1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cuộc đấu tranh sinh tồn của thế giới loài vật trong sáng tác jack london

104 13 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cuộc Đấu Tranh Sinh Tồn Của Thế Giới Loài Vật Trong Sáng Tác Jack London
Tác giả Vương Ngọc Hùng
Người hướng dẫn Phó Giáo Sư Lương Duy Trung
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ
Năm xuất bản 2003
Thành phố TP. HỒ CHÍ MINH
Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 5,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • BÌA

  • LỜI CẢM ƠN

  • MỤC LỤC

  • DẪN NHẬP

    • 1.Lý do chọn đề tài:

    • 2.Lịch sử vấn đề:

    • 3.Mục đích của đề tài:

    • 4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

    • 5.Nhiệm vụ và đóng góp của đề tài.

    • 6.Phương pháp nghiên cứu:

  • CHƯƠNG 1: JACK LONDON VÀ VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH SINH TỒN

    • 1.1.Khái niệm “Đấu tranh sinh tồn” và cảm hứng đấu tranh sinh tồn trong văn chương Hoa Kỳ:

    • 1.2.Jack London và vấn đề đấu tranh sinh tồn:

      • 1.2.1.Bối cảnh lịch sử xã hội nước Mỹ nửa cuối thế kỷ XIX đến 1914.

      • 1.2.2. Jack London - Con người phiêu lưu từng trải từ tay trắng dựng nên sự nghiệp: nhà văn “vô sản” đầu tiên của nước Mỹ

      • 1.2.3.Jack London và vấn đề đấu tranh sinh tồn

  • CHƯƠNG 2: CUỘC ĐẤU TRANH SINH TỒN CỦA THẾ GIỚI LOÀI VẬT TRONG SÁNG TÁC JACK LONDON

    • 2.1. Giới hạn phạm vi xem xét cuộc đấu tranh sinh tồn ở thế giời loài vật trong sáng tác của Jack London:

    • 2.2. Nhân vật và cuộc đấu tranh sinh tồn trong “Tiếng gọi của hoang dã” và “Nanh Trắng”

      • 2.2.1.Số phận phiêu lưu đầy khổ ải của hai nhân vật: Buck và Nanh Trắng

        • 2.2.1.1.Buck

      • 2.2.2.Đấu tranh sinh tồn của loài vật trong thế giới hoang dã

        • 2.2.2.1.Giành giật “miếng ăn”

        • 2.2.2.2.Sự thích ứng trong môi trường hoang dã

        • 2.2.2.3.Giành giật sự truyền giống

      • 2.2.3.Đấu tranh sinh tồn của loài vạt trong thế giới con người

        • 2.2.3.1.Bối cảnh của cuộc đấu tranh sinh tồn

        • 2.2.3.2.Sự chi phối của con người và cuộc đấu tranh sinh tồn của loài vật

          • 2.2.3.2.1.Sự thích ứng của loài vật trong môi trường mới

          • 2.3.2.1.1.Luật của dùi cui (the law of club)

          • 2.3.2.1.2.Luật của răng nanh( The law fang)

          • 2.2.3.2.2.Khát vọng hướng về quần thể - cội nguồn hoang dã và nhu cầu yêu thương, gắn bó vối con người.

    • 2.3.Đấu tranh sinh tồn của thế giới loài vật và sự biểu hiện tư tưởng nghệ thuật của Jack London

      • 2.3.1.Sự biểu hiện tư tưởng nghệ thuật qua bố cục và hình tượng.

        • 2.3.1.1.Bố cục tác phẩm

        • 2.3.1.2.Xét về mặt hình tượng nhân vật

      • 2.3.2.Ý nghĩa biểu trưng toát lên từ hình tượng nhân vật trung tâm trong hai tác phẩm

  • CHƯƠNG 3: MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ BÚT PHÁP NGHỆ THUẬT

    • 3.1.Nghê thuật xây dựng hình tượng nhân vật

    • 3.2.Nghệ thuật xây dựng chi tiết nghệ thuật và điểm nhìn trần thuật

      • 3.2.1.Chi tiết nghệ thuật

      • 3.2.2.Nghệ thuật di chuyển điểm nhìn trần thuật

  • KẾT LUẬN

  • THƯ MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • I. Tác phẩm của Jack London

    • II. Sách tham khảo:

    • III. Các bài báo, nghiên cứu, phê bình:

    • IV. Tiếng Anh

  • PHỤ LỤC

    • PHỤ LỤC 1

    • PHỤ LỤC 2

Nội dung

JACK LONDON VÀ VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH SINH TỒN

Khái ni ệm “Đấu tranh sinh tồn” và cảm hứng đấu tranh sinh tồn trong văn chương Hoa Kỳ

"Đấu tranh sinh tồn" là một quy luật phổ quát, chi phối mọi hình thức sống và đóng vai trò quan trọng trong quá trình tiến hóa của các loài.

