1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở tỉnh bình dương

222 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 222
Dung lượng 5,29 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bình Dương đã phát huy tốt thế mạnh của các hình thức TCLTCN, điều này mang lại sức bật mới cho sự phát triển KT - XH của tỉnh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đổi mớ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN TRÍ

NGHIÊN CỨU CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC

LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN ÁN TIẾN SĨ ĐỊA LÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học:

1 TS PHẠM THỊ XUÂN THỌ

2 PGS.TS NGUYỄN MINH TUỆ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2020

Trang 3

đến TS Phạm Thị Xuân Thọ và PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ đã tận tình chỉ bảo,

hướng dẫn cho tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận án này

Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các Thầy, Cô giáo Khoa Địa lí trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh đã ủng hộ, động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện luận án Tác giả xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại học Sư phạm Tp Hồ Chí Minh, Phòng Sau Đại học, Phòng Kế hoạch Tài chính đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận án

Tác giả xin trân trọng cảm ơn các cơ quan: Cục Thống kê tỉnh Bình Dương, Ủy ban Nhân dân tỉnh Bình Dương, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương, Sở Công thương tỉnh Bình Dương, Sở Khoa học và Công nghệ Bình Dương, Ban Quản lý các KCN tỉnh Bình Dương đã nhiệt tình hỗ trợ, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thu thập

số liệu, tài liệu và các thông tin liên quan đến nội dung nghiên cứu của luận án Xin gửi lời cảm ơn chân thành đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn ủng

hộ, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận án

Xin trân trọng cảm ơn

Tác giả luận án

Nguyễn Trí

Trang 4

dưới sự hướng dẫn khoa học của: TS Phạm Thị Xuân Thọ và PGS.TS Nguyễn Minh Tuệ Các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận án có nguồn trích dẫn

rõ ràng, trung thực

Tác giả luận án

Nguyễn Trí

Trang 5

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng số liệu

Danh mục các biểu đồ

Danh mục các bản đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP 21

1.1 Cơ sở lý luận 21

1.1.1 Các khái niệm 21

1.1.2 Các hình thức TCLTCN vận dụng cho cấp tỉnh 26

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN 28

1.1.4 Các tiêu chí đánh giá các hình thức TCLTCN vận dụng cho tỉnh Bình Dương 34

1.2 Cơ sở thực tiễn 42

1.2.1 Công nghiệp Việt Nam và một số hình thức TCLTCN chủ yếu 42

1.2.2 Phát triển công nghiệp và một số hình thức TCLTCN chủ yếu của vùng KTTĐPN 51

Tiểu kết chương 1 60

Chương 2 CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÁC HÌNH THỨC TỔ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG 61

2.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ 61

2.2 Nhân tố tự nhiên 64

2.2.1 Địa hình, quỹ đất 64

2.2.2 Khoáng sản 66

Trang 6

2.3 Nhân tố kinh tế - xã hội 70

2.3.1 Nguồn lao động 70

2.3.2 Cơ sở hạ tầng 73

2.3.3 Trình độ khoa học công nghệ 75

2.3.4 Đường lối chính sách 76

2.3.5 Vốn đầu tư 77

2.3.6 Thị trường 78

2.3.7 Mối quan hệ, hợp tác liên vùng 78

2.4 Đánh giá chung 79

2.4.1 Thuận lợi 79

2.4.2 Khó khăn 80

Tiểu kết chương 2 82

Chương 3 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THỨC TỒ CHỨC LÃNH THỔ CÔNG NGHIỆP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG 83

3.1 Khái quát chung 83

3.1.1 Tình hình phát triển KT tỉnh Bình Dương 83

3.1.2 Khái quát chung về phát triển CN tỉnh Bình Dương 84

3.1.3 Nhận xét chung về hiện trạng phát triển CN tỉnh Bình Dương 91

3.2 Các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương 93

3.2.1 Sự phân hóa GTSXCN theo đơn vị hành chính 93

3.2.2 Các hình thức TCLTCN tiêu biểu ở tỉnh Bình Dương 94

3.3 Đánh giá chung về các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh 123

3.3.1 Một số kết quả đạt được 123

3.3.2 Tồn tại, hạn chế 124

Tiểu kết chương 3 126

Trang 7

BÌNH DƯƠNG 127

4.1 Cơ sở xây dựng định hướng 127

4.1.1 Các văn bản pháp quy 127

4.1.2 Định hướng phát triển công nghiệp cả nước 128

4.1.3 Định hướng phát triển công nghiệp vùng KTTĐ phía Nam 129

4.1.4 Quan điểm, mục tiêu phát triển CN tỉnh Bình Dương 131

4.2 Định hướng phát triển CN tỉnh Bình Dương 134

4.2.1 Định hướng phát triển CN toàn tỉnh 134

4.2.2 Định hướng phát triển CN theo ngành 137

4.2.3 Định hướng theo thành phần kinh tế 139

4.2.4 Theo không gian lãnh thổ 140

4.3 Định hướng phát triển các hình thức TCLTCN 141

4.3.1 Định hướng phát triển chung 141

4.3.2 Định hướng các hình thức TCLTCN cụ thể 143

4.4 Các giải pháp phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương 148

4.4.1 Các giải pháp chung 148

4.4.2 Giải pháp cụ thể nhằm phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương 152

Tiểu kết chương 4 157

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ 159

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 164

TÀI LIỆU THAM KHẢO 166 PHỤ LỤC

Trang 8

BOD Nhu cầu Oxy sinh học

CNH – HĐH Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá

CNSX & PP Công nghiệp sản xuất và phân phối

GTSXCN (GOCN) Giá trị sản xuất công nghiệp

Trang 9

Bảng 1.2 Cơ cấu GTSXCN phân theo TPKT của nước ta giai đoạn

2005 - 2016 43 Bảng 1.3 Một số tiêu chí của các CCN nước ta năm 2016 46 Bảng 1.4 GTSXCN và cơ cấu GTSXCN của vùng KTTĐPN giai đoạn

2005 – 2016 (giá hiện hành) 52 Bảng 1.5 GTSXCN phân theo thành phần kinh tế vùng KTTĐPN giai đoạn

2005 – 2016 (giá hiện hành) 53 Bảng 1.6 Lao động CN đang làm việc trong vùng KTTĐPN giai đoạn

2005 - 2016 54 Bảng 1.7 Một số chỉ tiêu KCN vùng KTĐPN phân theo địa phương

năm 2016 56 Bảng 2.1 Cơ cấu sử dụng đất tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 – 2016 65 Bảng 2.2 Giá thuê đất trung bình KCN ở một số tỉnh, TP vùng KTTĐPN

giai đoạn 2010 – 2016 66 Bảng 2.3 Một số chỉ tiêu về dân số và lao động ở tỉnh Bình Dương giai

đoạn 2005 - 2016 70 Bảng 2.4 Tỷ lệ đô thị hóa phân theo đơn vị hành chính tỉnh Bình Dương

giai đoạn 2005 – 2016 72 Bảng 2.5 Mức độ áp dụng trình độ công nghệ một số ngành CN tỉnh Bình

Dương năm 2016 76 Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu kinh tế tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 83 Bảng 3.2 Cơ cấu GRDP phân theo thành phần kinh tỉnh Bình Dương giai

đoạn 2005 – 2016 84 Bảng 3.3 GTSXCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 – 2016 86 Bảng 3.4 Cơ cấu GTSXCN tỉnh Bình Dương phân theo ngành giai đoạn

2005 - 2016 86 Bảng 3.5 Cơ cấu GTSXCN tỉnh Bình Dương phân theo ngành (cấp 2) giai

đoạn 2005 - 2016 87 Bảng 3.6 Cơ cấu GTSXCN Bình Dương theo thành phần kinh tế giai đoạn

2005 - 2016 88 Bảng 3.7 Lao động đang làm việc trong ngành CN tỉnh Bình Dương

giai đoạn 2005 - 2016 89

Trang 10

Bảng 3.9 Kim ngạch xuất khẩu CN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 – 2016 91

Bảng 3.10 GTSXCN và cơ cấu GTSXCN tỉnh Bình Dương phân theo đơn vị hành chính giai đoạn 2005 - 2016 93

Bảng 3.11 Lao động đang làm việc trong CCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 97

Bảng 3.12 Một số chỉ tiêu của các CCN tỉnh Bình Dương qua các năm 98

Bảng 3.13 Phân loại các CCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016 99

Bảng 3.14 Lao động trong KCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 102

Bảng 3.15 Lao động trong KCN tỉnh Bình Dương qua các năm 103

Bảng 3.16 Năng suất và thu nhập của người lao động trong KCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 104

Bảng 3.17 Tình hình thu hút vốn đầu tư vào hoạt động các KCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 – 2016 106

Bảng 3.18 Số dự án của các KCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 107

Bảng 3.19 GTSXCN và doanh thu của các KCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 108

Bảng 3.20 Giá trị xuất nhập khẩu KCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 109

Bảng 3.21 Phân loại các KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2016 112

Bảng 3.22 Một số chỉ tiêu các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương giai đoạn 2005 - 2016 124

Bảng 4.1 Dự báo GTSXCN của các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương 135

Trang 11

Biểu đồ 1.2 Cơ cấu GTSXCN của vùng KTTĐ nước ta năm 2005 và 2016 45 Biểu đồ 1.3 Cơ cấu KCN phân theo vùng năm 2005 và 2016 của nước ta 48 Biểu đồ 1.4 Tỷ trọng GTSXCN của KCN trong cơ cấu GTSXCN cả nước

năm 2005 và năm 2016 50 Biểu đồ 3.1 Tỷ trọng GTSXCN của KCN trong cơ cấu GTSXCN tỉnh Bình

