Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học theo Thông tư 22 trong năm qua tại các trường Tiểu học thành phố Hạ Long còn nhiều bất cập
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn: “Quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo
Thông tư 22/2016/TT-BGD&ĐT ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” là của riêng tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS
Nguyễn Thị Thanh Huyền sử dụng những thông tin được ghi rõ nguồn gốc, những số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng và công bố ở bất kỳ một công trình nghiên cứu nào khác
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 7 năm 2018
Tác giả
Phạm Thị Mai Phương
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng, nỗ lực của bản thân, em đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo, các cơ quan, trường học
Em xin bày tỏ lòng biết ơn đến lãnh đạo trường Đại học sư phạm Thái Nguyên, các thầy giáo, cô giáo phòng Đào tạo, Khoa Tâm lý - Giáo dục, các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo trong và ngoài Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã giảng dạy trong suốt quá trình học tập
Đặc biệt, em xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Thanh Huyền người
đã trực tiếp, tận tình hướng dẫn khoa học, giúp đỡ em hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ, tạo điều kiện của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Quảng Ninh, Phòng Giáo dục và Đào tạo thành phố Hạ Long, các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hạ Long; cảm ơn các đồng chí, đồng nghiệp, đã tận tình giúp đỡ và cung cấp số liệu, đóng góp ý kiến để việc điều tra nghiên cứu và hoàn thành luận văn được thuận lợi
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót Tác giả xin trân trọng tiếp thu những ý kiến chỉ bảo, góp ý xây dựng của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo đồng nghiệp để tiếp tục hoàn thiện luận văn
Xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Phạm Thị Mai Phương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Cấu trúc của luận văn 5
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO THÔNG TƯ 22/2016/TT-BGD&ĐT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 6
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 8
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Đánh giá 10
1.2.3 Đánh giá học sinh 11
1.2.4 Đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 22 12
1.2.5 Quản lý hoạt động đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 22 13
1.3 Một số vấn đề cơ bản về đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường Tiểu học 14 1.3.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học 14
1.3.2 Đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường tiểu học 17
1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường Tiểu học 20
Trang 61.4.1 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trong việc quản lí trường
tiểu học và hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 20
1.4.2 Vai trò, ý nghĩa quản lý hoạt động đánh giá học sinh 21
1.4.3 Nguyên tắc quản lý hoạt động đánh giá học sinh 22
1.4.4 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 của Hiệu trưởng trường tiểu học 23
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư ở trường Tiểu học 29
1.5.1 Yếu tố chủ quan 29
1.5.2 Yếu tố khách quan 31
Kết luận chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO THÔNG TƯ 22/2016/TT-BGD&ĐT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 34
2.1 Khái quát về các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 34
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 37
2.2.1 Mục đích khảo sát 37
2.2.2 Phạm vi và đối tượng khảo sát 37
2.2.3 Nội dung khảo sát 38
2.2.4 Phương pháp khảo sát 38
2.3 Thực trạng hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 38
2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý và đội ngũ giáo viên về tầm quan trọng của hoạt động đánh giá học sinh 38
2.3.2 Thực trạng việc thực hiện mục tiêu đánh giá học sinh theo Thông tư 22 41
2.3.3 Thực trạng mức độ thực hiện yêu cầu đánh giá học sinh theo Thông tư 22 43
2.3.4 Thực trạng thực hiện nội dung đánh giá học sinh theo Thông tư 22 46
2.3.5 Thực trạng thực hiện các hình thức đánh giá học sinh theo Thông tư 22 47
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở các trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 55
Trang 72.4.1 Thực trạng lập kế hoạch quản lí hoạt động đánh giá học sinh theo Thông
tư 22 ở các trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 55
2.4.2 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở các trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 57
2.4.3 Thực trạng chỉ đạo thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở các trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 58
2.4.4 Thực trạng kiểm tra hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở các trường tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 62
2.4.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá học sinh theo thông tư 22 64
2.5 Đánh giá chung thực trạng quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 65
2.5.1 Những thành công và nguyên nhân 65
2.5.2 Những hạn chế và nguyên nhân 66
Kết luận chương 2 70
Chương 3 BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO THÔNG TƯ 22/2016/TT-BGD&ĐT Ở CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC THÀNH PHỐ HẠ LONG, TỈNH QUẢNG NINH 71
3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 71
3.1.1 Đảm bảo tính mục tiêu 71
3.1.2 Đảm bảo tính khoa học 71
3.1.3 Đảm bảo tính thực tiễn 71
3.1.4 Đảm bảo tính hệ thống 72
3.1.5 Đảm bảo tính khả thi 72
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 tại các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh 72
3.2.1 Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh học sinh về đánh giá học sinh theo Thông tư 22 72
3.2.2 Chỉ đạo đổi mới xây dựng và thực hiện kế hoạch đánh giá học sinh theo Thông tư 22 76
Trang 83.2.3 Chỉ đạo tổ chuyên môn, hướng dẫn giáo viên đa dạng hóa các hình thức,
phương pháp kiểm tra đánh giá học sinh theo Thông tư 22 78
3.2.4 Tăng cường trang bị cơ sở vật chất và nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 81
3.2.5 Phối hợp với cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội tham gia vào hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 85
3.2.6 Tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 87
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 89
3.4 Khảo nghiệm tính cấp thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất 90
3.4.1 Mục đích 90
3.4.2 Nội dung và cách tiến hành 90
3.4.3 Kết quả khảo nghiệm tính cấp thiết và tính khả thi của các biện pháp 90
Kết luận chương 3 93
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 94 PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu
Bộ GD&ĐT : Bộ Giáo dục và Đào tạo CBQL : Cán bộ quản lý
CNTT : Công nghệ thông tin CSVC : Cơ sở vật chất
GV : Giáo viên GVBM : Giáo viên bộ môn GVCN : Giáo viên chủ nhiệm
HS : Học sinh
HT : Hiệu trưởng KTĐG : Kiểm tra - đánh giá
NV : Nhân viên PGS.TS : Phó Giáo sư, Tiến sĩ PHT : Phó Hiệu trưởng PPDH : Phương pháp dạy học VNEN : Mô hình trường học mới tại Việt Nam XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 10DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng:
Bảng 2.1 Đội ngũ CBQL, GV, HS các trường tiểu học (2017) 35 Bảng 2.2 Chất lượng học sinh tiểu học thành phố Hạ Long năm học 2016 - 2017 36 Bảng 2.3 Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động đánh giá học sinh theo
Thông tư 22 39 Bảng 2.4 Thực trạng mức độ thực hiện mục tiêu đánh giá học sinh theo
Thông tư 22 41 Bảng 2.5 Thực trạng mức độ thực hiện các yêu cầu đánh giá học sinh theo
Thông tư 22 43 Bảng 2.6 Khảo sát mức độ thực hiện nội dung đánh giá học sinh theo thông
tư 22 46 Bảng 2.7 Thực trạng mức độ thực hiện hình thức đánh giá thường xuyên học
sinh theo Thông tư 22 48 Bảng 2.8 Thực trạng mức độ thực hiện hình thức đánh giá định kỳ học sinh
theo Thông tư 22 53 Bảng 2.9 Thực trạng lập kế hoạch quản lí hoạt động đánh giá học sinh theo
Thông tư 22 ở các trường tiểu học TP Hạ Long 56 Bảng 2.10 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo
Thông tư 22 57 Bảng 2.11 Thực trạng chỉ đạo hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 59 Bảng 2.12 Thực trạng kiểm tra đánh giá hoạt động đánh giá học sinh theo
Thông tư 22 63 Bảng 2.13 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động đánh giá học sinh
theo thông tư 22 64 Bảng 3.1 Đánh giá của cán bộ quản lý, giáo về tính cấp thiết, tính khả thi của
các biện pháp 91
Biểu đồ:
Biểu đồ 3.1 Kết quả khảo nghiệm mức độ cấp thiết và tính khả thi 92
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ trong thời đại khoa học công nghệ bùng
nổ và Việt Nam không nằm ngoài quy luật phát triển đó Để đất nước hội nhập quốc
tế thì nền chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, khoa học kĩ thuật, phải phát triển Vấn
đề này đòi hỏi chúng ta phải đào tạo được nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu mới, đây
là trách nhiệm cốt lõi của ngành giáo dục và nền tảng ban đầu cho mọi thành công là giáo dục Tiểu học
Trong công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước, giáo dục giữ một vị trí quan trọng trong việc nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần vào việc xây dựng một nền kinh tế tri thức Tuy nhiên, giáo dục ở các cấp học và trình độ đào tạo đang phải đối mặt với những khó khăn và thách thức mới, nhất là tình trạng chất lượng giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn hiện nay Thực hiện Luật Giáo dục 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02 tháng 8 năm