Khác với động vật sống theo bản năng, con người từ khi xuất hiện đã phải đấu tranh để tồn tại và phát triển Lịch sử tiến hóa của nhân loại chính là cuộc chiến sinh tồn khốc liệt trong việc chinh phục thiên nhiên và đấu tranh xã hội Văn học, với vai trò là một lĩnh vực ý thức đặc thù, phản ánh chân thực cuộc đấu tranh này, vì đối tượng của văn học là con người, và số phận của con người luôn là vấn đề nóng bỏng trong mọi thời đại và xã hội.

Thần thoại Hy Lạp ghi nhận nhiều tấm gương anh hùng đấu tranh cho sự tồn sinh của nhân loại, trong đó nổi bật là Prométhée Ông là biểu tượng của lý tưởng phụng sự nhân loại, bất chấp lệnh của Zeus, đã mang đến cho con người ngọn lửa thần thánh, khởi nguồn cho văn minh và tiến bộ Hình tượng Prométhée được xem như “Vị thánh đầu tiên, là người tuẩn tiết đầu tiên trong lịch sử triết học” (Marx), thể hiện rõ nét tinh thần phản kháng và khát vọng tự do của người Hy Lạp cổ đại.

Lạp cổ đại đã sớm nhận thức vấn đề đấu tranh và ý nghĩa của sự sinh tồn

Con người là sản phẩm của một thời đại lịch sử xã hội cụ thể, và vấn đề đấu tranh sinh tồn luôn gắn liền với việc xác định ý nghĩa tồn tại qua từng thời kỳ Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, các tác phẩm bi kịch của Eschyle, Sophocle, Euripide đã thể hiện sự xung đột giữa con người và số mệnh Thời đại Phục Hưng ở Tây Âu (thế kỷ XV, XVI) với "Chủ nghĩa nhân văn" đã mang đến tinh thần đấu tranh vì hạnh phúc, tạo nên giá trị rực rỡ cho nền văn nghệ.

Tinh thần chống lại các thế lực phong kiến và nhà thờ, những kẻ đã kìm hãm văn hóa và chà đạp quyền sống của con người, được thể hiện rõ trong tác phẩm của các tác giả như Rabelais, Cervantes và đặc biệt là Shakespeare Câu hỏi "To be or not to be" của Hamlet trong vở kịch nổi tiếng của Shakespeare phản ánh sâu sắc triết lý về cuộc đấu tranh và sự tồn tại của con người Lịch sử cận đại và hiện đại cho thấy cuộc chiến sinh tồn của con người ngày càng trở nên khốc liệt hơn.

Nói tóm lại, “sinh tồn” và “đấu tranh để sinh tồn” luôn là những vấn đề hàng đầu của con người ở mọi thời đại và mọi dân tộc

Trong văn học Mỹ, đấu tranh sinh tồn là một chủ đề xuyên suốt các thời kỳ, phản ánh quá trình khai phá và xây dựng đất nước của những người di cư từ các lục địa cũ Văn học không chỉ ghi lại khát vọng mạnh mẽ về sự sống còn mà còn thể hiện sự đối lập giữa mong muốn và thực tế Lịch sử đấu tranh sinh tồn ở Mỹ phát sinh từ sự kết hợp giữa khát vọng mãnh liệt và những thách thức thực tiễn mà con người phải đối mặt.

Giấc mơ Mỹ tượng trưng cho khát vọng tự do, công lý, bình đẳng và thịnh vượng trong cộng đồng đa dân tộc, mặc dù thực tế tại Châu Mỹ đầy thách thức Ngày 04.07.1776, khi Thomas Jefferson công bố "Tuyên ngôn độc lập", đánh dấu sự ra đời của một siêu cường chỉ sau hơn 200 năm Cuộc đấu tranh sinh tồn quyết liệt của dân tộc Hoa Kỳ thể hiện khả năng phi thường của con người và tạo nên huyền thoại về một quốc gia toàn người nhập cư Chính những trải nghiệm này đã truyền cảm hứng cho sự sáng tạo nghệ thuật, đặc biệt là trong văn học.

Jack London và v ấn đề đấu tranh sinh tồn

1.2.1.B ối cảnh lịch sử xã hội nước Mỹ nửa cuối thế kỷ XIX đến 1914

Cuộc nội chiến Nam - Bắc (1861 - 1865) đã tạo ra bước ngoặt trong lịch sử xã hội

Trong nửa đầu thế kỷ XIX, sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử Hoa Kỳ là sự bành trướng lãnh thổ không ngừng Tuy nhiên, trong phần còn lại của thế kỷ XIX và những thập kỷ đầu thế kỷ XX, các sự kiện khác đã định hình lại đất nước này.

XX thể hiện sự phát triển vượt bậc trong nông nghiệp, công nghiệp và thương mại, đồng thời phản ánh sự bành trướng của chủ nghĩa đế quốc Mỹ Tuy nhiên, sự phát triển này cũng kéo theo những mâu thuẫn xã hội ngày càng nghiêm trọng, dẫn đến các cuộc đấu tranh quyết liệt của giai cấp công nhân Mỹ vào hai thập kỷ cuối thế kỷ XIX Như Paul Vaillant Couturier đã chỉ ra, “Chủ nghĩa đế quốc và nước Mỹ đã trở thành một trong những nước đứng đầu về sự cách biệt sâu sắc giữa bọn tỷ phú trơ trẽn và hàng triệu người lao động sống trong đói nghèo, khốn khổ.”

