1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tích hợp liên môn trong dạy học sinh học vi sinh vật sinh học 10 trung học phổ thông

123 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 2,08 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đáng chú ý là hiện nay, tích hợp liên môn trong dạy học ở nhà trường phổ thông đã được đề cập trong chương trình đổi mới giáo dục phổ thông mới, chương trình đã nhấn mạnh: “Chủ trương dạ

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HỨA THỊ THÚY

TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC SINH HỌC

VI SINH VẬT (SINH HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG)

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

HỨA THỊ THÚY

TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC SINH HỌC

VI SINH VẬT (SINH HỌC 10 - TRUNG HỌC PHỔ THÔNG)

Ngành: Lí luận và PPDH bộ môn Sinh học

Mã ngành: 8.14.01.11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ HÀ

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Hà

Các tài liệu trích dẫn trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa có ai công bố trong bất kì công trình khác

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018

Tác giả

Hứa Thị Thúy

Trang 4

Tôi xin được gửi lời chân thành cảm ơn đến Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo

và các em học sinh ở trường THPT Lục Ngạn số 4 đã hợp tác nhiệt tình, tạo điều kiện

và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực nghiệm sư phạm

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn tới các đồng nghiệp, bạn bè, gia đình và người thân đã luôn tạo điều kiện và động viên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện nghiên cứu đề tài

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018

Tác giả luận văn

Hứa Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ vi

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nội dung nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Những đóng góp mới của đề tài 4

8 Cấu trúc luận văn 4

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 7

1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn 8

1.2.1 Một số khái niệm liên quan 8

1.2.2 Các mức độ trong dạy học tích hợp 11

1.2.3 Nguyên tắc của dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn 14

1.2.4 Mối quan hệ giữa dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn với việc hình thành và phát triển năng lực của học sinh 15

1.2.5 Các năng lực được hình thành và phát triển cho học sinh thông qua dạy học các chủ đề 16

Trang 6

1.3 Thực trạng việc vận dụng dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn ở trường

phổ thông 16

1.3.1 Phương pháp điều tra 16

1.3.2 Đối tượng điều tra 16

1.3.3 Kết quả điều tra 17

Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT (SINH HỌC 10 - THPT) 23

2.1 Cấu trúc nội dung phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT) 23

2.2 Sự phù hợp của nội dung Sinh học vi sinh vật để dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn 24

2.3 Thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT) 24

2.3.1 Nguyên tắc thiết kế chủ đề tích hợp liên môn 24

2.3.2 Quy trình thiết kế chủ đề tích hợp liên môn 26

2.3.4 Xây dựng một số chủ đề tích hợp liên môn phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT) 29

Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 48

3.1 Mục đích thực nghiệm 48

3.2 Nội dung thực nghiệm 48

3.3 Đối tượng thực nghiệm 48

3.4 Thời điểm thực nghiệm 49

3.5 Phương pháp thực nghiệm 49

3.5.1 Bố trí thực nghiệm 49

3.5.2 Kiểm tra thực nghiệm 49

3.6 Kết quả thực nghiệm 49

3.6.1 Phân tích kết quả bài kiểm tra của học sinh 49

3.6.2 Phân tích kết quả đánh giá năng lực của HS 51

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 60

TÀI LIỆU THAM KHẢO 62 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Kết quả điều tra của CBQL về dạy học THLM 17

Bảng 1.2 Kết quả điều tra của GV về dạy học THLM 18

Bảng 1.3 Kết quả điều tra của HS về dạy học THLM 20

Bảng 3.1 Bảng thông tin về các lớp thực nghiệm trường THPT Lục Ngạn 4 49

Bảng 3.2 Bảng tần số xuất hiện điểm kiểm tra của các đợt TN 50

Bảng 3.3 Bảng tần suất xuất hiện điểm kiểm tra của các đợt TN 50

Bảng 3.4 Bảng tiêu chí đánh giá các kĩ năng hoạt động nhóm 51

Bảng 3.5 Bảng kết quả đánh giá năng lực của HS lần TN 1 52

Bảng 3.6 Bảng kết quả đánh giá năng lực của HS lần TN 2 53

Bảng 3.7 Bảng kết quả đánh giá năng lực của HS lần TN 3 54

Bảng 3.8 Bảng kết quả đánh giá năng lực của HS qua 3 lần TN 55

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp liên môn 26

Hình 2.2 Một số sản phẩm lên men 37

Hình 3.1 Biểu đồ phân bố tần suất điểm của các đợt TN 50

Hình 3.2 Biểu đồ kết quả dự án nhóm qua các lần TN 55

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Xuất phát từ nhiệm vụ đổi mới giáo dục ở trường phổ thông

Ngày nay, trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học - công nghệ, khoa học giáo dục và sự cạnh tranh quyết liệt trên nhiều lĩnh vực giữa các quốc gia đòi hỏi giáo dục phải đổi mới Thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ Nếu không đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo thì nhân lực sẽ là

yếu tố cản trở sự phát triển của đất nước

Trước bối cảnh đó, nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 khóa XI của Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện về giáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập đã chỉ

rõ: “Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [5]

Trên cơ sở xác định đúng mục tiêu đổi mới giáo dục thì việc tiếp theo là “tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học, khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, khuyến khích

tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng và phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ý các hoạt động ngoại khóa và trải nghiệm sáng tạo Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học” [5]

Trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo Từ năm học 2013-2014, các trường phổ thông được giao quyền tự chủ trong việc xây dựng và triển khai kế hoạch giáo dục dựa vào mục tiêu giáo dục quy định trong chương trình góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường Theo đó Bộ GD&ĐT đã chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên sẵn sàng đáp ứng mục tiêu

đổi mới, trong đó tăng cường năng lực dạy học theo hướng “tích hợp, liên môn”

Trang 11

1.2 Xuất phát từ tính ưu việt của dạy học tích hợp

Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, tri thức của loài người đang tăng lên một cách nhanh chóng không những thông tin ngày càng nhiều mà với sự phát triển của các phương tiện công nghệ thông tin, ngày càng có nhiều cơ hội để mỗi người dễ dàng tiếp cận các thông tin mới nhất Trước tình hình trên đòi hỏi giáo viên (GV) phải biết dạy tích hợp (TH) các khoa học, dạy cho học sinh (HS) cách thu thập, chọn lọc, xử lí các thông tin, biết vận dụng các kiến

thức học được vào các tình huống của đời sống thực tế

Các nhà giáo dục đã khẳng định rằng: Đến nay không còn là lúc bàn đến vấn đề

cần hay không, mà chắc chắn là cần phải dạy học TH

Trong dạy học, TH có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn, có ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho HS Học các chủ đề tích hợp liên môn (THLM) HS được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc Điều quan trọng hơn là các chủ đề THLM giúp cho các em không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được

sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức vào thực tiễn [14]

Đối với GV, trong quá trình dạy học môn học của mình, GV vẫn thường xuyên phải dạy những kiến thức có liên quan đến các môn học khác nên có sự am hiểu về những kiến thức liên môn đó Hơn nữa, với việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay, vai trò của GV không còn là người truyền thụ kiến thức mà là người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động học của học sinh cả ở trong và ngoài lớp học Vì vậy, GV các bộ môn liên quan có điều kiện và chủ động hơn trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong dạy học

1.2 Xuất phát từ đặc điểm nội dung phần “Sinh học Vi sinh vật” (Sinh học 10 - THPT)

Sinh học là một trong những môn khoa học tự nhiên mang tính thực nghiệm cao Nội dung phần Sinh học Vi sinh vật có nhiều kiến thức liên quan đến thực tiễn Hiểu biết

về một số quá trình sinh học cơ bản ở vi sinh vật (VSV) sẽ là cơ sở để các em vận dụng giải quyết các vấn đề thực tiễn đời sống, biết bảo vệ sức khỏe và bảo vệ môi trường Theo đó, giáo viên Sinh học phải có phương pháp dạy học phù hợp nhằm tăng hứng thú

Trang 12

học tập của HS, kích thích được sự tìm tòi, sáng tạo, khám phá cái mới lạ nhưng rất gần gũi trong cuộc sống ở xung quanh các em Hơn nữa nội dung phần Sinh học Vi sinh vật có nhiều nội dung liên quan đến kiến thức của nhiều môn học trong chương trình Vì vậy, cần thiết phải được tích hợp kiến thức các môn học liên quan để giải quyết

có hiệu quả một vấn đề thực tiễn

Với xu thế xã hội và thực tiễn đặt ra như trên, cùng với sự mong muốn nâng cao chất lượng dạy và học môn Sinh học ở trường phổ thông chúng tôi lựa chọn vấn đề

nghiên cứu là: Tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 -

Trung học phổ thông)

2 Mục tiêu nghiên cứu

Thiết kế và tổ chức được một số chủ đề tích hợp liên môn trong dạy học phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT) nhằm nâng cao chất lượng dạy và học phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10) ở trường phổ thông

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Tích hợp liên môn trong dạy học Sinh học Vi sinh vật

