Để trẻ tham gia hoạt động vui chơi một cách tích cực và đạt hiệu quả thì người GV mầm non cần hiểu đặc điểm của trẻ, hiểu về chương trình giáo dục cho trẻ mẫu giáo, xây dựng và tổ chức h
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS Trần Thị Minh Huế
THÁI NGUYÊN - 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu là trung thực và chưa được công bố trong bất kì công trình nào khác
Thái Nguyên, tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Phạm Thu Thương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Thực hiện đề tài “Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban Giám hiệu,
Khoa Tâm lý - Giáo dục, Phòng Đào tạo Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên, các quý thầy cô đã giúp tôi trang bị kiến thức, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Với lòng kính trọng và biết ơn, tôi xin được bày tỏ lòng cảm ơn tới TS Trần Thị Minh Huế người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, chỉ bảo, động viên tôi suốt thời gian nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Xin chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, các đồng chí lãnh đạo, Phòng chuyên môn Sở GD&ĐT tỉnh Quảng Ninh, Phòng GD&ĐT thành phố Cẩm Phả, cán bộ quản
lý và GV các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
đã hỗ trợ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này
Dù đã rất cố gắng song luận văn không tránh khỏi những khiếm khuyết, tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô và các bạn
Trân trọng!
Tác giả
Phạm Thu Thương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT vii
DANH MỤC CÁC BẢNG viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phạm vi nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
8 Cấu trúc luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở TRƯỜNG MẦM NON 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 6
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước 8
1.2 Một số khái niệm công cụ 10
1.2.1 Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 10
1.2.2 Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 11
1.2.3 Quản lý phát triển chương trình giáo dục mầm non 11
1.2.4 Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 14
1.2.5 Biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 14
1.3 Một số vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 14
1.3.1 Đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo 14
Trang 61.3.2 Khái quát về hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 15
1.3.3 Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 19
1.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 27
1.4.1 Vai trò của hiệu trưởng nhà trường trong quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 27
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 28
1.4.3 Phương pháp quản lý động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 33
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 34
Kết luận chương 1 39
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON ĐỊA BÀN MIỀN NÚI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 40
2.1 Khái quát về tình hình giáo dục tại các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 40
2.2 Tổ chức khảo sát thực trạng 43
2.2.1 Mục tiêu khảo sát 43
2.2.2 Khách thể khảo sát 43
2.2.3 Nội dung khảo sát 43
2.2.4 Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu 44
2.3 Thực trạng nhận thức về hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo và quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non 46
2.3.1 Nhận thức của CBQL, GV về các khái niệm 46
2.2.2 Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non 48
2.2.3 Nhận thức về nội dung quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 52
Trang 72.3 Thực trạng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa
bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 54
2.3.1 Thực trạng thực hiện nội dung và yêu cầu trong thực hiện nội dung hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 54
2.3.2 Thực trạng sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 57
2.3.3 Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 60
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 63
2.4.1 Thực trạng thực hiện nội dung quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 63
2.4.2 Thực trạng thực hiện các phương pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 65
2.4.3 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 67
2.5 Đánh giá chung về khảo sát thực trạng 68
2.5.1 Những ưu điểm 68
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân của thực trạng 69
Kết luận chương 2 71
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI CỦA TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC LẤY TRẺ LÀM TRUNG TÂM Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON ĐỊA BÀN MIỀN NÚI THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH 72
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý 72
3.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính mục tiêu giáo dục 72
3.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính toàn diện, hệ thống 72
3.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính an toàn 72
Trang 83.1.5 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả 73
3.2 Một số biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 74
3.2.1 Bồi dưỡng cho GVMN và CBQL tổ chuyên môn về năng lực tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 74
3.2.2 Chỉ đạo đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 78
3.2.3 Chỉ đạo xây dựng và sử dụng hiệu quả môi trường giáo dục trong tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 81
3.2.4 Tăng cường phối hợp với cha mẹ và cộng đồng trong tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 84
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp đề xuất 87
3.4 Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đề xuất 88
3.3.1 Mục đích khảo nghiệm 88
3.3.2 Nội dung, cách thức khảo nghiệm 88
3.3.3 Kết quả khảo nghiệm 89
Kết luận chương 3 92
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 93
1 Kết luận 93
2 Khuyến nghị 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
BCH TƯ Ban chấp hành trung ương CBQL Cán bộ quản lý
CSGD Cơ sở giáo dục ĐVTCĐ Đóng vai theo chủ đề
GD Giáo dục GDMN Giáo dục mầm non
GV Giáo viên GVMN Giáo viên mầm non
Trang 10DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số thông tin về các trường mầm non trên địa bàn thành phố
Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 41 Bảng 2.2 Quy mô lớp, học sinh các trường miền núi địa bàn thành phố Cẩm
Phả, tỉnh Quảng Ninh năm học 2019-2020 41 Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL, GV về các khái niệm công cụ 47 Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL, GV về HĐVC của trẻ mẫu giáo ở trường
mầm non 49 Bảng 2.5 Nhận thức của CBQL, GV về nội dung quản lý HĐVC cho trẻ mẫu
giáo ở trường mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm 52 Bảng 2.6 Thực trạng nội dung và yêu cầu trong thực hiện nội dung tổ chức hoạt
động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 54
Bảng 2.7 Thực trạng sử dụng phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho
trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 58 Bảng 2.8 Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo
quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 61 Bảng 2.9 Thực trạng thực hiện nội dung quản lý hoạt động vui chơi của trẻ
mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 63 Bảng 2.10 Thực trạng thực hiện phương pháp quản lý hoạt động vui chơi của
trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 66 Bảng 2.11 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động vui chơi
của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 67 Bảng 3.1 Kết quả khảo sát mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt
động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 90 Bảng 3.2 Kết quả khảo sát mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt
động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh 91
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Về lý luận
Giáo dục mầm non là giai đoạn khởi đầu, đặt nền móng cho sự hình thành
và phát triển nhân cách trẻ em, thời kỳ mầm non còn được gọi là thời kỳ vàng của cuộc đời Giáo dục mầm non nói chung, giáo dục mầm non đối với độ tuổi 3-6 tuổi có vai trò quan trọng trong việc hình thành những tiền đề cho sự phát triển nhân cách của con người Trong chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo, ngoài hoạt động học, hoạt động lễ - hội, hoạt động ngoài trời thì vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ, vui chơi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, giúp trẻ hình thành những yếu tố nền tảng của nhân cách theo mục tiêu giáo dục phát triển toàn diện, thông qua hoạt động vui chơi, trẻ được chuẩn bị tâm thế an toàn
để bước vào lớp 1
Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo và tạo ra các tình huống giáo dục để trẻ được giải quyết trong khi chơi là yếu tố quan trọng không chỉ đáp ứng nhu cầu giao tiếp, nhu cầu được chơi của trẻ mà còn giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lý mới trong nhân cách
Để trẻ tham gia hoạt động vui chơi một cách tích cực và đạt hiệu quả thì người GV mầm non cần hiểu đặc điểm của trẻ, hiểu về chương trình giáo dục cho trẻ mẫu giáo, xây dựng và tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm - đáp ứng tốt các yêu cầu giáo dục và nhu cầu, trạng thái phát triển của trẻ Bên cạnh vai trò của GV, yếu tố quản lý nhà trường mà chủ thể là người hiệu trưởng có ý nghĩa quan trọng, đảm bảo cho việc thực hiện có chất lượng hoạt động vui chơi để phát triển nhân cách cho trẻ Trong các nghiên cứu về giáo dục học mầm non, đã có công trình nghiên cứu về tổ chức hoạt động vui chơi nói chung cho trẻ mẫu giáo song làm thế nào
để đảm bảo hiệu quả thì vấn đề này cần thiết được nhìn nhận và nghiên cứu dưới góc độ quản lý giáo dục mầm non
Trang 121.2 Về thực tiễn
Những năm qua, từ khi cấp học mầm non thực hiện chương trình giáo dục mầm non mới (ban hành theo Thông tư số 17/2009), quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm đã được chú trọng đưa vào thực hiện đối với tất cả các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ ở các độ tuổi tại các cơ sở giáo dục mầm non trên phạm
vi toàn quốc Trong thực tiễn, việc thực hiện chương trình giáo dục trẻ mẫu giáo nói chung, quản lý thực hiện hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm tại các cơ sở giáo dục mầm non thuộc địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh hiện nay còn nhiều bất cập về năng lực của GV, về điều kiện cơ sở vật chất, về phối hợp giữa nhà trường và cha mẹ trẻ
Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm không chỉ truyền đạt kiến thức cho các cháu một cách thụ động mà các nhà giáo cần phải tạo ra các điều kiện, các cơ hội để mọi đứa trẻ được chủ động, sáng tạo, được tích cực hoạt động, tự chiếm lĩnh kiến thức và kinh nghiệm Để đạt được điều này, người giáo viên cần nắm được hứng thú, nhu cầu, trình độ, khả năng của từng trẻ trong lớp, trên cơ sở đó lựa chọn được nội dung, phương pháp phù hợp với từng nhóm, từng cá nhân trẻ Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm cần đảm bảo: Hứng thú, nhu cầu, kỹ năng, thế mạnh của mỗi trẻ đều được hiểu, đánh giá đúng và được tôn trọng Mỗi trẻ đều có cơ hội tốt nhất để thành công Môi trường giáo dục trong trường mầm non là tổ hợp những điều kiện tự nhiên, xã hội cần thiết trực tiếp ảnh hưởng đến mọi hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ Xây dựng môi trường giáo dục phù hợp góp phần thỏa mãn nhu cầu vui chơi và hoạt động của trẻ Qua đó, nhân cách của trẻ được hình thành và phát triển toàn diện
Trước vấn đề ý nghĩa và cấp bách trên, các trường mầm non trên địa bàn thành phố Cẩm Phả nói chung và các trường mầm non miền núi tại địa bàn đã
nỗ lực triển khai các hoạt động vui chơi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Trên thực tiễn, năng lực của GVMN, CBQL được nâng lên hàng năm, tuy nhiên hiệu quả còn chưa cao do hạn chế các khâu lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, triển khai và kiểm tra giám sát công tác quản lý hoạt động vui
Trang 13chơi nhiều bất cập Là một người quản lý tại trường mẫu giáo trên địa bàn, rất mong muốn có nghiên cứu cụ thể về HĐVC cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non TP Cẩm Phả Với lý do
trên tác giả đề xuất đề tài “Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh” làm luận văn thạc sỹ, luận
văn có ý nghĩa sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn
2 Mục đích nghiên cứu
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh, góp phần nâng cao chất lượng
tổ chức hoạt động vui chơi, chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh hiện nay
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
đã được triển khai thực hiện và thu được một số kết quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng tốt yêu cầu của giáo dục trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Nếu đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục đảm bảo tính khoa học, tính thực tiễn, tính khả thi, tính đồng bộ để áp dụng trong công tác quản lý sẽ góp phần đảm bảo chất lượng hoạt động vui chơi theo quan điểm giáo
Trang 14dục lấy trẻ làm trung tâm sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục trẻ mẫu giáo
ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non
5.2 Khảo sát hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm và thực trạng quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
5.3 Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận, gồm: Phương pháp tổng hợp, hệ
thống hoá, phân tích tài liệu; phương pháp lịch sử Đề tài sử dụng các phương
pháp trên để nghiên cứu lịch sử, xác định khái niệm và xây dựng cơ sở lý luận
về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non
Trang 157.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn, gồm:
7.2.1 Phương pháp quan sát: Sử dụng phương pháp quan sát để thu thập
thông tin về thực trạng tổ chức và quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả , tỉnh Quảng Ninh
7.2.2 Phương pháp điều tra bằng ankét: Tác giả tiến hành lấy ý kiến của
các đối tượng nghiên cứu thông qua phiếu điều tra, bảng hỏi nhằm làm rõ thực trạng quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
7.2.3 Phương pháp chuyên gia: Tác giả trưng cầu ý kiến chuyên gia về
các nội dung nghiên cứu, đánh giá thực trạng nghiên cứu, đánh giá về tính khoa học và tính khả thi của các biện pháp đề xuất
7.2.4 Phương pháp khảo nghiệm: Khảo nghiệm tính khoa học và tính cần
thiết của các biện pháp đề xuất qua ý kiến của cán bộ QLGD, GV các trường mầm non thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
7.3 Phương pháp bổ trợ: Sử dụng các phương pháp thống kê toán học để tổng
hợp, phân tích số liệu làm cơ sở đánh giá định lượng và định tính cho các kết quả nghiên cứu thực trạng
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non
Chương 2 Thực trạng quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo
quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3 Biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo
quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở các trường mầm non địa bàn miền núi thành phố Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG VUI CHƠI
CỦA TRẺ MẪU GIÁO THEO QUAN ĐIỂM GIÁO DỤC LẤY TRẺ
LÀM TRUNG TÂM Ở TRƯỜNG MẦM NON
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Giáo dục mầm non là cấp học đầu tiên trong hệ thống giáo dục quốc dân,
có vai trò quan trọng trong việc hình thành những cơ sở nền tảng cho sự phát triển lâu dài về nhân cách của con người Vì vậy, hầu hết các quốc gia và các tổ chức giáo dục quốc tế đều rất quan tâm đến công tác giáo dục trẻ mầm non; đã
có nhiều nhà khoa học nghiên cứu đưa ra các giải pháp nhằm đảm bảo và nâng cao chất lượng GDMN