Trong giai đoạn này, đời sống tinh thần của người Mỹ chịu ảnh hưởng sâu sắc từ học thuyết tiến hóa của Charles Darwin (1802 - 1892) Nhiều triết gia tư sản đã lợi dụng các tư tưởng của Darwin để phục vụ cho các mục đích riêng của họ.

Bài viết đề cập đến việc bảo vệ chủ nghĩa tư bản, duy trì chế độ phân biệt chủng tộc và biện hộ cho chiến tranh đế quốc thông qua các triết lý như "Triết học tiến hóa" của Herbert Spencer và học thuyết "Con người siêu nhân" của Friedrich Nietzsche Ngoài ra, cũng nhấn mạnh sự ảnh hưởng của các chủ nghĩa khác, đặc biệt là chủ nghĩa thực dụng Mỹ, đã phát triển ngay trên đất nước này.

Chủ nghĩa công cụ (Instrumentalism) và pragmatism được hình thành từ quy luật đấu tranh sinh tồn trong học thuyết tiến hóa của Darwin, sau đó được các triết gia tư sản và nhà kinh doanh triệu phú áp dụng Điều này không chỉ kích thích sự làm giàu cá nhân mà còn cho phép con người thoải mái theo đuổi mục tiêu của mình Quan điểm "Sự sống còn của những kẻ biết thích ứng" (Survival of the fittest) và lý thuyết tự do kinh doanh (Philosophy of laisser faire) của Spencer thể hiện rõ ràng trong tư tưởng của những doanh nhân Mỹ như J.U Rockefeller, người đã nhấn mạnh rằng sự phát triển của một doanh nghiệp lớn chỉ đơn giản là sự sống sót của những cá thể thích nghi.

Andrew Carnegie, người được mệnh danh là vua thép, đã nhận ra "sự thật về thuyết tiến hóa" và nhấn mạnh rằng lòng ngoan đạo đi đôi với sự giàu có, như lời của Đức giám mục Lawrence vào cuối thế kỷ XIX: “Sự giàu có về vật chất giúp cho một quốc gia hạnh phúc hơn, tươi vui hơn, bớt ích kỷ và sùng đạo hơn.” Ngược lại, học thuyết Marx về “Chủ nghĩa xã hội khoa học” khẳng định rằng lịch sử nhân loại từ khi giai cấp xuất hiện là “lịch sử đấu tranh giai cấp”, điều này đã tác động sâu sắc đến đời sống tinh thần của người Mỹ và cục diện đấu tranh sinh tồn của nước Mỹ trong giai đoạn này.

Thời kỳ này của nước Mỹ được gọi là thời kỳ của sự “bất ổn tinh thần”, phản ánh những biến động của hoàn cảnh lịch sử xã hội và sự ảnh hưởng đa dạng của các tư tưởng đối lập cùng tồn tại Một nhà nghiên cứu đã nhận định rằng “Cả thế hệ ông (Jack London) đều hỗn độn về tư tưởng”, cho thấy sự phức tạp trong tư duy của con người trong bối cảnh này.

Cuộc đấu tranh sinh tồn trong xã hội Mỹ hiện nay diễn ra một cách quyết liệt và tàn bạo hơn bao giờ hết, do sự phát triển của chủ nghĩa cá nhân ích kỷ và cực đoan tư sản, cắt đứt mọi mối giao hòa với cộng đồng Những tiền đề lịch sử, xã hội, văn hóa và tinh thần đã góp phần hình thành nên tình trạng này, khiến cho nước Mỹ trở nên khác biệt với truyền thống giao hòa đã từng tồn tại.

“bãi chiến trường” (battle field) Trong văn học lãng mạn Mỹ thời kỳ nửa đầu thế kỷ

Vấn đề "Cái tôi" trong thơ ca thế kỷ XIX đóng vai trò quan trọng, thể hiện chủ nghĩa cá nhân (individualism) nhưng vẫn hòa quyện với vũ trụ và cộng đồng "Cái tôi" không chỉ khẳng định bản thân mà còn cùng nhau đấu tranh vì những mục tiêu chung.

"Tôi ca ngợi cái "Tôi", một con người riêng biệt đơn thuần

Song tôi cũng cất cao tiếng dân chủ, tiếng số đông quần chúng "

(Bài hát chính tôi - Walt Whitman)

Trong tiểu thuyết nổi tiếng "Nhà tài chính", nhân vật Frank Algermon Cowperwood thể hiện quan điểm sống mạnh mẽ với câu nói "Tôi thỏa mãn tôi" Hình tượng này không chỉ phản ánh sự kiên định trong bản thân mà còn thể hiện khát vọng tự do và độc lập trong cuộc sống Cowperwood là biểu tượng của sự quyết tâm và nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để đạt được thành công.