2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, đang triển khai đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục, tiếp tục đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, giảng viên, tăng cường cơ sở vật chất, và đẩy mạnh công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục ở các cấp học
và trình độ đào tạo nhằm nhanh chóng tạo bước chuyển biến lớn về chất lượng giáo dục Chất lượng giáo dục là một vấn đề luôn được xã hội quan tâm vì tầm quan trọng hàng đầu của nó đối với sự nghiệp phát triển đất nước nói chung, sự nghiệp phát triển giáo dục nói riêng Mọi hoạt động giáo dục được thực hiện đều hướng tới mục đích góp phần đảm bảo, nâng cao chất lượng giáo dục; và một nền giáo dục ở bất kì quốc gia nào bao giờ cũng phải phấn đấu để trở thành một nền giáo dục chất lượng cao Mặc dù vậy,
do tính chất phức tạp, đa dạng, nhiều chiều của vấn đề, hiểu đầy đủ về chất lượng giáo dục cũng như xác định quy trình, phương pháp, kĩ thuật đánh giá chất lượng giáo dục một cách khoa học, phù hợp với thực tiễn phát triển của xã hội, của giáo dục trong một hoàn cảnh cụ thể không phải là điều đơn giản
Xác định được tầm quan trọng của giáo dục trong sự phát triển của đất nước Hội nghị TW8 khóa XI đã tiếp tục quán triệt “Giáo dục là quốc sách hàng đầu” [2] để tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững Theo Điều 27 Luật giáo dục số 38/2005/QH11 ngày
Trang 1214/6/2005 đã quy định rõ: “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ
sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở” [22] Cấp Tiểu học cũng là cấp học nền tảng đầu tiên của tri thức vì vậy ba mục tiêu lớn của giáo dục Tiểu học trong giai đoạn hiện nay đó là: Thứ nhất đào tạo về đạo đức và nhân cách; Thứ hai đào tạo về kiến thức; Thứ ba đào tạo về kĩ năng sống giúp học sinh phát triển đúng hướng, trở thành nguồn lực chính vì mục đích phát triển chung của nước nhà Vì vậy, việc nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo luôn được Đảng, Nhà nước và toàn xã hội quan tâm
Phản ánh sự thành công của một chương trình giáo dục và đào tạo đó chính là chất lượng giáo dục của mỗi nhà trường, mỗi cấp học và chất lượng giáo dục đó được khẳng định thông qua việc đánh giá kết quả học tập của học sinh Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác, hiệu quả chính là góp phần thúc đẩy nền giáo dục nước nhà Chính vì vậy, Nghị quyết Trung ương số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ tám khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo” [2]; “Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học với đánh giá cuối kì, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội” [2] Như vậy, việc đánh giá kết quả học tập của học sinh không còn là vấn đề đánh giá chủ quan của riêng người thầy mà nó được cả cộng đồng tham gia và đi đến thống nhất chung mang tính tổng thể, khách quan và chuẩn xác Đây là điểm mới trong việc thực hiện cải cách giáo dục nhằm đáp ứng yêu cầu mới về mục tiêu đào tạo con người
Thực hiện chủ chương của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua ngành giáo dục không ngừng đổi mới công tác quản lý; Đổi mới trong công tác bồi dưỡng năng lực đội ngũ; Đổi mới chương trình, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; Trong đó, việc thực hiện đổi mới kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh cấp Tiểu học luôn được chú trọng sửa đổi, bổ sung để phù hợp với yêu cầu mới Thông tư 22/2016/TT-BGD&ĐT của Bộ giáo dục và Đào tạo ngày 22/09/2016 (sau đây gọi là Thông tư 22) về việc ban hành các quy định đánh giá học sinh Tiểu học ra đời hướng tới khắc phục những tồn tại và phát huy những ưu điểm trong việc đánh giá kết quả học tập của học sinh, phản ánh hiệu quả của chương trình đào tạo, phương pháp đào tạo, giúp cho các nhà quản lý có cơ sở điều chỉnh và
đề ra các chính sách phù hợp trong việc nâng cao chất lượng giáo dục trong từng giai đoạn, từng cấp học đáp ứng yêu cầu mới về đào tạo nguồn nhân lực
Trang 13Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học theo Thông tư 22 trong năm qua tại các trường Tiểu học thành phố
Hạ Long còn nhiều bất cập trong khâu quản lý: Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh mới được chú trọng về kiến thức, việc đánh giá về năng lực và phẩm chất còn hình thức; Cán bộ quản lý, giáo viên gặp khó khăn trong việc viết nhận xét đảm bảo đúng, đủ, chính xác và phù hợp với đối tượng, tránh trùng lặp; Tiêu chuẩn
về mức độ hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh từng độ tuổi chưa rõ, khó xác định; Ý thức, trách nhiệm của giáo viên trong công tác đánh giá, lưu giữ minh chứng chứng minh kết quả học tập của học sinh còn nhiều hạn chế, hình thức; Giáo viên còn lạm dụng quyền trong khâu đánh giá thường xuyên học sinh nhằm điều chỉnh kết học tập dẫn đến phản ánh không đúng chất lượng giáo dục Công tác quản lý việc thực hiện đánh giá thường xuyên của giáo viên trong các giờ học đối với học sinh khó kiểm soát Đánh giá đúng thực trạng việc thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh Tiểu học theo Thông tư 22 tại các trường Tiểu học thành phố Hạ Long nhằm đề ra các giải pháp quản lý hoạt động đánh giá học sinh đồng bộ có tính khả thi, phù hợp với tình hình thực tế của địa phương trong thời kỳ đổi mới là cấp thiết và thiết thực
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Quản lý hoạt động đánh
giá học sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDQ&ĐT ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” để làm đề tài nghiên cứu góp phần nâng cao chất
lượng giáo dục nói chung
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu: Hoạt động đánh giá học sinh ở các trường Tiểu học 3.2 Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo
Thông tư 22 ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong năm qua đã có những kết quả nhất định song vẫn còn những tồn tại, bất cập, điều này do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên
Trang 14nhân thuộc về yếu tố quản lý Nếu nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 một cách khoa học, phù hợp với điều kiện thực tiễn các trường Tiểu học ở thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, đảm bảo tính khách quan, tính pháp lý thì sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá học sinh góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của các trường tiểu học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông
tư 22 ở các trường Tiểu học
- Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng việc quản lý hoạt động đánh giá học
sinh theo Thông tư 22 ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư
22 ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh và khảo nghiệm các biện pháp
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu lý luận về nghiên cứu, so sánh, tổng hợp các tài liệu, tư liệu sách báo, công trình khoa học, văn bản, chỉ thị, nghị quyết thể hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục & Đào tạo về quản lý giáo dục, quản lý đánh giá học sinh, đánh giá học sinh theo Thông
tư 30, Thông tư 22
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
6.2.1 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng phiếu điều tra bằng bảng hỏi để thu thập thông tin thực tiễn từ cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh về quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22; trên cơ sở đó phân tích và đánh giá thực trạng vấn đề này
6.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi trực tiếp với các cán bộ quản lý các nhà trường, các giáo viên có kinh nghiệm, uy tín trong hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư thu thập thông tin bổ sung sau khi điều tra bằng phiếu hỏi nhằm thu thập các ý kiến sâu hơn của giáo viên
và học sinh để phục vụ cho việc nghiên cứu của đề tài
6.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động quản lý (hồ sơ quản lý của các
trường thuộc phạm vi nghiên cứu)
Trang 15Tiến hành phân tích các sản phẩm của hoạt động đánh giá học sinh theo Thông
tư 22 ở các trường tiểu học, từ đó nắm bắt được các thông tin chung, phục vụ cho việc đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư
ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
6.2.4 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến các chuyên gia về tính hợp lý, tính khả thi của các biện pháp quản
lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 Trao đổi, xin ý kiến lãnh đạo phụ
trách bậc Tiểu học của Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, Hiệu trưởng các trường Tiểu học đạt thành tích cao trong công tác dạy học… để hoàn thiện các biện pháp đề xuất
6.3 Phương pháp sử dụng toán thống kê
Để có được các số liệu khoa học, đề tài sử dụng phương pháp toán thống kê để
xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình điều tra, từ đó phục vụ cho hoạt động phân tích, đánh giá thực trạng và khảo nghiệm
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu; Kết luận; Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chính của luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông
tư 22/2016/TT- BGD&ĐT ở trường tiểu học
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư
22/2016/TT-BGD&ĐT ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư
22/2016/TT-BGD&ĐT ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
Trang 16Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ HỌC SINH THEO THÔNG TƯ 22/2016/TT-BGD&ĐT
Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Đánh giá là một khoa học tự thân luôn luôn gắn liền với hoạt động dạy học và hoạt động giáo dục, nhiều nước trên thế giới đều rất quan tâm đến khoa học đánh giá trong giáo dục, dạy học