Vào thời Khổng Tử, ông đã có phương pháp giáo dục, học là phải luyện tập thường xuyên thì mới giúp con người có những nét tính cách riêng Qua nhận định “Học mà cứ thường thường tập luyện thì trong bụng lại không thỏa thích hay sao?” và học phải đi đôi với luyện tập để trở thành thói quen, hình thành những nét tính cách ngay từ lúc nhỏ “tập được từ lúc nhỏ như thiên tính, thói quen như tự nhiên” Với phương pháp này ông muốn những nhà giáo dục phải thường xuyên
tổ chức phương pháp luyện tập trong quá trình giáo dục con người [17]
Tác giả J.A Cômenxki (1592 - 1670) đã đặt cơ sở cho khoa học sư phạm Ông cho rằng nguyên tắc phù hợp với tự nhiên là nguyên tắc cơ bản của công tác GD Theo ý kiến của ông, để GD đạt được kết quả tốt nhà sư phạm cần nghiên cứu những quy luật tự nhiên và đi theo các quy luật của tự nhiên của sự hình thành nhân cách trong tổ chức các hoạt động cho trẻ Ông nhấn mạnh đến tự nhiên bao quanh con người, tổ chức các HĐVC theo hướng hòa nhập với môi trường tự nhiên xung quanh trẻ để giúp trẻ phát triển nhân cách Cho đến nay, nguyên tắc phù hợp với tự nhiên do Cômenxki nêu lên vẫn giữ được ý nghĩa của nó
Trang 17Với trẻ em, chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển khả năng suy nghĩ
và giao tiếp Nhà tâm lý học Lêônchiev khẳng định: Hoạt động vui chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo Thông qua trò chơi giúp trẻ hình thành và phát triển cấu trúc tâm lý mới trong nhân cách của trẻ Hoạt động chơi tạo ra những biến đổi về chất, có ảnh hưởng quyết định đến sự hình thành nhân cách trẻ mẫu giáo và chơi là tiền đề cho hoạt động học tập ở lứa tuổi tiếp theo [1]
Maria Montessori (1896 - 1952) là bác sĩ, nhà tâm lí GD của nước Ý đã dựa trên nền tảng của tâm lí học phát triển và cho rằng trẻ em là một chủ thể tích cực, chủ động, tự lựa chọn nội dung và tiến hành hình thức học tập của mình một cách độc lập Hình thức học này gọi là “hoạt động tự do”, “vui chơi tự do” Trong quá trình CSGD trẻ em bà đưa ra tám nguyên tắc GD cơ bản Trong đó nguyên tắc “vui chơi và nhận thức” được nhắc đến đầu tiên Bà nhấn mạnh trẻ chỉ được phát triển khi trẻ vui chơi, bà cho rằng vui chơi và nhận thức có mối quan hệ với nhau, suy nghĩ và vui chơi là một quá trình, GD nên tăng cường các hoạt động vui chơi để mở đường cho hoạt động nhận thức của trẻ (dẫn theo, [15])
Spodek (1990) nhà giáo dục người Mỹ cho rằng người lớn chúng ta không thể quyết định dạy trẻ cái gì (nội dung) mà quên đi trẻ em học thế nào, bởi vì
“học như thế nào” liên quan nhiều đến phương pháp Nội dung chương trình (học cái gì), các quá trình học (học như thế nào), các chiến lược giảng dạy (dạy như thế nào), môi trường (hoàn cảnh học) và các chiến lược đánh giá (cho biết việc học tập xảy ra như thế nào) là những vấn đề có quan hệ qua lại với nhau và tạo nên chương trình GDMN (Brekdekamp, 1992)
Tác giả Tina Bruce (1991) chuyên gia GDMN của Úc đã nghiên cứu và tóm tắt về giá trị của việc chơi đùa như sau: “Các nghiên cứu về não bộ, cũng như nghiên cứu trong các lĩnh vực khác đã cho thấy ngày càng rõ hơn về nhu cầu được vui chơi của tuổi thơ Chơi đùa đóng vai trò là cơ chế tiếp sức cho những suy nghĩ mang tính can đảm, sáng tạo và nghiêm túc ở tuổi trưởng thành” (dẫn theo, [15])
Trang 18Trong “Sổ tay hiệu phó chuyên môn”, tác giả A.I.Vaxiliepva đánh giá rất cao tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ Tác giả cho rằng muốn quản lý tốt hoạt động này thì người quản lý phải quan sát và phân tích được HĐVC của trẻ và nắm vững đặc điểm riêng biệt của các trò chơi thì mới bồi dưỡng tốt cho GV về công tác tổ chức HĐVC Tác giả nhấn mạnh
“Quan sát và phân tích HĐVC đó là một việc rất phức tạp Điều này gắn liền với ý nghĩa của trò chơi trong sự phát triển nhân cách của trẻ mẫu giáo, với vị trí của nó trong quá trình giáo dục ở trường mầm non, với những thể loại trò chơi khác nhau cùng những đặc điểm riêng biệt Nếu người lãnh đạo nắm vững đặc điểm riêng biệt này thì việc phân tích HĐVC sẽ được sâu sắc hơn và có thể giúp đỡ các cô giáo mẫu giáo một cách kịp thời” [2]
1.1.2 Các nghiên cứu ở trong nước
Trong cuốn “Hướng dẫn tổ chức HĐVC”, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Chúc (1981) đã đề cập đến các loại trò chơi, mức độ các mối quan hệ trong trò chơi của trẻ Đó là: chơi không có tổ chức, chơi một mình, chơi cạnh nhau, chơi với nhau trong một thời gian ngắn, chơi với nhau lâu trên cơ sở hứng thú với nội dung chơi Tác giả khẳng định kết quả của hai mức độ cuối phụ thuộc vào kỹ năng hướng dẫn trẻ chơi của mỗi GV [10]
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hà nghiên cứu việc “Tổ chức cho trẻ vui chơi ở trường mẫu giáo” với nhiều nội dung rất phong phú, đa dạng đã có kết luận rằng “Việc tổ chức cho trẻ vui chơi và việc hướng dẫn các trò chơi cho trẻ có những nội dung, phương pháp khác nhau” và “GV phải nắm được tình hình vui chơi của trẻ trong lớp và các phương pháp hướng dẫn để phát triển trò chơi cho trẻ” [14]
Trong cuốn “Tổ chức, hướng dẫn trẻ mẫu giáo chơi”, các tác giả Nguyễn Thị Ánh Tuyết, Nguyễn Thị Hòa, Đinh Văn Vang cũng đã nói rất nhiều về tầm quan trọng của việc tổ chức HĐVC cho trẻ và nhấn mạnh “Tổ chức chơi cho trẻ
là tổ chức cuộc sống của trẻ” [22]
Trang 19Trong Tài liệu bồi dưỡng CBQL và GVMN (2006), Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng nhấn mạnh “Vui chơi là hoạt động chủ đạo, có tác dụng giáo dục và phát triển trẻ toàn diện, GV cần hiểu rõ tầm quan trọng và cách thức tiến hành, đánh giá HĐVC theo những yêu cầu mới trong chương trình GDMN” [5]
Bên cạnh những nghiên cứu sâu về hoạt động vui chơi của trẻ, đã có nhiều nghiên cứu về tiếp cận quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm trong tổ chức hoạt động vui chơi:
Tác giả Đặng Lộc Thọ (2017) với bài báo “Tổ chức hoạt động giáo dục
lấy trẻ làm trung tâm nhằm phát triển năng lực cho trẻ” đã phân tích và khẳng
định để thực hiện nguyên tắc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, GV cần nhận thức đúng đắn và đầy đủ về bản chất khái niệm; Việc tổ chức các hoạt động giáo dục
từ khâu chuẩn bị, tiến hành đến các trải nghiệm sau hoạt động giáo dục cần hướng đến mục tiêu phát huy tính tích cực, chủ động của trẻ, giúp trẻ học tập một cách có hiệu quả, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục, đào tạo nên lớp người lao động thích ứng được với yêu cầu mới của xã hội
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2017) với bài báo “Xây dựng môi trường
tâm lý-xã hội theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm” và Vũ Hoàng
Vân (2017) bài báo “Thiết kế môi trường chơi trong góc học tập cho trẻ mẫu
giáo theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm” đã khẳng định GV mầm non là
người quyết định chất lượng chăm sóc - giáo dục trẻ, tạo cho trẻ góc chơi đặc thù mới phát huy được kĩ năng phù hợp với đặc điểm nhân cách, trí tuệ của trẻ Qua các công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy, các tác giả đều đánh giá cách tiếp cận tốt nhất để giáo dục trẻ là lấy trẻ làm trung tâm và ứng dụng phương pháp dạy học tích cực để thúc đẩy sự phát triển tính chủ động, tích cực, khả năng tư duy phản biện và giải quyết vấn đề cho trẻ, bài viết
“Chăm sóc, giáo dục trẻ theo hướng tiếp cận lấy trẻ làm trung tâm tại trường mầm non thực hành Hoa Thủy Tiên” của Lưu Thị Nam (2017) đánh giá rằng
nhà trường đã vận dụng nhiều phương pháp dạy học khác nhau trong mọi hoạt
động của trẻ
Trang 20Luận văn thạc sĩ “Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở
trường mầm non thành phố Hải Dương” của tác giả Trần Thị Mùi đã nghiên
cứu về hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo, quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non, các biện pháp quản lý hoạt động vui chơi trẻ mẫu giáo ở trường mầm non, thực trạng quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo ở trường mầm non thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương; biện pháp quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo ở trưởng mầm non thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương
Có thể nói trong các nghiên cứu về GDMN đã có một số công trình nghiên cứu về chương trình GD, về các hoạt động giáo dục, về cách tổ chức các HĐVC và phát triển năng lực cho GV tổ chức HĐVC cho trẻ nhưng đến nay chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non thuộc địa bàn miền núi với những đặc trưng về văn hóa, nhu cầu giáo dục, điều kiện địa phương theo hiểu biết của người nghiên cứu Những cơ sở khoa học trên là căn cứ khoa học để tác giả triển khai thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu
của đề tài
1.2 Một số khái niệm công cụ
1.2.1 Hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
Khác với hoạt động vui chơi nói chung của con người, hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo là hoạt động trẻ mô phỏng, tái tạo lại các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, con người với con người trong xã hội bằng việc nhập vai hay đóng vai một nhân vật nào đó
Theo A.N.Lêônchiev, vui chơi là hoạt động có động cơ nằm trong quá trình chơi của trẻ, khi chơi trẻ không chủ tâm vào một lợi ích thiết thực nào Chơi mang lại cho trẻ một trạng thái tinh thần vui vẻ, phấn khởi, dễ chịu Vui chơi cần cho mọi người ở mọi độ tuổi Đối với trẻ mẫu giáo, vui chơi là hoạt động tạo nên cuộc sống của chúng [1]
Trang 211.2.2 Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến mọi yếu tố trong hệ thống nhằm đảm bảo chu trình vận hành của các cơ quan trong hệ thống giáo dục và duy trì, phát triển hệ thống cả về số lượng và chất lượng Hay nói cách khác, QLGD là một quá trình diễn ra những tác động quản lý, đó là những hoạt động điều hành các lực lượng giáo dục nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội
Nhà trường là đơn vị cơ sở của hệ thống giáo dục, nơi tổ chức các hoạt động giáo dục để hình thành nhân cách cho con người đáp ứng yêu cầu của xã hội Để nhà trường vận hành hiệu quả cần thiết phải thực hiện chức năng quản
lý, nhà trường cần được quản lý bởi vai trò của các nhà quản lý mà đứng đầu là hiệu trưởng nhà trường
Từ khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, hoạt động vui
chơi của trẻ mẫu giáo, có thể hiểu: Quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo là hệ
thống tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhà trường đến các yếu tố của hệ thống sư phạm nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ, kế hoạch tổ chức HĐVC để hình thành và phát triển nhân cách cho trẻ mẫu giáo theo mục tiêu của HĐVC nói riêng, mục tiêu giáo dục mầm non nói chung
1.2.3 Quản lý phát triển chương trình giáo dục mầm non
* Phát triển chương trình
Chương trình là một nhóm có hệ thống và trình tự các môn học cần phải
có để được tốt nghiệp hoặc được chứng nhận hoàn thành một ngành học, lĩnh vực học
Theo Hilba Taba (1962): Chương trình là một bản kế hoạch học tập, bao gồm 4 yếu tố: Tuyên bố mục đích và mục tiêu cụ thể; Lựa chọn cấu trúc nội dung chương trình; Chiến lược giảng dạy, cách học phù hợp và Hệ thống đánh
Trang 22Theo Ronald C.Doll (1996), “Chương trình của nhà trường là nội dung giáo dục và các hoạt động chính thức và không chính thức; quá trình triển khai nội dung hoạt động, thông qua đó người học thu được sự hiểu biết, phát triển kỹ năng, thái độ, tình cảm và các giá trị đạo đức dưới sự tổ chức của nhà trường” Như vậy, phát triển chương trình đó là quá trình phát triển theo chiều hướng tích cực đi lên về kế hoạch học tập, trong bản thiết kế thể hện bốn thành
tố đó là mục đích, nội dung, phương thức và cách thức đánh giá chương trình của nhà trường
Phát triển chương trình giáo dục là một phạm trù quan trọng trong quá trình định hướng, tổ chức các hoạt động giáo dục, làm cho giáo dục nói chung và chương trình giáo dục nói riêng ngày càng trở nên hoàn thiện và hiệu quả hơn Phát triển CTGD còn được xem là một hoạt động, một quá trình xem xét các tác động từ xã hội để hoạch định chương trình, thực thi chương trình, cải tiến chương trình và đánh giá chương trình
Phát triển CTGD là một quá trình liên tục nhằm hoàn thiện không ngừng CTGD cho tương thích với trình độ phát triển của kinh tế - xã hội, khoa học và công nghệ, của đời sống xã hội nói chung Theo quan điểm này, CTGD là một
thực thể không phải được thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi mà được phát triển, bổ sung, hoàn thiện tuỳ theo sự thay đổi của trình độ phát triển kinh tế -
xã hội, của thành tựu khoa học - kĩ thuật và công nghệ, và cũng là theo yêu cầu của thị trường sử dụng lao động Nói cách khác, một khi mục tiêu đào tạo của nền giáo dục quốc dân thay đổi để đáp ứng nhu cầu xã hội thì CTGD cũng phải thay đổi theo, mà đây lại là quá trình diễn ra liên tục nên CTGD cũng phải không ngừng được phát triển và hoàn thiện (Nguyễn Đức Chính 2008, Giáo trình Phát triển chương trình giáo dục, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội)
* Phát triển chương trình giáo dục mầm non
Phát triển chương trình giáo dục có thể hiểu là việc điều chỉnh, thay đổi hay cấu trúc lại chương trình giáo dục cho phù hợp hơn với yêu cầu của thực
Trang 23tiễn, phù hợp hơn với đối tượng người học và thậm chí cả đối với người dạy Theo đó, phát triển chương trình giáo dục bao hàm cả việc biên soạn hay xây dựng một chương trình mới hoặc cải tiến một chương trình giáo dục hiện có Thuật ngữ “phát triển” chương trình giáo dục khi ấy có ý nghĩa bao trùm cả xây dựng, thiết kế hay biên soạn chương trình giáo dục, vì “phát triển” bao hàm cả
sự thay đổi, bổ sung liên tục Phát triển là một chu trình mà điểm kết thúc sẽ lại
là điểm khởi đầu cho một chu trình mới Kết quả của phát triển chương trình là một chương trình giáo dục mới và ngày càng tốt hơn nữa Còn hoạt động xây dựng, thiết kế, biên soạn chương trình chỉ có ý nghĩa là một quá trình và kết quả dừng lại khi chúng ta có một chương trình mới
Từ quan niệm về cấu trúc của chương trình giáo dục trên đây ta thấy, việc phát triển chương trình giáo dục chính là quá trình liên tục điều chỉnh hay thay đổi về: mục đích giáo dục, nội dung giáo dục, phương thức giáo dục và đánh giá trong giáo dục Mục đích cuối cùng của sự thay đổi ấy chính là để chương trình giáo dục ngày càng hoàn thiện hơn; phù hợp với đối tượng người học hơn, phù hợp với điều kiện thực tiễn hơn và đặc biệt là phù hợp với hiện thực sự phát triển của xã hội hơn
Như vậy, Phát triển CTGD mầm non là quá trình nhà trường cụ thể hóa
CTGD quốc gia sao cho phù hợp ở mức cao nhất với thực tiễn của từng trường mầm non Trên cơ sở đảm bảo yêu cầu chung của CTGD quốc gia,CBQL trường mầm non sẽ lựa chọn, xây dựng nội dung và xác định cách thức thực hiện phản ánh đặc trưng và phù hợp với thực tiễn nhà trường nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của trẻ, thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục
* Quản lý phát triển chương trình giáo dục mầm non
Quản lý phát triển chương trình giáo dục mầm non là hệ thống tác động
có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhà trường đến quá trình nhà trường
cụ thể hóa CTGD quốc gia sao cho phù hợp ở mức cao nhất với thực tiễn của từng trường mầm non nhằm đạt các mục tiêu đặt ra
Trang 241.2.4 Quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là quan điểm giáo dục định hướng nằm trong chương trình giáo dục suốt đời Giáo dục lấy trẻ làm trung tâm là cách thức tổ chức hoạt động giáo dục nhằm tạo cơ hội cho trẻ tự khám phá, trải nghiệm để tìm tòi các khái niệm và thông tin mới với sự hỗ trợ, khuyến khích
và hướng dẫn của GV xuất phát từ đặc điểm tâm lý, sinh lý, đặc điểm cá nhân của trẻ Đặt trẻ vào vị trí “trung tâm” của quá trình giáo dục đi đôi với việc khẳng định vai trò chủ đạo của GV mầm non
Quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch của hiệu trưởng nhà trường đến quá trình tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo xuất phát từ nhu cầu, hứng thú, hiểu biết, kinh nghiệm của từng đứa trẻ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức hoạt động vui chơi trong phát triển toàn diện nhân cách trẻ, đáp ứng mục tiêu của giáo dục mầm non