(Sinh học 10 - THPT)

- Khách thể nghiên cứu: Quá trình dạy và học Sinh học Vi sinh vật Sinh học

10 ở trường phổ thông

4 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế được một số chủ đề tích hợp liên môn và áp dụng vào dạy học Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT) thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10) ở trường phổ thông

5 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra thực trạng dạy học tích hợp ở một số trường phổ thông

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của dạy học tích hợp liên môn

- Thiết kế một số chủ đề tích hợp liên môn phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT)

- Tổ chức thực nghiệm nhằm đánh giá hiệu quả một số chủ đề tích hợp liên môn, qua đó khẳng định tính khả thi của luận văn

Trang 13

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các văn bản có tính pháp lí của Đảng, Chính phủ, Bộ GD & ĐT

về chiến lược phát triển, đổi mới giáo dục, phát triển chương trình và SGK phổ thông

nói chung, chiến lược đổi mới PPDH nói riêng

- Nghiên cứu các tài liệu dạy học tích hợp và các tài liệu liên quan đến đề tài

6.2 Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.2.1 Điều tra thực trạng

Sử dụng phiếu điều tra đối với cán bộ quản lý và giáo viên bộ môn Sinh học

và các bộ môn khác nhằm tìm hiểu thực trạng việc dạy học tích hợp liên môn ở trường phổ thông hiện nay

6.2.2 Phương pháp chuyên gia

Gặp gỡ, trao đổi trực tiếp, xin ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực Sinh học và khoa học giáo dục liên quan đến đề tài

6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Thực nghiệm sư phạm ở một số lớp tại trường THPT Lục Ngạn số 4 thuộc địa bàn tỉnh Bắc Giang nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài

6.3 Phương pháp thống kê toán học

Xử lý các kết quả điều tra và kết quả thực nghiệm sư phạm

7 Những đóng góp mới của đề tài

- Làm sáng tỏ được dạy học tích hợp liên môn

- Thiết kế được một số chủ đề tích hợp liên môn phần Sinh học Vi sinh vật áp

dụng trong dạy học ở trường phổ thông

- Kết quả luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho GV và HS trong quá trình giảng dạy và học tập môn Sinh học 10 ở trường THPT

8 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần “Mở đầu”, phần “Kết luận”, các danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, sơ đồ, biểu bảng, phần “Nội dung” có cấu trúc như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Thiết kế và tổ chức dạy học các chủ đề tích hợp liên môn trong dạy

học Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT)

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Trang 14

Từ năm 1960 đã có nhiều Hội nghị quốc tế bàn về việc phát triển chương trình theo hướng tích hợp Tháng 9 - 1968, Hội nghị tích hợp về giảng dạy khoa học đã được Hội đồng Liên quốc gia về giảng dạy khoa học tổ chức tại Varna (Bungari) với

sự bảo trợ của UNESCO Hội nghị đã đặt ra hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “dạy học tích hợp các khoa học là gì?”

Năm 1972, Hội nghị phối hợp trong chương trình giáo dục của UNESCO họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học tích hợp các khoa học Ngay sau đó UNESCO lại tổ chức Hội nghị đào tạo GV vào tháng 4 năm 1973 tại Đại học tổng hợp Maryland bàn thêm về khái niệm dạy học tích hợp các khoa học

Trên thế giới có nhiều nhà nghiên cứu giáo dục nghiên cứu về tích hợp kiến thức liên môn trong dạy học Trong đó, phải kể đến các nhà nghiên cứu như Xavier Roegiers, T.A.I Lina, M.N.Iacoplep, M.Allêcxeep, Ônhisuc, I.F Kharlamôp, …

Theo nhà giáo dục học T.A.I Lina: “Ngày nay không có một khoa học nào được giảng dạy mà lại không sử dụng những số liệu của các khoa học tiếp cận khác, những tài liệu, những thí dụ lấy từ trong cuộc sống hàng ngày và từ những lĩnh vực tri thức khác nhau” [13] Trong phần nhiệm vụ của việc giảng dạy kĩ thuật tổng hợp tác giả cho rằng: “Việc xác lập mối quan hệ giữa các bộ môn nhằm vạch ra cho học sinh thấy mối quan hệ qua lại của các khoa học” [13]

Còn theo tác giả Giselle O Martin - Kniep trong cuốn “Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi” khi đề cập đến quy trình xây dựng các đơn vị bài học tích

hợp ông cho rằng: “Tích hợp nội dung là hình thức kết nối nội dung trong nội bộ môn học và giữa các môn học với nhau” [7]

Trang 15

Nhà nghiên cứu giáo dục học nổi tiếng (người Bỉ) Xavier Roegiers đã nhấn

mạnh: “Những nhu cầu của xã hội đòi hỏi chúng ta phải hướng tới một quan điểm liên môn” Ông cho rằng vấn đề sử dụng kiến thức liên môn trong dạy học là cần thiết

với nhu cầu giáo dục, giúp đào tạo ra những con người có thể đáp ứng được nhu cầu công việc, có năng lực tổng hợp về chuyên môn, năng lực phức hợp, năng lực vận dụng và giải quyết vấn đề của thực tiễn [17]

Tích hợp là một trong những xu thế mới của LLDH và đang được nhiều nước trên thế giới quan tâm thực hiện Nhiều quốc gia có trình độ dạy học tiên tiến như Pháp, Trung Quốc, Philipin … tích hợp được quan tâm đúng mức Tại Philipin, cuốn giáo trình có tên Fusion (sự hòa hợp, sự hợp nhất) trong đó phối hợp nhiều kiến thức,

kĩ năng để phát huy sức mạnh tổng hợp đồng bộ của các phân môn trong tình huống nhận thức cũng như trong tình huống thực tiễn [15]

Trên thế giới đã có nhiều nước áp dụng dạy học tích hợp vào trường học Người ta nghiên cứu thấy rằng cách tiếp cận tích hợp trong xây dựng chương trình giáo dục bắt đầu được đề cao ở Mỹ vào những năm 1960 của thế kỷ XX, gần một thập kỷ sau đó vấn đề này mới được quan tâm ở Châu Á Một nghiên cứu mới đây của viện khoa học giáo dục Việt Nam về chương trình giáo dục phổ thông 20 nước cho thấy 100 % các nước đều xây dựng chương trình theo hướng tích hợp

Mỹ là một quốc gia có hệ thống giáo dục rộng lớn, đa dạng và ít điểm chung, Chính phủ liên bang Mỹ không hề bắt buộc các trường trên toàn quốc theo một tiêu chuẩn nào đó như nhiều quốc gia trên thế giới Nhưng việc giảng dạy ở đa số các trường học ở quốc gia này đều hướng tới một chương trình tích hợp

Ở Australia chương trình dạy học tích hợp đã được áp dụng vào trường học từ những thập niên cuối thế kỉ XX và đầu thế kỉ XXI [18], [19] Mục tiêu của chương

trình giáo dục tích hợp cho giáo dục phổ thông Australia được xác định rõ như sau: Chương trình giáo dục tích hợp là hệ thống giảng dạy tích hợp đa ngành, trong hệ thống đó tầm quan trọng của việc phát triển và ứng dụng kĩ năng được chú trọng Quá trình dạy học tích hợp này bao gồm việc dạy, học và kiểm tra đánh giá năng lực tiếp thu kiến thức cũng như ứng dụng của học sinh phổ thông

Trang 16

Quan điểm tích hợp còn được thể hiện khá rõ trong nhiều công trình nghiên cứu cũng như SGK của một số nước như Trung Quốc, Đức, Malaysia, Pháp… Tuy nhiên việc đưa tích hợp vào các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội ở mỗi nước lại khác nhau

1.1.2 Ở Việt Nam

Ở Việt Nam, từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập chung nghiên cứu Trong đó, tích hợp liên môn được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm

Trong cuốn “Giáo dục học” Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã nêu một cách khái quát nhất và tương đối đầy đủ về vai trò ý nghĩa của việc sử dụng kiến thức liên môn

Tác giả nhấn mạnh: “Tiềm năng giáo dục thế giới quan cho học sinh đặc biệt được khai thác trong mối liên hệ giữa các môn học Các mối liên hệ giữa các môn học phản ánh bản chất biện chứng của nhận thức khoa học, giúp xem xét một sự vật hay một hiện tượng từ nhiều quan điểm khác nhau” [10]

Cũng theo quan điểm liên môn trong cuốn “Dạy học hiện đại - lý luận, biện

pháp, kĩ thuật” tác giả Đặng Thành Hưng đã nêu: “Trong khoa học giáo dục còn có những bộ môn, chuyên ngành, liên môn lấy liên hệ qua lại làm đối tượng” Khi đề

cập đến phương pháp dạy học tích cực tác giả đã nhấn mạnh giáo dục nội dung

“xuyên môn và liên môn” Như vậy tác giả đã cho thấy được mối liên hệ giữa các

môn học khác nhau và người giáo viên cần thấy được điều này để chú ý đến phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy năng lực của học sinh [9]

