạ tầng cơ sở thì được gọi là tái định cư tại chỗ Việc

bố trí lại đất tái định cư tại nơi ở mới phải có điều kiện sinh hoạt tốt hơn hoặc bằngnơi cũ (Chính phủ, 2004)

Giải phóng mặt bằng, bồi thường, hỗ trợ và bố trí tái định cư khi Nhànước thu hồi đất để sử dụng vào các mục đích quốc phòng, an ninh, lợi íchquốc gia, lợi ích công cộng và phát triển kinh tế là những hành vi được quiđịnh tại Hiến pháp năm 1992, mục 4 chương II Luật Đất đai năm 2003 và cácvăn bản hướng dẫn thi hành

Trang 20

1.1.3.4 Giá đất

Luật Đất đai năm 1993, lần đầu tiên khái niệm giá đất chính thức đượcquy định ở Việt Nam: “Nhà nước xác định giá các loại đất để tính thuế chuyểnQSDĐ, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, tính giá trị tài sản khi giao đất,bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi đất Chính phủ quy định khung giá cácloại đất đối với từng vùng và theo từng thời gian” (Quốc hội nướcCHXHCNVN, 1993)

Theo quy định của Luật Đất đai năm 2003 thì giá QSDĐ (sau đây gọi làgiá đất) là số tiền tính trên một đơn vị diện tích đất do Nhà nước quy địnhhoặc được hình thành trong giao dịch về QSDĐ Giá trị QSDĐ là giá trị bằngtiền của QSDĐ đối với một diện tích đất xác định trong thời hạn sử dụng đấtxác định (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003)

Một số nước trên thế giới có hai loại giá đất: giá đất do Nhà nước quyđịnh và giá đất hình thành trên thị trường Giá đất do Nhà nước quy định trên

cơ sở giá đất thị trường nhằm phục vụ mục đích của Nhà nước Giá đất thịtrường được hình thành trên cơ sở thoả thuận giữa bên sở hữu đất và các bên

có liên quan Cả hai loại giá đất có mối quan hệ mật thiết và chi phối lẫnnhau, trong đó giá đất do Nhà nước quy định là cố định trong một khoảng thờigian xác định, còn giá đất thị trường luôn biến đổi

Giá đất được hình thành bởi sự tác động qua lại và ảnh hưởng lẫn nhaucủa ba mặt là hiệu quả, tính khan hiếm tương đối và yêu cầu hữu hiệu, mànhững nhân tố này lại luôn luôn ở thế biến động Các nguyên tắc cơ bản trongđịnh giá đất là những nguyên tắc kinh tế, chúng có liên quan mật thiết tới họcthuyết kinh tế và có ảnh hưởng trực tiếp đến quan niệm giá thị trường Nhữngnguyên tắc này rất ít khi được xem xét một cách riêng rẽ mà người ta thường

sử dụng các nguyên tắc này trong mối liên quan chặt chẽ với nhau, bởi vìchúng luôn đi với nhau và bổ sung cho nhau

1.1.3.5 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Trang 21

Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giấy chứng nhận do cơ quan nhànước có thẩm quyền cấp cho người sử dụng đất để bảo hộ quyền và lợi íchhợp pháp của người sử dụng đất (Quốc hội nước CHXHCNVN, 2003).

Tại Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ đãquy định bổ sung về chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liềnvới đất và được gọi chung là: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sởhữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (Chính phủ, 2009)

Theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất,quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môitrường phát hành thống nhất một mẫu chung trong cả nước

1.2 Cơ sở thực tiễn về giải quyết khiếu nại, tố cáo ở một số nước trên thế giới

Theo một số tài liệu thì ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù việc giảiquyết các KNTC hành chính đã có từ lâu và hiện nay đã đi vào nề nếp, songngoài việc xác định thẩm quyền giải quyết của Tòa án thì nhiều nước vẫn duytrì và coi trọng việc giải quyết KNTC của cơ quan hành chính Một số nướccòn coi việc giải quyết khiếu nại qua cấp hành chính là thủ tục bắt buộc trướckhi người khiếu nại khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án hành chính hoặctòa án tư pháp Đa số các nước vẫn cho phép công dân có quyền lựa chọnkhiếu nại đến cơ quan hành chính (cơ quan đã ban hành quyết định hànhchính hoặc thực hiện hành vi hành chính) để thực hiện việc khiếu nại Điểmđáng lưu ý là hầu hết các nước đều xác định khiếu nại hành chính dù đã đượcgiải quyết bởi cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyên trách giải quyết khiếunại hành chính thì đương sự vẫn có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa

án Xem xét cách tổ chức thực hiện hoạt động giải quyết khiếu nại hành chínhmột số nước trên thế giới để có thể hiểu rõ hơn về vấn đề này

Trang 22

Loại thứ nhất là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính độc lập (haycòn gọi là cơ quan Tài phán hành chính) hiện nay có 26 trên tổng số 53 bangcủa Mỹ

Loại thứ hai là cơ quan giải quyết khiếu nại hành chính được tổ chứctrong chính cơ quan hành chính nhưng chuyên trách hóa, tức là những ngườitrong cơ quan này chỉ có trách nhiệm tiếp nhận và giải quyết khiếu nại đối vớicác quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý của cơ quan mình Trongtrường hợp bị từ chối thì đương sự có thể gửi đơn đến Tòa án tư pháp để giảiquyết khiếu kiện