Trên thế giới, thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa (thế kỷ XV - XVIII) lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục thế giới, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Comensky đã đặt nền móng cho lý luận dạy học ở nhà trường và xây dựng thành một hệ thống vấn đề trong tác phẩm "Phép giảng dạy vĩ đại", trong đó có nêu ý nghĩa, vai trò của kiểm tra, đánh giá quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh, ông lưu ý việc kiểm tra, đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn học sinh tự kiểm tra, đánh giá kiến thức của bản thân (dẫn theo [14])
Tác giả P.E.Griffin “Đánh giá là đưa ra phán quyết về giá trị của một sự kiện,
nó bao hàm cả việc thu thập thông tin sử dụng trong việc đánh giá một chương trình, một sản phẩm, một tiến trình, mục tiêu hay tiềm năng ứng dụng của một cách thức đưa ra nhằm mục đích nhất định” [24]
Tác giả R.Tiler cho rằng “Quá trình đánh giá chủ yếu là quá trình xác
định mức độ thực hiện các mục tiêu của chương trình giáo dục” [34]
Một số định nghĩa coi đánh giá như một phương tiện được sử dụng để điều
khiển, kích thích việc học của học sinh như theo tác giả Llina: “đánh giá là một
phương tiện kích thích mạnh mẽ và có một ý nghĩa giáo dục to lớn trong điều kiện nếu như nó được giáo viên sử dụng đúng đắn” [28] Hay theo nghiên cứu của Savin “Đánh giá có thể trở thành một phương tiện quan trọng để điều khiển sự học tập của học sinh, đẩy mạnh sự pháp triển về công tác giáo dục của các em Đánh giá được thực hiện trên cơ sở kiểm tra và đánh giá theo hệ thống 5 bậc: xuất sắc 5 điểm, tốt 4 điểm, trung bình 3 điểm, xấu 2 điểm, rất xấu 1 điểm” [20]
Nghiên cứu lý thuyết chung về đánh giá trong lớp học như công trình của C.A Paloma và Robert L Ebel “Measuring Educational Achievement” (Đo lường thành tích giáo dục) đã mô tả rất chi tiết phương pháp đo lường đánh giá học sinh ở các trường phổ thông ở Mỹ Công trình này cho thấy việc đánh giá học sinh cần tập trung vào đánh giá quá trình kiểm tra [6]
Trang 17Cuốn “Measurement and Evaluation in Teaching” (Đo lường và đánh giá trong dạy học) của Norman E Gronlund giới thiệu tới GV và những người đang tìm hiểu nghiệp vụ sư phạm về những nguyên tắc và quy trình đánh giá cần thiết cho việc dạy học hiệu quả Trong cuốn sách này, tác giả đã tiếp tục khẳng định người học là đối tượng của các đánh giá và đo lường sư phạm, tác giả đã đề cập các nội dung, hình thức và nguyên tắc trong đánh giá [21]
Trong quyển “A Teacher's Guide to Assessment” (Hướng dẫn GV đánh giá) do D.s Frith và H.G.Macintosh lại viết rất cụ thể, chuyên sâu về những lý luận cơ bản của đánh giá trong lớp học, cách lập kế hoạch đánh giá, cách đánh giá, cho điểm, và cả cách thức đánh giá bằng nhận xét của giáo viên đối với học sinh Đây là cuốn sách gọi mở rất nhiều cho nhà quản lý trong công tác quản lý hoạt động đánh giá học sinh [9]
Bên cạnh đó, cuốn tài liệu thể hiện xu hướng đánh giá hiện đại đang thịnh hành của Anthony J.Nitko, Đại học Arizona (Mỹ) mang tên “Educational Assessment
of Students” (Đánh giá học sinh) một lần nữa đã đề cập đến rất nhiều nội dung của dánh giá học sinh, bao gồm: Phát triển các kế hoạch giảng dạy kết hợp với đánh giá; các đánh giá về mục tiêu, hiệu quả; đánh giá học sinh Không chỉ vậy, cuốn sách còn cho rằng: Đánh giá học sinh còn là trách nhiệm to lớn của người Hiệu trưởng trong nhà trường, hiệu quả của công tác đánh giá có tốt hay không là do năng lực quản lý của người Hiệu trưởng nhà trường Như vậy, tác phẩm này đã nêu lên vai trò, tầm quan trọng của công tác quản lý trong đánh giá học sinh nói chung [1]
Ngoài ra có những nghiên cứu cụ thể về quản lý hoạt động đánh giá học sinh trong các nhà trường hiện nay, như Cuốn “Monitering Educational Achivement” của N.Postlethwaite (2004); cuốn “Monitering Evaluation: Some Tools, Methods and Approches” do Worbank phát hành (2004); cuốn “Managing Evaluation in Educational” của Kath Aspinwall, Tim Simkins, John F Wilkinson and M John Me Auley (1992); cuốn “Mười bước tiến tới hệ thống giảm sát và đảnh giá dựa trên kết quả” của Jody Zall Kusek, Ray C.Rist (2005), Trong các cuốn tài liệu này đã chỉ cho người đọc thấy các nghiệp vụ quản lý cần thực hiện để quản lý hoạt động đánh giá học sinh như thế nào cho hiệu quả, làm thế nào cần đánh giá học sinh trong bối cảnh đổi mói giáo dục trên phạm vi toàn cầu
Như vậy các công trình nghiên cứu nước ngoài thể hiện sự quan tâm cũng như đánh giá vai trò quan trọng của đánh giá học sinh Tuy nhiên, các nghiên cứu mới dừng lại ở việc mô tả hoạt động đánh giá và vai trò của đánh giá trong quá trình dạy học còn vấn đề quản lý hoạt động đánh giá chưa được đề cập và nghiên cứu
Trang 181.1.2 Ở Việt Nam
Quản lý hoạt động đánh giá học sinh trong nhà trường được xem như là một trong những nội dung quan trọng của hoạt động quản lý giáo dục Các tác giả nghiên cứu về giáo dục trong nước cũng đã tìm hiểu và nghiên cứu khá sâu sắc về vấn đề đánh giá học sinh
Tác giả Trần Bá Hoành đã nhận định rằng “việc đánh giá không thể chỉ dừng
lại ở yêu cầu tái hiện các kiến thức, rèn luyện các kỹ năng đã học mà phải khuyến khích tư duy, năng động, sáng tạo, phát hiện sự chuyển biến về xu hướng, hành vi của học sinh trước các vấn đề của đời sống, gia đình và cộng đồng, rèn luyện khả năng phát hiện và giải quyết các vấn đề nảy sinh trong những tình huống thực tế” [13]
Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh cho rằng “đánh giá học sinh là quá trình
thu thập và xử lý thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và bản thân học sinh để giúp họ học tập tiến bộ hơn” [23]
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính “Đánh giá trong giáo dục là một quá trình hoạt
động được tiến hành có hệ thống nhằm xác định mức độ đạt được của đối tượng quản
lý về mục tiêu đã định; nó bao gồm sự mô tả định tính, định lượng, kết quả đạt được thông qua những nhận xét, so sánh với những mục tiêu đã đặt ra” [29]
Tác giả Hà Thị Đức đã nêu “Về tiêu chuẩn đánh giá phải đảm bảo tính toàn
diện, đảm bảo tính khách quan, đảm báo có tác dụng phát triển trí tuệ, năng lực, tư duy độc lập sáng tạo của học sinh” [11]
Ngoài ra có thể kể tới một số nhà khoa học khác đã có những công trình nghiên cứu về đánh giá trong giáo dục như: Tác giả Nguyễn Đức Chính với Tập bài giảng đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học [8] hay tác giả Đặng Bá Lãm với công trình về Kiểm tra và đánh giá trong dạy học [16], hay tác giả Lê Đức Ngọc với tác phẩm Đo lường và đánh giá kết quả học tập [19], tác giả Lê Đức Phúc, Hoàng Đức Nhuận với công trình Cơ sở lý luận của việc đánh giá chất lượng học tập của học sinh phổ thông [25],…
- Vấn đề quản lý hoạt động đánh giá học sinh còn có cơ sở pháp lý là những điều lệ, qui chế, quy định của Bộ GD&ĐT:
+ Thông tư số: 42/2012/QĐ-BGD&ĐT ngày 23/11/2012 Thông tư Ban hành
về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Tiểu học
+ Thông tư số 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/8/2014 Ban hành qui định đánh giá học sinh tiểu học Trong đó có quy định về mục đích nguyên tắc, nội dung và cách thức đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá
Trang 19+ Thông tư số: 22/2016/TT-BGD&ĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 Sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm thông tư số 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo
Trong những năm gần đây, hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động đánh giá học sinh cũng được rất nhiều học viên Cao học quản lý giáo dục quan tâm Có thể kể đến một số luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục nghiên cứu về vấn đề
này như: Phạm Thị Hồng Tuyết với đề tài: "Quản lý hoạt động đánh giá học sinh
theo thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT ở các trường Tiểu học thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương” (2016); Nguyễn Thị Kim Liên với đề tài: "Quản lí hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo thông tư 30/2014 ở các trường Tiểu học huyện Phù Ninh tỉnh Phú Thọ” (2016)
Như vậy, qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy, đánh giá trong giáo dục nói chung, trong hoạt động dạy học nói riêng là một vấn đề quan trọng, được nhiều nhà khoa học, nhà quản lý, các giáo viên quan tâm Các công trình nghiên cứu đều chỉ ra vai trò, ý nghĩa của hoạt động này trong quá trình dạy học và xem đó là một công việc quan trọng của giáo viên Có nhiều cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu về đánh giá song chưa có công trình nào tiếp cận nghiên cứu dưới góc độ quản lý hoạt động đánh giá của học sinh tiểu học theo Thông tư 22/2016/TT-
BGD&ĐT Vì vậy, mong muốn nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động đánh giá học
sinh theo Thông tư 22/2016/TT-BGDQ&ĐT ở các trường Tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh” để đóng góp một phần nhỏ trong việc nâng cao chất lượng
hoạt động đánh giá học sinh tiểu học thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
C Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [7]
Theo W.Taylor - Người đầu tiên nghiên cứu quá trình lao động trong từng bộ phận của nó, nêu ra hệ thống tổ chức lao động nhằm khai thác tối đa thời gian lao động,
sử dụng hợp lý nhất các công cụ và phương tiện lao động nhằm tăng năng suất lao động
thì: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái gì đó thế
nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm bảo vệ sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác” [27]
Trang 20Theo Harold Koontz thì “quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối
hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12]
Ở Việt Nam, cũng đã có rất nhiều tác giả đưa ra những khái niệm về quản lý
- Theo Bùi Trọng Tuân, Nguyễn Kỳ: “Quản lý là chức năng của những hệ