Dương năm 2005 và năm 2016 107 Biểu đồ 3.2 Tỷ trọng một số tiêu chí của KCN trong toàn ngành CN tỉnh

Bình Dương năm 2016 121

Trang 12

2 Bản đồ các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương 71

3 Bản đồ hiện trạng phát triển CN tỉnh Bình Dương 85

4 Bản đồ các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương 95

5 Bản đồ định hướng phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương 136

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngay từ khi ra đời CN là ngành giữ vị trí chủ đạo trong nền kinh tế, là động lực to lớn trong quá trình CNH, HĐH đất nước, đóng góp lớn vào sự tăng trưởng kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới Cùng với cơ cấu CN theo ngành, theo thành phần kinh tế, theo lãnh thổ thì TCLTCN có ý nghĩa quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường thông qua việc khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực phát triển

Trong những năm gần đây ngành CN tỉnh Bình Dương luôn duy trì được mức

độ tăng trưởng cao, ổn định, GTSXCN tăng liên tục từ 89,2 nghìn tỷ đồng (giá hiện hành) năm 2005 lên 277,8 nghìn tỷ đồng năm 2010 và 786,3 nghìn tỷ đồng năm

2016 Trong cơ cấu GTSXCN của cả nước năm 2016 tỉnh Bình Dương chiếm 10,4% đứng thứ hai trong 63 tỉnh và thành phố (sau TP HCM) [73] Trong cơ cấu GDP của tỉnh Bình Dương, ngành CN chiếm tỷ trọng cao nhất trên 60% năm 2016, tỷ lệ lao động làm việc trong ngành CN chiếm trên 60% [17] Bình Dương là điểm sáng về phát triển ngành CN trong vùng KTTĐPN và cả nước, nằm trong tốp đầu những tỉnh có GTSXCN chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu GTSXCN của cả nước và trong cơ cấu GDP của tỉnh Có thể nói CN là ngành chủ lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế của tỉnh trong những năm qua và đang từng bước chuyển mình để trở thành trung tâm CN lớn và hiện đại

Ngành CN tỉnh Bình Dương ngày càng phát triển mạnh mẽ, đóng góp to lớn vào gia tăng GTSXCN vùng KTTĐPN và cả nước Để đạt được kết quả này là do

sự góp phần chủ yếu của các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh nhất là KCN Bình Dương đã phát huy tốt thế mạnh của các hình thức TCLTCN, điều này mang lại sức bật mới cho sự phát triển KT - XH của tỉnh trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH, HĐH đổi mới kỹ thuật công nghệ, tạo môi trường cạnh tranh, kích thích các doanh nghiệp, các thành phần kinh tế phát triển

Trong thời gian qua các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương đã đạt được một số thành tựu nhất định đặc biệt là các KCN đã tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho người lao động, đóng góp to lớn vào sự tăng trưởng GDP của tỉnh Góp phần

Trang 14

chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh ngày càng mạnh mẽ, tích cực theo hướng CNH, HĐH, tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuy nhiên sự phối hợp, liên kết

để phát triển giữa các hình thức TCLTCN của tỉnh chưa cao, chưa phát huy hết tiềm năng và đang còn bộc lộ một số hạn chế, vấn đề chất lượng lao động đang làm việc trong các hình thức TCLTCN chưa cao, môi trường chưa thực sự được đảm bảo

Vì vậy, tác giả chọn đề tài: “Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp

Trang 15

1909, của Alfred Marshall (Hoa Kỳ) năm 1920 Đây là những lý thuyết, công trình nghiên cứu có giá trị và ý nghĩa to lớn trong việc quản lý và phát triển lãnh thổ một cách hợp lý, hiệu quả

Hướng nghiên cứu về xác định vị trí tối ưu cho các nhà máy, xí nghiệp trên lãnh thổ, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của Alfred Weber (1868 - 1958) năm

1909 [88] và [91], với lý thuyết “khu vị luận CN” giải thích sự tập trung CN vào lãnh thổ do ba nguyên nhân: Thứ nhất chi phí vận tải rẻ nhất, thứ hai chi phí nhân công rẻ nhất, thứ ba là nơi các xí nghiệp tập trung có thể sử dụng phế liệu làm nguyên liệu rẻ tiền, trên cơ sở mục tiêu chính là “tối thiểu hóa chi phí sản xuất và tối đa hóa lợi nhuận” Trong ba nguyên nhân trên thì chi phí vận tải đầu vào và đầu

ra được xem có ý nghĩa quan trọng nhất vì đây là cơ sở để lựa chọn, bố trí địa điểm sản xuất Tùy vào tính chất của từng ngành sản xuất, từng doanh nghiệp mà việc xác định vị trí phân bố công nghiệp phải linh hoạt Tuy nhiên việc định vị các doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều yếu tố, ngoài chi phí vận chuyển thì còn có yếu tố tự

Trang 16

nhiên như khí hậu, địa hình và yếu tố KT-XH như các hoạt động tín dụng, vốn, lịch

sử chính trị xã hội Weber coi thành phố, các cửa vào ra là những "nút" những trọng điểm của lãnh thổ Thành phố là trung tâm thị trường, có sức hút lớn và lan tỏa ra xung quanh, tạo thành các vành đai với chức năng khác nhau để phục vụ cho trung tâm Việc tập trung phát triển CN sẽ tăng tiềm lực kinh tế cho vùng hội tụ có được các yếu tố thuận lợi cho sự phát triển Trong một không gian nhất định tập trung được nhiều doanh nghiệp sẽ tạo cơ hội cho các nhà đầu tư tiết kiệm, chia sẻ chi phí đầu tư về hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật, tăng cường liên kết thực hiện chuyên môn hóa sản xuất Bên cạnh đó lý thuyết này cũng chỉ ra những hạn chế khi

mà tập trung quá nhiều các doanh nghiệp trên một không gian hẹp sẽ gây nên sự cạnh tranh và chèn ép, công tác xử lý môi trường sẽ gặp khó khăn Lý thuyết của Alfred Weber có giá trị cho đến ngày nay và được vận dụng trong việc lựa chọn các vùng lãnh thổ trọng điểm cho phát triển, phù hợp với một nền kinh tế đang ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển CN, đặc biệt là các nước đang phát triển trong

đó có Việt Nam

Hướng nghiên cứu về ảnh hưởng của điểm trung tâm đối với các vùng xung quanh, tiêu biểu có công trình nghiên cứu của W Christaller là một nhà địa lí người Đức đã đưa ra lý thuyết “điểm trung tâm” vào năm 1933 [96] Lý thuyết này được hoàn thiện trên những ý tưởng và mô hình của G Thunen và Alfred Weber

W Christaller đã góp phần to lớn vào việc tìm kiếm quy luật của sự phát triển đô thị theo không gian Ông cho rằng, khu vực nông thôn chịu ảnh hưởng rất lớn từ các thành phố Thành phố như những cực hút, hạt nhân của sự phát triển Thành phố

là trung tâm cho tất cả các điểm dân cư khác của vùng, là đối tượng để thu hút đầu

tư có trọng điểm Theo lý thuyết này trong quy luật phân bố không gian cần phải xác định được sự tương quan giữa thành phố và vùng xung quanh, định vị được các nút trọng điểm ở những lãnh thổ khác nhau Lý thuyết này chính là cơ sở để bố trí các điểm đô thị có khả năng phát triển thông qua lực hút từ trung tâm Lý thuyết

“điểm trung tâm” của W Christaller sau đó được phát triển bởi August Losch (người Đức) đã chỉ ra được quy luật chung của sự phát triển lãnh thổ là việc hình thành và phát triển những trung tâm nơi hội tụ điều kiện thuận lợi nhất cho sự phát

Trang 17

triển có sức hút và lan toả không gian vùng xung quanh rất lớn Các điểm trung tâm ấy chính là các đô thị Lý thuyết này cho đến ngày nay vẫn còn nhiều giá trị thực tiễn, đặc biệt trong mối quan hệ 2 chiều giữa CNH với ĐTH Điều này được thể hiện rõ nét hơn khi nghiên cứu địa bàn tỉnh Bình Dương, chính quá trình ĐTH

là hạt nhân để phát triển CN, tạo nên các trung tâm CN và ngược lại CN phát triển tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật, hạ tầng cần thiết tạo sức hút cho sự phát triển các đô thị Tuy nhiên nếu trên một lãnh thổ các yếu tố về địa hình, dân số, tài nguyên, sức mua, chi phí vận chuyển đồng đều nhau thì việc vận dụng lý thuyết này sẽ không khả thi

Nghiên cứu về các cực phát triển, cực tăng trưởng tiêu biểu có lý thuyết của nhà bác học người Pháp Francoi Perroux (1903 - 1987) [theo 90] đã đưa ra lý thuyết

“cực phát triển” vào năm 1950 Ông quan niệm các đô thị chính là các “cực” phát triển Hệ thống các cực phát triển tương tác với nhau, có sức lan toả ra xung quanh rất lớn Trong các đô thị thì ngành CN và DV có vai trò to lớn trong việc tạo ra các cực phát triển Trên phạm vi một lãnh thổ trong một thời gian nhất định thì sẽ xuất hiện những địa điểm (cực) phát triển tới mức hoàn chỉnh và những cực đang trong quá trình phát triển hoặc chưa phát triển, nghĩa là một vùng lãnh thổ không thể phát triển kinh tế đồng đều ở các nơi trên lãnh thổ trong cùng một thời gian, mà có xu hướng phát triển mạnh nhất ở một vài nơi này, trong khi nơi khác lại chậm phát triển hoặc trì trệ Francoi Perroux cũng đã định nghĩa về “cực phát triển” và “cực tăng trưởng” Cực phát triển là khu vực có một hoạt động động lực và các hoạt động khác xoay quanh nó, có tác động lôi cuốn các khu vực xung quanh, tương đối hoàn thiện và khá ổn định về chức năng và quy mô