Loại thứ ba là trong một số lĩnh vực quản lý không có cơ quan chuyêntrách giải quyết khiếu nại hành chính mà chỉ có một bộ phận chịu trách nhiệmtiếp nhận và giải quyết các khiếu nại trong ngành và lĩnh vực đó (điển hình làHải quan) Trên thực tế 90% vụ việc đương sự chọn con đường khiếu nạihành chính vì vụ việc sẽ được giải quyết nhanh hơn, đồng thời đỡ tốn kémhơn nếu khiếu kiện ra Tòa án Ngoài ra, ở Mỹ còn có cơ quan độc lập chuyêngiải quyết khiếu nại quyết định kỷ luật công chức

Pháp luật Mỹ quy định trường hợp hành chính đã được cơ quan hànhchính hoặc cơ quan tài phán hành chính giải quyết mà đương sự vẫn tiếp tụckhiếu kiện tới Tòa án thì Tòa án không xem xét lại nội dung sự việc mà chỉxem xét việc áp dụng pháp luật của cơ quan hành chính hoặc cơ quan chuyêntrách giải quyết khiếu nại hành chính trong quá trình giải quyết trước đó(Đinh Văn Minh, 2010)

1.2.2 Trung Quốc

Trung Quốc là nước thành lập hệ thống Tòa hành chính từ những năm

1990 Luật tố tụng hành chính Trung Quốc có những điều khoản liên quanđến khiếu nại hành chính Khiếu nại hành chính không phải là một trình tự bắtbuộc Người khiếu nại không buộc phải khiếu nại tới cơ quan hành chínhtrước khi khởi kiện ra toà án Tuy nhiên, nếu luật hoặc văn bản pháp quy cóquy định thì nó trở thành điều kiện bắt buộc Cơ quan hành chính phải giải

Trang 23

quyết khiếu nại trong thời gian hai tháng kề từ ngày nhận được khiếu nại.Trường hợp không có sự thống nhất quá trình khiếu nại hành chính, ngườikhiếu nại có thể kiện ra Toà án hành chính trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày

nhận được thống báo trả lời của cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009).

1.2.3 Pháp và Đức

Việc giải quyết khiếu nại hành chính ở Pháp và Đức được giao cho một cơquan xét xử đặc biệt là các toà án hành chính độc lập hoàn toàn với các toà án tưpháp Pháp là nước có lịch sử hơn 200 năm về tổ chức, thực hiện hoạt động tàiphán hành chính; Đức có Tòa án hành chính từ nửa sau thế kỷ 19 Đến nay, cảhai nước này đều có hệ thống cơ quan tài phán hành chính được tổ chức và hoạtđộng rất chặt chẽ, song việc giải quyết khiếu nại hành chính vẫn được coi trọng.Nguyên nhân là do các nước này quan niệm rằng Tòa án hành chính chỉ giảiquyết tính hợp pháp của các quyết định hành chính mà không thể giải quyết đượccác vấn đề phức tạp phát sinh trong quá trình quản lý, điều hành kinh tế xã hội

như các cơ quan hành chính (Đinh Văn Minh, 2009).

1.3 Các quy định và tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam

1.3.1 Định hướng và các văn bản pháp luật quy định giải quyết khiếu nại,

và chính quyền trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo

Trang 24

Đứng trước tình hình khiếu nại, tố cáo về đất đai trong một vài năm gầnđây không ngừng gia tăng và diễn biến phức tạp, điển hình như một số vụviệc: vụ việc khiếu nại của một số công dân tại huyện Văn Giang, tỉnh HưngYên liên quan đến dự án Khu đô thị, thương mại - du lịch Văn Giang; vụ việccưỡng chế thu hồi đất ở xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, thành phố HảiPhòng (Thanh tra chính phủ 2013), Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ươngĐảng, Quốc hội và Chính phủ đã tập trung chỉ đạo và ban hành thêm nhiềuvăn bản để giải quyết khiếu nại, tố cáo như: Nghị quyết Trung ương 3 khoáVIII, Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá

IX về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đều có nội dung nhấn mạnh về côngtác xem xét giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực đất đai; Thông báo Kếtluận số 130/TB-TW ngày 10/01/2009 của Bộ Chính trị về tình hình kết quảgiải quyết khiếu nại tố cáo từ năm 2006 và giải pháp trong thời gian tới (BộChính trị, 2009); Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 31/10/2012 Hội nghị Trungương 6 khóa XI về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời

kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, trong đónhấn mạnh: Các cơ quan có thẩm quyền phải tập trung giải quyết kịp thời, dứtđiểm các KNTC về đất đai theo đúng quy định của pháp luật về KNTC, tốtụng hành chính, tố tụng dân sự; công bố công khai kết quả giải quyết (BanChấp hành Trung ương Đảng, 2012);

Ngày 23/11/2012, tại kỳ họp lần thứ 4, Quốc hội khóa XIII đã thông quaNghị quyết số 39/2012/QH13 về việc tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quảthực hiện chính sách, pháp luật trong giải quyết KNTC của công dân đối vớicác quyết định hành chính về đất đai đã chỉ rõ: “Thủ trưởng các cơ quan hànhchính nhà nước theo thẩm quyền chủ động xem xét từng vụ việc khiếu nại, tốcáo về đất đai trong phạm vi quản lý để giải quyết kịp thời, dứt điểm, công bốcông khai kết quả giải quyết, không để khiếu kiện vượt cấp, diễn biến phức

Trang 25

tạp, khiếu kiện đông người; chịu trách nhiệm về việc giải quyết khiếu nại, tốcáo ” (Quốc hội nước CHXHCNVN năm 2012).