1 Theo “A college Book of American literature Brief Course”

2 Theodore dreiser (1997)- “Nhà tư bản tài chính”, NXB Lao động Hà Nội, trang 22, quyển 2

Financier, 1912) của Theodore Dreiser) là một điển hình sâu sắc trong việc nói lên tất cả bản chất của thứ chủ nghĩa cá nhân cực đoan tư sản

Trong văn học Mỹ, chủ nghĩa hiện thực đã định hình trên cái nền lịch sử xã hội của giai đoạn này

Chủ nghĩa hiện thực Mỹ ra đời muộn hơn so với Chủ nghĩa hiện thực Châu Âu thế kỷ XIX, nhưng phát triển mạnh mẽ trong bối cảnh chế độ tư bản thống trị và phong trào công nhân lớn mạnh Thời kỳ này chứng kiến mâu thuẫn sâu sắc giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, cùng với những vấn đề dân tộc nghiêm trọng như sự diệt chủng người da đỏ và tệ kỳ thị chủng tộc đối với người da màu Tiểu thuyết trở thành thể loại chính phản ánh hiện thực xã hội, thay thế thơ ca với phong cách trào phúng và châm biếm Các tác phẩm của những nhà văn như Stephen Crane, Upton Sinclair, Frank Norris, và Theodore Dreiser đã phê phán bất bình đẳng xã hội, cuộc đấu tranh giai cấp, bi kịch của “Giấc mơ Mỹ,” và sự tha hóa trong xã hội công nghiệp hiện đại.

Cuộc đời và sự nghiệp của Jack London diễn ra trong một thời kỳ đầy biến động ở Mỹ, bao gồm những thay đổi lớn về kinh tế, chính trị và văn hóa.

1.2.2 Jack London - Con người phiêu lưu từng trải từ tay trắng dựng nên sự nghi ệp: nhà văn “vô sản” đầu tiên của nước Mỹ

Jack London, tên thật là John Griffith London, sinh ngày 12 tháng 1 năm 1876 tại San Francisco Ông là con trai của cuộc hôn nhân không chính thức giữa Flora Wellman, một nữ giáo viên dạy nhạc, và William Henry, một chiêm tinh gia.

Năm 1873, giữa cuộc suy thoái kinh tế lớn làm tê liệt nước Mỹ, Jack London ra đời trong bối cảnh nhiều nhà máy đóng cửa và hàng triệu người thất nghiệp, bao gồm cả những người thân của ông Mẹ ông kết hôn với John London, một người đàn ông góa vợ, trong cùng năm đó.

Năm 10 tuổi, Jack London đã phải vất vả để kiếm sống (vừa đi học, vừa bán báo) Năm 13 tuổi ông chính thức từ giã trường học - để làm đủ mọi nghề: làm thuê trong các tiệm cà phê, bãi đánh bóng, nhà máy đồ hộp, đi đánh cắp sò (được mệnh danh là “ông Hoàng” trên các bãi sò vùng Lower Bay) Những năm 1892 - 1893, ông làm thủy thủ trên các con tàu California Fish Patrol, Sofia Southerland (trở thành “trùm” thủy thủ), sau đó làm công nhân trong xưởng đay, công nhân xúc than trong công trình xây dựng tuyến đường sắt Oakland và đủ mọi nghề khác (giặt quần áo, gác cổng, khuân vác v.v ) Vào tháng 7.1897, ông tham gia vào đám đông những người tìm vàng vùng Klondike

CUỘC ĐẤU TRANH SINH TỒN CỦA THẾ GIỚI LOÀI VẬT

Gi ới hạn phạm vi xem xét cuộc đấu tranh sinh tồn ở thế giời loài vật trong sáng tác c ủa Jack London

Trong sáng tác của Jack London, các tác phẩm phiêu lưu chiếm ưu thế, phản ánh cuộc đời dấn thân và khám phá của ông Những trải nghiệm phong phú từ nhiều vùng đất lạ đã để lại dấu ấn sâu sắc trong các tác phẩm của ông.

Alaska lạnh giá và vùng biển phương Nam nước Mỹ đầy bão tố là bối cảnh nổi bật trong các tác phẩm, nơi xuất hiện nhiều loài động vật như chó sói, chó nhà, gấu, linh miêu, hươu, nai Tất cả chúng đều thể hiện sự đấu tranh sinh tồn quyết liệt, đòi hỏi bản năng mạnh mẽ và kinh nghiệm để giành giật sự sống.

Chó sói và chó nhà là hai nhân vật nổi bật trong các tác phẩm của Jack London, đặc biệt là con chó Buck trong "Tiếng gọi nơi hoang dã" và con sói Nanh Trắng trong tác phẩm cùng tên Những nhân vật này không chỉ là trung tâm của câu chuyện mà còn mang ý nghĩa nghệ thuật sâu sắc, thể hiện tính biểu trưng độc đáo trong văn học của nhà văn.