Cực tăng trưởng là khu vực mà hoạt động của nó chịu ảnh hưởng thúc đẩy từ bên ngoài của một cực phát triển, các hoạt động của nó diễn ra mạnh mẽ, chịu ảnh hưởng của các lực hút từ trung tâm lan tỏa ra, vì thế cực tăng trưởng là vệ tinh của cực phát triển, các cực tăng trưởng đang trong quá trình hoàn thiện về chức năng, quy mô Lý thuyết này phù hợp với những quốc gia, những vùng thiếu vốn đầu tư vì vậy trong quá trình phát triển cần đầu tư có trọng điểm để tạo ra các cực tăng trưởng Lý thuyết này được áp dụng rộng rãi ở các nước châu Á, nhất là các nước

Trang 18

Đông Nam Á, giải thích sự cần thiết của phát triển kinh tế lãnh thổ theo hướng phát triển có trọng điểm

Khoa học địa lí phát triển ngày càng mạnh mẽ đặc biệt vào những thập niên 60 của thế kỷ XX, tổ chức lãnh thổ trở thành một bộ môn cơ bản, được xem như là lý thuyết và phương pháp quy hoạch lãnh thổ toàn diện, tổng thể KT – XH Tác giả

Y.U.G Xauskin trong cuốn sách “Những vấn đề địa lí kinh tế hiện nay trên thế giới” đã đề cấp đến TCLT với nội dung chính là phân công lao đông theo lãnh thổ,

tổ chức xã hội theo lãnh thổ và những vấn đề phân vùng kinh tế liên quan đến phát

triển của lãnh thổ [Y.U.G Xauskin – Phạm Văn Thái dịch (2010), những vấn đề địa

lí kinh tế hiện nay trên thế giới, Nxb Giáo dục, Hà Nội]

Tiêu biểu cho những xu hướng mới trong nghiên cứu tổ chức lãnh thổ thời hiện đại gồm J.R Friedman, Paul Robin Krugman J.R Friedman với hướng nghiên cứu tập trung vào chính sách phát triển vùng và quy hoạch không gian lãnh

thổ với những công trình nổi tiếng như: The prospect of cities (2002), Cities for citizens: Planning and the rise of civil society in a global age (1998), territory and Function (1979) Đô thị hóa và những tác động của nó đến sự phát triển KT – XH

của lãnh thổ là những nội dung được ông đề cập trong những cuốn sách này [92] Paul Robin Krugman là nhà kinh tế học người Mỹ, với những nghiên cứu nổi tiếng, đóng góp lớn vào kho tàng lý luận phát triển kinh tế quốc tế trong thời đại mới, vấn đề chính sách phát triển không gian lãnh thổ được ông dành thời gian quan

tâm nghiên cứu như cuốn sách: The spatial economy: Cities, rigions and international trade; Economic Geography and Pulic Policy [97]

Những hình thức TCLTCN cụ thể như KCN, CCN cũng đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, các nhà hoạch định chiến lược phát triển kinh tế trên những phạm vi lãnh thổ khác nhau KCN là một hình thức TCLT rất quan trọng đối với sự phát triển ngành CN của nhiều quốc gia trên thế giới, được phát triển mạnh trong nửa sau của thế kỷ XX, KCN là hình thức thu hút mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư nước ngoài, đã có nhiều hướng nghiên cứu về tác động của KCN như tác động của KCN đến môi trường của Liu, Hwa-Jen [93] cho rằng sự phát triển nhanh của các KCN đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường,

Trang 19

nghiên cứu về tác động xã hội của KCN như Wu Jiaping [98] cho rằng sự hình thành các KCN gây ra những áp lực lớn về giáo dục, vấn đề giải tỏa, sinh kế cho người dân mất đất, các vấn đề nhà ở, nhà trọ chất lượng thấp của công nhân thuê ở,

tệ nạn xã hội

Trong thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX hàng loạt các quốc gia đã thành lập các KCN, điển hình là những quốc gia ở Châu Á với nhiều tên gọi khác nhau và một số nước đã có những thành công nhất định trong việc phát triển các KCN, KCX, khu kinh tế cửa khẩu như Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài loan, Thái Lan, Singapore các KCN có vai trò to lớn, tích cực đối với sự phát triển kinh tế của các nước này, tuy nhiên quan niệm về KCN giữa các nước chưa có sự đồng nhất

Trong khi ở Hàn Quốc tập trung chú ý thành lập các KCN tập trung, thì Trung Quốc [35], nổi bật là thành lập các mô hình khu kinh tế mở, khu phát triển công nghệ cao, KCX, các đặc khu kinh tế lớn ven biển như ở Thâm Quyến, Sán Đầu, Chu Hải, Hạ Môn, Hải Nam Thực hiện phát triển theo mô hình KCN Hương Trấn (thu hút các doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia đầu tư), cùng với chính sách tăng cường

mở cửa với thị trường bên ngoài, cho phép các công ty, doanh nghiệp nước ngoài tham gia đầu tư, quản lý tại các đặc khu kinh tế, đặc khu chế xuất nên số lượng các CCN, KCN tăng nhanh Nhờ thành công trong thu hút vốn đầu tư FDI ở Trung Quốc đã làm cho khối lượng nhiều sản phẩm CN của Trung Quốc đứng hàng đầu thế giới Tuy nhiên nhiều CCN, KCN ở miền Đông Nam của Trung Quốc (Quảng Đông, Chiết Giang) đang đối mặt với nhiều thách thức và gây ra ảnh hưởng hưởng lớn đến môi trường

Ở Đài Loan, kế hoạch xây dựng các KCN – KCX được triển khai từ năm 1966 (với KCX Cao Hùng), ngày nay đã có hơn 100 KCN đi vào hoạt động đã đóng góp nhiều thành quả quan trọng vào sự phát triển kinh tế của đất nước Bên cạnh các KCN quan trọng nhất do Trung ương quản lý còn có các KCN do chính quyền địa phương và tư nhân quản lý, hầu hết các huyện đều có KCN Với những chính sách thông thoáng, có những ưu tiên nhất định như hỗ trợ, miễn giảm thuế, gia tăng thời hạn nộp thuế, áp dụng chính sách một cửa cho các doanh nghiệp… Đài Loan đã nhanh chóng trở thành một trong những “con rồng” châu Á chỉ sau 3 thập kỷ thực

Trang 20

hiện CNH, với nhiều kinh nghiệm quý báu như: Phải có sự phối hợp hiệu quả giữa các KCN quốc gia với các KCN địa phương quản lý, tập trung phát triển các ngành

kỹ thuật cao có khả năng cạnh tranh trên thị trường, ổn định phát triển CNCB ở địa phương để đẩy nhanh quá trình CNH ở nông thôn, tập trung phát triển cơ sở hạ tầng đồng bộ và hiện đại…[26]

Ở Malaysia việc xây dựng và phát triển các KCN được bắt đầu từ năm 1970, việc phát triển CN được chính phủ cho phép mở ra nhiều khu thương mại tự do có chính sách ưu đãi đặc biệt với đầu tư nước ngoài (thời gian thuê đất dài hạn có thể

từ 50 năm đến 100 năm) Phát triển nhiều doanh nghiệp chế xuất nằm ngoài KCX

để tăng nguồn hàng nhập khẩu, tận dụng hết tiềm năng Có chính sách hỗ trợ vốn tích cực từ phía nhà nước cho các KCN Chú ý đầu tư phát triển các dịch vụ xã hội như nhà ở, trường học, khu thương nghiệp, khu vui chơi giải trí… [30]

Ở Thái Lan bắt đầu xây dựng các KCN vào những năm 70 thế kỷ XX, các KCN đã nhanh chóng giúp Thái Lan thực hiện thành công quá trình CNH, HĐH đất nước Các KCN tập trung phát triển chủ yếu ở Băng Kốc và tạo ra các vành đai xung quanh để tận dụng các lợi thế của nhau về thị trường, nguyên liệu, lao động… Chính phủ Thái Lan đã có những hỗ trợ, ưu đãi (như thuế nhập khẩu thiết bị máy móc có nơi được miễn 50%, có nơi được miễn hoàn toàn) đối với các vành đai khác nhau làm sao để kích thích được sự phát triển CN giữa các vành đai, thực hiện

cơ chế quản lý một cửa đều tập trung vào cục quản lý các KCN Thái Lan vì thế các thủ tục pháp lý diễn ra nhanh chóng, tiện lợi cho nhà đầu tư Chú ý quản lý môi trường hết sức chặt chẽ, bằng pháp luật và bằng kinh tế Doanh nghiệp phải chi trả chi phí cho quá trình xử lý chất thải [30] Nhìn chung mỗi quốc gia đều có những chính sách phát triển KCN theo hướng riêng phù hợp với tình hình thực tiễn của mỗi nước, nhưng nhìn chung là đều tập trung thu hút mạnh mẽ các nguồn vốn đầu

tư của các doanh nghiệp Các KCN sẽ hình thành và phát triển khi hội tụ được nhiều điều kiện thuận lợi như dư địa xây dựng và vị trí phân bố KCN, giá thuê đất hấp dẫn, hệ thống hạ tầng kỹ thuật hoàn thiện đồng bộ tính kết nối cao, sự hỗ trợ của chính quyền địa phương liên quan đến các thủ tục pháp lý, thuế…

Trang 21

Về CCN có nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt là Alfred Marshall (1880

- 1959) [94], là người đầu tiên giới thiệu khái niệm về quận công nghiệp (Industrial