Năm 2012, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 14/CT-TTg ngày14/5/2012 về chấn chỉnh và nâng cao hiệu quả công tác tiếp công dân, giảiquyết KNTC và nhiều văn bản khác để chỉ đạo công tác giải quyết KNTC,trong đó tập trung vào các nội dung: Chấn chỉnh, xử lý những tồn tại trongcông tác quản lý nhà nước về đất đai (như công tác quy hoạch sử dụng đất,bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất, cấp giấy chứng nhậnQSDĐ ); giải quyết kịp thời những vụ việc KNTC về đất đai ngay từ khi mớiphát sinh, không để trở thành “điểm nóng”, gây phức tạp về an ninh, trật tự;tăng cường thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của Chủ tịch UBND các cấp trongcông tác giải quyết KNTC, tập trung vào những địa bàn trọng điểm thườngxảy ra các vụ việc KNTC đông người, phức tạp nhằm ổn định tình hình chínhtrị - xã hội (Chính phủ, 2012)

Có thể nói khiếu nại, tố cáo về đất đai đang là một thách thức đối vớiĐảng, các cơ quan nhà nước hành chính nhà nước có thẩm quyền và toàn thể

xã hội Việc giải quyết dứt điểm, có hiệu quả vấn đề này có ý nghĩa rất quantrọng trong việc duy trì sự ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội trong cảnước và ở từng địa phương Việc giải quyết KNTC trong lĩnh vực đất đai củacác cơ quan hành chính nhà nước cần phải đổi mới, thường xuyên tiếp nhậncác thông tin phản hồi từ các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân để điều chỉnh côngtác quản lý nhà nước về đất đai (về thể chế, bộ máy tổ chức…), quan tâm, chútrọng đến lợi ích chính đáng, thiết thực của người dân trong giải quyết KNTCnhằm đảm bảo công bằng xã hội, góp phần ổn định tình hình an ninh, chínhtrị, trật tự an toàn xã hội là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay đối với Đảng vàNhà nước ta

1.3.1.2 Các văn bản pháp luật của Nhà nước quy định về việc giải quyết khiếu nại tố cáo

Trang 26

Trên cơ sở các chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước ta đã ban hànhnhiều văn bản pháp luật quy định về trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quanhành chính nhà nước, trình tự, thủ tục giải quyết KNTC Các văn bản phápluật được ban hành qua các thời kỳ mặc dù có một số quy định chưa thực sựhợp lý, nhưng nhìn chung đã thể hiện rõ sự phù hợp với thực tiễn của từnggiai đoạn, thể hiện sự thay đổi về cơ chế chính sách ngày càng minh bạch, cólợi hơn cho người dân Các văn bản pháp luật được ban hành sau khắc phụcđược những mâu thuẫn, bất cập chồng chéo của các văn bản đã ban hànhtrước đó

Các văn bản về giải quyết khiếu nại, tố cáo do Nhà nước ban hành tronggiai đoạn từ 01/01/2009 đến 31/12/2013 được thể hiện tại Bảng 1.1 Qua đó

có thể thấy hệ thống pháp luật quy định về giải quyết KNTC còn chưa đồng

bộ, nhiều vấn đề mâu thuẫn, chưa thống nhất giữa các văn bản trong hệ thốngpháp luật nước ta về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Luật Khiếu nại, tố cáo trước đây (Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đượcsửa đổi và bổ sung năm 2004, 2005, hiện nay đã hết hiệu lực thi hành) có cácquy định không thống nhất với Luật Đất đai năm 2003 như: quy định về trình

tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai; quy định về việc khởi kiện vụ việckhiếu nại đến Tòa án trong Luật Đất đai năm 2003 làm hạn chế quyền khởikiện của người khiếu nại hơn so với Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998; sự khácnhau giữa các quy định về thời hạn, thời hiệu Đây là những mâu thuẫn giữaLuật Khiếu nại, tố cáo và Luật Đất đai năm 2003 gây khó khăn trong việc ápdụng để giải quyết KNTC

Luật Đất đai năm 2003 ra đời vào thời điểm Luật Khiếu nại, tố cáo năm

1998 chưa được sửa đổi, bổ sung Ngay từ khi mới ra đời, dù có một số quy định

về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai mâu thuẫn với quy định của LuậtKhiếu nại, tố cáo năm 1998 nhưng vẫn còn có thể “chấp nhận được” Tuy nhiên,sau khi sửa đổi Luật Khiếu nại, tố cáo (vào các năm 2004 và 2005), nhiều quyđịnh về trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại về đất đai trong