Cũng trên quan điểm đó, tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã đưa ra một số định hướng về việc tích hợp liên môn với những cơ sở rất thuận tiện, khoa học như: Sinh học, Vật lý, Hóa học, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý là những môn có nhiều tiềm năng thực hiện dạy học liên môn Tuy nhiên tác giả chú ý đề cập nhiều đến liên môn theo chủ đề mà ít nói đến vấn đề sử dụng kiến thức liên môn trong nội dung từng bài học ở trường THPT

Như vậy, sử dụng kiến thức liên môn vào dạy học đã và đang thu hút không ít những nhà sư phạm ở Việt Nam Những công trình được các tác giả công bố sẽ góp phần khẳng định dạy học theo quan điểm tích hợp liên môn là tất yếu và cần thiết

trong nhà trường hiện nay

Gần đây, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động cuộc thi cho cả giáo viên và học sinh về vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học từ cấp THCS - THPT Đặc biệt trong hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học 2014 - 2015 và 2015 - 2016 của Bộ

Trang 17

Giáo dục và Đào tạo đã coi việc dạy học tích hợp liên môn là một trong những nhiệm

vụ trọng tâm của năm học

Đáng chú ý là hiện nay, tích hợp liên môn trong dạy học ở nhà trường phổ thông đã được đề cập trong chương trình đổi mới giáo dục phổ thông mới, chương

trình đã nhấn mạnh: “Chủ trương dạy học tích hợp trong chương trình mới có một số điểm khác so với chương trình hiện hành như: tăng cường tích hợp nhiều nội dung trong cùng một môn học, xây dựng một số môn học tích hợp mới ở các cấp học, tinh thần chung là tích hợp mạnh ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; yêu cầu tích hợp được thể hiện cả trong mục tiêu, nội dung, phương pháp và thi, kiểm tra, đánh giá giáo dục” [1] Với cách tiếp cận này, chúng tôi nhận thấy rằng nhu cầu

và xu thế tích hợp liên môn đang tác động tích cực đến việc dạy và học ở trường phổ thông và đang là một giải pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, nhất là năng lực vận dụng các kiến thức đã học để giải quyết vấn đề

1.2 Cơ sở lý luận về dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn

1.2.1 Một số khái niệm liên quan

* Tích hợp

Theo từ điển Tiếng Anh (Oxford Advanced Leamer’s Dictionary), từ Integration

có nghĩa là kết hợp những phần, những bộ phận với nhau trong tổng thể Những phần, những bộ phận có thể khác nhau nhưng tích hợp với nhau

Theo từ điển Giáo dục học: “Tích hợp là hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học”

Tác giả Dương Tiến Sỹ và Nguyễn Phúc Chỉnh thì đều cho rằng: “Tích hợp là

sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức, khái niệm thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất dựa trên các mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó” [12], [11], [3]

Tác giả Nguyễn Phúc Chỉnh đã cho rằng: Ngày nay, khoa học tiếp tục phân hoá sâu song song với tích hợp liên môn Đặc biệt, do hình thái khoa học cuối thế kỷ

XX đã chuyển từ phân tích - cấu trúc lên tổng hợp - hệ thống làm xuất hiện các gian ngành, liên ngành với tốc độ phát triển ngày càng nhanh Trong khi đó, dạy học phản ánh sự phát triển của khoa học, và vì thời gian học tập trong nhà trường không thể kéo dài nhiều nên xuất hiện xu hướng phải dạy từ các môn học riêng rẽ sang dạy tích

Trang 18

Như vậy, một cách khái quát nhất có thể định nghĩa: “Tích hợp là sự hợp nhất,

sự hòa nhập, sự kết hợp giữa các “đối tượng” để tạo thành một thể thống nhất Trong dạy học, tích hợp là sự kết hợp có hệ thống các kiến thức có liên quan và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên mối liên hệ về lý luận và thực tiễn được giáo viên đưa vào bài học Tích hợp bao hàm cả tích hợp nội dung và hoạt động”

* Dạy học tích hợp

Theo UNESCO, DHTH các khoa học là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép sự diễn đạt thống nhất cơ bản của một tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận các khái niệm và nguyên lý khoa học chứ không phải hợp nhất nội dung Quá trình DHTH bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng, thao tác một cách có hệ thống

Còn theo Hội nghị tại Maryland 4/1973 thì khái niệm dạy học tích hợp các khoa học còn bao gồm cả việc dạy học tích hợp với công nghệ học Định nghĩa này nhấn mạnh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa hiểu biết khái niệm và nguyên lý khoa học với ứng dụng thực tiễn

Như vậy, DHTH chính là việc tiếp cận và tổ chức quá trình dạy học nhằm giúp người học sử dụng kiến thức, kĩ năng của mình để giải quyết vấn đề và ứng dụng trong những tình huống cụ thể nhằm phát triển năng lực hành động của người học trong thực tiễn

Các nhà giáo dục đã khẳng định rằng: Đến nay không còn là lúc bàn đến vấn

đề cần hay không mà chắc chắn là cần phải dạy học tích hợp

* Dạy học tích hợp liên môn

Bản thân giới tự nhiên là một thể thống nhất, vì vậy ngày nay đã xuất hiện những khoa học liên ngành, gian ngành, hình thành những tri thức đa ngành, liên

ngành Các khoa học tự nhiên đã chuyển từ tiếp cận “phân tích - cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp - hệ thống” đem lại cách nhận thức biện chứng về quan hệ giữa các

ngành khoa học

Trang 19

Xu thế phát triển của khoa học ngày nay là tiếp tục phân hóa sâu, song song với tích hợp liên môn, liên ngành ngày càng rộng Việc giảng dạy các môn khoa học trong nhà trường phản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, bởi vậy không thể cứ tiếp tục giảng dạy các khoa học như là những lĩnh vực tri thức riêng rẽ Mặt khác, khối lượng tri thức khoa học đang tăng nhanh chóng và thời gian học tập trong nhà trường lại có hạn, do đó phải chuyển từ dạy các môn học riêng rẽ sang dạy học tích hợp liên môn

Dạy học theo chủ đề THLM là dạy học những nội dung kiến thức liên quan

đến hai hay nhiều môn học "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học Đã dạy học "tích hợp" thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của

dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp mới chỉ là lồng ghép những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử lí các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho học sinh vận dụng được tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học tập, trong cuộc sống, đồng thời tránh việc học sinh phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau

Chủ đề THLM là những chủ đề có nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học, thể hiện ở sự ứng dụng của chúng trong cùng một hiện tượng, quá trình trong tự nhiên hay xã hội Ví dụ: Kiến thức Vật lí và Công nghệ trong động cơ, máy phát điện; kiến thức Vật lí và Hóa học trong nguồn điện hóa học; kiến thức Lịch

sử và Địa lí trong chủ quyền biển, đảo; kiến thức Ngữ văn và Giáo dục Công dân trong giáo dục đạo đức, lối sống…

Các chủ đề THLM có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn đối với học sinh, có

ưu thế trong việc tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho học sinh Học các chủ đề tích hợp, liên môn, học sinh được tăng cường vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn, ít phải ghi nhớ kiến thức một cách máy móc, nhờ đó năng lực và phẩm

Trang 20

chất của học sinh được hình thành và phát triển Ngoài ra, dạy học các chủ đề tích hợp, liên môn giúp cho học sinh không phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau, vừa gây quá tải, nhàm chán, vừa không có được sự hiểu biết tổng quát cũng như khả năng ứng dụng của kiến thức tổng hợp vào thực tiễn

* Khái niệm năng lực

Theo Weitnert (2001), năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội, … và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt [16]

Theo Bernd Meier và Nguyễn Văn Cường (2013) năng lực là khả năng thực hiện có trách nhiệm và hiệu quả các hành động, giải quyết các nhiệm vụ, vấn đề trong những tình huống khác nhau thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp, xã hội hay cá nhân trên

cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động [2]

Như vậy, một cách khái quát nhất có thể định nghĩa, năng lực là những khả năng, kĩ xảo học được hay sẵn có của cá nhân nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội, … và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt bằng những phương tiện, biện pháp, cách thức phù hợp

- Quan điểm "liên môn": Nội dung học tập được thiết kế thành một chuỗi vấn

đề, tình huống đòi hỏi muốn giải quyết phải huy động tổng hợp kiến thức kĩ năng của những môn học khác nhau

Trang 21

- Quan điểm "xuyên môn": Nội dung học tập hướng vào phát triển những kĩ năng, năng lực cơ bản mà HS có thể sử dụng vào tất cả các môn học, trong việc giải quyết những tình huống khác nhau

Dạy học tích hợp được bắt đầu với việc xác định một chủ đề cần huy động kiến thức, kĩ năng, phương pháp của nhiều môn học để giải quyết vấn đề Lựa chọn được một chủ đề mang tính thách thức và kích thích được người học dấn thân vào các hoạt động là điều cần thiết trong dạy học tích hợp Theo đó có thể đưa ra ba mức độ tích hợp [8] trong dạy học như sau:

- Lồng ghép/ Liên hệ: Đó là đưa ra các yếu tố nội dung gắn với thực tiễn, gắn

với xã hội, gắn với các môn học khác nhau vào dòng chảy của nội dung bài học của một môn học Ở mức độ lồng ghép các môn học vẫn dạy riêng rẽ Tuy nhiên giáo viên có thể tìm thấy mối quan hệ giữa kiến thức của môn học mình đảm nhận với nội dung của các môn học khác nhau và thực hiện việc lồng ghép các kiến thức đó ở những thời điểm thích hợp

Dạy học ở mức độ lồng ghép có thể thực hiện thuận lợi ở nhiều thời điểm trong tiến trình dạy học Các chủ đề gắn với thực tiễn, gắn với nhu cầu của người học

sẽ nhiều cơ hội để tổ chức dạy học lồng ghép Có thể lấy các ví dụ như lồng ghép nội dung về bảo vệ môi trường, sử dụng tiết kiệm và hiệu quả năng lượng, bảo vệ chủ quyền biển đảo, … vào bài học

- Vận dụng kiến thức liên môn: Ở mức độ này, hoạt động học diễn ra xung

quanh các chủ đề, ở đó người học cần vận dụng các kiến thức của nhiều môn học để giải quyết vấn đề đặt ra Các chủ đề khi đó được gọi là các chủ đề hội tụ

Với các môn học khác nhau, mối quan hệ giữa các môn học trong chủ đề được hình dung qua sơ đồ mạng nhện Như vậy, nội dung các môn học vẫn được phát triển riêng rẽ để đảm bảo tính hệ thống; mặt khác vẫn thực hiện được sự liên kết giữa các môn học khác nhau qua việc vận dụng các kiến thức liên môn trong các chủ đề hội tụ

Việc liên kết kiến thức các môn học để giải quyết tình huống cũng có nghĩa là các kiến thức được tích hợp ở mức độ liên môn học Có hai cách thực hiện mức độ tích hợp này:

Trang 22

Cách 1: Các môn học vẫn được dạy riêng rẽ nhưng đến cuối học kì, cuối

năm hoặc cuối cấp học có một phần, một chương về những vấn đề chung (của các môn khoa học tự nhiên hoặc các môn khoa học xã hội) và các thành tựu ứng dụng thực tiễn nhằm giúp học sinh xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức đã được lĩnh hội

Cách 2: Những ứng dụng chung cho các môn học khác nhau được thực hiện ở

những thời điểm đều đặn trong năm học Nói cách khác, sẽ bố trí xen một số nội dung tích hợp liên môn vào thời điểm thích hợp nhằm làm cho học sinh quen dần với việc

sử dụng kiến thức của những môn học gần gũi với nhau

- Hòa trộn: Đây là mức độ cao nhất của dạy học tích hợp Ở mức độ này tiến

trình dạy học là tiến trình “không môn học”, nghĩa là nội dung kiến thức trong bài

học không thuộc riêng về một môn học mà thuộc về nhiều môn học khác nhau Do

đó, các các nội dung thuộc chủ đề tích hợp sẽ không cần dạy ở các môn học riêng rẽ Mức độ tích hợp này dẫn đến sự hợp nhất kiến thức của hai hay nhiều môn học

Ở mức độ hòa trộn, GV phối hợp quá trình học tập những môn khác nhau bằng các tình huống thích hợp, xoay quanh những mục tiêu chung cho nhóm môn, tạo thành các chủ đề thích hợp

Trong quá trình thiết kế, sẽ có những chủ đề trong đó các NL cần hình thành được thể hiện xuyên suốt qua toàn bộ các nội dung của chủ đề mà không phải chỉ là một nội dung nào đó của chủ đề Các NL này chính là các năng lực được hình thành xuyên môn học Ví dụ, với các môn khoa học tự nhiên đó là năng lực thực hiện các phép đo và sử dụng công cụ đo, năng lực khoa học

Để thực hiện tích hợp ở mức độ hòa trộn, cần sự hợp tác của các giáo viên đến

từ các môn học khác nhau Để lựa chọn và xây dựng nội dung học, GV phải có hiểu biết sâu sắc về chương trình và đặt chương trình các môn học cạnh nhau để so sánh,

để tôn trọng những đặc trưng nhằm dẫn học sinh đạt tới mục tiêu dạy học xác định, hướng tới việc phát triển năng lực Việc phân tích mối quan hệ giữa các môn học khác nhau trong chủ đề cũng như sự phát triển các kiến thức trong cùng môn học phải đảm bảo nguyên tắc tích hợp và hợp tác

Trang 23

1.2.3 Nguyên tắc của dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn

Theo Nguyễn Phúc Chỉnh [4], tích hợp các môn học được áp dụng khi:

- Các môn học đủ “gần nhau” về bản chất và mục tiêu hoặc có nội dung bổ sung cho nhau

- Đối tượng môn học và phương pháp nghiên cứu giống hoặc gần nhau

- Nội dung môn học được xây dựng trên cơ sở những lí thuyết và quy luật chung

- Nội dung các môn học này làm cơ sở để hiểu nội dung các môn học kia và ngược lại

Để đạt được hiệu quả dạy học tích hợp phải thực hiện các nguyên tắc vận dụng tích hợp trong dạy học như sau:

- Quán triệt quan điểm TH xuyên môn trong quá trình dạy học

- Vận dụng linh hoạt các mức độ TH ở trên để tạo ra hiệu quả của chương trình

- Vận dụng linh hoạt quan điểm TH ở các cấp học một cách phù hợp

Từ các quan điểm trên, cho thấy việc đưa các kiến thức liên môn vào dạy học môn Sinh học không thể tùy tiện mà cần dựa vào nguyên tắc sư phạm sau:

- Kiến thức liên môn được tích hợp phải có mối quan hệ logic chặt chẽ với Sinh học, nhưng phải được ẩn trong nội dung bài học Sinh học Điều đó có nghĩa là người dạy không được làm thay đổi tính đặc trưng của Sinh học Tránh việc biến bài dạy Sinh học thành bài giảng các môn khoa học khác

- Khai thác nội dung cần tích hợp kiến thức liên môn một cách có chọn lọc, có tính hệ thống, đặc trưng Nghĩa là phải biết lựa chọn phần nội dung kiến thức để tích hợp kiến thức liên môn phù hợp, không dàn trải cả bài Theo nguyên tắc này các kiến thức liên môn được đưa vào bài học phải có hệ thống, được sắp xếp hợp lý, vừa làm phong phú thêm kiến thức cho người học vừa nâng cao được chất lượng dạy học nhưng phải sát với thực tiễn, tránh sự trùng lặp, thích hợp với trình độ của học sinh, không gây quá tải, ảnh hưởng đến việc tiếp thu nội dung chính

- Đảm bảo tính vừa sức: DHTH kiến thức liên môn phải phát huy cao độ tính tích cực và vốn sống của học sinh Các kiến thức liên môn đưa vào bài học phải làm cho bài học rõ ràng và làm cho bài học tường minh hơn đồng thời tạo được hứng thú cho người học Đảm bảo nguyên tắc vừa sức, trình bày đơn giản, ví

dụ thực tế gần gũi

Trang 24

1.2.4 Mối quan hệ giữa dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn với việc hình thành

và phát triển năng lực của học sinh

Hiện nay, trên thế giới và Việt Nam, DHTH được coi là phương pháp dạy học hiệu quả để hình thành và phát triển NL cho HS Trong dạy học, TH có thể được coi

là sự liên kết các các đối tượng giảng dạy, học tập trong cùng một kế hoạch hoạt động

để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất

Thông qua dạy học tích hợp học sinh có thể phát triển nhiều NL cho học sinh:

- Thông qua dạy học tích hợp, HS có thể vận dụng kiến thức để giải quyết các bài tập hàng ngày, đặt cơ sở nền móng cho quá trình học tập tiếp theo, cao hơn là có thể vận dụng để giải quyết những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hàng ngày

- Phương pháp dạy học có ý nghĩa quyết định cho sự phát triển NL vận dụng kiến thức của người học Nghiên cứu này cho rằng người học sẽ có cơ hội để phát triển năng lực vận dụng kiến thức khi được đưa vào những tình huống thực để họ tìm tòi và phát hiện và giải quyết vấn đề

- Dạy học tích hợp tạo điều kiện cho học sinh có cơ hội liên hệ, vận dụng, phối hợp những kiến thức, kĩ năng của nhiều lĩnh vực vào giải quyết những vấn đề thực tế của đời sống Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, phương pháp dạy học dự án là một trong những phương pháp tốt nhất có thể vận dụng để tổ chức dạy học tích hợp có hiệu quả bởi vì đây là phương pháp dạy học định hướng sản phẩm và học sinh phải hiểu được lí thuyết mới có thể vận dụng để giải quyết những tình huống trong thực tế

và thu về được sản phẩm nhất định; qua đó phát triển được NL vận dụng kiến thức

Nhiều nghiên cứu và thực tế giáo dục trên thế giới đã chỉ ra rằng có nhiều phương thức dạy học khác nhau để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra trong đó dạy học tích hợp là phương thức dạy học duy nhất có thể đạt được mục tiêu giáo dục là phát triển NL cho người học để nhằm phục vụ các quá trình học tập sau này hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động