District) trong cuốn sách “Principles of Economics” (Các nguyên tắc kinh tế học) của ông ra đời năm 1920, đã cho rằng các quận đều có những lợi thế riêng bao

gồm vô số công ty SME (Small and Medium Enterprise - doanh nghiệp vừa và nhỏ) cùng ngành tập trung sản xuất tại một địa bàn Alfred Marshall đã vận dụng giải thích cho các cụm doanh nghiệp SME tại nước Anh Sự hoạt động của các công ty cho phép phát triển mạnh mẽ những thế mạnh nổi bật của địa phương, trong đó một hoặc một số công ty (thường là công ty lớn) đóng vai trò là trục của nền kinh tế khu vực Các nhà cung ứng và các công ty có liên quan nằm xung quanh trục giống như

là nan hoa của một bánh xe Đây chính là mối quan hệ thứ bậc, các công ty xung

quanh do các công ty trục chi phối “Principles of Economics”của Alfred Marshall

có trị rất lớn đã tạo tiền đề cho việc nghiên cứu các hình thức TCLTCN sau này, đặc biệt là CCN

Becattini G (1990), “ The marshallian Industrial districts as a Socio- Economic notion ” in F.Pyke et al., Industrial districts and inter – firm Coper ation in Italy Trên cơ sở sử dụng khái niệm quận công nghiệp của Alfred Marshall để mô tả

sự phát triển thịnh vượng của doanh nghiệp SME tại các thị trấn, quận công nghiệp

ở Tuscany, thuộc nước Ý năm 1990 [89] Ông đã đưa ra cách nhìn tổng quan và làm

rõ hơn khái niệm “quận công nghiệp” mà Alfred Marshall đưa ra trước đó Về mặt bản chất quận công nghiệp là một địa bàn phát triển CN trên lãnh thổ được hình thành do sự tăng trưởng ngành CN

Giáo sư Michael E Porter – Đại học Havard (Mỹ), trong cuốn sách “The Competitive Advantage of Nations” tạm dịch “lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”

(1990), ông đã đưa ra khái niệm về CCN (Industrial cluster): “Cụm công nghiệp là

sự tập trung địa bàn của các doanh nghiệp, các nhà cung ứng và các doanh nghiệp liện kết cũng như các tổ chức có liên quan và các thể chế hỗ trợ (ví dụ như các trường đại học, cục tiêu chuẩn, hiệp hội thương mại ) trong một lĩnh vực cụ thể, vừa cạnh tranh vừa hợp tác với nhau” [95] Porter vận dụng những cơ sở lý luận cạnh tranh trong nước của mình vào lĩnh vực cạnh tranh quốc tế Các yếu tố có thể quyết định của các ngành sản xuất là các điều kiện về các yếu tố sản xuất, điều kiện

Trang 22

về cầu, các ngành hỗ trợ và bối cảnh cạnh tranh, chiến lược và cơ cấu doanh nghiệp Vai trò của nhà nước và yếu tố thời cơ đóng vai trò rất quan trọng Vấn đề lợi thế cạnh tranh quốc gia, năng suất lao động bền vững và sự liên kết hợp tác có hiệu quả trong cụm ngành là những vấn đề quyết định đến sự thành công của ngành sản xuất Khái niệm về CCN của Porter được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu của các học giả sau này

Như vậy trên thế giới việc nghiên cứu và phát triển các lý thuyết kinh tế, nghiên cứu sự phát triển ngành CN và tổ chức lãnh thổ CN với các hình thức cụ thể

đã diễn ra từ lâu, các nội dung nghiên cứu rất đa dạng, phong phú dựa trên nhiều quan điểm và khía cạnh khác nhau gắn với địa bàn nghiên cứu cụ thể Đây là những hướng nghiên cứu cơ bản, có giá trị nhất định trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể; xác định được quy luật khách quan về sự phân bố và phát triển các hình thức sản xuất trên lãnh thổ Mỗi lý thuyết, công trình nghiên cứu đề cập những khía cạnh khác nhau nhưng nhìn chung đều hướng tới việc khai thác lãnh thổ một cách hợp lý khoa học và có hiệu quả

Tuy nhiên trong thời hiện đại thì TCLTCN mang nhiều đặc trưng mới, trong

đó nhân tố quan trọng thể hiện được quy luật phát triển từ trình độ thấp lên trình độ cao, cái cũ sẽ bị cái mới thay thế và loại bỏ dần diễn ra trong hầu hết các ngành sản xuất CN đó chính là sự phát triển nhanh của trình độ khoa học kỹ thuật và tiến bộ công nghệ Nhận thức được điều này các nước đang phát triển trong quá trình CNH, HĐH cần phải có những chính sách thông thoáng, mở cửa để thu hút đón nhận các làn sóng đầu tư, chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm quản lý, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đến từ các nước tiên tiến trên thế giới Các lý thuyết, các công trình nghiên cứu trên là cơ sở quan trọng để tác giả tham khảo vận dụng vào việc đánh giá các điều kiện, phân tích thực trạng TCLTCN cho địa bàn nghiên cứu

4.2 Trong nước

Vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX ở nước ta việc nghiên cứu TCLTCN đã thu hút được nhiều nhà khoa học quan tâm Theo thời gian đã có nhiều công trình nghiên cứu lớn, có giá trị của các nhà khoa học, nhà hoạch định chiến lược phát triển

Trang 23

Năm 1994, Viện Chiến lược và Phát triển Việt Nam thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã đưa ra 6 hình thức TCLTCN ở nước ta bao gồm: ĐCN, CCN, KCN, TTCN, vùng CN [6] Đây là cơ sở khoa học quan trọng quy định khá cụ thể về các hình thức TCLTCN của nước ta

Các quy định về KCN, KCX của nước ta đã ra đời như: “Nghị định 36/CP ngày 24/4/1997 về quy chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao” cũng

như những nghị định bổ sung sửa đổi vào năm 2008, năm 2013 của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã làm căn cứ cho sự ra đời và hoạt động, quản lý và phát triển của các KCN [19]

Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 về việc ban hành quy chế quản lý cụm công nghiệp, đã trình bày rất rõ về các từ ngữ CCN, các ngành nghề sản xuất kinh doanh, quy hoạch, mở rộng, thành lập, bổ sung CCN

Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 quy định về KCN, KCX và khu kinh tế của Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam [20]

Nghị định 164/2013/NĐ/CP ngày 12/11/2013 đã sửa đổi bổ sung một số quy định về KCN, KCX, khu kinh tế tại nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008, để nhằm khắc phục một số vướng mắc, khó khăn để các KCN phát triển hiệu quả hơn Nghị định 68/2017/NĐ-CP ngày 25/5/2017 về quản lý, phát triển cụm công nghiệp Nghị định này đã quy định rất rõ liên quan đến các lĩnh vực, ngành, nghề,

cơ sở sản xuất, kinh doanh được khuyến khích đầu tư, di dời vào cụm công nghiệp, trình tự đầu tư, quy hoạch, mở rộng các CCN ở nước ta

Các công trình nghiên cứu về tổ chức lãnh thổ KT - XH, điển hình như công

trình của GS Lê Bá Thảo với đề tài độc lập trọng điểm cấp nhà nước năm 1994 “Tổ chức lãnh thổ Đồng bằng sông Hồng và các tuyến trọng điểm” và năm 1996 “cơ sở khoa học của tổ chức lãnh thổ Việt Nam” [52] Các công trình đã phân tích sâu sắc

thực trạng phân bố không gian CN của Việt Nam theo thời gian, làm rõ được sự hợp

lý và bất hợp lý, yêu cầu điều kiện và khả năng TCLTCN, dự báo khả năng phát triển một số ngành CN chủ đạo của Việt Nam trong thời gian tới, phác họa một sơ

đồ khối trong TCLTCN, vấn đề lựa chọn sử dụng các nguồn lực một cách kỹ lưỡng

để phát triển hướng chuyên môn hóa cho từng địa phương Công trình của GS Lê

Trang 24

Bá Thảo đã có ý nghĩa hết sức to lớn cả về lý luận và thực tiễn, là cơ sở khoa học đối với quy hoạch, phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN ở các địa phương

cụ thể, đặt nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo về TCLTCN

Từ năm 2000 đến nay các hình thức TCLTCN đã được nghiên cứu dưới góc

độ lý thuyết gắn liền với thực tiễn của vùng và địa phương cụ thể, tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả sau đây:

“Tổ chức lãnh thổ CN Việt Nam” năm 2000 của GS.TS Lê Thông và PGS.TS

Nguyễn Minh Tuệ [59], trong công trình này các tác giả đã trình bày rất cụ thể và hệ thống về TCLTCN, làm rõ được các đặc điểm của các hình thức TCLTCN, đề cập tới thực trạng phát triển KCN ở Việt Nam, một hình thức quan trọng trong thời kỳ CNH – HĐH

Báo cáo tổng hợp “Định hướng chuyển dịch cơ cấu nội bộ các ngành kinh tế, vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam” của TS Trần Du Lịch, PGS TS Đặng Văn Phan

và các thành viên vào tháng 4/2004, trong đó đã phân tích được hiện trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, làm rõ được lợi thế so sánh giữa các địa phương vùng KTTĐPN, các hạn chế chủ yếu của vùng và đưa ra định hướng phát triển của vùng trong thời gian tới, sự phát triển các KCN, KCX của vùng đã được phân tích làm rõ