Trang 27

Luật Đất đai đã trở thành lạc hậu, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung Nộidung đầu tiên cần phải sửa đổi là quy định liên quan đến “quyết định giảiquyết khiếu nại cuối cùng” Điều 2 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củaLuật Khiếu nại, tố cáo năm 2005 đã bãi bỏ Khoản 15 Điều 2 Luật Khiếu nại,

tố cáo 1998 về việc giải thích rằng: Quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng

là quyết định có hiệu lực thi hành và người khiếu nại không được quyền khiếunại tiếp Ở lần sửa đổi này, cụm từ “quyết định này là quyết định giải quyếtkhiếu nại cuối cùng” tại đoạn 2 Điều 54 của Luật Khiếu nại, tố cáo năm 2005cũng được thay bằng cụm từ “quyết định này là quyết định có hiệu lực thihành” Như vậy, trong giải quyết khiếu nại hiện nay không còn tồn tại kháiniệm “giải quyết khiếu nại cuối cùng”

Sau đó, Luật Tố tụng hành chính năm 2010, Luật Khiếu nại và Luật Tốcáo năm 2011 ra đời đã quy định thống nhất hơn, tiếp đến Luật Đất đai số45/2013/QH13 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Namthông qua ngày 29/11/2013 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2014), trong

đó quy định về quản lý, sử dụng đất và tại Chương XIII, Mục 2, Điều 204,Điều 205 quy định về giải quyết khiếu nại, khiếu kiện và tố cáo về đất đai,phần nào đó đã khắc phục những mâu thuẫn nêu trên

Theo quy định của pháp luật, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền

sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Bộ Tài nguyên và Môi trườngphát hành thống nhất một mẫu chung trong cả nước

Bảng 1.1 Danh mục các văn bản pháp luật quy định về giải quyết khiếu

nại, tố cáo

TT Tên văn bản, số Cơ quan hiệu, thời gian Trích yếu nội dung ban hành

ban hành ban hành

I Một số Luật về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Luật số Luật Khiếu nại, tố cáo: quy định về khiếu

1 09/1998/QH10 Quốc hội nại,tố cáo và giải quyết KNTC Hết hiệu lựcngày 02/12/1998 thi hành

Trang 29

Tên văn bản, số Cơ quan

Trích yếu nội dung ban hành hiệu, thời gian

ban hành ban hành

Luật số Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

2 26/2004/QH11 Quốc hội Khiếu nại, tố cáo năm 1998 Hết hiệu lực thi

Luật số Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

3 58/2005/QH11 Quốc hội Khiếu nại, tố cáo năm 1998 (đã được sửa đổi,ngày 29/11/2005 bổ sung năm 2004) Hết hiệu lực thi hành

Luật số Luật Đất đai: quy định về quản lý và sử dụng

đất đai Trong đó Chương VI, mục 2 quy định4

13/2003/QH11 Quốc hội về giải quyết KNTC về đất đai.Có hiệu lực thingày 26/11/2003

hành đến hết ngày 30/6/2014Luật Tố tụng hành chính: quy định về hoạtđộng tố tụng hành chính Trong đó, có cácLuật số điều sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất

5 64/2010/QH12 Quốc hội đai năm 2003 về thẩm quyền giải quyết khiếungày 24/11/2010 nại, khởi kiện đối với QĐHC, hành vi hành

chính về quản lý đất đai Đang có hiệu lực thihành

Luật Thanh tra: quy định về tổ chức, hoạtLuật số động thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân,

trong đó có quy định về chức năng, nhiệm vụ6

56/2010/QH12 Quốc hội giải quyết khiếu nại, tố cáo của Thanh tra tỉnh,ngày 15/11/2010

huyện và Thanh tra Sở Đang có hiệu lực thihành

Luật Khiếu nại: quy định về khiếu nại và giảiLuật số quyết khiếu nại đối với QĐHC, hành vi hành

7 02/2011/QH13 Quốc hội chính của cơ quan hành chính nhà nước, củangày 11/11/2011 người có thẩm quyền trong cơ quan hành

chính nhà nước Đang có hiệu lực thi hành.Luật Tố cáo: quy định về tố cáo và giải quyết

Trang 30

Luật số tố cáo đối với hành vi VPPL của cán bộ công

8 03/2011/QH13 Quốc hội chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ,ngày 11/11/2011 công vụ và đối với hành vi VPPL của cơ quan,

tổ chức, cá nhân về quản lý nhà nước trong

Trang 31

Tên văn bản, số Cơ quan

Trích yếu nội dung ban hành hiệu, thời gian

ban hành ban hành

các lĩnh vực Đang có hiệu lực thi hành

Luật đất đai: Quy định về quản lý, sử dụngLuật số đất Trong đó Chương XIII, Mục 2, Điều 204,

9 45/2013/QH13 Quốc hội Điều 205 quy định về giải quyết khiếu nại,ngày 29/11/2013 khiếu kiện và tố cáo về đất đai Có hiệu lực thi

hành kể từ ngày 01/7/2014

II Một số Nghị định về giải quyết khiếu nại, tố cáo

Nghị định số Về thi hành Luật Đất đai, trong đó Chương

Chính XII quy định về giải quyết khiếu nại về đất

Chính trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

2 84/2007/NĐ-CP khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu

phủngày 25/5/2007 nại về đất đai Chương VI bổ sung một số quy

định đối với giải quyết khiếu nại về đất đai Cóhiệu lực thi hành đến hết ngày 30/6/2014.Quy định chi tiết một số điều của Luật KhiếuNghị định số