thống có tổ chức với những bản chất khác nhau (kỹ thuật, sinh vật, xã hội), thực hiện những chương trình mục đích hoạt động” [31]
- Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý nhằm phối hợp sự nỗ lực của nhiều
người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội” [15]
- Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của những người cộng
Người nói: “ Một Nhà nước pháp quyền có hiệu lực mạnh là Nhà nước được cai
trị bằng pháp luật và phải làm cho pháp luật có hiệu lực trong thực tế” [18] và
“Trong một Nhà nước dân chủ, dân chủ và pháp luật phải luôn luôn đi đôi với nhau, nương tựa vào nhau ” [18] Đồng thời “xây dựng một nền pháp chế XHCN đảm bảo được việc thực hiện quyền lực của nhân dân là mối quan tâm suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh” [18]
Những định nghĩa trên tuy khác nhau về cách diễn đạt nhưng đều có thể hiểu: Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý bằng việc sử dụng các phương tiện quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt tới mục tiêu quản lý
1.2.2 Đánh giá
Đánh giá trong giáo dục là quá trình hình thành những nhận định phán đoán về kết quả của công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đặt ra nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng giáo dục và hiệu quả công việc
Đánh giá là biểu thị một thái độ, đòi hỏi một sự phù hợp, theo một chuẩn mực nhất định Nhờ đó mà người đánh giá (thầy giáo, cô giáo, nhà sư phạm) cho một thông tin tổng hợp, đôi khi là một con số, đối với người được đánh giá (học sinh)
Nhiều tác giả đã nghiên cứu và đưa ra các khái niệm về đánh giá như
Trang 21Tác giả Trần Bá Hoành cho rằng: “Đánh giá là quá trình hình thành những
nhận định, phán đoán về kết quả của công việc, dựa vào sự phân tích những thông tin thu thập được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm đề xuất những quyết định phù hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh và nâng cao chất lượng
và hiệu quả công việc” [13]
Tác giả Đặng Bá Lãm quan niệm: “Đánh giá là quá trình làm rõ mức độ thích
hợp của đối tượng được đánh giá so với mục tiêu đề ra” [16]
Theo tác giả Nguyễn Thị Tính: “Đánh giá là một quá trình ghi nhận thực
trạng, phân tích thực trạng, làm rõ những điểm đạt được, chưa đạt được và nguyên nhân của nó, từ đó đề xuất các biện pháp cải tạo thực trạng” [29]
Thông qua các hoạt động kiểm tra tìm kiếm các thông tin trong quá trình thực hiện nhiệm vụ từ đó phân tích thông tin nhằm nắm bắt thực trạng và tiến hành so sánh đối chiếu với các mục tiêu, tiêu chẩn đề ra và đề xuất các biện pháp cải tạo thực trạng nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
Để nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác giáo dục, các nhà quản lý giáo dục cần thu thập các thông tin chính xác về thực trạng giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh, sự ảnh hưởng của môi trường, gia đình, xã hội đến chất lượng học tập và giáo dục của nhà trường, trên cơ sở đó chỉ rõ các kết quả đạt được, chưa đạt được và phân tích những nguyên nhân, đề xuất các biện pháp hữu hiệu nhằm nâng cao chất lượng giáo dục
1.2.3 Đánh giá học sinh
Theo từ điển Giáo dục học “Đánh giá học sinh là xác định mức độ nắm được
kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với yêu cầu của chương trình đề ra” [33]
Đánh giá học sinh là việc đưa ra những kết luận, nhận định, phán xét về trình
độ của học sinh Muốn đánh giá học sinh thì phải kiểm tra, đo lường để thu thập thông tin cần thiết
Qua các quan điểm nhận xét trên, ta có thể hiểu: đánh giá học sinh là quá trình thu thập, xử lí thông tin về trình độ, khả năng mà người học thực hiện các mục tiêu học tập đã xác định, nhằm tạo cơ sở cho những quyết định sư phạm của giáo viên, cho nhà trường và cho bản thân học sinh để giúp họ học tập tiến bộ hơn
Đánh giá học sinh là đánh giá mức độ hoàn thành các mục tiêu đề ra cho học sinh sau một giai đoạn học tập Các mục tiêu này thể hiện ở các môn học cụ thể Thông qua đánh giá học sinh sẽ thể hiện kết quả của quá trình GD&ĐT Đánh giá học sinh đòi hỏi phải xác định mức độ học sinh đạt được các mục tiêu của chương trình
Trang 22đề ra Việc đánh giá kết quả khẳng định và công nhận những thành quả đã đạt được
và định hướng những mục tiêu cần phấn đấu trong tương lai
Như vậy, chúng ta có thể hiểu đánh giá học sinh là sự đối chiếu, so sánh kiến
thức, kĩ năng, thái độ đạt được của người học với các kết quả mong đợi đã được xác định ở mục tiêu học tập, từ đó có những kết luận phù hợp
1.2.4 Đánh giá học sinh Tiểu học theo Thông tư 22
Thông tư 22/2016/TT-BGD&ĐT là Thông tư sửa đổi và bổ sung cho Thông tư 30/2014/TT-BGD&ĐT (sau đây gọi là Thông tư 22) được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trước đó 2 năm, quy định về đánh giá học sinh Tiểu học bao gồm:
- Nội dung và cách thức đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá Thông tư áp dụng đối với trường Tiểu học
- Lớp Tiểu học trong trường phổ thông có nhiều cấp học và trường chuyên biệt; cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục phổ thông cấp Tiểu học; tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục Tiểu học
- Theo điều 3 của thông tư 22: Đánh giá học sinh tiểu học là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của học sinh; tư vấn, hướng dẫn, động viên học sinh; nhận xét định tính hoặc định lượng về kết quả học tập, rèn luyện, sự hình thành và phát triển một số năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học
- Điểm ưu việt của Thông tư 22 so với Thông tư 30: Thông tư 22 vẫn giữ được tinh thần nhân văn của Thông tư 30 và nhận được phản hồi tích cực từ phía cán bộ quản lý, giáo viên, phụ huynh Thông tư 22 khắc phục được nhiều hạn chế như: Đánh giá về kiến thức kĩ năng các môn học và hoạt động giáo dục Thông tư 30 chỉ có 02 mức là “Hoàn thành” và “Chưa hoàn thành” thì Thông tư 22 có 03 mức “Hoàn thành tốt”, “Hoàn thành”, “Chưa hoàn thành”; Đánh giá năng lực, phẩm chất Thông tư 22
có 03 mức “Tốt”, “Đạt”, “Cần cố gắng” trong khi đó Thông tư 30 chỉ có 02 mức
“Đạt”, “Chưa đạt” quy định về mức đánh giá này rõ, phù hợp, thúc đẩy học sinh nỗ lực học tập và rèn luyện hơn, giúp các em tự tin hơn; Quy định về ra đề kiểm tra trong Thông tư 22 với 04 mức độ cũng phân hoá và đánh giá kiến thức, kĩ năng chuẩn xác hơn (Thông tư 30 chỉ có 03 mức độ); Kết hợp hài hoà giữa việc đánh giá bằng nhận xét thường xuyên và điểm kiểm tra định kì, giữa đánh giá của giáo viên, tự đánh giá của học sinh, đánh giá của học sinh, của cha mẹ học sinh trong đó coi trọng đánh giá của giáo viên (Thông tư 30 đánh giá của giáo viên chưa được coi trọng); Việc đánh giá thường xuyên chủ yếu giáo viên hỗ trợ trực tiếp bằng lời nói, ít phải ghi
Trang 23nhận xét giúp giáo viên có nhiều thời gian quan tâm học sinh, tự tin hơn (Thông tư 30 giáo viên phải hỗ trợ bằng viết nhận xét thường xuyên nên không tránh khỏi sai sót trong diễn đạt dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực bởi dư luận) Đề kiểm tra định kì do Ban giám hiệu hoặc Tổ trưởng chuyên môn ra nên tính công minh, khách quan, vừa sức đạt hiệu quả hơn (trước đó Thông tư 30 giáo viên dạy và nhận lớp ra đề); Quy định về
hồ sơ đánh giá gọn hơn chỉ gồm 02 loại: học bạ và bảng tổng hợp đánh giá kết quả giáo dục của lớp (Thông tư 30 gồm 05 loại: học bạ, sổ theo dõi chất lượng, phiếu hoặc sổ liên lạc trao đổi ý kiến của cha mẹ học sinh, bài kiểm tra, giấy khen)
Như vậy chúng ta có thể hiểu đánh giá học sinh theo thông tư 22 là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả học tập của học sinh, dựa vào sự phân tích những thông tin thu được đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm
đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác giáo dục
1.2.5 Quản lý hoạt động đánh giá học sinh tiểu học theo Thông tư 22
Đánh giá học sinh là một thành tố của quá trình dạy học Đánh giá học sinh nếu được đánh giá khách quan, trung thực sẽ phản ánh được chất lượng thực sự hoạt động học của học sinh và hoạt động dạy của giáo viên
Quản lý hoạt động đánh giá học sinh nằm trong mối quan hệ mật thiết với các nội dung quản lý khác như: quản lý chương trình, xây dựng kế hoạch phát triển nhà trường Vì vậy, nó có tác động tới việc ra quyết định của nhà quản lý cho sự phát triển của nhà trường
Quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra của Hiệu trưởng trường tiểu học đối với hoạt động đánh giá học sinh nhằm đưa hoạt động, đánh giá được diễn ra theo đúng các quy định đồng thời phát huy hết vai trò của đánh giá trong quá trình dạy học, góp phần đưa hoạt động dạy học đạt đến các mục tiêu là hình thành năng lực cho học sinh trình độ tiểu học
Phạm vi quản lý hoạt động đánh giá học sinh bao gồm cả phạm vi giảng dạy, giáo dục học sinh trên lớp, ngoài giờ lên lớp, ngoại khóa, thực hành, tự học… trong nhà trường
Quản lý hoạt động đánh giá học sinh là tác động có tính chất, có mục đích của chủ thể quản lý đến hoạt động đánh giá học sinh để xác định mức độ nắm được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo của học sinh so với chương trình đề ra
Trang 24Phân tích định nghĩa ta thấy: chủ thể của hoạt động cao nhất là người Hiệu trưởng, bên dưới là các giáo viên (chủ nhiệm và bộ môn), một tập thể cùng tham gia đánh giá học sinh Hoạt động quản lý hướng tới mục tiêu cụ thể là xác định mức độ nắm được kiến thức của từng học sinh so với chương trình đề ra theo yêu cầu của chương trình
1.3 Một số vấn đề cơ bản về đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường Tiểu học
1.3.1 Đặc điểm của học sinh tiểu học
Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định
về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình Trẻ em ở lứa tuổi tiểu học là thực thể đang hình thành và phát triển cả về mặt sinh lý, tâm lý, xã hội các em đang từng bước gia nhập vào xã hội thế giới của mọi mối quan