Hội thảo Khoa học tổ chức lãnh thổ kinh tế xã hội Việt Nam “Nghệ thuật để đảm bảo đất nước phát triển thành công trong bối cảnh hội nhập quốc tế” của Viện

chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư năm 2007 [6] Qua hội thảo ý kiến của nhiều chuyên gia được đưa ra để bàn luận và đúc rút có ý nghĩa quan trọng về lý luận và thực tiễn trong bức tranh TCLTCN ở nước ta Kỷ yếu Hội nghị hội thảo

quốc gia “20 năm xây dựng và phát triển các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế ở Việt Nam” năm 2012 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư [7], đã trình bày được

những thành tựu, hạn chế khó khăn của các KCN, KCX, khu kinh tế ở nước ta, trên

cơ sở đó đề xuất quan điểm, định hướng phát triển KCN, KCX, KKT trong giai đoạn tới một cách bền vững về mặt KT - XH, môi trường

Các hướng nghiên cứu về hiện trạng phát triển các KCN có Ngô Thế Bắc

“KCX, KCN ở Việt Nam hiện nay” [5], “Phát triển KCN, KCX những vấn đề đặt ra” của Vũ Anh Tuấn [75] Hướng nghiên cứu liên quan đến giải pháp phát triển

Trang 25

KCN ở Việt Nam thông qua kinh nghiệm của một số nước như của Trần Hồng Kỳ

(2008).“Phát triển các KCN, KCX gắn với việc hình thành và phát triển các đô thị công nghiệp, kinh nghiệm một số nước châu Á và vận dụng vào Việt Nam” [35],

“Các khu công nghiệp, khu chế xuất Việt Nam – Hiệu quả hoạt động và xu hướng phát triển" của Lê Thị Hường (2004), đề tài nghiên cứu cấp Bộ, Trường Đại học

Kinh tế TP Hồ Chí Minh [34]

Hướng nghiên cứu liên quan đến đánh giá các KCN có “Các tiêu chí đánh giá

sự phát triển bền vững KCN Việt Nam” của Lê Thế Giới [28] và của Lê Thị Hường [34] Liên quan đến tác động xã hội của KCN có Nguyễn Bình Giang [29] đã đề cập

đến vấn đề việc làm, hướng giải quyết, nhà ở của người lao động

Vùng KTTĐ phía Nam có một số quy hoạch như: “Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm Phía Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030” của Thủ Tướng Chính phủ ngày 13/2/2014 [68] Quy hoạch phát triển CN vùng Đông Nam Bộ đến năm 2020 được phê duyệt theo QĐ số 3582/QĐ-BCT ngày 3/6/2013 của Bộ Công Thương [8] Đây là cơ

sở quan trọng để tác giả so sánh, đối chiếu trong phân tích thực trạng và định hướng phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương

Ngoài ra còn có các công trình quan trọng khác liên quan đến TCLTCN nước

ta, có thể kể đến như: “Tổ chức lãnh thổ” của Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng

2002 [42], “Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam trong thời kì hội nhập” của Đặng Văn Phan, Nguyễn Kim Hồng 2006 [43], “Hiện trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả các khu CN Việt Nam thời kì CN hóa và hiện đại hóa” của Phạm Xuân Hậu năm 2006 [30], “Địa lí kinh tế xã hội Việt Nam” của Lê Thông năm 2011 [60], “Địa

lí kinh tế xã hội Việt Nam” của Nguyễn Viết Thịnh, Đỗ Thị Minh Đức năm 2000 [56] Qua các công trình nghiên cứu tác giả đã kế thừa, vận dụng hệ thống cơ sở lý

luận và thực tiễn về các hình thức TCLTCN để có cơ sở phân tích, tổng hợp các hình thức TCLTCN ở địa bàn nghiên cứu

Các luận án tiến sĩ địa lí học đã bảo vệ theo hướng TCLTCN đã đề cập đến vấn đề về TCLTCN, TCLT kinh tế và các hình thức TCLTCN trong đó chú ý đến

hình thức KCN, KCX “Tổ chức lãnh thổ công nghiệp Nghệ An” của Lương Thị

Trang 26

Thành Vinh năm 2011 đã làm rõ được thực trạng phát triển, phân bố và định hướng

phát triển các hình thức TCLTCN tỉnh Nghệ An [86], “Nghiên cứu tổ chức lãnh thổ

CN ở Thành phố Hồ Chí Minh” của Hoàng Công Dũng năm 2012 đã đánh giá thực

trạng phát triển, chuyển dịch cơ cấu CN TP Hồ Chí Minh, đề xuất định hướng phát

triển CN theo công viên CN [22], “Nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ CN ở tỉnh Phú Thọ” của Nguyễn Thị Thịnh năm 2014 đã làm rõ thực trạng phát triển,

phân bố và đề xuất các giải pháp phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN ở

tỉnh Phú Thọ [58], “Nghiên cứu sự phát triển các khu công nghiệp ở vùng Bắc Trung Bộ” của Lê Thị lệ năm 2014 đã làm rõ được thực trạng phát triển, phân bố và

định hướng phát triển các KCN vùng Bắc Trung Bộ [36]

Ở tỉnh Bình Dương nơi có nền kinh tế phát triển năng động, đã và đang diễn

ra quá trình CNH, HĐH tốp đầu cả nước Vì vậy vấn đề TCLT, TCLTCN đang được quan tâm nghiên cứu, trong đó đáng chú ý là:

- “Thủ Dầu Một – Bình Dương đất lành chim đậu” của tác giả Vũ Đức

Thành Sở văn hóa thông tin Bình Dương (chủ biên) năm 1999 Đề tài đã khái quát đôi nét về điều kiện tự nhiên – xã hội, kết cấu hạ tầng, khẳng định sự vươn lên của CN trong chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế

- “Thực trạng và giải pháp chiến lược phát triển KCN tỉnh Bình Dương”

luận văn thạc sĩ của tác giả Phạm Sơn Khanh năm 2000 Đề tài phân tích thực trạng phát triển các KCN Bình Dương, tổng kết những thành tựu và hạn chế của các KCN, trên cơ sở đó tác giả đưa ra những giải pháp thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ hơn các KCN tỉnh Bình Dương

- “Tác động của nguồn vốn đầu tư đến phát triển CN tỉnh Bình Dương” luận

văn thạc sĩ của tác giả Trần Ngọc Linh năm 2005 Đề tài đã phân tích, đánh giá được thực trạng của việc sử dụng các nguồn vốn đầu tư cho phát triển CN Đưa ra những giải pháp tích cực nhằm thu hút vốn đầu tư vào phát triển CN

- “Quá trình hình thành, phát triển các KCN và tác động của nó đến sự

phân bố nguồn lao động tỉnh Bình Dương” luận văn thạc sĩ Vương Minh Hùng

năm 2002 Luận văn đã làm rõ được những ưu điểm và hạn chế của tỉnh Bình Dương về về sự hình thành và phát triển các KCN, tác động của các KCN tới sự

Trang 27

phân bố dân cư và lao động của tỉnh Bình Dương, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của các KCN, phát triển nguồn lao động của tỉnh

- Ngoài ra còn có các báo cáo, điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế xã hội

và phát triển CN của tỉnh Bình Dương như: “Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, bổ sung quy hoạch đến năm 2025” của Thủ tướng Chính phủ [69], “Điều chỉnh quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bình Dương đến năm 2020, bổ sung đến năm 2025” của UBND tỉnh Bình Dương [82], “Phê duyệt quy hoạch phát triển công nghiệp tỉnh Bình Dương đến năm 2020” [45], kỷ yếu “20 năm hình thành – hội nhập và phát triển 1995 – 2015” của Ban Quản lý các KCN Bình Dương năm 2015 [3]

Dựa trên các kết quả đạt được của các công trình nghiên cứu đề tài đã kế thừa

hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn quý giá về TCLTCN và các hình thức TCLTCN

để vận dụng nghiên cứu cụ thể vào tỉnh Bình Dương

5 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu

5.1 Các quan điểm nghiên cứu

5.1.1 Quan điểm hệ thống

Lãnh thổ KT - XH tỉnh Bình Dương là một hệ thống con trong hệ thống KT -

XH của cả nước Hệ thống lãnh thổ tỉnh Bình Dương lại do nhiều phân hệ con nhỏ hơn tạo thành như các phân hệ tự nhiên, dân cư và kinh tế Các phân hệ này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, có tác động, ảnh hưởng đến các yếu tố trong toàn hệ thống và giữa các hệ thống với nhau Việc nghiên cứu các hình thức TCLTCN của tỉnh Bình Dương không thể tách rời vấn đề CN và các hình thức TCLTCN ở các tỉnh vùng KTTĐPN và cả nước Do vậy, để nghiên cứu các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương thì cần xem xét chúng trong mối quan hệ tác động qua lại giữa các thành phần trong toàn hệ thống tự nhiên, KT - XH của tỉnh và mối tương quan với

sự phát triển của vùng và cả nước trong sự vận động và phát triển không ngừng

5.1.2 Quan điểm tổng hợp lãnh thổ

Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều tồn tại và phát triển trong mối quan hệ mật thiết có tác động qua lại lẫn nhau trên một không gian lãnh thổ nhất định

Trang 28

Sự phát triển CN của tỉnh Bình Dương chịu sự tác động của các nhân tố tự nhiên và KT – XH, các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau và có ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN

Do vậy, cần phải phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN để đưa ra những định hướng, giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển của các hình thức TCLTCN một cách hiệu quả nhất

5.1.3 Quan điểm lịch sử – viễn cảnh

Mọi sự vật, hiện tượng địa lí đều có nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển riêng của nó Vận dụng quan điểm lịch sử viễn cảnh vào việc nghiên cứu các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương sẽ cho thấy lịch sử hình thành cũng như những chuyển biến về tình hình phát triển các hình thức TCLTCN trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể

5.1.4 Quan điểm phát triển bền vững

Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của đời sống đều tác động đến môi trường sinh thái CN là ngành ảnh hưởng lớn nhất đến môi trường Khí thải CN, nước thải, rác thải đã làm ô nhiễm môi trường, đồng thời việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên không hợp lý đang làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng cạn kiệt

Quán triệt quan điểm phát triển bền vững, trong quá trình phát triển CN thực hiện phương châm phát triển sản xuất đáp ứng những nhu cầu hiện tại nhưng phải bảo vệ môi trường và không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng các nhu cầu các thế

hệ trong tương lai Điều đó có nghĩa là sự phát triển các hình thức TCLTCN trên địa bàn tỉnh phải dựa trên quan điểm sinh thái và phát triển bền vững, phải hài hòa, hợp

lý với sự phát triển KT- XH chung của toàn tỉnh, tránh không để tình trạng gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của con người

5.2 Các phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp thu thập, xử lý tài liệu

Việc thu thập tài liệu, số liệu để nghiên cứu là yêu cầu khách quan, là phương pháp được sử dụng đầu tiên để tiếp cận vấn đề nghiên cứu [1] Phương pháp này được tiến hành với các bước cụ thể như sau: Bước 1: Xác định đối tượng và các nội dung để thu thập nguồn tài liệu theo mục tiêu của đề tài Bước 2: Tiến hành thu thập

Trang 29

tài liệu từ các nguồn thống kê có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo độ tin cậy Bước 3:

Xử lý phân tích và tổng hợp tài liệu trên cơ sở nguồn tài liệu đã thu thập từ các cơ quan ban ngành của tỉnh Bình Dương, vùng KTTĐPN, các Bộ, ban, ngành… Tác giả tiến hành tính toán xử lý, phân tích, tổng hợp bằng nhiều hình thức khác nhau để đánh giá các nguồn lực phát triển, hiện trạng phát triển của các hình thức TCLTCN

ở địa bàn nghiên cứu

5.2.3 Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp

Tác giả tiến hành phân tích, so sánh đối chiếu các số liệu thống kê để thấy được hiện trạng sự phát triển của các hình thức TCLTCN và sự khác biệt về các hình thức TCLTCN giữa địa phương trong tỉnh hay so sánh với vùng KTTĐPN và

cả nước

Dựa trên cơ sở các nguồn tư liệu thu thập được, tác giả đã xử lý, sắp xếp, phân loại và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến TCLTCN Phân tích rút ra những thuận lợi và khó khăn của các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương Phân tích những tác động tích cực và tiêu cực của các hình thức TCLTCN, từ đó đưa ra định hướng mới TCLTCN tỉnh Bình Dương Đồng thời, tác giả cũng sử dụng các số liệu của các cơ quan ban ngành trong cả nước, của vùng KTTĐPN về thống kê KT – XH và TCLTCN để phân tích, so sánh với TCLTCN tỉnh Bình Dương

5.2.4 Phương pháp thực địa

Đây là phương pháp cần thiết đối với nghiên cứu để có thể xác định được mức

độ tin cậy của các tài liệu, số liệu đã có, xác định được thực tế phân bố và phát triển

Trang 30

các hình thức TCLTCN Thu thập những hình ảnh, số liệu thông qua quan sát thực tiễn và có thể đưa ra những kiến nghị có cơ sở khoa học

5.2.5 Phương pháp điều tra xã hội học

Đề tài sử dụng phương pháp này nhằm xác định thêm độ tin cậy của các nhận xét đánh giá trong đề tài nghiên cứu liên quan đến vấn đề cơ sở hạ tầng, môi trường KCN, đời sống người lao động, trình độ người lao động… các doanh nghiệp của 3 KCN (KCN VISIP 1, KCN Mỹ Phước 1, KCN An Tây) trên địa bàn tỉnh Bình Dương Đối tượng điều tra là các doanh nghiệp (điều tra liên quan đến mức độ đáp ứng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, chính sách của các cấp quản lý, lao động của KCN và vấn đề môi trường của KCN), người lao động trong các KCN (điều tra các vấn đề liên quan đến trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn kỹ thuật, lao động của địa phương hay đến từ tỉnh hay TP khác Các vấn đề liên quan đến thu nhập và thực hiện các chế độ, chính sách của doanh nghiệp cho người lao động theo quy định của pháp luật, các phúc lợi xã hội dành cho người lao động, đời sống của người lao động và mức độ hài lòng của người lao động đối với doanh nghiệp sử dụng lao động), các hộ dân sống xung quanh có KCN hoạt động (chủ yếu điều tra về tác động của KCN hoạt động đến các vấn đề như giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện mức sống, tình hình an ninh trật tự xã hội, bảo vệ môi trường đến các hộ dân xung quanh KCN) Đề tài chọn TX Thuận An và TX Bến Cát làm địa bàn điều tra (đây là hai địa bàn có số lượng KCN hoạt động nhiều so với các địa bàn

khác trong tỉnh) Số mẫu điều tra được thể hiện ở phụ lục 3.17 tổng hợp các phiếu

khảo sát 3 KCN

5.2.6 Phương pháp thang điểm tổng hợp

Đề tài sử dụng phương pháp thang điểm để đánh giá xếp bậc sự phát triển của các CCN, KCN trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo trọng số của các tiêu chí được chọn, trên cơ sở đó sẽ phân thành các CCN, KCN ở mức độ lớn, trung bình và nhỏ Điểm cao nhất của mỗi tiêu chí chưa tính trọng số là 3 điểm và điểm thấp nhất là 1 điểm (trong đó các KCN, CCN đạt 3 điểm/tiêu chí = mức độ lớn, đạt 2 điểm/tiêu chí

= mức độ trung bình, đạt 1 điểm/tiêu chí = mức độ nhỏ) (phụ lục 3.8 và 3.15) Mỗi

tiêu chí đều có trọng số cụ thể, các tiêu chí quan trọng hơn có trọng số cao hơn, cao

Trang 31

nhất là trọng số 3, kế đến trọng số 2, thấp nhất là trọng số 1 Tổng số điểm cao nhất

đã tính trọng số của CCN là 41 điểm thấp nhất là 17 điểm, của KCN cao nhất là 45 điểm thấp nhất là 17 điểm Tiêu chí môi trường KCN tác giả cho điểm theo các mức: 3 điểm = mức tốt, 2 điểm = mức khá, 1 điểm = mức trung bình Việc xác định các trọng số này chỉ mang tính tương đối dựa vào nhận định của tác giả và tham khảo ý kiến của các chuyên gia Việc phân các KCN, CCN thành các bậc lớn, trung bình, nhỏ thì dựa vào tổng điểm các tiêu chí đánh giá KCN, CCN sau khi đã tính trọng số và được trình bày cụ thể trong phần phân loại KCN, CCN

5.2.7 Phương pháp bản đồ, GIS

Đây là phương pháp quan trọng, mọi công trình địa lí đều bắt đầu và kết thúc bằng bản đồ Sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cứu nội dung nghiên cứu sẽ trực quan hơn và toàn diện hơn Trong đề tài hệ thống số liệu cập nhật sẽ được xây dựng thành những biểu đồ, bản đồ chuyên đề phản ánh rõ thực trạng của các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương Trong luận án tác giả sẽ thành lập bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương, bản đồ các nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương, bản đồ hiện trạng phát triển CN tỉnh Bình Dương, bản

đồ TCLTCN tỉnh Bình Dương, bản đồ định hướng sự phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương

5.2.8 Phương pháp chuyên gia

Phương pháp này được tác giả sử dụng để xin ý kiến đóng góp của các chuyên gia, các nhà khoa học để có cái nhìn đa chiều về các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương nhằm thực hiện được các nội dung nghiên cứu của đề tài Trong nghiên cứu về các hình thức TCLTCN Bình Dương, tác giả đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia về cơ sở lý luận TCLTCN, các hình thức TCLTCN, các giải pháp phát triển phân bố các hình thức TCLTCN của các nhà quản lý như: Sở Công thương tỉnh Bình Dương, Ban quản lý các KCN tỉnh Bình Dương, các nhà khoa học chuyên ngành địa lí KT - XH của trường Đại học sư phạm Hà Nội, Đại học Sư phạm TP HCM

Trang 32

5.2.9 Phương pháp dự báo

Trên cơ sở phân tích hiện trạng phát triển các hình thức TCLTCN ở Bình Dương, các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển, phân bố các hình thức TCLTCN Bình Dương, cũng như những khó khăn tồn tại và những chủ trương chính sách định hướng thúc đẩy sự phát triển và phân bố các hình thức TCLTCN của tỉnh, tác giả đưa ra những dự báo trên cơ sở kế thừa một cách có chọn lọc từ quy hoạch chung của vùng KTTĐPN, quy hoạch của tỉnh Bình Dương về sự phát triển và phân

bố các hình thức TCLTCN đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

6 Những đóng góp chủ yếu của luận án

- Đúc kết, làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn về các hình thức TCLTCN để vận dụng vào địa bàn tỉnh Bình Dương

- Lựa chọn các tiêu chí đánh giá các hình thức TCLTCN ở trên địa bàn tỉnh Bình Dương

- Làm sáng tỏ những thuận lợi và khó khăn của các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển của các hình thức TCLTCN tỉnh Bình Dương

- Làm rõ được thực trạng phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương, trong đó đi sâu vào CCN và KCN

- Đề xuất các giải pháp phát triển các hình thức TCLTCN đến năm 2030

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài mở đầu, kết luận luận án gồm có 4 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các hình thức TCLTCN

Chương 2: Các nhân tố ảnh hưởng đến các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương

Chương 3: Thực trạng phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương Chương 4: Định hướng và giải pháp phát triển các hình thức TCLTCN ở tỉnh Bình Dương