1.2.5 Biện pháp quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Biện pháp là cách làm cụ thể, cách thực hiện cụ thể một công việc nào đó nhằm đạt được mục đích đề ra
Biện pháp quản lý HĐVC của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non là cách làm, cách thức tổ chức, quản lý của hiệu trưởng đối với HĐVC của trẻ mẫu giáo theo hướng xuất phát từ nhu cầu, hứng thú, hiểu biết, kinh nghiệm của từng đứa trẻ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tổ chức hoạt động vui chơi trong phát triển toàn diện nhân cách trẻ, đáp ứng mục tiêu của giáo dục mầm non
1.3 Một số vấn đề lý luận về tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non
1.3.1 Đặc điểm phát triển của trẻ mẫu giáo
Trẻ mẫu giáo là trẻ em từ 3-6 tuổi, giai đoạn cuối cùng của lứa tuổi mầm non, chuẩn bị vào học lớp một Ở trẻ mẫu giáo, các cấu tạo tâm lý đặc trưng
Trang 25của con người đang được hình thành và phát triển mạnh mẽ Những thuộc tính tâm lý hình thành, phát triển được ở độ tuổi này là điều kiện hết sức quan trọng
để tạo ra một sự chuyển tiếp mạnh mẽ ở độ tuổi sau Độ tuổi này trẻ yêu thích
và có khả năng tập trung để hiểu và chấp nhận luật lệ của các trò chơi, trong lớp đã tập trung để lắng nghe các câu chuyện kể Đa số trẻ trong giai đoạn này phát triển tốt kỹ năng sử dụng bàn tay, biết cầm bút chì và cắt bằng kéo, nhận
ra sự khác biệt của các hình khối, biết phân biệt lớn - bé, cao - thấp, gần - xa Một đặc điểm tâm lý quan trọng trong độ tuổi này là ý thức bản ngã (cái tôi) đã hình thành ở lứa tuổi nhà trẻ tiếp tục phát triển mạnh Trẻ biết phân biệt một cách rõ ràng giữa bản thân và những người xung quan, có ý thức về tính sở hữu, biết cái gì của mình và cái gì của người khác Tuy nhiên điều này tùy thuộc khá nhiều vào cách giáo dục của cha mẹ và GV
Hoạt động của trẻ 3-6 tuổi chủ yếu xoay quanh các mối quan hệ trong gia đình và nhà trường Trẻ thích chơi với đồ chơi của mình ở nhà nhưng cũng biết chia sẻ đồ chơi với các bạn ở trường.Lứa tuổi này phát triển khá hoàn chỉnh về khả năng giao tiếp, trẻ có thể nói những câu đầy đủ về cấu trúc ngữ pháp, đôi khi phức tạp; cũng có thể hiểu được những câu nói dài của người khác Điều này là
cơ sở cho trẻ tiếp nhận những kiến thức của lớp một và các cấp học tiếp theo
HĐVC mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề là hoạt động chủ đạo, chi phối toàn bộ đời sống của trẻ; các quá trình tâm lý của trẻ cũng phát triển mạnh Tư duy trực quan hình tượng chiếm ưu thế và bắt đầu nảy sinh những yếu
tố của tư duy logic Cũng chính ở lứa tuổi này, trẻ có nhu cầu rất lớn trong việc tìm hiểu và tham gia tích cực vào cuộc sống xã hội trong mối quan hệ với gia đình, hàng xóm, các bạn ở trường mầm non Hiểu được đặc điểm tâm lý của trẻ giai đoạn này giúp GV và cha mẹ biết cách chăm sóc giáo dục trẻ tốt hơn
1.3.2 Khái quát về hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
1.3.2.1 Bản chất hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
Vui chơi là hoạt động xuất hiện khá sớm trong cuộc sống của con người Trước 3 tuổi, trẻ đã có thể chơi với đối tượng (trò chơi với đồ dùng, đồ chơi) qua sự thao tác vai (trẻ đóng vai người mẹ chăm sóc em bé búp bê ) song chơi
Trang 26chưa phải là hoạt động chủ đạo của trẻ Nhờ có sự phát triển của tự ý thức, của các quan hệ xã hội, kỹ năng xã hội được mở rộng đặc biệt là sự phát triển ngôn ngữ, trẻ 3-6 tuổi trải nghiệm với vai trò chủ thể trong hoạt động vui chơi - vui chơi là hoạt động chủ đạo của trẻ mẫu giáo
Bản chất hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo là quá trình trẻ tự tổ chức,
tự điều khiển các hành động chơi để thỏa mãn nhu cầu tự nhiên và xã hội của mình dưới vai trò chủ đạo của GV mầm non
1.3.2.2 Đặc điểm hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo
Chơi của trẻ em không phải là thật mà là sự mô phỏng, là hoạt động có tính chất mô hình hóa những hoạt động thật dưới sự tưởng tượng và thể hiện của trẻ nhưng tất cả những gì trẻ thể hiện ra trong khi chơi như nhận thức, thái
độ, tình cảm lại rất chân thật Khi trẻ đóng vai mẹ chăm sóc con ốm là giả vờ nhưng tình cảm và hành động của trẻ bộc lộ là những tình cảm của người mẹ có con ốm thật: Trẻ lo lắng khi con sốt cao, nâng niu con trên tay, đối xử nhẹ nhàng, âu yếm với con Hoạt động vui chơi của trẻ là hoạt động mang màu sắc xúc cảm chân thực mạnh mẽ, trẻ em chơi với tất cả sự say mê và lòng nhiệt tình vốn có của nó Trò chơi tác động mạnh mẽ đến trẻ em bởi nó thâm nhập dễ dàng vào thế giới tình cảm của trẻ mà tình cảm đối với trẻ lại là động cơ hành động mạnh mẽ nhất
Chơi là hoạt động không nhằm tạo ra sản phẩm (kết quả vật chất) nhưng có ý nghĩa quan trọng, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, nhu cầu được
chơi của trẻ Nhà giáo dục học Nga- K.Đ Usinxki nói “Trẻ chơi vì là chơi,
chơi để mà chơi, chơi mang lại niềm vui cho trẻ Khi trẻ phải chơi theo sự áp đặt của người lớn thì lúc ấy, trò chơi không còn là trò chơi theo đúng nghĩa của nó nữa” Khác với các hoạt động khác ở thực tiễn này của trẻ và các kỹ
năng của người lớn, hoạt động vui chơi của trẻ em mang tính vô tư, trong sáng Khi chơi, trẻ không chủ tâm nhằm tới những lợi ích thiết thực nào, vui
là thuộc tính vốn có của trò chơi đối với trẻ MG (dẫn theo [25])
Trang 27Chơi là một hoạt động độc lập, tự điều khiển, mang tính sáng tạo và tự
do của trẻ Hơn bất kỳ một hoạt động nào, khi tham gia vào trò chơi, đứa trẻ bộc lộ hết mình một cách tự do, tích cực và chủ động nhất, chơi là hoạt động độc lập, tự chủ đầu tiên của trẻ em Trong khi chơi, trẻ tự làm lấy mọi việc (từ chọn bạn chơi, trò chơi, đồ chơi đến thỏa thuận luật chơi, vai chơi và các hành động chơi, điều chỉnh ) Đặc biệt là trẻ luôn cố gắng để khắc phục những trở ngại xuất hiện trong quá trình chơi Tính sáng tạo của trẻ em thể hiện rõ nét trong quá trình chơi Khi chơi, trẻ không “sao chép” cuộc sống mà bắt chước những gì trẻ nhìn thấy, nghe thấy và cảm nhận được từ cuộc sống, trẻ em phối hợp những biểu tượng đã biết vào trò chơi của mình không theo một khuôn mẫu nào
Một biểu hiện độc đáo của tính độc lập đó là sự tự điều chỉnh hành vi của trẻ khi chơi để phù hợp với những yêu cầu của trò chơi và bạn chơi, đứa trẻ luôn phải tự điều chỉnh hành vi của mình, nếu không sẽ bị loại ra khỏi trò chơi
Chơi là hoạt động mang tính tự do của trẻ Khác với hoạt động lao động, học tập, vui chơi không buộc phải tuân thủ một phương thức nào chặt chẽ Nhờ
đó, trẻ có những hành động tự do Sẽ không thể chơi được nếu như hành động của trẻ em phụ thuộc nghiêm ngặt vào thế giới hiện thực Tuy vậy, sự tự do của trẻ phải nằm trong giới hạn của vai chơi và luật chơi Tính tự do ở hoạt động chơi của trẻ còn thể hiện ở chỗ hoạt động chơi là hoàn toàn xuất phát từ nguyện vọng, hứng thú cá nhân và nhu cầu được chơi của trẻ chứ không do một sự áp đặt nào từ ngoài vào
Hoạt động vui chơi mang tính tượng trưng cao Trong khi chơi, trẻ em có thể sử dụng vật thay thế, tượng trưng cho người và vật thật Chính sự mô phỏng
đó lại là điều kiện cần thiết giúp trẻ em có được những hành động tự do, thoải mái,
có niềm say mê đến tận cùng với bao ước mơ ngộ nghĩnh và thú vị, làm nảy sinh
và phát triển trí tưởng tượng sáng tạo Từ đó mà hình thành chức năng ký hiệu- tượng trưng, một chức năng tâm lý cần thiết cho hoạt động sống của con người
Trang 28Nội dung trò chơi của trẻ em phản ánh cuộc sống hiện thực xung quanh trẻ Trong quá trình chơi, có sự kết hợp hài hòa giữa hình ảnh nhân vật, hành động chơi và lời nói với nhau, chúng tạo thành phương tiện để phản ánh hiện thực Khi chơi, trẻ em sống bằng các hành động và tình cảm của nhân vật, trẻ
cố gắng hành động phù hợp với nhân vật mà chúng đóng vai, nhân vật ấy nhiều khi cuốn hút toàn bộ tâm trí trẻ Bằng ngôn ngữ của mình, trẻ cùng nhau trao đổi, thỏa thuận, làm chính xác ý định chơi và vạch ra nội dung chơi
1.3.2.4 Ý nghĩa của hoạt động vui chơi đối với sự phát triển nhân cách trẻ mẫu giáo
Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ 3 đến 6 tuổi, cụ thể:
- Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển thể chất cho trẻ: Việc tổ chức các trò chơi vận động, trò chơi dân gian trong và ngoài lớp học với sự huy động phối hợp của các quá trình sinh học, hệ vận động giúp trẻ tăng cường sức khỏe, bảo đảm sự tăng trưởng hài hoà, cân đối; rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo cơ bản và những phẩm chất vận động
- Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển trí tuệ cho trẻ: Tổ chức trò chơi học tập, trò chơi đóng vai theo chủ đề, lắp ghép- xây dựng giúp trẻ củng cố, chính xác hóa, đồng thời làm phong phú vốn hiểu biết của trẻ về cuộc sống xung quanh và về bản thân; phát triển nhu cầu, xúc cảm trí tuệ và hứng thú nhận thức; giúp trẻ hình thành và phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, phát triển ngôn ngữ
- Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển đạo đức cho trẻ: Tạo điều kiện hướng trẻ đến với cái đẹp trong hành vi giao tiếp, ứng xử, từ đó, trẻ
dễ tiếp nhận các quy tắc đạo đức và thực hiện nó một cách tự giác; Thông qua hoạt động vui chơi, một số phẩm chất đạo đức cần thiết của con người trong hoạt động tập thể như: thông cảm, chia sẻ, hòa nhập, đoàn kết, nhân ái, dũng cảm cũng được hình thành
Trang 29- Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển thẩm mỹ cho trẻ; tạo điều kiện để trẻ cảm nhận cái đẹp trong tự nhiên, nghệ thuật và cuộc sống Trong hoạt động vui chơi, trẻ có điều kiện để đến với cái đẹp, thể hiện năng lực sáng tạo cái đẹp
- Vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển lao động cho trẻ: Hình thành cho trẻ nhận thức về lao động của người lớn; hình thành những phẩm chất của người lao động như biết tôn trọng, yêu quý người lao động, giữ gìn sản phẩm lao động; giáo dục trẻ biết sử dụng, bảo quản đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu lao động; giáo dục một số kĩ năng lao động giản đơn: lao động
tự phục vụ, lao động thủ công, lao động trực nhật, lao động tập thể
1.3.3 Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo ở trường mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
1.3.3.1 Mục tiêu tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thực hiện mục tiêu chung của giáo dục mầm non đối với trẻ mẫu giáo là giúp trẻ phát triển toàn diện về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em bước vào lớp một
Bên cạnh đó, khác với tổ chức hoạt động giáo dục quan điểm lấy GV làm trung tâm, tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm thực hiện mục tiêu phát triển năng lực chung, đặc biệt
là năng lực giải quyết các vấn đề thực tiễn, phát triển kĩ năng sống để trẻ từng bước thích ứng được với đời sống xã hội; tôn trọng nhu cầu, sở thích, lợi ích và khả năng riêng của trẻ Các trường mầm non cần tập trung giải quyết vấn đề giáo dục nói chung, đặc biệt là các vấn đề thực tiễn nhằm phát triển vào kỹ năng sống, kỹ năng nhận thức
Trang 301.3.3.2 Nội dung và yêu cầu trong thực hiện nội dung hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Nội dung hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo là hệ thống tri thức sơ đẳng phản ánh cuộc sống hiện thực xung quanh về thế giới tự nhiên, các quan hệ xã hội giữa con người với con người và bản thân trẻ; hệ thống kỹ năng và thái độ, tình cảm phù hợp với hệ giá trị chuẩn mực xã hội được trẻ mô phỏng, tái hiện trong trò chơi, trong đó nhấn mạnh tác động kích thích tạo cho trẻ say mê, hứng thú với chủ đề tại lớp Trong đó, các nội dung này được thiết kế thành các chủ
đề giáo dục phù hợp với mục tiêu của giáo dục cho trẻ từ để tổ chức cho trẻ hoạt động, chiếm lĩnh thông qua các dạng trò chơi và quá trình tổ chức hoạt động vui chơi Tiếp cận chủ đề giáo dục theo chương trình giáo dục mầm non hiện hành, nội dung hoạt động vui chơi của trẻ ở trường mầm non được thực hiện theo các chủ đề: Trường mầm non; Gia đình; Bản thân; Giao thông; Động vật; Nước và các hiện tượng tự nhiên; Thực vật; Tết và mùa xuân; Quê hương, đất nước, Bác Hồ; Trường tiểu học Phạm vi hiện thực mà trẻ tiếp xúc càng rộng bao nhiêu thì nội dung chơi càng phong phú bấy nhiêu và trẻ càng lớn thì nội dung chơi càng trở nên sâu rộng hơn
Theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, GV cần dựa trên kinh nghiệm, nhu cầu, khả năng của trẻ để lựa chọn, xây dựng nội dung hoạt động vui chơi phù hợp với từng đứa trẻ và nhóm lớp Muốn vậy, GV cần tìm hiểu mong muốn/nhu cầu của trẻ qua quan sát trẻ hằng ngày, qua trò chuyện với trẻ
và với cha mẹ trẻ; Xác định mục đích, nội dung chơi/ loại trò chơi trong kế hoạch GD trên cơ sở nhu cầu/ mong muốn của trẻ, mục tiêu theo độ tuổi đựa trên chương trình giáo dục mầm non, mục tiêu theo độ tuổi dựa trên Chuẩn phát triển trẻ mà GV nắm được; Tìm hiểu những hoạt động, sự kiện nổi bật đã-đang-
sẽ diễn ra nơi trẻ sinh sống, nơi trường đóng để đưa vào các nội dung chơi Các nội dung cần được xây dựng theo nhiều loại trò chơi đa dạng gắn với các chủ đề/dự án giáo dục để đáp ứng nhu cầu khám phá, học hỏi, sáng tạo của tất cả trẻ, phát triển các năng lực cá nhân của từng trẻ,
Trang 31Để mở rộng nội dung/nâng cao yêu cầu của trò chơi/ luật chơi để hỗ trợ trẻ bằng nhiều cách cần thông qua câu hỏi gợi mở; bổ sung thêm đồ chơi, nguyên vật liệu chơi; thay đổi luật chơi
1.3.3.3 Phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
a Phương pháp
Tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ có thể áp dụng các phương pháp tổ chức hoạt động giáo dục nói chung như: phương pháp trực quan- minh họa; phương pháp dùng lời nói; phương pháp giáo dục bằng tình cảm và khích lệ trẻ; phương pháp nêu gương, đánh giá
Mỗi loại trò chơi và hình thức chơi có cách thức đặc thù song dựa trên logic về tiến trình tổ chức, chúng tôi xác định phương pháp tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo các bước sau:
Bước 1: Chuẩn bị
- Chuẩn bị của cô: Cô chuẩn bị giáo án trong đó xác định rõ chủ đề chơi, mục tiêu giáo dục của trò chơi, số lượng trẻ tham gia vào trò chơi, nội dung và phương pháp và hình thức tổ chức; chuẩn bị cơ sở vật chất, địa điểm, môi trường để tổ chức HĐVC cho trẻ Cụ thể:
+ GV cần chuẩn bị đồ chơi, vật liệu chơi đa dạng, phù hợp: mỗi trò chơi khác nhau GV chuẩn bị các đồ chơi,nguyên vật liệu khác nhau; chủ động sưu tầm, chuẩn bị đồ chơi gắn với văn hóa của địa phương khu vực miền núi Yêu cầu đồ chơi: phải đa dạng, đảm bảo an toàn,nhiều màu sắc, phù hợp với đặc điểm của trẻ, có tính mở để phát huy năng lực sáng tạo của trẻ
+ Thiết kế, bố trí các góc/khu vực chơi đáp ứng/khuyến khích trẻ chơi
mà học: GV phải thiết kế, bố trí địa điểm chơi hấp dẫn, gợi mở, linh hoạt, thuận tiện cho việc chơi mà học của trẻ, các góc/ khu vực chơi được bày biện, trang trí với màu sắc, đồ chơi hài hòa, hấp dẫn trẻ, Các góc chơi, đồ chơi trong các góc được sắp xếp linh hoạt theo nội dung chủ đề/nội dung kế hoạch GD đang thực hiện, các góc chơi, đồ chơi đáp ứng với nhu cầu, hứng thú và khả năng khác nhau của trẻ và phù hợp với không gian của lớp, trường
Trang 32- Chuẩn bị của trẻ: Trẻ chuẩn bị trang phục gọn gàng, đồ dùng đồ chơi để trẻ chơi, tâm thế, nhu cầu và hứng thú
Bước 2: Tổ chức
* Thoả thuận trước khi chơi
Ở bước này, GV tổ chức, hướng dẫn, khuyến khích để trẻ tự lựa chọn theo nhu cầu, khả năng của bản thân trước và trong khi chơi, trẻ được lựa chọn góc/khu vực chơi, nhóm chơi; trẻ được được lựa chọn đồ chơi; được lựa chọn vai chơi, trò chơi Đối với trò chơi có luật, trẻ có thể xây dựng luật chơi hoặc điều chỉnh trò chơi hiện có để trẻ hứng thú của trẻ hơn
* Tổ chức quá trình chơi
- GV tổ chức, hướng dẫn khuyến khích để trẻ tự đưa ra quyết định trong quá trình chơi, trẻ được luân chuyển sang góc chơi, trò chơi mới khác, GV lắng nghe và chấp nhận các ý kiến của trẻ: cùng chia sẻ ý tưởng chơi với trẻ; Chấp nhận ý tưởng của trẻ, không áp đặt trẻ chơi theo ý của GV
+ GV hỗ trợ nhóm trẻ và hỗ trợ từng cá nhân trẻ đúng lúc: Trong quá trình chơi có thể trẻ không giải quyết được GV hỗ trợ trẻ tìm cách giải quyết
+ GV không vội vàng can thiệp vào các tình huống xảy ra trong khi chơi, bình tĩnh lắng nghe và đưa ra những lời khuyên phù hợp: Khi có tình huống xẩy ra trong khi chơi GV: Chú ý quan sát, lắng nghe; Không vội vàng can thiệp ngay khi chưa thực sự cần thiết; Để trẻ tự giải quyết tình huống