hệ Do đó, học sinh tiểu học chưa đủ ý thức, chưa đủ phẩm chất và năng lực như một công dân trong xã hội, mà các em luôn cần sự bảo trợ, giúp đỡ của người lớn, của gia đình, nhà trường và xã hội Học sinh tiểu học dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới và luôn hướng tới tương lai Nhưng cũng thiếu sự tập trung cao độ, khả năng ghi nhớ và chú ý có chủ định chưa được phát triển mạnh, tính hiếu động, dễ xúc động còn bộc lộ
rõ nét Trẻ nhớ rất nhanh và quên cũng nhanh
Một số đặc điểm tâm sinh lý của học sinh tiểu học:
Thứ nhất: 1 Đặc điểm về mặt cơ thể
- Hệ xương còn nhiều mô sụn, xương sống, xương hông, xương chân, xương tay đang trong thời kỳ phát triển (thời kỳ cốt hoá) nên dễ bị cong vẹo, gẫy dập, Vì thế mà trong các hoạt động vui chơi của các em cha mẹ và thầy cô cần phải chú ý quan tâm, hướng các em tới các hoạt động vui chơi lành mạnh, an toàn
- Hệ cơ đang trong thời kỳ phát triển mạnh nên các em rất thích các trò chơi vận động như chạy, nhảy, nô đùa, Vì vậy mà các nhà giáo dục nên đưa các em vào các trò chơi vận động từ mức độ đơn giản đến phức tạp và đảm bảo sự an toàn cho trẻ
- Hệ thần kinh cấp cao đang hoàn thiện về mặt chức năng, do vậy tư duy của các em chuyển dần từ trực quan hành động sang tư duy hình tượng, tư duy trừu tượng Do đó, các em rất hứng thú với các trò chơi trí tuệ như đố vui trí tuệ, các cuộc thi trí tuệ, Dựa vào cơ sinh lý này mà các nhà giáo dục nên cuốn hút các em với các câu hỏi nhằm phát triển tư duy của các em
Trang 25Chiều cao mỗi năm tăng thêm 4 cm; trọng lượng cơ thể mỗi năm tăng 2kg Nếu trẻ vào lớp 1 đúng 6 tuổi thì có chiều cao khoảng 106 cm (nam) 104 cm (nữ) cân nặng đạt 15,7 kg (nam) và 15,1 kg (nữ) Tuy nhiên, con số này chỉ là trung bình, chiều cao của trẻ có thể xê dịch khoảng 4 - 5 cm, cân nặng có thể xê dịch từ 1 - 2 kg Tim của trẻ đập nhanh khoảng 85 - 90 lần/ phút, mạch máu tương đối mở rộng, áp huyết động mạch thấp, hệ tuần hoàn chưa hoàn chỉnh
Tóm lại, các em ở tuổi này giàu cảm xúc, nhiều tình cảm mới được hình thành nhưng chưa bền vững
Thứ ba: Đặc điểm ý chí của học sinh tiểu học
Đặc điểm chú ý: Ở học sinh cấp I, chú ý không chủ định còn giữ vai trò chính, sức tập trung chú ý chưa cao, chú ý chưa bền vững
- Học sinh tiểu học chưa có khả năng tự lập chương trình hành động, do ý chí chưa được phát triển đầy đủ
- Các phẩm chất ý chí như: Tính độc lập, tính kìm chế và tự chủ còn thấp
- Trẻ dễ bắt chước hành động của người khác, kể cả những hành động vượt quá sức trẻ, đôi lúc tính bột phát, ngẫu nhiên được thể hiện trong hành động của trẻ
Thứ tư: Đặc điểm hoạt động nhận thức của học sinh tiểu học
Ở lứa tuổi này rất hồn nhiên, ham tìm tòi, khám phá cái mới, điều này nói lên trí tuệ của các em đang phát triển, đang mong muốn nhận thức của học sinh cấp I thiên nặng về nhận thức cảm tính, tức là nhìn nhận sự việc, hiện tượng ngay trước mắt mình chứ chưa nhìn nhận được mọi sự vật, hiện tượng bên trong
Ở tuổi này học tập cũng đã trở thành hoạt động chủ đạo, nhưng các em say mê học tập chưa phải vì nó nhận thức được trách nhiệm đối với xã hội mà chủ yếu vì những động cơ mang ý nghĩa tình cảm như: trẻ học được nhiều điểm tốt, được thầy
cô, bố mẹ khen, bạn mến,
Về mặt hành động các em rất hiếu động, ở độ tuổi này bắt đầu phát triển nhận thức lý tính tức là phát triển những tư duy mới
Trang 26sự vật hiện tượng có màu sắc sặc sỡ, hấp dẫn, tri giác của trẻ đã mang tính mục đích,
có phương hướng rõ ràng - Tri giác có chủ định (trẻ biết lập kế hoạch học tập, biết sắp xếp công việc nhà, biết làm các bài tập từ dễ đến khó, )
Nhận thấy điều này chúng ta cần phải thu hút trẻ bằng các hoạt động mới, mang màu sắc, tích chất đặc biệt khác lạ so với bình thường, khi đó sẽ kích thích trẻ cảm nhận, tri giác tích cực và chính xác
* Nhận thức lý tính
- Tư duy: Tư duy mang đậm màu sắc xúc cảm và chiếm ưu thế ở tư duy trực quan hành động Các phẩm chất tư duy chuyển dần từ tính cụ thể sang tư duy trừu tượng khái quát Khả năng khái quát hóa phát triển dần theo lứa tuổi, lớp 4, 5 bắt đầu biết khái quát hóa lý luận Tuy nhiên, hoạt động phân tích, tổng hợp kiến thức còn sơ đẳng ở phần đông học sinh tiểu học
- Tưởng tượng: Tưởng tượng của học sinh tiểu học đã phát triển phong phú hơn so với trẻ mầm non nhờ có bộ não phát triển và vốn kinh nghiệm ngày càng dầy dạn Tuy nhiên, tưởng tượng của các em vẫn mang một số đặc điểm nổi bật sau:
+ Ở đầu tuổi tiểu học thì hình ảnh tưởng tượng còn đơn giản, chưa bền vững
và dễ thay đổi
+ Ở cuối tuổi tiểu học, tưởng tượng tái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, từ những hình ảnh cũ trẻ đã tái tạo ra những hình ảnh mới Tưởng tượng sáng tạo tương đối phát triển ở giai đoạn cuối tuổi tiểu học, trẻ bắt đầu phát triển khả năng làm thơ, làm văn, vẽ tranh, Đặc biệt, tưởng tượng của các em trong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm, tình cảm, những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắn liền với các rung động tình cảm của các em
Qua đây, các nhà giáo dục phải phát triển tư duy và trí tưởng tượng của các em bằng cách biến các kiến thức "khô khan" thành những hình ảnh có cảm xúc, đặt ra cho các em những câu hỏi mang tính gợi mở, thu hút các em vào các hoạt động nhóm, hoạt động tập thể để các em có cơ hội phát triển quá trình nhận thức lý tính của mình một cách toàn diện
Trang 27Thứ năm: Đặc điểm trí nhớ
- Trí nhớ của các em được xây dựng trên cơ sở mới của quá trình học tập, được điều khiển một cách có ý thức Trí nhớ được thay đổi phù hợp với sự thay đổi của hoạt động chủ đạo Trí nhớ trở thành điều kiện, đồng thời là kết quả của quá trình học tập
- Do ảnh hưởng học tập, trí nhớ của học sinh tiểu học được phát triển theo hai hướng: + Tăng cường vai trò của ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ logic so với ghi nhớ trực quan hình tượng
+ Trẻ có khả năng điều khiển một cách có ý thức trí nhớ của mình cũng như điều chỉnh sự nhận lại và nhớ lại một cách có chủ định
1.3.2 Đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường tiểu học
1.3.2.1 Mục đích đánh giá
- Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động dạy học, hoạt động trải nghiệm ngay trong quá trình và kết thúc mỗi giai đoạn dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh để động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ; đưa ra nhận định đúng những ưu điểm nổi bật và những hạn chế của mỗi học sinh để có giải pháp kịp thời nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học
- Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia đánh giá; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ
- Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành
và phát triển năng lực, phẩm chất của con em mình; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh
- Giúp cán bộ quản lí giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục
1.3.2.2 Yêu cầu đánh giá
- Đánh giá vì sự tiến bộ của học sinh; coi trọng việc động viên, khuyến khích
sự cố gắng trong học tập, rèn luyện của học sinh; giúp học sinh phát huy nhiều nhất khả năng; đảm bảo kịp thời, công bằng, khách quan.”
- Đánh giá toàn diện học sinh thông qua đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức,
kĩ năng và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học
Trang 28- Kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất
- Đánh giá thường xuyên bằng nhận xét, đánh giá định kì bằng điểm số kết hợp với nhận xét; kết hợp đánh giá của giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, trong đó đánh giá của giáo viên là quan trọng nhất
- Đánh giá sự tiến bộ của học sinh, không so sánh học sinh này với học sinh khác, không tạo áp lực cho học sinh, giáo viên và cha mẹ học sinh
1.3.2.3 Nội dung đánh giá
Thứ nhất: Đánh giá quá trình học tập, sự tiến bộ và kết quả học tập của học sinh theo chuẩn kiến thức, kĩ năng từng môn học và hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học
Thứ hai: Đánh giá sự hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất của học sinh: + Năng lực: tự phục vụ, tự quản; hợp tác; tự học và giải quyết vấn đề;
+ Phẩm chất: chăm học, chăm làm; tự tin, trách nhiệm; trung thực, kỉ luật; đoàn kết, yêu thương
1.3.2.4 Hình thức đánh giá
a Đánh giá thường xuyên
Đánh giá thường xuyên là đánh giá trong quá trình học tập, rèn luyện về kiến thức, kĩ năng, thái độ và một số biểu hiện năng lực, phẩm chất của học sinh, được thực hiện theo tiến trình nội dung của các môn học và các hoạt động giáo dục Đánh giá thường xuyên cung cấp thông tin phản hồi cho giáo viên và học sinh nhằm hỗ trợ, điều chỉnh kịp thời, thúc đẩy sự tiến bộ của học sinh theo mục tiêu giáo dục tiểu học
Thứ nhất: Đánh giá thường xuyên về học tập:
- Giáo viên dùng lời nói chỉ ra cho học sinh biết được chỗ đúng, chưa đúng và cách sửa chữa; viết nhận xét vào vở hoặc sản phẩm học tập của học sinh khi cần thiết,
có biện pháp cụ thể giúp đỡ kịp thời;
- Học sinh tự nhận xét và tham gia nhận xét sản phẩm học tập của bạn, nhóm bạn trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ học tập để học và làm tốt hơn;
- Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi với giáo viên về các nhận xét, đánh giá học sinh bằng các hình thức phù hợp và phối hợp với giáo viên động viên, giúp đỡ học sinh học tập, rèn luyện
Thứ hai: Đánh giá thường xuyên về năng lực, phẩm chất:
- Giáo viên căn cứ vào các biểu hiện về nhận thức, kĩ năng, thái độ của học sinh ở từng năng lực, phẩm chất để nhận xét, có biện pháp giúp đỡ kịp thời;
Trang 29- Học sinh được tự nhận xét và được tham gia nhận xét bạn, nhóm bạn về những biểu hiện của từng năng lực, phẩm chất để hoàn thiện bản thân;