Trang 33

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

Theo tác giả, công nghiệp được hiểu là ngành sản xuất ra của cải vật chất có quy mô lớn nhằm phục vụ cho sự phát triển của toàn xã hội, gắn với sự phát triển của các hình thái xã hội, có những đặc điểm riêng và áp dụng các quy trình công

nghệ để tạo ra sản phẩm

 Sản phẩm công nghiệp và giá trị sản xuất công nghiệp

Sản phẩm công nghiệp là chỉ tiêu phản ánh kết quả trực tiếp của hoạt động sản

xuất công nghiệp tạo ra trong một thời kỳ nhất định, bao gồm các sản phẩm vật chất

và sản phẩm dịch vụ công nghiệp [dẫn theo 72]

Sản phẩm vật chất công nghiệp là sản phẩm CN được tạo ra do tác động của

công cụ lao động lên đối tượng lao động làm thay đổi hình thái ban đầu của nguyên, vật liệu để tạo ra sản phẩm có giá trị sử dụng mới hoặc sản phẩm được khai thác từ

các mỏ Sản phẩm vật chất công nghiệp gồm: Chính phẩm là những sản phẩm vật

chất CN sản xuất ra đạt quy cách và phẩm chất đúng tiêu chuẩn kỹ thuật quy định,

thứ phẩm là những sản phẩm vật chất CN sản xuất ra chưa đạt đủ tiêu chuẩn kỹ

thuật quy định về quy cách và phẩm chất nhưng vẫn có giá trị sử dụng và được tiêu

thụ (thị trường chấp nhận), phụ phẩm còn gọi là sản phẩm song song là những sản

phẩm vật chất được tạo ra trong quá trình sản xuất CN cùng với sản phẩm chính [dẫn theo 72]

Trang 34

Sản phẩm dịch vụ công nghiệp là loại sản phẩm CN biểu hiện dưới hình thức

gia công hoặc làm tăng thêm giá trị sử dụng của sản phẩm CN nhưng không làm thay đổi hình thái giá trị sử dụng ban đầu của sản phẩm [dẫn theo 72]

Giá trị sản xuất công nghiệp là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị của sản phẩm

ngành công nghiệp từ các cơ sở sản xuất công nghiệp được tính theo giá thực tế hoặc giá so sánh, gồm giá trị sản xuất của các ngành: công nghiệp khai khoáng; công nghiệp chế biến; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí đốt và nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; công nghiệp cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải [72]

Giá trị sản xuất công nghiệp bao gồm:

- Doanh thu công nghiệp (doanh thu bán sản phẩm, dịch vụ công nghiệp, bán phế liệu, phế phẩm và doanh thu cho thuê máy móc, thiết bị có kèm theo người điều khiển) [dẫn theo 72]

- Chênh lệch cuối kỳ, đầu kỳ thành phẩm tồn kho, hàng gửi bán, sản phẩm dở dang [dẫn theo 72]

 Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP- Index of Industrial Production)

Chỉ số sản xuất CN là chỉ tiêu dùng để đánh giá tốc độ phát triển sản xuất ngành CN hàng tháng, quý, năm Chỉ số được tính dựa trên khối lượng sản phẩm sản xuất, nên còn được gọi là “chỉ số khối lượng sản phẩm công nghiệp”, đây là chỉ tiêu quan trọng phản ánh nhanh tình hình phát triển toàn ngành CN nói chung và tốc

độ phát triển của từng sản phẩm, nhóm ngành sản phẩm nói riêng Chỉ số sản xuất

CN là tỷ lệ phần trăm giữa khối lượng sản xuất CN tạo ra trong thời kỳ hiện tại với khối lượng sản xuất CN kỳ gốc Chỉ số sản xuất CN có thể tính với nhiều kỳ gốc khác nhau, ở nước ta hiện nay thường chọn kỳ gốc so sánh là cùng kỳ năm trước và kỳ trước liền kề [dẫn theo 17]

 Cơ cấu công nghiệp

Trước hết cơ cấu là nội dung được các nhà khoa học trong nhiều lĩnh vực quan tâm vì cơ cấu gắn liền với tính hệ thống, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển nền kinh tế Phân tích nền kinh tế thực chất là phân tích cơ cấu của nền kinh tế có hợp lý để thúc đẩy nền kinh tế hoạt động hiệu quả hay không, có đáp ứng được yêu

Trang 35

cầu của sự phát triển xã hội hay không Một nền công nghiệp được đánh giá là phát triển khi nó có một cơ cấu cân đối và hợp lý.Vì vậy trước khi đưa ra quan niệm cơ cấu CN thì cần làm rõ thuật ngữ cơ cấu kinh tế Theo từ điển Bách khoa Việt Nam

thì “Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu

cơ tương đối ổn định hợp thành Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau: Cơ cấu kinh tế quốc dân, cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành chính - lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật mà trước hết cơ cấu công - nông nghiệp là quan trọng nhất” [32]

Xác định cơ cấu kinh tế hợp lý và thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hợp lý là vấn đề có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong quá trình CNH, HĐH đất nước, sẽ thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng nhanh và ngược lại Cơ cấu ngành kinh tế biến đổi sâu sắc sẽ kéo theo sự biến đổi cơ cấu kinh tế theo vùng Cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu ngành Cơ cấu ngành và cơ cấu thành phần kinh tế được diễn ra trên từng lãnh thổ nhất định Vì vậy cơ cấu kinh tế theo ngành, theo thành phần kinh tế và theo lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại với nhau, có sự biến đổi theo thời gian trong đó cơ cấu ngành kinh tế có vai trò quan trọng nhất vì phản ánh được trình độ phân công lao động xã hội và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

Cơ cấu công nghiệp là một trong những lĩnh vực của cơ cấu ngành kinh tế nằm trong cơ cấu nền kinh tế, có vai trò chủ đạo trong nền kinh tế toàn cầu cũng như đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới Đã có nhiều tác giả nghiên cứu về cơ cấu công nghiệp, nhưng phần lớn đều thống nhất cơ cấu công nghiệp được hiểu là tổng thể các bộ phận, lĩnh vực hợp thành ngành CN Các bộ phận, lĩnh vực trong tổng thể có mối quan hệ gắn bó, tác động qua lại lẫn nhau được biểu hiện ở các quan hệ tỷ lệ về số lượng, chất lượng theo không gian, phù hợp với những điều kiện KT-XH nhất định và gắn liền với một giai đoạn nhất định Các bộ phận hợp thành

cơ cấu CN gồm cơ cấu CN theo ngành, theo thành phần kinh tế và theo lãnh thổ, trong đó cơ cấu CN theo ngành là bộ phận cơ bản nhất của cơ cấu CN, bởi vì cơ cấu theo thành phần kinh tế chủ yếu dựa trên quan hệ sở hữu, gồm nhiều thành phần

Trang 36

kinh tế hoạt động sản xuất theo những ngành CN cụ thể Cả cơ cấu CN theo ngành

và theo thành phần kinh tế đều cần phải có địa bàn (lãnh thổ) cụ thể để hoạt động sản xuất (cơ cấu theo lãnh thổ) Vì vậy cơ cấu CN theo ngành, theo thành phần kinh

tế và theo lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

Trên cơ sở kế thừa các quan niệm về cơ cấu CN, tác giả luận án cho rằng: Cơ cấu ngành công nghiệp là tổng thể các bộ phận, các lĩnh vực ngành nghề cấu thành

hệ thống ngành CN và mối quan hệ tương tác giữa chúng, được biểu hiện qua tỷ lệ về mặt lượng và chất của các bộ phận, lĩnh vực tham gia sản xuất trên cơ sở các nguồn lực để tạo ra của cải vật chất ở từng giai đoạn nhất định nhằm đáp ứng các

yêu cầu của sự phát triển xã hội

Bản chất của tổ chức lãnh thổ chính là tìm ra phương án hợp lý nhất để trong quá trình phát triển của các ngành, lĩnh vực theo cùng hướng và liên hệ mật thiết với nhau tạo ra tính nhất quán cần thiết Các hoạt động kinh tế phải nhằm đạt được hiệu quả KT - XH cao và có được sự phát triển bền vững cho lãnh thổ và cho cả hệ thống lớn hơn Tổ chức lãnh thổ phải xác định được giới hạn sức chứa, mối quan hệ giữa các ngành sản xuất, trong các lãnh thổ và giữa các lãnh thổ với nhau Các đối tượng trong lãnh thổ nếu được sắp xếp, bố trí hài hòa và có trật tự nhất định thì lãnh thổ đó

sẽ phát triển mang lại hiệu quả cao [31]

 Tổ chức lãnh thổ kinh tế

Tổ chức lãnh thổ kinh tế được hiểu là việc tổ chức các hoạt động kinh tế theo lãnh thổ Tổ chức lãnh thổ kinh tế là nội dung cụ thể của một chính sách kinh tế phát triển theo lãnh thổ dài hạn, trong đó con người hoặc các tổ chức kinh tế có tư

Trang 37

cách pháp nhân làm chủ thể các hoạt động kinh tế Đối tượng của các hoạt động kinh tế là sản xuất kinh doanh để tạo ra các sản phẩm và các hoạt động làm thay đổi giá trị của sản phẩm và các dịch vụ cho xã hội [42]

Ở Liên Xô và các nước Đông Âu trước đây việc quy hoạch và tổ chức lãnh thổ

là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng, các vùng lớn chính là các địa bàn lãnh thổ để nghiên cứu, mỗi vùng là bộ phận của lãnh thổ hoàn chỉnh trong phạm vi một quốc gia, trong lãnh thổ vấn đề được chú trọng quan tâm đó là phân công lao động theo lãnh thổ, sự phân bố các lực lượng sản xuất, mối quan hệ giữa các đối tượng, việc cải tạo sử dụng các nguồn lực trong lãnh thổ