Chính nại: quy định cụ thể về nhiều người cùng

3 75/2012/NĐ-CP khiếu nại về một nội dung, công khai và thi

phủngày 03/10/2012 hành quyết định giải quyết khiếu nại, quy định

về tiếp công dân Đang có hiệu lực thi hành.Quy định chi tiết một số điều của Luật Tố cáo:quy định về trường hợp nhiều người cùng tốNghị định số

Chính cáo về một nội dung, công khai kết luận nội

4 76/2012/NĐ-CP dung tố cáo, quyết định xử lý hành vi vi phạm

phủ

Trang 32

ngày 03/10/2012 bị tố cáo, bảo vệ người tố cáo và chế độ khen

thưởng đối với người có thành tích trong tốcáo Đang có hiệu lực thi hành

(Nguồn: Tác giả tổng hợp, 2019)

Trang 33

Trong khuôn khổ luận văn tốt nghiệp này chỉ nghiên cứu, đánh giá thựctrạng, hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn huyện HưngNguyên, tỉnh Nghệ An giai đoạn 2015-2019 (giai đoạn Luật Đất đai 2003đang còn hiệu lực thi hành, trong khi đó Luật Đất đai năm 2013 có hiệu lựcthi hành từ ngày 01/7/2014) Vì vậy những nội dung liên quan đến khiếu nại,

tố cáo quy định trong Luật Đất đai 2013 được tham chiếu trong việc đề xuấtgiải pháp nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bànhuyện Hưng Nguyên, tỉnh Hưng Nguyên

Quyết định giải quyết khiếu nại phải giải quyết tất các yêu cầu được đặt

ra trong giải quyết khiếu nại, yêu cầu nào được chấp nhận và không đượcchấp nhận, nếu có liên quan đến cơ quan hoặc người có thẩm quyền phải chỉ

rõ trong quyết định khiếu nại

1.3.2 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai ở Việt Nam

Tình hình khiếu nại, tố cáo diễn biến phức tạp và bức xúc ở nhiều nơi, cólúc, có nơi đặc biệt phức tạp, gay gắt, biểu hiện rõ nhất là: Số đoàn đôngngười tăng mạnh, thái độ khiếu kiện thiếu kiềm chế, khiếu nại, tố cáo vượtcấp lên Trung ương gia tăng; tình trạng đơn thử gửi tràn lan mang tính chấtphổ biến, nhất là trong các dịp có sự kiện chính trị (họp Trung ương, họpQuốc hội, Bầu cử Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại hộiĐảng …)

Có nhiều vụ việc phát sinh từ những năm trước, đã được các cấp chínhquyền xem xét, giải quyết nhưng công dân vẫn không nhất trí tiếp tục khiếu kiệnkéo dài, nhất là các vụ việc khiếu nại về thu hồi đất để thực hiện dự án tại các địaphương như TP Hà Nội, tỉnh Hưng Yên, Hà Nam, Hải Dương, Đắk Lắk, ĐắkNông, Thanh Hóa, An Giang, Tiền Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai…, các

vụ việc đòi lại đất cũ, tranh chấp đất đai trong nội bộ nhân dân tại các địaphương như: Long An, Bến Tre, Tây Ninh, Bình Dương, TP Hồ Chí Minh

Có hiện tượng những người, nhóm người khiếu nại "liên kết" với nhau

để khiếu nại đông người nhằm tạo thêm sức ép lên các cơ quan Đảng và Nhà

Trang 34

nước Đáng chú ý là trong một số trường hợp có sự xúi giục, kích động củacác thế lực thù địch nhằm lôi kéo những người khi khiếu nại liên kết đôngngười có những hành vi quá khích, gây rối Tình hình khiếu nại, tố cáo nêutrên đã ảnh hưởng đến an ninh, trật tự và tiềm ẩn những nguy cơ làm mất ổnđịnh chính trị - xã hội tại một số địa phương trong một số thời điểm Trongmột số trường hợp đã xuất hiện những mâu thuẫn phát sinh giữa người dânvới chính quyền, giữa người dân với nhà đầu tư Trong nhiều dự án, do tácđộng của tình hình khiếu nại, tố cáo nên đã làm cho dự án bị chậm triển khai,kéo dài nhiều năm, ảnh hưởng xấu đến phát triển kinh tế xã hội Một số vụviệc khiếu kiện người dân thể hiện thái độ sẵn sàng đối đầu, bất phục tùngchính quyền, thậm chí hăm dọa cán bộ có trách nhiệm Điều đáng lo ngại làtình hình khiếu nại, tố cáo đã tác động tiêu cực vào tâm lý, hành động của cán

bộ, vào đời sống xã hội và niềm tin của một bộ phận không nhỏ nhân dân, cán

bộ đối với chính quyền, đòi hỏi phải được quan tâm chỉ đạo quyết liệt Nộidung khiếu nại của công dân tập trung chủ yếu liên quan đến đất đai (chiếmtrên 71%) (Thanh tra Chính Phủ, 2018)