Như vậy, để dạy học tích hợp thành công chúng ta phải vận dụng quan điểm tích hợp từ khâu xây dựng chương trình, biên soạn sách giáo khoa đến khâu tổ chức dạy học đưa HS vào trong những tình huống thực để các em tìm tòi và tự phát hiện, giải quyết vấn đề qua đó phát triển NL vận dụng kiến thức cho các em

Trang 25

1.2.5 Các năng lực được hình thành và phát triển cho học sinh thông qua dạy học các chủ đề

* Các năng lực chung

- Năng lực tự học

- Năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

- Năng lực giao tiếp

- Năng lực hợp tác

* Các năng lực chuyên biệt

- NL sử dụng kiến thức liên môn: Kiến thức về cấu tạo cơ thể, sự chuyển hoá vật chất và năng lượng, sinh trưởng và sinh sản của vi sinh vật Kiến thức về cấu tạo, hình thái các loại virut

- Năng lực vận dụng kiến thức liên môn: Vận dụng kiến thức các môn học

khác vào giải quyết các tình huống Sinh học trong thực tiễn như sản xuất rượu, sữa chua, …vận dụng kiến thức vào việc bảo quản lương thực, thực phẩm

- NL thực hành thí nghiệm: Quan sát, mô tả các hiện tượng thí nghiệm, đưa ra kết luận, giải thích thí nghiệm, bảo quản một số mẫu vật thật,…

1.3 Thực trạng việc vận dụng dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn ở trường phổ thông

1.3.1 Phương pháp điều tra

Để biết được thực trạng dạy học theo các chủ đề THLM ở các trường các trường phổ thông hiện nay chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng việc dạy học theo THLM trong dạy học tại một số trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang: vào tháng 9 năm 2017 bằng phiếu điều tra (Phụ lục 1)

1.3.2 Đối tượng điều tra

Chúng tôi đã sử dụng phiếu điều tra để khảo sát 3 đối tượng:

- Cán bộ quản lí: Khảo sát 15 cán bộ quản lý thuộc 3 trường THPT trên địa bàn tỉnh Bắc Giang

- Giáo viên bộ môn: Tiến hành khảo sát 45 GV đang trực tiếp giảng dạy các môn tại 3 trường THPT trên địa bàn

- Học sinh: Khảo sát 210 HS khối 11 của 3 trường THPT trên địa bàn năm học

Trang 26

1.3.3 Kết quả điều tra

* Kết quả điều tra của CBQL

Bảng 1.1 Kết quả điều tra của CBQL về dạy học THLM

Câu hỏi điều tra

Trường THPT Việt Yên

số 1 (%)

Trường THPT Lạng Giang

số 3 (%)

Trường THPT Lục Ngạn

số 4 (%)

1 Gần đây Bộ giáo dục và đào tạo có chủ trương

về việc đưa dạy học TH và sử dụng kiến thức liên

môn vào giảng dạy trong nhà trường, ý kiến của

thầy (cô) về vấn đề này

2 Nhà trường đã chỉ đạo các tổ chuyên môn xây

dựng và giảng dạy theo các chủ đề THLM như

thế nào?

□ Thường xuyên

□ Mỗi học kì một lần

□ Mỗi tháng một lần

□ Trong các đợt hội giảng

□ Chưa triển khai

3 Nhà trường nhận thấy các thầy (cô) có chủ

động trong việc tiếp cận dạy học theo chủ đề

4 Nhà trường có tạo điều kiện về cơ sở vật chất,

không gian, thời gian để các thầy (cô) giảng dạy

theo chủ đề THLM hay không?

5 Nhà trường nhận thấy hiệu quả việc dạy học

theo chủ đề THLM của các thầy (cô) như thế nào?

□ Hiệu quả cao

Trang 27

Kết quả điều tra cho thấy các trường đã quan tâm đến việc dạy học theo chủ đề THLM Tuy nhiên, nhà trường và GV chưa được trang bị kiến thức về dạy học chủ đề THLM Vì vậy, việc dạy học chưa đạt được hiệu quả như mong muốn

Ngoài ra, chúng tôi cũng tham khảo ý kiến nhà trường về những khó khăn, trở ngại trong việc tổ chức dạy học theo chủ đề THLM Hầu hết, chúng tôi nhận được câu trả lời về những khó khăn đó là: điều kiện cơ sở vật chất nhà trường chưa đủ để tổ chức dạy học các chủ đề THLM, GV chưa được tập huấn đầy đủ về dạy học theo chủ đề THLM nên trong quá trình triển khai còn gặp nhiều bỡ ngỡ và hiệu quả chưa cao

* Kết quả điều tra của GV

Bảng 1.2 Kết quả điều tra của GV về dạy học THLM

Câu hỏi điều tra

Trường THPT Việt Yên

số 1(%)

Trường THPT Lạng Giang

số 3 (%)

Trường THPT Lục Ngạn

số 4 (%)

1 Gần đây Bộ Giáo dục và Đào tạo có chủ

trương về việc đưa dạy học tích hợp và sử dụng

kiến thức liên môn vào giảng dạy trong nhà

trường, ý kiến của thầy (cô) về vấn đề này

□ Đồng ý

□ Không đồng ý

□ Bình thường

86,7 6,7 6,6

73,3

0 26,7

66,7 6,7 26,6

2 Thầy (cô) đã áp dụng hình thức dạy học theo

chủ đê THLM trong giảng dạy chưa?

□ Thường xuyên

□ Có rất ít

□ Chưa bao giờ

33,3 46,7

20

33,3 53,3 13,4

27,7 53,3

19

3 Theo thầy (cô) những kiến thức ngoài bài học

mà thầy cô giảng dạy kèm theo nội dung bài học

thường thuộc mức độ tích hợp nào?

20 13,3

0 46,7 33,3

20

0 33,3

40 26,7

Trang 28

Câu hỏi điều tra

Trường THPT Việt Yên

số 1(%)

Trường THPT Lạng Giang

số 3 (%)

Trường THPT Lục Ngạn

40

0

33,3 33,3 33,3

0

53,3 26,7

20

0

5 Thầy (cô) cho biết quan điểm của mình về

hiệu quả của việc dạy học theo chủ đề THLM

trong việc nâng cao chất lượng dạy và học ở

20

53,3 26,7

20

66,7

20 13,3

6 Thầy (cô) tự đánh giá thế nào về kĩ năng dạy

học theo chủ đề THLM của bản thân?

□ Rất thành thạo

□ Thành thạo

□ Không thành thạo

0 33,3 67,7

0

40

60

0 26,7 73,3

7 Thầy (cô) có nhận xét như thế nào về mức độ

cần thiết của dạy học THLM ở trường phổ thông?

0

33,3 46,6

20

0

40 33,3 26,7

0 Thông qua điều tra GV chúng tôi nhận thấy hầu hết GV chưa nhận thức đúng đắn về dạy học theo chủ đề THLM, chưa thực sự làm việc nhóm để trở thành nhóm cộng tác thiết kế và thiếu kĩ năng làm việc nhóm, GV vẫn hành động theo kinh nghiệm cá nhân GV nhiều trường rất ngại xây dựng các chủ đề liên môn vì mất rất nhiều thời gian, công sức đặc biệt là đối với các trường vùng cao, điều kiện cơ sở vật chất còn hạn chế

Trang 29

* Kết quả điều tra của HS

Bảng 1.3 Kết quả điều tra của HS về dạy học THLM

Câu hỏi điều tra

Trường THPT Việt Yên

số 1 (%)

Trường THPT Lạng Giang

số 3 (%)

Trường THPT Lục Ngạn

số 4 (%)

1 Các em có thường xuyên được tham gia học tập

với các chủ đề THLM do GV thiết kế hay không?

□ Thường xuyên

□ Có rất ít

□ Không bao giờ

14,2 57,1 28,6

11,4 52,9 35,7

7,14 47,1 45,7

0

87,1 8,6 4,28

58,7

10 4,3

3 Các em có cảm thấy trong thực tiễn nhiều vấn

đề cần được giải quyết bằng kiến thức từ nhiều

0

84,3 15,7

0

4 Em có thường xuyên tham khảo nhiều nguồn tài

liệu trước khi lên lớp học bài học mới không?

58,6 25,7 15,7

45,7 28,6 25,7

5 Em có thích các bài học có nhiều kiến thức liên

0

98,6 1,4

0

94,3 5,7

0

6 Em có cảm thấy cách dạy và học thụ động như

hiện nay cần phải thay đổi?