Khi đi vào nghiên cứu đề tài này, chúng tôi chọn Ti ếng gọi nơi hoang dã và Nanh

Trắng là hai tác phẩm quan trọng, thể hiện rõ nét cuộc đấu tranh sinh tồn của thế giới loài vật qua cái nhìn độc đáo của tác giả.

2.2 Nhân vật và cuộc đấu tranh sinh tồn trong “Tiếng gọi của hoang dã” và “Nanh

2.2.1.S ố phận phiêu lưu đầy khổ ải của hai nhân vật: Buck và Nanh Trắng

"The Call of the Wild" được xuất bản vào năm 1903, là tác phẩm của tác giả Jack London Nguyên tác tiếng Anh dài 90 trang, chia thành 7 chương, mỗi chương mang một tiêu đề riêng, phản ánh sâu sắc những giai đoạn phiêu lưu của nhân vật chính.

Tác phẩm xoay quanh số phận của Buck, một chú chó 4 tuổi, con của giống chó nòi Xanh Béc-na và nòi chăn cừu Scotland, sống yên bình tại trang trại của ngài thẩm phán Miller Cuộc sống của Buck bị đảo lộn khi bị bắt cóc và bị hành hạ tàn nhẫn trước khi bị bán lên vùng cực Bắc nước Mỹ vào mùa thu năm 1897, giữa cơn sốt vàng Tại đây, Buck phải đối mặt với môi trường hoang dã khắc nghiệt, những chủ nhân độc ác và cuộc chiến sinh tồn với đồng loại Nhờ sức mạnh, trí thông minh, ý chí kiên cường và khả năng thích ứng, Buck đã vượt qua mọi thử thách để tồn tại.

Tại Việt Nam, có hai bản dịch tiếng Việt của tác phẩm nổi tiếng với nhan đề khác nhau Bản dịch đầu tiên, "Tiếng gọi của rừng thẳm," được thực hiện bởi Cấn Huy Tăng và xuất bản bởi Nhà xuất bản Sống Mới Sài Gòn vào năm 1960 Bản dịch thứ hai mang tên "Tiếng gọi nơi hoang dã," do Nguyễn Công Ái và Vũ Tuấn Phương thực hiện, được in trong tập truyện cùng tên do Nhà xuất bản Lao động phát hành năm 1983, và sau đó được tái bản bởi Nhà xuất bản Văn học - Hà Nội vào năm 2001.

Bản dịch của Cấn Huy Tăng có nhiều điểm lệch so với nguyên tác, như việc không dịch bài thơ mở đầu và lược bỏ nhiều câu, trong khi bản dịch của Nguyễn Công Ái và Vũ Tuấn Phương giữ được sự gần gũi với nguyên bản Về nhan đề tác phẩm, "Tiếng gọi nơi hoang dã" không thể hiện đầy đủ ý nghĩa hàm ẩn của kiệt tác Chúng tôi cho rằng "Tiếng gọi của hoang dã" sẽ làm nổi bật hơn chủ đề và ý nghĩa sâu sắc, thể hiện tiếng gọi không chỉ từ bên ngoài mà còn từ bên trong, như một bản năng thúc đẩy dòng giống hoang dã trong mỗi cá nhân.

Môi trường sống khắc nghiệt đã biến Buck từ một con chó thuần hóa thành một thú dữ tàn bạo Sau khi thoát chết nhờ kinh nghiệm, Buck gặp John Thornton, một người chủ nhân ái, và đáp lại tình yêu thương của ông bằng một tình cảm sâu sắc Tuy nhiên, khi John Thornton bị giết hại, Buck mất đi mối liên kết cuối cùng với con người và trở về với bầy sói hoang dã, trở thành thủ lĩnh của chúng Dù vậy, Buck không quên người chủ yêu thương của mình; hàng năm, vào mùa hè, nó trở lại nơi John Thornton đã ra đi, đứng lặng hồi lâu trước khi phát ra tiếng hú dài và thảm thiết.

"White Fang," tác phẩm của Jack London, được xuất bản vào năm 1906, dài 252 trang và chia thành 25 chương Mỗi chương mang một tiêu đề riêng, tạo thành những câu chuyện độc lập nhưng vẫn liên kết chặt chẽ trong một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh.

Cuộc đời của Nanh Trắng được tác giả miêu tả chi tiết, không chỉ từ chính nó mà còn từ thế hệ trước của nó Lớn lên trong môi trường tự nhiên hoang dã, Nanh Trắng trải qua một cuộc phiêu lưu đưa nó từ cuộc sống bầy đàn hoang dã trở về với xã hội loài người văn minh, trái ngược với Buck Jack London chịu ảnh hưởng sâu sắc từ học thuyết tiến hóa trong tác phẩm này.

Tác phẩm "Nanh Trắng" của Darwin là một minh chứng thuyết phục cho lý thuyết tiến hóa Từ đầu đến chương V, tác giả khắc họa những cuộc săn mồi và cạnh tranh sinh tồn, nổi bật với hình ảnh con sói cái Kiche và con sói già một mắt Từ chương VI đến chương VIII, câu chuyện chuyển sang sự ra đời của Nanh Trắng, diễn ra trong môi trường tự nhiên khắc nghiệt.