Các cơ quan hành chính nhà nước đã giải quyết 36.750/42.783 vụ việckhiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, trách nhiệm được giao, đạt tỷ lệ trên85,9%: Theo báo cáo tóm tắt tổng kết công tác năm 2017 và phương hướngnhiệm vụ năm 2018 của Thanh tra Chính phủ: Cơ quan hành chính nhà nướccác cấp đã tiếp 394.224 lượt công dân với 271.249 vụ việc (giảm 15% so vớinăm 2017), có 4.475 đoàn đông người; xử lý 177.709 đơn đủ điều kiện; giảiquyết 23.573 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thấm quyền (đạt 83,7%) Thôngqua giải quyết khiếu nại, tô cáo đã kiến nghị thu hồi cho nhà nước và trả lạicho công dân 2.968 tỷ đồng, 100 ha đất; trả lại quyển lợi cho 1.505 người,kiến nghị xử lý hành chính 469 người, chuyển cơ quan điều tra 06 vụ, 08 đốitượng Tiếp tục kiểm tra, rà soát, giải quyết 531 vụ việc khiếu nại, tố cáo tồnđọng, phức tạp theo Kế hoạch 2100; có 449 vụ việc đủ điều kiện ban hành

Trang 35

thông báo châm dứt thụ lý (84,6%), đã ban hành 269 thông báo chấm dứt.Hiện có 13 địa phương báo cáo không còn vụ việc phức tạp, kéo dài.

1.3.3 Tình hình giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai trên địa bàn tỉnh Nghệ An

Giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019, trên địa bàn tỉnh Nghệ An nộidung khiếu kiện chủ yếu vẫn tập trung vào một số lĩnh vực, như: công tác thuhồi đất, bồi thường giải phóng mặt bằng, tài định cư, công tác quản lý đất đai,nhà ở, xây dựng, giao đất, giao rừng, kiến nghị về chính sách xây dựng cảitạo lại Chợ truyền thống, việc bố trí sắp xếp các điểm kinh doanh, ngànhhàng tại các Chợ, phí thuê điểm kinh doanh tại Chợ, công tác quản lý, khaithác Bãi triều, vấn đề ô nhiễm môi trường, hoạt động khai thác khoáng sản, Nội dung đơn tố cáo tập trung vào các lĩnh vực, như: tố cáo hành vi làm tráicủa cán bộ khi thi hành công vụ trong lĩnh vực quản lý đất đai, tài chính,ngân sách, đầu tư xây dựng cơ bản, thực hiện chính sách xã hội của cán bộlàm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước, các hành vi làm trái của cán

bộ tham gia ứng cử, bầu cử vào Hội đồng nhân dân các cấp Giai đoạn này,cùng với việc tổ chức thực hiện Luật khiếu nại, tố cáo và các văn bản hướngdẫn thi hành, Chỉ thị số 09/CT-TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Thôngbáo số 130-TB/TW của Bộ Chính trị, Thông báo số 321/TB-VPCP của Vănphòng Chính Phủ, Chỉ thị số 14/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ và cácChỉ thị của Tỉnh uỷ UBND tỉnh đã thường xuyên chỉ đạo Thủ trưởng các sở,ban, ngành, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố tập trung giải quyếtdứt điểm các vụ việc khiếu nại, tố cáo, đặc biệt là các vụ việc khiếu nại, tốcáo đông người, phức tạp, tồn đọng, kéo dài trên địa bàn; khẩn trương,nghiêm túc tổ chức thực hiện các ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, Thanh traChính phủ, Tỉnh ủy, UBND tỉnh về giải quyết khiếu nại, tố cáo Do đó số vụviệc công dân khiếu kiện vượt cấp lên Trung ương giảm; cơ bản những vụviệc tồn đọng, phức tạp, kéo dài từ nhiều năm đã được giải quyết dứt điểm,tạo được

Trang 36

sự đồng thuận cao trong quần chúng nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triểnkinh tế xã hội của tỉnh, đảm bảo an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội.Công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo tiếp tục được các cấp, cácngành trong tỉnh quan tâm, triển khai thực hiện theo đúng quy định của LuậtKhiếu nại, Luật tố cáo, Luật tiếp công dân và các văn bản hướng dẫn thihành Theo các Biểu tổng hợp về công tác tiếp dân, giải quyết khiếu nại, tốcáo trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai đoạn 2017-2019 thì từ năm 2017-2019,các cơ quan hành chính Nhà nước các cấp trong tỉnh đã tiếp 21473 lượt côngdân, với 15658 vụ việc; có 748 lượt đoàn đông người, với 509 vụ việc côngdân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (Bảng 1.2)

Bảng 1.2 Tổng hợp công tác tiếp dân trên địa bàn tỉnh Nghệ An giai

đoạn năm 2017-2019 Năm Tiếp dân Tại cơ quan hành chính Trong đó tiếp Đoàn

Nhà nước các cấp đông người Lượt tiếp Số vụ KN, TC, Kiến nghị, PA Lượt đoàn Số vụ

(Nguồn: Tổng hợp báo cáo hàng năm của Thanh tra tỉnh)

Trong năm 2019 có tổng số đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị phản ánh,tranh chấp đất đai là chiếm 84% cụ thê 5155 đơn (tăng 3,1% so với 2018)

Nguyên nhân phát sinh khiếu nại, tố cáo là do trong thời gian gần đây,khi chính quyền các cấp tiến hành thu hồi nhiều đất của dân để giao cho cácnhà đầu tư thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị, thương mại, dịch vụ nhưng vấn đề chính sách liên quan đến lợi ích của người sử dụng đất cònnhiều bất cập, giá đất chưa phù hợp, thường xuyên thay đổi; cơ chế đền bù, hỗtrợ chưa nhất quán nên khó thực hiện

Hiện nay, chính sách bồi thường vẫn thực hiện theo 2 cơ chế: Nhà nướcthu hồi đất và thỏa thuận bồi thường nên có chênh lệch với giá trị bồi thườngtại các khu vực tương đương, dẫn tới sự chênh lệch quá lớn giữa giá đất bồi

Trang 37

thường so với giá thị trường chuyển nhượng quyền sử dụng đất thực tế, gâytâm lý so sánh cho người khiếu kiện.