- Khuyến khích cha mẹ học sinh trao đổi, phối hợp với giáo viên động viên, giúp đỡ học sinh rèn luyện và phát triển năng lực, phẩm chất
- Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên căn
cứ vào quá trình đánh giá thường xuyên và chuẩn kiến thức, kĩ năng để đánh giá học sinh đối với từng môn học, hoạt động giáo dục theo các mức sau:
+ Hoàn thành tốt: thực hiện tốt các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
+ Hoàn thành: thực hiện được các yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
+ Chưa hoàn thành: chưa thực hiện được một số yêu cầu học tập của môn học hoặc hoạt động giáo dục;
- Vào cuối học kì I và cuối năm học, đối với các môn học: Tiếng Việt, Toán, Khoa học, Lịch sử và Địa lí, Ngoại ngữ, Tin học, Tiếng dân tộc có bài kiểm tra định kì; Đối với lớp 4, lớp 5, có thêm bài kiểm tra định kì môn Tiếng Việt, môn Toán vào giữa học kì I và giữa học kì II;
- Đề kiểm tra định kì phù hợp chuẩn kiến thức, kĩ năng và định hướng phát triển năng lực, gồm các câu hỏi, bài tập được thiết kế theo các mức như sau:
+ Mức 1: nhận biết, nhắc lại được kiến thức, kĩ năng đã học;
+ Mức 2: hiểu kiến thức, kĩ năng đã học, trình bày, giải thích được kiến thức theo cách hiểu của cá nhân;
+ Mức 3: biết vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết những vấn đề quen thuộc, tương tự trong học tập, cuộc sống;
+ Mức 4: vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học để giải quyết vấn đề mới hoặc đưa ra những phản hồi hợp lý trong học tập, cuộc sống một cách linh hoạt;
- Bài kiểm tra được giáo viên sửa lỗi, nhận xét, cho điểm theo thang 10 điểm, không cho điểm 0, không cho điểm thập phân và được trả lại cho học sinh Điểm của
Trang 30bài kiểm tra định kì không dùng để so sánh học sinh này với học sinh khác Nếu kết quả bài kiểm tra cuối học kì I và cuối năm học bất thường so với đánh giá thường xuyên, giáo viên đề xuất với nhà trường có thể cho học sinh làm bài kiểm tra khác để đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh
Thứ hai: Đánh giá định kì về năng lực, phẩm chất
Vào giữa học kì I, cuối học kì I, giữa học kì II và cuối năm học, giáo viên chủ nhiệm căn cứ vào các biểu hiện liên quan đến nhận thức, kĩ năng, thái độ trong quá trình đánh giá thường xuyên về sự hình thành và phát triển từng năng lực, phẩm chất của mỗi học sinh, tổng hợp theo các mức sau:
- Tốt: đáp ứng tốt yêu cầu giáo dục, biểu hiện rõ và thường xuyên;
- Đạt: đáp ứng được yêu cầu giáo dục, biểu hiện nhưng chưa thường xuyên;
- Cần cố gắng: chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu giáo dục, biểu hiện chưa rõ
1.4 Một số vấn đề về quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường Tiểu học
1.4.1 Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trong việc quản lí trường tiểu học và hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22
* Vai trò của Hiệu trưởng trong việc quản lí trường tiểu học
Quản lý trường học là thực hiện nhiệm vụ, đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu đào tạo thế hệ trẻ Trong nhà trường, Hiệu trưởng là người chịu trách nhiệm điều hành, quản lý mọi hoạt động của nhà trường Hoạt động quản
lý của Hiệu trưởng là quá trình đạt đến mục tiêu của nhà trường bằng cách vận dụng các chức năng quản lý
Trong quản lý trường tiểu học, chủ thể quản lý là Hiệu trưởng, là người định hướng trí tuệ vào tất cả các vấn đề của nhà trường, xác định được những công việc quan trọng theo từng thời điểm, qua kế hoạch năm học với những mục tiêu nhiệm vụ
cụ thể, vừa hợp lý vừa khoa học, đồng thời có những bước tổ chức triển khai thực hiện kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm để từng bước nâng dần chất lượng giáo dục
* Nhiệm vụ, quyền hạn của Hiệu trưởng trường tiểu học
Điều 54 của Luật Giáo dục đã quy định rõ vai trò chức năng của người hiệu trưởng Điều 20 của Điều lệ trường Tiểu học lại tiếp tục cụ thể hóa, quy định rõ nhiệm vụ và quyền hạn của hiệu trưởng trường Tiểu học Đó là:
- Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện
kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền;
Trang 31- Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; bổ nhiệm tổ trưởng, tổ phó;
- Phân công, quản lý, đánh giá, xếp loại, tham gia quá trình tuyển dụng, thuyên chuyển; khen thưởng, thi hành kỉ luật đối với giáo viên, nhân viên theo quy định;
- Quản lý hành chính; quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài chính, tài sản của nhà trường;
- Quản lý học sinh và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; tiếp nhận, giới thiệu học sinh chuyển trường; quyết định khen thưởng, kỉ luật, phê duyệt kết quả đánh giá, xếp loại, danh sách học sinh lên lớp, ở lại lớp; tổ chức kiểm tra, xác nhận việc hoàn thành chương trình tiểu học cho học sinh trong nhà trường và các đối tượng khác trên địa bàn trường phụ trách;
- Dự các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ quản lý; tham gia giảng dạy bình quân 2 tiết trong một tuần; được hưởng chế độ phụ cấp và các chính sách ưu đãi theo quy định;
- Thực hiện quy chế dân chủ cơ sở và tạo điều kiện cho các tổ chức chính trị -
xã hội trong nhà trường hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục;
- Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng
Từ đó, chúng ta có thể nhận thấy rằng để đảm bảo thực hiện được những yêu cầu về nhiệm vụ và quyền hạn nêu trên, đặc biệt trong bối cảnh giáo dục của giai đoạn hiện nay, đòi hỏi người HT phải không ngừng rèn luyện, phấn đấu toàn diện về phẩm chất lẫn năng lực
1.4.2 Vai trò, ý nghĩa quản lý hoạt động đánh giá học sinh
Quản lý hoạt động đánh giá học sinh có vai trò ý nghĩa rất lớn trong quản lý giáo dục, hoạt động đánh giá học sinh được quản lý tốt sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục
Đánh giá chính xác kết quả học tập của học sinh sẽ cung cấp thông tin phản hồi chính xác không chỉ giúp cho người dạy và người học điều chỉnh được hoạt động dạy và học của mình, mà còn giúp cho mỗi nhà trường đánh giá được chất lượng giáo dục, đánh giá được nội dung, chương trình, thời lượng; định hướng, chỉ đạo, tổ chức thực hiện, giám sát, kiểm tra và giải quyết vấn đề đối với việc đánh giá kết quả học tập của học sinh, đồng thời thông qua công tác này, người quản lý nắm vững được chất lượng đội ngũ giáo viên, hiệu quả của hoạt động đánh giá học sinh, từ đó có những biện pháp phù hợp quản lý chuyên môn tốt hơn
Trang 32Thông qua hoạt động đánh giá học sinh, lãnh đạo nhà trường nắm bắt trực tiếp
và chỉ đạo điều phối việc thực hiện nhiệm vụ giảng dạy của các tổ bộ môn, các giáo viên và các thành viên trong nhà trường để thực hiện và hoàn thành tốt việc đánh giá học sinh Trên cơ sở chấp hành các quy định, quy chế thi theo đúng các Quy chế đào tạo của Bộ GD&ĐT và các quy định của trường học, nhà quản lý cần có sự tự chủ và sáng tạo, cần xây dựng văn hóa chất lượng bằng nhiều cách
1.4.3 Nguyên tắc quản lý hoạt động đánh giá học sinh
Nguyên tắc quản lý hoạt động đánh giá học sinh là những quy tắc cơ bản, nền tảng cần phải tuân theo trong tổ chức hoạt động quản lý nhằm đạt được mục tiêu giáo dục theo Thông tư 22 Do vậy cần đảm bảo một số nguyên tắc cơ bản sau:
Một là nguyên tắc đảm bảo tính kế hoạch: Phải có kế hoạch chính xác, cần xác
định rõ thời gian, mục tiêu cần đạt, các biện pháp thực hiện và kết quả mong đợi, những nguồn lực cần huy động; Phải dự kiến trước việc kiểm tra thực hiện kế hoạch, công cụ đo, đánh giá mức độ hoàn thành và các điều chỉnh có thể thực hiện nhằm đạt mục tiêu của kế hoạch
Đây là một nguyên tắc đòi hỏi nhà quản lý giáo dục cần phải quán triệt trong hoạt động quản lý Thực hiện nguyên tắc này sẽ tăng cường tính chủ động trong quá trình điều hành và thực hiện các nhiệm vụ của chủ thể và khách thể quản lý, giảm bớt
sự bất định trong quản lý giáo dục và tạo khả năng thực hiện công việc một cách hiệu quả Khi thực hiện nguyên tắc này cần đảm bảo:
- Phải đưa mọi hoạt động quản lý giáo dục vào kế hoạch
- Chủ thể quản lý giáo dục phải được trang bị những kiến thức cơ bản về kế hoạch
Hai là nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống quản lý giáo dục:
Đảm bảo sự thống nhất từ Bộ Giáo dục tới các cơ sở giáo dục về quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nội dung các giải pháp cơ chế thực hiện Đồng thời phải tiến hành sự phân cấp trong quản lý để đảm bảo tính thống nhất, tính hiệu quả của quản lý giáo dục Khi thực hiện nguyên tắc này cần đảm bảo:
- Trong nhà trường Hiệu trưởng phải biết ủy quyền, giao việc cho cấp dưới và thống nhất quan điểm chỉ đạo các hoạt động giáo dục
- Trong kiểm tra đánh giá các hoạt động giáo dục cần có quan điểm xuyên suốt
về mục tiêu, tiêu chí, nội dung phương pháp đánh giá kết quả giáo dục nhằm tạo sự thống nhất, đồng bộ trong hoạt động
Ba là nguyên tắc đảm bảo tính khoa học: Quản lý hoạt động giáo dục phải xây
dựng trên hệ thống tri thức sâu rộng, trên sự tổng kết quá trình phát triển của lý luận quản
lý, nhận thức được những quy luật khách quan của giáo dục, của tự nhiên xã hội để sử
Trang 33dụng trong thực tiễn quản lý Quản lý hoạt động giáo dục ở nhà trường mang tính chất tổng hợp rất cao Nó không chỉ dựa vào kinh nghiệm mà phải am hiểu tri thức của nhiều ngành khoa học và sự hiểu biết sâu sắc về lĩnh vực lý luận quản lý giáo dục
Yêu cầu đối với thực hiện nguyên tắc đòi hỏi nhà quản lý giáo dục phải tuân thủ nghiêm ngặt quy trình khoa học khi ra các quyết định hoặc xử lý thông tin để xác định mục tiêu
Bốn là nguyên tắc tính hiệu quả, thiết thực và cụ thể: Đây là nguyên tắc đòi
hỏi quản lý hoạt động giáo dục phải đạt được cả hiệu quả trong và hiệu quả ngoài Hiệu quả trong là sự hài lòng của cán bộ, giáo viên và người học và thành tích đạt được của người học, sự đáp ứng mục tiêu của sản phẩm giáo dục Hiệu quả ngoài đó