Ở các nước phương Tây có nền CN phát triển thì tổ chức lãnh thổ là xác định được các điểm, các cực của lãnh thổ có khả năng phát triển để lan tỏa, lôi kéo các điểm, các vùng xung quanh và những vùng kém phát triển…

Ở các nước đang trong quá trình thực hiện CNH, HĐH quan tâm trước tiên tới những địa bàn, những vùng trọng điểm… Sẽ phát huy lợi thế để phát triển sớm, có khả năng ảnh hưởng lớn và lôi kéo lan tỏa để các vùng khác trong đó có các vùng kém phát triển

Ở Việt Nam, theo Ngô Doãn Vịnh (2005), tổ chức không gian KT - XH là sự sắp xếp và phối hợp các đối tượng trong mối quan hệ liên ngành, liên vùng nhằm

sử dụng một cách hợp lý các tiềm năng tự nhiên lao động, vị trí địa lí kinh tế, chính trị và cơ sở vật chất kỹ thuật đã và sẽ được tạo dựng để đem lại hiệu quả KT

- XH cao và nâng cao mức sống, đảm bảo sự phát triển bền vững của một lãnh thổ

[87]

TCLT kinh tế không phải là hiện tượng bất biến mà là chịu sự chi phối của quy luật tự nhiên và quy luật xã hội Những phương án tổ chức lãnh thổ kinh tế đều

do con người hoạch định trên cơ sở khoa học có tổ chức, phù hợp với điều kiện thực

tế của lãnh thổ đó để đưa ra được những phương án kiến thiết có lợi nhất phù hợp với các mục tiêu phát triển KT - XH

Như vậy, theo tác giả thì: Tổ chức lãnh thổ kinh tế là sự sắp xếp và phối hợp các ngành kinh tế có mối liên hệ qua lại ảnh hưởng lẫn nhau, chịu sự tác động của các yếu tố tự nhiên và yếu tố KT – XH, trong đó chú ý tới các cực, các nút, các điểm

Trang 38

có mối quan hệ, lan tỏa liên ngành và liên vùng, nhằm sử dụng một cách hợp lý các nguồn lực để đạt hiệu quả KT - XH cao và phát triển bền vững của lãnh thổ đó

 Tổ chức lãnh thổ công nghiệp

TCLTCN là một trong những hình thức tổ chức của nền sản xuất xã hội theo lãnh thổ TCLTCN được sử dụng rộng rãi trong các tài liệu khoa học và thực tiễn Trên thế giới, có nhiều quan điểm, nhiều lý thuyết về phát triển và tổ chức không gian (tổ chức lãnh thổ) CN Thuật ngữ “tổ chức không gian” được nhiều nước phát triển như ở Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng khá phổ biến vào những năm 60 của thế kỷ XX TCLTCN được xem là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ khác nhau trên cơ sở sử dụng hợp lý, tiết kiệm các nguồn lực, đạt hiệu quả cao về KT – XH, môi trường

Ở nước ta, hầu hết các nhà khoa học đều khá thống nhất: TCLTCN được nhìn nhận là hệ thống các mối liên kết không gian của các ngành và các kết hợp sản xuất lãnh thổ trên cơ sở sử dụng hợp lý nhất các nguồn tài nguyên thiên nhiên, vật chất, lao động nhằm đạt được hiệu quả cao nhất về các mặt KT - XH, môi trường

[76]

Cơ sở của TCLTCN là do sự phân công lao động theo lãnh thổ, TCLTCN chính là tổ chức, bố trí hợp lý các hoạt động sản xuất trên lãnh thổ gồm định vị các hình thức TCLTCN trên cơ sở các lợi thế so sánh, phù hợp của từng lãnh thổ trong

hệ thống quy hoạch chung để đạt hiệu quả cao về KT - XH và môi trường

1.1.2 Các hình thức TCLTCN vận dụng cho cấp tỉnh

Không gian CN được tạo nên bởi sự tập trung các cơ sở sản xuất CN trên một lãnh thổ nhất định, trên cơ sở ảnh hưởng của các nguồn lực không gian CN sẽ tạo thành bức tranh CN thông qua các hình thức TCLTCN như ĐCN, CCN, KCN, TTCN

1.1.2.1 Cụm CN

Theo quyết định số 105/2009/QĐ-TTg ngày 19 tháng 8 năm 2009 của Thủ

tướng Chính phủ ban hành quy chế quản lý CCN thì: “Cụm công nghiệp là khu vực

tập trung các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, cơ

sở dịch vụ phục vụ sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; có ranh giới địa lí

Trang 39

xác định, không có dân cư sinh sống; được đầu tư xây dựng chủ yếu nhằm di dời, sắp xếp, thu hút các cơ sở sản xuất, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các cá nhân, hộ gia đình ở địa phương vào đầu tư sản xuất, kinh doanh; do Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) quyết định thành lập” [66]

CCN là một lãnh thổ có ranh giới ước lệ, được xác định bởi văn bản pháp lý

và có kế hoạch thành lập, có quy mô nhỏ hơn KCN và được bố trí một số cơ sở CN thuần túy CCN thường gắn với lãnh thổ cấp huyện (thị xã) hoặc liên huyện, là hạt

nhân để thực hiện CNH, HĐH nông thôn cấp huyện CCN gồm một vài xí nghiệp,

mối quan hệ giữa các xí nghiệp thường đơn giản, thiếu chặt chẽ và không có ban quản lý riêng Quy mô các CCN không quá 50 ha, trường hợp cần thiết phải mở rộng diện tích cũng không quá 75 ha

1.1.2.2 Khu CN

Theo nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997 của Chính phủ: “KCN là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất CN, có ranh giới địa lí xác định, không có dân cư sinh sống, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất” [19] Vì vậy có thể hiểu KCN là nơi tập trung các hoạt động

CN tương đối lớn gồm nhiều xí nghiệp CN, chuyên sản xuất hàng CN và thực hiện những dịch vụ sản xuất CN, có những liên kết kinh tế - kỹ thuật với nhau, thống nhất sử dụng cơ sở hạ tầng và xử lý chất thải, được hưởng những quy chế ưu đãi riêng, không có dân cư sinh sống, phân bố ở những địa bàn có vị trí địa lí thuận lợi

và có phân cấp quản lý rõ ràng

1.1.2.3 Trung tâm CN

Là hình thức TCLTCN ở trình độ cao, gắn liền với các đô thị vừa và lớn Mỗi trung tâm CN có thể gồm các KCN, CCN hoặc một nhóm xí nghiệp CN thuộc nhiều ngành CN khác nhau, trong đó có một hay một vài xí nghiệp hạt nhân hay xí nghiệp nòng cốt quyết định hướng chuyên môn hóa, có sức thu hút các lãnh thổ lân cận Các xí nghiệp nòng cốt này được hình thành trên cơ sở những lợi thế về vị trí địa lí, nguồn lao động, tài nguyên là cơ sở để hình thành TTCN Các xí nghiệp trong

Trang 40

TTCN có mối liên hệ chặt chẽ với nhau về kỹ thuật sản xuất, kinh tế và quy trình công nghệ Trong TTCN song song với các xí nghiệp hạt nhân nòng cốt thì còn có các xí nghiệp bổ trợ, phục vụ cung cấp nguyên liệu, tiêu thụ sản phẩm, sữa chữa máy móc, thiết bị, cung cấp lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng cho nhu cầu của dân cư Các TTCN rất đa dạng, được phân loại bởi các tiêu chí như vai trò của TTCN, GTSXCN của TTCN, tính chất chuyên môn hóa của TTCN

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN

1.1.3.1 Vị trí địa lí, phạm vi lãnh thổ

a Vị trí địa lí

VTĐL với tác động trực tiếp và gián tiếp đã ảnh hưởng rất lớn đến việc lựa chọn địa điểm cho các hình thức TCLTCN như CCN, KCN, TTCN Sự hình thành và phát triển các xí nghiệp của các ngành CN phụ thuộc rất nhiều vào VTĐL

Ảnh hưởng của VTĐL đến các hình thức TCLTCN được thể hiện qua mức độ thuận lợi như gần các trục đường giao thông, sân bay, bến cảng, gần nguồn nước, khu vực tập trung đông dân cư dễ tiếp cận với yếu tố thị trường và nguồn lao động

Vị trí địa lí thuận lợi sẽ hấp dẫn thu hút vốn đầu tư, lao động, khoa học kỹ thuật, phát triển các loại hình dịch vụ từ đó mức độ tập trung CN sẽ cao, các hình thức

tổ chức CN càng đa dạng và phức tạp Ngược lại những khu vực có VTĐL kém thuận lợi: nằm trong hoặc gần các khu vực có chính trị không ổn định, hay xảy ra xung đột sắc tộc, tôn giáo, có nhiều trở ngại trong điều kiện tự nhiên… sẽ gây khó khăn cho việc xây dựng, kêu gọi nguồn vốn đầu tư và phát triển các hình thức TCLTCN

Tỉnh Bình Dương có VTĐL rất thuận lợi (về các yếu tố tự nhiên, KT-XH, chính trị, giao thông) để phát triển TCLTCN, đặc biệt là các KCN

b Phạm vi lãnh thổ

Phạm vi lãnh thổ ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển các hình thức TCLTCN, được thể hiện qua sự phân dị các yếu tố tự nhiên và KT-XH Phạm vi lãnh thổ là địa bàn để phân bố các hình thức TCLTCN, vì vậy những lãnh thổ rộng

Ngày đăng: 19/06/2021, 14:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w