Mặt khác công tác quản lý đất đai ở một số địa phương còn nhiều hạnchế ở các mặt như: việc thu hồi, định giá, kiểm đếm, kiểm kê tài sản trên đất,xác định diện tích, loại đất, xây dựng phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định

cư có lúc, có nơi làm chưa tốt, dẫn đến công dân không chấp nhận, phát sinhkhiếu nại đòi quyền lợi; Thứ hai, việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn xảy ra sai sót, không theo quy hoạch

và quy định của pháp luật Nhiều dự án thu hồi đất của dân rồi để hoang hóa;khả năng sử dụng đất ít nhưng thu hồi với diện tích lớn gây lãng phí đất đaikhiến công dân bức xúc đòi lại đất…

Sự bất cập của hệ thống chính sách pháp luật về đất đai: Từ sau khi phápluật đất đai có đầy đủ các quyền, việc nắm bắt kịp thời các quy định pháp luậtcủa cán bộ và người dân còn hạn chế, việc hiểu các quy định pháp luật cũngkhông đầy đủ và quan niệm về chế độ sở hữu tư nhân về đất đai trong nhânnhân dân vẫn còn tồn tại Việc ban hành văn bản pháp luật về đất đai theotừng giai đoạn lịch sử, phát triển của đất nước nên thiếu đồng bộ và còn chồngchéo, thiếu công bằng, người hưởng chính sách sau được hưởng lợi hơn ngườihưởng chính sách trước (có một số do chây ì, không chấp hành pháp luật đượclợi hơn người chấp hành nghiêm pháp luật), từ đó dẫn đến so bì, khiếu kiện

Công tác giải phóng mặt bằng có nhiều bất cập: Chưa giải quyết tốt mốiquan hệ giữa quyền của Nhà nước với tư cách là đại diện sở hữu toàn dân vềđất đai và quyền của người sử dụng đất đã được pháp luật công nhận, dẫn tớinhấn mạnh quyền thu hồi đất của Nhà nước, nhấn mạnh việc tạo vốn từ quỹđất mà chưa quan tâm đầy đủ lợi ích chính đáng của người sử dụng đất, đặcbiệt trong việc định giá đất bồi thường, xử lý mối tương quan giữa giá đất thuhồi với giá đất tái định cư (thu hồi theo giá Nhà nước quy định quá thấp, giaođất tái định cư lại theo gần sát giá thị trường) Chưa giải quyết tốt mối quan

Trang 38

hệ giữa lợi ích của xã hội với lợi ích của những người có đất bị thu hồi,thường chỉ nhấn mạnh đến tính cấp thiết của việc giải phóng mặt bằng để cóđược dự án, chưa chú ý những vấn đề xã hội nảy sinh sau khi thu hồi đất, dẫntới không bảo đảm điều kiện tái định cư, không có phương án tích cực về giảiquyết việc làm cho người có đất bị thu hồi, nhất là đối với nông dân khôngcòn hoặc ít đất sản xuất hoặc những người không còn việc làm như nơi ở cũ.Vẫn còn tình trạng không chấp hành đúng các quy định của Nhà nước về trình

tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư Quỹ đất tái định cưcòn khó khăn, đặc biệt đối với khu vực đô thị lớn như thành phố Vinh Cơ chếchính sách của Luật Đất đai 2003 còn nhiều bất cập chậm được điều chỉnh,đặc biệt là chính sách hỗ trợ đất nông nghiệp trong khu dân cư, tiếp giáp khudân cư và đất nông nghiệp trong phạm vi địa giới hành chính xã, đây là chínhsách bất cập nhất khó áp dụng vào thực tế, gây nhiều bức xúc cho nhân dân, lànguyên nhân chủ yếu dẫn đến chậm tiến độ đối với thu hồi đất nông nghiệp.Theo Luật 2003 cách thức để nhà đầu tư có đất để thực hiện dự án được phânthành hai trường hợp, một là theo quy trình Nhà nước thu hồi đất hai là cơ chếchuyển đổi đất đai tự nguyện trên cơ sở nhà đầu tư thương thảo với người sửdụng đất để nhận quyền sử dụng đất thông qua chuyển nhượng, thuê hoặc gópvốn dẫn sự khác biệt rất lớn về quyền lợi được hưởng của người dân đặc biệtkhi các dự án gần nhau gây nên sự so sánh, khiếu nại và không đồng tình củangười dân

Các biện pháp chế tài để triển khai thực hiện các kết luận, quyết định đã

có hiệu lực pháp luật chưa đủ mạnh, làm cho kết luận, quyết định giải quyếtchưa được thực hiện nghiêm