97,1 2,9

Trang 30

Đối với HS hầu hết các em đều nhận thấy các chủ đề tích hợp liên môn có tính thực tiễn nên sinh động, hấp dẫn, tạo ra động cơ, hứng thú học tập cho các em Qua

quan sát và nói chuyện với HS chúng tôi nhận được những chia sẻ: “Chúng em thích học theo phương pháp mới đặc biệt là được tham gia các trò chơi trong quá trình học tập” Một số HS đã được tham gia học tập các chủ đề THLM thì cho rằng: “Chúng em thích học theo chủ đề THLM vì qua đó chúng em được thầy cô cung cấp thêm kiến thức của nhiều môn học khác như Vật lí, Hóa học, Công nghệ, Giáo dục công dân, …”

Từ đó, càng tạo động lực cho chúng tôi nghiên cứu tìm hiểu về việc dạy học theo chủ đề THLM và xây dựng các chủ đề học tập hoàn thiện hơn, hay hơn

Nhận xét chung

Thông qua điều tra, chúng tôi nhận thấy rằng việc dạy học theo chủ đề THLM

ở các trường THPT trên địa bàn còn nhiều vấn đề bất cập Cụ thể:

- Hầu hết GV đã ý thức được việc dạy học theo các chủ đề THLM là cần thiết

để phát triển NL của HS nhưng để áp dụng vào quá trình dạy học thì còn gặp rất nhiều khó khăn trở ngại: Cơ sở vật chất nhà trường chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới, nội dung chương trình, thời lượng chương trình, kiến thức hàn lâm còn nhiều, cách thức kiểm tra đánh giá chưa phù hợp

- Việc dạy học theo chủ đề THLM chưa được sử dụng rộng rãi trong dạy học nói chung và dạy học Sinh học nói riêng Hầu hết, ở các trường GV vẫn dạy học theo từng bài với các nội dung kiến thức rời rạc và chủ yếu sử dụng những những phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, vấn đáp nên quá trình học tập trở nên nhàm chán và hiệu quả không cao

- GV chưa được tổ chức tập huấn về dạy học THLM một cách đầy đủ Các thầy cô giáo biết đến THLM chủ yếu thông qua các nguồn tài liệu tham khảo và đồng nghiệp Vì vậy đa số GV mong muốn được tập huấn giảng dạy theo chủ đề THLM một cách bài bản để có thể áp dụng nhuần nhuyễn vào quá trình dạy học.Bên cạnh đó, hiện nay chưa có SGK cụ thể mang tính tích hợp nên việc xây dựng các chủ đề TH chủ yếu do ý kiến chủ quan của từng cá nhân Điều này cũng góp phần tạo nên sự hiểu biết lệch lạc về dạy học theo chủ đề THLM và hiệu quả quá trình dạy học không cao

Trang 31

Kết luận chương 1

Ở chương này, chúng tôi đã tập chung làm sáng tỏ được 3 vấn đề lớn đó là: cơ

sở lí luận về dạy học tích hợp và dạy theo chủ đề THLM, mối quan hệ giữa dạy học theo chủ đề THLM với sự hình thành và phát triển NL cho HS, thực trạng việc dạy học theo chủ đề THLM của một số trường THPT trên địa bàn tình Bắc Giang

Dựa trên cơ sở lí luận và thực trạng như trên, chúng tôi sẽ tiến hành xây dựng các chủ đề THLM phần Sinh học Vi sinh vật nhằm nâng có hiệu quả việc dạy học ở các trường phổ thông trên địa bàn nói riêng và các trường phổ thông nói chung

Trang 32

Chương 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC DẠY HỌC CÁC CHỦ ĐỀ TÍCH HỢP LIÊN MÔN TRONG DẠY HỌC SINH HỌC VI SINH VẬT (SINH HỌC 10 - THPT)

2.1 Cấu trúc nội dung phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT)

Phần Sinh học vi sinh vật gồm 3 chương

- Chương I: Chuyển hóa vật chất và năng lượng ở vi sinh vật

Học xong chương này, học sinh sẽ biết được VSV là những cơ thể nhỏ bé không thể nhìn thấy bằng mắt thường mà phải quan sát dưới kính hiển vi VSV có 3 loại môi trường nuôi cấy VSV đó là môi trường tự nhiên, môi trường tổng hợp, môi trường bán tổng hợp Ở VSV có 4 kiểu dinh dưỡng đó là: quang tự dưỡng, hóa tự dưỡng, quang dị dưỡng, hóa dị dưỡng Học sinh biết ứng dụng quá trình lên men ở VSV để tạo ra nhiều sản phẩm đảm bảo an toàn phục vụ cho đời sống hàng ngày như: rượu, tương, sữa chua, nem chua, rau dưa…

- Chương II: Sinh trưởng và sinh sản của Vi sinh vật

Chương này, học sinh sẽ biết được thế nào là sinh trưởng của quần thể VSV, đặc điểm sinh trưởng của quần thể VSV theo quy luật nào Học sinh cũng biết được

có hai phương pháp nuôi cấy VSV đó là nuôi cấy không liên tục và nuôi cấy liên tục, từ đó học sinh so sánh được 2 phương pháp nuôi cấy và biết được được phương pháp nuôi cấy liên tục có ưu điểm hơn hẳn và được con người ứng dụng để sản xuất sinh khối thu nhận các hợp chất có hoạt tính sinh học như axit amin, hoocmon, kháng sinh… Chương này HS cũng biết được các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của VSV gồm các yếu tố hóa học và yếu tố vật lí Trên cơ sở biết được những yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của VSV con người đã ứng dụng để bảo quản thực phẩm, nông sản có hiệu quả

- Chương III: Virut và bệnh truyền nhiễm

Chương này giới thiệu về cấu trúc các loại virut, sự nhân lên của virut trong

tế bào chủ gồm 5 giai đoạn: sự hấp phụ, xâm nhập, sinh tổng hợp, lắp ráp, phóng thích Học sinh biết được virut gây ra rất nhiều bệnh cho người, động vật, thực vật

và côn trùng Nhưng bên cạnh đó chúng cũng có những ứng dụng trong thực tiễn

Trang 33

như tạo ra các chế phẩm sinh học, sản xuất các loại thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp Đặc biệt chương này học sinh được tìm hiểu nguyên nhân gây bệnh, triệu chứng, cách phòng tránh một số bệnh do virut gây ra như bệnh cúm, bệnh đậu mùa, bệnh dại, bệnh HIV, bệnh viêm gan B….Qua đó HS cũng biết được thế nào là bệnh truyền nhiễm, miễn dịch

2.2 Sự phù hợp của nội dung Sinh học vi sinh vật để dạy học theo chủ đề tích hợp liên môn

Qua việc phân tích nội dung kiến thức phần sinh học VSV ta có thể thấy nội dung các bài trong một chương có mối liên quan chặt chẽ với nhau Nội dung trước làm nền tảng cho quá trình nhận thức nội dung sau Vì vậy, các bài trong một chương cần được gộp lại tạo thành một chủ đề để HS có cái nhìn tổng quát về nội dung của một chương

Hơn nữa lượng kiến thức ứng dụng trong phần này rất lớn, có liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng trong thực tế cuộc sống, được đề cập hàng ngày trên các phương tiện truyền thông đại chúng như vấn đề về các loại bệnh truyền nhiễm, những ứng dụng của VSV trong các lĩnh vực y học, sản xuất thực phẩm, bảo vệ môi trường… gần gũi với hiểu biết thực tế của học sinh Đảm bảo cho việc khai thác được nhiều ý tưởng dự án phong phú, gắn liền với thực tiễn đây là những đặc điểm thuận lợi, phù hợp cho việc áp dụng các phương pháp dạy học tích cực đặc biệt là dạy học dự án

2.3 Thiết kế các chủ đề tích hợp liên môn phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học

10 - THPT)

2.3.1 Nguyên tắc thiết kế chủ đề tích hợp liên môn

* Nguyên tắc 1: Quán triệt mục tiêu dạy học

Mục tiêu chính của các chủ đề được thiết kế là phát triển được năng lực học tập cho HS Các hoạt động học tập không nhằm mục tiêu ghi nhớ kiến thức, mà chú trọng tới việc hình thành kiến thức, kĩ năng học tập cho học sinh bằng các tình huống thực tế

và các kiến thức liên môn để chính các em tìm ra câu trả lời cho các vấn đề được đặt ra trong cuộc sống đồng thời hệ thống hóa được kiến thức

Trang 34

* Nguyên tắc 2: Quán triệt chủ trương đổi mới phương pháp dạy học

Đó là các đặc điểm: định hướng học sinh, định hướng thực tiễn, định hướng sản phẩm, định hướng hoạt động, định hướng phức hợp và cộng tác làm việc Chủ đề được thiết kế phải mang đầy đủ 6 đặc điểm trên nhằm hướng tới phát triển năng lực cho HS

* Nguyên tắc 3: Quán triệt nội dung kiến thức trong chương trình

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể và sách giáo khoa mới chưa được ban hành nên việc thiết kế chủ đề tích hợp đưa vào giảng dạy phải đảm bảo được các chuẩn kiến thức theo chương trình hiện hành Đảm bảo cho HS không chỉ được hình thành phát triển năng lực mà còn phải có đủ kiến thức cho học tập, kiểm tra và thi cử