là sự đáp ứng về nhân cách của người được đào tạo đối với yêu cầu của xã hội Yêu cầu đối với thực hiện nguyên tắc là:
- Khi đưa ra các quyết định quản lý cần tính đến hiệu quả của chúng và đáp ứng được yêu cầu thực tiễn
- Trong quá trình quản lý cần hiểu biết đầy đủ tường tận tình hình thực tế của nhà trường và địa phương, biết xác định các vấn đề cơ bản then chốt trong từng thời gian để tập trung giải quyết
Năm là nguyên tắc đảm bảo kết hợp hài hòa các lợi ích: Quản lý hoạt động
giáo dục thực chất là quản lý con người nhằm phát huy tính tích cực lao động sáng tạo của người lao động Song động lực của quản lý (cả chủ thể và đối tượng quản lý)
là lợi ích Do vậy, phải đảm bảo cân đối hài hòa giữa lợi ích của nhà trường với lợi ích của giáo viên, lợi ích của người học và lợi ích xã hội Kết hợp hài hòa các lợi ích phải được xem xét đề ra ngay từ khi xây dựng kế hoạch đến tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá
Tóm lại, khi thực hiện công tác quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông
tư 22 ở các trường tiểu học, Hiệu trưởng các nhà trường cần kết hợp hài hòa các nguyên tắc trong quản lý để đảm bảo thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục đề ra
1.4.4 Nội dung quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 của Hiệu trưởng trường tiểu học
1.4.4.1 Xây dựng kế hoạch đánh giá học sinh theo Thông tư 22
Nhà trường xây dựng kế hoạch hoạt động đánh giá học sinh, cụ thể hoá quy định chung về hoạt động đánh giá học sinh trên cơ sở các quy định mang tính pháp lý:
- Thông tư số: 42/2012/QĐ-BGD&ĐT ngày 23/11/2012 Thông tư Ban hành về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường Tiểu học
Trang 34- Thông tư số 30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/8/2014 Ban hành qui định đánh giá học sinh tiểu học Trong đó có quy định về mục đích nguyên tắc, nội dung và cách thức đánh giá, sử dụng kết quả đánh giá
- Thông tư số: 22/2016/TT-BGD&ĐT ngày 22 tháng 9 năm 2016 Sửa đổi, bổ
sung một số điều của quy định đánh giá học sinh tiểu học ban hành kèm thông tư số
30/2014/TT-BGD&ĐT ngày 28/8/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo
Trên cơ sở các văn bản pháp lý, Trường thực hiện phổ biến, hướng dẫn cho cán
bộ, giáo viên;chỉ đạo các Tổ chuyên môn, GV nghiên cứu kỹ mục tiêu, chức năng, các yêu cầu cơ bản của việc đánh giá học sinh; tổ chức xác định mục tiêu, loại hình, cấp độ/ phạm vi đánh giá và lập kế hoạch xây dựng chuẩn đánh giá học sinh gắn với các mục tiêu về chuẩn kiến thức, kỹ năng, thái độ, với các thang (mức) đánh giá năng lực người học trong mỗi hoạt động kiểm tra đánh giá và xác định chuẩn đánh giá học sinh trên các
phương diện: lĩnh vực nhận thức, lĩnh vực kỹ năng, lĩnh vực tình cảm - thái độ
Do kết quả đánh giá có giá trị phản hồi thông tin, góp phần điều chỉnh hoạt động chuyên môn giảng dạy của giáo viên và học tập của học sinh nên kế hoạch đánh giá học sinh phải được thực hiện một cách khoa học, chặt chẽ và cùng với đó là sự chuẩn bị về nguồn nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đánh giá được đảm bảo đầy đủ, phù hợp và kịp thời
Tất cả kế hoạch về hoạt động đánh giá học sinh phải được thông báo rộng rãi
và công khai đến mọi cán bộ, giáo viên và học sinh Kế hoạch đánh giá học sinh là một trong những cơ sở công tác quản lý chuyên môn, dựa vào đó nhà trường giám sát tiến độ và chất lượng hoạt động của giáo viên
1.4.4.2 Tổ chức hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22
Căn cứ vào kế hoạch chung của năm học để tổ chức bộ máy cho từng quá trình: Tổ chức bộ máy quản lý việc ra đề, xây dựng đáp án biểu điểm, sao in đề; quản
lý khâu tổ chức coi, chấm, xử lý kết quả; quản lý khâu tổng hợp, thống kê kết quả, đánh giá; quản lý về nguồn nhân lực; quản lý về tài chính, cơ sở vật chất
Để thể hiện được vai trò tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường tiểu học, Hiệu trưởng cần phải xây dựng và duy trì một cơ cấu
tổ chức nhất định về những vai trò, nhiệm vụ của từng tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22, cụ thể là:
- Thành lập ban chỉ đạo hoặc đội ngũ GV cốt cán để thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 trong nhà trường Triển khai phân công cụ thể cho bộ phận chuyên môn, các tổ trưởng, nhóm trưởng bộ môn hoặc các thành viên của ban chỉ đạo thực hiện
Trang 35- Xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp và hướng dẫn cách thức tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá theo Thông tư 22 đối với từng khối lớp
- Lựa chọn giáo viên là người có năng lực vững vàng, đúng thành phần và có phẩm chất đạo đức tốt để tổ chức thực hiện các hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 có hiệu quả
- Tổ chức bồi dưỡng giáo viên thực hiện nội dung, chương trình về hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22, nâng cao năng lực cho giáo viên về đánh giá học sinh và phương pháp đánh giá học sinh tiểu học Đây là công tác phải được hết sức coi trọng nhằm đáp ứng yêu cầu chung của việc tổ chức thực hiện công tác đánh giá học sinh nhất là về tính hiệu quả và sự phù hợp với thực tiễn có những đổi mới Trong điều kiện đó, sự nhạy bén và tính sáng tạo trong quản lý nhà trường cũng phải được chú trọng phát huy
- Huy động các cán bộ cốt cán là những tổ trưởng chuyên môn, GV có tay nghề giỏi, có kinh nghiệm tổ chức trong công tác thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22
- Giao trách nhiệm cho các tổ trưởng, nhóm trưởng bộ môn thực hiện xây dựng quy trình đánh giá học sinh theo từng bộ môn, thống nhất trong tổ và hướng dẫn
GV trong quá trình thực hiện
- Huy động nguồn lực phục vụ cho các hoạt động đánh giá học sinh như: Huy động nguồn nhân lực tham gia thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư
22, huy động nguồn tài chính, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đánh giá trong nhà trường,…
- Giao trách nhiệm cho bộ phận kế toán triển khai mua sắm, sửa chữa cơ sở vật, trang thiết bị phụ vụ cho hoạt động đánh giá học sinh Căn cứ điều kiện thực tế của cơ sở giáo dục, các văn bản quy định hiện hành của các cấp về chế độ cho đội ngũ GV tham gia hoạt động đánh giá trong nhà trưởng, để chi trả đảm bảo chế độ một cách phù hợp và kịp thời
- Tổ chức sử dụng các thiết bị giáo dục phục vụ cho đánh giá học sinh, đặc biệt
là ứng dụng công nghệ thông tin và các phần mềm trong chấm và quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh
Bộ máy tổ chức thực hiện hoạt động đánh giá học sinh là cơ cấu về bộ máy quản lí, các bộ phận chuyên môn và nghiệp vụ của nhà trường, đó là đội ngũ CBQL,
GV, NV và HS và các lực lượng khác tham gia quá trình đánh giá học sinh Hiệu trưởng giao nhiệm vụ và quyền hạn cho từng người, từng bộ phận phải rõ ràng, hợp
lí, không có sự chồng chéo, phải tương xứng giữa quyền hạn và trách nhiệm; tạo
Trang 36thành một hệ thống để tiến hành hoạt động đánh giá học sinh trong mỗi nhà trường đồng bộ và hiệu quả
Hoạt động đánh giá học sinh của nhà trường có diễn ra đồng bộ hay không, các tác động có được cộng hưởng thuận chiều để tạo nên sức mạnh tổng hợp của tập thể hay không, phụ thuộc nhiều vào sự sắp xếp, bố trí bộ máy tổ chức có khoa học, hợp lí không Vì vậy, bộ máy tổ chức và nhân lực thực hiện hoạt động đánh giá học sinh được xem là tiền đề
1.4.4.3 Chỉ đạo hoạt động đánh giá học sinh
Chỉ đạo thực hiện kế hoạch đánh giá học sinh trong trường tiểu học là quá trình tác động cụ thể của Hiệu trưởng tới các bộ phận trong nhà trường nhằm biến những nhiệm vụ chung của hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 thành hoạt động thực tiễn của các bộ phận thực hiện đánh giá học sinh diễn ra đúng hướng, đúng
kế hoạch, tập hợp và phối hợp các lực lượng giáo dục sao cho đạt hiệu quả
Việc chỉ đạo thực hiện đánh giá học sinh theo Thông tư 22 sẽ đạt hiệu quả cao nếu trong quá trình chỉ đạo Hiệu trưởng biết kết hợp giữa sử dụng uy quyền và thuyết phục, động viên kích thích, tôn trọng, tạo điều kiện cho người dưới quyền được phát huy năng lực và tính sáng tạo của họ
- Mỗi một môn học đều có đặc trưng và yêu cầu đánh giá riêng, cho nên từng
bộ môn và giáo viên cần phải xây dựng một kế hoạch đánh giá riêng sao cho phù hợp
và hiệu quả nhất Chính vì vậy Hiệu trưởng cần chỉ đạo tổ chuyên môn lập kế hoạch
tổ chức hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 thông qua các môn học, cũng như chỉ đạo tổ chuyên môn hướng dẫn giáo viên xây dựng kế hoạch tổ chức hoạt động đánh giá Thông tư 22
- Hoạt động đánh giá học sinh ngày càng thay đổi, yêu cầu giáo viên phải có phương pháp đánh giá học sinh sao cho phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay Đòi hỏi, Hiệu trưởng phải chỉ đạo tổ chuyên môn tăng cường bồi dưỡng năng lực thực hiện hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22
Hiệu trưởng chỉ đạo các khâu trong quá trình triển khai hoạt động đánh giá học sinh bao gồm:
+ Chỉ đạo khâu ra đề thi gồm: Thống nhất nội dung, trọng tâm kiến thức trong công tác ra đề thi nhằm đảm bảo đúng mục tiêu của hoạt động đánh giá học sinh; Thành lập ngân hàng đề thi: ngân hàng đề thi phải đa dạng, có thể lượng giá một cách chính xác, đáp ứng được yêu cầu theo chuẩn kiến thức và kỹ năng; Tổ chức lựa chọn
đề thi, xây dựng đáp án và biểu điểm: Phải xây dựng được ma trận để có thể lượng
Trang 37giá đầy đủ cả về lý thuyết lẫn kĩ năng của người học, đảm bảo sự cân đối giữa các phần, phù hợp cho mọi đối tượng; tổ chức in sao đề thi đảm bảo tính bí mật
+ Chỉ đạo khâu tổ chức coi, chấm thi phải đảm bảo đúng các quy định, thực hiện đầy đủ từng công đoạn của công tác coi, chấm thi Phải tổ chức tập huấn nghiệp
vụ về coi thi, chấm thi cho cán bộ, giáo viên tham gia công tác này
+ Chỉ đạo khâu quản lý điểm: Quản lý chặt chẽ bài kiểm tra, phiếu chấm, sổ điểm, học bạ; quản lý việc phúc tra bài thi; Tổng hợp, thống kê kết quả đánh giá, xếp loại đầy đủ, chính xác