Các cơ quan chức năng của Nghệ An dự báo tình hình khiếu nại, tố cáo,tranh chấp đất đai tiếp tục diễn biến phức tạp và tập trung chủ yếu ở lĩnh vựcbồi thường, giải phóng mặt bằng tại các địa bàn thu hồi nhiều đất của dân đểthực hiện các dự án phát triển kinh tế xã hội

Trang 39

Vì vậy, bên cạnh việc tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến phápluật cho cán bộ, nhân dân (nhất là khu vực xã, thị trấn, thị trấn) Các cấp chínhquyền, ngành chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác quản lý đất đainhằm hạn chế phát sinh khiếu nại, tố cáo, nhất là ở cấp cơ sở; đẩy mạnhthanh, kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; công tác bồithường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất Bên cạnh đó, kiênquyết thu hồi đất đã giao, đã cho thuê, nhưng không đúng đối tượng, không sửdụng hoặc sử dụng không hiệu quả, sai mục đích.

1.3.4 Yếu tố ảnh hưởng của giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai

*Sự hoàn thiện pháp luật

Luật đất đai 2013 đã có nhiều sự thay đổi lớn so với các quy định trướcđây trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, đồng thời hàng năm đều cónhững thay đổi, chỉnh sửa và bổ sung như: trong công tác quy hoạch, công tácbồi thường, giải phóng mặt bằng, công tác cấp giấy chứng nhận…nên dẫn đếnnhững lúng túng, khó cập nhật cho cả người làm công tác quản lý cũng nhưngười sử dụng đất

Vì vậy, hệ thống pháp luật về quản lý đất đai nói chung, đất đai nóiriêng, về khiếu nại, tố cáo và giải quyết khiếu nại, tố cáo đồng bộ, thống nhất,đầy đủ sẽ là điều kiện tiên quyết, thuận lợi, quyết định hiệu quả của hoạt độnggiải quyết khiếu nại về đất đai

* Sự phát triển kinh tế và giá trị của đất đai

Nhằm thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nhà nước cầnphải thu hồi đất của những người đang sử dụng để mở rộng, xây dựng côngtrình công cộng Thiết nghĩ việc thu hồi đất là cần thiết, nhưng có nhiều dự ánlợi dụng mục đích công cộng để thu hồi đất của dân Cùng với việc thu hồi đất

là vấn đề đền bù, giải phóng mặt bằng Khung giá để đền bù hiện nay so vớigiá thực tế là rất thấp Với mức giá đền bù quá thấp so với giá thực tế như vậyngười dân không đủ điều kiện để tái lập cuộc sống như lúc chưa đền bù giảiphóng mặt bằng, chưa nói gì đến việc họ có cuộc sống tốt hơn Vì vậy, yếu tố

Trang 40

giá đất quá thấp để áp cho giá đền bù là nguyên nhân cơ bản dẫn đến khiếunại, tố cáo của người dân về phương án đền bù thiệt hại và kéo theo đó làmchậm tiến đọ triển khai các công trình

*Năng lực và ý thức trách nhiệm của cán bộ, công chức giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai

Đất đai là một vấn đề phức tạp, đã và đang phát sinh nhiều khiếu nại, tốcáo đất đai, nhưng tổ chức và cơ chế giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai thiếu

ổn định, còn nhiều bất cập so với yêu cầu thực tế Đặc biệt, tình trạng đơn thư,

vụ việc từ khiếu nại không thành chuyển sang tố cáo cán bộ giải quyết

Giải quyết một vụ khiếu nại, tố cáo đất đai đòi hỏi phải có các bước điềutra, nghiên cứu, kết luận và thi hành kết luận (tương tự như một vụ án hànhchính hoặc vụ án dân sự), do đó cần một đội ngũ những người am hiểu phápluật, có nghiệp vụ chuyên sâu và làm việc chuyên trách Khiếu nại, tố cáo đấtđai về đất đai hiện nay chủ yếu nảy sinh ở cấp huyện nhưng bộ máy thụ lý ởcấp này lại không tương ứng Chủ tịch UBND các cấp là người chủ trì, chịutrách nhiệm chính về quyết định giải quyết khiếu nại, tố cáo đất đai, nhưng lạiphải lo mọi việc của địa phương nên khó có điều kiện chuyên tâm việc này.Nguồn nhân lực làm công tác tiếp dân, xử lý đơn thư, giải quyết khiếu nại, tốcáo đất đai vừa thiếu vừa yếu, tình trạng này tồn tại ở cả cấp trung ương vàđịa phương Đây là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng giải quyết khiếunại, tố cáo đất đai chậm chạp, thiếu dứt điểm, chất lượng thấp, tái khiếu kiệnnhiều

Ngoài ra, khi phát sinh khiếu nại, tố cáo đất đai, người có thẩm quyền đãkhông tập trung chỉ đạo giải quyết kịp thời, thậm chí né tránh, đùn đẩy Nhiều

vụ việc đã có quyết định giải quyết cuối cùng nhưng việc tổ chức thi hànhquyết định không nghiêm, cơ quan ra quyết định thiếu kiểm tra, đôn đốc kịpthời để giải quyết dứt điểm; một số vụ việc đã có kết luận hoặc quyết địnhgiải quyết nhưng không có tính khả thi trong tổ chức thi hành dẫn tới phátsinh những khiếu nại, tố cáo đất đai mới phức tạp hơn

Ngày đăng: 19/06/2021, 14:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w