+ GV luôn tin tưởng, khuyến khích trẻ: Khen ngợi, động viên những thành công dù nhỏ của trẻ một cách kịp thơi; Không chê cười khi trẻ thất bại, động viên để trẻ tiếp tục cố gắng
- GV tạo cơ hội cho mọi trẻ được tham gia vào các trò chơi, góc chơi: Chuẩn bị các góc, các đồ chơi, các nguyên vật liệu đảm bảo cho mọi trẻ được hoạt động, trải nghiệm trong khi chơi; Khuyến khích tất cả trẻ tích cực tham gia vào trò chơi; Luân chuyển để trẻ được thay phiên nhau tham gia vào tất cả các trò chơi, góc chơi
Trang 33- GV tổ chức đa dạng các loại trò chơi/ các hoạt động để đáp ứng nhu cầu khám phá, học hỏi, sáng tạo của tất cả trẻ, phát triển các năng lực cá nhân, :
GV tổ chức hướng dẫn nhiều loại trò chơi: Đóng vai, đóng kịch, vận động, học tập, xây dựng, Tổ chức các hoạt động trải nghiệm đa dạng về nội dung, về hình thức tổ chức
- GV lồng ghép/ tích hợp nội dung giáo dục theo kế hoạch đang triển khai vào các trò chơi
- GV cần tận dụng các tình huống thực tế trong khi chơi để giúp trẻ trải nghiệm, thực hành học cách giải quyết vấn đề, khám phá cái mới: Trong tình huống thiếu đồ chơi cần dạy trẻ tìm đồ vật thay thế hoặc tìm cách chơi khác phù hợp hơn; Trong tình huống giữa trẻ có xung đột cần dạy trẻ học cách thỏa thuận, giải quyết mâu thuẫn bằng lời nói; Trong tình huống có thêm vật liệu chơi cần khuyến khích trẻ sáng tạo ra cái mới
- GV mở rộng nội dung/nâng cao yêu cầu của trò chơi/ luật chơi để hỗ trợ trẻ bằng nhiều cách như: thông qua câu hỏi gợi mở; bổ sung thêm đồ chơi, nguyên vật liệu chơi, thay đổi luật chơi
- GV tận dụng các tình huống thực tế trong khi chơi để giúp trẻ trải nghiệm, thực hành học cách giải quyết vấn đề, khám phá cái mới
* Kết thúc hoạt động chơi
GV tổ chức cho trẻ dừng trò chơi và hoạt động vui chơi khi phần lớn trẻ giảm nhu cầu và hứng thú chơi, khi đến thời điểm thực hiện hoạt động tiếp nối trong kế hoạch hàng ngày
Bước 3: Đánh giá
Đánh giá kết quả tổ chức hoạt động vui chơi là yêu cầu sư phạm khi kết thúc hoạt động chơi của trẻ GV gợi ý để trẻ nhận xét về buổi chơi dưới hình thức nhóm, cả lớp: Nhận xét những hành vi đạt được hay chưa đạt được của bản thân, của bạn trong quá trình chơi, sự thể hiện hành động của vai chơi Nên tránh tình trạng trẻ chỉ trích lẫn nhau, làm giảm hứng thú và hiệu quả của hoạt động chơi
Trang 34GV có thể cho trẻ tập chung vào một góc chơi chính để nhận xét Cô hướng dẫn cho trẻ nhận xét, đánh giá quá trình và sản phẩm chơi của trẻ, của bạn sau đó GV nhận xét, chủ yếu nên sử dụng biện pháp khen ngợi, động viên khuyến khích trẻ
b Hình thức
- Căn cứ số lượng trò chơi ở cùng một thời điểm, có các hình thức: Chơi
một trò chơi đơn nhất (Ví dụ: GV tổ chức một trò chơi vận động cho trẻ trong hoạt động học để củng cố kiến thức/kĩ năng của hoạt động học); Chơi nhiều trò chơi cùng một lúc (Ví dụ: Tổ chức cho các nhóm trẻ vui chơi với nhiều trò chơi
ở các góc khác nhau trong cùng một hời điểm nhờ đó mà trẻ được cùng tham gia vào nhiều nhóm chơi đa dạng)
- Căn cứ vào vai trò chủ thể của trẻ trong quá trình chơi, có các hình thức:
+ Chơi do trẻ khởi xướng: là hình thức trẻ tự do lựa chọn, tham gia các hoạt động chơi và từng loại trò chơi tùy ý thích, tự định ra cách thức tiến hành
và biết kiểm soát quá trình chơi dựa vào kinh nghiệm của trẻ, nếu lớp học được thiết kế các góc chơi, trẻ sẽ tự chọn góc, tham gia vào trò chơi trẻ hứng thú; GV đóng vai trò quan sát, khuyến khích hoạt động của trẻ bằng cách tạo điều kiện cho trẻ chơi (cung cấp đồ dùng, đồ chơi, dành thời gian để trẻ chơi), đặt ra những câu hỏi gợi mở để hướng dẫn trẻ, khen ngợi động viên trẻ và tiếp cận cá nhân khi cần thiết
+ Chơi do GV khởi xướng và được hướng dẫn trực tiếp: là hình thức trong
đó trẻ tham gia hoạt động chơi dưới sự định hướng chủ đề, nội dung, tổ chức các phương pháp, hình thức và điều khiển của cô
- Căn cứ vào thời điểm, mục đích của sử dụng trò chơi trong giáo dục trẻ gắn với chế độ sinh hoạt hàng ngày, có các hình thức:
+ Chơi trong giờ đón trẻ: trẻ chơi tự do các đồ dùng, đồ chơi, nguyên vật liệu mở ở trong lớp trong mối quan hệ với bạn mà trẻ thích
+ Chơi trong hoạt động học: GV thường sử dụng trò chơi và tổ chức trò chơi nhằm mục đích tạo hứng thú và củng cố kiến thức kỹ năng cho trẻ, thông
Trang 35thường là các trò chơi có luật như trò chơi vận động, trò chơi học tập Thông qua việc thực hiện luật chơi, trẻ giải quyết nhiệm vụ vận động hay nhiệm vụ nhận thức ở trong trò chơi đó một cách nhẹ nhàng, thoải mái Đây chính là ưu thế của giáo dục trẻ thông qua tổ chức hoạt động chơi, trẻ được „chơi bằng học, học bằng chơi“
+ Chơi và hoạt động ở các góc: Khi tổ chức hình thức này GV căn cứ vào
độ tuổi 3-4; 4-5 hay 5-6 tuổi để thiết kế và tổ chức cho trẻ chơi ở các góc hoạt động khác nhau theo bối cảnh lớp học, môi trường vật chất và không gian Không gian định hướng chơi được phân chia thành các góc chơi khác nhau (góc vận động, góc đóng vai, góc học tập, ), từ đó mà GV triển khai các hoạt động chơi cụ thể cho trẻ để thực hiện mục tiêu giáo dục
- Căn cứ vào địa điểm tổ chức có hình thức tổ chức hoạt động chơi trong
lớp (chơi ở các góc; chơi trong hoạt động làm quen với toán, hoạt động làm quen tác phẩm văn học ) và chơi ngoài trời (gắn với hoạt động ngoài trời, hoạt động tham quan, hoạt động di dạo)
- Căn cứ vào số lượng trẻ tham gia vào trò chơi có chơi cá nhân, chơi
theo nhóm, chơi toàn lớp
1.3.3.4 Đánh giá kết quả tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Đánh giá kết quả HĐVC của trẻ ở trường mầm non theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm một cách khoa học và khách quan là một trong những nội dung, nhiệm vụ của CBQL và GV mầm non Muốn có một nhận định đúng, đòi hỏi người GV mầm non và CBQL cần vững về chuyên môn, nhận thức đầy
đủ về trò chơi và hoạt động vui chơi của trẻ, hiểu đúng về cách thức và kĩ thuật đánh giá trẻ trong hoạt động vui chơi, đồng thời quán triệt các quan điểm: Đánh giá nhằm trợ giúp sự tiến bộ trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ của GV và vì
sự phát triển của trẻ nói chung cũng như hướng đến hình thành và phát triển
Trang 36kiến thức, kỹ năng và thái độ phù hợp của trẻ với các trò chơi mà trẻ tham gia; kiến thức, kỹ năng và thái độ của trẻ đối với bản thân, người khác và môi trường sống theo các chuẩn mực về giá trị chân, thiện, mỹ
Có thể hiểu: Đánh giá kết quả HĐVC cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy
trẻ làm trung tâm là quá trình thu thập thông tin về trẻ một cách có hệ thống và phân tích, đối chiếu với mục tiêu của chương trình HĐVC nhằm theo dõi sự phát triển của trẻ và điều chỉnh kế hoạch chăm sóc, giáo dục trẻ nói chung và
kế hạch tổ chức HĐVC cho trẻ nói riêng
Mục đích đánh giá nhằm phát hiện những biểu hiện tích cực hoặc tồn tại của việc tổ chức HĐVC cho trẻ đồng thời xác định mức độ đạt được của trẻ ở các lĩnh vực phát triển theo giai đoạn, trên cơ sở đó điều chỉnh kế hoạch tổ chức HĐVC cho trẻ phù hợp ở giai đoạn tiếp theo
Đánh giá kết quả HĐVC của trẻ có thể thực hiện bằng nhiều phương pháp trong
đó phương pháp quan sát và phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động của trẻ là hai phương pháp cơ bản Nội dung đánh giá tập trung vào đánh giá sự phát triển nhận thức của trẻ về nội dung và quá trình, hành động chơi, các quan hệ chơi
và quan hệ thực; những ưu điểm và tồn tại của cá nhân và nhóm/tập thể trẻ; đánh giá về kỹ năng tổ chức thực hiện hoạt động vui chơi; thái độ tích cực của trẻ trong quá trình chơi, kết quả thực hiện nội dung và luật chơi của trẻ; mục đích, tính chất xây dựng và phát triển mối quan hệ “xã hội trẻ em” của trẻ trong trò chơi cũng như mức độ đạt được các yêu cầu giáo dục nói chung; hứng thú
và tính tích cực trong quá trình chơi của trẻ
Đánh giá HĐVC của trẻ phải được thường xuyên trong quá trình trẻ chơi
và ngay sau mỗi trò chơi, GV phải có kế hoạch bổ sung hoặc điều chỉnh nội dung trò chơi cho phù hợp với điều kiện của lớp mình, mức độ nhận thức và kinh nghiệm của trẻ