1 Tác ph ẩm được Bảo Hưng và Trung Dũng dịch ra tiếng Việt và do nhà xuất bản Long An xuất bản năm

Bản dịch năm 1987 gồm 247 trang, giữ nguyên cấu trúc chương của tác phẩm gốc Nhìn chung, bản dịch đã truyền tải thành công nội dung, nghệ thuật và phong cách văn chương của tác giả.

Trong cuộc chiến sinh tồn khốc liệt, Nanh Trắng đã thể hiện bản năng chiến đấu và khả năng thích ứng xuất sắc Từ chương IX đến chương XXV, tác giả mô tả hành trình của Nanh Trắng cùng mẹ sói Kiche đến thế giới con người, nơi nó phải đối mặt với những chủ nhân tàn nhẫn và tham gia vào các cuộc chiến đẫm máu với đồng loại vì thức ăn và vị trí thống trị Môi trường khắc nghiệt đã kích thích bản năng hoang dã của Nanh Trắng, biến nó thành một "con quỷ dữ" không chỉ với loài thú mà còn với con người Cuối cùng, trong một cuộc chiến sinh tử, Nanh Trắng được Weedon Scott cứu thoát, và chính tình yêu thương chân thành của Scott đã cảm hóa nó, biến nó thành một con vật trung thành Được đưa về miền Nam, Nanh Trắng đã lập nhiều chiến công và kết thúc cuộc phiêu lưu bên đàn con lai trong trang trại của thẩm phán Scott, nơi đầy ánh sáng và ấm áp.

Cả hai tác phẩm đều có những điểm tương đồng trong việc xây dựng tình tiết và biến cố cốt truyện, nhưng "Nanh Trắng" lại nổi bật hơn với chiều sâu trong việc khắc họa nhân vật và cuộc đời của họ Cuộc phiêu lưu của Buck bắt đầu từ khi bị bắt cóc khỏi nhà ông thẩm phán, trong khi "Nanh Trắng" khởi đầu từ cuộc sống chung với mẹ sói Phần dôi hơn tám chương đầu của "Nanh Trắng" là sự bổ sung quan trọng, làm phong phú thêm nội dung so với "Tiếng gọi của hoang dã", cho thấy sự phát triển và chiều sâu của câu chuyện.

Đấu tranh sinh tồn của thế giới loài vật và sự biểu hiện tư tưởng nghệ thuật của

Biêlinxki, nhà phê bình văn học nổi tiếng của Nga, đã khẳng định rằng tư tưởng nghệ thuật không chỉ đơn thuần là một lý thuyết hay quy tắc, mà là một niềm đam mê mãnh liệt và sự hứng khởi sâu sắc Ông nhấn mạnh rằng tư tưởng nghệ thuật là một hình thức nhận thức toàn diện, kết hợp lý trí, tình cảm và cảm xúc, phản ánh lý tưởng thẩm mỹ của nhà văn Trong tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật được thể hiện qua việc nhận thức, lý giải và bày tỏ thái độ đối với nội dung sống động và các vấn đề nhân sinh mà tác phẩm đặt ra.

Jack London sáng tác "Tiếng gọi của hoang dã" và "Nanh Trắng" với cảm hứng từ cuộc đấu tranh khốc liệt ở quê hương ông Qua các tác phẩm này, ông truyền tải tình cảm, thái độ và quan niệm nhân sinh về những vấn đề nóng bỏng của thời đại mình.

"Tiếng gọi của hoang dã" và "Nanh Trắng" là hai tác phẩm xuất sắc của nhà văn Jack London, thể hiện sâu sắc tâm tư và triết lý về cuộc sống hoang dã Những tác phẩm này không chỉ khắc họa cuộc sống của loài vật mà còn phản ánh tư tưởng lớn lao của tác giả, làm nổi bật mối liên hệ giữa con người và thiên nhiên.

Thành công của hai tác phẩm không chỉ nằm ở bút pháp nghệ thuật độc đáo mà còn ở những tư tưởng nhân văn sâu sắc Hình tượng nghệ thuật trong các tác phẩm này mang lại sức gợi lớn, với nội dung vô hạn mà không ai, kể cả tác giả, có thể nắm bắt hoàn toàn Jack London đã mượn cuộc đấu tranh sinh tồn của loài vật để phản ánh cuộc sống khốc liệt của con người ở thời đại ông Ông nhấn mạnh rằng cái ác và sự tàn bạo dẫn đến hủy diệt, đồng thời ca ngợi tình yêu thương và sức mạnh cảm hóa của nó đối với con vật, nhằm nhắn nhủ rằng sự tồn tại và phát triển của mọi sinh vật luôn gắn liền với nhau.

Con người cần tôn trọng sự tồn tại và phát triển của tất cả các sinh vật, bao gồm cả thế giới hoang dã, để duy trì sự gắn bó và hài hòa trong cuộc sống.

2.3.1.S ự biểu hiện tư tưởng nghệ thuật qua bố cục và hình tượng

Trong quá trình tạo dựng tác phẩm, tư tưởng nghệ thuật được thể hiện rõ nét qua bố cục, tức là kết cấu bề mặt của tác phẩm Mặc dù hai tác phẩm có sự khác biệt về số lượng chương, nhưng chúng vẫn đạt được sự thống nhất trong cách thể hiện tư tưởng nghệ thuật qua kết cấu bề mặt.

Nanh Tr ắng : gồm 25 chương

Chương I đến chương VIII của tác phẩm mô tả chi tiết quá trình hình thành của Nanh Trắng, nhấn mạnh vai trò của yếu tố di truyền trong sự phát triển của nó Qua từng bước thích ứng với môi trường hoang dã, Nanh Trắng đã phải trải qua những cuộc chiến đấu đầu tiên để sinh tồn và tìm kiếm thức ăn Tất cả những yếu tố này khẳng định rằng Nanh Trắng là một con sói hung dữ, sở hữu sức mạnh cơ bắp và trí tuệ vượt trội.

Từ chương IX đến chương XVIII, cuộc phiêu lưu của nhân vật chính phản ánh số phận bi thảm trong xã hội loài người, khi phải chịu đựng sự tàn nhẫn từ nhiều người chủ độc ác Sống trong một thế giới đầy bạo lực và những cuộc chiến đấu đẫm máu, nhân vật đã trở thành một con vật khát máu, trở thành kẻ thù không chỉ của đồng loại mà còn của tất cả mọi sinh vật xung quanh.

Từ chương XIX đến chương XXV, nhân vật chính đã hoàn toàn thuần hóa dưới tình yêu thương của Scott, trở nên gắn bó với chủ và xã hội con người Nó sống hạnh phúc bên đàn con lai chó nhà, thể hiện sự hòa nhập và tình cảm sâu sắc dành cho gia đình mới.

Ti ếng gọi của hoang dã : gồm 7 chương

Từ một chú chó nhà thuần hóa, Buck bị bắt cóc và đưa lên vùng cực Bắc, trải qua tay nhiều chủ nhân tàn nhẫn, sống giữa bầy đàn hung dữ Những trải nghiệm này đã khơi dậy trong Buck toàn bộ bản năng nguyên thủy, hung dữ và tàn bạo.

Từ chương VI đến chương cuối, tình yêu thương của người chủ đã cảm hoá Buck, khiến nó phát triển một tình cảm gắn bó đặc biệt và trung thành Buck đã nhiều lần giúp đỡ chủ nhân, nhưng khi chủ bị giết, xã hội loài người trở nên vô nghĩa với nó Cuối cùng, Buck đã trở về với cuộc sống hoang dã, hòa nhập với đồng loại.

So sánh bố cục của hai tác phẩm, ta nhận thấy rằng nếu không có tám chương đầu của Nanh Trắng, hai tác phẩm có sự tương đồng trong việc sắp xếp các sự kiện Dù khác nhau về số chương, nhưng nội dung đều phản ánh hành trình phiêu lưu của các nhân vật, trải qua tay nhiều người chủ độc ác trong một thế giới tàn nhẫn, khiến chúng trở thành những con vật hung dữ Cuối cùng, cả hai tác phẩm đều cho thấy sự thay đổi khi gặp được người chủ tốt, tình yêu thương đã cảm hóa chúng, dẫn đến sự trung thành tuyệt đối và những đóng góp tích cực cho chủ nhân.

Kết thúc tác phẩm, cả hai có con đường số phận khác nhau nhưng giống nhau ở chỗ: tất cả đều xuất phát từ sự lựa chọn của chính chúng

Bố cục tác phẩm Nanh Trắng của Jack London nổi bật hai vấn đề chính: sự phát triển của bản năng hoang dã, tàn bạo của loài vật trong thế giới tàn bạo và quá trình thuần hóa chúng trong môi trường yêu thương, mang lại lợi ích cho con người Các chương đầu của tác phẩm càng làm rõ vấn đề về cuộc đấu tranh sinh tồn của loài vật, thể hiện tư tưởng nghệ thuật sâu sắc của tác giả.

2.3.1.2.Xét về mặt hình tượng nhân vật

Hình tượng hai nhân vật trung tâm thể hiện quá trình thích ứng từng bước trong môi trường sống khắc nghiệt, gắn liền với sự phát triển bản năng sinh tồn Khi nhân vật đạt đến mức độ thích ứng cao nhất, bản năng nguyên thủy của họ bộc lộ sự hung hãn và khát máu, như thể không có sức mạnh nào có thể kiềm chế Tuy nhiên, điều kỳ diệu xảy ra khi lòng nhân đạo và tình yêu thương từ vài ông chủ đã cảm hóa họ hoàn toàn, ảnh hưởng sâu sắc đến tính cách và số phận của nhân vật trong hai tác phẩm.

Jack London hiểu rõ mối liên hệ giữa cá nhân và môi trường sống, điều này được thể hiện rõ trong tác phẩm "Nanh Trắng" Ông nhấn mạnh rằng "tính tình nó thì phát triển theo hướng đã vạch do tính di truyền và môi trường" Sống cùng Chồn Xám, một kẻ có tính cách man rợ, Nanh Trắng dần trở nên hung dữ và tàn bạo hơn Hoàn cảnh khắc nghiệt đã hình thành nên một con vật cô độc, cáu kỉnh và độc ác, trở thành kẻ thù của chính nòi giống mình Khi rơi vào tay Beauty Smith, một kẻ tàn nhẫn, Nanh Trắng đã biến thành "một thứ ác quỷ".

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM VỀ BÚT PHÁP NGHỆ THUẬT

Ngày đăng: 19/06/2021, 14:40

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. “Ti ếng gọi nơi hoang đã” - NXB Văn học - Hà Nội - 2001 2. “Nanh Tr ắng ” - NXB Long An - 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng gọi nơi hoang "đã” - NXB Văn học - Hà Nội - 2001 2. “"Nanh Trắng
Nhà XB: NXB Văn học - Hà Nội - 2001 2. “"Nanh Trắng"” - NXB Long An - 1987
4. “ Martin Iđơn ” - NXB Văn học - Hà Nội - 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Martin Iđơn
Nhà XB: NXB Văn học - Hà Nội - 1986
5. “Sói bi ển ” - NXB Văn nghệ - TP. Hồ Chí Minh - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sói biển
Nhà XB: NXB Văn nghệ - TP. Hồ Chí Minh - 2000
6. “T ừ bỏ thế giới vàng ” - NXB Đà Nang - 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ bỏ thế giới vàng
Nhà XB: NXB Đà Nang - 2001
7. “ Người đẹp vùng băng tuyết ” - NXB Thanh niên - 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đẹp vùng băng tuyết
Nhà XB: NXB Thanh niên - 2000
8. “Sóng l ớn Canaca ” - NXB. Tác ph ẩm mới - Hội nhà văn - 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sóng lớn Canaca
Nhà XB: NXB. Tác phẩm mới - Hội nhà văn - 1986
9. “S ự im lặng màu trắng ” - NXB. Tác ph ẩm mới - Hội nhà văn - 1984 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự im lặng màu trắng
Nhà XB: NXB. Tác phẩm mới - Hội nhà văn - 1984
10. “Tuy ển tập Jack London ” - NXB H ội nhà văn - 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Jack London
Nhà XB: NXB Hội nhà văn - 1999
11. “Tuy ển tập truyện ngắn Jack London ” - NXB H ội nhà văn - 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện ngắn Jack London
Nhà XB: NXB Hội nhà văn - 1997
12. “Hoa d ại ” - NXB Lao động – Sở VHTT Bến Tre - 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa dại
Nhà XB: NXB Lao động – Sở VHTT Bến Tre - 1986
13. “ Cơn sốt vàng ” - NXB Văn học nghệ thuật Đồng Tháp - 1987 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơn sốt vàng
Nhà XB: NXB Văn học nghệ thuật Đồng Tháp - 1987
14. “ Văn phòng ám sát ” - NXB Tr ẻ - TP. Hồ Chí Minh - 1987. II. Sách tham kh ảo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn phòng ám sát
Nhà XB: NXB Trẻ - TP. Hồ Chí Minh - 1987. II. Sách tham khảo
15. L ại Nguyên Ân (1999), “ 150 thu ật ngữ văn học ” - NXB Đại học Quốc gia Hà N ội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: L ại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
16. Bôrix Xuskôv (1980), “S ố phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực ”, NXB Tác ph ẩm mới - Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số phận lịch sử của chủ nghĩa hiện thực
Tác giả: Bôrix Xuskôv
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới - Hội nhà văn
Năm: 1980
17. Lê Huy B ắc (1999), “ Ernest Hemingway - Núi băng và hiệp sĩ ”, NXB Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ernest Hemingway - Núi băng và hiệp sĩ
Tác giả: Lê Huy B ắc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
18. M.Bakhtin (1992), “Lý lu ận và thi pháp tiểu thuyết ” - Trường viết văn Nguyễn Du, B ộ văn hóa thông tin và thể thao Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Năm: 1992
19. M.Bakhtin (1998), “Nh ững vấn đề thi pháp của Đôtôiepxki ”, NXB Giáo d ục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp của Đôtôiepxki
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
20. Lê Đình Cúc (2001), “Văn học Mỹ - Mấy vấn đề và tác giả ”, NXB Khoa h ọc xã h ội Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Mỹ - Mấy vấn đề và tác giả
Tác giả: Lê Đình Cúc
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội Hà Nội
Năm: 2001
21. Douglas K.Stevenson (2000), “Cu ộc sống và các thể chế ở Mỹ ”, NXB Chính tr ị Qu ốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống và các thể chế ở Mỹ
Tác giả: Douglas K.Stevenson
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
22. Đỗ Đức Dục (1981), “ Ch ủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây”, NXB Khoa h ọc xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa hiện thực phê phán trong văn học phương Tây
Tác giả: Đỗ Đức Dục
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 1981

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w