* Nguyên tắc 4: Phát huy tối đa khả năng tự lực nghiên cứu của người học

HS là trung tâm của quá trình thực hiện chủ đề GV chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn, định hướng HS khi cần thiết HS tự lên kế hoạch, thực hiện dự án, báo cáo sản phẩm, đánh giá lẫn nhau Điều đó vừa làm tăng hứng thú vừa phát triển các kĩ năng học tập cần thiết cho HS

* Nguyên tắc 5: Sản phẩm học theo chủ đề được mở rộng và cụ thể hóa nội dung trong bài học

Sản phẩm chủ đề có thể là tranh ảnh, bài trình chiếu powpoint, poster, sản phẩm thật, thể hiện được nội dung của các dự án trong chủ đề

* Nguyên tắc 6: Thời gian thực hiện chủ đề không chỉ bó hẹp trong giờ lên lớp

Chủ đề có thể kéo dài 1 giờ học, 1 tuần, 1 tháng hay lâu hơn tùy thuộc phạm vi chủ đề Thông thường thời gian cho chủ đề khoảng 3 - 7 tiết học trên lớp là phù hợp Thời gian cho chủ đề tích hợp có thể thực hiện cả ngoài giờ lên lớp, trong hoạt động ngoại khóa, Không bắt buộc các tiết dạy phải theo đúng phân phối chương trình Tuy nhiên, các chủ đề vẫn bắt buộc phải đảm bảo đầy đủ nội dung, mục tiêu của chương trình học

Trang 35

2.3.2 Quy trình thiết kế chủ đề tích hợp liên môn

Quy trình xây dựng một chủ đề tích hợp gồm các bước [6] như sau:

Bước 1: Nghiên cứu lí luận về dạy học tích hợp

Bước 2: Phân tích chương trình, sách giáo khoa để tìm ra các nội dung gần giống

nhau, có gắn kết chặt chẽ tự nhiên với nhau trong các môn học của chương trình hiện hành; những nội dung liên quan đến vấn đề thời sự của địa phương, đất nước là những vấn đề nóng đang được quan tâm của toàn cầu để xây dựng chủ đề tích hợp

Bước 3: Xác định chủ đề tích hợp bao gồm tên bài học và lĩnh vực thuộc môn học

nào, đóng góp của các môn học đó vào bài học Dự kiến thời gian cho chủ đề tích hợp

Bước 4: Xây dựng mục tiêu cho chủ đề tích hợp bao gồm: kiến thức, kĩ năng,

thái độ, định hướng năng lực hình thành và phát triển học sinh

Bước 5: Xây dựng các nội dung chính trong chủ đề tích hợp Căn cứ vào thời

gian dự kiến, mục tiêu, thậm chí cả đặc điểm tâm sinh lí và yếu tố vùng miền để xây dựng nội dung cho phù hợp

Bước 6: Xây dựng bộ câu hỏi định hướng và các hướng dẫn về nguồn tài liệu

bổ trợ, các phương tiện kĩ thuật cho học sinh thực hiện nội dung các chủ đề tích hợp

Bước 7: Thực hiện các tiêu chí đánh giá nội dung các chủ đề tích hợp đã xây

dựng và tính hiệu quả của chúng trong việc hình thành và phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học Đề xuất các cải tiến cho phù hợp với thực tế

Trên cơ sở đó kết hợp với thực tiễn dạy học địa phương tôi đề xuất quy trình xây dựng chủ đề tích hợp liên môn gồm các bước sau:

Bước 1: Lựa chọn chủ đề Bước 2: Xác định mục tiêu chủ đề Bước 3: Xác định nội dung chủ đề Bước 4: Xác định kiến thức các môn học được tích hợp trong chủ đề

Bước 6: Tổ chức dạy học Bước 7: Kiểm tra, đánh giá

Trang 36

Để xác định chủ đề tích hợp cần:

Rà soát các môn học qua khung chương trình hiện có; các chuẩn kiến thức, kĩ năng; chuẩn năng lực để tìm ra các nội dung dạy học gần nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau trong các môn học của chương trình hiện hành

Tìm ra những nội dung giáo dục liên quan đến các vấn đề thời sự của địa phương, đất nước để xây dựng chủ đề/bài học gắn với thực tiễn, có tính phổ biến, gắn với vốn kinh nghiệm của học sinh và phù hợp với trình độ nhận thức của họ

Bước 2 Xác định mục tiêu của chủ đề

Nguyên tắc xây dựng mục tiêu chủ đề tích hợp cũng tuân theo nguyên tắc chung đó là mục tiêu cần cụ thể và lượng hóa được

- Về kiến thức: Trình bày về nội dung kiến thức mà học sinh sẽ học được thông qua chủ đề (chỉ trình bày những kiến thức sẽ được đánh giá)

- Về kĩ năng: Trình bày về những kĩ năng của học sinh được hình thành thông qua thực hiện các hoạt động học theo chủ đề (chỉ trình bày những kĩ năng sẽ được đánh giá) Sử dụng động từ hành động để ghi các loại kĩ năng và năng lực mà học sinh được phát triển qua thực hiện chủ đề

- Về thái độ: Trình bày về những tác động của việc thực hiện các hoạt động học theo chủ đề đối với nhận thức, giá trị sống và định hướng hành vi của học sinh

- Các năng lực chính hướng tới: Học sinh được học thông qua thực hành, sáng tạo

và tạo ra sản phẩm học tập có nghĩa cho bản thân; có thể thiết kế, xây dựng, sáng tạo ra một sản phẩm hoặc thực hiện một việc nào đó Các năng lực đọc, viết, toán học, khoa học,… được phát triển trong việc tạo ra sản phẩm học tập

- Sản phẩm dự kiến: Mô tả rõ sản phẩm mà học sinh phải hoàn thành về nội dung

và hình thức thể hiện (bài báo báo, bài trình chiếu, tập tranh ảnh, video, mô hình, sản phẩm thật,…); nêu rõ tên và yêu cầu của sản phẩm cùng với tiêu chí đánh giá sản phẩm

Bước 3 Xác định nội dung của chủ đề

Đây là bước định hướng các nội dung cần được đưa vào trong chủ đề Các vấn đề này là những câu hỏi mà thông qua quá trình học tập chủ đề học sinh có thể trả lời được

Trang 37

Bước 4 Xác định các kiến thức các môn học tích hợp trong chủ đề

Trình bày về nội dung kiến thức thuộc chương trình các môn học được dạy học tích hợp trong chủ đề; nêu rõ yêu cầu cần đạt; tên bài (tiết), thời lượng phân phối chương

trình hiện hành và thời điểm dạy học theo chương trình hiện hành

Bước 5 Tổ chức dạy học

- Kế hoạch dạy học: Xây dựng kế hoạch tổ chức dạy học toàn bộ chủ đề: thực

hiện các hoạt động như thế nào; ai, làm gì, thời gian bao lâu, ở đâu, kết quả

Kế hoạch dạy học có thể được trình bày theo bảng dưới đây:

Thời gian Nội dung Hình thức tổ chức Dự kiến sản phẩm

- Hệ thống phiếu học tập: Thiết kế các phiếu học tập phù hợp với từng hoạt

động học tập Nội dung của phiếu học tập được xác định dựa vào một số cơ sở sau: mục tiêu của bài học, kiến thức cơ bản, phân bố thời gian, phương pháp và PTDH, môi trường lớp học để xác định nội dung, khối lượng công việc trong phiếu học tập cho phù hợp Thiết kế các dự án học tập chi tiết cho từng nội dung

- Giáo án: Thiết kế giáo án chi tiết cho các hoạt động của chủ đề

Bước 7 Kiểm tra, đánh giá

Sau khi tổ chức dạy học chủ đề, giáo viên cũng cần đánh giá các mặt như:

- Đánh giá năng lực hoạt động của HS thông qua bảng công cụ đánh giá

- Đánh giá chất lượng lĩnh hội tri thức của HS thông qua các bài kiểm tra Việc đánh giá tổng thể chủ đề giúp giáo viên điều chỉnh, bổ sung chủ đề cho phù hợp hơn Mặt khác, đánh giá học sinh cho phép giáo viên có thể biết được mục tiêu dạy học đề ra có đạt được hay không Mục tiêu dạy học có thể được thực hiện thông qua các hoạt động dạy học và thông qua các công cụ đánh giá

Trang 38

2.3.4 Xây dựng một số chủ đề tích hợp liên môn phần Sinh học Vi sinh vật (Sinh học 10 - THPT)

Chủ đề 1: Vi sinh vật với vấn đề chế biến thực phẩm

1 Lí do chọn chủ đề

- Vi sinh vật là những sinh vật nhỏ bé, có các kiểu trao đổi chất phong phú, có khả năng trao đổi chất mạnh mẽ do đó có khả năng tạo ra nhiều sản phẩm trao đổi

chất khác nhau

- Từ rất lâu mặc dù chưa nhận thức được sự tồn tại của VSV nhưng con người

đã biết sử dụng VSV để tạo ra những sản phẩm phục vụ đời sống Nhiều tài liệu khảo

cổ đã cho thấy cách đây 6000 năm người dân Ai Cập đã có tập quán nấu rượu, ở Trung Quốc rượu đã được sản xuất từ thời đại văn hóa Long Sơn (cách đây 4000 năm), việc muối dưa đã được thực hiện từ những năm 3500 trước Công nguyên

- Cùng với sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ con người đã dần phát hiện ra bản chất của quá trình lên men và ứng dụng vào nhiều lĩnh vực của đời sống như y học, công nghiệp, nông nghiệp, thực phẩm Đặc biệt nhờ quá trình lên men của VSV con người đã tạo ra những thực phẩm rất được ưa chuộng như sữa chua, rau chua, tương, nước mắm, rượu bia, …

- Chính vì VSV có vai trò quan trọng trong ứng dụng thực tiễn như trên mà tôi

đã lựa chọn chủ đề “Vi sinh vật với vấn đề chế biến thực phẩm”

2 Mục tiêu chủ đề

2.1 Về kiến thức

- Trình bày được khái niệm và đặc điểm chung của VSV

- Trình bày được 3 loại môi trường nuôi cấy cơ bản của VSV

- Trình bày các kiểu dinh dưỡng của vi sinh vật dựa theo nguồn cacbon và

nguồn năng lượng

- Trình bày được quy trình nấu rượu truyền thống, tương truyền thống, tự làm

được sữa chua, thịt chua, nem chua, rau chua

- Giải thích được cơ sở khoa học quy trình chế biến các sản phẩm trên

2.2 Về kĩ năng

- Rèn luyện kĩ năng sinh học:

+ Quan sát tranh hình phát hiện kiến thức

+ Vẽ sơ đồ

Trang 39

+ Phân tích tổng hợp kiến thức thành sơ đồ, bảng biểu

+ Vận dụng kiến thức sinh học vào thực tiễn

- Rèn kĩ năng nghiên cứu khoa học

+ Kĩ năng tự học

+ Kĩ năng nghiên cứu sách giáo khoa

- Rèn luyện kĩ năng làm việc nhóm

- Rèn kĩ năng làm thí nghiệm

2.3 Về thái độ

- HS nhận thức đúng tầm quan trọng của vi sinh vật trong đời sống

- Ứng dụng tạo ra được những sản phẩm ngon đảm bảo cho gia đình đóng góp

vào việc cải thiện sức khỏe con người, chất lượng cuộc sống và chất lượng giống nòi

* Năng lực chuyên biệt

HS hiểu cơ sở khoa học của việc chế biến một số thực phẩm Trên cơ sở

đó biết vận dụng kiến thức tạo ra được các sản phẩm ngon, đảm bảo vệ sinh cho gia đình HS biết vận dụng kiến thức để giải thích một số hiện tượng liên quan trong thực tế

3 Nội dung chủ đề

3.1 Khái niệm và đặc điểm chung của vi sinh vật

3.2 Môi trường nuôi cấy cơ bản

- Môi trường tự nhiên

Trang 40

3.4 Ứng dụng vi sinh vật trong chế biến thực phẩm

- Nấu rượu truyền thống

- Làm tương truyền thống

- Làm nem chua

- Làm sữa chua

- Làm rau muối dưa

4 Kiến thức các môn học được tích hợp trong chủ đề

Sinh học

Khái niệm vi sinh vật Các loại môi trường cơ bản và các kiểu dinh dưỡng của vi sinh vật

Lên men etilic và lactic

Bài 22 Sinh học 10

Bài 22 Sinh học 10 Bài 24 Sinh học 10 Hóa học Phương pháp điều chế rượu Bài 40 Hoá học 11 Công nghệ 10 Làm sữa chua Bài 47 Công nghệ 10

5 Tổ chức dạy học

5.1 Kế hoạch dạy học

Thời gian Nội dung Hình thức tổ chức Dự kiến sản phẩm

Tuần 1 Tiết 1 - Tìm hiểu về khái niệm

vi sinh vật

- Tìm hiểu về môi trường

và các kiểu dinh dưỡng của vi sinh vật

- Triển khai dự án học tập: Vi sinh vật với vấn

đề chế biến thực phẩm

+ Nhóm 1: Nấu rượu truyền thống

+ Nhóm 2: Làm tương truyền thống

+ Nhóm 3: Làm nem chua + Nhóm 4: Làm sữa chua + Nhóm 5: Làm rau chua

- Bài thuyết trình

- Bản kế hoạch chi tiết

- Sản phẩm của học sinh: Rượu, tương, nem chua, sữa chua, rau muối dưa Tuần 2 Tiết 2 - Báo cáo dự án

Ngày đăng: 19/06/2021, 11:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông mới
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2018
2. Bernd Meirer, Nguyễn Văn Cường (2013), Lí luận dạy học hiện đại, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại
Tác giả: Bernd Meirer, Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2013
3. Nguyễn Phúc Chỉnh (2012), Tích hợp trong dạy học Sinh học, NXB Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tích hợp trong dạy học Sinh học
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Nhà XB: NXB Đại học Thái Nguyên
Năm: 2012
4. Nguyễn Phúc Chỉnh (2012), Hình thành năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên các trường THPT, đề tài cấp bộ B91 - 37 - 12, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hình thành năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên các trường THPT
Tác giả: Nguyễn Phúc Chỉnh
Năm: 2012
5. Đảng cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 8 (Khóa XI), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Hội nghị BCH TW Đảng lần thứ 8 (Khóa XI)
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2013
6. Phạm Thị Kim Giang, Nguyễn Hoàng Trang, Vũ Thị Thu Hoài, Phạm Thị Kiều Duyên, “Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp liên môn bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên Trung học phổ thông”, Tạp chí Khoa học Giáo dục số 126, tháng 3 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình xây dựng chủ đề tích hợp liên môn bồi dưỡng năng lực dạy học tích hợp cho giáo viên Trung học phổ thông”, "Tạp chí Khoa học Giáo dục
7. Gielle O. Martin - Kniep (2011), Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tám đổi mới để trở thành người giáo viên giỏi
Tác giả: Gielle O. Martin - Kniep
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
8. Trần Bá Hoành (2013), “Dạy học tích hợp”, Viện khoa học Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp
Tác giả: Trần Bá Hoành
Năm: 2013
9. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại - lí luận, biện pháp, kĩ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
10. Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt (1987), Giáo dục học - Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học - Tập 1
Tác giả: Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1987
11. Dương Tiến Sỹ, Dương Thị Thu Hương (2013), “Xây dựng các chủ đề tích hợp nhằm phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học ở trường phổ thông”, Tạp chí giáo dục, số đặc biệt tháng 9/2013, trang 115 - 116 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng các chủ đề tích hợp nhằm phát triển năng lực cho học sinh trong dạy học ở trường phổ thông"”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Dương Tiến Sỹ, Dương Thị Thu Hương
Năm: 2013
12. Dương Tiến Sỹ (2001), “Giảng dạy tích hợp các khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo”, Tạp chí giáo dục, trang 27 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng dạy tích hợp các khoa học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo”, "Tạp chí giáo dục
Tác giả: Dương Tiến Sỹ
Năm: 2001
13. T.A.I lina (1973), Giáo dục học tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học tập 2
Tác giả: T.A.I lina
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1973
15. Đỗ Hương Trà, Nguyễn Văn Biên, Trần Khánh Ngọc, Trần Trung Ninh, Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Vũ Bích Hiền (2015), Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh - Quyển I - Khoa học tự nhiên, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học tích hợp phát triển năng lực học sinh - Quyển I - Khoa học tự nhiên
Tác giả: Đỗ Hương Trà, Nguyễn Văn Biên, Trần Khánh Ngọc, Trần Trung Ninh, Trần Thị Thanh Thủy, Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Vũ Bích Hiền
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
16. Lê Đình Trung (chủ biên), Phan Thị Thanh Hội (2015), Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học ở trường phổ thông
Tác giả: Lê Đình Trung (chủ biên), Phan Thị Thanh Hội
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2015
17. Xavier Roegiers (1996), Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường, (Người dịch: Đào Trọng Nguyên, Nguyễn Ngọc Nhị), NXB Giáo dục.TIẾNG ANH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường
Tác giả: Xavier Roegiers
Nhà XB: NXB Giáo dục. TIẾNG ANH
Năm: 1996
18. Drake, M.S, Burns, R. (2004), Meeting standards through integrated curriculum, ASCD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meeting standards through integrated curriculum
Tác giả: Drake, M.S, Burns, R
Năm: 2004
19. Grant, P, Paige, K. (2007), “Curriculum integration: A trial”, Australian journal of teacher education, Vol. 32, Issue 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Curriculum integration: A trial”, "Australian journal of teacher education
Tác giả: Grant, P, Paige, K
Năm: 2007
14. Tài liệu tập huấn dạy học tích hợp ở trường Trung học cơ sở và Trung học phổ thông, (2015), NXB Đại học Sư phạm Hà Nội Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w