+ Chỉ đạo khâu phân tích, diễn giải ý nghĩa của điểm số và báo cáo kết quả của
kỳ thi, kỳ khảo sát trên cơ sở các tiêu chí, mức chuẩn và điểm đạt; sử dụng được thống kê mô tả, gồm cả số liệu và biểu đồ, để tóm tắt và diễn giải ý nghĩa của kết quả đánh giá
+ Ngoài ra, cần chỉ đạo chặt chẽ việc quản lý hồ sơ và kết quả đánh giá; chỉ đạo về công tác tài chính, cơ sở vật chất nhằm đảm bảo cho hoạt động đánh giá học sinh có thể triển khai thực hiện và đạt hiệu quả cao
Chỉ đạo hoạt động đánh giá học sinh là một hoạt động quản lý thuần túy về chuyên môn nghiệp vụ nên đòi hỏi sự tuân thủ đúng quy định, tính chặt chẽ trong quy trình, các bước thực hiện và tiến độ triển khai công việc Trong quá trình tiến hành, việc xây dựng các yêu cầu của công việc cùng với sự lựa chọn, sắp xếp khoa học, hợp
lý cần được chú ý thực hiện
Việc cải tiến quy trình, bổ sung sửa đổi các quy định về tổ chức đánh giá học sinh phải được cân nhắc thật kỹ lưỡng và phải luôn phù hợp với quy định chung của toàn ngành Điều này sẽ góp phần theo dõi, đôn đốc tiến độ, giúp Ban Giám hiệu nhanh chóng xử lý các tình huống phát sinh trong quá trình chỉ đạo hoạt động đánh giá học sinh
Nếu ở các cấp quản lý vĩ mô, công tác chỉ đạo hoạt động đánh giá học sinh và chỉ đạo quá trình dạy học được chia tách thành hai cơ quan hoặc hai bộ phận có chức năng nhiệm vụ độc lập, thì trong nhà trường việc tổ chức hoạt động dạy học và hoạt động đánh giá kết quả dạy học được tiến hành ngay trong một vòng nhỏ khép kín dưới sự chỉ đạo chung của Hiệu trưởng Việc phân công nhân sự thực hiện nhiệm vụ trong ban kiểm tra chuyên môn như trên là nhằm bảo đảm sự vận hành thường xuyên chặt chẽ giữa các khâu dạy học - kiểm tra kết quả dạy học - điều chỉnh tổ chức dạy học Điều quan trọng đó là sự phối hợp đồng bộ nhịp nhàng giữa các khâu sao cho tiến độ thực hiện đảm bảo đúng với kế hoạch đề ra cũng như đáp ứng mục tiêu yêu cầu của giáo dục trong nhà trường Trong mỗi công đoạn của quy trình đều phải có
Trang 38những quy định riêng để cho mọi thành viên chấp hành đầy đủ, đảm bảo tính nghiêm túc và công bằng của hoạt động đánh giá học sinh
Các nhà trường phổ thông phải chỉ đạo thực hiện công tác này một cách chặt chẽ, xây dựng thành nền nếp ổn định, đảm bảo thông tin hai chiều giữa các bộ phận tham gia quản lý hoạt động đánh giá học sinh với Ban giám hiệu về tiến độ thực hiện cũng như kết quả đạt được sau từng công đoạn của các quá trình một cách thường xuyên
Tóm lại, với kế hoạch đánh giá học sinh theo Thông tư 22 đã được đề ra thì hoạt động chỉ đạo, điều khiển của người Hiệu trưởng là rất cần thiết trong suốt quá trình thực hiện Điều này giúp cho việc thực hiện hoạt động đánh giá theo Thông tư
22 được tiến hành một cách khả thi và đúng mục tiêu giáo dục đề ra Hiệu trưởng xem xét, cân nhắc đề ra những công việc cụ thể cho từng giai đoạn của quá trình thực hiện hoạt động đánh giá, hướng dẫn CBGV, học sinh việc thực hiện và giải quyết những khó khăn vướng mắc, uốn nắn điều chỉnh những sai lệch trong quá trình thực hiện hoạt động đánh giá
1.4.4.4 Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động đánh giá học sinh theo
Thông tư 22
Kiểm tra, đánh giá là khâu cuối cùng trong một chu trình quản lý nhưng lại là điểm khởi đầu cho một chu trình mới Kiểm tra đánh giá hoạt động đánh giá học sinh nhằm xác định mức độ hoàn thành mục tiêu, từ đó, có những điều chỉnh về nội dung, hình thức, phương pháp đánh giá cho phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục và thực tiễn giáo dục của nhà trường
Mục đích của kiểm tra giám sát việc thực hiện là nhằm quản lý việc chấp hành đầy đủ, chính xác, nghiêm túc kế hoạch đánh giá cùng với các định mức, tiêu chuẩn, chỉ số công việc, phương pháp đánh giá cụ thể Căn cứ pháp lý của quản lý giám sát thực hiện là các quy chế, quy định về tổ chức đánh giá học sinh Các biện pháp quản
lý được tiến hành nhằm đảm bảo sự vận hành an toàn của quy trình đã được thống nhất trong nội bộ
Hiệu trưởng có thể kiểm tra định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp, cần xây dựng chuẩn đánh giá phù hợp với đặc điểm của nhà trường thì việc kiểm tra đánh giá mới khách quan công bằng rõ ràng
Trong kiểm tra hoạt động đánh giá kết quả học tập của HS theo Thông tư 22, người hiệu trưởng cần chú trọng các nội dung sau:
- Kiểm tra việc lập kế hoạch của GV
- Kiểm tra kỹ thuật đánh giá HS theo Thông tư 20, phát hiện những vấn đề chưa hợp lý để điều chỉnh
Trang 39- Kiểm tra việc đánh giá thường xuyên của GV: Nhận xét miệng, nhận xét trong
vở HS, nhận xét trong sổ theo dõi chất lượng giáo dục, nhận xét trong sổ liên lạc…
- Công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS: Đề kiểm tra, chấm, chữa
và trả bài đối với các bài kiểm tra định kì Thực hiện đúng chế độ kiểm tra, chế độ cho điểm, số lượng con điểm theo qui định Chấm bài và trả bài kiểm tra đúng thời hạn, có nhận xét chung và lời phê cụ thể cho từng bài để học sinh rút kinh nghiệm cho mình Đồng thời giải đáp các thắc mắc, các lỗi học sinh hay mắc khi làm bài kiểm tra
- Kiểm tra việc tổng hợp kết quả đánh giá và xét khen thưởng HS Các tổ, nhóm chuyên môn cùng họp nhận xét và rút kinh nghiệm về việc ra đề thi, các khâu trong kiểm tra, đề xuất báo cáo kết quả để từ đó xét khen thưởng học sinh
- Kiểm tra việc nhận xét trong học bạ của HS
- Báo cáo tình hình kiểm tra theo quy định của nhà trường và lưu trữ kết quả kiểm tra trong sổ điểm để sử dụng trong việc tổng kết, phân loại, đánh giá kết quả học tập học sinh cuối mỗi học kỳ và cuối năm học
Gắn liền với chỉ đạo và kiểm tra còn có chức năng trung gian là giám sát vì qua việc thực hiện các chức năng này, chủ thể quản lý sẽ có các tập hợp dữ liệu, các bằng chứng về sự vận hành chung của công việc mà mình quản lý và dựa vào đó để theo dõi các hoạt động đang diễn ra và mức độ tiến bộ của công việc
Việc kiểm tra giám sát cũng phải được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên
ở tất cả các khâu trong từng quá trình
Quản lý hoạt động đánh giá học sinh là hoạt động phức tạp vì nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kể trên, ngoài ra quá trình này còn phụ thuộc vào hoạt động quá khứ như quá trình giảng dạy của giáo viên, trình độ được đánh giá trước đó của học sinh Khi tác động vào một yếu tố, không thể không tính đến các yếu tố khác, phụ thuộc vào sự phối hợp có hay không hiệu quả giữa các yếu tố tham dự Nội dung quản lý hoạt động đánh giá học sinh là căn cứ để các cấp quản lý đưa ra các nhiệm vụ
và biện pháp quản lý cụ thể cho từng nội dung công việc tương ứng tiếp theo
1.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư ở trường Tiểu học
1.5.1 Yếu tố chủ quan
Thứ nhất: Yếu tố nhận thức của CBQL và GV nhà trường
Yếu tố nhận thức được xác định là một yếu tố chủ quan có ảnh hưởng tới toàn
bộ hoạt động đánh giá và công tác quản lý hoạt động đánh giá học sinh Nếu những giáo viên có nhận thức đúng đắn về vai trò, ý nghĩa của hoạt động đánh giá, nhận
Trang 40thức đầy đủ về quy chế thi, kiểm tra, đánh giá sẽ giúp họ có những hành động đúng, ngược lại nếu nhận thức sai hoặc không đầy đủ sẽ khiến họ coi nhẹ hoạt động này, thậm chí là có những tác động tiêu cực Điều này sẽ là rào cản đến quá trình quản lý, người quản lý sẽ gặp rất nhiều khó khăn
Bên cạnh đó, nhận thức của chính các nhà quản lý cũng có ảnh hưởng không nhỏ, nếu nhận thức không đúng sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm, ngược lại nếu
họ có nhận thức đúng đắn sẽ giúp họ đưa ra những tác động tích cực, những quyết định đúng đắn
Do vậy, trong quá trình quản lý hoạt động đánh giá cần phải giúp cán bộ quản
lý, giáo viên, học sinh nhận thức đúng vai trò của đánh giá và có kiến thức nhất định về đánh giá học sinh thông qua việc thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng kiến thức,
kỹ năng về đánh giá nói chung, quy chế thi, kiểm tra, nghiệp vụ soạn đề kiểm tra
Thứ hai: Năng lực, phẩm chất của người quản lý
Năng lực và phẩm chất của người quản lý có ảnh hưởng không nhỏ tới quản lý hoạt động đánh giá học sinh theo Thông tư 22 ở trường tiểu học Để có hiệu quả trong công tác quản lý nhà trường nói chung và nâng cao chất lượng đánh giá học sinh, người CBQL phải hiểu rõ mục đích, am hiểu sâu sắc các nội dung, nắm chắc các phương pháp, các yêu cầu, nguyên tắc của hoạt động kiểm tra, đánh giá Đồng thời phải là một nhà giáo có kinh nghiệm, có năng lực, có uy tín chuyên môn và biết cách
tổ chức hoạt động đánh giá trong nhà trường một cách hiệu quả Trong trường tiểu học Hiệu trưởng còn phải quan tâm tới đặc điểm tâm lý lứa tuổi của học sinh để có hướng chỉ đạo, hướng dẫn GV của mình có phương pháp đánh giá kết quả học sinh một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm học sinh và đặc điểm các môn học
Thứ 3: Năng lực, ý thức, thái độ của giáo viên
Chất lượng giáo viên có ý nghĩa quyết định trong hoạt động đánh giá học sinh hiện nay Trong nhà trường giáo viên là lực lượng chủ lực để thực hiện các nhiệm vụ dạy học đề ra Chính vì vậy giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho chất lượng giảng dạy nói chung, và chất lượng quản lý đánh giá học sinh nói riêng bởi vì: Giáo viên đóng vai trò là người chủ đạo trong việc hướng dẫn, xây dựng các nội dung, và trực tiếp tiến hành các hoạt động đánh giá học sinh, chất lượng của hoạt động đánh giá được xác định một phần lớn do kỹ năng xây dựng nội dung các hoạt động đánh giá và
kỹ năng cho điểm, nhận xét, đánh giá học sinh của giáo viên Trong quản lý hoạt động đánh giá học sinh của nhà trường, giáo viên là cầu nối giữa học sinh với ban giám hiệu, giữa nhà trường với gia đình học sinh, giữa học sinh với nhau, nhằm đảm bảo thực hiện có hiệu quả các mục tiêu của quá trình dạy học