Trang 371.4 Một số vấn đề lý luận về quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm ở trường mầm non
1.4.1 Vai trò của hiệu trưởng nhà trường trong quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
Người hiệu trưởng được cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục bổ nhiệm, miễn nhiệm; có quyền và nghĩa vụ thực hiện chức trách nhiệm vụ của mình theo quy định pháp luật của nhà nước Hiệu trường có vai trò quan trọng, quyết định chất lượng quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Hiệu trưởng chịu trách nhiệm trước nhà nước, nhân dân và cấp trên trực tiếp về các hoạt động giáo dục của nhà trường
Trong quản lý hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, Hiệu trưởng là người thay mặt nhà nước điều hành toàn bộ bộ máy và thực hiện đồng bộ tất cả các nội dung định hướng phát triển GD&ĐT nhà trường trong sự vận hành chung của hệ thống giáo dục quốc dân nói chung, trong đó có quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Mọi năng lực, phẩm chất của hiệu trưởng đều ảnh hưởng và có ý nghĩa mang tính quyết định đến quá trình quản lý, với
sự phát triển của nhà trường, đến GV và đặc biệt là đóng góp vào quá trình phát triển giáo dục trẻ Trong công tác lập kế hoạch, người hiệu trưởng là người phê duyệt kế hoạch hoạt động vui chơi của trẻ theo chủ đề, theo tháng, kỳ, năm học; trong công tác tổ chức, thường xuyên sâu sát, kịp thời tổ chức hoạt động về nội dung, phương pháp, hình thức, đánh giá tầm quan trọng từ đó nâng cao nhận thức cho GV, cử GV tham gia bồi dưỡng, ; trong công tác chỉ đạo, kịp thời thực hiện chỉ đạo các bộ tiêu chí đánh giá hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, phối hợp các lực lượng nhằm đạt kết quả, hiệu quả cao; Hiệu trưởng phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình tổ chức HĐVC của trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Ngoài công tác quản lý nội bộ nhà trường, người hiệu trưởng chủ động phối hợp với các lực lượng giáo dục bên ngoài (cha me học sinh, tổ chức chính trị đoàn thể địa phương, chính quyền địa phương, các tổ chức tài trợ và hỗ trọ
Trang 38giáo dục ) để tổ chức HĐVC cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm Như vậy, hiệu trưởng có vai trò quan trọng trong quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, chất lượng công tác quản lý của hiệu trưởng có ý nghĩa quyết định chất lượng tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
1.4.2 Nội dung quản lý hoạt động vui chơi của trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
1.4.2.1 Quản lý mục tiêu tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
Quản lý mục tiêu tổ chức HĐVC cho trẻ mầm non theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm nhấn mạnh đáp ứng nhu cầu được chơi của trẻ mầm non, nhằm thỏa mãn sự tò mò, khám phá tìm hiểu về thế giới xung quanh của trẻ
Trong quản lý mục tiêu hoạt động vui chơi cho trẻ mẫu giáo theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm, hiệu trưởng cần quan tâm đến việc chỉ đạo
tổ trưởng chuyên môn, GV xây dựng thực hiện mục tiêu giáo dục của hoạt động vui chơi trong đó chú trọng vào việc phát triển năng lực chung cho trẻ đặc biệt là năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn, phát triển kĩ năng sống để trẻ từng bước thích ứng được với đời sống xã hội; tôn trọng nhu cầu, sở thích, lợi ích và khả năng riêng của trẻ
1.4.2.2 Quản lý nội dung tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
Nội dung tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm lấy trẻ làm trung tâm nghĩa là hiệu trưởng chỉ đạo thực hiện vấn đề sau:
- Xây dựng nội dung HĐVC đáp ứng nội dung giáo dục trẻ theo chuẩn chương trình giáo dục quốc gia;
- Xây dựng nội dung HĐVC đáp ứng nội dung yêu cầu địa phương: căn cứ đặc điểm giáo dục vùng miền, văn hóa, kinh tế xã hội, từ đó giáo dục ngôn ngữ, kỹ năng sống, môi trường sống cho trẻ;
- Xây dựng nội dung HĐVC đáp ứng nội dung yêu cầu nhà trường: GV xây dựng trò chơi, nội dung chơi rồi sau đó khai thác môi trường tại nhà trường, CBQL khai thác được năng lực GV, khai thác tiềm năng phù hợp giữa nhà trường, GV với cha mẹ trẻ;
Trang 39- Xây dựng nội dung đáp ứng gắn thực tiễn theo nhu cầu của trẻ khi trẻ khởi xướng hoạt động vui chơi
Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng nội dung vui chơi cho trẻ gắn với chủ đề; tổ chức đa dạng các loại trò chơi/ các hoạt động để đáp ứng nhu cầu khám phá, học hỏi, sáng tạo của tất cả trẻ, phát triển các năng lực cá nhân, : Tổ chức hướng dẫn nhiều loại trò chơi: Đóng vai, đóng kịch, vận động, học tập, xây dựng; Tổ chức các hoạt động trải nghiệm đa dạng về nội dung, về hình thức tổ chức
Hiệu trưởng chỉ đạo GV mở rộng nội dung/nâng cao yêu cầu của trò chơi/ luật chơi để hỗ trợ trẻ bằng nhiều cách: thông qua câu hỏi gợi mở; Bổ sung thêm đồ chơi, nguyên vật liệu chơi; thay đổi luật chơi
Hiệu trưởng chỉ đạo GV tận dụng các tình huống thực tế trong khi chơi
để giúp trẻ trải nghiệm, thực hành học cách giải quyết vấn đề, khám phá cái mới: tình huống thiếu đồ chơi; trong tình huống trẻ có xung đột; trong tình huống có thêm vật liệu chơi
1.4.2.3 Quản lý phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ
Về phương pháp tổ chức HĐVC: chất lượng tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo phụ thuộc rất nhiều vào việc GV nắm vững và sử dụng hiệu quả các phương pháp tổ chức HĐVC cho trẻ Chính vì vậy hiệu trưởng các trường mầm non cần phải quan tâm quản lý tốt ở nội dung này Việc quản lý phương pháp tổ chức HĐVC cho trẻ mẫu giáo đòi hỏi hiệu trưởng phải dựa vào chương trình giáo dục mầm non mới mà địa phương đang thực hiện để hướng dẫn; chỉ đạo GV thực hiện tốt việc lập kế hoạch tổ chức HĐVC, tổ chức quá trình chơi của trẻ, nhận xét, đánh giá trẻ sau khi chơi, kiểm tra, đánh giá GV trong quá trình tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ; quản lý việc vận dụng các phương pháp giáo dục mầm non vào tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ như: phương pháp dùng lời nói, phương pháp dùng tình cảm, các phương pháp thực hành trải nghiệm, phương pháp nêu gương, đánh giá Trên cơ sở đó có định
Trang 40hướng bồi dưỡng chuyên môn cho GV những phương pháp mà GV thực hiện chưa tốt nhằm giúp GV phát triển, hoàn thiện kỹ năng tổ chức hoạt động dạy vui chơi cho trẻ mẫu giáo
Từ các hình thức tổ chức HĐVC hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức đa dạng hoạt động vui chơi cho trẻ, khai thác ưu thế của từng HĐVC thực hiện mục tiêu giáo dục trẻ
Chỉ đạo GV tổ chức hiệu quả hoạt động vui chơi ở các góc hoạt động theo chủ đề giáo dục, gắn với thực hiện chương trình hoạt động trong ngày theo chế độ sinh hoạt của trẻ theo yêu cầu độ tuổi
Chỉ đạo GV đưa các trò chơi vào tích hợp lồng ghép trong các giờ học có chủ đích như: TCVĐ vào hoạt động học lĩnh vực phát triển thể chất; Trò chơi đóng kịch vào tiết kể chuyện GV cần chú ý mức độ tích hợp, lồng ghép trò chơi cho phù hợp, tránh làm thay đổi kiến thức cơ bản của HĐVC
Chỉ đạo GV đưa các trò chơi vào trong các hoạt động ngoại khóa như ngày hội, ngày lễ có thể đưa các trò chơi vận động, trò chơi dân gian vào các hoạt động cho sinh động
Chỉ đạo GV tổ chức các hoạt động vui chơi cho trẻ trong các thời điểm trong ngày như giờ đón- trả trẻ, trong giờ hoạt động ngoài trời, hoạt động chiều, hoạt động chơi tự do
Chương trình tổ chức HĐVC cho trẻ được cấu trúc thành các chủ đề Trong từng chủ đề đều có thể tích hợp các trò chơi để tổ chức HĐVC cho trẻ Căn cứ vào các chủ đề, mỗi chủ đề có thể xây dựng các trò chơi cho phù hợp
1.4.2.4 Quản lý giáo viên và trẻ trong tổ chức hoạt động vui chơi theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm
+ Với GV:
- Hiệu trưởng quản lý, chỉ đạo GV thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ theo quan điểm giáo dục lấy trẻ làm trung tâm: Lập kế hoạch tổ chức, tổ chức hoạt động vui chơi cho trẻ, điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra